Saturday, December 23, 2017

Monday, December 4, 2017

Uống trà Diệp Hạ Châu hết bệnh GAN nhiễm MỠ ...

Cảm ơn tất cả bạn và cháu đã mua trà tặng cho Bảy VDN ...

Có uống thêm thuốc này @ Nên đi khám BS thử máu lấy toa mua thuốc này
Thuốc Cholurso này trị XƠ GAN 


Uống trà sau hơn 5 tháng và uống thuốc Cholurso ơn 2 tháng. Thử máu kết quả hết bệnh GAN nhiễm MỠ 👏👍🍀🍀💖💖🙏🙏😊

Saturday, November 4, 2017

Wednesday, July 12, 2017

MỪNG Ngày Quốc Khánh Pháp 14 Tháng 7


pha_nguc_bastille-large-contentHình ảnh hội họa về ngày phá ngục Batille.
Nguyễn thị Cỏ May
14 Tháng 7 năm 1789 hay năm 1790" 14 Tháng 7 Năm 1880!
Năm nay, nước Pháp kỷ niệm Quốc Khánh 14 Tháng 7 trong tình hình kinh tế khủng hoảng, công nợ vượt mức tối đa 60% trên sản lượng nội địa theo qui định Liên Hiệp Âu châu vì trên thực tế, Pháp đang bị công nợ lên tới 86%. Chánh phủ từ năm rồi đã bải bỏ bửa “ tiệc Bình dân ” (Garden Party) trong vườn của Điện Elysée vào trưa Ngày Quốc Khánh, tiếc kiệm cho ngân quỉ quốc gia được 732 826 euros (chi phí cho mỗi khách mời 100 euros) .
Garden Party do Cựu Tổng thống Giscard d’Estaing bày ra năm 1979 . Khách mời mỗi năm tăng lần, tới năm cuối 2009 là 7500 người tham dự .
Nhưng phần nghi lễ truyền thống của buổi lễ vẫn không thể hủy bỏ . Như diển binh gồm đủ các binh chủng .
Năm nay Bà Eva Joly, dự bị ứng cử Tổng thống năm tới 2012 thuộc phe Đảng Xanh và Môi trường Âu châu, nguyên Thẩm phán ở Tòa án Paris, gốc Na-uy, mang song tịch vì Na-uy không thuộc Liên Hiệp Âu châu, nhân lễ 14 Tháng 7, tuyên bố “ Nên bỏ diển binh mà thay thế vào đó bằng cuộc diển hành công dân (défilé citoyen) ”.
Thế là pháo nổ rang tuy năm nay Chánh phủ cấm đốt pháo, chỉ có pháo bông vào đêm lễ mà thôi .
Đang chánh thức viếng thăm xứ Gabon ở Phi châu, Thủ tướng François Fillon, ngày 18 / 07, trong cuôc tiếp xúc Pháp kiều nhân buổi Quốc Khánh tổ chức trể ba ngày tại Thành phố Libreville, lên tiếng phê phán Bà Eva Joly về câu tuyên bố của Bà “ …Tôi nghe Bà ấy so sánh cuộc diển binh của Quân đội quốc gia với điều xảy ra ở Bắc hàn . Điều đó chứng tỏ ít lắm là sự thiếu thiện cảm hoặc sự thiếu hiểu biết sâu sắc về những truyền thống và Lịch sự của nước Pháp chúng ta ”. Ông François Fillon tiếp “ Quân đội Pháp diển hành trên Đại lộ Champs-Elysées không phải để biểu dương sức mạnh quân sự quốc gia . Quân đội Pháp diển hành trên Đại lộ Champs-Elysées là để toàn dân chúng ta có thể tỏ lòng biết ơn những kẻ sẳn sàng chết để bảo vệ Tổ quốc . Nghề lính không phải như những nghề khác . Đó là cái nghề duy nhứt khi vào đó, người ta biết mình sẽ hi sanh . Những biến cố gần đây ở A-phú-hản (Afghanistan) cho chúng ta thấy tất cả sự kính trọng và sự biết ơn của chúng ta đối với Quân đội . Vì vậy, tôi có thể nói lớn là tôi tự hào Dân tộc Pháp mỗi năm một lần vinh danh Quân đôi của chúng ta bằng cách tổ chức diển hành trên đại lộ đẹp nhứt thế giới ” .
