Wednesday, October 22, 2014

ĐIẾU CÀY TỰ DO: Thông điệp Điếu Cày nhắn gửi sau khi đến bờ Tự Do



Danlambao - Không lâu sau khi đặt chân đến Hoa Kỳ, dù vẫn còn rất mệt mỏi sau chuyến đi đường đột kéo dài nhưng blogger Điếu Cày - Nguyễn Văn Hải đã dành cho Danlambao một cuộc trao đổi ngắn.

Điếu Cày cho biết, sau hơn 6 năm 6 tháng tù đày, anh hiện gặp phải nhiều khó khăn trong việc sử dụng máy vi tính và internet. Dù vậy, một trong những trang mạng đầu tiên anh được giúp truy cập đó là Danlambao. 

Điếu Cày tỏ ra rất vui trước sự phát triển mạnh mẽ của phong trào viết blog, mạng xã hội và truyền thông độc lập trong thời gian anh vắng mặt. 

Trong cuộc nói chuyện, Điếu Cày muốn nhắn gửi một số thông điệp chuyển đến tất cả mọi người. Dưới đây là nội dung lời nhắn được Danlambao ghi lại:
*

Sự có mặt của tôi trên đất nước tự do này là minh chứng cho chiến thắng của các giá trị tự do dân chủ. Chiến thắng này là do nỗ lực không mệt mỏi của cộng đồng người Việt chúng ta ở trong nước cũng như ngoài nước, và cộng đồng quốc tế.

Trong 6 năm rưỡi qua, tôi đã bị giam ở 11 nhà tù khác nhau.  Nay có tự do, tôi kiên quyết sẽ tiếp tục đấu tranh ở một góc độ mới. Trước mắt, tôi sẽ tập trung đấu tranh dựa trên sự ủy thác của các bạn tù.

Việc tôi ra đi cũng để đấu tranh cho ngày trở về, đây không phải là cuộc đấu tranh cho riêng cá nhân tôi mà còn cho tất cả chúng ta. Vì sao? Vì lẽ tôi không phải tự ý muốn ra đi, mà là do tôi bị trục xuất.

Trước khi dứt lời, tôi muốn gửi lời cảm ơn đến những anh em, bạn bè, cộng đồng bloggers và tất cả những người đã luôn ủng hộ, giúp đỡ trong thời gian tôi ngồi tù.  

Và đặc biệt, tôi muốn cảm ơn  những người bạn thân thương như: anh Châu, ĐA, LCĐ, P.An... và nhiều người nữa mà những ngày tháng trong tù, tôi đã không tiện nêu đích danh để con trai tôi chuyển lời thăm của tôi vì lúc nào công an cũng theo dõi sát sao.

Qua đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn quý đồng hương đã dành cho tôi sự đón tiếp nồng hậu khi vừa đặt chân đến Hoa Kỳ.

Do sức khỏe vẫn còn yếu sau quãng thời gian di chuyển dài, xin được hẹn lại tất cả mọi người vào một dịp khác khi sức khỏe tốt hơn. 
danlambaovn.blogspot.com

Một số video và hình ảnh Điếu Cày trong vòng tay chào đón của cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ:
Điếu Cày bất thình lình xuất hiện sau lưng đồng bào, theo sau 
là niềm vui vỡ òa của tất cả mọi người (Video: Ly Tri Anh)






VIỆT NAM CỘNG HOÀ và HẬU DUỆ! - Vo Thilinh




HÀO KHÍ TUỔI TRẺ:

Như ngọn đuốc thiêng, bừng lên trong đêm vắng
Như một niềm tin sáng ngời trong tuyệt vọng
Tuổi trẻ hôm nay theo ánh dương tìm về
cùng chung sức - xây dựng lại giang san hoa gấm Việt Nam

Không hề ngại gian nan - Vững bước đi lên, ta đoàn quân kiến quốc
Tuổi trẻ Việt Nam tung hào khí ngất trời
Theo gót cha anh, hiến thân này cho nước
Máu tiền nhân tuôn chảy đã ngàn đời

Ta tay trong tay, trí tuệ tràn đầy
Mang lại tự do đem phúc lợi toàn dân
Anh hùng tử nhưng khí hùng bất tử
Hậu duệ hôm nay quyết theo bước tiền nhân

