Friday, April 17, 2015

CHÂN DUNG NGƯỜI QUỐC GIA

Người Quốc Gia luôn thật lòng yêu nước
Và trung thành cùng lý tưởng tự do
Không binh vực kẻ nói lời phản quốc
Yểm trợ những ai chống cộng, bài Hồ !

Người Quốc Gia không quên ngày quốc nạn
Luôn yêu thương gìn giữ lá Cờ Vàng
Không xấc xược nói những lời xúc phạm
Quân đội, màu Cờ, hùng sử Việt Nam !

Người Quốc Gia luôn nhớ ơn Tổ Quốc
Không trắng đen, không lấp lửng, trở cờ
Dù buông súng, không khinh quân bỉ tướng
Ngậm máu phun người, chụp mũ, quăng dơ

Người Quốc Gia luôn hiền lương, nhân bản
Không gian manh gắp lửa bỏ tay người
Không hiểm độc, không gây thù chuốc oán
Chỉ một lòng dâng tổ quốc mà thôi !

Người Quốc Gia luôn giữ gìn nhân cách
Không hại người, không giáng họa, vu oan
Chẳng vờ quen rồi cùng nhau túm đánh
Khi người ta không làm giống mình làm !

Người Quốc Gia hiếu hòa và nhẫn nhịn
Ngôn ngữ không là tôm cá búa dao
Hành xử công bình, chân phương, thành tín
Trân quí thương yêu tình nghĩa đồng bào

Người Quốc Gia cũng chẳng hề vỗ ngực
Là Quốc Gia nhưng giúp cộng muôn trò
Không làm việc Nguyễn Đình Bin dàn dựng
Phá hoại cộng đồng, lạm dụng tự do !!!

Người Quốc Gia luôn tuân theo lẽ phải
Theo lương tâm, theo đạo nghĩa con người
Không vì lợi danh mà làm sai trái
Vọng ngữ cuồng ngôn, coi nhẹ luật Trời !….

Ngô Minh Hằng
 

(Nguồn: FB)

__________________
"Giữa sỏi đá vút vươn niềm hy vọng
Trong tro tàn dào dạt nhựa hồi sinh
Hận nội thù trên máu ruột Tiên Rồng
Căm giặc cộng BÁN non sông Hồng Lạc"
(YTKCPQ)

"Cộng sản còn thống trị trên quê hương - Ta còn phải đấu tranh"
TỰ CHỦ TRONG LUÂN HỒI

Trong cuộc sống, có lẽ ít người trong chúng ta nghĩ về cái chết của chính mình, bởi vì tuy biết rằng không sớm thì muộn điều đó sẽ phải đến, nhưng hoàn toàn bất minh, không ai có thể đoán được những gì sẽ xẩy ra. Tuy nhiên, có những câu chuyện khiến ta phải suy nghĩ, không chỉ về cái chết mà về cách sống như thế nào để có được sự an lành, trong đời sống hiện tại cũng như mai sau.
Một câu chuyện có thật về sự "chết đi sống lại" của một vị tăng Đại Hàn được đại sư Chongo Sunim kể lại như sau:
Trong thời thiền sư Seong Chol Sunim còn tại thế, ở chùa HaeinSa nơi ngài trụ trì có một vị tăng quyết định rời chùa đi vào khu rừng núi Jiri San ẩn tu, sống cùng cây cỏ hoang dã nơi thiên nhiên.
Chẳng may, ông ăn phải một loại nấm độc nên bị bệnh nặng, ngã xuống đất thần thức hôn mê. Bỗng nhiên ông thấy mình đang ở trong chùa HaeinSa, cách nơi ông đang ở khoảng hơn 100km, và thấy hai vị tăng bạn của ông đang cử hành một nghi lễ giống như tang lễ. Họ dường như không để ý đến sự hiện diện của ông, và ông lấy làm lạ là thay vì đọc kinh cho đúng, vị tăng đang gõ mõ cứ lập đi lập lại "Chek, chek, chek..." (Sách, sách, sách....), còn vị tăng đang thỉnh chuông thì cứ nói "Yeom ju, yeom ju, yeom ju..." (chuỗi tràng, chuỗi tràng, chuỗi tràng....) Trong chớp mắt, ông lại thấy mình đang ở nhà bà mẹ. Ông đứng sát cạnh bà trong khi bà đang chất củi vào trong lửa. Bà không để ý đến ông, nên ông cúi xuống chạm vào vai bà. Bà kêu lên một tiếng thất thanh và đau đớn gập người lại.
Thế rồi, thoáng một cái, nhanh như lúc ông về chùa và về nhà mẹ, ông lại thấy mình trở lại nơi núi rừng. Từ bờ sông phía dưới phảng phất bay lên mùi thịt bò ướp nướng thơm lừng. Một nhóm người trong bộ hanbok mầu trắng (y phục cổ truyền của Đại Hàn) đang xúm xít ở đó, vẫy tay gọi lớn: " Xuống đây chơi với tụi này đi! Có nhiều đồ ăn lắm, tha hồ mà ăn!" Đúng lúc sắp nhập bọn với họ, ông chợt nhớ ra mình là vị tăng và không được ăn thịt.
Trên đường đi lên núi trở lại, ông gặp một ông già đang mang một jigae cổ xưa (một cái cũi có khung hình chữ A) trên lưng. Nhưng thay vì chất củi ở trên, ông ta lại mang một người xuống núi. Ông già để người này xuống dưới đất ; thấy người này có vẻ quen thuộc, vị tăng tiến lại gần để nhìn cho kỹ hơn. Khi nhìn mặt người đó, ông chợt hoảng hốt, thấy đang nhìn vào chính mình! Ông sờ lên mặt, rồi bỗng nhiên giật mình tỉnh dạy, như vừa qua một giấc mộng. Chung quanh vẫn là núi rừng, và ông vẫn nằm dưới đất một mình một bóng, nhưng trong lòng đầy hoang mang với kinh nghiệm lạ kỳ vừa qua.
Trở về chùa, ông đi tìm những vị tăng bạn và kể cho họ nghe những gì đã thấy. Họ nói với ông rằng, sư phụ Seong Chol cho họ biết là ông đã chết trên núi JiriSan, và họ cần phải làm nghi thức cầu siêu cho ông ngay. Ông hỏi tiếp rằng, tại sao họ cứ nói "sách, sách..." và "chuỗi tràng, chuỗi tràng..." thay vì đọc những lời kinh cho đúng. Ngạc nhiên, người thứ nhất thú nhận rằng ông biết vị tăng có một sưu tập sách quý nên lúc đó đang suy nghĩ không biết có lấy được sưu tập đó không. Người thứ hai cũng xấu hổ nhìn nhận, ông đang nghĩ đến chuỗi tràng đẹp của người bạn quá cố và cũng tự hỏi không biết có lấy được chuỗi tràng đó không. Như thế, mặc dù họ đang đọc những lời kinh, nhưng ông không nghe được gì ngoài những tư tưởng của họ. Ông lại đến thăm mẹ và kể cho bà nghe những điều đã trải qua. Bà nhớ lại, lúc ấy bà bỗng có một cảm giác đau nhói nơi vai.
Trở về núi rừng, bên giòng suối nơi ông đã thấy nhóm người tụ tập ăn thịt bò nướng, ông không tìm thấy dấu vết bữa tiệc thịt nướng đó ở đâu cả. Nhưng có điều làm ông cảm thấy rúng động, là bên bờ sông có xác một con quạ đang nằm, khắp mình mẩy đầy giòi bọ lúc nhúc. Ông chợt nhận ra rằng, những người ông đã thấy ở bờ sông thật ra là những con ấu trùng đang kêu gọi ông nhập bọn với chúng để ăn thịt xác con chim chết kia. Ông tự hỏi, nếu không tự nhắc nhở mình là người tu mà đi nhập bọn với chúng, có thể nào ông sẽ tái sinh làm một con ấu trùng không? Nếu thế thì muốn sinh ra làm người trở lại sẽ phải khó khăn đến thế nào? Khi ra khỏi thân xác, ông không còn có các căn như mắt, tai, mũi, lưỡi, hay tay chân... Ông chỉ còn thần thức có thể cảm nhận những việc huyễn ảo xẩy ra chung quanh, và không thể nghe những lời nói, chỉ cảm được tư tưởng của người khác.
Câu chuyện này nhắc nhở đến một câu chuyện khác tôi đã đọc ở đâu đó, về một người tuy không tu hành, nhưng thường hay đọc kinh Kim Cang mỗi ngày. Một ngày nọ ông lâm bệnh trầm trọng, thần trí hôn mê tưởng như đã ở trong ngưỡng cửa của tử thần. Trong lúc tâm thức hoang mang, ông bỗng thấy có một cánh cửa trước mặt, ở đó có bốn cô gái trẻ xinh đẹp đang nô đùa. Họ kêu gọi ông cùng đi vào cánh cửa đó: "Vào đây chơi, vui lắm!" Ông đang dợm bước tính đi vào thì có một người khác đến ngăn cản: "Ông là người đọc kinh Kim Cang, đây không phải chỗ cho ông vào!" Rồi đột nhiên ông tỉnh dạy, như người vừa ra khỏi giấc mộng, trong khi ở chung quanh gia đình đang than khóc, bàn tính chuyện ma chay. Sáng sau, ông được biết, cũng trong đêm ông đã "hồn lìa khỏi xác" đó, con heo nái ở nhà đã cho ra đời bốn con heo con cái và một con đực đã chết khi sanh. Nhìn bốn con heo mới đẻ, ông rùng mình chợt nhận ra rằng, nếu lúc đó bước qua cánh cửa, ông đã là con heo thứ năm.
Qua hai câu chuyện này, ta thấy trong cõi luân hồi lục đạo, tăng và tục đều bình đẳng như nhau nếu lòng tham dục còn tiềm tàng trong tâm. Khi thân đã mất, trong cõi giới của thần thức không có sự phân biệt rõ rệt giữa người và thú, chỉ còn những giao cảm của các tần số rung động. Chỉ một phút buông lung theo sự quyến rũ của ma cảnh là có thể rơi ngay vào cõi giới xấu, không thể quay trở lại được nữa. Trong Huyết Mạch Luận, Tổ Bồ Đề Đạt Ma cũng đã cảnh cáo điều này:
".. Không khác gì những hình ảnh hiện ra trong giấc ngủ về đêm, nào cung điện xe pháo, công viên núi rừng, nào những nhà mát bên hồ v.v.. Đừng bị hấp dẫn bởi những điều đó. Chúng chỉ là cái nôi cho sinh tử luân hồi. Hãy nhớ kỹ điều này để khi lâm chung, đừng mắc vào những hiện tướng thì sẽ được giải thoát. Chỉ cần một phút giây lưỡng lự cũng đủ để cho ma lôi cuốn đi. "
Đó là một tiếng chuông cảnh tỉnh để ngay từ bây giờ, trong bất cứ hoàn cảnh nào, chúng ta phải bắt đầu huân tập một tâm tỉnh giác qua những pháp tu căn bản của đạo Phật, không chỉ trong những lúc ngồi thiền hay niệm Phật, mà trong mọi lúc đi đứng nằm ngồi. "Hồi quan phản chiếu" hay dùng chánh niệm thấy biết tâm trong từng niệm khởi và không trụ trước vào chúng là cách để giúp ta tách rời khỏi những vọng động cảm xúc, đưa tâm xao động trở về tâm bình thường phẳng lặng như mặt nước hồ thu. Sự kiên trì tu tập thành thói quen sẽ tạo một năng lực mới có thể hóa giải dần dần những tập khí xưa cũ, đem lại sự bình an cho tâm hồn.
Dù theo pháp tu nào, căn bản vẫn phải là Giới, Định,Tuệ. Khi xưa, lúc Đức Phật sắp nhập diệt, ngài đã dặn dò tôn giả A Nan rằng: "Khi Như Lai nhập diệt rồi, Giáo Pháp và Giới Luật sẽ là đạo sư để các con nương tựa vào". Các giới căn bản như năm giới của Phật tử và mười giới của hàng xuất gia là bước đầu tiên trong con đường tu đạo. Giữ giới không phải là tuân theo một cách mù quáng những điều cấm kỵ có tính cách giáo điều, mà là sự áp dụng kỷ luật bản thân từ thân, khẩu, ý để tránh tạo những điều gây tác hại cho mình cũng như cho người. Đó cũng có nghĩa là sống thuận theo luật nhân quả. Giới kết hợp hài hòa với Định và Tuệ mới đem lại sự giải thoát đích thực. Người tinh thông đạo pháp đến đâu mà còn gieo nhân tạo nghiệp thì vẫn không ra khỏi phiền não, bị nghiệp lực chi phối nên không còn tự chủ và không được tự do tự tại trong sinh tử.

