Monday, July 13, 2009

NAY ANH, MAI TÔI


Sau khi người dân Tây Tạng nổi lên biểu tình chống đối Trung Cộng một cách dữ dội rồi cũng bị dẹp yên. Đến nay thì công an Trung Cộng đang tiến hành truy nã những kẻ chủ mưu, đồng lõa và tham gia cuộc biểu tình nói trên. Mặt khác, Trung Cộng cũng đang tiến hành những sự trừng phạt về kinh tế tài chánh đối với người Tây Tạng. Điều này thì ai cũng biết, một khi xâm lăng nước khác việc đầu tiên và kéo dài vô tận là thu hoạch quyền lợi vật chất. Và cũng như một định luật bất di bất dịch là nạn kỳ thị chủng tộc không sao tránh khỏi, để rồi đến lúc người bị trị chịu không nổi lại nổi lên chống đối, và bổn cũ soạn lại… và nếu không có một phép lạ, một luồng gió mới, một biến cố quốc tế nào đó v.v… thì dân bị trị hoặc sẽ biến mất, hoặc chỉ còn là một thiểu số, ngậm đắng nuốt cay, sống trong tủi nhục, vất vưởng như những ma hời.

Vừa dẹp tạm yên Tây Tạng thì Tân Cương nổi lên. Mới bùng phát nhưng cuộc nổi dậy này đã có rất nhiều máu đổ và tuy cũng chỉ vì dân bị trị chịu không nổi sự hà sắc, áp chế của kẻ cai trị, nhưng cuộc nổi dậy ở Tân Cương mang một màu sắc đặc biệt, đặc thù, hứa hẹn một cuộc đấu tranh lớn lao và còn loang ra nhiều nơi. Sự việc nghiêm trọng cho đến nỗi Hồ Cẩm Đào phải bỏ dở cuộc họp G8 để về giải quyết. Không khéo từ cái xảy này sẽ nẩy cái ung nhiều nơi ở Tân Cương và tràn lan ra hải ngoại. Đây là hậu quả của chính sách “Hán hóa” tức là chính sách đồng hóa các dân tộc khác của người Hán. Hồ Cẩm Đào sẽ làm gì?

Chuyện 2 người Uighur (Duy Ngô Nhĩ) bị chết và 120 người bị thương trong một cuộc ẩu đả vì kỳ thị đã làm bùng nổ những cuộc bạo loạn lớn lao giữa người Hán và người Duy Ngô Nhĩ là một chuyện rất thường xảy ra một khi 2 sắc tộc sống chung vì một bên bị chèn ép. Và khi sự việc xảy ra, lực lượng an ninh Trung Cộng dĩ nhiên là binh người Hán và đổ lỗi cho người Uighur. Người Hán ỷ có “viện binh” đã tấn công đối phương, hai bên lại xung trận, người chết, người bị thương là nguyên nhân cho những cuộc tấn công mới.

Nhà cầm quyền Trung Cộng cho rằng trong 156 người chết thì người Hán chiếm đa số, nhưng người Uighur thì cho rằng người của họ bị thiệt mạng nhiều hơn. Lời loan báo của “nhà cầm quyền” khác nào đổ dầu vào lửa để người Hán hăng máu hơn. Ngày 5.7.2009, khoảng 10 ngàn người Hán đã dùng đủ loại vũ khí thô sơ tìm cách tấn công các khu vực của người Uighur cư ngụ để trả thù, nhưng lực lượng an ninh đã ngăn chận và ban hành lệnh giới nghiêm. Phía nhà cầm quyền Trung Cộng cho rằng sở dĩ có cuộc nổi loạn là do bên ngoài xúi dục và chủ mưu là tổ chức “Ðại Hội thế giới người Uighur”.

Ngoài nguyên nhân kỳ thị chủng tộc ra, các tài nguyên Tân Cương bị người Hán khai thác, chiếm đoạt, do đó, người Hán ngày càng giàu có trong khi đó người Uighur ngày càng nghèo. Với đầu óc “thực dân”, người Hán cho rằng nhờ họ mà xứ sở của người Uighur mới được mở mang, trong khi dân tộc Uighur biết rằng đất nước mình đang bị tước đoạt tài nguyên. Do đó, chưa biết cuộc bạo loạn này sẽ đi về đâu.

Chưa hết, người Hán vốn có óc kiêu ngạo cho mình là “rốn của vũ trụ” còn tứ phương thiên hạ đều là mọi rợ: Nam Man, Tây Rợ, Bắc Hồ, Ðông tặc. Họ đến đâu thì áp đặt văn hóa tôn giáo của họ đến đó. Năm ngôi sao chầu quanh một ngôi sao lớn trên lá cờ Trung Cộng chính là biểu tượng cho 5 sắc tộc đã bị họ đồng hóa.

Nguyên nhân nguy hiểm nhất có thể đưa đến xung đột lớn, lan ra các nước khác là tôn giáo. Người Uighur theo đạo Hồi, trong khi đại đa số người Hán theo đạo Phật hoặc đạo Nho (Ông Bà). Những lúc gần đây Hồi Giáo bị nghi ngờ có liên hệ với khủng bố, Trung Cộng cứ “phết” cho họ liên hệ với quân khủng bố để tiện việc đàn áp vô tội vạ. Do đó, nếu một ngày nào mà thế giới Hồi Giáo đứng lên đấu tranh với Trung Cộng để binh vực đồng đạo Hồi của họ, nhất là người Uighur phát xuất từ Thổ Nhỉ Kỳ thì ngoài tình đồng đạo ra, họ còn liên hệ huyết thống với Thổ. Cũng vì vậy mà Hồ Cẩm Ðào nghe tin có bạo loạn xảy ra là lập tức bỏ cuộc họp G8 để về giải quyết. Nhưng đây là một cái gân gà cho họ Hồ, vì nếu cuộc nổi loạn xảy ra giữa dân với nhà cầm quyền còn dễ giải quyết chứ xung đột giữa 2 sắc tộc bị trị và cai trị thì rất phức tạp. Với tình thế như hiện nay, chắc chắn Trung Cộng sẽ đi đến chỗ đàn áp tàn bạo, dù phải làm một Thiên An Môn thứ 2 tại Tân Cương.

Hình ảnh người Uighur hôm nay cũng là hình ảnh Việt Nam ngày mai, một tương lai gần, rất gần. Ngoài ý chí đồng hóa láng ghiềng một cách mạnh mẽ, gần như là bẩm sinh, Trung Cộng hiện có những lợi điểm như sau đây để dễ bề đồng hóa Việt Nam: - Bộ máy cai trị Việt Nam do đàn em của Trung Cộng điều khiển. Cả Bộ Chính Trị Việt Cộng đều là đầy tớ Trung Cộng, lại có những tin tức cho biết tên thì bị Trung Cộng dùng đòn mỹ nhân kế, như Lê Khả Phiêu mấy năm trước, tên thì bị mua chuộc cả trăm triệu Mỹ kim như Nguyễn Tấn Dũng, v.v… Trung Cộng còn có trăm phương ngàn kế để siết dây thòng lọng vào cổ Bộ Chính Trị Việt Cộng. Vì vậy mà chỉ trong vòng 20 năm kể từ sau năm 1979 Trung Cộng đã đạt được những “thắng lợi vĩ đại” như:

- chiếm được một số lãnh thổ phía Bắc của Việt Nam mà những cái mốc như Ải Nam Quan, Thác Bản Dốc, Suối Phi Khanh v.v… đều mất vào tay Trung Cộng.

- lãnh hải thì Trung Cộng coi như làm chủ, và để chứng tỏ chủ quyền đó một cách ngang ngược, bất chấp các luật lệ quốc tế, đã ra lệnh cấm ngư dân Việt Nam đánh cá trên biển Việt Nam.

