Tuesday, December 8, 2009

BẢN TUYÊN NGÔN QUỐC TẾ NHÂN QUYỀN MÀ NHÀ NƯỚC "CHXHCNVN" ĐÃ LONG TRỌNG KÝ KẾT THỰC HIỆN (nhưng không bao giờ tuân theo)



Xét rằng: Sự công nhận nhân phẩm của tất cả con người trong đại gia đình nhân loại và những quyền bình đẳng không thể tước đoạt của họ là nền tảng của tự do, công lý và hòa bình trên thế giới.

Xét rằng: Hành vi xem thường và chà đạp nhân quyền đã dẫn đến những hành động man rợ, xúc phạm đến lương tâm nhân loại. Việc tiến đến một thế giới trong đó tất cả mọi người được hưởng sự tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, không còn lo sợ hãi và nghèo khó, phải được tuyên xưng như là ước vọng cao nhất của con người.

Xét rằng: Nhân Quyền cần phải được bảo vệ bằng luật pháp, để con người không bị bắt buộc phải sử dụng đến biện pháp cuối cùng là vùng dậy chống lại độc tài và áp bức.

Xét rằng: Mối quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia cần được khuyến khích và mở rộng.

Xét rằng: Trong Hiến Chương, các dân tộc của cộng đồng Liên Hiệp Quốc đã lại một lần nữa xác định niềm tin vào những quyền căn bản của con người, vào nhân phẩm và giá trị con người, vào quyền bình đẳng nam nữ và cũng đã quyết định cổ vũ cho các tiến bộ xã hội và cải tiến mức nhân sinh trong bối cảnh ngày càng tự do hơn.

Xét rằng: Các quốc gia hội viên đã cam kết hợp tác với Liên Hiệp Quốc, nhằm cổ vũ việc tôn trọng nhân quyền và các quyền tự do căn bản.

Xét rằng: Sự hiểu biết chung về nhân quyền và tự do là điều tối quan trọng để có thể thực hiện đầy đủ sự cam kết trên.

Do đó, Ðại Hội Ðồng Liên Hiệp Quốc long trọng công bố Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền này như là một khuôn mẫu chung cần đạt tới của mọi dân tộc và quốc gia, nhằm giúp cho mọi cá nhân và thành phần của xã hội luôn luôn theo sát tinh thần của Bản Tuyên Ngôn, dùng sự truyền đạt và giáo dục, để nỗ lực phát huy sự tôn trọng các quyền tự do này.

Mặt khác, bằng những phương thức tiến bộ trong phạm vi quốc gia cũng như quốc tế, phải bảo đảm sự thừa nhận và tuân hành Bản Tuyên Ngôn một cách có hiệu lực, trong các dân tộc của các nước thành viên, và ngay cả trong những người dân sống trên các phần đất thuộc quyền cai quản của các nước đó.

Ðiều 1: Mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về nhân phẩm và quyền. Mọi người đều được phú bẩm về lý trí và lương tâm và vì thế phải đối xử với nhau trên tinh thần bác ái.

Ðiều 2: Mọi người đều được hưởng tất cả những quyền và tự do được công bố trong Bản Tuyên Ngôn này và không có một sự phân biệt nào, như chủng tộc, màu da, phái tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hay tất cả quan điểm khác, quốc tịch hay nguồn gốc xã hội, tài sản, nơi sinh, hay tất cả những hoàn cảnh khác. Hơn nữa, cũng không được có sự phân biệt nào đối với con người sống trên một quốc gia hay trên một lãnh thổ, căn cứ trên cơ chế chính trị, nền tảng luật pháp hay quy chế quốc tế của quốc gia hay lãnh thổ đó. Cho dù quốc gia hay lãnh thổ này độc lập hay dưới sự bảo hộ, không được tự trị hay ở trong tình trạng bị hạn chế về chủ quyền.

Ðiều 3: Mọi người đều có quyền sống, quyền tự do và an toàn cá nhân.

Ðiều 4: Không ai bị cưỡng bức làm nô lệ hay tôi đòi. Chế độ nô lệ và buôn bán nô lệ dưới mọi hình thức đều bị nghiêm cấm.

Ðiều 5: Không một người nào phải chịu cực hình, tra tấn, hay bất kỳ hình thức đối xử, hoặc trừng phạt bất nhân, hay có tính cách lăng nhục.

Ðiều 6: Ở bất cứ nơi nào, mỗi người đều có quyền được công nhận tư cách con người của mình trước pháp luật.

Ðiều 7: Tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, và phải được bảo vệ một cách bình đẳng, không kỳ thị phân biệt. Tất cả đều được quyền bảo vệ ngang nhau, chống lại mọi kỳ thị vi phạm Bản Tuyên Ngôn này, cũng như chống lại mọi kích động dẫn đến kỳ thị như vậy.

Ðiều 8: Mọi người đều có quyền được bảo vệ và bênh vực bởi các cơ quan tư pháp quốc gia có thẩm quyền về các hành vi vi phạm các quyền căn bản, do Hiến Pháp và Luật Pháp quy định.

Ðiều 9: Không một ai bị bắt bớ, cầm tù hay lưu đày một cách độc đoán.

Ðiều 10: Mọi người đều có bằng nhau quyền được phân xử công khai và công bằng, trước một tòa án độc lập và vô tư, để được phán quyết về các quyền lợi và nhiệm vụ của mình, hay về những tội phạm mà mình bị cáo buộc.

Ðiều 11:

(1) khi truy tố trước pháp luật, mọi người được xem là vô tội, cho đến khi pháp luật chứng minh là có tội, trong một phiên tòa công khai và tòa án này phải cung ứng tất cả mọi bảo đảm cần thiết cho quyền biện hộ của đương sự.

(2) Không ai có thể bị kết án khi có những hành động hay sơ suất xảy ra vào lúc mà luật pháp của quốc gia hay quốc tế không qui định đó là một hành vi phạm pháp. Tương tự như vậy, không được áp đặt một hình phạt nào nặng hơn hình phạt được ấn định vào lúc hành vi phạm pháp xảy ra.

Ðiều 12: Không một ai bị xâm phạm một cách độc đoán về đời sống riêng tư, gia đình, nhà ở, hay thư tín, cũng như bị xúc phạm danh dự hay tiếng tăm của mình. Mọi người đều có quyền được luật pháp bảo vệ, trước những xâm phạm và xúc phạm như vậy.

Ðiều 13:

(1) Mọi người có quyền tự do di chuyển và cư trú, trong phạm vi biên giới của quốc gia.

(2) Mọi người đều có quyền rời khỏi lãnh thổ bất kỳ nước nào, kể cả nước của mình, và quyền trở về xứ sở

Ðiều 14:

(1) Trước sự ngược đãi, mọi người đều có quyền tị nạn và tìm sự dung thân tại các quốc gia khác.

(2) Quyền này không được kể đến, trong trường hợp bị truy nã thật sự vì các tội phạm không có tính chính trị, hay do những hành vi trái với những mục tiêu và nguyên tắc của Liên Hiệp Quốc.

Ðiều 15:

(1) Mọi người đều có quyền có quốc tịch.

(2) Không một ai bị tước bỏ quốc tịch, hay bị từ chối quyền thay đổi quốc tịch, một cách độc đoán.

Ðiều 16:

(1) Nam và nữ trong tuổi trưởng thành có quyền kết hôn và lập gia đình, mà không bị hạn chế về lý do chủng tộc, quốc tịch hay tôn giáo. Nam nữ đều có quyền bình đẳng lúc kết hôn, trong đời sống vợ chồng và lúc ly hôn.

(2) Hôn nhân chỉ có thể tiến hành khi cả hai đều được tự do quyết định và đồng ý thật sự.

(3) Gia đình phải được xem là một đơn vị tự nhiên và căn bản của xã hội, và được quyền bảo vệ của xã hội và quốc gia.

Ðiều 17:

(1) Mọi người đều có quyền sở hữu tài sản cá nhân cũng như tập thể.

(2) Không ai có thể bị tước đoạt tài sản của mình một cách độc đoán.

Ðiều 18: Mọi người đều có quyền về tự do tư tưởng, nhận thức và tôn giáo. Quyền này bao gồm cả quyền tự do thay đổi tôn giáo hay tín ngưỡng, cũng như quyền tự do biểu lộ tôn giáo hay tín ngưỡng của mình, với tư cách cá nhân hay tập thể, ở nơi công cộng hay nơi chốn riêng, bằng sự truyền dạy, thực hành, thờ phượng và áp dụng các nghi thức đạo giáo.

Ðiều 19: Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ quan điểm. Quyền này bao gồm sự tự do quan điểm mà không bị xen vào quấy rầy và được tự do tìm kiếm, thu nhận và quảng bá tin tức và tư tưởng qua mọi phương tiện truyền thông bất kể biên giới.

Ðiều 20:

(1) Mọi người đều có quyền tự do hội họp và lập hội, một cách ôn hòa .

(2) Không một ai có thể bị cưỡng bách gia nhập vào một đoàn thể.

Ðiều 21:

(1) Mọi người đều có quyền tham gia vào việc điều hành xứ sở của mình, một cách trực tiếp hay qua các đại biểu được tuyển chọn một cách tự do.

(2) Mọi người đều có quyền đón nhận những dịch vụ công cộng của quốc gia một cách bình đẳng.

(3) Ý muốn của người dân phải là nền tảng của quyền lực chính quyền. Ý muốn này phải được thể hiện qua các cuộc bầu cử định kỳ và thực sự , bằng phiếu kín, qua phương thức phổ thông và bình đẳng đầu phiếu, hay các phương thức tương đương của bầu cử tự do.

Ðiều 22: Vì là thành viên của xã hội, mỗi người đều có quyền an ninh xã hội, qua các cố gắng của quốc gia và hợp tác quốc tế, dựa theo phương cách tổ chức và tài nguyên của mỗi nước. Quyền này được đặt trên căn bản của sự thụ hưởng những quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa, cần thiết cho nhân phẩm và sự phát triển tự do của mỗi cá nhân.

Ðiều 23:

(1) Mọi người đều có quyền làm việc, quyền tự do chọn việc làm, quyền được hưởng các điều kiện làm việc chính đáng và thuận lợi đối với công việc, và quyền được bảo vệ chống thất nghiệp.

(2) Mọi người, không vì lý do kỳ thị nào, đều có quyền được hưởng lương bổng như nhau cho cùng một công việc.

(3) Mọi người làm việc đều được quyền hưởng thù lao một cách công bằng và thích hợp, khả dĩ bảo đảm cho bản thân và gia đình mình một cuộc sống xứng đáng với nhân phẩm, cũng như được trợ giúp nếu cần, qua các phương thức bảo vệ xã hội khác.

(4) Mọi người đều có quyền thành lập và tham gia vào các nghiệp đoàn, để bảo vệ quyền lợi của mình.

Ðiều 24: Mọi người đều có quyền nghỉ ngơi và giải trí, kể cả việc hạn chế hợp lý số giờ làm việc, và các ngày nghỉ định kỳ có trả lương.

Ðiều 25:

(1) Mọi người đều có quyền được hưởng một mức sống phù hợp với sức khỏe và sự no ấm cho bản thân và gia đình bao gồm: thực phẩm, quần áo, nhà ở, y tế và các dịch vụ xã hội cần thiết, quyền an sinh trong lúc thất nghiệp, đau ốm, tàn tật, góa bụa, tuổi già hay các tình huống thiếu thốn khác do các hoàn cảnh ngoài khả năng kiểm soát của mình.

(2) Các bà mẹ và trẻ con phải được hưởng sự chăm sóc và trợ giúp đặc biệt. Tất cả mọi trẻ con, sinh có hôn thú hay không, đều được xã hội bảo vệ một cách bình đẳng.

Ðiều 26:

(1) Mọi người đều có quyền được giáo dục. Giáo dục phải được miễn phí, ít nhất là ở bậc tiểu học và căn bản. Giáo dục tiểu học phải bắt buộc. Giáo dục kỹ thuật và chuyên nghiệp phải được mở rộng và giáo dục đại học phải được mở rộng bình đẳng cho mọi người, trên căn bản tài năng xứng đáng.

(2) Giáo dục phải được điều hướng để phát triển đầy đủ nhân cách, và củng cố sự tôn trọng nhân quyền và các quyền tự do căn bản. Giáo dục phải nhằm cổ vũ sự cảm thông, lòng khoan dung, và tình hữu nghị giữa mọi quốc gia, mọi nhóm chủng tộc hoặc tôn giáo, và hỗ trợ việc phát triển các sinh hoạt của Liên Hiệp Quốc nhằm duy trì hòa bình.

(3) Cha mẹ có quyền ưu tiên chọn lựa phương cách giáo dục dành cho con cái mình.

Ðiều 27:

(1) Mọi người đều có quyền tự do tham gia sinh hoạt văn hóa cộng đồng, thưởng thức các bộ môn nghệ thuật, và cùng chia xẻ các tiến bộ khoa học cũng như các lợi ích của khoa học.

(2) Mọi người đều có quyền được bảo vệ về tác quyền, trên bình diện tinh thần cũng như quyền lợi vật chất, đối với các tác phẩm khoa học, văn chương, hay nghệ thuật.

Ðiều 28: Mọi người đều có quyền đòi hỏi được sống trong một trật tự xã hội và trật tự quốc tế, trong đó các quyền và các tự do được đề cập trong Bản Tuyên Ngôn này có thể được thể hiện đầy đủ.

Ðiều 29:

(1) Mọi người đều có bổn phận đối với cộng đồng nào mà chỉ trong đó mới có thể phát triển toàn vẹn và tự do nhân cách của mình.

(2) Trong việc hành xử nhân quyền và thụ hưởng tự do, mọi người chỉ phải chịu những hạn chế do luật định, và những hạn chế này chỉ nhằm mục tiêu bảo đảm sự thừa nhận và tôn trọng nhân quyền, và quyền tự do của những người khác, cũng như nhằm thỏa mãn những đòi hỏi chính đáng về luân lý, trật tự công cộng, và nền an sinh chung trong một xã hội dân chủ.

(3) Trong bất cứ trường hợp nào, nhân quyền và những quyền tự do này cũng không được hành xử trái với những mục tiêu và nguyên tắc của Liên Hiệp Quốc.

Ðiều 30: Không một điều nào trong Bản Tuyên Ngôn này được hiểu và hàm ý cho phép một nước, một nhóm hay một cá nhân nào được quyền có những việc làm hay hành động nhằm hủy diệt nhân quyền và tự do được thừa nhận trong bản Tuyên Ngôn này.

Liên Hiệp Quốc, ngày 10 tháng 12 năm 1948.

Monday, November 30, 2009

Sự Thay Đổi Đã Đến Gần

I. Mở đầu: Chưa bao giờ như bây giờ, số người quan tâm đến hiện tình đất nước ngày một đông, lan toả đến mọi tầng lớp nhân dân. Có thể tóm lược: hiện ta có thể chống đỡ được Trung Quốc để khỏi trở thành như Triều Tiên, Miến Điện. Có phải chúng ta đang khủng hoảng nhiều mặt, thể chế hiện hành có thể chấn chỉnh để trụ được hay phải thay đổi triệt để mới mong có sức tồn tại và vươn lên.
Mặc dù trong kỳ Đại hội vừa rồi mọi góp ý đều không được lắng nghe, mọi người vẫn kỳ vọng vào đại hội sắp tới. Thời thế thay đổi, liệu tiếng nói của dân có giá trị gì. Xin hãy chờ xem!

II. TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM
a. Nỗi sợ Trung Quốc:
Dù chỉ tiếp cận sơ qua, ai cũng thấy Trung Quốc thật đáng ngưỡng mộ: người đông vô kể, đất rộng như vô tận, thiên nhiên hùng vĩ và kỳ thú, những công trình xây dựng cũ mới thì đều đồ sộ đến mức khó ngờ. Sách nhiều vô kể, nội dung hay đến mức để đời. Qua lịch sử, khi loài người còn mông muội, Trung Quốc đã có nhiều phát minh…
Mấy chục năm nay, như có chiếc đũa thần, Trung Quốc vụt lên giàu có, nhiều ngành khoa học đạt mức thế giới, quân sự bùng phát. Trung Quốc như đang thách thức, như đang tranh giành ngôi đầu bảng thế giới.
Cái sợ hãi hơn là sợ não trạng con người Trung Quốc. Xem trong chuyện cổ, nhiều nghìn năm trước đến giờ, biết bao nhiêu gương mặt gian ngoan, mưu lược. Phụ nữ lại còn ghê gớm hơn, ngay cuối thế kỷ 20 mà Giang Thanh còn mưu mô làm Vua bà nước Tàu…
Các nhà phân tích kết luận: khi nàoTrung Quốc mạnh là Trung Quốc bành trướng. Bây giờ Trung Quốc đang muốn xuống Phương Nam. Cái cửa cần mở là Việt Nam, mà Việt Nam lại là cái gai khó gỡ.
Một nhà ngoại giao kỳ cựu đã chua chát: "Trung Quốc thì gian ngoan, mưu lược, còn chúng ta thì dại dột, cả tin. Các người đi trước và bản thân tôi đã nhiều lần bị họ lừa".
Chúng ta choáng ngợp, rồi tự ti, rồi lo sợ và cuối cùng bị khuất phục. Còn có ai đó bị bẫy sập để trở thành tôi tớ, xét cũng là điều dễ hiểu.
Trong lịch sử, Trung Quốc đã từng thôn tính nhiều đất đai, nhiều dân tộc để có được tầm vóc như ngày nay. Trung Quốc đã đô hộ Việt Nam 4 lần và cũng bị Việt Nam nhiều lần đánh đuổi.
Ngay gần đây, các vị cầm đầu cũng cho Trung Quốc những đòn đau nhớ đời: diệt Pôn Pốt làm tan cái tiền đồn phương Nam của Trung Quốc. Đặng Tiểu Bình phát điên lên gọi "Việt Nam là bọn côn đồ" dọa và thực hiện "cho Việt Nam một bài học". Những người tham dự cuộc chiến tranh biên giới xác nhận là về mặt quân sự Việt Nam ở thế thắng. Rồi Việt Nam đuổi người Hoa. Lẽ dĩ nhiên họ ra đi không thể mang theo nhà cửa, đất đai…
Ta đăng ký thềm lục địa có nghĩa là đòi xác lập chủ quyền ở Biển Đông. Ta mua tàu bay, tàu ngầm, ta quan hệ với các nước để có liên minh quân sự…Ta chờ đón những phản ứng mãnh liệt từ phía Trung Quốc nhưng cuối cùng cũng chỉ có vài pha "tàu lạ", vài lần Trung Quốc bắt nạt ngư dân thế cô, giữa biển khơi.
Ta sợ vì ta yếu, vì ta không có lực lượng. Lực lượng của ta là lòng dân, sức dân. Ta lại đang đối xử với dân có thể nói là tàn tệ. Chính ta tiêu diệt sức sống của bản thân ta.
"Người ta mạnh vì anh quỳ gối" – có lẽ đúng. Trung Quốc không phải muốn làm gì thì làm. Hãy thức tỉnh, hãy can đảm, hãy chấp nhận mọi giải pháp, dù thế nào miễn là giữ vững được chủ quyền đất nước.
b. Về việc giao tiếp cụ thể với Trung Quốc:
Đây không phải là phân tích, đánh giá, kết luận… chỉ là những việc xảy ra gần đây, được liệt kê để bàn soạn, chiêm nghiệm:
1. Việc bô xít Tây Nguyên: không nghe nói gì đến việc khởi động, làm con đường sắt 300 KM có độ chênh 70m, làm cảng, làm kho, làm bể chứa bùn đỏ. Nếu làm, không biết 5 hay 7 năm có xong không? Thế mà hôm nay đã làm nhà máy, cái trước chưa làm, cái sau đã làm.
Liệu người ta có mang những thứ cũ kỹ thải loại sang lắp đặt tại Việt Nam rồi sau đó sản xuất theo lối thô sơ, thành phẩm chuyển về bằng đường giao thông, còn môi trường thì không quan tâm – Thành một việc đã rồi và sẽ có Bô Xít "Thổ phỉ" Tây Nguyên như than "Thổ Phỉ" Quảng Ninh !
2. 1000 năm Thăng Long Hà Nội và 2010, năm hữu nghị Việt Trung:
Nếu ông Đào nói nhỏ với ông Mạnh "chuyện cha ông chúng ta xung đột đã có từ lâu, nay khơi ra làm gì, nó ảnh hưởng đến 16 chữ vàng. Chi bằng làm vừa vừa thôi. Chúng ta tập trung vào làm cái "Năm hữu nghị …" thế mới là thực sự củng cố mối tình của chúng ta. Làm to vào, thiếu tiền Trung Quốc tài trợ. Chả có cách nào để ông Mạnh không chấp hành.
Trong một năm ngắn ngủi, dân Hà Nội vừa nghe tiếng voi gầm ngựa hí, vừa nghe tiếng lanh canh chạm cốc.
Biết đâu đấy, đây còn là cái "cân tiểu ly" của ông Đào để xem câu đồn đại: "Người Trung Quốc ghét người Mỹ và người Nhật nhưng ghét nhất là người Việt Nam. Còn Việt Nam ghét nhất người Trung Quốc" đúng sai đến mức nào?
3. Mở rộng Hà Nội:
Nhiều người nói, không biết gì, kể cả ông chủ tịch Hội quy hoạch có người nói không có căn cứ. Có người bạo miệng: Việt Nam bị người xúi dại.
Các lãnh tụ Cộng sản đều ít nhiều mắc bệnh cuồng vĩ: Liên Xô biến sa mạc thành vườn nho, táo; Việt Nam có đường dây 500 KV, có đường Hồ Chí Minh… và cái gì cũng thấy " nhất" Đông Nam Á. Ta không có đủ tiền, không có kỹ thuật; lúc ấy Trung Quốc xui làm gấp, cho vay tiền, chẳng lẽ mình từ chốiThế rồi người Trung Quốc đưa phong cách Trung Hoa vào, rồi người ta vận dụng câu nói của Tôn Văn: "Ở đâu có dấu ấn văn hóa Trung Hoa là đất đai của Trung Quốc" – Ta mất hay còn?
Không hiểu sao Myanma cũng thân Trung Quốc thì thủ đô lại đi vào xóm núi. Việt Nam cũng thân Trung Quốc thì thủ đô lại mở rộng gấp 4 lần. Hay là người ta muốn Việt Nam: thiếu hụt bối rối và hỗn loạn.
4. "Hãy gác tranh chấp, hãy cùng nhau hợp tác khai thác"
Khẩu hiệu thật hay. Tôi tin là Trung Quốc đã đọc truyện Trạng Quỳnh, sẽ áp dụng mưu Trạng Quỳnh đối với bà Chúa Liễu trong chuyện bà Chúa có ruộng, Trạng Quỳnh có công trồng tỉa…Ta lấy lực đâu mà cùng khai thác, cử ai đến cùng quản lý thì chắc một tuần là họ sẽ trở thành người Trung Quốc.
Nghĩ đến con đường huyết mạch Biển Đông với tài nguyên phong phú cũng thấy lo, cũng thấy Trung Quốc quyết liệt là dễ hiểu.
5. Việc đặt quan hệ đối tác giữa các tỉnh của hai bên biên giới:
Thật là tốt đẹp – Ta rất cần việc này vì ta còn sản xuất nhỏ lẻ, việc quan hệ giữa hai tỉnh sẽ giản dị hóa quan hệ giữa hai quốc gia. Có tỉnh họ còn mạnh không kém gì nước ta. Liệu Trung Quốc có âm mưu chia cắt, thâm nhập rồi thôn tính từng phần. Các tỉnh của chúng ta có sức mấy mà chống đỡ được.
6. Người ta quan tấm đến Đại hội sắp tới sôi nổi hơn nhiều so với Đại hội đã qua. Quan tâm đến nhân sự đại hội xem có ai thân Tàu, ai là người của Tàu… coi đó là cái thước đo đất nước còn mất đến đâu.
c. Người xưa có câu: "Đi với Bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy". Người đời nay căn dặn: "Có những người sau khi gặp họ, bắt ta rồi phải xem lại tay ta có thiếu ngón nào không?"
Việt Nam hiện nay làm việc gì cũng phải nghĩ đến Trung Quốc. Đó là một chỉ dẫn quan trọng. Đó là "biết người".
Có lẽ, mọi người Việt Nam cần đào sâu suy nghĩ: "Mình đứng cương vị gì, mình bảo vệ đất nước ra sao trước Trung Quốc?". Còn nếu chấp nhận "nghèo thì hèn, mạnh thì được, yếu thì thua" và hơn thế nữa. " Cứu nhà hơn cứu nước? Cứu thân mình hơn cứu Chúa?" thì coi như mất nước. Đó là "biết mình".

