Friday, October 31, 2014

VIỆT NAM ĐÃ MẤT CHỦ QUYỀN BIỂN VÀO TAY TRUNG CỘNG - Phạm Trần


Phạm Trần -- Lãnh đạo Cộng sản Việt Nam đã bằng lòng đổi chủ quyền Biển Đông để được sống yên ổn bên cạnh nước láng giềng Trung Quốc sau kỳ họp lần thứ 7 của Ủy ban Chỉ đạo hợp tác song phương Việt Nam - Trung Quốc diễn ra tại Hà Nội ngày 27/10/2014.
Kết quả này thật ra đã được đồng ý trên nguyên tắc giữa hai Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng của Việt Nam và Lý Khắc Cường của Trung Quốc tại cuộc họp tại Milan, Italy ngày 16/10/2014, bên lề Hội nghị cấp cao ASEM-10 (The Asia–Europe Meeting,ASEM ).
Tuy nhiên, thỏa hiệp mới đã được chi tiết hóa rõ hơn tại phiên họp chung tại Hà Nội giữa 2 phái đoàn của Quốc vụ viện Trung Cộng Dương Khiết Trì và phía Việt Nam do Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh dẫn đầu.
Vì vậy, không ai ngạc nhiên khi thấy phía Việt Nam đã tự ý phổ biến nhiều bức hình tươi cười, chứa đựng sự thỏa mãn của ông Dương Khiết Trì chụp chung với các ông Phạm Bình Minh, Tổng Bí thư đảng Nguyễn Phú Trọng và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang.
Những hình ảnh của ngày 27/10 đã khác một trời một vực với những tấm hình chứa nhiều nỗi bất bình, cố nén trong căm tức của Lãnh đạo Việt Nam với ông Dương Khiết Trì khi ông này sang Hà Nội ngày 18/06/2014 để nói như ra lệnh cho phía Việt Nam phải chấm dứt ngay lập tức các hoạt động phá rối hoạt động tìm kiếm dầu của giàn khoan Hải Dương 981, do Bắc Kinh tự đặt sâu trong vùng Đặc quyền Kinh tế của Việt Nam từ ngày 02/05/2014 đến ngày 17/07/2014.
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đi thăm Ấn Độ cùng ngày họ Dương họp ở Hà Nội (27/10/2014) khiến Nhân Dân nhật báo của Trung Cộng bực mình, ngụ ý nói ông Dũng muốn mở rộng hợp tác kinh tế với Tân Đề Ly (New Delhi) để giảm lệ thuộc vào Bắc Kinh. Báo này đăng bài bình luận của Tô Hiểu Huy, Phó Chủ nhiệm Sở Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế thuộc Viện Nghiên cứu các vấn đề quốc tế còn lên án việc phái đoàn Nguyễn Tấn Dũng ký thỏa hiệp khai thác dầu khí chung ở Biển Đông với Ấn Độ là vi phạm “chủ quyền của Trung Quốc ở Nam Hải”.
Nhưng đâu là sự thật?
Sự thật là ông Nguyễn Tấn Dũng đã “bắt cá hai tay” để chứng tỏ Việt Nam giữ vững đường lối ngoại giao độc lập, không chịu ảnh hưởng của Bắc Kinh để có lợi, nhưng mặt khác thì ông Dũng cũng đã để lộ ra “lá bài hai mặt” của Việt Nam trong cuộc chiến tranh chấp chủ quyền trên biển với Trung Cộng ở thế yếu, vì Việt Nam đã chịu làm theo “ý muốn của Trung Quốc”.
Tiêu biểu là trong cả 2 cuộc họp ở Hà Nội và ở Milan (Italy), phía Việt Nam đã không đề cập đến, hoặc có nói thì cũng chỉ trong tư thế “nói nhỏ cho nhau nghe”, những vụ tầu cá Việt Nam liên tục bị tầu Trung Cộng tấn công hoặc đâm chìm ở vùng biển Hoàng Sa mà báo chí Việt Nam, ngay cả Ủy viên Bộ Chính trị Nguyễn Thiện Nhân, Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cũng chỉ được phép gọi là “tầu lạ” hay “tầu nước ngoài”!
Việc Trung Cộng không ngừng củng cố, xây dựng trên quần đảo Hoàng Sa chiếm của Việt Nam năm 1974 và biến các đảo Gạc Ma và 7 bãi đá khác chiếm của Việt Nam ở Trường Sa năm 1988 thành các đảo nhân tạo, xây sân bay, bãi tầu, căn cứ quân sự phòng thủ cũng không thấy ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói trong cuộc họp với Lý Khắc Cưởng.
Thái độ nhu nhược này cũng diễn ra trong các cuộc họp giữa các ông Nguyễn Phú Trọng, Trương Tấn Sang và Phạm Bình Minh với Ủy viên Quốc vụ viện Dương Khiết Trì tại Hà Nội ngày 27/10 (2014). Những vi phạm trắng trợn chủ quyền biển đảo Việt Nam và hành động vô nhân đạo, bất chấp sinh mạng của ngư dân Việt Nam và luật pháp quốc tế của phía Trung Cộng cũng đã không được báo chí của đảng CSVN và Bộ Ngoại giao nói đến trong dịp này.
Nếu cứ tin vào ngôn ngữ của nhà nước và báo chí Việt Nam thì không có chuyện gì xảy ra giữa Việt Nam và Trung Cộng trước và trong thời gian ông Dương Khiết Trì có mặt ở Hà Nội.
Như vậy, thiệt thòi cuối cùng đã thuộc về nhân dân Việt Nam, chủ nhân của đất nước nhưng quyền này đã bị đảng cướp mất từ lâu nên cứ è cổ ra mà gánh chịu hậu quả bởi những quyết định sai lầm trong quan hệ ngoại giao với Trung Cộng.
Lời hứa của Nguyễn Tấn Dũng
Trước hết hãy nói về chuyện ở Milan, Ý Đại Lợi, ngày 16/10 (2014) ông Dũng đã nhân danh Chính phủ cam kết với Lý Khắc Cường những điều sau đây, theo Bộ Ngoại giao Việt Nam:
Ông: “Khẳng định Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam quý trọng giữ gìn và mong muốn củng cố quan hệ láng giềng hữu nghị truyền thống và tăng cường hợp tác toàn diện giữa hai nước phát triển lành mạnh, ổn định.”
Ông: “Đề nghị hai bên duy trì gặp gỡ và tiếp xúc cấp cao để tăng cường tin cậy, thúc đẩy hợp tác cùng có lợi trên các lĩnh vực, đồng thời kịp thời chỉ đạo giải quyết thỏa đáng các vấn đề nảy sinh trong quan hệ hai nước.”
Ông cũng đã đồng ý: “Hai bên nhất trí triển khai thực chất 03 nhóm công tác hợp tác về xây dựng cơ sở hạ tầng, hợp tác về tiền tệ và bàn bạc hợp tác cùng phát triển trên biển trong khuôn khổ đoàn đàm phán cấp Chính phủ về biên giới lãnh thổ hai nước.”
“Về vấn đề Biển Đông”, Bản tin Bộ Ngoại giao nói tiếp, “Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh đề nghị hai bên kiểm soát tốt tình hình trên biển, không có hành động làm phức tạp thêm tình hình, thúc đẩy các cơ chế đàm phán tiến triển, nghiêm túc thực hiện Thỏa thuận những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam - Trung Quốc; tôn trọng Luật pháp quốc tế, cùng nhau duy trì hòa bình, ổn định của khu vực và thế giới.”
Về phía ông Lý Khắc Cường, Bộ Ngoại giao cho biết ông ta đã: “Khẳng định Đảng, Chính phủ Trung Quốc luôn kiên trì phương châm láng giềng hữu nghị, hợp tác cùng có lợi với Việt Nam, luôn mong muốn xử lý thỏa đáng các vấn đề khó khăn phát sinh trong quan hệ hai nước, cùng thúc đẩy quan hệ hai Đảng, hai nước phát triển lành mạnh, ổn định.”
Sau cùng, Bộ Ngoại giao Việt Nam nói ông Lý Khắc Cường “đã phản hồi tích cực đối với những đề xuất của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng về các biện pháp cụ thể nhằm tăng cường quan hệ hai Đảng, hai nước thời gian tới.”
Tất nhiên là phải “phản hồi tích cực” vì những gì ông Nguyễn Tấn Dũng nói ra từ miệng mình, trong tư cách một Thủ tướng Việt Nam, đã đáp lại đúng lập trường bất di bất dịch của Trung Cộng gọi là “quyền lợi cốt lõi” của Trung Quốc ở Nam Hải (Biển Đông) qua tuyên bố “Biển của ta, gác tranh chấp cùng khai thác”.
Chủ trương coi lãnh thổ của người khác cũng là của mình đã được Lãnh tụ Đặng Tiểu Bình đưa ra năm 1979 và được các thế hệ lãnh đạo thừa kế của Trung Cộng tuyệt đối tuân thủ và thi hành qua chiều bài “tự vẽ” ra hình Lưỡi Bò, hay “đường 9 đoạn” rồi chuyển sang “10 đoạn” chiếm ¾ diện tích 3.5 triệu cây số vuông Biển Đông.
Hai ông Trọng - Sang
Vì vậy mà ta không lạ khi thấy trong ngôn ngữ cuối cùng sau một ngày họp giữa Dương Khiến Trì và Phạm Bình Minh, phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang không gay gắt như khi hai ông Trọng tiếp họ Dương ngày 18 tháng 6 năm nay (2014).
Hồi đó, ông Trọng đã “khẳng định lập trường về chủ quyền của Việt Nam đối với các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và trên biển Đông là không thay đổi và không thể thay đổi.” (Thông tấn xã Việt Nam, TTXVN).
Theo tin Chính phủ Việt Nam thì trong cuộc gặp Dương Khiết Trì ngày 27/10/2014, hai ông Trọng và Sang đã: "Khẳng định chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn coi trọng quan hệ hữu nghị, hợp tác với Trung Quốc; nhấn mạnh việc giữ gìn, củng cố và làm cho mối quan hệ Việt Nam-Trung Quốc phát triển lành mạnh là trách nhiệm chung của cả hai bên, phù hợp với lợi ích căn bản, lâu dài của nhân dân hai nước và cũng có lợi cho cục diện hòa bình, ổn định của khu vực và thế giới."
Hai Lãnh đạo Việt Nam cũng: “Đề nghị Ủy ban Chỉ đạo Hợp tác song phương cần tiếp tục phát huy tốt hơn vai trò định hướng, góp phần thiết thực thúc đẩy quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa hai nước, đưa quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Trung Quốc phát triển ổn định, lành mạnh.”
Ông Sang không gặp Dương Khiết Trì ngày 18/06/2014, nhưng trong lần gặp hôm 27/10 (2014) vừa qua, Chủ tịch nhà nước CSVN nói: “Vấn đề trên biển hết sức hệ trọng đối với mỗi nước cũng như quan hệ hai nước. Đây không chỉ là vấn đề giữa hai Đảng, hai nước mà còn là vấn đề giữa nhân dân hai nước. Nếu hai Đảng, hai nước không kiểm soát được bất đồng trên biển thì quan hệ hai Đảng, hai nước không những bị ảnh hưởng mà tình cảm của nhân dân hai nước cũng bị tổn thương.”
Tại buổi tiếp này, ông Dương Khiết Trì “khẳng định Đảng, Chính phủ Trung Quốc hết sức coi trọng và luôn mong muốn tăng cường trao đổi cấp cao, củng cố hữu nghị nhân dân, xây dựng môi trường thuận lợi để phát triển quan hệ tốt đẹp, ổn định lâu dài với Việt Nam, đồng thời sẵn sàng cùng với Việt Nam đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả hợp tác trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, quốc phòng, an ninh, văn hóa, xã hội, giao lưu nhân dân…”
Ông Dương Khiết Trì nhấn mạnh: “Việc xử lý thỏa đáng bất đồng là phù hợp với lợi ích căn bản của nhân dân hai nước, có ý nghĩa tích cực đối với ổn định và phát triển của khu vực.”
Sự thật đã phơi ra
Qua những câu chữ đấy tình “vừa là đồng chí vừa là anh em” ngọt xớt này, tuy vắng bóng 16 chữ vàng và tinh thần 4 tốt (“láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt.) nhưng bên trong vẫn thấy bóng dáng của “những nỗi xót xa” hiện ra nguyên hình trong thỏa thuận Phạm Bình Minh-Dương Khiết Trì sau đây:
1) “Hai bên cho rằng, xử lý thỏa đáng vấn đề trên biển có ý nghĩa quan trọng đối với quan hệ hai nước.”