- chiếm lĩnh cao điểm quân sự quan trọng là Cao Nguyên Trung Phần bằng cách khai thác bâuxít, một thứ quặng gây tổn hại cho môi trường sống, đến nỗi chính Trung Cộng cũng phải đóng những mỏ bâuxít của chúng ở bên Tàu. Ðây là một nhát chém ngang lưng Việt Nam và cả Ðông Dương. Về phần Việt Nam thì bị Trung Cộng cắt đôi từ Cao Nguyên xuống biển Nha Trang, Cao Nguyên cũng là điểm “Ba Biên Giới Việt Miên Lào”, chiếm Cao Nguyên Trung Cộng cũng khống chế được Cao Miên và Lào, hay nói rõ hơn “ai chiếm được Trường Sơn là làm chủ Ðông Dương”.

- Những tin tức chính xác cho biết hiện nay Trung Cộng đã đưa dân của chúng qua tràn lan trên quê hương Việt Nam, thậm chí chúng còn lập những làng riêng cho dân Tàu, và dĩ nhiên cái gọi là “chính quyền Việt Nam” không dám héo lánh đến.

- kế từ ngày Việt Cộng đầu phục Trung Cộng, nhờ Trung Cộng che chở thì hàng hóa Trung Cộng nhập lậu vào Việt Nam một cách vô tội vạ, thậm chí hàng tỉ tỉ đồng bạc Việt Nam giả được in ở Trung Cộng cũng được Trung Cộng đưa vào Việt Nam. Người ta ước lượng từ đầu thập niên 80 cho đến nay, Việt Nam đã góp phần rất lớn nuôi tỉnh Vân Nam của Trung Cộng. Chưa kể các tài nguyên khác như lúa gạo hiện nay đều nằm trong tay người Tàu.

- tinh thần nô lệ của Việt Cộng đê hèn cho đến nỗi một người Việt Nam bị dân Tàu đánh chết ngay tại thủ đô Hà Nội mà chỉ bị xử có 5 năm tù ở. Nhưng không ai tin là bản án được thi hành.

Cái tai hại nhất hiện nay là Việt Cộng giả vờ “đi với Mỹ” khiến cho Trung Cộng lấy cớ đó làm eo làm xách. Mỗi lần có tên chóp bu Việt Cộng nào qua Hoa Kỳ là một lần Trung Cộng mè nheo y như bà vợ lớn ghen với ông chồng, thế là những gì bàn thảo, ký kết với Hoa Kỳ đều phải báo cáo cho Trung Cộng, sau đó là phải “đến bù cho cân xứng với Hoa Kỳ”. Việt Nam đã nát lại càng nát hơn.

Một ngày nào Việt Nam bị Hán hóa, tôi đoan chắc người Hán sẽ đối xử với người Việt khắc nghiệt hơn đối với bất cứ sắc tộc nào khác. Vì kinh nghiệm lịch sử đã dạy cho Trung Cộng bài học người Việt Nam có “năng khiếu” chống ngoại xâm số một. Lúc đó, cái năng khiếu này lại được người Việt Nam áp dụng để chống lại người Hán. Thảm cảnh sẽ xảy ra và dân Việt sẽ hoặc bị tiêu diệt, hoặc bị đày đọa còn hơn thú vật.

Với tình trạng này, mỗi người dân Việt Nam trong và ngoài nước nghĩ gì, làm gì?

Các tôn giáo đều bị Việt Cộng lũng đoạn, phá hoại, 2 tôn giáo Cao Ðài và Hòa Hảo gần như bị tiêu diệt. Phật giáo thì đã có tay sai Việt Cộng lập ra Phật Giáo Quốc Doanh. Công Giáo tuy nhờ có tổ chức chặt chẽ, nhờ có quốc tế biết đến, nhưng cũng bị Việt Cộng chui lòn, len lỏi vào, tổ chức những nhóm linh mục quốc doanh, chẳng những phá đạo mà còn o ép các giám mục nhắm mắt trước những tai ách, bất công Việt Cộng ngày đêm gieo rắc trên Quê Hương Việt Nam. Tuy vậy, về mặt tôn giáo, nếu Công Giáo đứng lên làm phận sự “Sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc” chắc chắn sẽ là một lực lượng đáng kể, không phải để lật đổ chế độ mà để làm “một giáo dân tốt cũng là một công dân tốt” như lời Ðức Bênêditô 16 vừa nói. Có kẻ đã xuyên tạc lời Ðức Giáo Hoàng nói và cho rằng Ngài chỉ thị Công giáo Việt Nam hợp tác với Việt Cộng. Muốn làm gì có ích cho xã hội, cho đất nước và cho Giáo Hội, Hội Ðồng Giám Mục cần phải liên kết chặt chẽ hơn, không chỉ là năng gặp nhau hơn như lời Ðức Cha Khảm đã nói, mà còn phải tương trợ nhau mỗi khi có vấn nạn. Ví dụ như khi giáo xứ Thái Hà bị đàn áp, tất cả các địa phận, các giáo xứ đều đứng lên cầu nguyện. Một linh mục bị bắt bớ vì những lời nói thật, Ðức Giám Mục bề trên trực tiếp phải can đảm can thiệp và xin các Giám Mục khác cùng giúp đỡ. Nếu được như vậy, chắc chắn Việt Nam sẽ có một tương lai tươi sáng hơn. Nạn con gái phải bán ra hải ngoại làm nô lệ tình dục, nạn cả mấy chục thiếu nữ phải trần truồng để cho Ðại Hàn, Ðài Loan chọn như chọn tôm cá ngoài chợ sẽ giảm bớt, nạn mãi dâm tràn lan sẽ “hạ thấp khí thế”. Giám Mục, linh mục có bổn phận can thiệp vào những tệ nạn đó.

Các giới trí thức ngày nay đã có một số ý thức trách nhiệm, đã đứng lên đấu tranh cho Việt Nam dân chủ tự do, nhưng còn quá ít, mới đếm được trên đầu ngón tay. Dân tộc đang cần sự đóng góp của trí thức. Giới truyền thông lại càng có nhiệm vụ nặng nề hơn, nhưng nếu giới này ý thức được trách nhiệm và hành động thì chắc chắn Nước nhà sẽ được giải thoát khỏi tay Cộng Sản nhanh nhất. Muốn thực hiện được sứ mạng truyền thông, những người cầm bút rất cần sự “đồng loạt”. Một tờ báo bị đóng cửa, tất cả các báo “tự ý đình bản” thì sẽ không có tờ nào bị đóng cửa, một ký giả vì nói sự thật mà bị bắt, bị “thu giấy phép” thì tất cả ký giả “trả thẻ hành nghề”.

Ðại tướng VC Võ Nguyên Giáp đã mấy lần can thiệp vào việc làm của Bộ Chính Trị, nhưng bị Nguyễn Tấn Dũng, Nông Ðức Mạnh coi thường, không đếm xỉa đến, vì sao? Vì đàn em của Võ Nguyên Giáp không hưởng ứng, làm sao Nguyễn Tấn Dũng coi trọng lời nói của ông Ðại Tướng. Ðại tướng Giáp đã thấy nguy cơ của đất nước, đã thấy nạn diệt vong Việt Nam gần kề nên dù gần đất xa trời, ông cũng cố nói lên tiếng nói, tại sao các tướng khác im lặng? Xương máu của thuộc cấp quí vị đổ ra quá nhiều, với mục đích phụng sự quốc gia, không ngờ lại là công cụ của Việt Cộng, của Cộng Sản, các tướng tá sống đến hôm nay phải có bổn phận trân quý sự hy sinh của thuộc cấp, của đồng đội. Hãy cùng nói lên tiếng nói chung, hợp cùng tướng Giáp ngăn cản Bộ Chính Trị bán nước.

Việt Nam đã đến lúc cận kề nạn diệt vong, những ai là con dân Việt phải đứng lên lật đổ chế độ lệ thuộc Trung Cộng, cứu nguy đất nước.