III. HÃY NHÌN LẠI CHÍNH MÌNH
Ta luôn nói ta có nhiều thành tích. Nhưng nhiều năm qua ta vẫn bị xếp vào danh sách các nước nghèo nhất. Ta nên bình tĩnh xem lại chính mình. "Không nghe anh nói, hãy nhìn anh làm".
Ta hãy có cái nhìn khái quát hiện tình trên một vài mặt:
a. Tam nông:
Trong tam nông có quá nhiều bê bối, người ta cho rằng do ta giữ quá lâu đạo luật: "đất đai là của toàn dân, do nhà nước quản lý".
Đất đai sản xuất không có sở hữu rõ ràng, không mua, không bán được, không gom góp để đủ sản xuất lớn được… buộc phải sản xuất manh mún, kỹ thuật thô sơ, năng xuất thấp, không chống được thiên tai nên vẫn đói và chán nản. Lại cộng thêm sinh đẻ không kế hoạch, giáo dục quá kém, không có tay nghề, nhân mãn và thất nghiệp tràn lan. Di cư tự do, không có việc làm, tệ nạn xã hội và phạm pháp phát sinh không ngăn nổi.
Nhiều nơi đã tự phát, phá vỡ thế bí này. Phong trào "dồn điền đổi thửa" đã bước đầu đưa sản xuất nông nghiệp có quy mô lớn hơn, tập trung hóa. Nhiều người nông dân góp tiền mua chung máy móc nông nghiệp. Có huyện tổ chức cho các nhóm nông dân vay tiền để mua ô tô, để đưa sản phẩm ra thành phố bán. Đã hé lộ những "Ông Kim Ngọc đời mới". Họ sẽ vứt bỏ đạo luật nói trên, rồi họ tạo ra nền sản xuất mới.
Nhiều người băn khoăn: công nghiệp hóa nông nghiệp bao nhiêu nước đã làm, có gì bí ẩn đâu sao ta không làm?
Có người tạm bằng lòng với lời giải thích: Trung Quốc chưa làm thì ta chưa làm; nông dân đông lắm, nguồn gốc của mọi biến động mà lịch sử đã ghi, phải giữ con chủ bài ruộng đất, như cái "mũ kim cô" mới mong an toàn trước họ…Nông dân làm chủ ruộng đất, những người có kỹ thuật, có vốn sẽ áp sát, đẻ ra một liên minh mới, thế thì lãnh đạo sao được.
Tình trạng này chính là nguyên nhân trực tiếp làm xuất hiện đội quân dân oan mất đất mất nhà ngày càng đông đảo trên phạm vi cả nước. Nguy cơ đảng mất nông dân đã là nhãn tiền.
Một hệ quả không ngờ ập tới: đất đai do nhà nước quản lý thế là các cấp chính quyền thao túng. Đầu tư nước ngoài, đô thị hóa buộc phải có đất để phát triển. Thế là đẻ ra: thu hồi, định giá, đền bù, giải tỏa…tiền nong như nước, tham nhũng trước nhỏ, sau to đến nay như bệnh không chữa nổi. Cái dây trói nông dân trở thành cái dây thít cổ các quan tham, làm điêu đứng Đảng và Nhà nước.
Hãy trả ruộng đất cho nông dân, mở đầu việc công nghiệp hóa nông nghiệp.
b. Không phát huy vai trò cá nhân, không dùng người tài, hội họp quá nhiều:
Tôi thuộc gia đình viên chức chế độ cũ, tôi lại có điều kiện tiếp xúc với bộ máy nhà nước vào các năm 1945, 1954, 1975 thế kỷ trước. Tất cả họ, ngành nào, cấp nào đều thành thạo nghiệp vụ, hiểu hết chức trách, cấp nào có bằng cấp học vị cấp ấy. Họ cũng có các thiếu sót như ta hiện nay nhưng dứt khoát là không có tình trạng: không làm được việc.
Tôi thấy qua các bước thăng trầm của đất nước: dành được độc lập, chiến tranh và xây dựng đất nước…bao giờ cũng gắn thành công hay thất bại vào một số người hay một người đứng đầu. Hiện nay ta mờ mịt: không biết việc này từ đâu đến, vì sao phải làm, luôn luôn ứng phó, luôn phải sửa sai và cũng không thiếu dấu diếm, đổ thừa.
Tôi tại thấy ở các nước, các nhà khoa học, các nhà bác học, các chuyên gia họ tập hợp theo ngành vào các tổ chức phi chính phủ. Họ theo dõi tình hình, họ tranh luận, họ đưa ra các kiến nghị, các biện pháp…. Có tổ chức được nhà nước tài trợ. Ngoài ra các Viện hàn lâm, các viên nghiên cứu của các trường đại học cũng tham gia vào việc phản biện và đề xuất.
Không phải ta thiếu người để xây dựng ra bộ phận này nhưng chính là ta không biết làm, không chịu làm. Bộ phận lãnh đạo chính trị thì phe cánh, tranh chấp, không có người tài. Bộ phận khoa học kỹ thuật thì bị chèn ép. Người giỏi bị loại ra ngoài vòng, còn bị cấm đoán nên giữ miệng, kín tiếng. Còn bộ máy nhà nước thì nhiều bất cập, nhiều xấu xa, ai cũng biết.
Nguyên nhân tụt hậu đã rõ, bệnh đã định nhưng thuốc chưa có. Có lẽ phải bình tĩnh chấn chỉnh từ lãnh đạo, sao cho có người có tâm, có tầm để họ quy tụ các tài này, để họ chấn chỉnh lại bộ máy nhà nước.
Sao nhiều phòng họp thế? Sao người ta cứ thay đổi kiểu ghế, mỗi ngày thêm oai vệ. Hôm nay Quốc hội họp, thấy các tay ghế to quá, chiếm nhiều diện tích và phản cảm.
Thế rồi hội họp liên miên, cổ cồn, cà vạt, trang trọng không biết có cái gì mới, hay là người ngồi đấy mà hồn lang thang nơi đâu?
Cũng cần xem lại câu: "Đảng bao giờ cũng đúng, tập thể bao giờ cũng sáng suốt". Cho nên lấy việc hội họp làm chính để rồi chỉ ăn và đi họp, còn cái sáng suốt không biết tìm ở đâu?
Có lẽ ta phải thay đổi: đề cao vai trò cá nhân, con người phải được đào tạo lại, phải đánh giá khác đi, phải sử dụng khác đi… có nghĩa là tất cả phải thay đổi.
Ông cha ta nói: ‘Hiền tài là nguyên khí quốc gia"
Nguyễn Mạnh Tường nói: "Tập thể là cái vô nghĩa".
Nguyễn Công Trứ thì bốp chát hơn: "Một đàn thằng ngọng đứng xem chuông. Nó bảo nhau rằng ấy cái "uông".
Còn Xê khốp thì chế diễu: "Những cái đầu rỗng tuếch ngồi sau những bộ bàn ghế bằng gỗ bồ đào".
c. Xây dựng kinh tế các nhóm lợi ích
Khi mở cửa, khi đón đầu tư nước ngoài, ai cũng nghĩ rằng: ta sẽ học, ta sẽ làm, ta sẽ có tất cả như các nước, ta tiến bộ, ta thừa sức theo kịp thiên hạ…Lúc đầu ta bàn nhiều đến cái thiếu sót, cái thua thiệt, coi đó là học phí với sự an ủi thầm kín. Đến nay, cũng đã nhiều năm: hãng Sony ra đi, ta không thấy nói gì đến ngành điện tử, ta có bao nhiêu hãng ô tô mà nay không thấy cái gì gọi là ô tô Việt Nam…Hóa ra xét tiến bộ đầu tư nước ngoài lấy số tiền đầu tư để đánh giá, còn nền công nghiệp của ta là một việc khác. Kết quả: mất đất, mất môi trường, sức lao động bị bán rẻ. Trong khi ấy, đồng ruộng cần máy móc nông nghiệp, phân bón; học sinh cần máy tính, người lớn cần điện thoại di động…thì tất cả của nước ngoài.
Những cái cũ ta có: gạo, café, cao su, bao nhiêu năm nay không giải quyết được ổn thỏa việc thu mua, chế biến, tồn trữ cứ vẫn như xưa. Cái ta có ưu thế tuyệt đối thì cũng không ổn định.
Những cái có mới, không ít, có thể chia ra hai loại: loại làm ra vì mục đích chính trị, nhằm khoa trương, kèm theo câu "nhất Đông Nam Á" như đường Trường Sơn, đường dây 500KV, hay như điện nguyên tử đến nay chưa có số lượng nhân lực ban đầu…Có cái khác thì thấy ai có thì học theo như Hà Nội bên Sông Hồng và Hà Nội rộng gấp 4 lần…; Loại thứ hai là thiếu hiểu biết kỹ thuật, bỏ ngoài tai ý kiến của các nhà khoa học, tự cho "chính trị là thống soái", rồi chống cả trời đất như việc quản lí đô thị: Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội: nạn ngập lụt người ta cảnh báo bao nhiêu năm, đã thấm đòn ở thành phố Hồ Chí Minh, đến nay lại xảy ra ở khu Mỹ Đình, nơi đỉnh cao của kiến trúc đô thị Việt Nam. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá mà không đi từ nông nghiệp, không công nghiệp hoá nông nghiệp, quy hoạch đô thị thì "Treo", không có luật nhập cư, công nghiệp hoá, xuất khẩu lao động thì bỏ rơi đào tạo nghề… các việc này người ta làm ở Châu âu từ thời kỳ Napoléon – Cái "Đảng bao giờ cũng sáng suốt", "Tập thể bao giờ cũng đúng" đi đâu mất rồi? Thế mà cứ bô bô "Năm này, năm kia ta sẽ hiện đại hóa, công nghiệp hóa!"
Còn một điều vô cùng nhức nhối: làm gì cũng nói sẽ vay vốn ODA, cứ vay rồi ai trả? Kinh tế thị trường mà không có vốn. Số nợ này là bao nhiêu? Ai biết?
Nếu chỉ có như trên thì đi một lẽ, nó lại có cái lẽ thứ hai, như rắn thêm chân:
Khi chúng ta còn bao cấp thì Philippin, Indonexia đã đi vào phát triển kinh tế. Các nhóm gọi là "nhóm lợi ích" đã ra đời. Nó là mối liên kết của những người kinh doanh, sản xuất với các người nắm quyền, họ đồng lõa quyết định mọi việc, từ đó rút ruột nhà nước, chiếm đoạt tài sản quốc gia… có khi đó là gia đình các nguyên thủ quốc gia như: Tổng thống Mác cốt, tổng thống Su hác tô phải ra tòa và ngồi tù là thế.
Ở ta thì những người thân quen, con cháu người cầm quyền từ TW đến cấp tỉnh đều núp bóng cha anh để làm ăn. Dân chỉ rõ công ty này là của ai? Công ty kia là của ai? Rồi những người có quyền chức ủng hộ cái này,diệt cái kia vì hối lộ…nền sản xuất bị chết từ trong trứng.
Indonexia, Philippin, Việt Nam có chung một bệnh, Philippin trước đây còn mạnh hơn ta mà nay suy thoái. Dù có nền dân chủ sơ khai mà không vực được nền kinh tế lên được.
Chưa hết, hiện nay Trung Quốc thâm nhập vào nền kinh tế Việt Nam, thâm nhập bằng cả quyền lực chính trị. Nếu như họ lại có trong tay các nhóm lợi ích hay là các nhóm lợi ích hai bên kết hợp với nhau thì có lẽ nền kinh tế Việt Nam đi đứt.
Việc phân tách kinh tế Việt Nam với các mô thức, chỉ số, công thức xin dành cho các kinh tế gia, chưa chắc các kinh tế gia đã làm được vì lẽ tình hình bị che dấu.
Thiếu nhìn xa trông rộng, không có quy hoạch, thiếu kiến thức, thiếu óc phân tích, không có các biện pháp phù hợp là một phía. Phía khác là nạn tham nhũng tràn lan, cùng với ý thức có quyền hành thì cứ làm, rồi che dấu, xuyên tạc, có thể là nguyên nhân của các nguyên nhân.
d. Hoàn toàn thất bại trong lĩnh vực tư tưởng, văn hóa:
Tôi bị bất ngờ : cùng một lúc nhiều người mà Đảng coi là tinh hoa, là tiêu biểu cho nền tư tưởng, văn hóa xã hội chủ nghĩa, đều lên tiếng phỉ báng Đảng. Có người đốt tác phẩm rồi nhịn ăn mà chết. Có người quên hết mình đã có những gì mà chỉ nhớ bài thơ, bài hát đầu đời khi chưa biết Đảng. Có người sau 30.4 gặp lại bạn văn thời xưa đã khóc mà nói là mình đã đóng kịch bao năm…Tóm lại họ tự nhân mình là "văn nô". Trần Đức Thảo thì ra đi trong đau khổ; Nguyễn Khắc Viện thì giữ khoảng cách đầy kiêu hãnh; còn Nguyễn Mạnh Tường thì lạnh lùng rời bỏ. Họ là người được thế giới ngưỡng mộ,nhân dân yêu mến.
Triết học, văn học, nghệ thuật, các khoa học khác để lại là tác phẩm. Tác phẩm gắn với con người – Thế là ta không còn tác phẩm, không còn con người. Thế là ta mất hết.
Rồi đây các hồi ký, các di cảo của nhiều người còn nói lên nhiều nữa: Nguyễn Đình Thi, Chế Lan Viên…
Cụ Tô Hoài theo Đảng, lúc Tây Bắc, lúc đồng bằng, ca ngợi Đảng hết lời, đột nhiên cho ra "Ba người khác". Nếu cụ còn loại này, xin cụ kịp thời cho ra mắt bạn đọc để Đảng ghét cụ, cụ qua đời sẽ lờ cụ đi, mọi người sẽ đưa cụ đi an nghỉ nơi có côn trùng nỉ non, có hoa có lá, có trời xanh nước biếc và sẽ để bên cụ "Dế Mèn phiêu lưu ký". Cụ chậm chạp, Đảng vẫn mến mộ cụ, cụ mất, sẽ đưa cụ vào Mai Dịch, rồi con cháu cụ xuất bản di cảo; lúc ấy các vị nằm quanh cụ sẽ đánh đòn "hội chợ" cụ và mọi người sẽ cười cả Đảng, cả cụ, một trận cười vỡ bụng.
Thời Pháp thuộc, 80 năm mất 20 năm bình định, gần 10 năm vì chiến tranh thế giới, dân ta chỉ có 20 triệu… lao động tay chân, hỏi lấy gì mà người Pháp xây dựng nổi Sài Gòn, Hà Nội, Đà Nẵng, đường xuyên Việt, đường sắt Bắc Nam vươn tới Vân Nam… Phố Tây Hà Nội thiết kế cho xe ngựa, nay ô tô như kiến, không tắc, không ngập. Nhà hát lớn, Cầu Du me, phủ Toàn quyền, các công viên, bảo tàng sau hơn 100 năm vẫn bền vững, vẫn đẹp…đẹp mà lại hợp lý… Còn ta, cũng cao, cũng to, cũng rộng… còn hơn các cái cũ nhưng không gây được ấn tượng nào, vào trong, đi, đứng, làm việc gặp nhiều bất tiện. Đó là vì, đây là một ngành khoa học không phải có tiền là cứ xây, vừa xây xong thì ngập lụt…Một nghiên cứu nói rằng: từ xa xưa, từng lớp thống trị nào cũng xây dựng các công trình đồ xộ coi như biểu tượng của chế độ, ta có thể cũng ở vào tình thế này. Các tỉnh, huyện, các ngành nào của ta cũng có não trạng này. Kết luận này có cơ sở ở chỗ, người ta coi hình thức hơn nội dung, coi nhà cửa, phòng họp, hhội trường quan trọng hơn con người. Con người không cập nhật với nhiệm vụ, với trách nhiệm. "Quan trí" cần phải nâng cao là lời nói cửa miện của người dân.
Gần đây rầm rộ lên cái gọi là cấm phản biện công khai, rồi quản chặt báo chí. Người ta kêu trời vì sự xuống cấp của đạo đức xã hội. Vấn đề quá dài, chưa thể đề cập nhưng phải nhận là đạo đức, là một mặt đời sống tinh thần, nó nở hoa hay méo mó cùng một nguyên nhân, cùng một kết quả với văn học, nghệ thuật.
Nguyên nhân của sự sa sút quá đáng của mặt văn hóa, tư tưởng của ta có phải là kết quả của sự lãnh đạo của Đảng: mọi việc phải theo ý lãnh đạo, một hình thức toàn trị về tinh thần, tư tưởng. Nó thui chột mọi sáng tạo cá nhân. Trước đây còn lờ mờ, nhưng nay đã lộ rõ.
Trước đây, văn học, nghệ thuật có phong trào, có chủ soái, có đấu tranh, có ngành phê bình như thơ mới chủ soái là Phan Khôi, Tự lực văn đoàn với Khái Hưng, Nhất Linh, họ sáng tác, họ tranh luận, họ phê bình… có phong trào rộng khắp trong nhân dân – Thật kỳ lạ! Đó mới là thời kỳ nở rộ về văn hóa, lại xuất hiện trong thời kỳ thuộc địa, dân lại 95% không biết chữ. Phải chăng văn học, nghệ thuật được tự do mới bay bổng. Cái gọi là "Tính Đảng", "Lề phải", "Lề Trái"trong văn học nghệ thuật, trong thông tấn báo chí là thuốc độc. Có khác gì người uuóng rượu khen rượu làm cho họ hưng phấn, họ mạnh lên.
đ. Khủng hoảng lãnh đạo:
Lịch sử đã chứng minh, một đất nước vượt lên đều gắn liền với một cá nhân kiệt xuất. Napoleon khi đã là Hoàng đế, triệu tập chuyên gia để làm luật dân sự, sự hiểu biết của ông vê luật làm mọi người ngỡ ngàng. Ông giải thích: khi còn trẻ, là trung úy đã bị phạt giam, trong phòng giam có sách, ông đọc thế rồi ông nhớ. Đạo luật "Sổ lao động"… là của Napoleon tồn tại đến giờ. Hồ Chí Minh, Lý Quang Diệu, Lý Thừa Vãn, Đặng Tiểu Bình, Tưởng Kinh Quốc đã minh định kết luận trên.
Với cái não trạng, cái lề lối làm việc của chúng ta hiện nay không thể chọn được người tài; ta lấy mục tiêu giữ vững chuyên chính, ai trung thành với ta thì ta chọn, chọn người thân cận, chọn người quanh ta… Người tài thì ở khắp nơi, họ đâu phục ta, quý ta, tin ta mà theo ta, rồi có theo ta lại nhiễm những thói xấu của ta, họ cũng thui chột. Cách của ta chỉ phù hợp với một chế độ đóng cửa, nghĩa là hàng chục năm mọi việc cứ năm sau như năm trước: không xuất cảnh, không Internet, không giao lưu, du học nước ngoài… mọi người câm nín. Giá Đảng Cộng sản Việt Nam giữ như Triều Tiên, Cu Ba…ông Fidel nghỉ, ông Ra-un thay; Ông Kim Nhật Thành mất, Ông In làm, có phải nhẹ nhàng, ăn chắc không?
Có điều rõ ràng nhất, chưa thấy một ai trong số 15 người khổng lồ, tỏ ra có các điều kiện của một chính khách: thiếu nhìn xa, trông rộng, không phân tích được tình hình để có kế sách phù hợp, làm hỏng rồi chữa, nói mãi mà không làm được
Thực ra chưa ai chuẩn bị cho mình thành chính khách, chưa ai đi theo một chínhkhách đích thực để làm học trò…
Ông Ôbama nói dài, viết dài, xem kỹ lại là các chuyện thời thơ ấu, các điều răn dạy làm người. Ông đi khắp nơi để bàn về hòa bình, sao không còn thấy ông lớn tiếng dài hơi… Cương lĩnh của ông chỉ có 3 chữ: "Phải thay đổi!". Ông đẩy mạnh hòa bình, dân chủ bằng diễn đàn toàn cầu, bằng lời góp ý với các nước. Có gì rầm rộ đâu. Ông biết rằng chỉ có hòa bình mới ngăn chặn Trung Quốc làm liều, chỉ có dân chủ, nhân quyền người dân Trung Quốc mới đổi thay số phận. Ông không đến Việt Nam nhưng những việc ông làm là nỗi khát khao của Việt Nam: dân chủ và hòa bình. Dân chủ trong ôn hòa mới mong tránh được kiếp chư hầu. Ông Oobama được giải thưởng Nobel là đúng. Vừa bước lên sân khấu nhưng giọng hát, lời ca đã đi ngay vào lòng người. Ông Ôbama chuẩn bị cuộc đời mình, cuộc đời của một chính khách xuất sắc, động thái đó hiển hiện ngay từ ngày đầu cầm quyền.
Hôm nay, ai cũng nhận định là tình hình đất nước nhiều bê bối. Nhiều người cho rằng xuất phát từ sự lãnh đạo của Đảng mà cụ thể là từ Bộ chính trị.
Nói cho rõ hơn là từ sau WTO, nếu ta cởi mở về chính trị thì tình hình có thể khác đi, nhưng ta vẫn giữ nguyên nếp cũ. Ngày hôm nay ta ngẫm lại xem, ta vẫn như xưa. Vẫn một nền nếp hội họp, ban hành các quyết định rồi cái thì làm được, cái thì làm được một nửa, có cái nói mà không làm hoặc nói một đàng làm một nẻo… vẫn dài dòng, thiếu sức sống, cũng ngày càng thêm nặng nề. Nặng nề đến mức tự Bộ chính trị phải kêu ầm lên là suy thoái, nói cả đến việc sẽ bị "tự diễn biến" từ trong nội bộ. Có người nói, nền nếp lãnh đạo của ta 60 năm rồi vẫn thế.
Tình hình chính trị như vậy là do sức sống của Bộ chính trị. Bộ chính trị không có một người gọi là chủ soái, nhóm này hôm nay thiểu số, mai lại đa số, nên có người nói một chính thể mà hai đường lối… mà lại không giữa chừng thay được như người ta, phải chờ đến Đại hội, đến Đại hội vẫn nhùng nhằng như vậy, thế là suy thoái dài dài, ta tụt hậu sau các nước cùng cảnh ngộ trước đây nhiều chục năm.
Nói riêng từng người, đến hôm nay không một ai gây được cảm tình từ trong nhân dân, ấy là chưa kể đến có người bị người đời dè bỉu. Kể cũng tội, nhiều ngườiđược Cụ Mười, Cụ Anh tôn lên, mà hai Cụ nào có biết ai là người tài. Các Cụ có cái chuẩn là kẻ nào bảo được là trung thành với chế độ, đó là chuẩn số 1. Ai làm cũng được, nên đã có chức, có quyền là tự tin ngay. Đầy tự tin mà kém cỏi thì đúng là: "giao quyền hành cho kẻ kém cỏi, khác nào giao súng cho thằng điên". Choáng ngợp trước quyền hành, giữ quyền hành đến cùng, nhưng lại không làm được việc, lại không tự giác thừa nhận, do đó bưng bít, tránh né. Và cuối cùng là nội bộ mâu thuẫn, nội bộ đã loại trừ nhau…Đất nước gánh chịu tất cả.
Đó là một cơ chế xây dựng quyền lực lạc hậu, nó kìm hãm sự phát triển.
Cơ chế này, lúc này lại phải đối mặt với hai thách thức, cùng một lúc ập đến: ta phải hòa nhập với thế giới phương tây để phát triển. Trung Quốc thâm nhập nước ta, mối đe dọa ta phải phụ thuộc họ đã quá rõ ràng. Bộ máy lãnh đạo tối cao của ta như đang bó tay, thế là ta vừa lạc hậu, vừa nô lệ như một sức nặng đè ta nghẹt thở. Bộ máy lãnh đạo tối cao lúc này như đang nghĩ quẩn, trong một tình thế quẫn.
Tôi không hề oán giận các vị. Vì lẽ con người bị hoàn cảnh chi phối, nhào nặn là lẽ thường. Tiếc rằng các vị không ai được bồi đắp để trở thành chính khách, có quyền lại không có một cơ chế ràng buộc, kiểm soát thì tất yếu xảy ra tình hình vừa là nạn nhân, vừa là tội nhân.
Có lẽ lúc này tìm cách để thay đổi, vớt vát lại. Cái gì cho bản thân, cái gì cho đất nước lầ con đường tốt nhất.
Gần đây việc dùng bạo lực tràn lan: bắt bớ, giam cầm, xét xử các nhà dân chủ, với các tội gán ghép;…. Sô sát, đàn áp giáo dân, phật tử, tu sĩ; bịt miệng, mạt sát các trí thức, bắt bớ, xét xử các nhà báo… có nghĩa là đánh tất cả. Không hiểu nhà nước, Đảng dựa vào ai để tồn tại. Hay là như người ta nói: khi sắp tan rã thường một chính quyền…tăng cường đàn áp.
Dựa vào công an để tồn tại; không được vì một khi trong Bộ chính trị đang có sự chia rẽ thì Công an nghe ai? Công an thi hành các mệnh lệnh đơn lẻ thì được, nhưng đại cục, lúc có biến động lớn thì không thể tin được. Nhân dân biểu tình, ngực đeo biển "Tôi là nhân dân", tay họ cầm hoa…liệu những người cầm súng có chúc mũi xuống đất như ta đã thấy khi bức tường Berlin bị rỡ bỏ không? Đó là cảm nhận của đông người.
Dựa vào Trung Quốc để tồn tại! Tôi chưa hiểu dựa như thế nào, không biết kịch bản Trung Quốc cứu sự đổ vỡ của Đảng và chính quyền Việt Nam ra sao? Tôi chỉ thấy con đường duy nhất tồn tại trong thân phận tôi đòi cho Trung Quốc. Không thể nói là tồn tại mà phải nói là đã bán đứt linh hồn cho quỷ sứ.
Gần đây đã lộ rõ một đường lối của Phương Tây: cụm lại để kiềm chế Trung Quốc. Dù có nhiều điều không bằng lòng họ vẫn hồ hởi với Việt Nam, vì Việt Nam còn yếu, nhưng lại vì "Ai giữ được Việt Nam, người ấy chiếm được thế giới!". Có sai lầm không khi nói:Trung Quốc là một nước có nhiều cà rốt, một nước đã từng dạy Việt Nam về lễ nghi, về cách ứng xử nhưng sao lại dùng cách lấn át, lăng nhục, cướp bóc và tàn sát… Nếu Trung Quốc thật khỏe còn khá, nếu chỉ là bề ngoài khỏe thì khả năng Trung Quốc nắm phần thua là điều không thể không xẩy ra.
Trước mắt 15 người khổng lồ, cái bàn cờ độc lập và dân chủ đã bày rõ: đi với Trung Quốc thì mất nước, còn Đảng, còn quyền nhưng lại là đầy tớ, đi với Phương Tây thì mất quyền nhưng còn nước, chỉ mất thân phận tôi đòi. Mà đi với Phương Tây thì phải dân chủ, dân chủ thì phải phát động quần chúng, giao quyền cho quần chúng. Một sự lựa chọn khó khăn cho người này, rõ ràng, dứt khoát cho người kia.
Có thuyết đu đưa giữa hai thế lực và hình như chưa đâu áp dụng - một thuyết đưa hai thằng thông minh vào cuộc có lợi cho thằng dốt! Thế thì chúng ta chọn ra 2 người đi, đưa ông Ôbama và Ông Hồ Cẩm Đào vào cuộc để rồi cử một nhà ngoại giao Việt Nam đứng giữa để thu lợi cho Việt Nam. Thuyết đu đưa giữa 2 thế lực chỉ là cái thuật trong việc tranh chấp cụ thể, không thể đưa thành thuyết nọ, thuyết kia. Ông đại sứ Việt Nam ngồi vào HĐBA Liên Hợp Quốc tuyên bố xanh rờn: "Không phụ thuộc vào nước lớn", trong khi Trung Quốc lấn át ta bằng đổ máu, bằng giành dật tài nguyên…thật là cười ra nước mắt.
Đất nước lạc hậu kéo dài đến gần nửa thế kỷ, các việc ta làm đổ bể, mất mát nhiều hơn là được. Thế giới đang biến động mà ta chập chững, loay hoay. Con đường đi lên chỉ thấy khó khăn. Phải chăng ta bị ý thức hệ kìm hãm, phải chăng chúng ta chỉ là người trưởng thành trong chiến tranh và bao cấp ! Phải chăng hoàn cảnh quay lưng lại với chúng ta, hoàn cảnh đã vượt chúng ta, hoàn cảnh đã đào thải chúng ta?
e. Sự thay đổi đã đến gần:
Hay là dân chủ hóa đã đến gần. Hay đúng hơn: Dân chủ hóa là có thể. Xét trong phạm vi trong nước, nếu một lòng để Trung Quốc sai khiến thì coi như mất nước; mất một lúc cả độc lập, tự do, hạnh phúc. Có nghĩa là ta một lúc gạt bỏ lịch sử 4000 năm,. Hậu quả là sẽ có biến động, bạo động, ly khai, nổi loạn ở trong nước… Đó là chắc chắn. Không cần biện luận. Đừng hòng có ai sống yên thân.
Xét trong phạm vi thế giới, cái họa Trung Quốc coi như cái họa toàn cầu, thiên hạ đã dứt khoát như thế. Có các động thái họ cụm lại, cụm để hạn chế Trung Quốc. Mà hạn chế Trung Quốc trước mắt phải giải quyết vấn đề Việt Nam. Ông Ôbama đi khắp nơi rao giảng hòa bình, cố gắng thu hẹp các lò lửa chiến tranh. Ông đang bàn thảo để khôi phục lại các căn cứ quân sự Mỹ tại Châu Á – Thái Bình Dương. Thế là vừa lên sân khấu, khúc ca đầu tiên đã cuốn hút lòng người. Giải Nobel của ông không phải là vội vã mà là đích đáng. Các nước Asean lôi kéo Trung Quốc vào bàn đàm phán để hai bên cùng có lợi, ai ngờ việc đầu tiên lại là vấn đề biển Đông. Thế là lờiông Dương Danh Di: "phải chống Trung Quốc nhưng Việt Nam đừng chống một mình", thế giới đã nghe theo, lời ông đúng là: "bụt chùa nhà không thiêng".
Dân chủ hóa lúc này là có thể. Người Việt Nam không bao giờ chịu làm nô lệ. Người Tàu với Việt Nam hình như bao đời không ưu nhau. Dân chủ hóa, chỉ có các quan tham ở 2 nước phản đối vì lo sợ mất tài sản, lo bị trả thù… Một khi lòng yêu nước trỗi dậy họ chấp nhận dân chủ hóa, thế là 100% dân Việt Nam một lòng giữ nước. Các nước trên thế giới: Âu, Mỹ, Asean sẽ hoan nghênh vì trút khỏi nỗi sợ Trung Quốc. Trung Quốc đang bối rối nội bộ, đang che chắn chống phản kháng của thế giới, làm gì có cuộc "động binh" nào chiếm Việt Nam. Cái chủ bài là khống chế được 15 người khổng lồ, nay họ ra đi, thế là hết phép. Truyền thông thế giới nói ít đến khó khăn của Trung Quốc là chưa thỏa đáng.
Nói riêng 15 vị khổng lồ, đến ngày hôm nay khi họ đã đánh tất cả các từng lớp nhân dân, công việc thì bê bối, nội bộ chia rẽ đến phải bộc lộ để dân biết, cố gắng bày ra việc này việc nọ, nhưng còn ai tin, ai nghe. Chứng nào, tật nấy: cứ toàn trị, cứ cấm đoán… đến nỗi biểu tình chống hàng Trung Quốc cũng chờ lệnh… tự nhiên trong cuộc thi thể thao trong nhà lại dám liệt Đài Loan thuộc Trung Quốc, ngang Hồng Công, Ma cao..
Can đảm chấp nhận dân chủ hóa là con đường duy nhất. Có bàn cãi chăng chỉ là ở điểm: chuyển đổi như thế nào?