Tiếp theo phản ứng mạnh của Thủ tướng Fillon, Ông Lionel Luca, Dân biểu vùng Alpes-Maritimes, ngưòi đang soạn dự án luật nhằm giới hạn song tịch cho dân các nước thuộc Liên Hiệp Âu châu, lên tiếng công kích Bà Eva Joly “ Eva Joly cho thấy bà không hiểu biết về lịch sử nước mà Bà muốn đại diện . Đó cũng là bình thường thôi . Tôi biết là mình không có khả năng nói về vai trò của biển, của nghề đánh cá hoặc về cá là thành tố cấu tạo nền văn hóa Na-uy ” .
Ông Jacques Myard, Thị trưởng Thành phố Maisons-Lafitte và Dân biểu, phê bình Bà Eva Joly “ Này Eva, Bà có nhớ Narvik không " “ . Ý của ông muốn nhắc lại chiến thắng đầu tiên của Đồng minh giúp Na-uy trong Đệ II Thế chiến . Ông than phiền “ chắc Bà này không hiểu biết văn hóa cổ về các truyền thống pháp, những giá trị của Pháp, về Lịch sử Pháp ” .
Đảng Xã hội (chủ nghĩa, không cộng sản Đệ III ) với Ông François Hollande, dự bị ứng cử Tổng thống năm 2012, phê phán Bà Eva Joly về lời tuyên bố kia, nhưng chủ ý lật ngược cuộc thảo luận để công kích phe Chánh phủ phái hữu “ Lời phê phán của François Fillon làm tổn thương. Không phải chỉ Bà Eva Joly, mà chung cho tất cả người pháp vừa mới nhập quốc tịch pháp hay có quốc tịch pháp từ lâu” .
Harlem Désir, người lai pháp và phi châu đen, đãng viên Xã hội, cựu Chủ tịch SOS Racisme do Cựu Tổng thống Xã hội Mitterrand cho tiền thành lập năm 1981 để chống lại đảng Mặt Trận Dân tộc (Frong National) của Ông Le Pen với khẩu hiệu “ Nước Pháp của Người Pháp”, bày tỏ sự bất mản đối với Thủ tướng François Fillon phê bình Bà Eva Joly đặt lại vấn đề bản sắc dân tộc, mà lại nói ở ngoại quốc ”.
Phe tả, nói chung, vì gốc mác-xít được nuôi dưởng trong tinh thần quôc tế vô sản nên lúc nào cũng bênh vực quan điểm “ công dân ” và “ Cộng hòa ” để bao gồm rộng rải những di dân, mà thật sự là nhằm ve vảng để kiếm phiếu của thành phần này trong các cuộc bầu cử . Họ chỉ biết vì quyền lợi của phe đảng là trên hết . Nước Pháp ngày nay không khá được cũng vì tinh thần phe đảng ấy.
Qua lời đề nghị bỏ diển binh Ngày Quốc Khánh 14 Tháng 7 của Bà Eva Joly và phản ứng mạnh và gay gắc của phía Chánh phủ, chúng ta thấy có hai cái nhìn về Ngày 14 Tháng 7 . Thật ra “ Diển hành công dân” như Bà Eva Joly đề nghị không phải là điều mới mẻ gì vì ý này đã được Đảng Xanh đưa ra trong một buổi họp Hội đồng Thị Xã Paris trước đây nhưng bị bác bỏ . Nay Bà Eva Joly lặp lại bị phản ứng mạnh vì Bà đang là dự bị ứng cử Tổng thống năm tới .
Cũng đáng lấy làm lạ là Đảng Môi trường thấy diển binh làm cho họ khó chịu . Đây, mời nghe một đảng viên, ông Yannick Jadot, nói tại sao “ Khi người ta nhắm mắt lại một giây và tưởng tượng một cuộc diển binh trong một xứ, người ta nghĩ ngay tới một nền độc tài ”.
Trong lúc đó, các đảng viên lớn của Đảng Xã hội, như Bà Martine Aubry, Tổng bí thư, bà Ségolène Royal, Chủ tịch Hội đồng Quản hạt Charente-Poitou, đều cho rằng đề nghị của Bà Eva Joly không thể chấp nhận được vì không có ý nghĩa . Nhưng theo giới phê bình về cuộc bầu cử Tổng thống 2012, Bà Eva Joly, qua vòng hai, dể dàng bắt tay với Đảng xã hội hơn hết
Đề nghị bỏ diển binh của Bà Eva Joly trong Ngày Quốc Khánh quả thật làm bất mản phần lớn Chánh giới Pháp vì như vậy tỏ ra thiếu lòng kính trọng những chiến sĩ tranh đấu cho Tự do .