Trông cái gương Tây Tạng năm ngoái, bây giờ đến cái gương Tân Cương, nhìn thẳng vào những sự lũng đoạn đất nước qua bàn tay Trung Cộng. Ai là người Việt Nam hãy nên nghĩ đến câu: Nay Anh, Mai Tôi và cùng hy sinh quyền lợi riêng tư đứng lên cứu nước.

Lê Văn Ấn
___
MGP


.

Monday, July 6, 2009

Sự Hình Thành Của Một Siêu Cường



Những Kinh Nghiệm Tích Lũy của Hoa Kỳ...

Nhân Lễ Độc Lập Hoa Kỳ, chúng ta có thể vừa xem pháo bông vừa suy ngẫm về sự lớn mạnh của một đế quốc toàn cầu, một trường hợp chưa từng xảy ra trong lịch sử nhân loại...
Từ khi tuyên bố độc lập vào năm 1776 thì kể cả Barack Obama hiện nay, Hoa Kỳ đã có 43 người lên làm 44 đời Tổng thống (ông Grover Cleveland đã là Tổng thống thứ 22 rồi 24, trong các năm 1885-1889 và 1893-1897). Nhìn lại Việt Nam thì vào thời lập quốc đó của Mỹ, nước ta có nội chiến và hai nhà Trịnh Nguyễn đều lụn bại trước phong trào Tây Sơn. Rồi khi Cleveland lên làm Tổng thống năm 1885, nước ta đã mất chủ quyền vào tay thực dân Pháp. Ngày nay, Việt Nam vẫn là một xứ lạc hậu, không có dân chủ và cũng chẳng được độc lập, dưới sự lãnh đạo của một chế độ đạo tặc.
Vào thời độc lập, hơn hai triệu 400 ngàn dân tại 13 khu vực thuộc địa ban đầu của Mỹ ở vùng Đông Bắc đã tuyên bố độc lập với Đế quốc Anh. Sau khi có độc lập và bành trướng về hướng Tây để vươn tới Thái bình dương, Hoa Kỳ ngày nay có dân số là 330 triệu người với tổng sản lượng kinh tế giàu nhất thế giới và có mặt hoặc có thể can thiệp trên toàn thế giới. Nhìn gần hơn, nước Mỹ đã đoạt ngôi vị bá chủ của Đế quốc Anh từ đầu thế kỷ 20 và sau khi Liên bang Xô viết tan rã thì Mỹ đã thành đệ nhất siêu cường toàn cầu. Thực tế là một Đế chế Toàn cầu đã thay thế vai trò của Đế quốc Anh trong những thế kỷ trước.
Những yếu tố gì đã dẫn tới một sự trưởng thành lớn lao như vậy?
***
Nếu có phải trả lời thật ngắn gọn thì yếu tố quan trọng nhất là ký ức tập thể xuất phát từ lòng yêu nước chứ không phải yêu mình!
Dù có thể tranh đấu gay gắt để lên cầm quyền, các thế hệ lãnh đạo nối tiếp của Hoa Kỳ đều biết gạn lọc và bảo vệ thành quả của chính quyền đi trước chứ không đòi xoá bỏ tất cả để rồi mỗi thế hệ cứ phải đi lại từ đầu mà không còn kiến thức hay kinh nghiệm gì của chính quyền trước đó vì mọi việc đúng sai trước đó đều bị thủ tiêu hoặc xuyên tạc, là chuyện ta thường thấy tại Việt Nam từ thời Tây Sơn đến ngày nay. Không, từ đời Hồ Quý Ly đến đời Hồ Chí Minh và con cháu ngày nay tại Ba Đình.
So với nhiều - có lẽ với tất cả các - quốc gia khác trên thế giới, Hoa Kỳ có một lãnh thổ lý tưởng để trở thành siêu cường. Xứ này được bảo vệ bởi hai đại dương lớn nhất địa cầu và lại tiếp giáp với hai nước láng giềng rất yếu nên trước tiên không bị bài toán ngoại xâm mà nhiều xứ khác đã gặp trong lịch sử. Hoa Kỳ có thể được coi như một hải đảo trong ý nghĩa đó... và là một hải đảo vĩ đại với diện tích lên tới gần 10 triệu cây số vuông.
Bên trong, xứ này có các con sông lớn, như Mississippi, Missouri, Ohio, Red và Tennessee, lại dễ thông thương với nhau chứ không hoàn toàn biệt lập như Hoàng hà với Dương tử của Tầu hay sông Hồng với Mêkong của Việt Nam. Vùng châu thổ của bốn con sông này có điều kiện địa dư và khí hậu thuận lợi cho canh tác và giao thông mà tất cả lại nằm trong một khu vực rộng lớn được... mua lại từ Đế quốc Pháp với giá rất bèo! Khu vực gọi là Louisiana Purchase này trải rộng trên 14 tiểu bang, từ biên giới với Canada ở phía Bắc xuống tới Vịnh Mexico ở phía Nam và bao gồm cả hải cảng chiến lược là New Orleans.
Hoa Kỳ có "định mệnh siêu cường" kể từ vụ mua bán đó vào năm 1804, để trăm năm sau sẽ thay thế Đế quốc Anh.
Trên một lãnh thổ phì nhiêu và bát ngát như vậy, lớp di dân sau thời độc lập cứ việc Tây tiến. Họ là thế hệ tiên phong, họ đi trước rồi nhà nước đi sau: họ đẻ ra chính quyền, chứ không chờ "lịch vua ban", hay quy định của nhà nước về cách sinh hoạt trên vùng đất mới.
Trong suốt tiến trình phát triển ấy, ngần ấy thế hệ lãnh đạo đã nối tiếp nhau củng cố và phát triển tiềm năng siêu cường của quốc gia.
Khởi đầu là từ kinh nghiệm của "mẫu quốc" là Đế quốc Anh.
Thời ấy, nước Anh là một hải đảo và có trình độ kỹ thuật cao nhất trong lãnh vực then chốt nhất của các nước là chuyển vận trên hải dương (y như khoa học hàng không và không gian ngày nay). Nhờ vậy, Anh được bảo vệ và bành trướng ra ngoài, ra toàn cầu, trở thành một Đế quốc hải dương, khác với các nước kia là chỉ có thể là một đại cường lục địa - như Đức, Nga hay Trung Quốc.
Từ kinh nghiệm của Anh, bản năng sinh tồn và phát triển của Hoa Kỳ - của nhiều thế hệ lãnh đạo từ thời lập quốc - là phải có lãnh thổ thật sâu để chống lại các đợt tấn công từ ngoài biển Đông vào. Vì vậy, trung tâm sinh lực của quốc gia được chuyển dần vào trong lục địa theo đà Tây tiến. Hạm đội của siêu cường Anh khi đó có muốn giành lại thuộc địa cũ thì cũng không nổi.
Sau khi đã lùi - hay tiến - đủ sâu về hướng Tây, bản năng sinh tồn và phát triển của các thế hệ lãnh đạo Hoa Kỳ là phải có sức phòng vệ trên cả lục địa Bắc Mỹ.
Bản năng ấy mới khiến họ chụp lấy cơ hội mua đất của Pháp như vừa nói ở trên để có một lãnh thổ liền lạc vuông vức. Nhìn lại như vậy thì định mệnh siêu cường của Mỹ có một lần bị đe dọa là trong cuộc chiến với Mexico. Nếu cuộc nổi dậy và ly khai của Texas trước sức mạnh quân sự của Tướng Santa Ana mà không thành, hoặc nếu Santa Ana chiếm được New Orleans để khóa đường ra biển của các tiểu bang Trung Tây, nước Mỹ đã không có cơ hội sát nhập Texas và bảo vệ cửa khẩu New Orleans cho các tiểu bang nội địa thông thương ra biển. Nghĩa là Hoa Kỳ đã bị một đại cường miền Nam dí dao vào bụng và chặn mất yếu hầu đi xuống Vịnh Mexico.
Bước ngoặt đó vào giữa thế kỷ 19, từ 1836 đến 1845, đã quyết định tư thế của nước Mỹ trên cả khu vực Bắc Mỹ.
Sau khi hoàn toàn làm chủ lục địa, Hoa Kỳ tiếp tục... Tây tiến trên Thái bình dương và với việc chiếm được Hawaii, nước Mỹ đã kiểm soát được biển Thái bình từ năm 1898, rồi trở thành đại cường... Á Châu. Tại hướng Đông, trên Đại tây dương, Hoa Kỳ đóng chốt được ngoài biển sau khi chiếm được Puerto Rico - và cả Cuba - từ tay Đế quốc Tây Ban Nha. Thế chiến II còn tạo cơ hội cho Mỹ.. tiếp thu một chuỗi căn cứ hải quân của Đế quốc Anh khi đó đã tàn lụi...
Vì vậy, trong thế kỷ 20, Hoa Kỳ trở thành cường quốc hải dương, có mặt trên cả hai đại dương lớn nhất, và có mặt trên thế mạnh. Mà chưa hết!
Sau Thế chiến II - cách đây có hai thế hệ và 12 đời tổng thống, từ Franklin D. Roosevelt tới George W. Bush - Hoa Kỳ còn tiến xa hơn nữa để kiểm soát các căn cử hải quân ngoài biển và liên kết với một chuỗi các quốc gia bán đảo hay hải đảo: từ Nam Hàn, Đài Loan, Nhật Bản, Phi Luật Tân, Singapore tới Úc Đại Lợi và Tân Tây Lan tại Á Châu cho đến mẫu quốc và đối thủ ngày xưa là Anh quốc rồi Na Uy, Đan Mạch tại Âu Châu. Nhờ sức mạnh hải quân và một chiến lược liên hoàn toàn cầu như vậy, Hoa Kỳ trở thành đệ nhất siêu cường hải dương.
Bất cứ một biến cố nào trên thế giới, như thiên tai, động đất, sóng thần hay hải tặc, đều thấy có sự quan sát và can thiệp rất nhanh của Mỹ, nếu chuyện ấy liên hệ đến quyền lợi của quốc gia hay từ tâm của dân Mỹ! Trong lịch sử nhân loại, chưa một đế quốc nào lại có khả năng vươn xa như thể, và đi rất xa dưới con mắt theo dõi của hệ thống kiểm báo trên không gian.
Nếu nhìn lại từ thời độc lập thì ngần ấy thế hệ lãnh đạo có thể tranh cãi lung tung về chiến lược này nọ ở bên trong, chứ về đối ngoại, cả 44 đời tổng thống đều tiếp tục và bành trướng con đường củng cố và phát triển đó: làm chủ lục địa bên trong và triển khai sức mạnh ra ngoài. Eisenhower không khác Truman hay Roosevelt, Kennedy không khác Eisenhower, Nixon không khác Kennedy, và.... Obama không khác Bush!