2) “Hai bên thực hiện nghiêm chỉnh nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước, căn cứ “Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam - Trung Quốc” thúc đẩy các cơ chế đàm phán về vấn đề trên biển. Dựa trên nguyên tắc dễ trước khó sau, tuần tự tiệm tiến, sớm triển khai công việc khảo sát chung, tạo cơ sở cho việc thúc đẩy đàm phán phân định vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ đi đôi với hợp tác cùng phát triển tại vùng biển này như Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường đã nhất trí với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại cuộc gặp tại Mi-lan, I-ta-li-a ngày 16/10/2014.
Ở đoạn này, cả hai bên Việt Nam và Trung Cộng đều không giải thích hay làm cho rõ “khảo sát chung” những cái gì, khoáng sản, dầu khí, hay cả các tài nguyên, ngư trường khác nữa?
Và tại sao Việt Nam lại đồng ý “khảo sát chung” với Trung Cộng khi Bắc Kinh không có chủ quyền ở vùng Biển Đông?
Ngoài ra, nguy hiểm hơn, Việt Nam còn đồng ý “đàm phán phân định vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ đi đôi với hợp tác cùng phát triển tại vùng biển này”?
Như vậy là rõ ràng thỏa hiệp Phạm Bình Minh-Dương Khiết Trì ngày 27/10/2014 đã vượt ra khỏi thỏa hiệp giữa Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Chủ tịch Nhà nước Trung Quốc Tập Cận Bình ngày 20/06/2013 tại Bắc Kinh.
Hồi đó một “thỏa hiệp mới được phía Việt Nam gọi là “gia hạn” và “sửa đổi” lần thứ 4 hợp tác giữa Tập đoàn Dầu khí Việt Nam và Tổng Công ty dầu khí ngoài khơi quốc gia Trung Quốc (China National Offshore Oil Corporation, CNOOC), thì diện tích tìm kiếm chung sẽ mở rộng từ 1541 cây số vuông lên thành 4076 cây số vuông. Và hiệu lực của Thỏa thuận Thăm dò Chung có hiệu lực đến hết năm 2016.”
Ông Đỗ Văn Hậu-Tổng Giám đốc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN) đã giải thích về nguồn gốc của thỏa thuận giữa hai nước như thế này: “Theo Quy định tại Điều 7 của Hiệp định Việt Nam-Trung Quốc về Phân định Lãnh hải, Vùng Đặc quyền Kinh tế và Thềm lục địa trong Vịnh Bắc Bộ (ký ngày 25/12/2000 và có hiệu lực từ ngày 20/6/2004), nếu có các mỏ dầu khí vắt ngang qua Đường Phân định, hai nước sẽ cùng nhau hợp tác khai thác chung.
Từ năm 2005, Tổng Công ty Dầu khí Quốc gia Việt Nam, nay là Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) và Tổng Công ty Dầu khí Ngoài khơi Quốc gia Trung Quốc (CNOOC) đã ký kết và thực hiện Thỏa thuận Khung về hợp tác dầu khí trong Khu vực Thỏa thuận Ngoài khơi trong Vịnh Bắc Bộ. Trên cơ sở kết quả thực hiện Thỏa thuận Khung, Thỏa thuận Thăm dò chung Việt Nam-Trung Quốc trong Khu vực xác định Ngoài khơi trong Vịnh Bắc Bộ được ký kết giữa Petrovietnam và CNOOC ngày 6/11/2006 và có hiệu lực từ ngày 2/1/2007, sau khi được Chính phủ hai nước phê chuẩn.”
Hiệp định về Vịnh Bắc Bộ năm 2000, cũng như “Hiệp ước biên giới trên đất liền giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa” do Tổng bí thư đảng Lê Khả Phiêu ký với Trung Cộng ngày 30/12/1999 đã không được đem ra thảo luận tại Quốc hội trước khi ông Phiêu đặt bút ký nên toàn dân, cho đến bây giờ (2013), vẫn chưa được biết tường tận về những điểm lợi và hại của hai văn kiện quan trọng này.
Quốc hội của Nhà nước Cộng sản Việt Nam cũng đã nhắm mắt phê chuẩn Hiệp định này vào năm 2004 mà không có bất cứ cuộc điều tra hay nghe điều trần của Chính phủ nên cũng mập mờ như dân!
Do đó, sau khi có loan báo từ Bắc Kinh nói rằng hai phía Việt-Trung đã thỏa thuận “gia hạn” và “sửa đổi” hợp tác giữa hai tập đoàn dầu khí của hai nước trên Vịnh Bắc Bộ thì mọi người mới biết rằng Việt Nam đã chịu để cho Trung Cộng được quyền cùng khai thác dầu khí bên trong phần biển thuộc về Việt Nam, dù khu vực khai thác chung nằm trên đường ranh giới phân định giữa hai nước!
Ông Đỗ Văn Hậu giải thích tiếp rằng: “Thỏa thuận hợp tác giữa PVN và CNOOC được ký lần đầu từ năm 2006 phù hợp với Hiệp định đã ký kết giữa hai nước về phân định Vịnh Bắc Bộ. Thỏa thuận này đã được gia hạn 3 lần và lần này là lần thứ 4 với thời hạn đến năm 2016.
Theo đó, Việt Nam và Trung Quốc đã thỏa thuận với nhau về một vùng biển nằm trên Vịnh Bắc Bộ, nằm trên đường phân định hai quốc gia; cùng thăm dò và cùng khai thác khi phát hiện có dầu khí. Ngoài việc gia hạn, thỏa thuận lần thứ 4 này đã thống nhất mở rộng khu vực thăm dò chung nằm trên đường phân định hai quốc gia trên Vịnh Bắc Bộ lên gần 3 lần so với lần đầu năm 2006.
Khu vực này được chia đều qua đường phân định trên Vịnh Bắc Bộ, một nửa nằm phía Việt Nam và một nửa nằm bên phía Trung Quốc. Trên khu vực này, hai Tổng công ty của hai Nhà nước sẽ cùng nhau tiến hành thăm dò, nhằm phát hiện các cấu tạo địa chất có chứa dầu khí. Khi phát hiện có dầu khí thì 2 bên sẽ tiếp tục bàn thảo, để cùng nhau hợp tác khai thác.” (Thống tấn xã Việt Nam, TTXVN, 20-6-2013)
Giờ đây, Việt Nam và Trung Cộng lại đồng ý “thúc đẩy đàm phán phân định vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ đi đôi với hợp tác cùng phát triển tại vùng biển này” là vùng biển nào, nếu không là vùng còn lại của Biển Đông vẫn thuộc chủ quyền của Việt Nam thì của ai ?
Không có bất cứ bản tin nào của phía Việt Nam hay của Trung Quốc gỉải thích rõ về điểm quan trọng này, ngoài việc ông Phạm Bình Minh đã: “Khẳng định Việt Nam luôn coi trọng việc phát triển quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện với Trung Quốc; nhấn mạnh hai bên cần triển khai hiệu quả những thỏa thuận đạt được trong chuyến thăm Trung Quốc của đồng chí Lê Hồng Anh, Đặc phái viên của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 8/2014) về việc khôi phục giao lưu hợp tác, kiểm soát tốt những bất đồng trên biển, không có hành động làm phức tạp, mở rộng tranh chấp.”
Điều này có nghĩa phía Việt Nam đã đồng ý “giữ nguyện hiện trạng” ở Biển Đông, hay nói cách khác là “quân đâu đứng nguyên ở đó”, có nghĩa công nhận sự có mặt của quân Trung Cộng trên vùng biển Trường Sa và Hoàng Sa của Việt Nam.
Bộ trường Quốc phòng Phùng Quang Thanh mới họp từ Bắc Kinh về (từ 16 đến 19/10/2014) đã xác nhận với báo chí ở Hà Nội ngày 20/10 (2014).
Đáp câu hỏi: “Hai bên có bàn về việc phía Trung Quốc đốc thúc nhiều hoạt động xây dựng trên khu vực quần đảo Trường Sa của Việt Nam, cũng như chuyện giàn khoan đã xảy ra ít tháng trước?
Tướng Thanh: “Chúng tôi có trao đổi phải giữ nguyên hiện trạng trên biển Đông và phải thực hiện đầy đủ tinh thần Tuyên bố về ứng xử của các bên trên Biển Đông - DOC. Quan điểm chung là các bên không mở rộng tranh chấp, không cắm mốc mới. Khi trao đổi với bạn, nói chung bạn ghi nhận ý kiến của phía Việt Nam.
H: - Phía Trung Quốc có đưa ra cam kết nào về việc giữ nguyên hiện trạng, thưa ông?
Tướng Thanh: "Hai bên đều thống nhất phải thực hiện DOC – nghĩa là không mở rộng, làm phức tạp thêm tranh chấp. Quan trọng là phải thống nhất với nhau giữ cho được môi trường hòa bình, ổn định, hợp tác, tránh dùng vũ lực."
Bộ Ngoại giao Việt Nam nói thêm: “Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Phạm Bình Minh cũng nêu rõ quan điểm, lập trường của Đảng, Nhà nước ta trong vấn đề Biển Đông, khẳng định Việt Nam luôn ưu tiên thông qua các biện pháp hòa bình để cùng Trung Quốc giải quyết tranh chấp, bất đồng tại Biển Đông trên cơ sở tuân thủ các nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai nước, Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam-Trung Quốc, luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 và Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC).
Ủy viên Quốc vụ Dương Khiết Trì bày tỏ, Trung-Việt là hai nước láng giềng quan trọng của nhau, Đảng, Chính phủ và nhân dân Trung Quốc hết sức coi trọng và luôn kiên trì phương châm hợp tác hữu nghị với Việt Nam. Với sự nỗ lực chung, hai bên đã khắc phục được những khó khăn gặp phải trong thời gian vừa qua. Hiện quan hệ song phương đang từng bước khôi phục, hai bên cần nắm chắc phương hướng phát triển quan hệ hai nước, xử lý thỏa đáng và kiểm soát tốt bất đồng trên biển, tạo môi trường thuận lợi cho hợp tác song phương. Ủy viên Quốc vụ Dương Khiết Trì nhất trí tăng cường chỉ đạo các cơ quan hữu quan Trung Quốc tích cực triển khai các thỏa thuận đã đạt được tại Phiên họp lần này.”
Như vậy xem ra Dương Khiết Trì đã “mát lòng mát dạ” sau khi chỉ mất một ngày họp ở Hà Nội với ông Phạm Bình Minh mà xem ra không tốn bao nhiêu công sức.
Bởi vì: “Hai bên cho rằng, quan hệ hữu nghị Việt Nam - Trung Quốc phát triển lành mạnh, ổn định là phù hợp với nguyện vọng và lợi ích căn bản của nhân dân hai nước, có lợi cho hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực. Hai bên sẽ cùng nhau nỗ lực thực hiện nghiêm túc các thỏa thuận và nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai nước, không ngừng củng cố và thúc đẩy quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Trung Quốc phát triển ngày càng đi vào chiều sâu.
- Hai bên nhất trí tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy giao lưu hợp tác giữa hai nước; đẩy mạnh thực hiện hiệu quả Chương trình hành động triển khai quan hệ đối tác hợp tác chiến lược Việt Nam - Trung Quốc; khẩn trương thành lập Nhóm công tác hợp tác về cơ sở hạ tầng và Nhóm công tác về hợp tác tiền tệ để tăng cường hợp tác trên các lĩnh vực liên quan.
- Hai bên nhất trí thực hiện nghiêm túc 3 văn kiện về biên giới trên đất liền Việt Nam-Trung Quốc, phối hợp giải quyết kịp thời những vấn đề nảy sinh trong công tác quản lý biên giới.”
Nghe qua thì có vẻ hòa bình, hữu nghị đấy nhưng kẻ bị thiệt trong thỏa thuận Phạm Bình Minh-Dương Khiết Trì ngày 27/10/2014 không phải là đảng CSVN mà thuộc về số phận hẩm hiu của nhân dân Việt Nam, những người đã không những chỉ mất quyền làm chủ đất nước vào tay đảng mà còn bị Lãnh đạo Việt Nam đầy vào chân tường khi không giữ được tài sản của Tổ tiên để lại cho đời sau. -/-
Phạm Trần
danlambaovn.blogspot.com