Tuổi trẻ lòng trung quyết giữ từng tấc đất
Chống xâm lăng đập nát mọi xiềng gông
“Mang trí nhân mà thay cường bạo
Lấy đại nghĩa để thắng hung tàn”

Lời vàng năm xưa, hành trang tiến bước
Bảo vệ giang san, không gian và biển cả
Lưu sử đời sau, sáng danh hậu duệ
(thơ Xuân Vinh)


NƯỚC VIỆT NAM CỘNG HOÀ KHÁI QUÁT:
http://qlvnch.caliphonho.net/web/
http://www.vietnamconghoa.com/
http://motgoctroi.com/StLichsu/LSCandai/VNCH/VNCongHoa.htm
Là một quốc gia có lảnh thổ từ vỉ tuyến 17 cho tới mủi Cà Mau, với 3 vị Tổng Thống dân cử. Ngô Đình Diệm từ 26.10.1955-1.11.1963 http://motgoctroi.com/StLichsu/LSCandai/NgoDinhDiem/TTNDDiem.htm, Nguyễn Văn Thiệu 4.9.1967-20.4.1975 http://ttnguyenvanthieu.blogspot.de/, Trần Văn Hương 21.4.1975-28.4.1975.http://maithanhtruyet.blogspot.de/2012/01/cu-tran-van-huong.html

Chính phủ Việt Nam Cộng Hoà, đại diện là Tổng Thống, Thủ Tướng và các Bộ Truởng. Việt Nam Cộng Hòa có Híến Pháp riêng do Quốc Hội soạn thảo ra, lấy quốc kỳ là lá Cờ Vàng với Ba Sọc Đỏ và Quốc ca là bài "Tiếng Gọi Thanh Niên" của Lưu Hữu Phước (của thời toàn dân kháng Pháp).

Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, gồm có Bộ Tổng Tham Mưu và các Quân Binh Chủng.

Dân chúng Việt Nam Cộng Hoà, bao gồm dân chúng sống trong lãnh thổ Việt Nam Cộng Hoà. Người dân Việt Nam Cộng Hoà có một nền văn hoá riêng từ ngàn xưa để lại, bao gồm Tiếng Nói, chữ viết và các phong tục tập quán, đó là văn hoá VNCH. Nước VNCH tính đến ngày 30.4.1975, đã đặt quan hệ ngoại giao chính thức với 87 nước trên thế giới và 6 nước bán chính thức. Không đặt ngoại giao với những nước nào công nhận Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam http://vi.wikipedia.org/wiki/Mặt_trận_Dân_tộc_Giải_phóng_miền_Nam_Việt_Nam.

Nước Việt Nam Cộng hòa là thành viên trong một số tổ chức quốc tế như Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á (SEATO), Ủy ban Kinh tế của Liên hiệp quốc về Á châu và Viễn Đông ECAFE, Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực FAO (1950); Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế IAEA (1957); Tổ chức Hàng không Dân sự Quốc tế ICAO (1954); Hiệp hội Phát triển Quốc tế IDA; Tổ chức Lao động Quốc tế ILO (1950); Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF (1956); Liên hiệp Viễn thông Quốc tế ITU (1951); Tổ chức Giáo dục, Khoa học, và Văn hóa Liên hiệp quốc UNESCO (1951); Quỹ Thiếu nhi Liên hiệp quốc UNICEF, Liên hiệp Bưu chính Quốc tế UPU (1951); Tổ chức Y tế Quốc tế WHO (1950); Tổ chức Khí tượng Thế giới WMO (1955), Ngân hàng Thế giới (1956), và Ngân hàng Phát triển châu Á (1966).
http://qlvnch.caliphonho.net/web/

Nước VNCH là một nước DÂN CHỦ TỰ DO ( ĐA ĐẢNG), PHÁP TRỊ với TAM QUYỀN PHÂN LẬP VỚI HAI BẢN HIẾN PHÁP RẤT NHÂN BẢN và DÂN CHỦ. http://www.buinhuhung.com/TT_ND_Diem/Hien_Phap_VNCH_1956.htm
http://motgoctroi.com/StLichsu/LSCandai/VNCH/HienPhap1967.htm

1.Lập pháp:
Quyền lập pháp thuộc về Quốc hội với Hạ nghị viện (159 thành viên được gọi là dân biểu với nhiệm kỳ 4 năm) và Thượng nghị viện (60 thành viên được gọi là nghị sĩ, nhiệm kỳ 6 năm). Thượng viện được bầu theo liên danh.
Hạ viện thì chọn theo số phiếu từng địa phương căn cứ trên dân số.