IV. ĐẢNG TÁCH RA LÀM HAI – MỘT CUỘC CHỈNH ĐỐN ĐẢNG ĐÍCH THỰC.
a. Hãy chấm dứt một cách hiểu sai lệch:
Cựu tổng thống Binclinton nói ở đại học Thanh Hoa: "phản biện sinh ra chân lý", hai phe có những ý kiến khác nhau, đưa ra tranh luận để tìm ra ý kiến đúng nhất, hai bên chấp nhận và cùng nhau hợp tác thực hiện, làm cho mọi việc tốt lên"
Ở ta, nhiều người cho dân chủ là tranh luận để thắng thua…. Dân chủ chỉ có đối lập mà không có đông thuận, không có hợp tác và chung trách nhiệm, chũ đối kháng chữ đa nguyên coi như cấm kỵ ai nói tới điều này là phạm tội hình sự.
Đảng tách ra làm hai: là làm theo đúng tiêu chí trên: chân lý, phản biện, đông thuận, chia sẻ trách nhiệm, cùng hợp tác, cùng thực hiện chân lý, cùng phục vụ nhân dân.
Bài học Thái Lan đã chỉ rõ: dân chủ là đấu tranh để tìm ra chân lý, cái phải đạt là đồng thuận, đồng thuận ở Thái Lan đến chậm chạp quá, khi đạt được phải trái, đúng sai, họ sẽ tiến lên. Bảo rằng họ đánh nhau có nghĩa là đa đảng không tốt. Đó là một sự không hiểu thế nào là dân chủ đa nguyên.
Đảng tách ra làm hai là Đảng vẫn còn, Đảng chấm dứt độc tài, độc đoán, độc quyền chân lý… Đảng sẽ là đảng của dân tộc, của nhân dân một cách đích thực. Đảng mạnh lên, đất nước phồn vinh, dân tộc có chỗ đứng xứng đáng trong cộng đồng quốc tế.
b. Chọn mô thức Đảng tách ra làm hai là một bó buộc:
Toàn trị thì tha hóa. Tha hóa thì suy yếu đi đến tan vỡ. Nói rằng "Đảng tự vỡ", hôm nay không một ai phản bác nhưng tự vỡ như thế nào thì mọi người ngẩn ngơ.
Có cái gì như thầm lặng nói lên là Đảng ta tiếp tục cầm quyền là khiên cưỡng; không ai trong nhóm cầm quyền có những tố chất của một chính khách; toàn Đảng hiện nay lỏng lẻo đến mức chỉ còn là những người cầm quyền; bao nhiêu năm vẫn giữ đất nước trong vòng lạc hậu; nếu để tiếp tục cầm quyền thì nhất định nước ta sẽ bị nước ngoài thôn tính… Vì thế việc thay đổi như là một đòi hỏi sống còn.
Rà soát lại thì không còn hình thức chuyển đổi nào đã có tiền lệ trong lịch sử: không có phe đối lập để làm việc thay đổi; không có phe đối lập có thể dựa vào nước ngoài để gây ra một cuộc chuyển đổi, nếu có chỉ là một cuộc chuyển đổi để mà mất hết. Trong đội ngũ cầm quyền không có một người, một nhóm nào dám đứng lên để gạt bỏ đối phương để một mình lãnh đạo đất nước; lại không có thể có cuộc xâm lăng quân sự để có người anh hùng giải phóng dân tộc rồi làm vua, làm lãnh tụ…
Còn có những bó buộc khác: Đảng phải tập trung những người ưu tú của dân tộc, hiện nay thành phần này và như gần hết nằm trong Đảng nhưng bị lép vế với bao nhiêu nỗi niềm đắng cay. Đảng là Đảng cầm quyền, những người có khả năng này là những người nằm trong Đảng, một khi cờ đến tay họ thì gió có yếu, cờ vẫn bay. Chúng ta còn có bao nhiêu người "cộng sản tử tế", người vào Đảng để phục vụ nhân dân mà không hề băn khoăn cái gọi là ý thức hệ.
Nếu trong việc thực hiện, làm thật khéo léo, được mọi người ủng hộ, người muốn phản đối cũng thấy không có cái gì hơn đành tặc lưỡi chấp nhận, kẻ thù bên ngoài không có chỗ, không có cái lý để can thiệp, và cái yêu cầu nêu rất khiêm tốn, cần đạt được một điểm gốc chứ không đòi hỏi nhiều vì biết rằng dân chủ hóa là một quá trình, còn nhiều gian khổ… Có thể tóm lược các yêu cầu:
Có từ hai đảng, hai đảng kém, hơn hẳn một đảng xấu. Hai đảng thì có phản biện, có công khai, 4 năm một lần dân có thể thổi còi phạt góc, phạt 11m đến truất quyền thi đấu. Nhìn dần quen dần với vai trò làm chủ của mình, chính nhân dân hoàn thiện dần thể chế, có tham khảo những góp ý của các nhà chính trị, văn hóa để đi tới một nền dân chủ dần dần vững chắc.
Đảng viên là người lãnh đạo, đề ra quốc sách, ứng phó mọi cái… thế thì phải thuộc về trí thức; mà trí thức ở nhiều lĩnh vực, với cái ý nghĩa trí thức là người giải quyết được mọi yêu cầu do cuộc sống của đất nước đặt ra. Vậy thì "quý hồ tinh bất quý hồ đa". Một tỉnh có đảng bộ độ 50, 70 người, thành phố có 100 đến 200 người mà có tâm, có tầm, khỏe bằng vạn đảng bộ có 4, 5 hàng con số… Có tâm, có tầm người ta sẽ làm, không gây hậu quả xấu, chỉ có kết quả tốt đẹp.
Việc chuyển đổi sẽ không gây biến động, không làm sáo trộn đất nước, êm ả mà chuyển đổi, chậm chạp và chắc chắn, bó buộc là không ai được để nước ngoài can thiệp, việc làm có tạo ra đồng thuận.
Không đặt ra việc tìm lý luận, đường lối, chủ thuyết. Đây chỉ là bước đi để hình thành tổ chức, cái việc này do tổ chức có chức năng làm. Lý thuyết về Đảng và Hội đã khá phổ biến trên thế giới rồi. Trước mắt phải có tổ chức, tổ chức… thay đổi sao cho tương ứng với nhiệm vụ, với đặc điểm, đó là việc của từng đảng.
Hình thành tổ chức có thể hình dung: chính những người cộng sản thực hiện việc tách đảng, con người vẫn là cộng sản, không ai cướp quyền của Đảng. Lẽ dĩ nhiên có một số người ngoài Đảng xin gia nhập.
Phải coi việc tách đảng là một cuộc chỉnh đốn Đảng cộng sản hiện đang cầm quyền.
Đảng viên của Đảng đang cầm quyền sẽ chia ra 1 số đi theo Đảng mới vừa thành lập, một số vẫn ở trong Đảng như hiện nay, một số sẽ ra khỏi Đảng vì rất nhiều lý do. Các Đảng mới sẽ tự hoạt động. Đảng đang cầm quyền nếu không tự tuyên bố giải thể mà vẫn tồn tại, vẫn hoạt động thì nên tổ chức việc kết nạp lại: những người nhiều tai tiếng, những người không thiết tha với Đảng họ sẽ không đăng ký xin kết nạp lại, thế là bớt đi một phiền nhiễu cả kẻ đi lẫn người ở lại. Các Đảng mới là cứ hoạt động theo một đạo luật mới, đều bình đẳng. Thế là thể chế đa đảng hình thành một cách êm ả.
Không quá coi trọng việc viết văn kiện, việc ra mắt. Cái chính là Quôc hội chấp nhận đại diện tham gia ứng cử Quốc hội lập hiến là mọi việc khai thông.
Giữ nguyên luật pháp hiện hành, luật mới ra đến đâu thì phủ định luật cũ đến đấy, chấp nhận có sự vênh giữa luật và thực tiễn, nhưng chỉ chấp nhận tồn tại thời gian tối thiểu.
Giữ nguyên bộ máy cũ và chấn chỉnh, sửa đổi dần dần, với một nguyên tắc: người cầm đầu phải là người giỏi nhất, người đứng ra chấn chỉnh ngành, chấn chỉnh từ trên xuống. Coi trọng vai trò người cầm đầu, giai đoạn đầu coi như họ tối hậu quyết định.
Giải quyết tham nhũng có ý kiến cần tiếp tục, có phản bác là giai đoạn vừa chuyển đổi, công việc bề bộn, nhân sự chưa ổn định không thể làm việc chống tham nhũng. Có ý khác là vẫn phải làm bằng mọi giá. Lại thêm có ý kiến chống tham nhũng sẽ rối loạn, sẽ không thiếu những đòi hỏi bức súc, không riêng gì đối với chống tham nhũng và còn nhiều vấn đề của nhiều lĩnh vực khác. Có thể nên dành cho các Đảng được thành lập mở hội nghị bàn tròn để giải quyết.