Ngày Quốc Khánh 14 Tháng 7 và Lễ Diển binh
Tại sao có Diển binh ngày 14 / 07 " Tại sao ngày 14 / 07 là Ngày Quốc Khánh " Có những ngày khác quan trọng, như 04/08 xóa bỏ những đặc ân của giai cấp Trưởng giả và Tăng lữ, lại không được chọn"
Nền ĐỆ III Cộng Hòa chọn ngày 14 tháng 7 năm 1880 làm Ngày Quốc Khánh vì muốn gây dấu ấn mạnh cho nền Cộng Hòa non trẻ và đó cũng là ngày mà toàn dân đoàn kết, thống nhứt, từ dân chúng tới các thành phần chánh trị gia
Ngày 14 Tháng 7 năm 1789, dân chúng chiếm pháo đài Bastille . Thật ra, sự đánh chiếm được Bastille không đáng là thành tích ngoạn mục nhưng nó tiêu biểu cho các Dân biểu cách mạng tả phái lúc bấy giờ như là biến cố đánh dấu khởi đầu Cách mạng Pháp, tức chấm dứt xã hội cựu đế và nền quân chủ tuyệt đối .
Để hòa giải với cánh hữu Pháp, đại bộ phận gồm giai cấp quí tộc củ mà Cách mạng đã loại khỏi Chánh quyền, người ta mới lấy Ngày 14 Tháng 7 năm 1790 cử hành Ngày Lễ kỷ niệm đầu tiên chiếm Bastille và gọi là “Lễ Liên hiệp ” với đại diện các Đoàn thể, Dân biểu và dân chúng, nền quân chủ hiến định mới, cùng hô khẩu hiệu “ Nhà Vua muôn năm ".
Dân chúng trong cách mạng 1789 không phải là những quân nhân . Cử hành lần đầu tiên Lễ Liên hiệp năm 1790 cũng không có và không phải là một cuộc diển binh .
Diển binh Ngày 14 Tháng 7 năm 1880 trở thành biểu tượng cho sự phục hồi Quân đội Pháp sau khi bị Phổ đánh bại. Sự kiêu hảnh của dân tộc bị tổn thương vào thế kỷ XIX nay dân tộc muốn đứng lên và Ngày 14 Tháng 7 được ghi đậm nét trong sự phục hận này .
Về ý nghĩa Ngày Quốc Khánh 14 Tháng 7, Thượng Nghị sĩ Henri Martin, trong bản báo cáo, nói rỏ “ Sau Ngày 14 Tháng 7 chiếm lấy Bastille, Ngày 14 Tháng 7 thứ nhì là ngày không tốn một giọt máu, không đổ một giọt nước mắt . Đó là ngày Đại Liên Hiệp . Chúng tôi hi vọng không có ai trong quí vị sẽ từ chối cùng với chúng tôi làm mới lại và duy trì vỉnh viển cái ngày trọng đại ấy như là ngày đoàn kết.hữu nghị mọi phe phái của nước Pháp và mọi công dân pháp trong Tự do và Bình đẳng . Ngày 14 Tháng 7 năm 1790 là ngày đẹp nhứt của Lịch sử Pháp và có thể là ngày đẹp nhứt của chung Lịch sử ….”
Vậy phải nói ngày 14 tháng 7 thật sự là Ngày Thống nhứt Dân tộc do bao nhiêu thế hệ nối tiếp, bao nhiêu chánh khách lớn cùng nổ lực thực hiện mà sau này hậu thế phải nhớ ơn những người ấy . Liên Hiệp, ngày ấy, có nghĩa là sự thống nhứt của ý chí toàn dân.
Những người thuộc phe Xanh và Môi trường, tức khuynh tả, ủng hộ Bà Eva Joly bênh vực quan điểm của Bà khi đề nghị “ diển hành công dân thay thế cho diển binh ” là ý muốn nối lại cái nhìn về một xã hội đề cao “ hạnh phúc được cùng sống chung với nhau ”. Nước Pháp là của mọi người. Không phân biệt chủng tộc .