***
Nhưng Hoa Kỳ còn biết... điểm huyệt thiên hạ!
Mục tiêu muôn thuở của Mỹ không chỉ có tính cách phòng thủ, dù là phòng thủ tích cực trong thế bành trướng. Siêu cường này còn quyết liệt hơn ở một thực tế ít ai nói ra mà dường như lãnh đạo nào cũng thực hiện sau khi nắm quyền. Đó là cố gắng tiết kiệm xương máu, vận dụng xứ khác để làm cho không quốc gia nào có thể kiểm soát được một lãnh thổ quá lớn hầu sau này thách đố vị trí siêu cường của Mỹ!
Nhân lễ độc lập của Mỹ, ta hãy nghiệm lại mà xem..
Trong cả hai cuộc Thế chiến, Hoa Kỳ rất ngần ngại tham chiến tại Âu Châu - và quả nhiên là bị tổn thất nặng trong Thế chiến II - nhưng sau đó đã xé đôi đối thủ là nước Đức. Qua thời Chiến tranh lạnh thì Mỹ be bờ ngăn chặn Liên bang Xô viết trở thành siêu cường độc bá, bằng một chuỗi liên kết với Tây Âu, thậm chí với cả Liên bang Nam Tư ngay trong khối Xô viết. Bên kia Thái bình dương thì Mỹ ủng hộ Đài Loan chống Mao, và khắng khít hợp tác với đối thủ cũ là Nhật Bản. Khi Liên Xô quá mạnh thì Hoa Kỳ lại hy sinh cả Đài Loan - và Việt Nam! - để liên kết với Trung Quốc hầu bao vây và đánh gục Đế quốc Xô viết mà không mất một viên đạn.
Tại lục địa Nam Á, Hoa Kỳ cũng hợp tác với Pakistan để khống chế Ấn Độ và ngăn chặn liên minh giữa Ấn với Liên Xô. Khi Liên Xô sa lầy tại A Phú Hãn sau năm 1979, thì Hoa Kỳ của một tổng thống rất lý tưởng là Jimmy Carter lại ma quái yểm trợ các lực lượng Hồi giáo chống Hồng quân Nga. Cũng thế, Hoa Kỳ thời Tổng thống dễ thương là Ronald Reagan lại nhảy vào cuộc chiến tám năm giữa Iran với Iraq và ngầm yểm trợ kẻ thù cũ là Iran để làm suy yếu chế độ Saddam Hussein...
Và ngày nay, trong cuộc chiến chống khủng bố Hồi giáo thì tùy tình hình, nước Mỹ thời Bush 43 đã gõ trên cả hai phím Sunni và Shia, khi xúi bên này khi chặn bên kia. Mục đích sau cùng vẫn là để không một hệ phái nào có thể lãnh đạo toàn khối Hồi giáo, "từ Maroc tới Malaysia", như Giáo chủ Rurollah Khomeini của hệ phái Shia tại Iran hay trùm khủng bố Osama bin Laden theo hệ phái Sunni đã mơ ước! Vì không nhìn vào cả chiều dài lịch sử, dư luận Mỹ cứ vội sốt ruột về chuyện Iraq và mạt sát ông Bush như một kẻ ngang bướng dại dột. Ông ta dọn cỗ cho Obama như việc đôn quân và hợp tác với phe Sunni tại Iraq để rồi nay sẽ rút.
Nhưng "rút mà không ra" - như người viết đã nhiều lần đề cập tới từ mấy năm trước. Hoa Kỳ sẽ còn khống chế Iraq khá lâu - với binh lính không làm bia đỡ đạn trong thành phố mà trấn giữ các căn cứ ngoài sa mạc. Để canh chừng Iran theo hệ phái Shia và bảo vệ quyền lợi Mỹ trên toàn khu vực Trung Đông.
Cũng thế, khi Liên bang Nga trổi dậy và đòi lại ảnh hưởng mà Liên Xô đã từng có thì Hoa Kỳ thời Obama sẽ lại tìm ra thế liên kết từ hướng Nam với Turkey lên tới hướng Bắc với Ba Lan và ba nước Cộng hoà Baltic. Nói theo chuyện Chiến quốc bên Tầu thời xưa thì đấy là thế "hợp tung" trên cái trục Nam Bắc để ngăn hặn "cường Tần" đời nay là Liên bang Nga của Putin.
Ngẫm như vậy, người kế nhiệm Obama sẽ có ngày nhìn vào Trung Quốc.... Có khi là ai đó đã nhìn rồi, mà họ nhìn được vì chuyện "ký ức" đã nói ở trên.
***
Nước Mỹ là siêu cường vì biết tích lũy kinh nghiệm.
Cho dù bất cứ ai lãnh đạo và muốn thi hành chánh sách thiên tả hay hữu khuynh về nội trị, bộ máy an ninh chiến lược của Mỹ vẫn vận hành bình thường, như một chiếc đồng hồ tự động. Và nước Mỹ lại còn có can đảm kỳ lạ là đòi công khai hóa mọi chuyện để người dân, truyền thông, và các học giả có quyền tham khảo và phê phán.
Nhờ sự vận hành thường trực của bộ máy về an ninh - trong các bộ, cơ quan nay trong quân đội - để theo dõi, dự đoán và thiết kế ra mọi loại kịch bản quốc tế, có khi chỉ để trong ổ kéo hay trong một lò trí tuệ, Hoa Kỳ có một kho ký ức rất dày. Mà ký ức đó lại có tính chất tích cực: khả dụng nếu lãnh đạo muốn.
Mọi chính quyền nối tiếp đều có một trách nhiệm thiêng liêng và pháp định, đó là "bàn giao". Trong bàn giao, không hề có chuyện giấu diếm để phục kích hoặc gài bẫy chính quyền kế nhiệm hầu chứng tỏ sự sáng suốt của chính quyền tiền nhiệm. Chính quyền Bush đã và phải trình bày hết những chuyện tuyệt mật liên quan đến an ninh và quyền lợi của Mỹ, với cả lời cảnh giác về những mối nguy hay điểm nóng cần quan tâm ngay từ giây phút cầm quyền đầu tiên của Chính quyền Obama. Không thể có chuyện quăng vỏ chuối trên thềm nhà cho người đi sau ngả vỡ mặt!
Các quốc gia khác, kể cả đại cường Xô viết hay cường quốc mới nổi như Trung Quốc lại không thể có thể thức bàn giao như vậy vì đặc tính độc tài và vì quyền lực quá lớn của mật vụ!
Từ thời độc lập của Hoa Kỳ, tinh thần bàn giao ấy qua 44 đời tổng thống cho phép chuyển giao kinh nghiệm từ thế hệ này qua thế hệ khác để người sau khai triển chiến lược kế tiếp.
Ngoài tinh thần bàn giao trách nhiệm và kiến thức cứ tưởng như rất tầm thường mà vô cùng quan trọng, Hoa Kỳ không có hiện tượng... đốt sách và chôn học trò. Nghĩa là không thủ tiêu kiến thức của người đi trước. Đã vậy, luật lệ Hoa Kỳ còn quy định quyền đòi hỏi giải mật rất nhiều tài liệu hay thông tin của thế hệ đi trước. Mà tổng thống nào thì cũng gom các tài liệu riêng trong thời kỳ lãnh đạo của mình vào một viện bảo tàng hay một thư khố. Ai muốn tham khảo thì có thể tìm đến kho ký ức chung đó. Một Tổng thống bị đàn hặc và phải từ chức như Richard Nixon mà sau này vẫn được kính trọng chính là nhờ kho ký ức đó: người ta hiểu ra tầm nhìn và học được rất nhiều kinh nghiệm của ông.
Nghĩa là quy luật "công khai hóa" mọi chuyện giúp người sau hiểu được vì sao và trong hoàn cảnh nào người đi trước lại sai lầm hoặc đã lấy quyết định như vậy.
Vụ tranh luận về màn "trấn nước tù nhân" là một điển hình nóng bỏng giúp Chính quyền Obama hiểu được bài toán của Chính quyền Bush và dù đồng ý hay không thì cũng biết vì sao ông Bush lại làm như vậy. Không chỉ chính quyền Obama mà người dân Mỹ cũng biết, nên có thể suy xét và phê bình cách hành xử của Bush trước đó, và của Obama sau này.
Không là một ngẫu nhiên nếu Hoa Kỳ trở thành siêu cường toàn cầu, khiến mặt trời không bao giờ lặn trên các chiến hạm của Mỹ. Lý do chính là sự thật không bao giờ tắt trong ký ức chung của các thế hệ lãnh đạo Hoa Kỳ. Họ đáng kính trọng ở tinh thần yêu nước hơn là yêu mình.
***
Trông người lại ngẫm đến ta... qua một chuyện giả định mà không có...
Năm 1975, sau khi chiến thắng miền Nam và chấm dứt mấy chục năm tương tàn, nếu lãnh đạo Hà Nội hành xử khác trong hoàn cảnh... chao ôi bi hài, gọi là độc lập, thì tình hình Việt Nam ngày nay đã khác. Sau khi tiếp thu mà chẳng cần bàn giao, nếu Hà Nội chú ý đến ký ức tập thể của miền Nam thì đã gặp gỡ những người có trách nhiệm trong Nam với tinh thần thực sự là dân tộc trên hết. Khi ấy, họ đã học được kinh nghiệm quản trị kinh tế và xã hội, lẫn kinh nghiệm giao tiếp với Hoa Kỳ, hay cả kinh nghiệm đối ngoại - với cả Trung Quốc.
Khi ấy, chưa chắc đã có cuộc chiến Hoa-Việt năm 1979 và chắc chắn là không có sự lụn bại ngày nay trước thế lực Bắc Kinh.
Hà Nội có tập trung những người ở trong phe chiến bại thật. Nhưng để "cải tạo" họ mà thực chất là để tự ca tụng! Lãnh đạo mê muội ấy đầy ải người dân trong Nam rồi tịch thu sách báo, giam cầm trí thức để rơi vào chân không.... Họ thủ tiêu ký ức và bần thần - rồi nói phét - trước các vấn đề vượt quá khả năng hiểu biết và ứng xử. Họ gây ra khủng hoảng, đổ thêm xương máu của thanh niên cho chiến tranh và mất mấy thập niên học cách xoay trở với những bài toán mới.
Ngày nay, cách xoay trở mà trên dưới đều thuộc là ăn cắp. Và cách tồn tại mà lãnh đạo đang áp dụng là bán nước.
Đâm ra, Lễ Độc Lập của Mỹ cũng là dịp ta suy nghiệm về thực tế nô lệ của Việt Nam!