V. LỘ TRÌNH TÁCH ĐẢNG VÀ BAN VẬN ĐỘNG THÀNH LẬP ĐẢNG
a. Thái độ của Bộ chính trị quyết định việc chuyển đổi:
Nếu bộ chính trị chưa cho rằng việc chuyển đổi là cần thiết và coi cuộc vận động là một hành vi phiến loạn rồi ra tay cấm đoán và đàn áp thì mọi việc cứ như hiện tình mà tiến bước, dành cho thời gian phân xử. Đó có thể là một sai lầm dẫn đến mất nước, khác gì là Lê Chiêu Thống. Nếu Bộ chính trị nhận thức được tình hình thế giới hiện nay các cường quốc đã quy về một mối, Trung Quốc gặp khó, không thể muốn làm gì Việt Nam thì làm. Nhân cơ hội này Việt Nam chuyển đổi thể chế thì Trung Quốc đành bó tay. Thế là ta thoát nạn và một thế lâu dài được mở ra. Trường hợp này chỉ cần Bộ chính trị mặc nhiên để cuộc chuyển đổi êm ả diễn ra và cao hơn nữa là mở hội nghị bàn tròn giữa Đảng và các tổ chức vừa hình thành bàn bạc. … Việc chuyển đổi do quyết định đa phương phác ra. Khi chuyển đổi thể chế ở Ba Lan, Ba Lan đã phải họp 25 cuộc họp liên tịch, có nhiều cuộc kéo dài, thời gian đến nửa năm.
Ở Việt Nam đây là đóng cửa bàn chuyện nhà. Sau khi bàn soạn kéo dài, đưa ra tuyên bố giữ đảng và chính phủ với các đại biểu nhân dân về cuộc thay đổi thể chế, ta kéo sang Bắc Kinh để thông báo và xin lời chỉ đạo.. liệu họ sẽ làm gì?
Công việc trong nước không hề thay đổi. Từ trên mọi việc thay đổi dần dần. Có tuyên bố tin này đến nhân dân. Một số người sẽ không vui nhưng vẫn phải bằng lòng. Cuộc thay đổi trong tinh thần cả nước một lòng, gác lại quá khứ, toàn dân giữ nước, toàn dân một lòng xây dựng tương lai.
b. Tình hình hiện nay
Trong tình hình chính trị đất nước hiện nay, cảm thấy là khó có người nào đó đứng ra hiệu triệu thành lập một Đảng chính trị, càng khó hơn ai dám bí mật tập hợp một số người để lập Đảng… dù rằng bản thân người ấy đã là những đảng viên, những quan chức cỡ lớn, có tự tin là mình được nhiều người ái mộ, là mình làm một cuộc dấn thân vì nhân dân. Đây là hạn chế rất lớn. Làm sao để vượt qua? Có thể chấp nhận một bước đi quá độ, một bước thăm dò, một giải pháp để vượt rào có thể thu xếp như sau:
Một số người tự đứng ra vận động thành lập một đảng "Đồng thuận", có tính Đa nguyên, tự xác định nhiệm vụ, lề lối như sau:
Thành phần là những đảng viên, cán bộ đã làm việc lâu năm trong tổ chức Đảng và tổ chức Nhà nước. Tức là có sự am hiểu nhất định về việc và người. Số người này xác định các đối tượng có thể là nòng cốt cho Đảng cần tổ chức để bàn soạn việc chung và riêng.
Ban vận động cần mời được đủ từ 30 đến 50 đối tượng thì coi như hoàn thành nhiệm vụ. Khi mời được người thứ 5, thứ 7 thì những người được mời dĩ nhiên trở thành thành viên Ban vận động.
Khi con số lên đến 30, 50 thì Ban vận động tự giải thể. Ban phụ trách lâm thời của Đảng được ra đời. Từ ấy, mọi việc là của Ban phụ trách lâm thời.
Ban vận động xét cho cùng là một tổ chức "lobby chính trị", một ban liên lạc, một ban thăm dò. Các thành phần trong Ban vận động sau khi hoàn thành nhiệm vụ, lấy thời điểm các ban phụ trách lâm thời các Đảng làm nhiệm vụ thì tự giải thể. Các thành viên Ban vận động dù có khả năng cũng không được tham gia các ban bệ của Đảng mới.
Việc Bộ chính trị không ngăn chặn, không cấm đoán, không khủng bố những người trong Ban vận động thì mặc nhiên có sự ra đời các Đảng mới, thực chất là các Đảng viên hiện nay tách ra coi như Bộ chính trị bật đèn xanh cho việc chuyển đổi thể chế.
c. Cái mô thức dân chủ hóa có thể bị dập tắt trong quá trình thực hiện vì không có sự đồng thuận của đa số trong Bộ chính trị.
Ngược lại mô thức này thành công ở thời điểm luật Bầu cử Quốc hội được ban bố và các Đảng cử đại biểu tham dự mà không bị cản trở.Cái chốt đã được vứt bỏ, chúng ta không cần bàn nhiều, có biết bao nhiêu tài năng được cởi trói, mọi việc có thể tiến hành rất nhanh ngoài sức tưởng tượng của mọi người. Cái não trạng tự mình hù dọa mình sẽ được gột rửa.

VI. VÀI DÒNG KẾT THÚC:
Trung Quốc hình như đã đi quá đà: thế kỷ 19 là của Anh, thế kỷ 20 là của Mỹ, thế kỷ 21 là của Trung Quốc, nhiều người nói thế và các dấu hiệu đã có. "Trung Quốc là con hổ ngủ", điều này khi tôi còn nhỏ đã được nghe, có đến gần 100 năm rồi nhưng vội nói rằng có thể chiếm Việt Nam trong 31 ngày, có thể đánh chiếm Ấn Độ và diệt cả Mỹ… rồi đòi chia đôi biển Thái Bình Dương với Mỹ lấy Hawai làm mốc… Nói thật hay hù dọa. Tôi tin là đã xa đà vào thế đang lên thành ra ngoa ngôn. Các trí thức thế giới hãy nghiên cứu kỹ Trung Quốc để có sự thống nhất nhận định, chỉ đạo cho mọi suy nghĩ và hành động của nhân dân thế giới. Nhân dân Việt Nam có lẽ là người xếp hàng số 1 để có được tài liệu này. Người ta còn nghĩ rằng Trung Quốc đang đi vào con đường của Liên Xô.
Một tình thế mới đang hé lộ: các nước lớn đã thấy mối đe dọa của Trung Quốc, họ như đang cụm lại để ngăn chặn Trung Quốc, cả các nước Asean cũng đã đòi tham gia giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông… Khủng hoảng về tài chính cũng làm cho Trung Quốc bị tổn thương, chưa rõ mức độ, khác với trước đây là đa cực nay hình thành như có hai cực… Điều này là một cái may, là một vận hội chưa bao giờ có. Nếu thế giới ngăn chặn được Trung Quốc thì Trung Quốc không thể chèn ép quá mức Việt Nam. Lúc này là lúc Việt Nam nên có thái độ rõ ràng. Thế giới phải giữ Việt Nam. Trung Quốc phải chiếm được Việt Nam. Trung Quốc mạnh hay thế giới mạnh, thời điểm một mất một còn, dù chon lựa gì thì cũng phải theo Phương Tây, mất Đảng còn nước. Theo Phương Đông mất nước, Đảng còn nhưng là cái xác không hồn, thế là mất cả Đảng cả nước, rồi dẫn đến Hán hóa là mất cả dân tộc. Một sự lựa chon không cần phải bàn cãi. Lúc này là lúc dứt điểm.Còn đối với Trung Quốc vẫn giữ hòa hảo như xưa, không sợ quá mức, hãy xem Trung Quốc gần đây đã hạ giọng rồi…Ta cũng phải kiên trì 16 chữ vàng vì đã nói là "chữ" thì chữ bao giờ cũng đúng. Cái sai là giải thích sai, cái sai là lớn hơn, là thực hiện sai. Ta nên lấy 16 chữ vàng để buộc Trung Quốc phải thực thi. Ta phải giao quyền lực cho Quốc hội để làm chỗ dựa đối nhau với Trung Quốc và luôn nhớ rằng ta không biết tự vệ là thiếu sót của ta.
Lúc này hãy nghiêng hẳn về Phương Tây, lúc này chớp thời cơ để dân chủ hóa, Trung Quốc đang lúng túng, chưa thể "động binh" để diệt ta. Đánh lẻ, ăn chắc trong cái thế toàn cục đang chưa ổn định. Phải chăng là điều có thể.
Đất nước ta hôm nay như trong tình trạng nước sôi lửa bỏng: Trước Đại hội X, mong mỏi của nhân dân là mở rộng dân chủ cho dễ thở, có lực để phát triển và chống được tham nhũng. Trước Đại hội sắp tới, việc Trung Quốc thâm nhập vào Việt Nam quá rõ ràng. Mọi suy nghĩ chuyển thành làm sao giữ được độc lập. Tất cả tập trung hy vọng vào việc dân chủ hóa. Dân chủ hóa sẽ giải quyết được việc trước mắt là độc lập, nhưng cũng một lúc giải quyết tham nhũng và mở đường cho phát triển.
Thế là trở lại khẩu hiệu: "Độc lập – Tự do – Hạnh phúc" của năm 1945
Dân chủ hóa hai chữ ngắn gọn mà ngọt ngào, lại là tất cả trong lúc này./.

Luật Sư Trần Lâm
Tháng 11/2009
ĐT: 0982744326

______________________________________
Đảng CSVN hiện nay đã phản bội bội lại chính cương lĩnh «đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc».Con đường cứu nước của các đảng viên lương thiện đang mở rộng. Qúy vị hãy:

Bước ra khỏi dảng CS hiện tại do Nông Đức Mạnh làm chủ tịch.
Thành lập một đảng CS mới phù hợp với điều 4 hiến pháp 1992 vì đảng cộngsản VN hiện tại không phù hợp với những quy định của điều 4 HP.
Theo tâm nguyện của qúy vị cũng như của tòan dân, chúng ta có thể tạo lập một hội nghị bàn tròn để cùng xây dựng tương lai đất nước trong tình yêu thương truyền thống của dân tộc VN.
Điều 4 (Hiến pháp 1992)
Đảng Cộng sản Việt Nam, (1)đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, (2)đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, (3)theo chủ nghĩa Mác - LêNin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.
Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

Saturday, November 28, 2009

Giá trị của dân chủ...


Hãy hiểu giá trị của Dân Chủ, bảo vệ nó, và đừng để ai cướp nó đi. Cũng đừng chịu thua một chế độ nào, mà phải can đảm đòi hỏi quyền của mình. Nếu không sẽ không bao giờ có thay đổi."

Trèo tường và vượt biển là những quyết định một sống, một chết của người sống dưới chế độ CS, tự đặt đời mình lên chiếu bạc: để hoặc được sống tự do, hoặc chết, chứ không chấp nhận cuộc sống không ra sống. Cho tới nay, đã có gần 1400 người chết khi vượt tường Bá linh và 75,000 người ngồi tù vì âm mưu trèo tường bị phát giác trước khi thực hiện. Về vượt biển, thì đã có gần 1 triệu người bỏ mình trên biển Đông, hoặc bị hải tặc sát hại. Thế mới biết hai chữ "tự do" thực là đắt gíá và chế độ CS bị ghê tởm từ đông sang tây.

Tại Đức, .sau khi bị chia làm đôi, Đông Đức do Nga kiểm soát và Tây Đức do Anh, Pháp, Mỹ chịu trách nhiệm thì đã có khỏang 3.5 triệu người chạy từ Đông qua Tây để tìm tự do. Ngày 12/08/61, Đông Đức đóng cửa biên giới và cho xây bức tường Ô Nhục giữa Đông và Tây Bá Linh để ngăn cản làn sóng tỵ nạn. Bức tường ô nhục với đầy đủ các cạm bẫy giết người này là tác phẩm của Tổng Bí Thư Liên Xô, Kruschev và Đệ Nhất Tổng Bí Thư Đông Đức, Ulbridht. Nhưng bức tường này không ngăn cản được những người dân Đông Đức tìm tự do.

Người ta còn nhớ sau khi kiểm soát Đông Đức, chính quyền Liên Sô đã liên tục thanh trừng nội bộ, bắt bớ và giam cầm những người bất đồng chính kiến, theo dõi kiểm soát dân chúng nghiêm ngặt. Trong khi đó mức sống ngày càng khó khăn, thực phẩm đắt và khan hiếm.. Hơn 1 triệu người Đông Đức đã xuống đường biểu tình. Chính quyền Đông Đức sợ hãi phải vào ẩn trú ở Tổng hành dinh của Hồng quân Liên Sô. Cuộc chống đối đầu tiên này đã bị xe tăng Liên Sô đàn áp thẳng tay, ghì chăt dân Đông Đức dưới xích sắt. .

Tháng 3/1989, Thủ Tướng Hungary, nhận được tín hiệu của Gorbachev, đã gỡ bỏ hàng rào kẽm dọc theo biên giới. Lập tức 60,000 người đông Đức ào ạt chạy sang Tây Đức. Chính quyền Đông Đức không kiểm soát được nữa. Ngày 9/11/89 bức tường Bá Linh hoàn toàn sụp đổ. Người ta nhảy múa, ca hát quanh bức tường. Rồi với bất cứ vật gì có trong tay, người ta đập phá bức tường , và ăn mừng với những lát bánh mì nướng. Ngay cã những người lính Đông Đức cũng tiếp tay phá hủy bức tường này. Ngay trong tháng đầu đã có 2 triệu người Đông Đức tràn qua Tây Đức. Bức tường Bá Linh sụp đổ là cánh cổng mở ra cho nền dân chủ.không phải riêng nước Đức, mà còn của các quốc gia Âu châu khác như Slovakia, Hungary, Balan, Latvia, Slovenia, và Estonia.
Nhiều người thắc mắc đâu là nguyên do chính của sự sụp đổ bức tường Bá Linh ? Để kỷ niệm 20 năm của ngày thống nhất nước Đức, tháng 11/2009, vợ chồng ký gỉa Katrina Vanden Heuvel và Stephen F. Cohen, biên tập viên tờ "The Nation" đã làm một cuộc phỏng vấn ông Mikhail Gorbachev, vị tổng thống Liên Xô vào thời điểm đó.

Khi được hỏi: "Bức tường Bá Linh được phá đồ và chấm dứt chiến tranh lạnh là do cuộc cách mạng dân chủ ở Đông Âu hay là do sức mạnh của Hoa Kỳ ? Hoặc do cả hai ?"

Tổng Thống Gorbachev đã trả lời:" Đây là kết quả công cuộc cải tổ ở Liên Xô, khi quá trình chuyển hóa theo đường hướng dân chủ đã đạt đến đỉnh vào tháng 3/1989, tức là thời điểm khi lần đầu tiên trong lịch sử Nga đã diễn ra cuộc bầu cử dân chủ và có tính chất cạnh tranh. Đó là cuộc bầu cử Quốc Hội mới ở Liên Sô. Kết quả là 35 bí thư đảng uỷ khu vực đã thất cử. Xin nói thêm là 84% đại biểu được bầu là đảng viên, tuy nhiên nhiều đảng viên chỉ là người dân thường làm công nhân hoặc lao động trí óc. Đây là cuộc bầu cử cực kỳ quan trọng. Có nghĩa là phong trào đã đi theo hướng dân chủ, công khai, và đa nguyên. Những quá trình tương tự cũng xảy ra ở Trung và Đông Âu…"

Khi được hỏi: "Sau cuộc bầu cử ở Liên Sô vào tháng 3/1989, việc bức tường Bá Linh sụp đổ là không thể tránh khỏi ?"
TT Gorbachev trả lời: " Đúng như vậy."."

Như vậy, bức tường Bá Linh sụp đổ cũng là do nhiều yếu tố đúc kết lại. Sự cải tổ của Liên Sô theo đường hướng dân chủ là một điểm mấu chốt. Sức mạnh của nhân dân Đức và sự ủng hộ của Hoa Kỳ cũng không kém phần quan trọng.

Xoay qua cục diện VN, dân VN khao khát tự do không kém gì người Đức. Bức tường Bá Linh sụp đổ đem laị niềm hy vọng cho dân VN, nhưng 20 năm qua rồi! chế độ vô nhân vẫn tồn tại, và tồi tệ hơn bao giờ hết, còn thêm tội buôn dân, bán nước. Nó như thế vì có sự tiếp tay của các thế lực tài phiệt nhằm khai thác tài nguyên nhân lực VN trong khung cảnh kinh tế toàn cầu.
Người VN, gồm 3 triệu người hải ngoại và 80 triệu người dân trong nước vẫn hằng khao khát một bầu trời tự do, một làn gió dân chủ cho quê hương VN. Chúng ta không thể hy vọng gì nhiều của thế giới. Chúng ta chỉ có thể tin cậy vào chính bàn tay và khối óc của chúng ta. Ông Dieter Von Wichmann, một trong số 75,000 người ngồi tù ở Đông Đức vì tội âm mưu trèo tường đã có lời nhắn gửi cho những ai còn đang sống dưới ách CS: "Hãy hiểu giá trị của Dân Chủ, bảo vệ nó, và đừng để ai cướp nó đi. Cũng đừng chịu thua một chế độ nào, mà phải can đảm đòi hỏi quyền của mình. Nếu không sẽ không bao giờ có thay đổi."