Những người thuộc phe Xanh và Môi trường chủ trương “Hòa bình” nên cho diển binh là phô trương bắp thit, tức sức mạnh quân sự . Họ chỉ trích quân đội không phải lúc nào cũng chỉ biết phục vụ quyền lợi đích thực của đất nước . Theo họ, nước Pháp và xã hội pháp không muốn Pháp là một nước hiếu chiến và quân phiệt . Diển binh không có nghĩa là kính trọng quân đội pháp .
Đại diện Đảng Xanh và Môi trường ứng cử Tổng thống năm 2012, Bà Eva Joly chủ trương chống lại cánh hữu cầm quyền hiện tại ở Pháp và Đảng Mặt Trận Dân tộc vì cho rằng từ năm 2007, hai lực lượng chánh trị này gây hận thù, làm mất niềm tin ở nhân dân, làm cho mọi người sợ hãi, …
Với người Pháp gốc Việt thì lập trường của Đảng Xanh và Môi trường không gì khác hơn là tinh thần chủ bại, ngụy hòa . Trong chiến tranh ở Việt nam, những người “Chủ Hòa” hay “Phản chiến” (Pacifistes), cả Thầy chùa, Linh mục, Trí thức, văn nghệ sĩ, …. đều lớn tiếng kêu gọi hòa bình tại Miền nam khi chiến tranh do Miền Bắc đem tới . Lên án Miền nam hiếu chiến, kêu gọi Miền nam buông súng là có hòa bình ngay !
Ngày 30 tháng 4 năm 1975 phải chăng là Ngày Hòa bình của họ " Bài học Hòa bình, có không ít người Việt, có tiếng là thông minh, hiếu học, mà ngày nay vẫn chưa học thuộc thì làm sao người Âu Mỹ có đủ sức học ".

Nguyễn thị Cỏ May

Hay Tuyệt Vời - Ngôn ngữ Sài Gòn: Những từ vay mượn từ tiếng Pháp

Sang đến thời kỳ “một trăm năm đô hộ giặc Tây”. Việt Nam nói chung và Sài Gòn nói riêng đã trở thành thuộc địa của Pháp. Vì thế, tiếng Pháp đã ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống văn hóa, xã hội của người Việt.
Tiếng Pháp được sử dụng trong các văn bản, giấy tờ của Chính phủ và trong giảng dạy ở trường và các loại sách báo thâm nhập đời sống thường ngày của người dân.
260 từ ngữ thông dụng của dân Sài Gòn và người miền Nam xưa ít ai còn nhớ
Tiếng lóng Sài Gòn xưa

Chữ Quốc ngữ, vốn được tạo ra bởi một số nhà truyền giáo Tây phương, đặc biệt là linh mục Alexandre de Rhodes (tác giả cuốn Từ điển Việt-Bồ-La năm 1651), với mục đích dùng ký tự Latinh làm nền tảng cho tiếng Việt.
“Latinh hóa” chữ Việt ngày càng được phổ biến để trở thành Quốc ngữ, chịu ảnh hưởng bởi những thuật ngữ, từ ngữ mới của ngôn ngữ Tây phương, nổi bật nhất là văn hóa Pháp.
Khi chiếm được ba tỉnh Nam Bộ, người Pháp đã nắm trong tay một công cụ vô cùng hữu hiệu để truyền bá văn hoá đồng thời chuyển văn hoá Nho giáo sang văn hoá Phương Tây. Tờ Gia Định Báo là tờ báo đầu tiên được phát hành bằng chữ Quốc ngữ vào năm 1865, khẳng định sự phát triển và xu hướng của chữ Quốc Ngữ như là chữ viết chính thức của nước Việt Nam sau này.
Đối với người bình dân, việc tiếp nhận tiếng Pháp đến một cách rất tự nhiên. Người ta có thể nói “Cắt tóc, thui dê” để chỉ ngày Quốc khánh Pháp 14/7, Quatorze Juliet. Người ta có thể dùng tiếng Tây “bồi” nhưng lại không cảm thấy xấu hổ vì vốn liếng tiếng Pháp của mình vốn chỉ đếm được trên đầu ngón tay.
Để tả con cọp, người ta có thể dài dòng văn tự: “tí ti giôn, tí ti noa, lủy xực me-xừ, lủy xực cả moi”. Diễn nôm câu này là một chút màu vàng (jaune), một chút màu đen (noir), nó ăn thịt ông (monsieur), nó ăn thịt cả tôi (moi).