Những người sau khi có kinh nghiệm cận tử hay "chết đi sống lại" đều có sự biến chuyển lớn trong bản thân, biết trân trọng đời sống hiện tại, phát triển lòng từ bi và chú tâm vào việc bồi dưỡng tâm linh nhiều hơn. Khi đã nhận ra rằng, tất cả những gì trên thế gian này, dù quý giá đến đâu, đều chỉ là mộng ảo, người ta sẽ dễ dàng buông bỏ những ước muốn phù du, biết sống đủ, sống thiểu dục và muốn tận dụng đời sống trước mắt để làm những điều lợi lạc cho mình và cho người. Đó cũng là những bài học quý giá cho chúng ta hâm nóng thêm ý chí nỗ lực trên con đường chuyển hóa thân tâm, để có được năng lực tự chủ, "sống tự tại, chết bình an".

N B
(Nguồn: E-mail)




Bốn Mươi Năm Quốc Hận, Nỗi Đau Còn Đó

Thấm thoát mà đã bốn mươi năm, bốn mươi năm kể từ cái ngày oan khiên nghiệt ngã 30/4/75, ngày đau thương bi hận, ngày toàn thể miền Nam nước Việt, tức nước Việt Nam Cộng Hoà bị xâm lăng và cưỡng chiếm trắng trợn bởi bạo quyền cộng sản miền Bắc.

Cali Today News - 30 tháng 4 năm 75, ngày toàn thể người dân miền Nam ngậm ngùi xót xa để tang cho một quê hương, một tổ quốc thân yêu đã không còn. Miền Nam đã bị mất trong tủi hờn uất nghẹn thương đau, ngập đầy máu và nước mắt. Những ai là người dân của nước VNCH ngày ấy chắc không thể nào quên thảm cảnh kinh hoàng của đồng bào ở các tỉnh thành, nhất là ở các tỉnh miền Trung, khi phải bỏ hết nhà cửa tài sản ruộng nương, bồng bế gồng gánh dắt díu nhau chạy trốn đoàn quân xâm lăng hung hãn từ phương Bắc.

Thảm cảnh 30/4/75: Bao nhiêu người dân Miền Nam đã chết cho vừa một tham vọng điên cuồng?

Khởi sự từ trung tuần tháng 3/75 khi lệnh triệt thoái vùng cao nguyên thuộc quân đoàn II được ban hành, đồng bào hai tỉnh Pleiku và Kontum đã vội vã hòa nhập theo những chiến sĩ quân đội quốc gia rút về miền duyên hải. Cuộc triệt thoái và di tản do gấp rút, thiếu sự chuẩn bị và do áp lực của cộng quân đã là một thất bại to lớn, gây tổn thất nặng nề về sinh mạng, vật chất và tinh thần cho toàn thể quân dân miền Nam. Từ đó, bắt đầu những chuỗi ngày đau thương nghiệt ngã khi các tỉnh, thành, thị xã lần lượt bị thất thủ.

Vô cùng thảm thương cho người dân là với đầu trần chân đất, tay xách nách mang, già trẻ lớn bé bất kể, do quá hiểu và quá sợ cộng sản nên đã hoảng hốt trốn chạy bằng mọi cách, phần lớn là đi bộ, làm sao cho càng tránh xa giặc thù càng tốt. Khối lượng quá đông người đã tạo lên sự tắc nghẽn giao thông và là mục tiêu xạ kích vô tội vạ của quân địch. Thật nghẹn ngào, xót xa, não lòng trước cảnh tượng con mất cha vợ mất chồng, xác chết không kịp chôn, vết thương không thuốc men cứu chữa, gia đình tứ tán mỗi người một phương trong lúc đạn thù của bọn Cộng phỉ mang tiếng là bộ đội giải phóng trút vãi hàng loạt lên đầu lên cổ dòng người di tản ở các quốc lộ và tỉnh lộ, điển hình là liên tỉnh lộ 7B. Ngày tận thế, đại lộ kinh hoàng, núi xương sông máu không ở đâu xa mà đã xảy ra trong hai tháng đen tối nhất từ giữa tháng 3 đến cuối tháng 4 năm 75 cho tất cả người dân miền Nam.

Bao nhiêu người đã chết, đã bị thương, đã mất đi cuộc sống yên lành, mất tài sản, mất người thân, cha mẹ, vợ chồng, con cháu, anh chị em vào những tháng ngày đau thương đó? Con số chắc chắn phải rất lớn, không phải hàng chục mà là hàng trăm ngàn người. Nhưng đấy mới chỉ là số thương vong và mất mát khởi đầu. Địa ngục trần gian chỉ thật sự mở ra khi tất cả người dân miền Nam bắt đầu bị lùa vào một nhà tù khổng lồ, chịu sự kềm kẹp, đày đọa, giam hãm, kiểm soát, theo dõi đến từng bước chân, từng tiếng nói mà trong đó mạng sống con người không bằng con vật. Quân, cán, chính, tu sĩ, trí thức, nhà giáo, văn nghệ sĩ, thương gia và ngay cả dân thường đều bị tước đoạt hết quyền công dân và chịu chung số phận trầm luân bi đát: Hoặc bị tập trung cải tạo vô thời hạn (thực sự là tù khổ sai biệt xứ), hoặc bị xua đuổi đi kinh tế mới (thực sự là bị đày đi khai hoang), hoặc bị ép buộc từ bỏ khả năng chuyên môn và nghề nghiệp đang có để lao động chân tay cực khổ, tài sản thì bị niêm phong, tịch thu, cướp đoạt trắng trợn.