Triệu Vũ
____
MGP

Friday, November 27, 2009

CSVN QUYẾT TÂM XÂY DỰNG 2 NHÀ MÁY ÐIỆN NT TẠI NINH THUẬN

Tháng 9-1945, nhân loại lần đầu tiên đã biết nếm mùi thảm họa của bom nguyên tử , khi Hoa Kỳ thả hai trái xuống thành phố Quang Ðảo và Trường Kỳ của Nhật. Quá khứ đau khổ vì chiến tranh cũng như những ám ảnh và hậu quả trên thân xác con ngươi, do tác hại của bụi phóng xạ chưa chìm sâu trong đáy huyệt thời gian, thì một tai họa khủng khiếp khác lại tái diễn. Biến cố xãy ra lúc 1giờ 23 phút ngày 26-4-1986, do một trong 4 lò phản ứng của trung tâm nhà máy điện nguyên tử Chernobyl thuộc Liên Bang Xô Viết cũ bị nổ vì sơ suất kỹ thuật làm thoát chất phóng xạ ra ngoài. Tiếp theo là sự kiện Three Mile Island và liên tiếp nhiều nhà máy điện NT ở Pháp và Nhật cũng bị lủng thùng chứa làm thất thoát chất phóng xạ ra ngoài.

Sau cùng vào lúc10 g 35 phút ngày 30-9-1999, nhà máy điện nguyên tử Tokaimura, thuộc tỉnh Ibaraki nằm cách Tokyo (Nhật Bản) khoảng 120 km cũng bị nổ. Theo nhận xét của Cơ Quan Năng Lượng Nguyên Tử Quốc Tế (IAEA), thì đây là một tai nạn phóng xạ nguyên tử nghiêm trọng nhất từ trước tới nay, kể cả hai trái bom nguyên tử mà Mỹ đã thả trên nước Nhật và biến cố tại nhà máy Chernobyl của Liên Xô năm 1986.

Âu Châu, Nhật cũng như Liên Xô.. đều là những quốc gia tiến tiến, có đủ phương tiện thực hiện cũng như bảo trì những nhà máy điện nguyên tử của quốc gia họ. Nhưng trong vài trưòng hợp đặc biệt, cũng phải đành bó tay đứng nhìn tai họa hoành hành. Sau rốt tại hầu hết các nước Á Châu kể cả Nhật Bản, hiện đang chơí với trước hiểm họa thanh toán các chất thải nguyên tử vì chưa có một chương trình nào hữu hiệu, để mà kiểm soát các hoá chất đôc hại và các chất thải vô cùng nguy hiểm, vì một số thùng chứa chất phóng xạ sau 30 năm đã bị ăn mòn. Cấp bách nhất là Năng Lương tại các nhà máy điện nguyên tử, gần như chỉ sạch trên mà bẩn dưới.

Năm 1986 nhà máy điện nguyên tử Bataan tại Phi Luật Tân với hai lò phản ứng, chuẩn bị khánh thành. Ðây cũng là nhà máy điện nguyên tử đầu tiên của vùng Ðông Nam Á. Nhưng thảm họa đã xảy ra tại nhà máy nguyên tử Chernobyl - Liên Xô, vào tháng 6-1986, nên quốc hội nước này, đã quyết định tạm ngưng hoạt động cũng như đình chỉ sự xây dựng kế tiếp một lò phản ứng còn đang dang dở. Một vấn đề chết người là, dù không hoạt động nhưng chính phủ cũng phải bỏ mỗi năm hằng triệu mỹ kim, để bảo toàn và chạy thử máy, nếu không chúng sẽ trở thành khối sắt vụn vô dụng nhưng phải tốn hằng tỷ đô la mới có.

Mười năm qua (1986-1996), trong khi cả thế giới chưa hết kinh hoàng về thảm cảnh trên thì tại Âu Châu, Phần Lan là một nước Bắc Âu đã tiền phong làm sống lại thời vàng son của điện nguyên tử. Một nhà máy và khu chứa chất thải phóng xạ, đã được xây dựng tại vùng rừng núi hoang dã Olkiluoto, cách thủ đô Helsinki, của Phần Lan chừng 350 km. Việc làm trên, lập tức đã bị các nước trong Liên Hiệp Âu Châu như Thụy Ðiển, Ðức, Bỉ .. chỉ trích gay gắt, khiến cho Bộ Trưởng Môi Trường Phần Lan là Satu Hassi phải từ chức. Hiện Pháp, Thụy Ðiển.thì lưỡng lự nhưng nước Ðức vẫn cương quyết, loại các nhà máy điện nguyên tử ra khỏi danh sách nguồn cung cấp năng lượng tại nước này.

Do vấn đề sống còn của đất nước, nhiều quốc gia tiền tiến và đang phát triển, đã gạt bỏ việc bảo vệ mội trường, để phát triển điện nguyên tử, nhằm cung cấp điện năng, phát triển năng lượng. Hiện trên thế giới có 438 nhà máy điện nguyên tử đang hoạt động tại 32 nước gồm : Châu Mỹ (Hoa Kỳ, Canada,Mexico, Argentina, Brazil), Tây Âu (Ðức, Bỉ, Tây Ban Nha,Phần Lan, Hà Lan, Anh, Pháp, Thụy Ðiển, Thụy Sĩ), Ðông Âu (Bảo, Hung,Tiệp Khắc, Lỗ, Nga,Slovakia, Ukaraine,Armenia) , Phi Châu (Nam Phi) vá Châu Á (Trung Cộng, Ðài Loan, Ðại Hàn, Ấn Ðộ, Ba Tư, Nhật và Pakistan).

Hiên nay trước tình hình sôi động của thế giới nhất là vùng Trung Ðông, Trung Á, thêm vào đó là sự cạn kiệt dần mòn các mỏ dầu trên đất liền cũng như ngoài thềm lục địa, khiến cho giá dầu tăng vọt như tên bắn. Thêm vào đó năng lượng của gió còn quá đắt, không thể thay thế nguồn năng lượng dầu được. Cho nên chỉ có điện nguyên tử, mới cung ứng nổi nhu cầu của nhân loại hiện nay.

Qua hai kinh nghiệm đã xảy ra tại Liên Xô và Nhật Bản, cho ta một bài học về tính thành thật trách nhiêm. Ở Nga biến cố xảy ra vì nhân viên thiếu trình độ, cẩu thả và vô trách nhiệm. Tại Nhật trái lại, tai nạn do kỹ thuật không báo trước. Về phương diện giải quyết cấp cúu, do đã chuẩn bị sẵn sàng, nên người Nhật đã kịp thời phần nào chận được thảm họa, trái lại Liên Xô chỉ biết chờ đợi sự giúp đỡ của các nước ngoài, trong lúc chỉ giải quyết cho có lệ.

Ngày nay, Pháp là nước xuất cảng điện nguyên tử và công nghệ làm lò phản ứng nhiều nhất trên thế giới, đem về lợi nhuận hằng năm cho ngân sách quốc gia tới 2,6 tỷ Euro. Hơn 3/4 nguồn điện cả nước Pháp, được cung cấp từ 59 lò phản ứng thuộc Công ty Ðiện lực EdF , cung cấp khoảng 420 tỷ Kwh. Sự phát triển các nhà máy điện nguyên tử tại Pháp, bắt đầu từ năm 1974, nhằm giải quyết sự khan hiếm dầu khí lúc đó, vì Pháp không có tài nguyên thiên nhiên về dầu mõ, giúp Pháp là nước có giá điện rẽ nhất tại Âu Châu.

Về kinh phí để xây dựng một nhà mấy điện nguyên tử, căn cứ vào tài liệu của nước Pháp là một quốc gia tiền tiến giàu có nhưng cũng thật là nhiêu khê, chứ không phải chuyện làm lấy lệ. Năm 1993, phải cần một kinh phí khoảng 400 tỷ FF đó là tiền vốn chưa kể lãi suất phải trả theo khoản vay ngân hàng.

Hiện Pháp đã chuyển giao công nghệ lò phản ứng dạng PWR, dựa vào khả năng làm giàu chất Uranium mới , cho các nước Bỉ, Nam Phi, Nam Hàn và Trung Cộng. Tóm lại, xây dựng một nhà máy điện nguyên tử, ngoài việc phải tuân thủ theo những luật lệ được qui định của Cơ quan an toàn nguyên tử (ASN), có trách nhiệm bảo đãm sự kiểm soát an toàn về tác hại nguyên tử và chất phóng xạ, để bảo vệ sinh mệnh của con người, cùng môi trường của những quốc gia đã xữ dụng điện hạt nhân.

Tóm lại điều quan trọng nhất hiện nay trong vấn đề xữ dụng điện nguyên tử, không phải là vấn đề thực hiện mà là bảo trì , tức là vận hành tốt, an toàn cho người dân. Tuy Pháp từ trước tới nay chưa bị một biến cố nghiêm trọng nào từ các nhà máy điện nguyên tử như đã từng xãy ra tại Three Mile Isaland (Hoa Kỳ) vào năm 1979, Chemobyl (Ukraine) năm 1986, Tokai (1999) và Mihama(2004) tại Nhật và Sellafiels (Anh ) vào tháng 5-2005. Với các nước tiền tiến giàu có Âu Mỹ và Nhật vẫn chưa tạo đủ niềm tin trong giới chuyên gia khoa học và đồng bào về sự an toàn tuyệt đối của nhà máy điện NT.

Xem như thế, chừng nào CSVN mới có đủ phương tiện và nhất là trách nhiệm trong vấn đề bảo trì tốt một nhà máy điện NT, đó là chưa nói tới sự kiện VC tham nhũng, ăn xén tiền bạc để hoàn thành một nhà máy điện NT dõm, chừng đó không biết bao nhiêu là hậu quả kinh khiếp đối vời đồng bào cả nước, chứ không phải riêng gì các tỉnh Ninh- Bình Thuận và vùng phụ cận.

Thế nhưng tại phien họp của quốc hội VC ở Hà Nội vừa qua, được báo chí quốc doanh trong nước loan tin có 77,48 % số phiếu chấp thuận, Vì vậy đảng ta đã ‘ nhất trí theo ý dân ‘ thiết lập hai nhà máy điện nguyên tử tại tỉnh Ninh Thuận. Tin trên cũng được hảng thông tấn Ðức (DPA) xác nhận là CSVN đã quyết tâm xây dựng 2 nhà máy điện NT, mỗi cái gồm 2 lò phản ứng với tổng công suất lên tới 4000 MW. Nhà máy thứ nhất xây tại xã Phươc Ðinh huyện Ninh Phước khởi công năm 2014 và hoàn thành năm 2020. Còn nhà máy thứ hai xây tại xã Vĩnh Hải, huyên Ninh Hải. Chi phí dự kiến lên tới 200.000 tỉ đồng tiền Hồ (khoảng 17 tỉ USD) mà 75% là tiền vay nợ hay góp vốn của ngoại quốc.

Trong lúc đó Nguyễn Hồng Quân, chủ tịch hội đồng nghiệm thu của đảng, qua báo cáo số 2472 cho biết hiện trạng nhà máy loc dâù Dung Quất (Quảng Ngãi) vẫn còn tới 2800 điểm trục trạc chưa được giải quyết. Còn tờ Businesstimes cũng lên tiếng báo động về những lo lắng khi nghe tin CSVN bất chấp dư luận phản đồi cũng như nhiều lời khuyên can của hầu hết mọi người trong ngoài nước, về việc đảng độc đoán muốn có hai nhà máy điện nguyên tử để hù dọa thiên hạ, trong khi thực tế VN không đủ tài chánh, nhân lực và luật lệ quốc tế để xây dựng, bảo trì cũng như thanh toán những chất thải độc hại từ các lò phản ứng.

+ NHÀ MÁY ÐIỆN NGUYÊN TỬ VIỆT NAM :

Sau khi được tham dự hai hội nghị quốc tế 1986 và 1994, do cơ quan năng lượng quốc tế tổ chức. Thêm vào đó vào tháng 10-1995, một hội nghị nguyên tử quốc tế, cũng đã diễn ra tại Hà Nội khiến cho đảng phát sinh ý tưởng , muốn bắt chước các nước giàu có Âu Mỹ, Nhật, Ðài Loan.. đem điện nguyên tử vào VN. Tuy nhiên mộng du trên đã bị dập tắt ngay, vì dư luận trong đảng, trong nhóm chia năm xẻ bậy, đa số nói rằng điện nguyên tử nguy hiểm bởi chất phóng xạ, chất thải, nổ máy và nổ bom nguyên tử.

.Nhưng thực tế trước mắt là VN lúc đó và ngay cả bây giờ, vẫn không có vốn cũng như nhân lực và các cơ sở hạ tầng, cần thiết trong khi xây dựng cũng như điều hành nhà máy. Hiện nay, việc xây dựng các nhà máy điện nguyên tử tại những nước đang phát triển, đều trông cậy vào các nước văn minh tiền tiến. Ác nổi VC từ trước tới nay, mọi sự đều nhắm vào Nga-Tàu hay các nước Ðông Âu củ, một phần là cá mè một lứa cùng biết tẩy nhau, cho nên dễ dàng trong sự giao kèo, mua bán , đổi chác. Những phanh phui liên tiếp trong mấy năm qua, về vụ đảng mua máy móc, tàu bè, tăng pháo.. cũ kỹ mốc rêu hư hại của Trung Cộng-Liên Xô.. đem sửa sơn, rồi về nước, tính như đồ mới, là chuyện nhỏ xưa nay.

Xây dựng nhà máy điên nguyên tử lại là chuyện lớn, có liên quan tới quốc tế. Do trên các nước ký giao kèo rất khó, ngoài ra nuớc sở quan, phải chứng minh được là mình đã chuẩn bị mọi sự liên tục suốt thời gian pháp định, là 15 năm. Một yếu tố đầu tiên cũng không thể thiếu , đó là có số tiền sơ khởi chỉ 2 tỷ đô la. Ðây là chuyện khó đối với VN, hiện đã mang quá nhiều nợ nần vay mượn.. va trên hết kinh tế đang tuột dốc không biết chừng mới hồi phục.

Nhưng Nguyễn Tiến Nguyên viện trưởng viện năng lượng nguyên tử của VC, lại to miệng tuyên bố là VN đã tìm được căn bệnh gây ra các tai họa thảm khốc tại các nhà máy điện NT Liên Xô, Pháp cũng như Nhật. Vì vậy các đỉnh cao mới quyết tâm xây dựng một nhà máy điện nguyên tử vào năm 2010. Tuy nhiên còn phải chờ đảng vay tiền nước ngoài với lãi suất thương mại như BOT-BOO ..

Trong lúc khắp nước còn nhiều công trình khác cần thiết hơn để xây dựng.Nói chung, nếu VC vô tâm, vô lương, vô trách nhiệm, vì ham tiền chia chác, nhập khẩu một NHÀ MÁY ÐIỆN NGUYÊN TỬ HƯ CỦ CUẢ NGA, TRUNG CỘNG hay bất cứ một quốc gia nào khác, là đồng nghĩa rước về quê hương nước VIỆT, một thảm kịch Chernobyl hay hai trái bom nguyên tử mà Mỹ đã thả trên nước Nhật vào tháng 8-1945. Ðó chưa nói tới. NỢ NẦN CHÚA CHỔM .mà các thế hệ VN phải gánh trả cho các nước giàu, hiện nay cũng như đời đời kiếp kiếp, do đảng VC vay mượn suốt 70 năm qua.

+ NINH THUẬN : ÐỊA ÐIỂM XÂY DỰNG NHÀ MÁY ÐIỆN NT .

NINH THUẬN Là phần đất phía bắc của Bình Thuận xưa. Năm 1922 thành Ðạo Ninh Thuận và trở thành tỉnh từ năm 1943. Vì là phần đất cuối cùng của vương quốc Chiêm Thành nên hiện nay còn lưu lại nhiều đền, tháp Chàm như Ba Tháp, Hòa Lai (Po Klong Garai), Po Romé. Ninh Thuận là quê hương của Phan Trung vị tướng lãnh đồng chí của Trương công Ðịnh, Nguyễn Thông, cũng là quê của danh sĩ Nguyễn thị Bích, tức Nguyễn nhược Thị, tác giả tập truyện ký bằng quốc âm ‘Hạnh Thục Ca’, thuật lại giai đoạn lịch sử nhiễu nhương của đất nước trong năm 1885, khi kinh thành Huế thất thủ, Tôn thất Thuyết phò vua Hàm Nghi xuất bôn, ban hành huyết thư Cần Vương chống Pháp.

Ninh Chữ cách tỉnh lỵ Phan Rang chừng 6 km, bãi biển đẹp và thơ mộng với rừng dương liễu đó đây, cũng là sinh quán của cố Tổng Thống Ðệ Nhị Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn văn Thiệu (1967-1975). Ninh Thuận có nhiều núi cao như Hòn Chàm, Truân, Gia Rích, núi Oạng, Hòn Bà.. có sông Dinh (Koong Binh) vói nhiều phụ lưu như Krong Pha, Ma Lâm, Quao, Lu.. chảy ra cửa Phan Rang.

Trong tỉnh ngoài người Kinh còn có nhiều người Chàm, Raglai, Churu, Kôhô.. Theo tài liệu HES năm 1956, Tỉnh Ninh Thuận có diện tích 3422km2 và dân số 191.435 người, gồm 5 quận An Phước (xã Diêm Hải, Ðại Phước, Ðịnh Hải, Hậu Phước, Hữu Phước, Phước Hải, Tà Dương, Thái Sơn), Bửu Sơn (An Sơn, Mỹ Sơn, Phú Sơn, Phước Sơn, Tân Sơn, Tri Phước), Du Long (Cam Ly, Cam Thọ, Cát Hải, É Lâm hạ), Sông Pha (xã Bửu Lâm, É Lâm thượng) và Thanh Hải (xã An Hải, Ðông Hải, Hộ Hải, Khánh Hải, Mỹ Hải, Phan Rang ‘4.3km2 - 35.167 người’, Tân Hải và Vĩnh Hải). Thị xã Cam Ranh với diện tích 459km2 - 106.904 người cũng trực thuộc tỉnh Ninh Thuận. Năm 1993, Ninh Thuận tách ra khỏi Thuận Hải và thành Tỉnh với thị xã Phan Rang - Tháp Chàm và các huyện Ninh Sơn, Ninh Hải, Ninh Phước.

Ninh Thuận nằm vào vĩ độ khô hạn nhất trên thế giới (11-12), nên ở đây mưa ít nên chỉ có xương rồng, bàn chải mới thiên thu với tuế nguyệt. Người Phan Thiết đi xa về, dù bằng gì chăng nữa trên khô dưới nước, khi tới Cà Ná thì thở phào nhẹ nhõm, coi như đã bước vào nhà dù thực tế còn hơn trăm cây số đường đất. Marcel Monier ngày xưa trong chuyến hải hành vòng ngang Châu Á, đã viết trong ‘Le tour d’Asie’ nức nở khen vẽ đẹp của chốn này. Nay Dufiel cũng chẳng tiếc lời khi hạ bút nói Cà Ná là miền biển đẹp nhất Ðông nam Á, với những đợt sóng mỹ lệ phù trầm đâu có thua gì biển xanh Ðịa trung Hải.

Tóm lại dù hiện nay người Chàm chỉ còn là một sắc tộc nhỏ, trong đại gia đình dân tộc VN nhưng ảnh hưởng của họ về mọi phương diện vẫn bàng bạc trong cuộc sống của người Việt suốt miền Trung. Theo báo chí loan tải, từ tháng chạp năm ngoái Ninh Thuận là trung tâm khô hạn của VN, vì đây là chốn đã nổi tiếng muôn đời của nắng,gió và cát động. Nắng đã biến toàn thể sông suối, kênh rạch, ao hồ trong tỉnh hầu như khô quánh tới tận đáy. Nắng đã biến đồng ruộng vụ mùa đông-xuân tại các thôn làng trở thành xơ xác, đến nổi cỏ cũng không thể mọc được, làm cho người và súc vật đã khổ vì đói gạo lại thêm khốn đốn trăm chiều bởi khát nước. Ruộng đồng xơ xác vì thiếu mưa, khiến cho sông ngòi không còn nước chảy vào các Hồ chứa Thành Sơn, Ông Kính (Ninh Hải) , Tân Giang (Ninh Phước),vốn là nguồn tưới của hầu hết đất đai canh tác cả tỉnh, trong số này nông dân Chàm chiếm đa số.