2.Hành Pháp:
Tổng thống, Phó Tổng thống, Chính quyền Trung ương đứng đầu là một Thủ Tướng. Thủ tướng do Tổng thống bổ nhiệm.
Chính quyền Trung ương được tổ chức thành 19 Bộ; đứng đầu mỗi bộ là tổng trưởng.

3.Tư Pháp:
Luật pháp Việt Nam Cộng hòa được xây dựng căn cứ theo Bộ Hoàng Việt Hộ luật (1936-39) do triều đình Huế ban hành ở Trung Kỳ cùng Bộ Dân luật (1883) áp dụng ở Nam Kỳ. Hình luật thì có Bộ Hoàng Việt Hình luật (1933), Tố tụng tu chính của Trung Kỳ (1935) và Hình luật Nam Kỳ Canh cải (1912). Di sản luật pháp từ thời Pháp thuộc dần được thống nhất thành một bộ luật cho toàn quốc năm 1972 với tên Bộ Hình luật Việt Nam ban hành ngày 20 Tháng Chạp năm 1972.

Cơ quan Tư pháp Trung ương
Tối cao Pháp viện Việt Nam Cộng Hòa gồm 9 thẩm phán, sau tăng thành 15 thẩm phán do Quốc hội tuyển chọn và Tổng thống bổ nhiệm. Nhiệm kỳ của thẩm phán Tối cao Pháp viện là 6 năm.
Cơ quan Tư pháp địa phương

Ở địa phương, có các toà án thường (gồm các toà Thượng thẩm, toà Đại hình, toà Sơ thẩm, tòa Hòa giải, toà Vi cảnh) và các toà án đặc biệt (gồm các toà Hành chính, toà Lao động, toà án Điền địa, toà án Thiếu nhi (thành lập năm 1958), toà án Cấp dưỡng, toà án Sắc tộc, toà án Quân sự đặc biệt - trong đó có các toà án Quân sự tại mặt trận.

Cấp thấp nhất là Tòa Vi cảnh, ở nông thôn có khi do quận trưởng chủ tọa. Cao hơn thì có hệ thống Tòa Sơ thẩm có một chánh thẩm và ba phụ thẩm. Tòa Thượng thẩm thời Đệ nhất Cộng hòa có hai sở, một ở Sài Gòn, một ở Huế. Mỗi phiên tòa này có ba thẩm án ngồi xử án.

Các đơn vị hành chính cấp tỉnh:
Cho đến năm 1975, Việt Nam Cộng hòa có 44 tỉnh và Đô thành Sài Gòn.

Các đơn vị hành chính dưới cấp tỉnh:
Bốn mươi bốn tỉnh của Việt Nam Cộng hòa được chia thành 241 quận sau tăng lên 247 quận. Quận trưởng do tỉnh trưởng đề cử và thủ tướng bổ nhiệm.

Dưới quận là xã và thôn. Toàn quốc có 2.589 xã.Tính đến năm 1974 thì chính phủ kiểm soát 2.159 xã. Ngoài Đô thành Sài Gòn ra còn có 10 thị xã tự trị trong đó có Huế, Đà Nẵng, Qui Nhơn, Nha Trang, Cam Ranh, Đà Lạt, Vũng Tàu, Mỹ Tho, Cần Thơ và Rạch Giá. Dưới xã là thôn ấp, tổng cộng có hơn 15.000 đơn vị.

Các quân khu:
Về mặt quân sự, năm 1961 thành lập các vùng chiến thuật, đến tháng 7, 1970 đổi tên là Quân khu. Lúc đầu có 3 vùng chiến thuật được đánh số 1, 2, 3, đến năm 1964 lập thêm vùng chiến thuật 4. Mỗi vùng chiến thuật do 1 quân đoàn phụ trách. Dưới vùng chiến thuật là các khu chiến thuật do 1 sư đoàn phụ trách. Bộ tư lệnh quân đoàn đồng thời là Bộ tư lệnh vùng chiến thuật (trừ quân đoàn 2), còn Bộ tư lệnh sư đoàn đồng thời là Bộ tư lệnh khu chiến thuật.