Nhân đây cũng xin nói thêm về những đại danh từ nhân xưng như toa (anh, mày – toi), moa hay mỏa (tôi, tao – moi), en hay ẻn (cô ấy, chị ấy – elle), lúy hay lủy (anh ấy, hắn – lui), xừ hay me-xừ (ông, ngài – monsieur)… Học trò trường Tây, những nhà trí thức khoa bảng hay cả những kẻ tỏ ra “thời thượng” ngày xưa thường dùng những đại từ này. Cũng vì thế có một câu mang tính cách châm chọc: “Hôm qua moa đi xe lửa, buồn tiểu quá nên moa phải đái trên đầu toa” (toa ở đây có 2 nghĩa: toa xe lửa nhưng cũng có ý là toi (anh) trong tiếng Pháp).
Nói thêm về hỏa xa, người Pháp xây dựng đường xe lửa đầu tiên ở Việt Nam tại Sài Gòn từ năm 1881. Đây là đoạn đường ray (rail) từ Cột cờ Thủ Thiêm đến bến xe Chợ Lớn, dài 13km.
Mãi đến năm 1885 chuyến xe lửa đầu tiên mới được khởi hành và một năm sau, tuyến đường Sài Gòn-Mỹ Tho dài 71km bắt đầu hoạt động. Sau đó, mạng lưới đường sắt được xây dựng trên khắp lãnh thổ Việt Nam, dùng kỹ thuật của Pháp với khổ đường ray 1 mét. Tính đến năm 1975 miền Nam có khoảng 1.240km đường ray nhưng vì chiến cuộc nên chỉ được sử dụng khoảng 60%.
Nhà ga cũng có xuất xứ từ tiếng Pháp gare. Ga là công trình kiến trúc làm nơi cho tàu hoả, tàu điện hay máy bay đỗ để hành khách lên xuống hoặc để xếp dỡ hàng hoá. Từ sự vay mượn này ta có thêm những từ ngữ như sân ga, trưởng ga, ga chính, ga xép…
Nhân nói về ga tưởng cũng nên nhắc lại động từ bẻ ghi (aiguiller) tức là điều khiển ghi (aiguille) cho xe lửa chuyển sang đường khác. Trong tiếng Việt, bẻ ghi còn có nghĩa bóng là thay đổi đề tài, chuyển từ chuyện mình không thích sang một đề tài khác.
Xe lửa ngày xưa
Xe lửa ngày xưa
Có những từ ngữ xuất xứ từ tiếng Pháp nhưng vì lâu ngày dùng quen nên người ta cứ tưởng chúng là những từ “thuần Việt”. Chẳng hạn như cao su (caoutchouc), một loại cây công nghiệp được người Pháp du nhập vào Việt Nam qua hình thức những đồn điền tại miền Nam.
Ngôn ngữ tiếng Việt rất linh động trong cách dùng từ ngữ cao su qua các biến thể như giờ cao su (giờ giấc co dãn, không đúng giờ), kẹo cao su (chewing-gum), bao cao su (còn gọi là “áo mưa” dùng để tránh thai hoặc tránh các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục)…
Nhà băng (banque) là một chữ quen dùng trong ngôn ngữ hàng ngày còn xà bông cũng là loại chữ dùng lâu ngày thành quen nên ít người để ý xuất xứ của nó là từ tiếng Pháp, savon. Ở miền Bắc, xà bông được cải biên thành xà phòng, là chất dùng để giặt rửa, chế tạo bằng cách cho một chất kiềm tác dụng với một chất béo. Nổi tiếng ở Sài Gòn xưa có xà bông Cô Ba của Trương Văn Bền, dùng dầu dừa làm nguyên liệu chính.
Chúng ta thấy ngôn ngữ Việt vay mượn từ tiếng Pháp trong rất nhiều lãnh vực. Về ẩm thực, tiếng Việt thường mượn cả cách phát âm đến tên của các món ăn có xuất xứ từ phương Tây. Vào nhà hàng, người phục vụ đưa ra mơ-nuy (thực đơn – menu) trong đó có những món như bít-tết (chữ bifteck của Pháp lại mượn từ nguyên thủy tiếng Anh – beefsteak), những thức uống như bia (rượu bia – bière, được chế biến từ cây hốt bố hay còn gọi là hoa bia – houblon), rượu vang (rượu nho – vin)…
Về thịt thì có xúc-xích (saucisse), pa-tê (paté), giăm-bông (jambon), thịt phi-lê (thịt thăn, thịt lườn – filet). Các món ăn thì có ra-gu (ragout), cà-ri (curry)… Khi ăn xong, khách xộp còn cho người phục vụ tiền puộc-boa (tiền thưởng – pourboire). Ngày nay từ boa hay bo được dùng phổ biến với ý nghĩa cho tiền thưởng, hay còn gọi là tiền phong bao hoặc tiền phục vụ.