Việc xây dựng nhà máy điện nguyên tử tại VN, hiện vẫn là một đề tài còn tranh cải sôi nổi dù đảng độc tài độc đoán tự quyết định và công bố sẽ thưc hiện qua cái gọi là ‘ nhất trí’ của quốc hội. Nguyên do sự chống đối trong nước là điều ai cũng thấy : Ðó là nổi lo sợ những tai nạn nguyên tử mà người dân VN phải gánh chịu, vì bọn VC chóp bu tham nhũng, mua lại những thiết bị cũ, quá đáp, hư hỏng của các nhà máy điện NT đã xài lâu năm , trong đó tệ nhát là đồ của Nga và Tàu đỏ, lại là nước hy vọng trúng thầu.

Vào lúc 12 giờ trưa ngày thứ tư (23-7-2008) đã có hằng trăm phụ nữ Chàm, biểu tình phản đối và chận giữ đoàn xe chở Thủ tướng VC Nguyễn tấn Dũng khi tới khảo sát khu vực dự định xây dựng ‘ Nhà máy điện nguyên tử ‘ nằm trong khu vực Sơn Hải, xã Phước Ninh, Huyện Ninh Phước, Tỉnh Ninh Thuận. Cũng theo nguồn tin được phổ biến thì chiếc xe chở Dũng vì đi sau nên chạy thoát được về Phan Rang. Sau đó tỉnh ủy đã điều động một lực lượng quân sự hùng hậu gồm công an võ trang, bộ đội dân phòng và xe cơ giới tới hiện trường để giải vây cho đồng bọn đang bị đồng bào bắt giữ làm con tin, để đòi Dũng phải trả lại đất đai vườn ruộng của họ mà dảng đã cướp giựt công khai từ trước. Cuộc biểu tình kéo dài tới hai ngày mới dứt do đồng bao tự động giải tán,làm nghẽn quốc lộ 1 từ Cà Ná về Phan Rang nhiều giờ.

Trước đây ngày 12-3-2006 không biết vì lý do gì cũng đã có cuộc xung đột trầm trọng, giữa ít người Việt tại thôn Hòa Thủy và người Chàm ở thôn Thành Tín, cùng thuộc Huyện Ninh Phước, Tỉnh Ninh Thuận. Nhưng dựa theo báo chí trong và ngoài nước, thì đầu giây mối nhợ của nội vụ, chẳng qua cũng do sự uất ức của đồng bào Chàm địa phương, bị Cộng sản Hà Nội tìm đủ mọi cách đánh đuổi ra khỏi nơi quê làng chôn nhau cắt rún bao đời, để chiếm đất của họ làm địa điểm xây dựng Nhà Máy Ðiện Nguyên Tử Ninh Thuận. Dàn dựng một cuộc ấu đã có chết người, bạo động.. để vin cớ đem cả hai tiểu đoàn công an vây hãm cô lập làng Chàm Thành Tín và ép buộc đồng bào phải ra đi, để bọn cán bộ đảng từ nhỏ tới lớn, được dịp chia phần trong dịch vụ béo bở sắp trở thành hiện thực.

Trên đất nước VN hiện nay còn không biết bao nhiêu công việc , mà nhà nước cần phải làm , để cải thiện cuộc sống vô cùng thiếu thốn của đồng bào, nhất là sau những trận bảo kinh hoàng bat vía đã tàn phá miền Trung vừa qua. Mới đây trên truyền hình được trực tiép từ VN sang, qua các hình ảnh người nghèo trong nước , xếp hàng chờ nhận mười ký gạo bố thí của nhà thờ, do tiền của các Việt Kiều mua tặng. Trong lúc đó, xen vào hầu hết là các chương trình quảng cáo các tour du lịch khắp nước thật là hào nhoáng. Rồi thì không biết bao nhiêu phim ảnh, những sản phẩm văn nghệ của Việt kiều thực hiện, toàn nói lên cảnh giàu sang văn minh đổi đời trong nước hiện nay, làm mờ mắt người Việt đang sống lưu vong nơi hải ngoại, khiến ai cũng ao ước được trở về, để chia sẻ với quê hương mình cảnh thanh bình, hạnh phúc đang có trong phim ảnh được chiếu hàng ngày.

Nhưng hỡi ôi đó chỉ là cảnh ảo trong cuộc đời thật, hay đúng hơn là cảnh thật của một thiểu số thuộc tầng lớp đảng đang cầm quyền hiện tại. Tất cả được tuyên truyền bằng phim ảnh, son phấn, đại hội này nọ.. chứ mặt thật đời sống của tuyệt đại đồng bào trong nước, đang cùng khổ, lầm than không còn một bực thang nào để đem ra so sánh, Nguyên do vì tất cả kế hoạch kinh tế mà nhà nước đã và đang thực hiện theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đều thất bại gần như hoàn toàn, từ việc nuôi tôm, cá fish, trong cà phê, hàng may mặc, nuôi gia cầm, các đồ án xây cất khách sạn, văn phòng cho mướn.. đả khiến cho cả nước phá sản vì tính cách nửa vời, làm thiệt ăn giả và nhất là sự tham nhũng của mọi tầng lớp đảng. Mặt khác, đảng đã thực sự đầu hàng Trung Cộng, nên bất chấp mọi hậu quả, đã mở hết mọi cánh cửa biên giới, để cho hàng Trung Cộng tràn ngập cả nước, đè bẹp sản phẩm nội đia, khiến cho người dân cả nước bị sạt nghiệp, tay trắng, vì không thể cạnh tranh được với hàng ngoại quốc, vừa rẽ lại được đảng công khai khuyến khích quảng cáo.

Cuối cùng là biển Ðông không còn nữa và Cao Nguyên Trường Sơn cũng dân bán cho giặc Tàu qua chiêu bài ‘ khai thác quặng Bauxit’ cho nên đâu có lạ, khi thấy người Việt cả nước lại ùn ùn kéo nhau xuất ngoại đưới đủ mọi hình thức như làm công nhân, làm cô dâu tại Trung Cộng, Ðài Loan, Nam Hàn, Nhựt Bổn,Tân Gia Ba .. và bi thảm nhất là lao vào con đường bán thịt nuôi thân trong nước.

Làm đường, cầu, đập nước, nhà cửa.. có bị ăn chận, thiệt hại cũng chỉ là sự hạn chế nhưng nếu xây dựng Một Nhà Máy Ðiện Nguyên tử mà cẩu thả sơ xuất, thì hậu quả về nhân mạng không biết đâu mà lường được. Rồi hoàn thành hoạt động nhưng không bảo trì tốt như Nga, thì chừng đó chẳng những người sống quan vùng chịu chết, mà cả nước chắc gì được an toàn với bụi phóng xạ ?. Ðó là chưa nói đến nợ vay nước ngoài, hiện chồng chất tới mức chỉ nhìn vào đã mù mắt. Chỉ riêng nhà máy lọc dầu Dung Quất-Quảng Ngãi đã tiêu phí tỷ tỷ đô la nhưng đâu vẫn còn đó, nay lại muốn làm thêm một công trình vỹ đại gấp ngàn lần dự án củ.

Ðó chẳng phải là chuyện mơ mơ màng màng hay sao ? và trên hết nợ nần như núi của VC ngày nay do đảng nhắm mắt làm liều vay mượn tứ xứ, mai này ai sẽ trả khi có một cuộc đổi đời lần nửa. Nhưng VC bây giờ đang cai trị cả nước nên ai dám ngăn cản ? .

Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di

Tháng 11-2009

Nguồn : MƯỜNG GIANG

Wednesday, November 25, 2009

MỘT SỐ CẢM NHẬN VỀ HAI CHỮ “DÂN CHỦ”


Nguyễn Đại

Xin tự giới thiệu, người viết bài này chỉ là một kẻ ham mê đọc sách, ham mê tìm hiểu lịch sử. Về chính trị, người viết hoàn toàn thờ ơ và thậm chí “không ưa” gì lắm.

Tất cả những gì tôi viết ra dưới đây, đều chỉ xuất phát từ lòng yêu nước, yêu dân tộc Việt Nam và đảm bảo, được viết ra từ suy nghĩ thật của lòng mình, nghĩ sao nói vậy. Tôi muốn bày tỏ chính kiến của riêng bản thân mình với ước mong sao cho nước nhà sớm có dân chủ, tự do, thịnh vượng thật sự mà thôi.

Trước tiên, muốn có cảm nhận về hai chữ “DÂN CHỦ” thì phải hiểu “Dân Chủ là gì?”. Đây là một câu hỏi không dễ trả lời, nhất là đối với những người “phi chính trị” (dân làm kỹ thuật, dân hoạt động kinh doanh, dân công chức văn phòng…vv…chẳng hạn). Chính vì vậy mà thay vì dùng những từ ngữ quá to lớn, tôi chỉ xin trình bày cách hiểu của tôi về khái niệm thế nào là “dân chủ” dưới góc nhìn của một thường dân. Qua đó, hy vọng ngay cả dân trong giới “phi chính trị” cũng nắm được cơ bản khái niệm nhạy cảm này.

“Dân Chủ”, nói ngắn gọn là một hình thức xã hội mà “Toàn bộ Quyền Lực nằm trong tay người dân, bộ máy quyền lực của nhà nước, chính quyền do nhân dân trực tiếp điều hành. Và nhà nước ấy phải là nhà nước pháp trị thật sự. Các quyền dân chủ tự do, nhân quyền của nhân dân trong toàn xã hội được nhà nước pháp quyền ấy thực thi và tôn trọng một cách đầy đủ, toàn diện nhất…”.

Tuy nhiên, trong thực tế, mọi chuyện lại không đơn giản như vậy. Để xác định một đất nước có dân chủ hay không thì phải xem xét nhiều vấn đề. Người dân được làm gì và không được làm gì? Quan hệ giữa người dân và nhà nước, chính quyền là quan hệ gì? Trên thế giới hiện nay, nước nào là có mức dân chủ cao nhất ? Nước nào hoàn toàn không có, mà thể chế chính trị của họ chỉ thực ra là bản chất một chế độ độc tài mà thôi? Nước nào chỉ hô hào ta có Dân Chủ, nhưng trên thực tế thì mức độ dân chủ rất thấp hoặc không hề có chút dân chủ tự do gì cả? Và đời sống “dân chủ” trong một xã hội có cần thiết không? Một quốc gia không có “dân chủ” có phát triển được hay không ? Hoặc “dân chủ” có gây rối loạn cho xã hội không? Dân chủ có xâm hại đến chủ quyền đất nước và an ninh quốc gia hay không? Dân chủ có gây mất đoàn kết không, có làm chia rẽ dân tộc không?...vv và vv… Có biết bao câu hỏi được đặt ra liên quan xoay quanh khái niệm này mà trong suy nghĩ của người viết và cũng như của biết bao bạn đọc cứ lởn vởn trong tâm trí của tôi và của biết bao người quan tâm đến giá trị thiêng liêng này…

Theo ý kiến của riêng tôi thì có ba lập luận mà chúng ta thường nghe và cần làm rõ như sau :

Lập luận thứ nhất là : “Tại đất nước Việt Nam hiện nay, vì dân trí còn thấp, do đó chưa nên có dân chủ, nếu có dân chủ sẽ loạn mất, sẽ làm mất ổn định chính trị dẫn đến môi trường xã hội bị hỗn loạn thì làm sao có cơ hội cho mở mang và phát triển đất nước nữa…”. Nếu vậy, thì có lẽ chúng ta cần phải đặt ra một số vấn đề tiếp theo để thử đi sâu phân tích chẳng hạn như sau:

Đầu tiên, giả sử lập luận trên là đúng thì có nghĩa, là khi dân trí cao hơn mới được quyền thực thi dân chủ, tự do. Vậy dân trí cao là cao cỡ nào? Phải quy định mức nào là mức dân trí cao, để đặt ra mục tiêu mà còn phấn đấu cho bằng được. Nếu không có chuẩn cụ thể thì mai mốt dân trí đã cao lắm rồi, chúng ta vẫn nói “chưa cao” thì biết đâu mà lần. (?!) Đồng thời, trách nhiệm nâng cao dân trí chính là trách nhiệm của các nhà lãnh đạo đất nước chứ không phải trách nhiệm ấy của người dân hay ai đó chung chung vô hình. Vậy các nhà lãnh đạo quốc gia phải cam kết với xã hội, với nhân dân trong bao nhiêu năm nữa thì dân trí sẽ cao đến mức cả xã hội sẽ được hưởng quyền có dân chủ, tự do…? Không thể nói chung chung mà phải nói rõ cụ thể là trong bao lâu nữa. Nếu cứ thả nổi thì một trăm, thậm chí một nghìn năm sau chúng ta vẫn nói: “Vì dân trí trong xã hội còn rất thấp nên chưa nên có dân chủ, chưa thể thực thi dân chủ được…”. Như vậy là, với lập luận kiểu cách này thì có nghĩa là nhà cầm quyền chỉ muốn biện minh cho việc từ chối mãi mãi không trao trả lại cho nhân dân, cho cả dân tộc quyền được sống trong một xã hội có tự do, dân chủ thật sự mà thôi. Cũng có thể nói rằng, nếu cứ kéo dài tình trạng đó lâu dài, thì chính lãnh đạo mãi mãi vẫn nợ nhân dân món nợ dân chủ, tự do. Và đó là bi kịch buồn thật “vĩ đại”, bởi vì chính nhân dân, chứ không phải ai khác, đã dùng xương máu, mồ hôi để xây dựng nên Nhà Nước “của dân, do dân và vì dân” hiện nay.

Dù sao thì đó cũng chỉ là giả sử lập luận trên đúng thôi. Thật ra lập luận trên cũng không thuyết phục lắm. Vì chính dân trí Việt Nam trước đây so với các nước ngay trong khu vực Đông Nam Á là hoàn toàn không thua kém. So với các nước như Mã Lai, Thái Lan, Inđônêxia, Philippin… tôi cho rằng từ xa xưa, dân trí nước ta nếu không cao hơn thì cũng bằng dân trí của nhân dân các quốc gia trên đây. Trong khi ở các nước đó, từ lâu rồi, mức độ dân chủ của họ cao hơn của nước ta, và hiện nay, dân trí xã hội ta đã tụt hậu khá xa so với họ. Do đó, nói vì dân trí thấp nên chưa thể có dân chủ là không cơ sở. Ngược lại, vì thiếu dân chủ nên giáo dục (và kể cả mọi mặt) của ta đang tụt hậu rất đáng buồn. (đọc bài : “Giáo dục – cho tôi được nói thẳng” của giáo sư Hoàng Tụy). Từ đó dẫn đến dân trí nước ta cũng càng ngày tụt hậu so với các nước ngay trong khu vực và các nước dân chủ, văn minh khác trên toàn thế giới. Vì vậy nếu nói là: “Ở Việt nam ta, vì mức độ dân chủ chưa cao nên dân trí bị thấp so với các nước ngang hàng” thì nghe đúng hơn, thuyết phục hơn.

Nói đến đây tôi xin dẫn chứng đôi dòng để chúng ta liên hệ so sánh mới rút ra được kết luận dứt khoát là: “Thể chế chính trị văn minh, tự do dân chủ sẽ là môi trường và bối cảnh tốt đẹp, đầy thuận lợi để mỗi cá nhân con người phát triển thăng hoa rạng rỡ như thế nào. Ngược lại nếu con người phải sống, phải tồn tại trong hoàn cảnh một đất nước có thể chế độc tài, không dân chủ thì con người sẽ ắt bị thui chột tài năng, thậm chí các quyền con người, quyền công dân bị chà đạp, bị xâm phạm nghiêm trọng…vv…”. Từ đó chúng ta sẽ thấy đời sống dân chủ cho một xã hội vô cùng quan trọng, cần thiết và có ý nghĩa sống còn như thế nào đối với xã hội và mọi công dân.

Chúng ta đều biết trên thế giới ngoài các nước trong hệ thống các quốc gia dân chủ có truyền thống lâu đời như ở Châu Âu, Bắc Mỹ và Ca na đa, Úc Châu…không kể đến, thì chúng ta còn chứng kiến biết bao các nước khác tuy có nền kinh tế còn chậm phát triển, thậm chí rất nghèo nàn lạc hậu như Việt Nam, có nước còn kém cả Việt Nam. Thế nhưng xã hội và nhân dân nước họ đều đang được hưởng dân chủ, tự do, nhân quyền thực sự, đang từng bước được hoàn thiện và đương nhiên đất nước họ đang hội nhập toàn diện vào sinh hoạt của cộng đồng nhân loại tiến bộ. Trong danh sách các quốc gia này có các nứơc ở Châu Á, Châu Phi, Mỹ La tinh như: Ấn Độ, Philipin, Paksitan, Băngđalet, Nê Pan, Dămbia, Kênia, Nigiêria, Brazil, Argentina…. nhiều lắm nhiều lắm không thể thống kê hết. Còn trường hợp của nước Cu Ba XHCN thì sao ? Chính Việt Nam ta còn phải viện trợ gạo cho họ để cứu đói, tặng họ máy tính (computer) để góp phần xóa mù thông tin!!!

Lập luận thứ hai là: “Ở Việt Nam ta vẫn có dân chủ chứ, nhưng nhân dân không thể tự lãnh đạo nên Đảng Cộng Sản thay mặt nhân dân lãnh đạo đất nước để thực thi dân chủ cho toàn thể xã hội…”. Điều này thật ra chỉ đúng ở điểm “nhân dân không thể tự lãnh đạo” nhưng lại sai ở rất nhiều các điểm khác rất căn bản.

Ở bất kỳ quốc gia nào cũng vậy, không làm gì có chuyện người dân tự lãnh đạo quốc gia được. Luôn luôn phải có người đại diện đứng ra để lãnh đạo đất nước. Người này tất nhiên có quyền lực rất lớn (vẫn trong khuôn khổ luật pháp), nhưng trách nhiệm cũng rất nặng. Ta sẽ nhìn nhận bản chất vấn đề này thông qua việc xem xét một vấn đề nhỏ hơn như sự phân tích dưới đây để sáng tỏ thì sẽ thấy rất rõ.

Ở các công ty cổ phần, người chủ thật sự của công ty là Ban Quản Trị. Những người này bỏ vốn (tiền bạc, tài sản…) để thành lập công ty kinh doanh. Vì là một Ban nhiều người nên họ phải chọn ra một người đại diện để lãnh đạo công ty đó. Người được chọn (Tổng Giám Đốc - TGD) là người chịu trách nhiệm điều hành toàn bộ hoạt động và kết quả lợi nhuận của công ty. Nhưng TGD không phải là chủ công ty. Chủ thật sự của công ty là Ban Quản Trị. Khi ông ta làm việc không hiệu quả, Ban Quản Trị quyết định họp lại và cách chức ông ta. Điều quan trọng nhất là chỗ này. Người lãnh đạo công ty (Tổng Giám Đốc) hoàn toàn có thể bị chủ nhân của công ty (Ban Quản Trị) sa thải để thay thế vị TGĐ khác tài năng hơn, điều hành công việc làm ăn của công ty có hiệu quả hơn.

Nói ví dụ vậy cho dễ hiểu. Ở một quốc gia cũng tương tự vậy. Nếu mức độ dân chủ đủ cao, thì ông chủ của đất nước là nhân dân, tương tự như Ban Quản Trị của một công ty. Nhân dân bỏ vốn (tài nguyên, trí lực, con người…) và chọn ra người đại diện để lãnh đạo đất nước. Người lãnh đạo này giống như là Tổng Giám Đốc của công ty vậy. Nếu ông này lãnh đạo kém, đưa đất nước tụt hậu thì sẽ bị Nhân Dân thay thế, và chọn người khác, thông qua tự do bầu cử.

So sánh như vậy để thấy rằng, người dân làm chủ đất nước, thì phải được quyền chọn, được quyền bầu ra người lãnh đạo cho họ. Nếu nhân dân không được chọn người thay mặt dân lãnh đạo thì chưa thể là dân chủ mức độ cao được.