Quân lực:
Quân lực Việt Nam Cộng Hòa là lực lượng quân đội của chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Thành lập từ năm 1955 với nòng cốt là lực lượng quân đội Quốc gia Việt Nam. Ngày truyền thống (còn gọi là ngày Quân lực) là ngày 19 tháng 6.

Kinh tế:
Nền kinh tế Việt Nam Cộng Hòa là một nền kinh tế thị trường, đang phát triển, và mở cửa. Mức độ tự do của nền kinh tế khá cao trong những năm 1963 đến 1973. Tuy nhiên, phát triển kinh tế vẫn được triển khai dựa trên các kế hoạch kinh tế 5 năm hoặc kế hoạch bốn năm. Nền kinh tế ổn định trong giai đoạn 1955-1960, sau đó do tác động của chiến tranh leo thang đã trở nên mất ổn định.

Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa:
http://www.nguyenthaihocfoundation.org/Khoahoc/gd_VNCH.htm

Trước năm 1954, ở miền Nam có một chi nhánh của Viện Đại học Hà Nội (tiếng Pháp: Université de Hà Nội) đặt tại Sài Gòn. Sau Hiệp định Genève 1954 chia đôi đất nước, chi nhánh này cùng với một bộ phận của Viện Đại học Hà Nội chuyển từ miến Bắc vào trở thành Viện Đại học Quốc gia Việt Nam. Vào năm 1957, Viện Đại học Quốc gia Việt Nam trở thành Viện Đại học Sài Gòn theo sau việc thành lập Viện Đại học Huế. Đến năm 1973, Viện Đại học Sài Gòn đã đứng vào hàng quốc tế. Sau này các bác sĩ Việt Nam di tản sang Mỹ, chỉ cần một hai năm đào tạo lại và học thêm tiếng Anh là hành nghề được ngay.

Ngoài Viện Đại học Sài Gòn, Việt Nam Cộng hòa còn có các viện đại học khác như Viện Đại học Huế, Viện Đại học Đà Lạt, Viện Đại học Cần Thơ, Viện Đại học Vạn Hạnh, Viện Đại học Minh Đức, Viện Đại học Hòa Hảo, Viện Đại học Cao Đài, v.v... Năm 1973, tổng số sinh viên đại học lên tới 98.832 người so với chỉ 2.900 người vào năm 1955. Số học sinh trung học trong cùng năm ấy là trên một triệu so với 43.000; và học sinh tiểu học, trên ba triệu so với 401.000. Ngoài ra còn các trường đại học cộng đồng (trường đại học hệ hai năm), trường huấn nghiệp và các chương trình công nghệ. Các trường đại học cộng đồng được thiết lập từ năm 1970 trở đi, đặt cơ sở ở Định Tường, Nha Trang, Sài Gòn, Đà Nẵng, Vĩnh Long...

Triết lý giáo dục của Việt Nam Cộng Hòa là: NHÂN BẢN, DÂN TỘC và KHAI PHÓNG.

Giao thông đường hàng không

Ngoài những phi trường lớn như Tân Sơn Nhất, Cam Ranh, Đà Nẵng, Nha Trang, Cần Thơ và Biên Hòa có thể tiếp nhận phản lực đủ loại còn có những phi trường nhỏ ở Đà Lạt, Huế, Kontum, Phú Quốc. Pleiku, Rạch Giá, và Qui Nhơn. Cộng thêm vào là khoảng 100 sân bay nhỏ, rải rác khắp nơi, rất tiện cho việc liên lạc giữa các địa phương.

Đường sắt

Đường sắt Xuyên Đông Dương đã làm xong từ năm 1936 nhưng đến thập niên 1950 thì đoạn đường phía nam vĩ tuyến 17, khoảng 1/3 đã bị hư hại vì chiến tranh, không sử dụng được. Còn lại là hai khúc từ Đông Hà vào Đà Nẵng và từ Sài Gòn ra Ninh Hòa. Việc tái thiết kéo dài bốn năm cho đến năm 1959 thì xe lửa mới chạy được suốt từ Sài Gòn ra Đông Hà, lần đầu tiên sau 12 năm gián đoạn. Năng suất đường sắt lúc đầu có nhiều triển vọng nhưng sang thập niên 1960 thì tình hình an ninh là một cản trở lớn. Tính đến năm 1971-1972 thì Việt Nam Cộng hòa có 1.240 km đường sắt nhưng chỉ có 57% sử dụng được.