Sức khỏe: Nghiên cứu mới giúp hiểu thêm về khả năng gây tử vong của Ebola

VOA Thứ sáu, 31/10/2014
Xem
Kay Maddux
Hai nghiên cứu đáng chú ý về Ebola công bố trong tuần này làm sáng tỏ lý do tại sao nhiều người tử vong còn một số người khác vượt qua được căn bệnh chết người này.
Trong một nghiên cứu, các nhà nghiên cứu thu thập dữ liệu từ 106 bệnh nhân mắc bệnh Ebola tại Bệnh viện Chính phủ Kenema ở Sierra Leone từ ngày 25 tháng 5 đến ngày 18 tháng 7. Dữ liệu của một số các bệnh nhân bị thiêu hủy do lo sợ gây ô nhiễm. Nhưng nhóm nghiên cứu đã có thể phân tích kỹ lưỡng dữ liệu từ 44 bệnh nhân Ebola tại bệnh viện.
"Đây là lần đầu tiên có được nhiều dữ liệu như vậy thu thập từ bất kỳ bệnh nhân Ebola nào," bác sĩ John Schieffelin, một trong những tác giả của nghiên cứu, nói với hãng tin Reuters.
Nghiên cứu, được đăng trên Chuyên san Y học New England, cho thấy tuổi tác và số lượng virus trong máu của bệnh nhân dường như là những yếu tố quyết định tỉ lệ tử vong của bệnh nhân. Các nhà nghiên cứu báo cáo rằng 57 phần trăm những người dưới 21 tuổi được điều trị Ebola chết vì nhiễm trùng so với 94 phần trăm những người trên 45 tuổi.
Về lượng virus, các nhà khoa học báo cáo rằng tỉ lệ tử vong là 33 phần trăm ở bệnh nhân có ít virus (ít hơn 100.000 bản sao virus mỗi ml máu) tại thời điểm chẩn đoán, so với tỉ lệ 94 phần trăm ở những người có máu chứa hơn hơn 10 triệu bản sao virus mỗi ml.
Nhìn chung, 74 phần trăm bệnh nhân trong nghiên cứu này tử vong, tương tự như những gì mà các nhà khoa học nhìn thấy ở những đợt bùng phát dịch bệnh trước đó.
Ảnh hưởng di truyền
Trong nghiên cứu thứ hai, đăng trên chuyên san Science, các nhà khoa học tại Đại học Washington ở thành phố Seattle nhận thấy rằng chuột thí nghiệm, giống như con người, có một loạt những phản ứng đối với virus Ebola.
Nhóm nghiên cứu có thể tạo ra những con chuột bị nhiễm trùng giống như ở con người. Trong những con chuột bị nhiễm Ebola, các nhà nghiên cứu quan sát một loạt những kết quả, từ bệnh nhẹ cho đến xuất huyết và tử vong.
Các nhà khoa học xác định được hai gene - TEK và TIE1 - ở chuột có vẻ như đóng vai trò quan trọng trong việc tiên đoán con chuột nào sẽ chết và con nào sẽ mắc bệnh hay là không. Ở những con chuột bị chảy máu, hai gene làm mạch máu của chúng yếu hơn và bị rò rỉ, kích hoạt một chuỗi những phản ứng khiến các cơ quan ngừng hoạt động.
Những kết quả này có thể giải thích tại sao khoảng hai phần ba những người chết vì Ebola không bị xuất huyết nghiêm trọng - một phát hiện mà bác sĩ James Musser mô tả là một "tiến bộ đáng kể," theo trích dẫn của báo New York Times. Bác sĩ James Musser là giám đốc phụ trách nghiên cứu bệnh truyền nhiễm tại Viện Nghiên cứu Methodist Houston.
Nghiên cứu của nhóm bắt đầu từ ba năm trước, lấy cảm hứng từ công tác nghiên cứu của mình về lịch sử của virus cúm, rất lâu trước khi xảy ra dịch bệnh hiện nay ở ba nước Tây Phi.

Giành lại tương lai của Hồng Kông

Posted on by DaVang

Joshua Wong Chi-Fung – Trà Mi lược dịch

Joshua Wong Chi-Fung1“Hôm nay quý vị đang lấy đi tương lai của chúng tôi, nhưng cái ngày mà chúng tôi quyết định tương lai của ông bà sẽ đến.” – Joshua Wong Chi-Fung (Hoàng Chí Phong).
BBieeu tình đồi đan chủ, phổ thông đầu phiêu tại Hong Kong (29/9/2014). Ảnh: TNYT
Biểu tình đòi dân chủ, phổ thông đầu phiếu tại Hong Kong (29/9/2014). Ảnh: TNYT/Dale De La Rey/Agence France-Presse — Getty Images