Song song với thủ đoạn triệt hạ nhân sự, nguồn vốn, bọn Cộng còn áp dụng những chính sách kinh tế thắt cổ chẹn họng, hộ khẩu tem phiếu, đổi tiền, ngăn sông cấm chợ, chận đường soát xe mục đích để cho người dân Nam lúc nào cũng bị đói khát, bệnh tật, tối ngày lo lắng cho miếng ăn cái mặc, không còn sức đâu mà suy nghĩ hay chống đối. Tội nghiệp, thân xác con người lại tiếp tục ngã xuống nơi những nhà tù, trại giam, rừng sâu núi thẳm, đồng hoang suối vắng hay ngay cả trong từng ngõ hẻm, con phố vì kiệt sức, đói khát, bệnh tật hoặc vì quá uất ức mà phải tự vẫn.

Không thể ngồi yên chờ bị chết dần, chết mòn, chết nhục, và với truyền thống kiêu hùng, một số chiến sĩ VNCH đã không chịu khuất phục, đã kết hợp với nhau thành những tổ chức phục quốc, sử dụng vũ lực chống lại bạo quyền hầu hy vọng có thể xoay lại thế cờ. Không may vì thế cô sức yếu nên các anh đã hoặc hy sinh đền nợ nước hoặc bị giam tù nhiều năm. Tuy không thành công nhưng các anh đã anh dũng viết tiếp những trang sử bi hùng sau cùng cho quân lực VNCH và được mọi người dân vô cùng thương kính tưởng tiếc.

Cũng không thể chịu bó tay sống đời nô lệ, sống kiếp ngựa trâu, đồng bào đã liều mình tìm cách thoát ra khỏi đất nước để may ra, trong mười đường chết có một đường sống. Thời gian đầu sau ngày chiếm trọn miền Nam, bọn cộng còn đang loay hoay lạ nước lạ cái, chưa có kinh nghiệm, nên việc tuần tra canh gác các cửa sông, cửa biển, cổng trạm biên giới còn lơ là lỏng lẻo nhờ đó việc vượt thoát có đôi phần dễ dàng. Tuy nhiên, vì đó là lúc ban đầu nên số lượng người bỏ nước ra đi chưa đông.

Khi chuyện vượt biên vượt biển tìm tự do đã trở thành phổ biến, lên đến cao trào “người người vượt biên, nhà nhà vượt biên, đến cái cột điện mà có chân cũng vượt biên” vào cuối thập niên 70, đầu thập niên 80 thì mạng sống con người bị xem như cỏ rác. Vô số thân xác người dân miền Nam lại ngã xuống thảm thương ở các mương rạch, cửa sông cửa biển, đường rừng lối mòn dưới những loạt đạn dã man tàn ác của bọn công an bộ đội do lệnh của cấp trên hoặc do chúng muốn giết người đoạt của. Đó là chưa kể biết bao nhiêu người đã chết vì đói khát, bệnh tật hoặc bị cường khấu, hải tặc cưỡng hiếp giết hại, bắt đi mất tích.



Tổng cộng có bao nhiêu người đã chết trên đường vượt biên vượt biển sau khi cộng sản chiếm đoạt miền Nam thật không ai biết được chính xác, nhưng chắc chắn con số đó phải lên đến hàng trăm ngàn. Điều nghiệt ngã là thân nhân còn ở lại trong nước của những người bạc mệnh chỉ dám đau đớn để tang và thương nhớ âm thầm chứ không thể tỏ lộ công khai. Khi chuyện vượt biên vượt biển lắng dần vì các các trại tị nạn tại các nước cho tạm dung đóng cửa, không nhận thêm người thì đồng bào đành phải chấp nhận ở lại cái nhà tù khổng lồ mà sống trong đói khổ, mòn mỏi, mất hết tự do, mất hết nhân phẩm, sống mà như đã chết. Trải qua mấy thập niên cho đến bây giờ, Mạng sống người dân dưới chế độ cộng sản vẫn rẻ mạt, rẻ hơn bèo và vẫn tiếp tục bị coi thường, bị trấn áp, đe dọa, bắt giữ, tra tấn, thậm chí bức tử.

Ai gây nên cảnh nồi da xáo thịt, nô lệ ngoại bang, hiểm họa diệt vong?

Tưởng niệm ngày Quốc Hận 30/4/75,tưởng nhớ tổ quốc VNCH, ở đây xin không đề cập đến chuyện giỏi hay dở của một quân lực,chuyện đúng hay sai của một chiến lược quân sự, một quyết định điều binh khiển tướng vào thời điểm ngặt nghèo, vào tình thế gần như là bó tay. Xin hãy nhìn vào nguyên nhân gốc rễ của vấn đề. Ai là kẻ thực sự tạo ra cảnh nồi da xáo thịt?

Ai là thủ phạm gây nên nông nỗi đoạn trường? Nếu không có tham vọng điên cuồng của những tên chủ chốt đảng cộng sản tại Bắc Việt. Nếu không có những cái đầu mê muội chỉ biết cúi cúi và cái lưng chỉ biết khom khom, cúc cung tận tụy vâng lệnh quốc tế cộng đảng, xích hóa, bần cùng hóa, mê muội hóa và nô lệ hóa dân miền Bắc đồng thời hèn hạ nhận viện trợ súng đạn, khí tài quân sự, tiền bạc, lương thực của hai thế lực cộng sản đầu sỏ Liên Xô và Trung Cộng cùng các nước chư hầu để xua quân xâm lăng miền Nam thì làm gì có cuộc chiến huynh đệ tương tàn Bắc-Nam. Và cũng làm gì có chuyện người dân vốn cùng máu đỏ da vàng, chung một tổ quốc của miền này lại căm thù giết hại người ở miền kia mà vẫn rêu rao là đi giải phóng! Thật là ngu xuẩn, thật là mù quáng mà cũng thật là hiểm độc.

Bài học lịch sử bao nhiêu đời đã chỉ rõ kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Việt Nam là bọn bá quyền phương Bắc, tức là những vua chúa của nước Tàu ngày xưa và đám chóp bu Trung Cộng bây giờ. Bọn chúnglàm gì có lòng nhân đạo thương người, giúp đỡ dân tộc khác một cách vô vị lợi.Cũng làm gì có chuyện một thế giới đại đồng của người vô sản, làm theo khả năng hưởng theo nhu cầu. Bọn chúng chỉ lợi dụng tính háo danh tham lợi của những tên đầu sỏ đảng CSVN và sự ngây thơ cả tin của dân chúng miền Bắc để lăm le tìm cơ hội tiêu diệt hoặc đồng hóa người Việt và chiếm trọn giải giang sơn hình chữ S hầu làm bàn đạp thôn tính cõi Đông Nam Á rồi thống trị toàn thế giới. Những kẻ xuẩn ngốc trong đảng CSVN, tiền thân là đảng cộng sản Đông Dương và sau đó là đảng Lao Động VN bày đầu là Hồ Chí Minh tự nguyện chui đầu vào rọ, làm tay sai cho cộng sản quốc tế, cho Trung Cộng cho Liên Xô. Bọn chúng những tưởng chế độ cộng sản là thiên đường, hoặc tưởng là có thể lợi dụng thế lực đang lên của khối Xã Hội Chủ Nghĩa để mưu đồ trục lợi riêng tư, nhẫn tâm triệt hạ các đảng phái không cùng phe cánh, thủ tiêu, bán đứng các nhân sĩ, trí thức, người yêu nước chân chính hầu độc quyền làm vương làm bá nước Nam. Nhục nhã cho chúng là mạt cưa gặp mướp đắng, bọn chóp bu TC đã nắm thóp chúng. TC đã thả con tép bắt con bắt con cá chép,lợi dụng ngay đám VC đang cầu cạnh mình để gài mưu mô thâm hiểm dùng người Việt giết người Việt và đưa đảng CSVN vào thế phải vĩnh viễn lệ thuộc đảng CSTQ hầu sai khiến bọn cõng rắn cắn gà nhà đem hết giang sơn tổ quốc về dâng nộp cho chủ .

Để đổi lấy viện trợ và sự giúp đỡ, che chở trong chiến tranh, CSVN đã phải chấp nhận những điều kiện về nhượng đất nhượng biển, những đặc quyền kinh tế, khai thác khoáng, lâm và hải sản trước và cả sau khi thực hiện được dã tâm chiếm trọn miền Nam. Do đã phóng lao phải theo lao nhất là để thoả mãn tham vọng điên cuồng muốn chiếm đoạt miền Nam với bất cứ giá nào, đảng CSVN đã răm rắp đồng ý tuân theo tất cả những đòi hỏi của quan thầy TC.