Giao thông đường hàng không

Ngoài những phi trường lớn như Tân Sơn Nhất, Cam Ranh, Đà Nẵng, Nha Trang, Cần Thơ và Biên Hòa có thể tiếp nhận phản lực đủ loại còn có những phi trường nhỏ ở Đà Lạt, Huế, Kontum, Phú Quốc. Pleiku, Rạch Giá, và Qui Nhơn. Cộng thêm vào là khoảng 100 sân bay nhỏ, rải rác khắp nơi, rất tiện cho việc liên lạc giữa các địa phương.

Hệ thống viễn thông và thông tin

Tính đến năm 1970 Miền Nam có 20.000 điện thoại đăng ký.

Hệ thống phát thanh quốc gia Việt Nam, tức Radio mang tên Vô tuyến Việt Nam (VTVN) vào giữa thập niên 1960 bao gồm đài trung ương ở Sài Gòn và tám đài khu vực phát sóng từ Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Quy Nhơn, Ban Mê Thuột, Nha Trang, Đà Lạt, và Cần Thơ. Ngoài ra có những đài địa phương ở những tỉnh Quảng Nam, Phú Yên, Long An, Kiến Tường, và Định Tường.Đến năm 1972 thì có tổng cộng 49 đài phát thanh và 5 đài truyền hình đặt ở Sài Gòn, Huế, Quy Nhơn, Nha Trang và Cần Thơ.

Truyền hình thì bắt đầu ngày 7 Tháng hai 1966, lúc đầu chỉ phát hình một giờ mỗi ngày. Sau vào đầu thập niên 1970 thời lượng phát hình của Đài Truyền hình Việt Nam là sáu giờ mỗi ngày vào buổi chiều. 80% dân chúng ở Miền Nam có thể bắt sóng xem được.
Nhật báo trong nước có 48 tờ nhật báo phát hành, đại đa số bằng tiếng Việt nhưng cũng có nhật báo bằng tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Hoa, và tiếng Miên. Tính trung bình cho mỗi 1.000 người thì có 51 ấn bản báo chí.

Điện lực :
Công suất điện lực tăng từ 117 MW (1968) lên 278 MW vào năm 1971. Phần lớn là nhiệt điện, chỉ có duy nhất sử dụng năng lượng nước là Đa Nhim. http://mytour.vn/vn/location/viet-nam/lam-dong/huyen-don-duong/2015-nha-may-thuy-dien-da-nhim.html.

Ngày 30.4.1975, chế độ Việt Nam Cộng Hoà chấm dứt trong sự ngậm ngùi của toàn thể quân cán chính và nhân dân miền nam.

HẬU DUỆ VNCH:


Tuy mất quê hương, nhưng Tổ Quốc Việt Nam Cộng Hoà của chúng ta vẫn còn hiện diện, còn tồn tại ở khắp mọi nơi trên thế giới. Điều quan trọng hơn hết là người dân của Việt Nam Cộng Hoà chúng ta vẫn còn được sống hiên ngang, vẫn còn được hưởng những sự Tự Do, Cộng Bằng và Bác Ái tại những xứ sở mà chúng ta đang sống.

38 năm đã trôi qua . . .

Lớp người tiên phong vượt biên tìm tự do – thế hệ đầu tiên tạo ra Việt Nam Cộng Hoà Hải Ngoại – đã hoặc sắp về hưu. Chính phủ Việt Nam Cộng Hoà Lưu Vong ( đệ Tam) cũng đã có mặt và đang trên đường đấu tranh để giải thể chế độ buôn dân bán nước hiện nay tại quê nhà.

Thế hệ thứ hai đã và đang lần lần thay thế những bậc cha anh để diều khiển guồng máy cộng đồng, tiếp tay với các chính đảng và các tổ chức chính trị......của người Việt tự do.

Thế hệ thứ ba cũng đang được huấn luyện để giúp đỡ và sẵn sàng thay thế bậc đàn anh trong thế hệ thứ hai.