HONG KONG – Đêm thứ Ba đánh dấu một tháng kể từ ngày cảnh sát Hồng Kông tấn công người biểu tình ủng hộ dân chủ ôn hòa bằng hơi cay và lựu đạn khói, đã vô tình gây cảm hứng cho hàng ngàn người đến chiếm giữ đường phố đòi quyền tự do bầu chọn lãnh đạo của Hồng Kông.
Tôi đã bị cảnh sát bắt giữ ngày hôm đó, ngày 28 tháng 9, vì đã tham gia vào vụ bất tuân dân sự ở phía trước của trụ sở chính của chính phủ do sinh viên lãnh đạo. Tôi đã bị giam giữ 46 tiếng, cắt đứt với thế giới bên ngoài. Khi được trả tự do, tôi rất cảm động khi thấy hàng ngàn người trên đường phố, tập hợp đòi dân chủ. Từ đó tôi biết rằng thành phố này đã mãi mãi thay đổi.
Kể từ khi Hồng Kông được (Anh Quốc) trả lại cho Trung Quốc vào năm 1997, chưa đầy một năm sau khi tôi ra đời, người dân của thành phố này đã lầm lũi trong một hệ thống chính trị mà quyền lực nằm trong tay của những người giàu có, nổi tiếng, và băng đảng. Nhiều người trong chúng tôi, đặc biệt là người thuộc thế hệ của tôi, đã hy vọng thay đổi dân chủ cuối cùng đã đến sau nhiều năm Bắc Kinh hứa hẹn rằng chúng tôi sẽ có bầu cử tự do. Thay vào đó, vào cuối tháng Tám, Bắc Kinh đã phán quyết rằng băng đảng đầu sỏ của Hồng Kông sẽ vẫn là chóp bu. Phổ thông đầu phiếu đã trở thành một giấc mơ tan vỡ.
Nhưng không bao lâu. Hàng nghìn người biểu tình, hầu hết còn trẻ, những người tiếp tục chiếm khu vực chính của thành phố mỗi ngày đều cho thấy thay đổi chính trị cuối cùng sẽ đến bằng sự kiên trì. Cuộc biểu tình dân chủ hòa bình của chúng tôi đã phá hủy huyền thoại rằng đây là một thành phố của những người chỉ quan tâm đến tiền bạc. Hồng Kông, muốn cải cách chính trị. Hồng Kông, muốn thay đổi.
Thế hệ của tôi, cái gọi là thế hệ hậu-90 trưởng thành sau khi Hồng Kông đã được trả lại cho Trung Quốc, sẽ bị mất mát rất nhiều nếu Hồng Kông chỉ trở thành như là một thành phố của Trung Quốc đại lục, nơi không có tự do chia sẻ thông tin và pháp luật bị xem thường. Chúng tôi rất tức giận và thất vọng với Bắc Kinh và chính quyền địa phương của Leung Chun-ying (Lương Chấn Anh) đang cố tình đánh cắp tương lai của chúng tôi.
Thế hệ hậu-90 đang lớn lên trong một thành phố thay đổi vô cùng so với thời của cha mẹ và ông bà của chúng tôi. Các thế hệ trước đó, nhiều người từ Trung Quốc đại lục đến đây, muốn một điều: một cuộc sống ổn định. Một công việc chắc chắn luôn luôn quan trọng hơn chính trị. Họ làm việc chăm chỉ và không đòi hỏi gì hơn là một số tiện nghi và ổn định.
Những người của thế hệ tôi muốn nhiều hơn nữa. Trong một thế giới mà ý tưởng và lý tưởng tự do phát triển, chúng tôi muốn những gì mọi người khác trong một xã hội tiên tiến dường như đang có: quyền quyết định tương lai của chúng tôi.
Tình hình kinh tế ảm đạm của chúng ta góp phần vào sự thất vọng của chúng tôi. Triển vọng về công ăn việc làm quá tồi tệ; tiền thuê nhà và giá bất động sản vượt quá khả năng của giới trẻ. Khoảng cách giàu nghèo của thành phố thì sâu hoắm. Thế hệ của tôi có thể là thế hệ đầu tiên ở Hồng Kông sẽ nghèo hơn so với cha mẹ của chúng tôi.
Cha mẹ tôi không phải là người hoạt động chính trị. Nhưng trong vài tháng qua, vì vai trò nổi bật của tôi trong phong trào, địa chỉ nhà của gia đình tôi đã bị tiết lộ trên mạng, và cha mẹ tôi đã bị sách nhiễu. Mặc dù bi quấy rầy, cha mẹ tôi vẫn tôn trọng sự lựa chọn của tôi, tham gia vào các cuộc biểu tình. Họ cho tôi tự do làm những gì tôi tin là quan trọng.
Những người trẻ tuổi khác không được may mắn như vậy. Nhiều thanh thiếu niên tham dự cuộc biểu tình với chúng tôi không được cha mẹ đồng ý. Họ bị trích vì đấu tranh cho dân chủ, và nhiều người cuối cùng phải nói dối với cha mẹ về những sinh hoạt buổi tối. Tôi đã nghe được những câu chuyện cha mẹ xóa địa chỉ liên lạc và trao đổi trên mạng xã hội trong điện thoại di động của con em của họ để ngăn cản thanh niên thiếu nữ tham gia các nhóm hoạt động.
Sự tỉnh thức chính trị của thế hệ tôi đã được nung nấu trong nhiều năm qua. Gần năm năm trước đây, những người trẻ tuổi đã dẫn đầu cuộc biểu tình chống lại việc xây dựng lãng phí của một tuyến đường sắt mới nối Hồng Kông với Trung Quốc đại lục. Năm 2011, nhiều người trẻ tuổi, trong đó có tôi, đã tổ chức để chống lại một chương trình giáo dục quốc dân tuyên truyền của Trung Quốc mà Bắc Kinh cố gắng áp đặt cho chúng tôi. Tôi, lúc đó 14 tuổi, và tất cả tôi có thể nghĩ là các nhà lãnh đạo ở Bắc Kinh không có quyền tẩy não chúng tôi bằng quan điểm xuyên tạc của họ về thế giới.
Nếu có điều gì tích cực về quyết định mới đây của chính phủ trung ương về quyền phổ thông đầu phiếu thì đó chính là bây giờ chúng tôi biết rõ vị trí chúng tôi đang đứng. Bắc Kinh tuyên bố sẽ cho chúng tôi một người, một phiếu bầu, nhưng kế hoạch chỉ có ứng cử viên được chính phủ phê duyệt mới có thể tranh cử không thể gọi là cuộc phổ thông đầu phiếu. Trong việc lựa chọn lối đi này, Bắc Kinh đã cho thấy họ nghĩ thế nào là công thức “một quốc gia, hai chế độ” đã quản trị thành phố từ năm 1997. Với Bắc Kinh thì “một quốc gia” đứng trước.
Cảnh sát HK với dùi cui, lựu đạn cay đi dẹp biểu tình (28/9/2014). Ảnh: Xaume Olleros/Agence France-Presse — Getty Images.
Cảnh sát HK với dùi cui, lựu đạn cay đi dẹp biểu tình (28/9/2014). Ảnh: Xaume Olleros/Agence France-Presse — Getty Images.
Tôi tin rằng quyết định tháng Tám và phản ứng mạnh mẽ của cảnh sát Hồng Kông với những người biểu tình – bắn hơn 80 lựu đạn cay vào đám đông và sử dụng bình xịt hơi cay với dùi cui – là một bước ngoặt. Kết quả là cả một thế hệ đã được chuyển hóa từ những người đứng bên lề thành những người hoạt động. Người dân đã bị buộc phải đứng lên và tranh đấu.
Ngày nay, có rất nhiều học sinh trung học hoạt động trong phong trào dân chủ: Học sinh mới ở tuổi 13 đã tẩy chay lớp học, trong khi thanh thiếu niên ở mọi lứa tuổi đã ở lại qua đêm tại địa điểm biểu tình. Họ phảng kháng một cách thanh nhã, mặc dù bị cảnh sát và những tên côn đồ đâm thuê chém mướn tấn công.
Một số người nói rằng chính phủ giữ vững lập trường chống lại phổ thông đầu phiếu chính hãng thì đòi hỏi của chúng tôi sẽ không thể đạt được. Nhưng tôi tin rằng hoạt động là làm cho những việc “không thể” trở thành “có thể”. Giai cấp thống trị của Hồng Kông cuối cùng sẽ mất sự ủng hộ của người dân, và nagy cả khả năng cai trị, bởi vì họ đã đanh mất một thế hệ thanh niên.
Trong tương lai tôi có thể bị bắt lại một lần nữa và thậm chí có thể đi tù cho vì vai trò của tôi trong phong trào này. Nhưng tôi sẵn sàng trả giá đó nếu nó sẽ làm cho Hồng Kông thành một thành phố tốt hơn và công bằng hơn.
Phong trào phản kháng có thể cuối cùng sẽ không đạt kết quả. Nhưng, nếu không được gì khác thì nó đã đem lại niềm hy vọng.
Tôi muốn nhắc nhở tất cả mọi thành viên của giai cấp thống trị tại Hồng Kông: Hôm nay quý vị đang lấy đi tương lai của chúng tôi, nhưng cái ngày mà chúng tôi quyết định tương lai của ông bà sẽ đến. dù bất cứ chuyện gì có xảy ra cho phong trào phản kháng, chúng tôi sẽ đòi lại nền dân chủ của chúng tôi, vì thời gian đưng về phía của chúng tôi.
Thách đố với "một quốc gia, hai chế độ" (1/10/2014). Ảnh: Chris McGrath/Getty Images
Thách đố với “một quốc gia, hai chế độ” (1/10/2014). Ảnh: Chris McGrath/Getty Images
Joshua Wong Chi-Fung (黃之鋒, Hoàng Chí Phong) là một đồng sáng lập viên của nhóm sinh viên hoạt động Scholarism. Bài viết này được dịch từ tiếng bản tiếng Anh trên The New York Times đã được dịch từ tiếng Trung Hoa.
© 2014 DCVOnline

Nguồn: Taking Back Hong Kong’s Future. By JOSHUA WONG CHI-FUNG, The New York Times, OCT. 29, 2014.

Vận Xui !! Hoa Kỳ: Rơi tàu vũ trụ ở California: Một người chết, một người bị thương

VOA Thứ sáu, 31/10/2014
Xem
Chiếc tàu SpaceShipTwo của công ty Virgin Galactic trong một chuyến bay thử ở hoang mạc Mojave, California, 9/2014.
Chiếc tàu SpaceShipTwo của công ty Virgin Galactic trong một chuyến bay thử ở hoang mạc Mojave, California, 9/2014.
Nhà chức trách ở bang California cho biết một tàu du lịch vũ trụ đã rơi trong khi đang bay thử nghiệm ở hoang mạc Mojave, làm một phi công thiệt mạng và một người khác bị thương nặng.
Nhà chức trách nói người bị thương nặng đã nhảy dù khỏi tàu vũ trụ thương mại của công ty Virgin Galactic trước khi nói rơi xuống đất vào thứ Sáu. Hình ảnh trên truyền hình cho thấy những bộ phận của tàu SpaceShipTwo nằm rải rác giữa những bụi cây trong hoang mạc phía bắc thành phố Los Angeles.
Virgin Galactic, công ty do tỉ phú người Anh Richard Branson thành lập, cho biết họ sẽ làm việc với các cơ quan hữu trách để xác định nguyên nhân của vụ tai nạn.
Công ty này đã có kế hoạch kinh doanh những chuyến du hành trong tàu SpaceShipTwo ra ngoài rìa không gian hoặc ở độ cao khoảng khoảng 100 km. Hành khách sẽ trải nghiệm vài phút phi trọng lượng trước khi quay trở về Trái đất.
Hơn 500 người đã đặt cọc tiền để được du hành trong tàu vũ trụ.
Những người mục kích kể lại rằng tàu vũ trụ lao xuống đất sau khi nó được thả ra từ một chiếc máy bay đưa nó lên cao.
Đây là vụ tai nạn thứ hai trong tuần này xảy ra với một công ty không gian của Mỹ. Hôm thứ Ba, một phi thuyền thương mại không người lái chở đồ tiếp liệu lên Trạm Không gian Quốc tế phát nổ chỉ vài giây sau khi rời mặt đất khỏi một bệ phóng của NASA ở bang Virginia thuộc miền đông.