Sau khi chiến tranh chấm dứt, những ưu đãi mà CSVN dành cho TC đã dần dần lộ rõ ra. Đất đai sông biển, hải đảo của tổ tiên bao năm gầy công tạo dựng lần lượt bị TC ngang nhiên chiếm cứ. Đường biên giới phía Bắc bị vẽ lại theo hướng có lợi cho TC theo hiệp ước biên giới Việt-Trung ngày 30/12/1999. Tài nguyên thiên nhiên bị TC mặc tình khai thác, những hợp đồng khế ước nếu có chỉ là hình thức. Dân Tàu tự do ra vào nước Việt như chính nước của chúng và chúng toàn quyền thiết lập những khu vực sinh hoạt, doanh trại, thành phố của riêng chúng ngay trên đất Việt, tại những nơi hiểm yếu quan trọng mà thẩm quyền Việt Nam không được ngó ngàng tới. Hàng hóa Tàu, cả hàng giả lẫn hàng độc hại,không phải đóng thuế, tự do tràn ngập thị trường VN, làm lũng đoạn nền kinh tế thương mại đồng thời đầu độc dân Việt cho chết dần. Ngư dân VN đánh cá tại hải phận nước mình bị tàu hải giám TC bắt giữ, đánh đập, đòi tiền chuộc,thậm chí bị sát hại, ngư cụ bị phá hủy, tàu thuyền bị đâm thủng, phóng hỏa nhiều lần mà chính quyền CSVN không dám lên tiếng phản đối. TC nghêng ngang đem hàng trăm tàu đủ loại hộ tống kéo giàn khoan dầu khổng lồ HD-981 vào hải phận VN thăm dò dầu khí ngày 2/5/2014 thì CSVN chỉ dám đưa tàu hải cảnh đến canh chừng lấy lệ và dùng ngoại giao lên tiếng qua loa. TC xấc xược công bố 90% vùng biển Đông là của chúng qua bản đồ đường lưỡi bò 9 đoạn do chúng tự vẽ bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, bất kể công ước về luật biển quốc tế cùng bất kể chúng không có chứng cứ lịch sử về chủ quyền thì CSVN im thin thít, không dám nhúc nhích. CSVN phải câm họng vì há miệng mắc quai, bởi công hàm Phạm Văn Đồng ngày 14/9/1958 đã công nhận hải phận 12 hải lý của TC, hàm ý công nhận cả hai quần đảo HS và TS là của TC như trong bản tuyên ngôn về lãnh hải và tuyên bố về chủ quyền các quần đảo mà TC đưa ra ít ngày trước đó. Năm 2014 chính phủ và nhân dân Phi Luật Tân đề nghị VN cùng đứng đơn khởi tố TC ra tòa án quốc tế thì CSVN nhát sợ, không dám tham gia. Đó là không kể đến việc CSVN đã ngậm hột thị, hiểu là làm ngơ khi TC tấn công và chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa ngày 19/1/1974 lúc đó do hải quân VNCH trấn giữ và những sự yếu hèn, nhục nhã, không dám phản ứng gì của CSVN khi hải quân TC nã súng thảm sát 64 bộ đội hải quân VN tại đảo Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa ngày 14/3/1988. Còn nhiều lắm những sự nhượng bộ, ưu đãi, thậm chí tỏ thái độ khiếp sợ thần phục TC của các cán bộ quan chức CSVN trong khắp các lãnh vực chính trị, ngoại giao, kinh tế, văn hóa, xã hội… Người dân Việt căm giận phẫn uất biểu tình chống bọn TC xâm lược bành trướng thì lại bị chính công an dân phòng của nước mình đàn áp triệt hạ.

Bốn mươi năm đã trôi qua sau khi chiếm được miền Nam thử hỏi CSVN đã làm được gì cho nền độc lập tự chủ của đất nước hay chỉ càng ngày càng lệ thuộc nặng nề vào TC. Hết lớp nô thần này đến lớp thái thú khác một mặt tâng công bán nước, mặt khác bóc lột dân đen, vơ vét của cải, vinh thân phì gia, no ấm riêng mình. Cứ cái đà này, tương lai nước Việt Nam trở thành một tỉnh của TC đã không còn xa. Thật hổ thẹn cho dòng giống tiên rồng, con Hồng chác Lạc lại có những kẻ có mắt như mù, u mê ám chướng, đi cầu cạnh xin xỏ kẻ thù không đội trời chung của dân tộc để mưu đồ lợi ích riêng tư, như vậy có khác gì rước voi về giày mả tổ, mở cửa mời trộm cướp vào nhà?

Bốn Mươi Năm Tưởng Niệm: Miền Nam Vẫn Mãi Trong Tim


Bốn mươi năm đã trôi qua nhưng những thảm cảnh của những tháng ngày quốc phá gia vong như vẫn đang hiển hiện trước mắt, những tiếng gào thét vật vã khóc than như vẫn vọng bên tai và những cảm xúc, ấn tượng vẫn còn ghê gai rùng mình kinh rợn. Thực sự con số 40 năm chỉ có tính cách tượng trưng cho một điểm mức thời gian tròn chẵn, chứ bất cứ ngày nào, giờ nào, lúc nào và ở đâu người dân miền Nam cũng canh cánh bên lòng mối hận mất nước và niềm ngậm ngùi tưởng nhớ đến những chiến sĩ VNCH, những đồng bào, những người thân đã hy sinh xương máu, thân mạng trong cuộc chiến bảo vệ tổ quốc và trong suốt thời gian bị tù đày tra tấn, hành hạ bạc đãi dưới gọng kềm cai trị sắt máu của chế độ phi nhân cộng sản.

Và cũng thật ra miền Nam đã không thể chống lại sự xâm lăng của miền Bắc không phải vì người miền Nam không tài giỏi, không anh dũng. Người miền Nam chỉ không khát máu, không tham lam hiểm độc và không táng tận lương tâm. Người miền Nam sinh ra để sống trong yêu thương, trong hoà thuận, cùng phát triển đi lên trong tình tương thân tương ái. Người miền Nam sinh ra không phải để đi đánh nhau, nhất là đi xâm lăng, giết hại, cưỡng bức hoặc chiếm đoạt, nói gì đến chuyện tàn sát đồng bào ruột thịt của mình. Người miền Nam sinh ra cũng không phải để gian hùng, mưu mô, lừa gạt, chỉ biết có cá nhân mình mà bất chấp lương tri, đạo lý. Hãy đừng phán xét hơn kém qua sự thắng bại của một cuộc chiến, hay qua sự thay đổi của một chế độ. Sau bốn mươi năm, nay đã rõ đâu là phía bị cả dân tộc oán hận nguyền rủa, đâu là bên được mọi người tưởng tiếc nhớ thương.

Dù sau này chế độ cộng sản không còn, mà chắc chắn sẽ không còn, dù nước Việt Nam có thay da đổi thịt, những con người của thời gian cũ có lần lượt đi vào dĩ vãng và được thay thế bằng những thế hệ trẻ hoàn toàn mới thì bản án, bản cáo trạng viết bằng máu, khắc bằng xương của những nạn nhân chế độ cộng sản VN vẫn còn mãi mãi và tội ác của đảng cộng sản VN vẫn phải được truyền đời nhắc nhở cho hậu thế để tất cả thường xuyên cảnh giác, ghê tởm và phỉ nhổ.

Tưởng niệm ngày Quốc Hận 30/4/2015
Quang Dương

(BaoCalitoday) 


 NHỮNG ĐÓM LỬA VNCH ĐANG CHÁY
TRONG LÒNG DÂN TỘC

(Ảnh của anh Nguyễn Viết Dũng, một trong 5 người thanh niên bận quân phục VNCH tại Hồ Gươm ngày 14/4/2015 http://danlambaovn.blogspot.de/2015/04/anh-nguyen-viet-dung-nguoi-mac-quan.html)
NHỮNG ĐÓM LỬA VNCH ĐANG CHÁY
TRONG LÒNG DÂN TỘC


Kẻ sống (vc) như đang chết!
Người chết(VNCH) đã sống dậy!

Ngược dòng lịch sử vào năm 1945, trước khi Nhật rút khỏi VN, người quốc gia nếu không vì hàng rào nhân bản, đạo đức đã ràng buộc tư duy của họ, thì lúc đó HCM đâu có cơ hội để cướp chính quyền tháng 8/1945. Và VN đâu có tang thương như ngày hôm nay.
Ngày 11 tháng 3 năm 1945 là ngày Vua Bảo Đại Tuyên bố độc lập và giao cho Giáo sư Trần Trọng Kim thành lập chính phủ lấy tên nước là Đế quốc Việt Nam và quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ hình quẻ ly, đó là tiền thân của Việt Nam Cộng Hòa.

Chính phủ Đế quốc Việt Nam được Trần Trọng Kim lập ngày 17 tháng 4 năm 1945 và trình vua Bảo Đại phê chuẩn. Đây là nội các đầu tiên của nước Việt Nam độc lập và thống nhất và ra mắt quốc dân ngày 19 tháng 4, Với nội các tập hợp được những trí thức có danh tiếng lúc bấy giờ, thành phần nội các ra mắt quốc dân ngày 19 tháng 4.
Nhưng rồi ngày 2 tháng 9 năm 1945 đảng cộng sản Việt Nam thừa lúc chính quyền còn non trẻ đã nổi lên cướp chính quyền ở Miền Bắc và rồi ngày 30 tháng 4 năm 1975 cướp luôn chính quyền ở Miền Nam đưa cả nước xuống hố sâu XHCN. Đảng CSVN cướp chính quyền từ tay một chính phủ quốc gia hợp pháp và đầy nhân bản, họ cố tuyên truyền là chính quyền nầy là tay sai, bán nước...Một trong những người cộng sản như Trần Đĩnh đã còn chút liêm sĩ, công nhận VNCH là một chính quyền yêu nước với tinh thần dân tộc cao độ chứ không phải như đảng cộng sản từng bêu rếu. Trong Đèn cù. II, Trần Đĩnh viết rõ:
“Trước ngày 19-8 tổng tư lệnh Nhật vào Huế gặp Bảo Đại và Trần Trọng Kim, nói: ‘Nếu các vị yêu cầu, Nhật với 50.000 quân tinh nhuệ có thể dẹp Việt Minh trong vòng một đêm, Việt Minh có quá lắm là 5.000 người còn súng ống lại càng quá ít." Nhưng hai ông này từ chối, chính đạo của người Việt quốc gia là như thế, nhân bản luôn ngư trị trong từng trái tim của người Việt quốc gia. Nếu như hai ông nầy không có Việt tính và Việt tình như tên ác ma HCM, thì 5000 tay súng của cộng sản lúc đó sẽ bị hoàn toàn diệt vong và HCM cũng biến mất khỏi đất nước VN.