Việc trao trách nhiệm từ thế hệ này qua thế hệ là một quá trình liên tục cho đến khi cờ nhân bản tung khắp lảnh thổ Việt Nam trong tương lai. Muốn được trường tồn, chúng ta phải giữ vững nền Văn Hóa Việt Nam Cộng Hòa.

Với sự ra dời của các Hậu Duệ Việt Nam Cộng Hoà, chúng ta hy vọng các người trè này sẽ được huấn luyện vững vàng để có đủ khả năng gánh vác vai trò của một hậu duệ, như các bậc cha anh đã làm trong mấy thập niên qua tại Hải Ngoại.

VĂN HÓA VIỆT NAM CỘNG HOÀ.

Văn hoá Việt Nam Cộng Hoà bao gồm tiếng nói, chữ viết, văn thơ, nhạc kịch . . . mà người Việt của thời trước 1975 đã dùng, đã sáng tác ra . . . mà quan trọng nhất là Tiếng Nói và Chữ Viết.

Tiếng nói cho biết người nói ngôn ngữ đó là giống dân gì?Là người nước nào?

Chữ viết cho biết người sử dụng nó là người gốc gác ở đâu?

Mặc dù chúng ta có thể nói nhiều thứ tiếng, viết nhiều thứ chữ khác nhau, nhưng trong nhiều trường hợp, tiếng nói và chữ viết chúng ta thường dùng sẽ cho mọi người biết chúng ta là loại người nào? Ờ đâu.

Ngôn ngữ và chữ viết Việt Nam của nến văn hoá Việt Nam Cộng Hoà thể hiện sự tự do, phóng khoáng, rõ ràng, mạch lạc của những người có học thức, bíết suy nghĩ. Trong lời nói có âm thanh nhẹ nhàng, làm cho người nghe cảm thấy dễ nghe, dễ hiểu.Trong chữ viết của tiếng Việt Việt Nam Cộng Hòa có âm điệu và thể hiện sự khác biệt của từng chữ, từng câu văn.

Nếu chúng ta gặp một người Việt Nam nói giọng Nam, chúng ta kết luận người này gốc Nam Việt Nam.

Nếu người này dùng những từ ngữ mà những người Việt Nam trứơc năm 1975 hay dùng, chúng ta kết luận người đó là dân tỵ nạn, đã vượt biên từ những năm 1975 hay trở về sau.

Từ khi bọn Việt cộng tràn vào xâm chiếm Miền Nam, chúng đem theo nền văn hoá Việt cộng riêng của chúng, tuy căn bản vẫn là Việt Nam, nhưng có những lời nói và âm điệu ngắn, nặng nề và cộc lốc, khác hẳn với văn hoá Việt Nam thuần tuý, có lối viết chữ đi ngược lại với cách viết, cách hành văn giáo khoa thường dậy, làm cho người nghe, người đọc không hiểu được tiếng nói của người đang nói, chữ viết của người đang viết.

Dùng văn hoá VNCH để phát hiện những phần tử nằm vùng trong cộng đồng.

Do đó, nếu một người nào đó dù nói tiếng Bắc hay tiếng Nam, nhung dùng toàn những từ ngữ của bọn Việt Cộng, chắc chắn chúng ta sẽ cho rằng, đó là người Việt cộng, hoặc mới từ Việt Nam qua.

LÝ TƯỞNG CỦA HẬU DUỆ VNCH:

Hậu Duệ VNCH vì TỔ QUỐC - DANH DỰ - TRÁCH NHIỆM = Thế hệ 1.5 hoặc Thế hệ 2 và 3..sẽ tiếp nối các công việc còn dang dỡ của các bậc cha anh VNCH, trong lý tưởng phục vụ:

DÂN TỘC ĐỘC LẬP-DÂN QUYỀN TỰ DO-DÂN SINH HẠNH PHÚC.

Chấp nhận mọi hy sinh để cùng với các tổ chức, chính đảng ....của người Việt Tự Do chân chính trong và ngoài nước chung sức giải thể chế độ phi nhân, độc tài, độc đảng hiện nay.
(tham khảo các nguồn tổng họp trên Internet)


Võ Thị Linh, ngày 16.5.2012
— cùng với Nguyen Van Duoc, Sao Linh, Anh Sau Kien Giang32 người khác