HUYỀN THOẠI ĐU DÂY (Đào Hiếu)

Posted on by

tarzandudayKhi người ta nói Việt Nam đang đu dây giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ thì sự ví von ấy hàm ý liều lĩnh, bắt cá hai tay, muốn chơi với cả hai bên mà lại không thật lòng với bên nào. Có nghĩa là cà chớn. Và như thế thì rốt cuộc chẳng được gì. Sẽ trơ trọi, sẽ đơn độc. Và trò “đu dây” ấy sẽ rất nguy hiểm.
Nhưng trên thực tế Việt Nam có đu dây không?
Người đu dây là một người tự tin, dũng cảm, mạnh mẽ và tài năng. Nhưng đứng trước Trung Quốc và Mỹ thì chính quyền Việt Nam không hề có các tố chất ấy.
-Không tự tin vì mặc cảm nước nhỏ, nghèo nàn, lạc hậu. Trước đây Việt Nam huênh hoang là “đánh thắng ba đế quốc sừng sỏ”. Nay thì tự ti đến nỗi một ông bộ trưởng Tàu sang Việt Nam để “kêu gọi đứa con hoang trở về” mà chính quyền cứ im thin thít.
-Không dũng cảm vì nó giết ngư dân mình mà mình còn sợ phạm huý, chỉ dám gọi nó là “tàu lạ”. Nó đổ quân chiếm đảo của mình mà mình lại ra lệnh không được kháng cự để đến nỗi bị nó bắn tan xác 65 chiến sĩ hải quân ở Gạc Ma chỉ trong vòng mấy phút.
-Không mạnh mẽ vì vũ khí thời chiến tranh để lại thì đã rỉ sét, vũ khí mới mua thì lèo tèo vài ba cái làm kiểng, và nạn tham nhũng tràn lan, quanh năm lo vơ vét ăn chặn, cắt xén, rút rỉa ngân sách, còn chí khí đâu mà đánh giặc?
Thử hỏi một kẻ nhu nhược, tự ti mặc cảm và nghèo rớt mồng tơi như Việt Nam thì nhìn thẳng vào mặt người ta còn không dám, nói chi tới chuyện đu dây. Vì đu dây là “giỡn mặt tử thần”. Việt Nam có bản lãnh gì mà dám đu dây?
Và điều quan trọng nhất là từ khi ông Hồ tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp đã khẳng định chỗ đứng của mình là trong vòng tay Trung Quốc rồi. Thắng trận Điện Biên Phủ cũng là nhờ vũ khí Trung Quốc, thắng Mỹ cũng nhờ vũ khí Trung Quốc.
Cho nên miệng thì nói “không có gì quý hơn độc lập tự do” nhưng trong lòng thì đã quyết “đổi độc lập tự do đề nắm cho được chính quyền”.
Từ chọn lựa đó mới đẻ ra “Cải Cách Ruộng Đất”. Trong chiến dịch này nhà cầm quyền Việt Nam lệ thuộc Trung Quốc đến nỗi vì muốn lấy lòng họ mà phải bắn bỏ nhiều nhân sĩ yêu nước từng đem cả tài sản mình ra giúp đỡ kháng chiến.
Năm 1990 ông Linh cùng các đồng chí của ông tại hội nghị Thành Đô đã làm một việc mà bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch gọi là: “Bắt đầu một thời kỳ Bắc thuộc mới rất nguy hiểm”.
Năm 2010 liên tiếp nhiều phái đoàn quân sự cấp cao của Việt Nam sang học tập ở Trung Quốc, dấn thêm những bước quan trọng vào sự lệ thuộc quân sự.
Rõ ràng là ngay từ những ngày đầu thành lập chế độ, thì Việt Nam đã hành xử như một tỉnh lẻ của Trung Quốc -trừ một giai đoạn ngắn từ năm 1975 đến 1979 có ý muốn thoát Trung và lập tức bị TQ “cho một bài học” bằng cuộc chiến tranh biên giới 1979 – còn lại, từ trước 1945 đến nay, chính quyền Việt Nam đã một lòng theo Trung Quốc, đã chọn Trung Quốc làm ông chủ, đã nguyện nâng khăn sửa túi cho Trung Quốc, đã khép nép làm “con nuôi” của các vị cha già dân tộc: Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình và ngày nay là Tập Cận Bình.
Với một “thân phận” như vậy, liệu Việt Nam có tư cách để “đu dây” qua phía Mỹ không?
o O o
Chuyện Việt Nam đu dây giữa Trung Quốc và Mỹ xem ra chỉ là bịa đặt.
Nhưng sao lại có chuyện các vị lãnh đạo cao cấp Việt Nam thăm viếng Hoa Kỳ?
Tôi cho rằng các cuộc thăm viếng ấy cũng nằm trong kịch bản của Trung Quốc. Việt Nam muốn vào TPP, muốn mua vũ khí của Mỹ. Cả hai việc ấy cũng chỉ có lợi cho Trung Quốc.
Xưa nay phần lớn các hàng xuất khẩu của “Việt Nam” sang Mỹ chỉ là trên giấy tờ, chỉ là nói cho oai, thực ra đó là hàng của Trung Quốc sản xuất tại Việt Nam. Kim ngạch xuất khẩu – tiếng là của Việt Nam – thực ra cũng là kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc.
Việt Nam mua của Nga 2 tàu ngầm Kilo, nhưng Trung Quốc đã mua 20 tàu ngầm kilo giống như vậy. Liệu 2 chiếc có gãi ngứa được 20 chiếc nếu xảy ra chiến tranh không? Nếu câu trả lới là KHÔNG thì mua tàu ngầm để làm gì?
Đối với một kẻ nhu nhược, mặc cảm và run rẩy thì có con dao trên tay hay không, cũng giống hệt nhau. Bởi vì vấn đề là anh có dám đâm hay không. Nếu anh không dám đâm thì cầm dao để làm gì? Mua dao để làm gì?
o O o
Vậy thì những dư luận cho rằng:
-Việt Nam đang đu dây giữa Trung Quốc và Mỹ.
-Mỹ bỏ cấm vận bán vũ khí cho Việt Nam vì vấn đề nhân quyền
-Việt Nam mua vũ khi của Nga và Mỹ để đương đầu với Trung Quốc…
tất cả đều xạo, vì:
1/ Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quân đội và nhân dân Việt Nam luôn khẳng định mối quan hệ trước sau như một với Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quân đội và nhân dân Trung Quốc; thúc đẩy quan hệ hai nước phát triển theo phương châm “16 chữ vàng” và tinh thần “4 tốt”.
2/ Mớ vũ khí Việt Nam mua được quá ít ỏi (tiền đâu mua nhiều?), đối với Trung Quốc chỉ là những đồ chơi. Chưa kể việc Trung Quốc đã xây xong một sân bay quân sự trên đảo Hoàng Sa rồi. Cái sân bay ấy còn lợi hại hơn cả một hàng không mẫu hạm vì nó “đậu” sát bờ biển Việt Nam (chỉ cách Đà Nẵng hơn 300 km) và không thể bị đánh chìm!
3/ Mỹ cũng rất muốn bán vũ khí cho Việt Nam (chế tạo vũ khí là một trong những nền công nghiệp quan trọng của Mỹ). Mỹ đưa vấn đề “nhân quyền” ra để mặc cả với Việt Nam cũng chỉ là màu mè, ra vẻ ta đây quan tâm tới nhân quyền, còn phía Việt Nam thì giữ thể diện cho Mỹ bằng cách thả tượng trưng vài người nổi tiếng. Trên thực tế nếu Việt Nam đếch thả người nào thì Mỹ vẫn bán vũ khí như thường (ngu sao không bán?)
4/ Việt Nam mua vũ khí của Nga, của Mỹ nhưng không xài (vì có dám đánh nhau với Trung Quốc đâu mà xài?). Vậy mua để làm gì?
Câu hỏi này làm người ta nghĩ ngay tới vụ Vinashin mua cái “ụ nổi”. Và vô số vụ “mua về đắp mền” khác nữa.
O o O
Chúng ta đang sống trong một thời đại XẠO HẾT CHỖ NÓI. Nga cũng xạo, Mỹ cũng xạo, Trung Cộng cũng xạo và Việt Nam cũng… rứa.
“Mười Sáu Chữ Vàng”, “Bốn Tốt” cũng xạo, Mỹ “quan ngại sâu sắc” cũng xạo, Mỹ “bỏ lệnh cấm vận bán vũ khí” cũng xạo, mà “đu dây” cũng xạo nốt.
ĐÀO HIẾU
******
Chú thích của người chuyển bài cho BVCV:
Tác giả bài viết này là người Tây Sơn Bình Định, ông ta sinh năm 1946, gia nhập đảng cộng sản Việt Nam năm 1968. Năm 1970 ông bị bắt quân dịch và mang cấp bậc binh nhì ở Sư Đoàn 22 bộ binh QLVNCH. Vì là đảng viên đảng cộng sản, nên ông đã lén lút hoạt động chống Mỹ cho đến ngày 30 tháng 04 năm 1975. Sau 75 ông đã từng là phóng viên của báo Tuổi Trẻ ở Saigon.
Sự mở mắt của ông quá muộn màng, cũng giống như bao nhiêu sinh viên của chế độ cũ tham gia mặt trận giải phóng Miền Nam trước đây.
http://baovecovang2012.wordpress.com/2014/10/31/huyen-thoai-du-day-dao-hieu/

CẢNH GIÁC NHỮNG CHIÊU SIÊU LỪA CỦA BỌN THƯƠNG LÁI TÀU TẠI VIỆT NAM (Nguyễn Vĩnh Long Hồ)