Từ rất lâu, ở Sài Gòn xuất hiện các loại bánh mì theo kiểu Pháp, miền Bắc lại gọi là bánh tây với hàm ý du nhập từ Pháp. Có nhiều loại bánh đặc biệt như bánh mì ba-ghét (loại bánh mì nhỏ, dài – baguette), bánh pa-tê-sô (một loại bánh nhân thịt, ăn lúc nóng vừa dòn vừa ngon – pathé chaud), bánh croát-xăng (hay còn gọi là bánh sừng bò – croissant).
Người Sài Gòn thường ăn sáng với bánh mì kèm theo nhiều kiểu chế biến trứng gà như ốp-la (trứng chỉ chiên một mặt và để nguyên lòng đỏ – oeuf sur le plat), trứng ốp-lết (trứng tráng – omelette) hoặc trứng la-cóc (trứng chụng nước sôi, khi ăn có người lại thích thêm một chút muối tiêu – oeuf à la coque).
Gánh hàng rong xưa
Gánh hàng rong xưa
Món không thể thiếu trong bữa ăn sáng là cà phê (café). Cà phê phải được lọc từ cái phin (filtre à café) mới đúng điệu. Người miền Bắc ít uống cà phê nên sau năm 1975 vào Sài Gòn nhiều người đã mô tả cái phin cà phê một cách rất “gợi hình”: “cái nồi ngồi trên cái cốc”.
Ngôn ngữ về trang phục cũng chịu ảnh hưởng rất nhiều từ tiếng Pháp. Bình thường hàng ngày người ta mặc áo sơ-mi (chemise), cổ tay có cài khuy măng-sét (manchette). Khi đi tiệc tùng hoặc hội họp thì mặc áo vét (vest) hay bộ vét-tông (veston) kèm theo chiếc cà-vạt (cravate) trên cổ áo sơ mi. Trời hơi lạnh có thể mặc bên trong áo vét một chiếc gi-lê (gilet) và hai tay mang găng (gants) cho ấm.
Ngay cả quần áo lót bên trong cũng mượn từ tiếng Pháp. Phụ nữ trên thì mang xú-chiêng (nịt ngực – soutien-gorge) dưới thì có xì-líp (slip). Nam giới thì mặc áo may-ô (maillot) bên trong áo sơ-mi. Mặc quần thì phải có xanh-tuya (dây nịt – ceinture) và khi trời nóng thì mặc quần sóc (quần ngắn, tiếng Pháp là short được mượn từ tiếng Anh shorts).
Trang phục có thể được may từ các loại cô-tông (vải bông – coton) hoặc bằng len (làm từ lông cừu – laine). Trên đầu có mũ phớt (feutre, một loại mũ dạ), mũ be-rê (béret, một loại mũ nồi)… dưới chân là đôi dép săng-đan (sandales), sau này người Sài Gòn lại chế thêm dép sa-bô (sabot nguyên thủy tiếng Pháp là guốc).
Đi lính cho Tây thì được phát đôi giày săng-đá (giày của lính – soldat). Loại lính nhảy dù, biệt kích (ngày nay là đặc công) gọi là còm-măng-đô (commando). Một đoàn xe quân sự có hộ tống được gọi là công-voa (convoi, trông cứ như con voi trong tiếng Việt!).
Thuật ngữ quân sự chỉ những công sự xây đắp thành khối vững chắc, dùng để phòng ngự, cố thủ một nơi nào đó được gọi là lô-cốt có xuất xứ từ blockhaus. Ngày nay, chữ lô cốt còn được dùng chỉ những nơi đào đường, thường được rào chắn, vây kín mặt đường, cản trở lưu thông.
Xưa kia cảnh sát được gọi qua nhiều tên: mã-tà (xuất xứ từ tiếng Pháp matraque, có nghĩa là dùi cui), sen đầm (gendarme), phú-lít (police), ông cò (commissaire)… Lực lượng thuế quan (ngày nay gọi là hải quan) được gọi là đoan (douane), lính đoan còn có nhiệm vụ đi bắt rượu lậu là một mặt hàng quốc cấm thời Pháp thuộc.