NGUYỄN XUÂN NGHĨA

Thursday, July 2, 2009

Các hiểm họa từ thượng nguồn sông Cửu Long



Các hiểm họa từ thượng nguồn sông Cửu Long đang đổ xuống có khả năng từ từ dìm Cà Mau và duyên hải Nam Việt xuống biển, ép nước mặn lấn dần vào sâu trong châu thổ sông Cửu Long, và ngăn chặn tôm cá đi đi về về sinh sản tại hạ nguồn. Ô nhiễm từ kỹ nghệ quặng mỏ Vân Nam sẽ theo dòng nước đổ xuống, những hồ chứa nước, đập thủy điện khổng lồ và khai thác quặng mỏ ở thượng nguồn sẽ còn là những mối hiểm họa ghê gớm, có khả năng gây sóng thần tràn ngập lưu vực và gây tê liệt vựa lúa Việt Nam nếu việc quản lý có sự tắc trách vô tình hoạc cố ý. Việc gia tăng sử dụng than đá và phát triển kỹ nghệ luyện kim trên Vân Nam sẽ tăng độ ô nhiễm không khí; ô nhiễm này sẽ lan rộng và tỏa xuống Bắc Việt theo gió mùa không ngăn cản được.

Sông Mekong từ Tây Tạng chảy qua sáu nước, do đó vừa là phương tiện giao thoa của nhiều nguồn văn hóa ngôn ngữ, có thể mang lại tình hữu nghị và cũng là mối tranh chấp quyền lợi. Mekong là mạch máu chính và cũng là dòng sữa mẹ cưu mang hàng chục triêụ ngư dân và nông dân, có các nền văn minh lâu đời đa dạng, là nơi ẩn trú và sinh tồn của hàng chục ngàn giống loài, trăm ngàn thảo vật rất hiếm qúy. Mekong vẫn còn là nơi tiếp tục cống hiến những phát hiện mới góp phần làm phong phú cho kho tàng sinh học của nhân loại [1].