Lập luận thứ ba là: “Sau hơn 34 năm thống nhất đất nước, chúng ta đã phát triển về mọi mặt. Và nếu so sánh tình hình nước ta hiện nay với cách đây 34 năm, kết luận rằng đất nước chúng ta đang được ĐCSVN lãnh đạo đi rất đúng hướng, không cần thiết bàn về dân chủ nữa”…


Đúng và hoàn toàn đúng là hiện nay, đất nước chúng ta có những mặt lớn mạnh hơn 34 năm trước rất nhiều. Nhưng nếu vì vậy mà cho rằng chúng ta đang đúng hướng là không ổn chút nào và khá chủ quan.

Hãy lấy ví dụ để liên hệ so sánh thì lập luận trên đây sẽ khó lòng đứng vững được, chẳng hạn, một đứa trẻ sinh ra, được cho ăn cháo loãng, ăn củ mì, ăn cơm độn bo bo thì đứa trẻ ấy vẫn sống, vẫn lớn lên. Sau 34 năm, đứa trẻ ấy rồi cũng trở thành một thanh niên, và chắc chắn anh thanh niên kia khỏe hơn, lớn hơn chính đứa trẻ đó 34 năm trước. Nhưng không có nghĩa là chúng ta đã nuôi đứa trẻ đúng hướng được!

Một đứa trẻ khác được nuôi đúng hướng, được chăm sóc y tế chu đáo, được cho uống sữa giàu dinh dưỡng, được ăn thịt, ăn cá, ăn đủ chất xơ… Nó còn được giáo dục, được học hành tử tế, nhân cách, phẩm chất đạo đức được phát triển toàn diện có nền nếp. Khi đó, sau hơn 34 năm, bảo đảm đứa trẻ sẽ thành anh thanh niên tuyệt vời hơn anh thanh niên kia rất nhiều. Nói đến đây chúng ta hãy liên tưởng đến một vài các sự kiện gần đây được các cơ quan truyền thông quốc tế, hải ngoại và cả trong nước loan tin khá ấn tượng. Đó là mới rồi sự kiện lần đầu tiên ở ngay tại CHLB Đức thống nhất, trong chính phủ của nữ thủ tướng Angela Merke đã lựa chọn ông Philipp Roesler 36 tuổi, một thanh niên gốc Việt trở thành Bộ trưởng y tế mà ông này vốn nguồn gốc từ hơn 3 thập niên trước đã được xin về từ trại trẻ mồ côi ở Long Khánh thuộc tỉnh Khánh Hoà khi cha mẹ bé đều đã chết cả vì bom đạn trong chiến tranh. Thế mà, nhờ được sự nuôi duỡng, chăm sóc y tế, giáo dục trong môi trường tốt, đầy đủ tại nước Đức hùng cường nên tài năng con người này đã được bộc lộ và phát triển đến kỳ diệu như thế đó.

Trường hợp khác là trung tá Lê Bá Hùng, chỉ huy hạm trưởng hải quân Hoa Kỳ rất tối tân với hơn 300 sĩ quan và thủy thủ đoàn thì viên sĩ quan trẻ này cũng chỉ từ một đứa bé lúc 5 tuổi được tầu chiến Mỹ vớt lên trên biển Đông khi cả gia đình anh trôi dạt ngoài khơi sau khi cuộc chiến tại Nam Việt Nam kết thúc sau ngày 30/4/1975. Ấy thế mà cũng chỉ sau hơn 34 năm từ số phận một đứa bé cùng cả gia đình thuyền nhân khốn khổ này tưởng như phải bỏ mạng giữa đại dương thì nay do được nuôi dưỡng, giáo dục trong môi trường một quốc gia thịnh vượng, dân chủ như Hoa Kỳ mà anh đã học hành thành đạt để trưởng thành lên một sĩ quan của hải quân một siêu cường hùng mạnh bậc nhất trên thế giới…vv…

Một trường hợp khác nữa khá danh tiếng, đó là vị dân biểu trong Quốc Hội Liên bang Hoa Kỳ gốc người Việt Nam duy nhất thuộc đảng Cộng hòa - Josheph Cao Quang Ánh của Hạ viện trong nhiệm kỳ hiện nay. Ông hiện là một trong những tiếng nói quan trọng trong cơ quan lập pháp của quốc gia giàu mạnh nhất trên địa cầu. Tên tuổi ông là niềm kiêu hãnh và tự hào lớn lao của cộng đồng người Việt định cư tại cường quốc số 1 này, cũng như của chung những người Việt tỵ nạn khắp nơi trên thế giới. Ai đâu có thể ngờ rằng, hơn 34 năm về trước vị dân biểu này chỉ là đứa trẻ lên 8 tuổi phải xa gia đình, xa cha mẹ để vượt biển rời miền Nam Việt Nam đi tỵ nạn chính trị. Thế mà sau mấy chục năm được nuôi dưỡng, giáo dục, học tập trong môi trường lành mạnh, đầy đủ tiện nghi nên ông đã trưởng thành vượt bậc để vượt qua biết bao những chính trị gia sừng sỏ, đầy kinh nghiệm, cả những trí thức gốc da trắng lừng danh khác để có mặt trên chính trường nước Mỹ đầy quyền uy như hiện nay…

Còn vô số những trường hợp khác trong cộng đồng người Việt định cư ở hải ngoại đã thành đạt, thành danh trên đủ các lãnh vực từ chính trị, quân sự, khoa học kỹ thuật, văn hoá, nghệ thuật…. không sao kể hết trong khuôn khổ bài viết ngắn này. Chính họ đã làm vẻ vang rạng rỡ truyền thống văn hiến ngàn đời của dân tộc ta. Thật đáng tự hào biết bao về con người Việt Nam, về Con Hồng Cháu Lạc ! Nói đến các ví dụ này càng thấy rõ vấn đề được nêu lên là đứa trẻ được nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục thì sẽ có sự phát triển đúng hướng, rất tốt, còn ngược lại chỉ là sự phát triển què quặt trong hoang dã thiếu sự chăm lo, quan tâm vun xới của con người mà thôi. Và từ đó mới thấy rằng các yếu tố lãnh đạo, môi trường, thể chế chính trị của một quốc gia thật vô cùng quan trọng và hết sức cần thiết như thế nào trong sự nghiệp phát triển đất nước nói chung và của con người nói riêng.

Vậy, khi muốn xem xét, ta phải xem trên 3 yếu tố:

Một là, trong cùng khoảng thời gian hơn 34 năm, đất nước người ta đã phát triển như thế nào, so với đất nước chúng ta. (chỉ so với các nước trong khu vực thuộc khối ASEAN thôi, không cần so với Nhật, Mỹ, Pháp, Anh…)

Hai là, trong cùng khoảng thời gian hơn 34 năm đó, với tố chất của dân tộc Việt, nếu chúng ta đi đúng hướng, thì chúng ta sẽ phát triển nhanh gấp mấy lần so với thực tế đã qua. Rất đơn giản, chúng ta so tốc độ phát triển trong 10 năm trước đổi mới (1975-1986) với khoảng thời gian sau đổi mới là thấy rõ quan điểm này.

Ba là, với sự phát triển như kiểu hiện nay, ai là người hưởng lợi nhiều nhất. Sự phát triển đó có đồng đều giữa nông thôn và thành thị không ? Giữa trí thức và lao động tay chân ? Giữa dân thường và cán bộ nhà nước ra sao?

Ba câu hỏi trên thuộc lĩnh vực mà tôi cũng không thể trả lời thỏa đáng được. Cần một nghiên cứu, thống kê, thu thập số liệu ở tầm quốc gia để trả lời. Ở đây, tôi chỉ có ý muốn nói rằng lập luận “sau hơn 34 năm thống nhất đất nước, chúng ta đã phát triển về mọi mặt. Và so sánh tình hình nước ta hiện nay với cách đây 34 năm, kết luận rằng chúng ta đang đi rất đúng hướng” là không thỏa đáng, không chính xác và không thuyết phục lắm.

Tạm kết luận

Khái niệm về “Dân Chủ” là một hình thức xã hội mà “Toàn bộ Quyền Lực nằm trong tay người dân”, tức Người Dân là chủ thực sự đất nước thông qua Tổng tuyển cử tự do trong minh bạch, công bằng và có cạnh tranh lành mạnh.

Một số lập luận không chặt chẽ, dễ gây ngộ nhận và mang tính ngụy biện giả trá. Vì thế rất cần có câu trả lời rõ ràng, khoa học hơn.

Tiến trình dân chủ hóa đất nước ta hiện nay nhất là trong mấy năm gần đay cũng có chút đỉnh tiến bộ và theo hướng tích cực, nhưng quá chậm chạp và không đáp ứng được nhu cầu lành mạnh, chính đáng của đại bộ phận nhân dân trong toàn xã hội. Và tiến trình này cũng không theo kịp các chuyển biến tích cực của bối cảnh quốc tế và trào lưu tiến bộ của thời đại đòi hỏi bức thiết trong quá trình hội nhập của nước ta vào sinh hoạt của cộng đồng quốc tế văn minh tiến bộ. Do đó, tốc độ phát triển của nước ta vừa chậm chạp, vừa không toàn diện, vừa không chắc chắn và không được đảm bảo bền vững lâu dài.

Quyền nổi bật nhất thể hiện cho được một xã hội có “Dân chủ” chính là quyền nhân dân được tự do chọn người lãnh đạo, tự do ứng cử và bầu cử. Khi chưa có quyền này thì mọi chuyện khác đều không có ý nghĩa gì cả.

Nguyễn Đại

Email : ngusilam@gmail.com This e-mail address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it
Điện thoại liên hệ tạm thời : 0199 – 865 - 1432

Viết xong ngày 20/11/2009, hoàn chỉnh ngày 24/11/2009
Chân thành cảm ơn nhà báo Nguyễn Khắc Toàn – tại Hà Nội đã thảo luận, đóng góp những ý kiến hết sức quý giá, chân thành, rất thực tế để bài viết thêm sinh động và hoàn chỉnh.
____________________________________
Đôi nét về người viết
Họ Tên: Nguyễn Đăng Cao Đại, còn gọi tắt là Nguyễn Đại
Sinh năm: 1975
Nơi ở hiện nay: số nhà 184/42, đường Phạm Văn Hai, quận Tân Bình, Sài Gòn (tức TP – Hồ Chí Minh ngày nay).
Nghề nghiệp: Kỹ sư Xây Dựng
Học vấn: Đang học Cao học “Công Nghệ Thi Công và Quản Lý Xây Dựng” thuộc Đại học Bách Khoa TP- HCM thì nghỉ ngang vì cho là chương trình không thực tế!

Xuất xứ: Sao Trắng



Tuesday, November 24, 2009

Phóng sự Hội nghị Việt kiều lần thứ nhất tại Hà Nội

Tuesday, November 24, 2009, 11:29 AM
Điếuvăn

Hôm qua tìm cách vào trong hội nghị nhưng không được vì các đại biểu điều có danh sách, có thẻ mới vào được. Xe vào phải có bản Hội Nghị. Xe ôm tuyệt đối chỉ được đậu ngoài xa. Nghe nói buổi chiều có văn nghệ lớn miễn phí cho VK tiếc không vào xem được. Mấy khách sạn lớn tha hồ mà chém, 500 USD một đêm là chuyện nhỏ.
Muốn làm một phóng sự nho nhỏ như là một chuyện kể lại cho những người bạn của DV rên Xcafe thì mình cần phải tốn công và tốn rất nhiều. Tôi và cô bạn gái thân thương phải chạy xe máy ngược xuôi trong hai ngày nay để tìm hiểu sự kiện lịch sử nầy, để trực tiếp tai nghe mắt thấy để phân tích cho các bạn chưa biết ở nước ngoài biết được sự thật. Có một số VK nhưng rất ít đến từ các nước như Mỹ, Canada, Úc, Anh, Pháp, theo tôi họ chẳng qua là những người "tham dự đại hội cho thỏa tính tò mò xem cái comedy nầy vui " như anh CaFeDen nhận xét. Tôi có hỏi vài vị VK, sau "Đại Hội" nầy họ có đi tham quan? họ trả lời sẽ đi Tuần Châu chơi. Như vậy mục đích của VK từ các nước Tư Bản về là chỉ đi chơi, đi tham quan chứ không phải về làm Đại Biểu, hội họp với nhà nước ta rồi phổ biến thông tin lại cho cộng đồng bên đó như quảng cáo mà đảng đưa ra hay nói đúng là đảng đang đánh lừa dư luận.
Viếng lăng Bác không phải trả tiền
Có mấy trăm bác Việt Kiều thế mà cũng làm náo loạn Hà Nội mấy ngày nay, khách sạn thì hết phòng, giá bèo của nhà nghỉ cũng trên 1 triệu.
Từ sớm mấy bác VK khăn gói sắp hàng tới thăm Lăng Hồ Chủ Tịch, tôi lén phéng cũng quen được một bác VK khoảng trên 60 bó. Tôi chen chân theo chân mấy bác ấy thể hiện tình yêu đối với Bác Hồ. Tội cho mấy bác đại biểu VK, từ 50 bó tới 60 bó chiếm hết 70% có một số bác tuổi thượng tuần cũng trên 70 bó chứ không ít, một số VK khác trẻ hơn thì gương mặt ngơ ngác chắc là người nhà của mấy bác đi chung, số còn lại là phóng viên, công an chìm nổi. Phái đoàn đại biểu VK cao cấp thì đi trước rất xa chung với lãnh đạo nước ta, họ phải đeo cái thẻ to tổ bố trước ngực, có tên tuổi và quốc gia nào đến. Phái đoàn đi sau thì tạp nhạp đủ thành phần, con cháu bà con VK. Phái đoàn thiếu nhi Bác Hồ, phái đoàn Thanh Niên CS, phái đoàn bóng đá, phái đoàn phường khóm cũng được mời tới sắp hàng tiếp theo dài trên mấy cây số để VK nước ngoài biết được là nhân dân ta rất mang ơn Bác Hồ kính yêu.
Việt Kiều xa xứ lâu ngày mà nhiều người nói giọng Hà Nội, Thanh Hóa vẫn còn rất chuẩn. Muốn vào thăm Hồ Chủ Tịch khó lắm chứ không phải dễ. Các đại biểu VK phải đứng sắp hàng gần cả tiếng bên ngoài đường để nhân dân biết là VK cũng yêu bác Hồ lắm chứ. Có bác công an mặc đồ vét tông đưa tay làm dấu lúc nào thì chúng ta tiếng bước, lúc nào chúng ta phải chờ. Tội cho mấy bác đại biểu tuổi cao, đứng lâu chân mõi mà không dám ngồi. Đi qua quày gửi đồ miễn phí, máy hình, máy ảnh, bao bị không được đem vào lăng phải gửi lại quày. Mấy cô lớn tuổi làm việc ở quày gửi đồ hôm nay thay bằng lớp gái trẻ, mặc áo dài xanh đồng phục trông rất đẹp mắt.Đi qua trạm gửi đồ thì đoàn quân VK đi, chung lòng với Bác, chưa xong, tưởng là đi tiếp được, không ngờ phải ghé dừng chân tại một căn nhà để xem phim bác Hồ vĩ đại chiếu trên TV với cuộn băng nhão. Có bác VK gật gật ca ngợi công ơn bác Hồ. Xem xong phim là các đại biểu phải bước qua máy khám bom. Có lẽ công an muốn tìm xem có bọn phản động nào trong đám nầy.
Thế là từng bước thầm bước đi.., trên một cây số rồi mà vẫn chưa được vào Lăng, phái đoàn phải đi vòng cho nhân dân chiêm ngưỡng cái đã. Chà may quá tới được gần Lăng rồi nhưng chưa hết phải chờ các chiến sĩ bảo vệ Lăng đồ trắng cầm Hoa dẫn đầu phái đoàn VK cấp cao đi trước. Xa quá không nhìn thấy chữ trên vòng hoa thì chắc là chữ "Kính Viếng Chủ Tịch HCM" như thường lệ.
Tới được bật thang rồi mà còn phải dừng lại, bác công an nhìn chăm từng người một xem có bọn phản động nào âm mưu gì không. Thế là xong, bước vào bật cấp đi lên vào Lăng, trong nầy mát lạnh, đường đi hai bên tường là đá Hoa Cương được xây cất như một đường hầm trú bom, quẹo sang phải tầng trên phái đoàn đi chậm lại vì phía trên kia là cái hòm bằng kính đựng xác bác Hồ, ánh đèn mờ mờ ảo ảo. Bốn chiến sĩ áo trắng đứng nghiêm chung quanh hòm kính, đoàn người bị bác công an đứng gần đó thúc dục đi nhanh không được nhìn bác Hồ, ai ngắm quá lâu hay dừng lại để ngắm thì bị đuổi đi ngay... chắc là sợ biết xác giả thì tai tiếng cho đảng ta.
Sắp hàng thì gần 2 tiếng, đi gần 2 cây số đường vòng mà chỉ được nhìn thấy Bác Hồ vài giây ngắn ngủi. Đoàn người lủi thủi ra về tới quày hàng lấy đồ để về Trung tâm hội nghị quốc gia Mỹ Đình. Xe taxi đậu đầy chờ khách, đại biểu thì có xe riêng đưa rước còn con cháu đi theo thì phải đi Taxi, muốn đi nhanh hơn thì có mấy bác xe ôm mặc đồng phục xanh nhạt đứng chờ đầy phía sân sau.
Tôi có gặp một VK trong dịp nầy, anh ta tên là Thomas, một VK ở Canada khoảng trên 30, hay mặc vét tông, đeo mắt kính. Người nầy đã về VN lâu rồi vì tôi đã gặp anh ấy cách đây 2 năm ở Hà Nội. Anh Thomas nói với tôi là ảnh đại diện cho hãng IBM tại VN, là một giám đốc người Việt nhưng rất lất cất, tiếng Anh nói lặp bặp, hay thích khoe khoang. Hôm qua đọc trên tờ báo Lao Động có viết "Thomas 34 tuổi, là VK bên Pháp lần nầy về để đại diện cho IBM", tôi rất ngạc nhiên điều nầy. Thomas là một người tôi biết là do tình cờ vì tôi làm thông dịch Anh ngữ cho một cuộc hội thảo. Tờ Lao Động được chỉ thị đăng tầm bậy để người đọc có cảm giác là VK sau lần đại hội nầy sẽ về làm ăn. Mục đích của đảng là khuyến dụ người khác theo nghị quyết Ba Sáu.
Trong số VK lần nầy có những người mà nhiều người biết như ông Lê Trọng Văn theo mẹ tôi cho biết ông Văn từng làm xướng ngôn viên cho đài BBC tiếng Việt trước năm 1975. Người khác là vợ chồng Nguyễn Cao Kỳ từ Tuần Châu tới... Còn 898 đại biểu VK còn lại là "Vô Danh Tiểu Tốt".
Chống Cộng cực đoan tung danh sách Việt kiều giả
Các bác chống cộng lại lợi dụng chuyện Đại Hội Việt Kiều để tung danh sách giả lên nhằm đánh phá ngay chính những người trong cộng đồng. Nếu chúng ta chê VC thủ đoạn thì người chống cộng nên tránh dùng thủ đoạn để đánh người khác. Có thể những người trong danh sách đã từng về VN kinh doanh hay có những liên quan, lời phát biểu tới nhà nước thì lập tức được đưa vào danh sách phát cho họ cái nón cối miễn phí. Trước đây tại Indonesia, cũng dựa vào những danh sách "thân cộng", không cần kiểm chứng, mỗi ngày trên 3000 người bị "chống cộng" giết chết.
Phương áng chống cộng lùa người dân theo cộng sản là một phương áng thất bại ngay từ bước đầu. Trước đây trong chế độ VNCH đã có chương trình chiêu hồi, những người VC chính gốc cũng được hưởng qui chế đối xử công bình. Những người thân cộng, về VN làm ăn kinh doanh, chưa chắc họ là VC, họ chỉ là những người dân bình thường như bao người khác. Các nhà trí thức khi họ về VN giúp đở cho người nghèo hay có những chương trình giúp trẻ em tàn tật như chị Huỳnh Thị Mận trước đây cũng bị chụp cho cái nón cối vì chị được ông Lê Khả Phiêu đứng chụp hình chung.
Người Việt chống cộng kết luận quá vội vàng như vậy thì bắt buộc con số người dân theo VC ngày càng tăng chứ không giảm. Nếu chúng ta chỉ căn cứ là bất cứ người nào chụp hình chung với VC là VC làm tôi nhớ tới chuyện trong phim Outbreak do tài tử Dustin Hoffman đóng, "ai gần người nhiễm vi rút là phải bị triệt tiêu". Trong thành phố số người nhiễm vi rút rất ít nhưng cả T.P đã bị cho vào danh sách thủ tiêu tập thể.
Dựa trên tư duy của người chống cộng cực đoan, không cần phải chụp hình chung với VC mới là VC, ai về VN là VC, ai tổ chức văn nghệ cho ca sĩ VN hát là VC, ai về VN giúp trẻ em tàn tật là VC, những vị tăng ni nào không nằm trong tổ chức Phật Giáo Thống Nhất là VC, ai đi nghe ông Nguyễn Minh Triết hay bất cứ ông nào VC nói chuyện sẽ trở thành VC... Nếu như vậy thì qua dễ để trở thành VC.
Nếu chúng ta dựa theo cảm tính để làm một bản thống kê thì ở Hải Ngoại có nhiều VC hơn người "chống cộng" mà không ai biết. Tôi đưa ví dụ trường hợp cô Huỳnh Thị Mận là một phụ nữ hiền lành ở Bắc Cali, cô về VN để giúp mở những ngôi nhà tình thương giúp trẻ em tàn tật và cô Mận được Phòng Thương Binh Xã Hội ca ngợi, cô được báo đăng hình và Lê Khả Phiêu có dịp đi ngang qua và chụp hình chung với cô Mận thì cô Mận trở được người chống cộng cho cái nón là VC là đảng viên CSVN. Chuyện chưa hết ngang đây. Cô Mận về lại Mỹ và đi chơi hội chợ Tết chung với những người bạn, trong đó có một thành viên Việt Tân và sau đó anh thành viên Việt Tân nầy được đưa lên báo trở thành VC và chưa hết những người bạn thân của cô Mận cũng được vinh dự thành VC.
Trong những người bạn đó của cô Mận có cô kỹ sư Đỗ Anh Thư, chị Đỗ Anh Thư trước đây là một người Việt Hải ngoại chống cộng nhưng bị chụp cho cái mũ VC nên sau đó chị Đỗ Anh Thư về theo chị Mận để giúp luôn cho trẻ mồ côi bên VN. Chỉ trong nháy mắt, chỉ đi chơi chung thôi mà trở thành VC chứ đừng nói là chụp hình chung với VC mới là VC. Đây có phải là sự quá nhạy cảm của người "chống cộng" ? Bao giờ thì người dân trong nươc mới mong người chống cộng giúp cho họ thoát khỏi bàn tay VC. Nếu người chống cộng hô hào nào là VC là tàn ác, tham ô, xấu xa thì sao "chống cộng" cứ đẩy những người dân vô tội về với VC, đây có phải là sự mâu thuẩn hay không ? Cái danh sách "Việt Kiều" giả mà những kẻ xấu đã lợi dụng để đưa danh sách những người mà họ "ghét" vì những lý do mà tôi đã nêu trên mục đích là triệt hạ uy tính của những người nầy. Đây là một chuyện nếu dựa theo pháp luật chụp mũ bậy bạ là phạm pháp (Defamation, Libel and Slander Law) còn theo đạo đức thì người chống cộng làm một viê.c thiếu lương tâm và trách nhiệm.
Danh sách nầy được phổ biến khắp nơi, trên các forum yahoo và DCVonline cũng như tại đây.