VIỆT NAM CỘNG HOÀ MỘT CHẾ ĐỘ CHÂN, THIỆN, MỸ.

Mặc dù tồn tại trong khoãng thời gian chỉ có 20 năm (1955-4/1975) nhưng xã hội Việt Nam Cộng Hoà trước 1975 được hình thành tương đối trong sạch, không có bóng dáng của tham nhũng. Còn CHXHCNVN thì coi tham nhũng là một chính sách để cai trị nước. Bước ra đường là đâu đâu cũng thấy nạn tham nhũng nha nhản trước mắt. Trước 1975 người dân Miền Nam sống hiền hoà trong tôn ti trật tự, trong đời sống hàng ngày, họ không phải đối đầu với cảnh sát, công an. Không phải bất cứ khi nào có việc liên hệ với chính quyền thì phải trả tiền cho công an từ xã, huyện, tỉnh đến trung ương. Khi vào bệnh viện, không có việc đút lót tiền thì mới có được giường nằm. Trẻ con học giỏi thì được xếp hạng cao, được cho đi du học dù là con nhà nghèo. Các quân đũ mọi cấp bậc nếu đánh trận oai hùng, gan dạ thì được thăng thưởng, không cần chạy lon chạy chức như bây giờ... Nhà cháy thì được cứu hỏa chữa cháy một cách công bằng, không cần phải trả tiền mới được chữa cháy...Tệ nạn tham nhũng đả vượt trần nhà.

Xã hội Miền Nam tự do tạo môi trường để tinh anh phát tiết trên mọi phương diện. Ngày nay, sau 40 năm nhìn lại, đảng cộng sản Việt Nam vẫn không biết rằng khi giam hãm, đầy đọa hàng triệu người sống ở Miền Nam có liên hệ với chính quyền đem nhốt vào ngục tù, họ đã hủy diệt đi hầu hết những nhân tài về mọi mặt của đất nước, những trí thức khoa bảng mà có thể vài trăm năm sau nước CHXHCN mới có thể đạt được như VNCH trước 1975.
Về chính trị, Việt Nam Cộng Hoà là một nước dân chủ tự do thực sự với hàng trăm tổ chức chính trị công khai hoạt động trong chế độ đầy nhân bản nầy. Mặc dù VNCH vẩn còn tồn tại một số khuyết điểm, nhưng nhìn chung, trên bình diện tổng thể thì VNCH vẩn là một chế độ hơn hẳn VNDCCH và CHXHCNVN gấp trăm lần.
Trước 1975 tại Miền Nam Việt Nam, chính phủ công nhận đối lập, cho biểu tình chống đối tự do nên từ những năm 1965 đã có nhiều cuộc biểu tình chống Mỹ, chống Thiệu Kỳ, chống tham nhũng thoải mái của sinh viên học sinh, của nhân dân và Phật giáo Ấn Quang những cánh tay nối dài của đảng csVN.
Trong chiến tranh VN mỗi lần VNCH rút quân là dân bỏ nhà bỏ cửa đi theo, Việt cộng thì thản nhiên pháo kích vào đoàn người di tản, lính VNCH vừa chống giặc vừa bảo vệ dân…..

Do đó, so với xã hội Việt Nam dưới thời Việt gian cộng sản thì xã hội Việt Nam Cộng Hoà là thiên đường, là con đường mà Việt Nam ngày hôm nay cần nhiều thập niên mới có thể theo kịp được. Những người Việt Nam sống tại Miền Nam trước 1975, biết rõ điều này. Lá cờ vàng và danh hiệu Việt Nam Cộng Hoà vì sao vẫn được họ sùng kính dù Việt Nam Cộng Hoà đã mất đi phần đất cuối cùng đã 40 năm.

CỘNG SẢN CÔNG PHÁ CHÍNH NGHĨA VNCH
Sau khi cướp được miền nam vào ngày 30.4.1975, đảng với quyết tâm chôn vùi thân xác VNCH xuống tận đáy mồ. Với mục tiêu đó 800 tờ báo đảng, với hàng vạn quyển sách giáo khoa, với hàng ngàn cái loa phường, với một ban tuyên giáo có ngân sách quốc gia khổng lồ suốt 40 năm nay độc quyền nhồi sọ nhân dân cã nước và tận tình bôi lọ chế độ VNCH, nhưng càng bôi lọ thì tác dụng lại trái ngược với ý đảng mong muốn. Chính nghĩa VNCH ngày càng rạng rỡ hơn bao giờ hết và vẫn không bao giờ phai mờ trong lòng dân miền Nam.
Mưa dầm thấm đất, đến nay không chỉ nhân dân miền nam thương tiếc chế độ VNCH mà ngay tại miền Bắc nhân dân Hà Nội đã vực dâỵ VNCH trong mấy ngày gần đây qua các bộ đồ quân phục của người lính VNCH. Những người thanh niên đã bận quân phục và mang các phù hiệu của VNCH diển hành trên đường Hà Nội, sau đó đã bị công an vc bắt, cho tới giờ phút viết bài nầy, các anh nầy vẩn còn bị công an bắt giam , chưa được thã ra.

Nếu như trước đây, sau 20 năm bám chân đệ tam QT cộng sản, những kẽ ác đã trở thành phe thắng cuộc trong ngày 30.4.1975, là một bất công và trớ trêu cho trật tự xã hội và định mệnh của nước VN! Nhưng, tới nay phe thắng cuộc đã từ thắng đang tiến về thua cuộc trên từng mặt trận.

Sau ngày 30/4/1975, những biểu tượng liên quan đến chính thể Việt Nam Cộng Hoà đã trở thành nỗi ám ảnh đối với những người cộng sản. Dù vậy, bất chấp sự trả thù nghiệt ngã của chế độ, nhiều người dân miền Nam vẫn bí mật lưu giữ những kỷ vật hoài niệm về một chính thể Tự do. Và hầu hết phđn đông người dân trong nước đều biết rằng, nếu VNCH còn tồn tại đến ngày hôm nay thì :

1. Ngư dân VNCH không bị bọn Tàu bắn chết, cướp tài sản ngay trên vùng biển của Cha Ông ta.

2. Đàn bà con gái VNCH không bao giờ "đứng trần truồng" cho bọn đàn ông già bịnh tật Đài Loan, Nam Hàn, Sing lựa như lựa hàng....

3. Tôi và bạn sẽ đi du lịch ở Hoàng Sa, Trường Sa và ngắm nhìn tàu chiến VNCH vây bắt bọn Tàu kéo về giam lại.

4. Người dân VNCH mang hộ chiếu ra nước ngoài không bị nhục như bây giờ.

5. Các cấp lãnh đạo VNCH nếu đi công cán sang nước ngoài thì không bao giờ bị "chui cửa hậu" như bọn Sang, Trọng, Hùng, Dũng. hiện nay.

6. VNCH sẽ đứng đầu Đông Nam Á, vượt cả Singapor và Hàn Quốc như thời kỳ trước năm 1975.

7. Trong siêu thị của các nước Nam Hàn, Nhật, Thái, Singapor ..không có những tấm bảng thông báo về tình trạng ăn cắp vặt của người VN. Đó là chuyện mà trước 1975 chưa bao giờ xãy ra.

8. VN sẽ không mang nợ ngập đầu như hôm nay.
Còn nhiều lắm....những điều tốt đẹp mà nước VNCH đã xây dựng được trong thời gian 20 năm, nhìn vào các thành quả đó người ta có thể định mức giá trị của chế độ VNCH với những con người sống chết vì lý tưởng Tổ Quốc-Danh Dự-Trách Nhiệm, dù sao chính phủ VNCH cũng vì dân VN lmà àm việc còn chính phủ VNcs thì...vì Thiên triều mà làm việc.