Tương lai của lưu vực sông Mekong, và vì thế nhất là của Việt Nam tại cuối nguồn, sẽ lệ thuộc nặng nề vào chính sách phát triển của các nước thượng nguồn nhất là Trung Quốc. Hiện nay Trung Quốc với 1,3 tỉ dân số đang mắc vào nạn hạn hán và sa mạc hóa trầm trọng lan rộng trên lành địa của họ. Sông Songhua, hằng mang nước về cho dân cư Hoa Bắc nay đã khô cạn. Nửa tỉ người sống từ Mông Cổ đến Tân Giang (Xinjiang) đang mất dần nước dùng; có đến 400 trong số 668 thành phố đang thiếu nước sinh hoạt. Chỉ cách Bắc Kinh 70 cây số, đã có những trận bão cuốn cát vàng (hoàng thổ) từ sa mạc Mông Cổ Gobi thổi về bao phủ cả thành phố và làng mạc; có những đụn cát nổi lên cao đến 100 mét tiến về hướng kinh đô với vận tốc 5 mét mỗi năm. Tại Hà Bắc một đoạn của Vạn Lý Trường Thành bỗng nhiên ngoi lên từ đáy hồ cạn Phan Gia Khẩu (Pan Jiakou) [2].

World Bank dự dự đoán rằng hai phần ba sản xuất nông nghiệp của cả Trung Quốc là nằm ở Hoa Bắc lại là nơi không đủ nước dùng, đến năm 2050 thu hoạch ngũ cốc sẽ giảm mất 7% [3]. Trung Quốc đã bơm nước từ Hoàng Hà lên cứu Hoa Bắc, hậu quả việc này là 226 ngày trong năm 1997 nước Hoàng Hà không còn chảy được tới biển. Trung Quốc đang lập kế hoạch chuyển 45-60 tỉ mét khối nuớc từ Dương Tử từ phía Nam lên lưu vực Hoàng Hà. Dự án vĩ đại này tốn khoảng US$30 tỉ [4], hơn cả đập Tam Giáp; mà Tam Giáp vốn là một công trình
xây cất lớn bậc nhất của nhân loại. Trung Quốc đã để dân số tăng quá nhanh, chăn nuôi quá sức chịu đựng của đất đai, và khai thác rừng quá sức phục hồi của tạo hóa [2]. Sau 50 năm, Hoa Bắc đã rơi vào thảm trạng bi đát, đến nỗi châu thổ Hoàng Hà -cái nôi của nền văn minh Trung Quốc- đã bị hy sinh.

Bây giờ, không thể tránh được nữa, Mekong với tiềm năng 71 triệu kW [5] tuy ở phương Nam nay đã thành mục tiêu khai thác chiến lược của Trung Quốc. Liệu Trung Quốc có quan tâm gì về hạ nguồn để tránh cho sông Mekong khỏi rơi vào cùng số phận với sông Hoàng Hà hay không? Liệu biển hồ Tonle Sap, Ðồng Tháp Mười và châu thổ sông Mekong có tránh khỏi phải đón nhận các chất thải kỹ nghệ độc hại như cyanide, arsenic, acid vốn có từ các quặng mỏ từ
Vân Nam chảy về hủy hoại hệ sinh thái của họ hay không? Phù sa có còn đủ để bồi đắp cho duyên hải Cà Mâu và đem dinh dưỡng giữ cho thủy hệ biển Ðông được tồn tại hay không?

Hiện nay việc khai thác tiềm năng thủy điện và chứa giữ nước từ Lạn Thương giang (Lancang) thượng nguồn Mekong, tại Vân Nam đã được tiến hành đại quy mô và với tầm vóc kỷ lục thế giới. Họ đã thực hiện xong các đập thủy điện lớn ngang dòng chính như Mãn Loan (Manwan) 1500 MW và Ðại Chiếu Sơn (Dashaohan) 1350 MW [6]. Bốn nước Trung Quốc, Thái, Miến, Lào đã thỏa thuận sẽ phá các cù lao đảo, vét lòng sông và mở rộng ghềnh thác cho tàu bè trọng tải 500 tấn có thể đi từ hải cảng Simao xuống tận Chiang Khong/Chang Sean, Thái Lan [7] [8]. Trung Quốc sắp khai dựng thêm đập Hiếu Loan (Xiaowan) 4200 MW, cao gần 300 m, cao bằng các toà nhà chọc trời 100 tầng [9]. Họ còn các dự án lớn khác nữa như Nuozhadu (5500MW), Mengsong và Gongguoqiao [14]. Như thế họ sẽ tận dụng hết các tiềm năng Lạn Thương giang trên Vân Nam để phục vụ việc khai thác quặng mỏ nói trên. Lào cũng không kém nỗ lực, họ đã chận ngang hầu hết những sông nhánh của Mekong như Nam Ngum, Nam Thuen, Nam Leuk, Houay Ho trên lành thổ họ. Họ vừa phá rừng lấy gỗ, làm hồ giữ nước, làm điện bán cho kỹ nghệ Thái [10] . Lào lại đang dự định cho công ty Oxiana của Úc vào khai mỏ vàng và đồng tại
Sepon; và Lào đã cấp 40 giấy phép khai mỏ khác đang chờ vốn đầu tư vào khai thác [11] [12]. Thái Lan cũng đã thực hiện xong đập Pak Mun, và có tham vọng hàng năm sẽ chuyển 8 tỉ mét khối nước sông Mekong khỏi dòng chính để biến sa mạc Ðông Bắc Thái thành vùng canh tác mới.

Từ kinh nghiệm 50 năm qua của nhân loại về thủy điện trên các dòng dông quốc tế như Danube, Colorado, Columbia, Nile, Missisippi, Hoàng Hà, Dương Tử thì những công trình thủy điện tuy đã giúp phát triển tiện nghi, đem lại ánh sáng, dẫn thủy nhập điền, và nâng cao đời sống hàng trăm triệu người nhưng cũng có khả năng tác hại nặng nề trên nguồn thực phẩm và kế sinh nhai của hàng chục triệu người khác. Chúng thay đổi hoàn toàn chế độ thủy vận
trên toàn lưu vực, và gây nguy hiểm ghê gớm cho hệ sinh thái hạ nguồn [13].

Tại Côn Minh, Vân Nam, hồ Điền Trì (Dianchi), lớn hàng thứ sáu của TQ, đã bị ô nhiễm nặng nề vì nước thải từ các nhà máy luyện kim, nông nghiệp và sinh hoạt dân cư. Theo tường trình tháng 4, 2000 của Sứ Quán Hoa Kỳ tại Bắc Kinh: TQ đã tốn trên US$2 tỉ để làm sạch, nhưng theo WB ô nhiễm vẫn không thuyên giảm vì vẫn TQ không kiểm soát hết được các nguồn chảy. Tại Dali cũng thế, Nhĩ Hải (Erhai), nơi khởi thủy của truyền thống dạy chim cormorant bắt cá

-hồ lớn thứ bảy của TQ- với dung tích 3 tỉ mét khối do 120 con sông ô nhiễm đổ vào. Hồ này không bị tù hãm như hồ Điền Trì nhờ chảy ra sông Xier, và Xier lại chảy ngay vào sông Mekong để đổ xuống hạ nguồn mà ra biển.

Các hồ nước lớn chặn hết khả năng chuyển tải phù sa, ngăn trở cá không lội ngược về nguồn sinh sản dần dần đi đến tuyệt chủng, phá mất đi diện tích lớn rừng già, nơi trú ngụ của hoang thú. Việc điều hòa lưu lượng sông làm giảm ngay diện tích vùng lụt nước theo muà (seasonally flooded area), vốn nhờ vào đó mà hàng năm tôm cá sinh sản và dân cư tìm được thực phẩm. Ðồng bằng hạ nguồn sẽ thiếu hụt phù sa để bón ruộng, thiếu dinh dưỡng nuôi phiêu sinh vật và thu hoạch hải sản sẽ sa sút. Duyên hải thiếu đất bồi và sóng biển sẽ ăn vào thềm lục địa. Nước mặn sẽ lấn sâu hon vào đất liền và việc canh tác trên châu thổ sẽ không còn thực hiện tốt lành được. Những nghiên cứu khoa học về các hậu quả kinh nghiệm này ngày càng hiện rõ và phổ quát.