Nông phẩm thì có đậu cô-ve (còn gọi tắt là đậu ve – haricot vert), đậu pơ-tí-poa (đậu Hòa Lan có hột tròn màu xanh – petits-pois), bắp sú (bắp cải – chou), súp-lơ (bông cải – chou-fleur), xà lách (salade), cải xoong (còn gọi là xà lách xoong – cresson), cà-rốt (carotte), ác-ti-sô (artichaut)…
Tiếng Tây cũng đi vào âm nhạc. Từ điệu valse, tango… đến đàn piano (dương cầm), violon (vĩ cầm), kèn harmonica (khẩu cầm)… Ở các đăng-xinh (khiêu vũ trường – dancing) luôn có ọc-két (ban nhạc – orchestre) chơi nhạc và xuất hiện một nghề mới gọi là ca-ve (gái nhẩy – cavalière). Ngày nay người ta dùng từ ngữ ca-ve với ý chỉ tất cả những cô gái làm tiền, khác hẳn với ý nghĩa nguyên thủy của nó.
Người phương Tây dùng nhiều sữa và các sản phẩm của sữa nên đã đưa vào ngôn ngữ tiếng Việt những từ ngữ như bơ (beurre), pho-mát (fromage), kem (crème)… Nổi tiếng ở Sài Gòn có hai nhãn hiệu sữa Ông Thọ (Longevity) và Con Chim (Nestlé) như đã nói ở phần trên.
Có người cắc cớ thắc mắc, đàn ông mà lại là ông già thì làm sao có sữa? Xin thưa, hình tượng “Ông Thọ chống gậy” trên hộp sữa chỉ muốn nói lên tuổi thọ (longévité) của người dùng sữa. Trường hợp của Nestlé cũng vậy. Con Chim thì làm gì có sữa? Thực ra thì logo của Nestlé là một tổ chim (gồm chim mẹ và 2 chim con) nhưng người Việt mình cứ gọi là sữa Con Chim cho tiện.
Cũng vì thế mới có nhiều câu chuyện khôi hài về sữa Con Chim. Chú Ba Tàu, chủ tiệm “chạp phô”, giải thích vì sao sữa Con Chim lại bán với giá mắc hơn những sữa khác: “Sữa con bò vì có nhiều vú nên rẻ, sữa mẹ chỉ có 2 vú nên đắt nhưng Con Chim nhỏ chút xíu, vắt được 1 lon sữa là quý lắm thì phải mắc tiền nhất chớ!”.
Thế mạnh của Nestlé là các sản phẩm sữa bò khác như Núi Trắng (Lait Mont-Blanc) và sữa bột Guigoz. Ngày xưa, những gia đình trung lưu đều nuôi con bằng sữa bột Guigoz. Tôi vẫn còn nhớ cảm giác khi ăn vụng một thìa Guigoz của em út: vừa bùi, vừa béo, những hạt sữa nhỏ ly ty như tan ngay trong miệng.
Sữa bột Guigoz được chứa trong một cái lon bằng nhôm, cao 15cm, có sọc ngang, bên trong lại có sẵn thìa để giúp người pha dễ đo lường. Khi dùng hết bột, các bà nội trợ không vứt lon như những loại sữa khác vì lon Guigoz có nắp đậy rất kín nên được “tái sử dụng” trong việc đựng đường, muối, tiêu, bột ngọt…
Những người thiết kế lon Guigoz chắc hẳn chưa bao giờ nghĩ cái lon lại có nhiều công dụng sau khi sữa bột ở bên trong đã dùng hết. Lon Guigoz đã theo chân những tù nhân cải tạo như một vật “bất ly thân”. Những người “tưởng đi học có 10 ngày” mang theo lon Guigoz để đựng các vật dụng linh tinh như bàn chải, kem đánh răng, vài loại thuốc cảm cúm, nhức đầu để phòng khi cần đến.
Lon Guigoz thường được chúng tôi gọi tắt là “lon gô”. Học tập càng lâu lon gô càng tỏ ra “đa năng, đa hiệu”. Muốn múc nước từ giếng lên thì dùng gô làm gàu, buổi sáng thức dậy dùng gô làm ly đựng nước súc miệng, nhưng gô còn tỏ ra đặc biệt hữu ích khi dùng như một cái nồi để nấu nước, thổi cơm, luộc măng (lấy ở trên rừng), luộc rau, luộc khoai mỳ (“chôm chỉa” khi đi “tăng gia sản xuất”)… nghĩa là làm được tất cả mọi công việc bếp núc.