Posted on by

I. NHỮNG CHIÊU THU MUA QUÁI ĐẢN CỦA THƯƠNG LÁI LƯU MANH TÀU KHỰA TẠI VIỆT NAM:
[1] THU MUA MÓNG TRÂU: Thương lái Tàu Khựa về các chợ nông thôn miền Bắc Việt Nam thu mua móng trâu với giá rất cao, thậm chí 4 cái móng của con trâu, giá còn cao hơn cả nguyên con trâu. Thế là, nông dân miền Bắc VN và bọn ăn trộm trâu thi đua ra sức làm thịt trâu vừa bán được móng trâu, vừa bán được thịt trâu có thêm lãi. Chỉ trong một thời gian ngắn, bọn thương lái Tàu đã triệt phá tan hoang nền nông nghiệp của đồng bào dân tộc thiểu số, không còn trâu để cày bừa lấy gì làm mùa? Tiếp theo đó, dân loan tin cho nhau là bọn lái trâu Tàu Khựa lùa trâu từ bên Hoa Lục qua biên giới rao bán trâu với giá cao. Trong số thương lái lưu manh Tàu Khựa nầy, còn có kẻ tiếp thị bán máy kéo “Made in China” . Bây giờ đồng bào mới tỉnh ngộ: “Thì ra chúng mua móng trâu là vì như thế, biết thì đã muộn!”
[2] MUA DÂY ĐỒNG VỤN: Thâm độc hơn, bọn thương lái Tàu khựa mở chiến dịch thu mua dây đồng vụn với giá cao ngất ngưởng, đẩy từng đoàn người lùng sục, chặt trộm dây đồng từ các đường dây điện cao thế, băm nát mạng lưới điện quốc gia. Có nơi, bọn “đồng tặc” lẻn vào nhà kho ăn cắp từng cuộn dây đồng mới toanh mang bán thì tên thương lái Tàu nói: “Ấy chết, chúng tôi không mua mấy cuộn dây đồng ăn cắp tài sản xã hội chủ nghĩa đâu. Chúng tôi chỉ mua dây đồng vụn mà thôi.” Cho đến khi dân nghèo lặn xuống biển chặt phá mạng cáp quang viễn thông, thì mới ngả ngữa ra là chúng gián tiếp phá hoại con đường “HUYẾT MẠCH THÔNG TIN” của Việt Nam.
[3] NHỮNG CHIÊU LỪA NGOẠN MỤC CỦA BỌN THƯƠNG LÁI LƯU MANH:
(1) Cách đây hơn một tháng, mỗi ngày có hàng chục người ra tận cánh đồng Bầu Tròn để thu mua ớt tươi về bán cho đầu nậu TÀU. Lúc đó, 1 kg ớt giá 18.000 đồng, nên nông dân rất phấn khởi. Thấy ớt được giá, nhiều nông dân đã đua nhau phá bỏ vườn bầu, khổ qua, vườn rau xanh… để chuyển sang trồng ớt. Song đùng một cái, thương lái Tàu biến mất, khiến hàng chục tấn ớt tươi của người dân không bán được. Mới đây, đầu mối ngừng mua ớt cả ớt xanh. Không còn cách nào khác, nhiều nông dân đành bán ớt với giá khoản 8.000 đồng/ kg nhiều hộ sót của để ớt chín mang về phơi khô, chị Nguyễn Thị Minh (trú huyện Dại Lộc) ngậm ngùi nói.
(2) Từ giữa năm 2010, tình trạng xuất cảng DỪA KHÔ nguyên liệu ồ ạt đã đẩy hàng loạt doanh nghiệp chế biến dừa tại Bến Tre rơi vào tình trạng đói nguyên liệu chế biến. Nếu năm 2010, có 64 triệu trái dừa được bán cho các thương lái Tàu, thì đến giữa năm 2011 con số này tăng gấp đôi, chiếm hơn 30% sản lượng dừa của tỉnh Bến Tre. Có thời điểm, sản lượng dừa nguyên liệu bán cho các tàu nước ngoài vượt 50% sản lượng của địa phương. Giá dừa có lúc lên đến 150.000 đồng / chục. Do thương lái Tàu đẩy giá cao, doanh nhiệp tại Bến Tre phải sang tận Indonesia mua dừa về chế biến. Tuy nhiên, giá dừa sau đó rớt thảm hại do thương lái Tàu không còn ăn hàng. Đến thời điểm nầy, dừa khô tại Bến Tre chỉ còn 12.000 đồng / chục.
(3) Cũng với chiêu nầy, thương lái Tàu ùn ùn tràn về Tiền Giang, mua khóm với giá cao ngất ngưỡng, không chỉ mua khóm chín mà mua cả khóm còn xanh. Theo Sở Công thương Tiền Giang, thương lái Tàu mua thông qua chủ vựa trái cây ở huyện Cái Bè, mỗi ngày 5080 tấn. Hàng được đóng thùng đưa ra Lạng Sơn rồi xuất tươi qua TC. Song chỉ một thời gian, các thương lái không mua khóm ở Tiền Giang nữa mà đến Hậu Giang, Kiên Giang mua khóm. Ông Vu Suối, Chủ nhiệm HTX nông nghiệp Thạnh Thắng (Tp. Vị Thanh, Hậu Giang) cho biết, trước đây hơn một tuần, thương lái có đến khu vực Xáng Cụt (huyện Gò Quao, Kiên Giang) thu mua khóm với giá 4.000 đồng/ kg (loại 1 trái/ kg trở lên). Ông Suối cũng cho biết trước đó có một người ở quận Cái Răng (Tp. Cần Thơ) gọi điện rủ ông giao hàng cho họ 2 – 10 tấn/ ngày với giá 3.200 đồng/ kg không đòi hỏi gì, chỉ cần khóm 1 kg trở lên là được, trong khi ông mua bán cho các công ty giá ổn định chỉ 2.800 đồng/ kg.
(4) Trong khi đó, từ năm 2008, thương lái Tàu bắt đầu đến huyện Bình Minh và Bình Tân (Vĩnh Long) để mua khoai lang. Năm 2011, người dân tại 2 huyện nầy bắt đầu ồ ạt chuyển đất trồng lúa sang trồng khoai lang tím Nhật để bán cho thương lái Táu. Cao điểm thu mua khoai lang tím Nhật được các thương lái Tàu mua trên 1 triệu đồng/ tạ (60kg), nông dân thu lợi 300 – 400 triệu đồng/ ha. Song, việc tiêu thụ hầu như chỉ dựa vào thương lái Tàu và thị trường TC. Tính đến ngày cuối tháng 5/2012, toàn tỉnh Vĩnh Long đã xuống giống trên 9.200 ha khoai lang. Hiện khoai lang tím Nhật còn được trồng ở huyện Lấp Vò (Đồng Tháp), huyện Cờ Đỏ (Tp. Cần Thơ). Song, giá khoai lang tím Nhật hiện chỉ còn 200.000 – 250.000 đồng/ tạ, giảm 4 -5 lần so với trước kia, khiến nhiều nông dân điêu đứng.
(5) Hết dừa khô, khoai lang, thương lái Tàu chuyển qua mua tôm. Tại Bạc Liêu, thương lái Tàu đi mua tôm nguyên liệu mà không cần phải đồng đều về kích cỡ. Còn tại Cà Mau, hàng chục thương lái Tàu tổ chức thu mua cua. Theo tìm hiểu của phóng viên, thời gian qua, tại các địa phương miền Trung như: Đà Nẳng, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Thừa Thiên – Huế…cũng đều có sự xuất hiện các thương lái người Tàu trực tiếp đi thu mua hải sản như tôm, cua, cá, mực…của ngư dân địa phương. Sau đó, các thương lái nầy thuê nhân công tại chỗ sơ chế rồi gom hàng, vận chuyển về TC để tiêu thụ. Hầu hết các thương lái người Tàu đều mua hải sản của ngư dân với giá cao so với thương lái địa phương (thường cao hơn 5.000 – 10.000 đồng/ kg) nên nhiều ngư dân bán hải sản cho thương lái Tàu. Nhưng, chỉ được một thời gian ngắn, hầu hết các thương lái người này “một đi không trở lại” , khiến cho giá hầu hết các mặt hàng hải sản bị rớt giá, ngư dân lo lắng và nhiều “đầu nậu” người địa phương ôm nợ.
(6) Thủ đoạn của các thương lái Tàu là núp bóng du lịch để thu mua nông sản. Họ thuê các kho vựa để chứa hàng rồi nhờ thương lái người Việt mua nông sản. Tuy nhiên, họ không mở tài khoản thanh toán hay thư tín dụng, nên khi họ bỏ đi, các thương lái trong nước sẽ gánh chịu hậu quả. Nhiều thương lái, chủ vựa nông sản cho biết, lúc đầu thương lái Tàu trả tiền rất đàng hoàng, chi hoa hồng cao.. cho thương lái địa phương để tìm được nhiều mối làm ăn. Khi đã quen, họ bắt đầu rút vốn. Trong khi thương lái trong nước phải bỏ tiền mua nông sản, thương lái lại trả theo hình thức gối đầu, sau đó trả chậm rồi…trốn mất.
(7) Ở Quảng Nam, thương lái Tàu còn có thời gian thu mua dưa hấu. Nhiều nông dân thấy dưa hấu được giá nên cũng đua nhau trồng. Mới đây, thương lái Tàu lại ngưng mua giữa chừng, khiến dưa hấu rớt giá không phanh. Các đầu mối Việt lỡ mua hàng tấn dưa hấu với giá cao để bán lại cho thương lái TQ, đành mang ra chợ bán, mong vớt vác lại ít vốn. Tuy nhiên, dưa hầu chín quá nhiều, bán không hết nên nhiều người đành phải đổ bỏ.
(8) Đau hơn cả là những nông dân một nắng hai sương bị sụp bẫy của thương lái Tàu đến tán gia bại sản. Chuyện xảy ra cuối năm 2011, nhưng cho đến nay, nhiều nông dân ở vùng ven biển Bạc Liêu vẫn chưa ngươi ngoai. Bà Võ Thị Nga ở ấp Vĩnh Lạc, xã Vĩnh Thạnh, huyện Hòa Bình, Bạc Liêu kể: “Trước Tết, có một người lạ mặt đến dọ mua 100 tấn bần ổi để xuất qua TQ làm thuốc với giá 100.000 đồng/ kg cây và 50.000 đồng/ kg lá. Tôi đồng ý và đã bỏ ra khoảng 1 tỷ đồng để cùng hàng chục người tổ chức thu mua bần ổi khắp nơi. Sau khi gom đủ bần ổi, tôi gọi diện thoại cho người nầy đến lấy hàng, nhưng chết điếng vì nghe nó trả lời không mua nữa.”
(9) Thương lái Tàu ồ ạt mua mỡ lợn. Nông dân thi đua vỗ béo lợn để lấy mỡ đem bán kiếm lời. Thế rồi, thương lái bất ngờ ngưng mua. Lợn mỡ ế, rớt giá tới tận đáy. Khi giá thấp tới mức không thể xuống thấp hơn được nữa thì những tên thương lái Tàu lưu manh quay trở lại, thu mua ồ ạt mỡ lợn với giá bèo.
[4] THỦ ĐOẠN LƯU MANH CỦA BỌN THƯƠNG LÁI TÀU KHỰA:
Theo ông Võ Văn Theo, Trưởng phòng NN-PTNT huyện Bình Tân, thương lái Tàu tỏ ra rất khôn khéo. Thời điểm giá khoai lang lên đến hơn 1 triệu đồng/ tạ, họ chỉ mua với số lượng vài trăm tấn. Đến khi giá rớt thê thảm họ trở lại thu mua ồ ạt với số lượng rất lớn. Không những người trồng khoai lỗ nặng, mà các chủ vựa khoai tại Vĩnh Long còn bị thương lái Tàu quịt nợ với số tiền hàng tỷ đồng vì không có hợp đồng mua bán. Điều đáng quan tâm, nhiều người đặt câu hỏi: “Những thương lái Tàu chỉ đến VN thu mua hàng hóa hay làm LOẠN THỊ TRƯỜNG. Bên cạnh đó, họ còn mục đích gì khác ngoài việc kinh doanh?”
[5] THƯƠNG LÁI TÀU: TRƯỚC DỄ DÃI, SAU LẬT LỌNG:
Sau cua biển Năm Căn, Cà Mau, sầu riêng Tam Bình (Tiền Giang), khoai lang Tam Bình (Vĩnh Long), nay thương mãi Tàu tiếp tục ra chiêu với khóm Tân Phước (Tiền Giang). Ngày 28/5/2012, ông Tám Bé ở ấp Tân Phong (xã Tân Lập 2, huyện Tân Phước, Tiền Giang) kêu thương lái cân khóm với giá 2.800 đồng/ kg. Nhưng, thương lái Tàu thu mua khóm đến 6.000 đồng/ kg mà ông không bán. Ông cười khẩy: “Mấy ông Tàu ngưng mua khóm gần một tuần lễ rồi. Mà nếu mấy ổng còn mua, tui cũng không bán. Chơi với thương lái Tàu nhiều thiệt thòi lắm.”
[6] NÔNG DÂN BÌNH PHƯỚC ĐIÊU ĐỨNG VÌ THƯƠNG LÁI TÀU:
Nói về Bình Phước, có lẽ thế mạnh kinh tế của tỉnh nầy tập trung vào việc trồng điều và trồng cao su. Nhưng, những cánh đồng rừng cao su mới trồng của Bình Phước hoàn toàn không cho mủ, ngành trồng rừng ở đây chỉ còn trông mong vào cây điều. Dọc theo quốc lộ 14, từ Buôn Mê Thuột qua Bình Phước, nhìn đâu cũng thấy ngút ngàn một màu xanh cao su và cây điều, hứa hẹn đổi đời, cơm no, áo ấm cho đồng bào cả vùng dân cư rộng lớn nầy. Thế nhưng, những chiêu bài lừa đảo và phá hoại kinh tế của người Tàu đã làm cho nông dân Bình Phước thật sự điêu đứng và tuyệt vọng.
Theo lời một nông dân tên Trữ, chủ vườn điều rộng hơn 20 hecta và nông dân Bình Phước bị thương lái Tàu lừa mua “LÁ ĐIỀU” , họ bèn tuốt sạch lá để bán, kết cuộc bi thảm, nhiều vườn điều phải chặt gốc. Người nông dân ở đây không đến nỗi ngu ngốc đến độ dễ bị lừa đến thế, ông và bà con vẫn hiểu rằng chơi với thương lái Tàu là chơi với kiến lửa, nó không đốt mình là chuyện quá lạ! Lá điều chất thành núi nầy, núi nọ khắp các huyện vùng cao nguyên đất đỏ, nhưng chờ hoài không thấy thương lái đến mua; lúc nầy, bà con mới tá hỏa nhận ra mình bị lừa, và cú lừa này hết sức đau vì một khi không bán được lá, không có tiền mua phân bồi dưỡng cho gốc điều. Mùa sau, cây điều càng cho trái èo ẹp, tệ hại hơn những mùa trước. Kết cục, nông dân chịu cảnh mất mùa, nhiều rừng điều tan tác phải chặt gốc…
[7] NGÓN ĐÒN ÁC HIỂM CỦA THƯƠNG LÁI TÀU KHỰA:
Mua cao hơn giá thị trường là “ĐÒN TÂM LÝ” ác hiểm nhất, mà đa số thương lái Tàu dễ dàng đánh gục người bán ngay lần đầu tiên giao dịch. Lúc đầu, họ tỏ ra dễ dãi trong việc mua bán và trả tiền sòng phẳng, thậm chí còn sẵn sàng đặt cọc trước 30%. Sau một thời gian, họ giở trò than vãn nhằm khất nợ hoặc trả chậm. Khi số tiền lên đến bạc tỷ, nhiều tên lần lượt…hô biến. A Kiều là một khách du lịch TQ đến tạm trú tại khóm 1, thị trấn Năm Căn, huyện Năm Căn – Cà Mau để thu mua cua. Bà ta về nước hồi tháng 3/2012 mang theo số nợ hơn 6 tỷ đồng không hẹn ngày trở lại. Cùng về nước với A Kiều, còn có một người tên A Mao, cũng mang theo số nợ vài tỷ đồng. Ông Đỗ Chí Hùng, chủ vựa cua ở thị trấn Năm Căn cho biết A Mao còn nợ ông 1,7 tỷ đồng mua cua, giờ vô phương đòi. Không chỉ các vựa cua lớn, nhiều hộ kinh doanh nhỏ lẻ ở Cà Mau và Bạc Liêu cũng là nạn nhân của bọn thương lái Tàu. Người bị quịt nợ ít nhất 15 triệu đồng, nhiều nhất trên 1,6 tỷ đồng.
Chiều ngày 11/7/2013, ông Đặng Đình Hiếu, phó Chủ tịch UBND Tp. Phan Thiết (Bình Thuận), cho Phóng viên Thanh Niên biết, tổng số tiền mà thương lái Tàu còn nợ khi mua cá cơm của dân thành phố hơn 33 tỷ đồng. Thương lái Tàu từng quịt nợ của các hộ kinh doanh cá cơm với số tiền lên đến 7 tỷ đồng, trong đó hộ ông Nguyễn Thanh Toàn (P. Phú Hải) bị giật nợ 1.2 tỷ đồng khiến ông phải phá sản.
[8] THỦ ĐOẠN ĐẨY GIÁ CAO ĐỂ VƠ VÉT THỦY SẢN:
Đang ở chính vụ thu mua hải sản nhưng hàng trăm doanh nghiệp chế biến hải sản ở Miền Trung rơi vào cảnh khó khăn, khi hầu hết nguồn nguyên liệu đã và đang bị thương lái Tàu thu mua với giá cao ngất ngưởng. Năm nay, nhờ trời yên biển lặng nên chỉ 10 ngày sau Tết, hàng trăm tàu cá của ngư dân miền Trung tấp nập cập bến Thọ Sang (Sơn Trà, Đà Nẵng) với những khoang tàu đầy ấp cá tôm. Nhưng, chỉ trong khoảng nửa ngày cập bến, hàng tấn hải sản đã được thương lái Tàu mua hết với giá cao hơn 3, 4 lần so với giá thị trường.
Theo tiết lộ của nhiều chủ tàu đánh bắt cá xa bờ, chỉ số ít thương lái Tàu ra mặt mua hàng, còn đại đa số họ đều núp sau các đầu nậu là người VN để thu gom. Chiêu nầy các thương lái Tàu thường sử dụng là “BƠM TIỀN” cho các đầu nậu, để cho ngư dân vay tiền để mua ngư cụ cần thiết để chuẩn bị đi biển. Vì vậy, khi đánh bắt trở về bến, các ngư dân nầy phải bán cá cho các đầu nậu để trừ nợ và các đầu nậu sẽ chuyển hàng cho các ông chủ thương lái Tàu. Điều nầy đã khiến doanh nghiệp trong nước khan hiếm nguyên liệu ngay trên sân nhà…
[9] THƯƠNG LÁI TÀU XỊT “THUỐC LẠ” VÀO KHÓM CỦA NÔNG DÂN VIỆT:
Gia đình chị Nguyễn thị Thủy, huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang, có khoảng 13 ha trồng dứa, cuối tháng 3/2013, chị được một thương lái Tàu đến tìm mua với giá cao hơn thị trường từ 300-400 đồng/ kg. Tuy nhiên trước khi thu hoạch 10 ngày, các thương lái này đã mang một loại thuốc lạ để xịt lên những trái dứa còn xanh để trái to và đẹp mắt. Chị Thủy cho biết, vì đã ký hợp đồng bán cho thương lái Tàu, nên chị không thể làm gì khác được. Chị nói: “Tâm lý người dân luôn thích được bán với giá cao, sau đó bọn thướng lái Tàu đem thuốc xịt trực tiếp lên trái dứa rồi nói bảo đảm sẽ mua, chứ không biết chất lượng thế nào. Khi xịt thuốc lên rồi mới biết trái dứa bị hỏng bên trong.”
Ngay sau khi có thông tin hộ chị Thủy bán dứa cho thương lái Tàu và chuẩn bị xịt thuốc, công an huyện Tân Phước đã kịp thời bắt ngay tại vườn cùng 11 thùng thuốc chưa dùng với đủ loại từ dạng bột, nước. Nếu hành động nầy, không ngăn chận kịp thời sẽ gây ra những hậu quả khó lường. Vườn dứa Tân Phước sau khi thương lái Tàu bỏ đi, giá rẻ mạt, dứa chất đầy đồng cho cũng không ai lấy.
[10] THƯƠNG LÁI TQ THUÊ NGƯỜI TẨM HÓA CHẤT VÀO SẦU RIÊNG:
Công an Tiền Giang phối hợp với CA huyện Cai Lậy đã ập vào kiểm tra hành chánh 2 cơ sở trái cây là Cty Thái Lan và Cơ sở Sang Hương. Tại đây, công an đã bắt 8 người Thái Lan tẩm hóa chất sầu riêng trái phép. Theo lời khai, những người Thái được ông chủ bên TC thuê, sang VN thu mua những trái sầu riêng để xuất cảng sang Indonesia? Riêng công đoạn nhúng sầu riêng vào hóa chất thì họ thuê người dân địa phương làm. Các loại hóa chất đều được thương lái mang từ TC sang. Mỗi thùng hóa chất trên 40 lít, có thể nhúng được 700 trái sầu riêng lớn, nhỏ. Mỗi ngày, cơ sở nầy sử dụng khoảng 10 thùng thuốc do người Thái Lan pha chế.
Cơ quan chức năng cũng niêm phong, thu giữ 2 mẫu thuốc có chất lỏng đặc màu trắng tại cơ sở thu mua trái cây Sang Hương. Tất cả loại thuốc nầy đều không có nhãn mác và được những người Thái Lan hoặc thương lái Tàu mang từ TC qua.
II. NGƯỜI TÀU THUÊ ĐẤT TRỒNG LÚA LẠ Ở LONG AN:
Người dân ấp 1 (xã Hòa Phú, huyện Châu thành, Long An) quen với hình ảnh một người đàn ông Tàu được biết là CHUYÊN GIA NÔNG NGHIỆP. Người nầy, vài ngày lại xuất hiện, xắn quần lội xuống đám lúa lạ thuê trồng trên thửa ruộng của ông Nguyễn Văn Bền. Nhưng, vài ngày gần đây, khi LÚA ĐÃ TRỔ BÔNG, sự việc mới được cơ quan chính quyền các cấp quan tâm đến.