Phe thắng cuộc nếu tính đến ngày hôm nay thì từ thắng đã chuyển sang thua. Cái thua rõ rệt nhất là trên FB và các mạng xã hội, phe thua cuộc ngày càng đông hơn, cờ vàng ngày càng nhiều hơn. Nhân dân trong nước ngày càng thấy rõ được bộ mặt xão trá, bán nước buôn dân của csVN. Chính vì thua nên csVN mới tìm đũ mọi cách để ngăn chặn vào Internet của nhân dân trong nước bằng tường lửa. Ngăn chặn thông tin là một hình thức chiến bại của kẻ phe chiến thắng, đó là nổi lo sợ của những người bá đạo khi biết được mình không có chút nào chính nghĩa trong lòng của người dân VN. VNCH cho dù là kẻ thua cuộc, nhưng:chưa bại..
Thua cuộc nhưng không hề chiến bại
Lời nguyền Như Nguyệt hãy còn soi:
“Sông núi Nước Nam dân Nam ở
Cộng sẽ tan tành chết sạch toi.”
( trích thơ "bên thua cuộc" của Phan Huy)

Chính nghĩa của bên thua cuộc ngày càng rạng rỡ hơn, đến đứa nhỏ mới 15 tuổi đầu cũng nhìn thấy được điều nầy. xin mời xem clip Video dưới đây:

VNCH chỉ sống có 20 năm nhưng luôn rạng ngời chính nghĩa với những người một lòng một dạ với tổ quốc và dân tôc như Tổng Thống Ngô Đình Diệm “Nếu tôi tiến, các ông tiến theo tôi. Nếu tôi lùi các cứ ông giết tôi. Nếu tôi chết các ông hãy theo gương tôi!” . . (nguồn http://ngodinhdiem.net/01111963/MinhXac1CauNoiLichSu.html).
Tổng thống VNCH Trần Văn Hương, một chí sĩ trọn đời hiến thân cho tổ quốc và dân tộc. Đến khi ông mất vẩn trọn vẹn với quốc tịch VNCH, mặc dù kẽ thù cộng sản đã năn nỉ ông lấy quốc tịch CHXHCNVN, nhưng ông thẳng thắn từ chối không nhận đặc ân đó của kẻ thù
VNCH còn có nhũng tấm gương bất khuất và can đãm như Thiếu Tá Nguỵ văn Thà nã đạn vào đầu giặc Tàu, khi chúng đến chiếm Hoàng sa của VN. Không như tên Bộ trưởng BQP/ Lê Đức Anh, cấm binh sĩ mình dùng súng cá nhân để chế ngự lính Tàu cộng xâm chiếm đảo Gạc Ma năm 1988. Chỉ được phép lấy thân mình làm bia đở đạn của kẻ thù xâm lược để thành liệt sĩ anh hùng của QĐND. Kế đến là tên đại tướng của ngụy quyền Ba Đinh Phùng Quang Thanh, bắt chước đàn anh Lê Đức Anh co đầu rút cổ, không dám đối đầu với quân bắc phương khi chúng đến đặt giàn khoan HĐ981 trong vùng biển VN. hèn đến nổi ra lịnh không cho Cảnh Sát Biển bắn súng nước với tàu Hải Giám của Tàu Cộng.khi bị tấn công. Chính những sự việc như vậy đã làm rạng rở chính nghĩa của chế độ VNCH hơn bao giờ hết. VNCH với những con người chỉ biết trung thành với Tổ Quốc và dân tộc VN không như đám ngụy quyền Hà Nội, lén lút dâng đất, biển, đảo cho kẻ thù để nuôi đảng phản bội lại tổ quốc và dân tộc VN.

Chưa từng thấy một chế độ nào bị đánh bại mà lại được người dân thương tiếc, kính yêu đến vậy. Dù đó là chính phủ Mỹ, vì lợi ích của dân Mỹ mà bỏ rơi đồng minh, dù đó là những người cộng sản vỗ ngực là kẻ "chiến thắng" cũng đều tâm phục khẩu phục VNCH. HCM và đảng cs của y thừa biết VNCH là một chế độ tốt như thế, được lòng dân như thế, mà lại cố tình đánh chiếm miền Nam thì rõ ràng đảng cs là phi nghĩa, là có âm mưu đen tối rồi. Bây giờ, âm mưu đó đã lộ rõ: "dâng nước VN cho Tàu", như Lê Duẫn đã từng thú nhận. Tiếc rằng, các cụ như Trần Trọng Kim, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Ngô Đình Diệm v.v, vốn xuất thân từ cửa Khổng sân Trình, chỉ biết xử sự như một bậc chính nhân quân tử, nên đành thua tên cáo già, vô liêm sỉ như Hồ Chí Minh, một tên Tàu "đúng chuẩn" ! "Bá đạo" cs đã thắng "vương đạo" VNCH. Đó chỉ là cái thắng tạm thời. Lịch sử loài người đã chứng minh rằng sau cùng thì "vương đạo" sẽ thắng "bá đạo". Hào quang VNCH ngày một tỏa sáng, đóm lửa VNCH đả bắt đầu cháy và sẽ lan rộng ra khắp nơi trong nước. Đó là lý do chế độ cs sẽ bị diệt vong trong tương lai rất gần.

Một khi mà người dân trong nước đã thức tỉnh và biết phân biệt được thế nào là một chế độ chân , thiện, mỹ VNCH, thì đó là thời kỳ tan rã của nhà nước Cộng sản, là chuyện chắc chắn phải xãy ra, đây là thời quá độ của đảng csVN là giai đoạn mạt vận của học thuyết Mác – Lênin , là học thuyết từng cổ súy bạo lực, chiến tranh, máu đổ đầu rơi. Tình trạng suy thoái toàn diện của đảng CS Việt Nam đã không còn cách gì cứu vãn nổi. Bạo lực cách mạng quần chúng sẽ nổ ra và san bằng bất công, thay đổi vận mệnh đất nước, cân bằng xã hội, đưa dân chủ tự do về lại xã hội VN .


Bài đã được đăng tại blog: http://kimanhl.blogspot.de/ và Google+ https://plus.google.com/u/0/101604557866635401091/posts

Nguyen Thi Hong 17/4/2015
TIN Y KHOA VITAMIN D
 
"Xin vui lòng gởi thông điệp nầy đi , cho dù chỉ đến với một người thôi .
Thông điệp nầy là để tưởng nhớ đến những người mà bạn biết , hay là những nạn nhân của căn bịnh .
Làm ơn , xin đừng dập tắt ngọn nến hy vong...."
 