Ở hạ lưu Mekong, trên 10 triệu dân nghèo hai nước Cam Bốt và Việt Nam vẫn phải sống nhờ vào phù sa và thủy sản của dòng sông này, chúng ta cần phải tự hỏi mình rằng: Sẽ phải hứng chịu những ảnh hưởng gì trước những biến đổi to lớn đang dồn dập trên thượng nguồn như thế?

Lịch sử cho thấy môí căng thẳng giữa các quốc gia nằm chung lưu vực những dòng sông lớn thường bùng nổ thành các cuộc tranh chấp lớn trên thế giới: Giữa Ai Cập và Sudan-Ethiopia trên sông Nile; Israel và Jordan trên sông Jordan vùng Ðịa Trung Hải; giữa Turkey và Syria-Irak trên sông Euphrates vùng vịnh Persian, giữa India và Bangladesh trên sông Ganges, giữa
Parkistan và India trên sông Indus [4].

Vấn đề khai thác các dòng sông lớn là vấn đề còn nan giải giữa nhiều dân tộc, Mekong và nhân loại không thể ngừng lại trước trở ngại và để lịch sử tái diễn như vậy mà phải tìm phương cách giữ hoà bình, giảm thiểu tai hại và chia sẻ phúc lợi công bình cho toàn lưu vực. Hội Ðồng Liên Hiệp Quốc (UN) đã bỏ ra 20 năm để soạn thảo ra bộ một luật thông qua vào tháng 5 năm
1997: "United Nations Law of the Nongaginational Uses of International Watercourses" cho cả thế giới trong đó có ba nước bỏ phiếu chống là Burundi, Turkey và Trung Quốc [4]. Gần hơn nữa, World Bank và International Union Conservation Network (IUCN) đã thành lập và tài trợ cho World Commission on Dams (WCD) thực hiện một công trình nghiên cứu để tìm giải
pháp chung. Sau bốn năm, những chuyên gia khoa học kỹ thuật và chính khách nổi danh trên khắp thế giới do WCD quy tụ đã hoàn thành bản tường trình và đưa ra những khuyến cáo được UNEP, ADB và nhiều nước đón nhận như kim chỉ nam cho tương lai khai thác thủy điện.
Việt Nam cũng như tất cả các nước Mekong đều trong nằm tình trạng thiếu thốn năng lượng gay go không khác Trung Quốc hay Thái Lan; nên việc phát triển tiềm năng thủy và điện Mekong vì nhu cầu phúc lợi không thể tránh nhưng cần phải vô cùng nghiêm túc. Việt Nam và Cam Bốt là các nước cuối nguồn, sẽ phải gánh chịu hầu hết mọi thiệt thòi do khai thác thượng nguồn gây ra, nếu các nước thượng nguồn không nghiên cứu tác động cho toàn lưu vực, không thực nhiện những biện pháp an toàn cho hạ nguồn.

Tây Tạng và cả sáu chính phủ Mekong từ đâu nguồn đến cuối nguồn phải ngồi chung lại trên một bàn họp nhìn nhận nhau là những thành viên cốt yếu cùng chung sống trong một lưu vực lớn, sẽ cùng nhau phát triển tài nguyên dòng sông này trên căn bản bền vững và công bằng cho toàn lưu vực. Mekong sẽ không thể mang hiểm họa mà phải là dòng sữa mật ngọt ngào cho cả 100 triệu dân cư trong lưu vực.

Hợp tác cả sáu nước lại sẽ tạo nền hòa bình thịnh vượng trong vùng và gìn giữ kho tàng thiên nhiên lâu bền cho đời sau. Ngày nay Mekong tương đối vẫn còn trinh nguyên khi các dòng sông lớn khác trên toàn cầu đều đã bị khai thác hủy hoại nặng. Các dân tộc lưu vực Mekong có một sứ mạng và cơ hội giữ lại cho loài người một kho tàng sinh thái to tát cho mình và cho cả nhân loại.

Kỹ Sư Phạm Phan Long
Nguồn :
kimchivuong@hotmail.com

Chiến dịch “Hãy cứu sông Mekong”: Mekong đang bị bức tử !

Sơ đồ các vị trí sẽ xây đập thủy điện ở Thái Lan, Lào, Campuchia - Ảnh: SMC
Nằm ở cuối dòng sông Mekong, VN sẽ hứng chịu nhiều nguy cơ lớn nếu 11 con đập thủy điện trên dòng sông này tại Thái Lan, Lào, Campuchia được xây dựng.

Cứu lấy sông Mekong

Sông Mekong đang bị đe dọa. Đó là thông điệp đầu tiên mà Liên minh cứu trợ sông Mekong (Save the Mekong Coalition - SMC) đưa ra để nói về việc chính phủ các nước Thái Lan, Lào, Campuchia lên kế hoạch xây dựng 11 đập thủy điện trên dòng chảy chính của con sông chảy xuyên Đông Nam Á này.

Trong số này, 7 điểm dự tính xây đập thủy điện là ở Lào, 2 ở biên giới Thái-Lào và 2 ở Campuchia. Và nếu sông Mekong bị chặn, nó sẽ ảnh hưởng đến sự di cư của các loài thủy sinh vật, tác động đến dòng chảy tự nhiên và đặt hàng triệu người sống phụ thuộc vào sông Mekong vào tình thế nguy cấp về lương thực và thu nhập. Bà Premrudee Daorung, đồng Giám đốc Quỹ Phục hồi sinh thái đặt tại Bangkok, cho phóng viên Báo Thanh Niên hay các dự án thủy điện trên chưa được xây dựng nhưng một số dự án đã bắt đầu quá trình tìm thị trường.

Sông Mekong cung cấp một lượng thủy sản nước ngọt thuộc loại lớn, nuôi sống khoảng 60 triệu người, theo số liệu của SMC. Sản lượng thủy sản ở khu vực này đem lại khoảng 3 tỉ USD/năm. Sông Mekong còn sở hữu sự đa dạng thủy sinh học lớn thứ 2 trên thế giới, sau sông Amazon ở Nam Mỹ. Trong đó có 2 loài trong diện bị đe dọa và có nguy cơ tuyệt chủng là cá tra dầu khổng lồ và cá heo nước ngọt Irrawady.
Chưa kể khi lượng nước từ thượng nguồn đổ về hạn chế thì nước biển từ ngoài sẽ xâm thực vào, cộng với việc nước biển dâng cao do tình trạng Trái đất ấm dần lên sẽ làm đất ở ĐBSCL bị ngập mặn

Tiến sĩ Ngô Xuân Quảng, quyền Trưởng phòng Công nghệ & Quản lý môi trường thuộc Viện Sinh học Nhiệt đới VN

Cũng theo bà Premrudee, nguy cơ đầu tiên mà sông Mekong có thể hứng chịu nếu dòng chảy chính bị chặn đó là sự di cư của các loài thủy sinh vật. Cụ thể, tại biển hồ Tonle Sap ở Campuchia, 70% thủy sinh vật thường di cư ngược dòng Mekong lên hướng Lào và ngược lại. Và nếu dòng Mekong bị chặn, sự di cư của các loài thủy sinh vật bị ảnh hưởng, kéo theo tác động đến cuộc sống của hàng triệu người sống phụ thuộc vào dòng sông này. Tại khu vực hạ Lào và Campuchia, có 5 vị trí mà người ta dự định xây dựng đập thủy điện. Theo bản đồ của SMC, nhiều đập nước ở vùng thượng lưu sông Mekong bên phía Trung Quốc đã, đang và sắp được xây dựng. Tuy nhiên, chiến dịch kêu gọi lần này chỉ thấy gói gọn trong các nước trong khu vực Đông Nam Á.