Họ tự gọi với nhiều cái tên khác nhau như: Lúa so le, lúa TQ hay lúa cha, lúa mẹ, chỉ biết nó xuất xứ từ TC. Theo ông Bền kể lại, ông có quen cô VÂN (công tác tại trạm Bảo Vệ Thực Vật, tỉnh Long An). Sau vụ lúa, cô Vân có hỏi ông: “Nếu bây giờ có người mướn đất, ông có cho mướn không?” Ông bền đồng ý.
Một tuần sau, có một vài người từ Tp. Sài Gòn xuống làm hợp đồng thuê đất. Họ chồng tiền thuê đất cho ông Bền một lần là 30 triệu/ ha cho một vụ. Đồng thời, đám người nầy cũng ký hợp đồng thuê luôn đất ruộng của bà Nguyễn Thị Thật, kế ruộng của ông Bền, với diện tích 0,4 ha để trồng lúa. Ông Trần Minh Nhu làm đại diện cho người Tàu tên Liu Wen Jiang thuê đất kể từ 16/12/2012 – 16/4/2013 và tiến hành xuống lúa giống lạ ngay sau khi ký hợp đồng.
Trong quá trình trồng lúa, cứ khoảng một tuần, ông Nhu lại ghé qua ruộng lúa một lần và thuê mua thuốc trừ sâu và thuê nhân công. Thỉnh thoảng, tên Tàu cũng đi xe ôm ghé nhà ông Bền rồi lội xuống ruộng, xem xét quá trình phát triển đám lúa. Tên nầy chỉ cho ông Bền kỷ thuật thụ phấn. Sau khi thụ phấn thì cắt bỏ hàng lúa cha, chỉ để lại lúa mẹ. Khi ruộng lúa được báo chí quan tâm, nhiều cơ quan chức năng tìm tới thì tên Tàu nầy lánh mặt, không còn xuất hiện nữa.
Theo ông B, người dân địa phương cho biết: “Từ đầu vụ tới giờ, những người lạ đó phải chi ra đến HÀNG TRĂM TRIỆU ĐỒNG cho ruộng lúa nầy. Bởi 2 tháng nay, hầu như ngày nào cũng thấy họ phun xịt thuốc trên đồng. Khi lúa trổ bông, họ ngưng phun thuốc thì họ thuê nhân công nhổ lúa cha từ ruộng ông Bền, đem sang ruộng lúa mẹ của bà Thật để thụ phấn. Từ giờ đến khi thu hoạch, không biết họ còn làm những gì với đám lúa lạ lùng nầy nữa? Trong khi đó, tên Liu Wen Jiang đã hát bài chuồn.”
III. CHUYỆN GÌ KHUẤT LẤP KHI BỘ CÔNG THƯƠNG THUÊ TRUNG CỘNG GIÚP NÔNG DÂN VIỆT NAM?
Bộ Công Thương dự định dành kinh phí thuê nhà tư vấn bên TQ nghiên cứu, đưa ra tư vấn phương hướng thâm nhập thị trường nầy. Trước biện pháp nầy của Bộ Công Thương đang tính đến, để giải quyết vấn đề tiêu thụ nông sản gặp khó khăn là sẽ dành kinh phí xúc tiến thương mại quốc gia để thuê các nhà tư vấn tại TC nghiên cứu, nhằm đưa ra cho VN những tư vấn phương hướng thâm nhập thị trường nầy.
Tuy nhiên, TS Lê Đăng Doanh cũng chỉ ra, đây chỉ là biện pháp trước mắt, về lâu về dài tác dụng sẽ không có nhiều. “TQ chỉ là một thị trường trong khi các thị trường khác cũng chưa ký được hợp đồng. Thêm nữa, cũng chưa biết rõ nhu cầu của TQ và quan hệ thương mại TQ đối với chúng ta trong tương lai sẽ như thế nào,” ông đề xuất. “Bộ Công Thương nên triển khai các biện pháp đồng bộ hơn, đặc biệt nên tạo ra mối liên kết giữa sản xuất nông nghiệp với các cơ quan tiêu thụ, các doanh nghiệp để có thể tiêu thụ hàng hóa một cách dễ dàng.” .
Trước sự lo ngại về việc từ trước tới nay, bọn thương lái Tàu vào Việt Nam thu mua nhiều loại nông sản lạ với mục đích không rõ ràng, nếu việc thuê chuyên gia TQ được thực hiện thì việc lo lắng TQ sẽ nắm đằng chuôi việc sản xuất, tiêu thụ nông sản của VN có cơ sở hay không? TS Lê Đăng Doanh nói: “Việc thương lái TQ sang VN mua nông sản như lá khoai, rễ cây, móng bò đã được cảnh giác, tôi không nghĩ Bộ Công Thương sẽ ký kết với các loại thương lái như thế.”
GS Võ Tòng Xuân, chuyên gia về nông nghiệp đã đặt ngay câu hỏi: “Tại sao nhờ chuyên gia TQ sang VN làm gì? Đâu bí đến mức phải thuê nhà tư vấn TQ nghiên cứu thị trường để đưa ra tư vấn cho Việt Nam?” . Theo GS Võ Tòng Xuân, vấn đề là Bộ Công Thương phải có những người sành sỏi về thương trường TQ, qua đó để biết nhu cầu của họ như thế nào. Ví dụ như dưa hấu phải có ước tính, TQ cần bao nhiêu ngàn tấn dưa hấu, mỗi thời điểm như thế nào, rồi về nước mới tổ chức sản xuất; thay vì, không tổ chức mà cứ đâm đầu làm.”
“Đưa chuyên gia TQ về đây làm gì?”  Bộ Công Thương tính toán như thế nầy, VN nghèo là đúng rồi. Bộ Công Thương có bộ phận xúc tiến thương mại phải đi khắp nơi trên thế giới để tìm kiếm thị trường cho mỗi nông sản của VN, rồi mới báo lại cho hệ thống sản xuất, nắm được thông tin để sản xuất. Mời chuyên gia nước ngoài đến không ăn thua gì. Họ tới, họ cũng nói như mình, phải qua tận nơi để nắm bắt thị trường, GS Võ Tòng Xuân lấy dẫn chứng. “Các nước láng giềng như Lào, Campuchia, Myanmar…luôn luôn tìm thị trường rồi mới cho các công ty tổ chức sản xuất; thay vì thụ động như VN và cũng không có chuyện thuê chuyên gia nước nào để làm việc tư vấn cho họ, đặc biệt là người Trung Quốc.” Ông cũng bày tỏ lo ngại rằng, việc mời chuyên gia tư vấn của TQ đến VN một mặt sẽ tốn thêm kinh phí, mặt khác nếu đối tác có mục tiêu không trong sáng thì sẽ gây tai hại nhiều hơn.
IV. AI TIẾP TAY CHO LÚA GIỐNG TQ TRÀN VÀO VIỆT NAM:
Xin kể câu chuyện xưa thời “Đông Chu Liệt Quốc” để Đảng và Nhà nước CSVN suy gẫm:
“Để bày mưu đánh chiếm nước NGÔ. Vua nước Việt là Câu Tiễn cho mưu thần là Phạm Lãi sang nước Ngô mượn thóc giống. Kế “mượn thóc giống” là nhắm lấy bớt lương thảo của nước Ngô. Đương nhiên, năm sau phải trả lại thóc giống cho nước Ngô. Trước khi đem trả, Phạm Lãi chọn loại thóc tốt nhất rồi đem luộc chín toàn bộ. Vua Ngô là Phù Sai khen vua nước Việt là Câu Tiễn giữ đúng lời hứa và đem số thóc giống vào kho cất giữ, chờ đến thời vụ cho dân chúng mang ra gieo cấy. Thóc giống đã luộc rồi làm sao nẩy mầm được? Năm đó, nước Ngô Mất mùa, binh lính không có gạo ăn, lòng quân bấn loạn. Vua Câu Tiễn chớp thời cơ, cất quân chinh phạt nước Ngô và chiến thắng dễ dàng.”
Đây là một bài học để Đảng và Nhà nước VNCS phải luôn cảnh giác, đề phòng âm mưu xảo quyệt và bẩn thỉu của bọn lãnh đạo Bắc Kinh. Phải khẩn trương tìm cách ngăn chận LÚA GIỐNG của Trung Cộng tràn vào Việt Nam. Mặc dù VN là một trong những quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới nhưng giống lúa, phân bón, thuốc trừ sâu lại nhập cảng 50 – 70% từ Trung Cộng. Theo nhận định của GS Võ Tòng Xuân:
[1] Nông dân VN hiện vẫn tự do sản xuất, không có người chỉ đạo, muốn cấy giống gì thì cấy, bón phân loại nào thì bón. Thấy sản phẩm nào được thương lái Tàu mua nhiều, họ sẽ ồ ạt trồng theo kiểu của họ. Bón phân cũng sai, mật độ trồng sai dẫn đến sâu bệnh, sau đó phải mua thuốc để phun. Nguyên nhân sâu xa do nhà nước đã bỏ mặc, không quan tâm tới nông dân, dù có khuyến nông, nhưng nông dân lại không mặn mà tin tưởng vì chưa đủ trình độ để quản lý, tham gia tư vấn.
[2] Giống lúa VN do các viện làm ra, nhưng quảng cáo không mạnh bằng những công ty nhập lúa giống của TQ. Ngoài ra, giống lúa TQ cũng nhận được sự hỗ trợ của chính quyền VN, khuyến khích dân mua giống đó.
[3] Đại học Nông Nghiệp Hà Nội, Trung tâm Nghiên cứu lúa giống làm được, nhưng năng xuất hạt giống của mình không thể địch nổi với giống TQ. Một lý do quan trọng hơn, là nhiều QUAN CHỨC CHÍNH PHỦ lại đứng đằng sau lưng những công ty nhập khẩu lúa giống TQ để kiếm lợi ích cá nhân, khuyến cáo nông dân nên trồng lúa TQ, không nên trồng giống lúa Việt Nam.
[4] Mới đây, Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn đã thông qua đề án phát triển sản phẩm quốc gia cho mặt hàng gạo. Mục tiêu là chọn ra 5 – 7 giống lúa thơm, ngắn ngày, có chất lượng cao, hướng đến xuất khẩu với giá 600 – 800 USD/ tấn để có thể cạnh tranh với gạo chất lượng cao của Thái Lan vào năm 2020. Theo ông, tính khả thi của đề án nầy hầu như không có, vì không có sự tổ chức đồng bộ. Việc phát triển ngành lúa gạo còn rời rạc từng ban ngành, mạnh ai nấy lo, trong khi người nông dân cần nguyên một chuỗi giá trị như hạt giống, kỹ thuật, chế biến, tiêu thụ với mức giá tốt.
Theo ý kiến của tôi (tác giả), nếu cứ để nông dân tự phát, tiếp tục trồng lúa giống nhập từ Trung Cộng, không có sự quan tâm hướng dẫn của chính quyền. Tôi e rằng, bài học “LUỘC CHÍN THÓC GIỐNG” mưu thần, chước quỷ của Phạm Lãi, có thể một ngày nào đó, sẽ tái diễn trên đất nước Việt Nam của chúng ta? Phòng bệnh vẫn hơn chữa bệnh, khi biết thì quá muộn!

NGUYỄN VĨNH LONG HỒ