MT HY VNG MI CHO NHNG NGƯỜI B BNH UNG THƯ:
ÁP DNG PHƯƠNG PHÁP ĐIU TR BNG SINH T D.
Chu Tất Tiến.
Trong tuyển tập nghiên cứu về bệnh Ung Thư (Critical Reviews in Oncology Hematology) được ấn hành bởi Elsevier, nhà xuất bản lớn nhất thế giới về khoa học và y khoa, có một chương nói về cách điều trị và phòng ngừa ung thư của hai Giáo Sư Y Khoa người Việt Nam: Bác Sĩ Lương Vinh Quốc Khanh và Bác Sĩ Nguyễn Thị Hoàng Lan.
Bác sĩ Lương Vinh Quốc Khanh là Hội Viên (Fellow) của 6 trường Đại Học về Chuyên Khoa Y Khoa và 1 trường Đại Học Y Khoa Anh Quốc. Ông là Giáo Sư Thỉnh Giảng của Đại Học Y Khoa UCLA, Giáo Sư của trường USC, Keck School of Medicine, Los Angeles.
Bác sĩ Nguyễn Thị Hoàng Lan là Hội Viên của 3 trường Đại Học Chuyên Khoa Y Khoa và là Giáo Sư trường USC, Keck School of Medicine, Los Angeles.
Nhân một cơ hội được đọc chương về Cách Dùng Sinh Tố D để trị Bệnh Ung Thư nói trên, người viết đã làm một cuộc phỏng vấn ngắn ngủi với Giáo Sư Bác Sĩ Lương Vinh Quốc Khanh.
-H: Xin bác sĩ cho biết nguyên nhân nào dẫn tới việc nghiên cứu về Sinh Tố D để trị và ngăn ngừa bệnh ung thư.
-Đ: Tôi đã nghiên cứu về sự liên hệ của sinh tố D và bệnh ung thư từ 20 năm nay. Tôi đã từng hợp tác nghiên cứu với một giáo sư nổi tiếng về Sinh tố D của Mỹ. Lý do dẫn tôi tới việc nghiên cứu này là một khám phá tình cờ. Trong lúc điều trị cho những người Việt Nam bị bệnh ung thư, tôi nhận thấy những bệnh nhân này có một đặc điểm chung là cùng thiếu Sinh tố D. Trước đó, tôi đã chia xẻ điều khám phá này với các vị thầy cũng như đồng nghiệp của tôi nhưng rất ít người đồng ý với ý kiến của tôi, có khi còn cho ý kiến ngược lại. Tôi nhớ khi tôi còn ở Đại Học UCLA và bắt đầu nghiên cứu về sự liên hệ giữa sinh tố D và căn bệnh quái ác này, ông thầy tôi gọi điện thoại cho tôi, chê trách là tôi không hiểu gì về sinh tố D cả. Ông thầy cho rằng người dân ở California không bao giờ thiếu Sinh tố D. Nhưng kêt quả thực tế do tôi khám phá là các người bệnh ung thư ở California đều thiêu sinh tố D. Mãi sau này, ông thầy tôi mới xin lỗi vì không bao giò ông nghĩ là các bệnh nhân ung thư đều thiếu sinh tố D.
-H: Điều đáng mừng là sinh tố D có thể mua tại bất cứ dược phòng nào, phải không?
-Đ: Thật ra không phải cứ là sinh tố D thì có thể mua tự do tại các dược phòng. Có nhiều loại sinh tố D. Loại sinh tố D dùng để chữa bệnh ung thư phải có toa bác sĩ mới mua được. Loại cần toa bác sĩ này tốt gấp 10 lần các loại thông thường. Mấy loại mua ngoài chợ không có giá trị. Bản thân tôi khi chữa trị cho người mắc bệnh ung thư, đều dùng loại cần toa bác sĩ. Yếu tố này, thoạt đầu, cũng không được các đồng nghiệp khác đồng ý. Ngay chính ông thầy tôi cũng phản ứng khi được biết tôi chuyên dùng loại sinh tố D cần toa bác sĩ. Ông Thầy tôi cũng thắc mắc hỏi tại sao tôi chỉ cho toa mua loại này, sao không cho họ xài loại bán ngoài chợ. Các khảo cứu sau này cho thấy chỉ có loại sinh tố D cần toa bác sĩ, vì chỉ có loại ấy mới bám vào tế bào và tác dụng trên tế bào ung thư.
-H: Khi tôi còn đi học, tôi được nghe nói là các yếu tố tiền sinh tố D nằm dưới da, có đúng không?
-Đ: Đúng thế, các yếu tố tiền sinh tố D3 nằm dưới da. Nhờ tia ultra violet của mặt trời, các yếu tố này biến thành 25-sinh tố D3. Các chất 25-sinh tố D3 này vào tới thận biến thành 1,25-sinh tố D3. Chính 1,25-sinh tố D3 này mới có tác dụng trên cơ thể. Chất tiền 24,25-sinh tố D3, nếu không tiếp xúc với ánh sáng mặt trời thì không thể biến thành 1,25-sinh tố D3. Nhưng cũng có trường hợp luôn ở dưới ánh nắng mặt trời nhưng vẫn thiếu sinh tố D3. khỏang 1/3 đến phân nửa dân số sinh sống ở Sub-Sahara Phi Châu và Trung Đông được xem là thiếu sinh tố D. Như những người da đen, họ thường thiếu sinh tố D vì da họ đen quá làm cản tác dụng biến tiền sinh tố D thành sinh tố D3. Mũ che nắng, Sunblock cũng cản tia tử ngoại (UV) nữa. Da của người lớn tuổi cũng cản tia tử ngoại. Tế bào da của người lớn tuổi cũng không phát triển, thì người lớn tuổi cũng sẻ thiếu sinh tố D.
-H: Còn yếu tố nào làm thiếu sinh tố D không?
-Đ: Người Việt Nam thường bị viêm gan, các tế bài gan giảm đi, thi việc thay đổi từ 25-sinh tố D sang 1,25-sinh tố D3 cũng giảm đi. Đau thận cũng làm giảm thiểu sự biến hóa 1,25-sinh tố D3. Một điều cần lưu ý là có nhiều người phơi nắng rất nhiều cũng thắc mắc tại sao tôi thiếu sinh tố D. Phơi nắng nhiều quá, thì lại làm một lớp da ngoài bị cháy đi, biến thành lớp cản không tiếp nhận tia hồng ngọai tuyến (UV) nữa. Do đó việc đem người bệnh ung thư đi phơi nắng cũng gặp môt trở ngại là không biết độ nắng là bao nhiêu thì tốt.
-H: Bác sĩ có thể nói thêm về quan hệ giữa sinh tố D và bệnh ung thư như thế nào được không?
-Đ: Sinh tố D liên quan đến ánh nắng mặt trời. Vùng nào nhiều ánh nắng mặt trời thì ít ung thư. Vì thế những vùng càng xa xích đạo bao nhiêu thì càng thiếu sinh tố D, như vùng cực bắc âu thì thiếu sinh tố D rất nhiều, Người ta thấy có một liên hệ mật thiết giữa sinh tố D và bệnh ung thư, những người thiếu sinh tố D thì có tỷ lệ bị ung thư cao hơn người có nhiều sinh tố D. Như ở Norway, có nhiều county, những county ở cực Bắc thì tỷ lệ ung thư cao hơn vùng county phía nam, nơi mà người ta giầu sinh tố D hơn người cực bắc. Ngoài ra, còn có ảnh hưởng của thời tiết: Mùa đông ít ánh nắng mặt trời, nên số người bị ung thư tăng lên rất nhiều, Mùa hè thì giảm đi. Điều quan trọng là nếu dùng sinh tố D trong việc điều trị thì hy vọng khỏi bệnh càng cao.
-H: Cám ơn bác sĩ. Mong rằng đây là một khám phá mới đem lại nhiều hy vọng cho những người mắc phải cơn bệnh của Thần Chết này. 

Chu Tất Tiến.
(Nguồn: e-mail)

Tuesday, April 14, 2015

THÁNG TƯ !!!

Tháng Tư, động mối tâm thương
Ba mươi năm lẻ sao đường vẫn xa ?!
Bao giờ về lại quê ta
Về cùng khóm trúc, cây đa, đình làng ...
Về cùng bằng hữu, thôn trang
Cùng giàn thiên lý, cùng hàng hiên xưa
Hàng hiên có những giấc trưa
Mẹ ru ta ngủ võng đưa dịu dàng
Hàng hiên có cội mai vàng
Nở hoa trăm cánh huy hoàng chào xuân
Hàng hiên, nơi đã bao lần
Vui đùa cùng bạn đông lân những chiều
Đến ngày tuổi bước vào yêu
Hàng hiên, ta đứng đăm chiêu chờ người
Cũng hàng hiên, một chiều vơi
Tiễn người nước mắt thay lời từ ly
Chiến trường, giữ nước, người đi
Chuyến đi lỡ mộng xuân thì trầu cau
Tháng Tư, nước hận, tình sầu
Bỏ quê, đau đớn xuống tàu ra khơi ...

Từ ta đất khách quê người
Nhớ hàng hiên cũ, thương trời quê xưa
Xót người vào cõi gió mưa
Ba mươi năm lẻ vẫn chưa gặp người ...
Ai ngăn mà cách, hỡi trời
Quê xưa, người cũ .... xa rồi.... Tháng Tư !!!

Song Châu Diễm Ngọc Nhân
Mượn Hải Phòng, tiêu diệt Đông Nam Á
Nguyễn Nghĩa 650 (Danlambao) - Đây là kế sách Tập Cận Bình thi triển trong dịp Nguyễn Phú Trọng thăm Trung Cộng từ 7-11/4 vừa qua. Gốc của kế sách này hán văn là "Giả đạo phạt Quắc", mượn đường diệt Quắc, là kế sách thứ 24 trong bộ sách kinh điểm 36 mưu lược quan sự, dùng trong chiến tranh. Vì đây là kế độc đối với Việt Nam và Đông Nam Á nên trong Tuyên bố chung VN-TQ không nói đến.

Tuy nhiên, hãng thông tin BBC đã nhanh nhậy đưa tin lại nội dung của bài của Tetsuya Abe và Atsushi Tomiyama trên trang Nikkei Asian Review hôm 8/04/2015 cho rằng hai lãnh đạo Tập Cận Bình và Nguyễn Phú Trọng “đồng ý hợp tác về sáng kiến Con đường Tơ lụa, một nỗ lực của Trung Quốc thu hút Việt Nam và để tăng cường ảnh hưởng kinh tế trong vùng”.

Theo báo Nhật Bản, hai ông Tập Cận Bình và Nguyễn Phú Trọng đã “đồng ý lập các nhóm công tác về hạ tầng cơ sở và hợp tác tài chính” cho dự án Con đường Tơ lụa.

Người Nhật đã đánh động dư luận về một kế sách mới, nguy hiểm của TQ đối với VN, đối với Đông Nam Á.

Thoạt nghe qua, ta tưởng như TQ muốn thu hút VN vào chương trình kinh tế mới của Tập Cận Bình để cùng VN phát triển kinh tế. Dự án kinh tế này có tên là Con đường tơ lụa trên biển.

Đây là sáng kiến của Tập Cận Bình đưa ra cuối năm 2014 nhằm thực tế hóa chủ trương xây dựng TQ thành cường quốc biển do đại hội đảng cộng sản TQ vừa qua đề ra.

Bài này nhằm vạch trần mưu kế hiểm độc của TQ đối với VN và xa hơn là đối với Đông Nam Á.

1. Đón tiếp trọng thể, trong khi chỉ vài tháng trước, khi sự kiện giàn khoan 981 xẩy ra, Tập Cận Bình không thèm nhấc telephone của Nguyễn Phú Trọng, cho thấy một âm mưu đen tối đối với VN đang được Tập Cận Bình triển khai.

TQ đang thực hiện kế sách Nam Dụ. Nam dụ là dụ VN, dụ Lào, dụ Campuchia bằng đường mật 16 chữ, 4 tốt... để các nước này sa vào bẫy do TQ giương ra.

Những nhà bình luận cộng sản nào còn hoan hỉ với lễ đón long trọng chỉ có được thời Hồ - Mao là những người quá ngây thơ, đang sa bẫy TQ.

2. Chính sách xuyên suốt chính trị TQ từ Mao đến Tập hôm nay có thể tổng kết trong 6 chữ: Một VN lệ thuộc, suy yếu.

TQ giúp VN vũ khí, cố vấn quân sư... trong chiến tranh chống Pháp là muốn có 1 VN cộng sản cạnh biên giới phía nam của TQ. Sự giúp đỡ này không vô tư mà xuất phát từ lợi ích an ninh của TQ.