Sửa Bột Rau – Guigoz
Sửa Bột Rau – Guigoz
Chúng tôi ở trong một căn cứ cũ của Sư đoàn 25 tại Trảng Lớn (Tây Ninh) nên có cái may là còn rất nhiều vỏ đạn 105 ly. Người cải tạo săn nhặt những vỏ đạn về và chế thành một cái lò “dã chiến” và lon gô để vào trong lò vừa khít, tưởng như 2 nhà thiết kế vỏ đạn và lon gô đã ăn ý với nhau “từng centimét” ngay từ khâu thiết kế ban đầu! Ai chưa có lon gô thì nhắn gia đình tìm để đựng đồ ăn mỗi khi được vào trại “thăm nuôi”.
Sau 30/4/75 lon gô trở nên hữu dụng vì công nhân, sinh viên, học sinh dùng lon gô để đựng cơm và thức ăn cho bữa trưa. Người Sài Gòn thường đeo một cái túi đựng lon gô khi đi làm, một hình ảnh không thể nào quên của “thời điêu linh” sau 1975.
Tình cờ tôi bắt gặp trang web của Pháp quảng cáo bán lon sữa Guigoz cho những người sưu tầm, giá lên tới 15 euro cho một lon Guigoz xưa, dĩ nhiên là chỉ có lon không, không có sữa!
Người Pháp khi đến Việt Nam mang theo cả chiếc ô-tô (xe hơi – auto, automobile). Xe xưa thì khởi động bằng cách quay ma-ni-ven (manivelle) đặt ở đầu xe, sau này tân tiến hơn có bộ phận đề-ma-rơ (khởi động – démarreur). Sau khi đề (demarrer), xe sẽ nổ máy, sốp-phơ (người lái xe – chauffeur) sẽ cầm lấy vô-lăng (bánh lái – volant) để điều khiển xe… Về cơ khí thì người Sài Gòn dùng các từ ngữ như cờ-lê (chìa vặn – clé), mỏ-lết (molete), đinh vít (vis), tuốc-nơ-vít (cái vặn vít – tournevis), công-tơ (thiết bị đồng hồ – compteur), công tắc (cầu dao – contact)…
Bây giờ nói qua chuyện xe đạp cũng có nhiều điều lý thú. Chiếc xe đạp trong ngôn ngữ Việt mượn rất nhiều từ tiếng Pháp. Trước hết, phía trước có guy-đông (thanh tay lái – guidon), dưới chân có pê-đan (bàn đạp – pedale), săm (ruột bánh xe – chambre à air) và phía sau là bọc-ba-ga (để chở hàng hóa – porte-bagages).
Chi tiết các bộ phận trong xe đạp cũng… Tây rặc. Có dây sên (dây xích – chaine), có líp (bộ phận của xe đạp gồm hai vành tròn kim loại lồng vào nhau, chỉ quay tự do được theo một chiều – roue libre), rồi phanh (thắng – frein) ở cả bánh trước lẫn bánh sau. Thêm vào đó còn có các bộ phận bảo vệ như gạc-đờ-bu (thanh chắn bùn – garde-boue) và gạc-đờ-sên (thanh che dây xích – garde-chaine).
Mỗi chiếc xe đạp xưa còn trang bị một ống bơm (pompe) để phòng khi lốp xe xuống hơi. Bên cạnh đó người ta gắn một chiếc đy-na-mô (dynamo – bộ phận phát điện làm sáng đèn để đi vào ban đêm). Tôi còn nhớ khi tháo tung một cái dynamo cũ thấy có một cục man châm gắn vào một trục để khi trục quay sẽ sinh ra điện.
Hồi xửa hồi xưa, đi xe đạp không đèn vào ban đêm rất dễ bị phú-lít thổi phạt nên nếu xe không đèn, người lái phải cầm bó nhang thay đèn! Sài Gòn xưa có các nhãn hiệu xe đạp mổi tiếng như Peugoet, Mercier, Marila, Follis, Sterling…
Đó là những chiếc xe đã tạo nên nền “văn minh xe đạp” của những thế hệ trước và một nền “văn hóa xe đạp” còn lưu lại trong ngôn ngữ tiếng Việt của người Sài Gòn xưa
Nguyễn Ngọc Chính/hinhanhvietnam.com