Kết thúc một "Hội Nghị Diên Hồng"
Trong ngày Hôm qua, phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan đã trao Huân chương Hồ Chí Minh cho Ủy ban Nhà nước về người VN ở nước ngoài. Chương trình diễn ra ngay tại sân khấu của Trung Tâm Hội Nghị Quốc Gia Mỹ Đình.Các báo chí ca ngợi thành tích của Ủy ban Nhà nước về người VN ở nước ngoài dựa trên những tự nhiên của xã hội. Ủy ban Nhà nước về người VN ở nước ngoài có xứng đáng được nhận Huân chương Hồ Chí Minh không ? Theo tôi là không vì "thành tích" chẳng qua là sự tự nhiên của xã hội.
Trong thành tích đó có đoạn cho rằng Việt Kiều Nước Ngoài đã gửi tiền về VN trong năm 2008 tăng trên 7 tỉ USD - Nếu không có Ủy Ban thì số tiền gửi vẫn thế vì họ gửi tiền cho thân nhân bà con bên VN không có nghĩa là họ nghe theo lời của Ủy Ban, ngay cả những VK về làm kinh doanh bên VN cũng chỉ là cho chính cá nhân họ chứ không phải nghe theo lời ai mà về. Nếu Huân chương Hồ Chí Minh cho Ủy ban Nhà nước về người VN ở nước ngoài dựa trên yếu tố là Ủy Ban nầy tổ chức được một hội nghị "Diên Hồng" cho 800 VK ở 101 quốc gia về tham dự Hội Nghị là một thành tích thì tôi không tán thành việc nầy.

Phản Luận:
Con số VK về tham dự lần nầy là không do chính họ tình nguyện mà do sự sắp xếp của các lãnh sứ quán của nước ta. Con số đưa ra 800 VK cho 101 quốc gia về tham dự nhưng trên thực tế những VK ở những quốc gia như Mỹ, Úc, Pháp, Anh về quá ít nên những VK ở các nước như Thái, Campuchia, Lào, Nam Triều Tiên đưa về số đại biểu gần 400, gần quá bán con số 101 quốc gia. Các đại biểu VK ở các quốc gia Tây Phương về tham dự chỉ là những người dân về VN tham quan với con số rất ít là những nhà trí thức. Đây là một sự thất bại của Nhà nước về người VN ở nước ngoài không đạt được tiêu chuẩn mời gọi.
Thất bại lớn nhất là 800 đại biểu VK và hơn 400 đại biểu các ủy ban Mặt Trận Tổ Quốc được đưa vào ở những khách sạn sang trọng dưới sự đài thọ của ngân sách nhà nước. Ước lượng tổng số tiền chi tiêu cho đại hội trong 3 ngày gồm các cước phí bao Khách sạn, ăn uống, xe đưa rước, tiền âm thanh, ánh sáng, trang trí, chưng bày, sách báo, tài liệu. Nội tiền mướn ca sĩ thật là lãng phí như ca sĩ Quang Linh chỉ về hát mấy bài lại được trả 4,000 USD đó là chưa nói tới những ca sĩ khác. Theo ước tính của tôi cho một đại hội không đạt kết quả, hoặc kết quả giả tạo nhằm tuyên truyền cho đảng và nhà nước phải tốn ít nhất là 10 triệu USD. Con số nầy dùng để giúp cho những nạn nhân bão lụt, những căn nhà tình thương thì hay biết mấy.
Ủy ban Nhà nước về người VN ở nước ngoài đã không tiết kiệm tiền thuế của nhân dân lại đem tiêu xài lãng phí một cách vô trách nhiệm thì không thể được vinh dự lãnh nhận Huân Chương Bác Hồ. Huân chương Hồ Chí Minh và Huân Chương Sao Vàng trước đây cũng đã được trao cho đồng chí Lê Khả Phiêu, một người có công bán nước cho Trung Quốc như vậy đảng và nhà nước ta trực tiếp trao Huân Chương HCM cho những người bán nước, tham ô, lãng phí thì còn ý nghĩa gì nữa ?
ST

Monday, November 23, 2009

1.000 năm Vương triều Lý và kinh đô Thăng Long: Một triều đại văn trị, võ công

Chủ Nhật, 22/11/2009, 11:47

TP - Ngày 21/11, tại Hà Nội, nhiều nhà khoa học trong nước và quốc tế đã tham dự hội thảo 1.000 năm Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long.

Tượng Vua Lý Thái Tổ tại Hà Nội. Ảnh: T.L

65 tham luận tập trung đánh giá cao các triều vua Lý từ văn học nghệ thuật, kiến trúc, hình tượng rồng, đến chính sách ngoại giao, quân sự, pháp luật.
Học giả nước ngoài: Triều Lý không tập quyền
Trong bài viết Bản chất của vương triều Lý, GS.TS Yu Insun - Đại học Quốc gia Seoul - Hàn Quốc cho rằng, việc Lý Công Uẩn dời đô đến Thăng Long dường như cho thấy nhà vua có ý định xây dựng một chính quyền trung ương mạnh để cai quản toàn bộ lãnh thổ đất nước.
Tuy nhiên, nhiều học giả nước ngoài lại tin rằng triều Lý không phải là một nhà nước tập quyền. Theo học giả Nhật Bản Sakurai Yumio, chỉ có khu vực Thăng Long và vùng đất phía tây nam của nó là do nhà Lý trực tiếp quản lý. Toàn bộ khu vực phía ngoài châu thổ đều nằm dưới quyền kiểm soát của các dòng họ địa phương có thế lực mạnh.
“Nhưng dù thế nào chăng nữa thì rõ ràng nhà Lý là triều đại đầu tiên đã kéo dài suốt hơn 200 năm trong tiến trình lịch sử VN và thành công trong việc bảo vệ nền độc lập đất nước trước sự xâm lăng của nhà Tống vào năm 1076. Điều này cho thấy Vương triều Lý có những nền tảng vững chắc ở bên trong” - GS Yu Insun nói trước khi khẳng định văn hóa Trung Hoa không có những ảnh hưởng sâu đậm lên Đại Việt thời Lý trong so sánh với những đặc trưng Đông Nam Á, nhất là Phật giáo.
GS.TS Nguyễn Quang Ngọc - Chủ tịch Hội Sử học Hà Nội cũng nói, chính quyền quân chủ tập quyền không phải ngay từ đầu đã kiểm soát được toàn bộ lãnh thổ. Lý Thái Tổ một mặt tìm cách lôi kéo các tù trưởng miền biên viễn, mặt khác kiên quyết trừng trị các thế lực ngoan cố cát cứ và chống đối triều đình. Ông là vị hoàng đế đầu tiên trong lịch sử VN thi hành chính sách nhu viễn, dùng quan hệ hôn nhân để ràng buộc các châu mục, tù trưởng thế lực. Còn với nhà Tống -Trung Quốc, Đại Việt duy trì quan hệ triều cống và mối quan tâm chung thường là biên giới.
Bởi vậy, như Ths Hoàng Văn Tuấn (ĐH Thái Nguyên) chứng minh, biên giới đông bắc nước ta trải qua ngàn năm, từ triều Lý đến nay không nhiều thay đổi- một đóng góp lớn của vương triều văn trị võ công bậc nhất lịch sử dân tộc. Cũng nhờ thế, khu vực tây bắc được kiểm soát về quân sự và giao thương, nhất là từ thời Lý Thái Tông.

Những con người khác

Nhắc đến sự kiện đăng quang của Lý Công Uẩn phải nói tới Thiền sư Vạn Hạnh và Đào Cam Mộc. Thời Tiền Lê, Phật giáo giữ vai trò quan trọng trong đời sống xã hội. Cùng với lực lượng quân đội do Đào Cam Mộc đứng đầu, lực lượng Phật giáo mà Vạn Hạnh là thiền sư tiêu biểu chính là cánh tay phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị.
Vạn Hạnh trụ trì chùa Cổ Pháp, nhận nuôi nấng dạy dỗ Lý Công Uẩn từ lúc 7- 8 tuổi. Sau này, Vạn Hạnh với nhãn quan tinh tường đã đoán trước tương lai của Ngọa triều Lê Long Đĩnh và khuyên Lý Công Uẩn soán ngôi. Công Uẩn được Vạn Hạnh và Đào Cam Mộc đưa lên ngôi một cách êm thấm kịp thời.
Từ năm 1010 đến khi viên tịch, Vạn Hạnh ít được mô tả trong tư liệu, ngoài hình ảnh ông thường chống gậy thăm thú kinh thành Thăng Long và câu thơ của Lý Nhân Tông: Quê hương tên Cổ Pháp/Chống gậy đất kinh kỳ. Đến giờ vẫn không biết ông sinh năm bao nhiêu, năm mất thì không thống nhất: chính sử ghi mất năm 1025, tư liệu khác lại viết 1018.
Với không khí Phật giáo được truyền thụ từ người thầy Vạn Hạnh, Lý Công Uẩn có những quyết sách hợp lòng người, chẳng hạn xuống chiếu cho những người 70 - 80 tuổi, 10 - 15 tuổi và những người ốm yếu... phạm tội thì cho chuộc bằng tiền, nếu phạm tội thập ác (mười điều ác áp dụng theo mười điều giới luật của Phật giáo) thì không theo lệ này.
Cánh tay thứ hai của Lý Công Uẩn là Đào Cam Mộc, người xuất thân thôn Tràng Lang - Yên Định - Thanh Hóa, tương truyền sức khỏe hơn người. Ông được Thái tổ Lý Công Uẩn tin dùng, phong làm Nghĩa Tín hầu và con gái trưởng là công chúa An Quốc.
Đền Đô ở Đình Bảng - Bắc Ninh thờ tám vị vua Lý, hai bên là Văn Chỉ và Võ Chỉ. Hậu cung của Văn Chỉ thờ Lý Đạo Thành và Tô Hiến Thành. Nhà Võ Chỉ thờ Đào Cam Mộc, Lê Phụng Hiểu, Lý Thường Kiệt. Với bài viết mang dụng ý đặt tên Đào Cam Mộc cho một đường phố ở Hà Nội, PGS Hà Đình Đức chưa đưa ra được nhiều tư liệu về nhân vật này.
* Về Hoàng thành Thăng Long - nơi phát lộ những giá trị rực rỡ của các triều Lý, Trần, Lê, Nguyễn, GS Phan Huy Lê - Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử VN, nói: “Hồ sơ đề cử được đánh giá có chất lượng tốt. Vừa rồi, chuyên gia thẩm định của ICOMOS đã đến khảo sát thực địa, trao đổi với cơ quan quản lý và chuyên gia VN. Khả năng được công nhận di sản văn hóa thế giới đang mở ra với nhiều triển vọng nhưng phải chờ đánh giá chính thức của ICOMOS và sự biểu quyết của Ủy ban Di sản thế giới sẽ họp vào cuối tháng 6/2010”.
* Tại hội thảo, tỉnh Bắc Ninh cho biết, quê hương nhà Lý đang chuẩn bị cho nhiều hoạt động 1.000 năm Thăng Long: tu bổ một số di tích thờ phụng các vua và hoàng tộc nhà Lý như chùa Phật Tích, chùa Ứng Tâm, đền Rồng. Năm sau, Bắc Ninh sẽ rước bài vị của vua Lý Thái Tổ về Thành cổ Hà Nội.
Trần Thanh
......
Bọn Đại Hán tung đòn làm hoang mang, nhằm phá vỡ hình ảnh vị vua đầu tiên của Thăng Long:
Người Trung Quốc ?
Ngữ Thiên
viết cho BBCVietnamese.com từ Hà Nội

Tượng Lý Thái Tổ được thờ ở Đền Đô (Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh)
Trong những ngày gần đến đợt kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, dư luận nói nhiều tới Lý Công Uẩn, vị vua đầu tiên của nhà Lý.
Bên cạnh các nguồn tư liệu và những kết quả nghiên cứu từ Việt Nam cho rằng Lý Công Uẩn quê ở hương Diên Uẩn, châu Cổ Pháp - (Từ Sơn, Bắc Ninh ngày nay). Tư liệu Trung Quốc lại có những ghi chép cho rằng dòng họ vua Lý Công Uẩn có nguồn gốc đến từ đất Mân (Phúc Kiến, Trung Quốc).
Một số nhà nghiên cứu Trung Quốc căn cứ vào các tư liệu này cũng tiếp tục cho rằng dòng họ lập nên triều Lý của quốc gia Đại Việt vốn gốc tích từ vùng Mân, sau mới di cư xuống phía Nam.
Những ghi chép sớm nhất, biên soạn dưới thời Tống, đề cập đến vấn đề gốc tích Lý Công Uẩn là Mộng Khê bút đàm của Thẩm Quát và Tốc thuỷ ký văn của Tư Mã Quang.
Mộng Khê bút đàm biên chép những hiểu biết của tác giả trên khá nhiều lĩnh vực, gồm cả những ghi chép của tác giả về những lưu truyền trong dân gian, được Thẩm Quát thu thập trong lúc giao du, thăm thú các địa phương, gặp gỡ với bạn bè.
Mộng Khê bút đàm có nhiều lầm lẫn về tên người, niên đại, sự kiện. Chỉ một trang trong quyển 25, khi lược thuật tình hình biến động chính trị Đại Việt thời Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, các nhân vật được Thẩm Quát nhắc đến có tới ba người tên họ chép không chính xác: Lê Hoàn, chép thành Lê Uy, Lý Thường Kiệt ghi thành Lý Thượng Cát , Ỷ Lan thành Yến Loan...
Cũng như Mộng Khê bút đàm, Tốc thuỷ ký văn của Tư Mã Quang là tác phẩm dã sử viết theo thể bút ký, tản văn.
Sách ghi chép nhiều nội dung khác nhau, từ chuyện tình bí sử chốn cung đình đến những việc vụn vặt mà tác giả nghe kể từ dân gian... Có lẽ vì thế, ngay từ thời Tống, Tốc thuỷ ký văn đã bị liệt vào hạng "cấm thư". Tốc thuỷ ký văn ghi lại sự "nghe nói" của Từ Bách Tường về nguồn gốc người Mân của "tiên thế" vua Lý và không có thêm bình luận gì!
Đến thời Thanh, Cố Tổ Vũ trong Độc sử phương dư kỷ yếu tiếp tục nói lại chuyện này, nhưng cũng không có gì mới hơn so với các sách thời Tống.

Người gốc Trung Quốc sáng lập ra Thăng Long?
Gần đây, các nhà nghiên cứu Trung Quốc như Hàn Chấn Hoa, Lý Thiên Tích vẫn cho rằng nguồn gốc dòng họ vua Lý Công Uẩn đến từ vùng đất Mân.
Tư liệu của các tác giả này chủ yếu dựa vào các tài liệu địa phương, được biên soạn, bổ sung thông tin rất muộn sau này. Tác giả Lý Thiên Tích khi dẫn những tài liệu cho rằng "vô cùng quý giá", song cũng nhận định "trong phả có nhiều chỗ sai lầm".
Bắt đầu chỉ từ những lưu truyền dân gian với nhiều điểm nghi ngờ, chưa được làm sáng tỏ, cũng rất khó kiểm chứng, và những ghi chép đầu tiên cũng chỉ xuất hiện trong các bút ký, tản văn, các tác giả Trung Quốc đã đưa chuyện Lý Công Uẩn nguồn gốc Mân vào ghi chép của mình.
Các nhà nghiên cứu Việt Nam cũng sớm biết những ghi chép về nguồn gốc Mân của họ Lý. Từ đầu thế kỷ XIV, An Nam chí lược do Lê Tắc biên soạn, biết chuyện có sách cho rằng Lý Công Uẩn người gốc Mân, đã quả quyết: "Lý Công Uẩn, người Giao Châu, có kẻ bảo là người Mân, không đúng"[1].
Từ thập niên 40 của thế kỷ XX, học giả Hoàng Xuân Hãn trong công trình khảo cứu rất nổi tiếng Lý Thường Kiệt lịch sử ngoại giao và tông giáo triều Lý, khi dẫn giải vấn đề nguồn gốc, quê hương của vị vua sáng lập ra triều Lý, có nhắc đến các ghi chép của Thẩm Quát, Tư Mã Quang hay Lý Đào... nhưng chưa đưa ra kết luận mà chỉ coi đó là những thông tin nên lưu ý, một hướng giả thuyết trong việc tìm hiểu gốc tích của Lý Công Uẩn.
Những năm gần đây, trên cơ sở phân tích nguồn tài liệu thư tịch và khảo sát địa phương, kết quả nghiên cứu của các tác giả Trần Quốc Vượng (2001), Nguyễn Quang Ngọc (2009)... đều tập trung, hướng sự chỉ dẫn về vùng đất sinh thành, quê hương, nơi gắn bó cùng tuổi thơ Lý Công Uẩn ở vùng Kinh Bắc.
Vùng này rộng lớn, có thể tương đương với thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, mà trung tâm là các phường Tân Hồng, Đình Bảng hiện nay.
--------------------------------------------------------------------------------
[1] Lê Tắc: An Nam chí lược, bản Tứ khố toàn thư, Sử bộ, Tải ký loại, Q.12, tờ 1a; bản dịch An Nam chí lược của Viện Đại học Huế, 1961, tr.201).

---------------------------------------------------------------
Sự bạc nhược và hèn hạ của Đảng CSVN trong việc đối ngoại, cùng với sự ngu dốt trong lãnh đạo, liên tục đem lại nhục nhã cho dân tộc Việt, tạo cơ hội cho bọn Đại Hán phương bắc "thâu tóm" Việt Nam.
Đã đến lúc 80 triệu dân Việt phải đứng lên, cùng đứng chung một chiến tuyến để giải thể Đảng Cộng Sản, trước khi chúng bàn giao Việt Nam cho bọn Trung Quốc .
Viettin
TGNV