TQ chia cắt VN trên bàn hội nghị Genève năm 1954 là muốn một VN bị chia cắt, yếu bên cạnh TQ.

Bắc VN là vùng đệm an toàn cho lãnh thổ Trung Cộng.

TQ giúp VN vũ khí để đánh Mỹ với điều kiện chỉ được đánh nhỏ, cỡ trung đội, và không được đàm phán với Hoa Kỳ về các điều kiện lập lại hòa bình tại VN.

Nghĩa là VN phải đánh Mỹ đến người VN cuối cùng.

Mọi đàm phán để lập lại hòa bình tại VN đều là biểu hiện của xét lại, của không cách mạng.

Thời kỳ này TQ vô cùng lộn xộn.

Mao phát động Cách mạng văn hóa vô sản. Chính phủ TQ do Chu Ân Lai chèo chống không giúp nông dân TQ qua các nạn đói.

Hàng chục triệu người chết đói.

Trong khi đó, Hoa Kỳ sau thế chiến 2 mạnh hơn bao giờ hết.

Lá bài ủng hộ, bảo vệ Đài Loan là Hoa Kỳ chơi, nhằm làm TQ suy yếu.

Súi dục VN cộng sản sa lầy trong chiến tranh, cung cấp vũ khí, khí tài, quân trang, quân dung... để Bắc Việt làm Mỹ cũng sa lầy ở Miền Nam VN, không rảnh tay chọc phá vào nội bộ yết ớt của TQ lúc bấy giờ, để Mỹ không có điều kiện ủng hộ độc lập của các dân tộc Tân Cương, Tây Tạng... là một kế của TQ, mà VN làm tên lính thực hiện, nhằm bảo vệ an toàn cho lãnh thổ TQ.

Hôm nay ta nói thẳng với Nguyễn Phú Trọng, với Phùng Quang Thanh, với lũ bút nô cộng sản đang ca ngợi TQ đón tiếp Nguyễn Phú Trọng như thời Hồ-Mao rằng: VN không nợ nần ân huệ gì với TQ. Giúp VN lúc bấy giờ làm Mỹ sa lầy, chính là TQ bảo vệ lãnh thổ TQ bằng máu người Việt Nam.

Như vậy ta đã biết TQ trăm mưu ngàn kế từ 2000 năm lịch sử tới cận đại chỉ nhằm làm VN suy yếu, lệ thuộc... để cuối cùng thôn tính, đồng hóa VN.

Trong những năm gần đây kể từ Hội nghị Thành Đô 1990, TQ làm suy yếu VN bằng thắng thầu gần 90% EPC để đưa những nhà máy kỹ thuật lạc hậu vào VN.

Trong dự án Bôxit Tây Nguyên, TQ xúi dục Nông Đức Mạnh, xúi dục BCT ĐCS VN nhằm hiện diện tại địa bàn chiến lược về an ninh của VN, nhằm đưa ô nhiễm môi trường sang VN, và hơn nũa là làm VN yếu về kinh tế do đầu tư khổng lồ mà không có hiệu quả kinh tế.

Tuy vậy trong các mưu kế làm VN yếu, nguy hiểm nhất là TQ sử dụng chiêu hối lộ các ủy viên BCT, các ủy viên TW ĐCS để thực hiện ý đồ làm yếu VN cả kinh tế lẫn quân sự.

Tha hóa các cán bộ chủ chốt của ĐCS VN thông qua các dự án kinh tế với nhưng phong bì lại quả kếch xù, lại do các hãng vô danh tiểu tốt của TQ đảm nhiệm, đã giải thích tại sao các công trình do TQ thực hiện không có lợi cho Tổ quốc VN, cho dân tộc VN, nhưng vẫn được BCT ĐCS VN thông qua, ví họ đã ăn hối lộ của TQ.

Điều này giải thích tại sao việc cho TQ thuê các cánh rừng biên giới có vị trí chiến lược không đem lại bao nhiêu lợi ích kinh tế cho nhà nước VN, có hại to lớn cho an ninh VN, vẫn được BCT ĐCS VN thông qua.

Như vậy chúng ta đã thấy TQ trăm mưu ngàn kế chỉ để nhằm làm VN suy yếu.

Câu hỏi là họ mời Nguyễn Phú Trọng sang thăm vào thời điểm trước cuộc thăm chính thức của Trọng tới Hoa Kỳ nhằm mục đích gì?

Đầu tiên, đây là kế tiếp theo trong liên hoàn kế nhằm phục hồi đội ngũ thân TQ trong ĐCS VN sau vụ giàn khoan 981.

Đầu tiên là Du Chính Thanh sang giúp Trọng và Phùng Quang Thanh chốt danh sách nhân sự cho đại hội đảng năm tới.

Đây là kế câu thời gian.

Hôm nay, Tập Cận Bình trọng vọng đón tiếp Phú Trọng, nói những lời đường mật, mở đường cho bọn việt nô ở VN trỗi đầu dậy với lý do rằng: TQ muốn cùng VN làm ăn kinh tế cùng có lợi, rằng TQ luôn là láng giềng của VN, rằng ổn định chính trị là có lợi cho VN...

Thực tế đây chỉ là ảo tưởng.

Làm cho VN yếu, phụ thuộc là chính sách nhiều đời các tổng bí thư ĐCS TQ.

Tiêu chuẩn số 1 của người kế nhiệm lãnh đạo ĐCS TQ là niềm tin vào thắng lợi của bành trướng nam tiến.

Mời Nguyễn Phú Trọng sang TQ hôm nay, TQ muốn nói với cả thế giới rằng sự kiện giàn khoan 981 chỉ là chuyện nội bộ giữa VN và TQ, chúng tôi đã giàn xếp với nhau ổn thỏa.

Qua mưu kế này, Tập Cận Bình hi vọng sẽ trỗi dậy trong BCT, trong trung ương ĐCS VN những ý kiến chống đối những bước tiến về nhân quyền để cản trở việc gia nhập TTP của VN.

Tóm lại mời Nguyễn Phú Trọng sang TQ hôm nay, Tập Cận Bình muốn giúp Phú Trọng và cánh thân TQ trong ĐCS CVN phục hồi niềm tin vào TQ, gây ảo tưởng vào TQ.

TQ muốn giúp Phùng Quang Thanh đắc cử trong Đại hội đảng cộng sản VN năm tới.

Sau chuyến đi thăm TQ lần này, chắc chắn Nguyễn Phú Trọng và Phùng Quang Thanh sẽ kịch liệt chống đối sự xích lại gần Hoa Kỳ trong chuyến đi thăm tới của Nguyễn Phú Trọng tại Mỹ.

Vậy thì kế hiểm của TQ liên quan gì đến Hải Phòng?

Để trả lời câu hỏi này, tôi xin nhắc lại những cảnh báo mà tôi đã liên tục truyền tải trên các diễn đàn dân chủ: Sự trường tồn của dân tộc VN, dân tộc Lào, Thái Lan, Miến Điện là do hiểm trở của dẫy núi Hoàng Liên Sơn. Vì thế Thoát Hoan đã phải chui ống đồng, vì thế Liễu Thăng bị chặt cụt đầu tại ải Chi Lăng... Chiến tranh gần nhất là cuộc chiến 1979, dân quân và bộ đội địa phương các tỉnh biên giới đã làm quân xâm lược TQ thiệt hại nặng nề do lợi dụng được hiểm trở địa lý.

TQ luôn muốn hóa giải những hiểm trở này nên đã chiếm của VN ải Mục Nam Quan, thác Bản Giốc, các cao điểm quanh ngon đồi 1509 Hà Giang... Họ cũng luôn ngụy tranh những âm mưu thâm độc đối với biên giới Việt Trung bằng các vỏ bọc phát triển kinh tế các tỉnh biên giới.

Hôm nay đề nghị đưa Hải Phòng vào chương trình con đường tơ lụa của Tập Cận Bình chính là mục đích san bằng biên giới VN-TQ. Dẫy Hoàng Liên Sơn hiểm trở sẽ bị đục khoét để thông nhiều làn xe.

Con đường đi đến Hà Nội sẽ rộng mở.

Trước khi tiến quân vào Hà Nội TQ sẽ đưa VN vào bẫy nợ nần, nạn hối lộ mục ruỗng…

Tập Cận Bình sẽ duyệt binh tại Ba Đình. Quân lính giải Nguyễn Phú Trọng bị trói dưới thềm, Bình ngoảng mặt hỏi Du Chính Thanh có tha cho Trọng không, Thanh thưa: Đến Tổ quốc của nó, nó còn bán thì nó làm sao trung thành với TBT được.

Hôm qua VN không giữ Hoàng Sa, Trường Sa, để hôm nay hiểm họa khôn lường với VN, với Đông Nam Á, khi TQ đang xây Trường thành trên Biển Đông.

Hôm nay không cảnh giác với con đường tơ lụa thì ngày mai cả Singapur, cả Lào, Thái Lan, Miến Điên... sẽ cùng nằm trong họa diệt vong.

VN có lỗi rất lớn với các nước Đông Nam Á vì có những lãnh tụ như Nguyễn Phú Trọng.

Nguyễn Nghĩa 650
danlambaovn.blogspot.com