Từ tháng 3.2009, một chiến dịch đã được SMC khởi xướng bằng cách thu thập hàng ngàn chữ ký trên các bưu thiếp mang thông điệp cứu sông Mekong. Tính đến nay, 16.380 chữ ký đã được thu thập, trong đó có 4.015 chữ ký trên mạng. Các nước trong khu vực sông Mekong chảy qua (bao gồm Trung Quốc, Myanmar, Lào, Thái Lan, Campuchia và VN) thu thập được 11.757 chữ ký. Tất cả những chữ ký này sẽ được gửi đến chính phủ các nước Thái Lan, Lào, Campuchia và VN như một kiến nghị thư kêu gọi hãy để dòng Mekong được chảy tự do vì cuộc sống hôm nay và mai sau. Từng ấy chữ ký tuy chưa nhiều, nhưng theo bà Premrudee, đó là bước khởi đầu để bảo vệ con sông.

VN bị ảnh hưởng

Đoạn cuối của dòng Mekong chảy qua đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) ở VN trước khi chia làm 9 nhánh đổ ra biển. Không có một dự án đập thủy điện nào tại khu vực này nhưng VN cũng sẽ gặp nhiều nguy cơ nếu dòng Mekong bị chặn.

Có mặt tại buổi lễ phát động chiến dịch “Hãy cứu sông Mekong” tại Bangkok hôm 18.6, Tiến sĩ Ngô Xuân Quảng, quyền Trưởng phòng Công nghệ & Quản lý môi trường thuộc Viện Sinh học nhiệt đới VN, trao đổi kỹ hơn với phóng viên Thanh Niên về vấn đề này.

Ông Quảng nói nguy cơ mà VN gặp phải là rất lớn vì nước ta ở cuối dòng của sông Mekong, gần như sẽ chịu tất cả mọi tác động từ thượng nguồn. ĐBSCL trù phú được như hiện nay, với sản lượng lớn về gạo và thủy sản, là nhờ vào dòng sông này. Nếu dòng sông bị ngăn đập thì hạn chế đầu tiên là nước. Thứ nhất, phù sa cung cấp hằng năm cho ĐBSCL sẽ giảm. Đất ruộng cũng sẽ bị axít hóa nếu thiếu nước rửa phèn. Lượng cá từ thượng nguồn đổ về cũng sẽ ít đi, ảnh hưởng đến bà con sinh sống bằng nghề đánh bắt thủy sản, buộc họ phải chuyển nghề.

“Đó là chưa kể khi lượng nước từ thượng nguồn đổ về hạn chế thì nước biển từ ngoài sẽ xâm thực vào, cộng với việc nước biển dâng cao do tình trạng Trái đất ấm dần lên sẽ làm đất ở ĐBSCL bị ngập mặn”, ông Quảng giải thích.

Các tác động tiềm ẩn của việc chặn dòng sông Mekong cũng có thể kể đến như việc làm biến đổi dòng chảy, phá vỡ hệ sinh thái và làm sụt lún, xói lở ven bờ, đáy sông bị tụt xuống cũng khiến các mạch nước ngầm bị đẩy xuống sâu hơn. Nguồn nước cung cấp cho cư dân khi đó sẽ thiếu, theo ông Quảng.

Tuy nhiên, ở VN, chiến dịch cứu sông Mekong có vẻ như chưa được tuyên truyền sâu rộng. Nếu như ở Campuchia có 2.673 người tham gia ký tên kêu gọi bảo vệ dòng Mekong, ở Lào là 611 và ở Thái Lan là 7.756 thì ở VN chỉ có 337 chữ ký (trong đó trên mạng là 97 chữ ký). Tác động của việc ngăn dòng chảy sông Mekong, thiết nghĩ, cần được sự quan tâm sâu rộng hơn nữa.

Cá heo sông Mekong sắp tuyệt chủng

Quỹ Bảo tồn thiên nhiên thế giới (WWF) vừa cho hay loài cá heo nước ngọt Irrawaddy ở sông Mekong có nguy cơ sắp tuyệt chủng khi số lượng cá thể loài này chỉ còn từ 64 đến 76, theo AFP. Nguyên nhân dẫn đến mối nguy này được cho là các chất độc được thải trên sông. Trong hơn 50 cá thể chết từ năm 2003, người ta đã tìm thấy dư lượng thuốc trừ sâu, thủy ngân và các chất ô nhiễm khác trong cơ thể chúng. WWF cũng tin rằng mức độ thủy ngân cao được tìm thấy trong cơ thể những con cá heo chết có thể xuất phát từ các hoạt động đào vàng. Cá heo Irrawaddy sinh sống tập trung ở khu vực sông Mekong đoạn giữa Lào và Campuchia

Việt Phương (tường thuật từ Bangkok)
20/06/2009 0:22
Nguồn :
hinh@hinhtran.com

Wednesday, July 1, 2009

Những chương bi thảm

Như chúng tôi từng đã nói, trong cuộc chiến Việt Nam, sự “đồng minh” giữa đảng CSVN và đảng CSTQ cũng như sự “đồng minh” giữa VNCH và Hoa Kỳ đều mang nhiều chương bi thảm. Những chương bi thảm trong quan hệ Việt - Trung đã được mô tả khá rõ nét trong tập “Sự Thật Về Quan Hệ Việt Nam - Trung Quốc Trong 30 Năm Qua” do Bộ Ngoại Giao Hà Hội xuất bản năm 1979. Trái lại, những chương bi thảm trong quan hệ Việt – Mỹ chỉ được giải mã dần qua thời gian.

Mới đây, hôm 23.6.2009, Văn Khố Quốc Gia (National Archives) Hoa Kỳ đã công bố những cuốn băng ghi âm dài hơn 150 giờ về các cuộc đối thoại của cựu Tổng thống Nixon, trong đó ông chỉ trích giới truyền thông và Quốc hội Hoa Kỳ đã hủy hoại những nỗ lực cứu vãn cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Đặc biệt, để ép buộc Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu phải ký vào hiệp định ngưng chiến do Mỹ và Hà Nội soạn thảo, ông nói nếu ông Thiệu không chịu ký, ông sẵn sàng "cắt đầu y nếu cần thiết" (cut off his head if necessary). Ông đã yêu cầu Ngoại Trưởng Kissinger nói với Tổng Thống Thiệu rằng Quốc Hội Mỹ sẽ cắt viện trợ nếu Sài Gòn không đồng ý với kết quả hòa đàm.

Thật ra, đây chỉ là phần thứ hai của bộ tài liệu nói về kế hoạch tiến tới chấm dứt chiến tranh Việt Nam của Hoa Kỳ. Phần thứ nhất đã được Văn Khố An Ninh Quốc Gia (National Security Archive) của Hoa Kỳ công bố ngày 26.5.2006 gồm 2.100 bản văn (memoranda) dài 28.000 trang mang tên “The Kissinger Transcripts: A Verbatim Record of U.S. Diplomacy, 1969-1977” (Bản chép lời của Kissinger: Một hồ sơ đúng nguyên văn của ngành Ngoại Giao Hoa Kỳ, 1969 – 1977). Tài liệu này đã được chúng tôi tóm lược và phân tích trong bài “Chuyện hồ sơ Kissinger” phổ biến ngày 16.6.2006.

Những chương bi thảm về quan hệ Việt – Mỹ không phải mới khởi sự từ khi Mỹ muốn chấm dứt chiến tranh Việt Nam mà khởi sự từ khi Mỹ quyết định nhảy vào Đông Dương thay Pháp, nhất là kể từ thời kỳ Tổng Thống Kennedy trở đi. Vụ Tổng Thống Nixon đòi “cắt đầu” Tổng Thống Thiệu cũng chỉ là một sự tái diễn những gì đã xẩy ra trước đó. Phải nhìn lại những diễn biến lịch sử này chúng ta mới có thể rút ra được những bài học lịch sử.

BỘ THUỘC ĐỊA VÀ TOÀN QUYỀN ĐÔNG DƯƠNG

Ngày xưa, người Pháp đến đô hộ miền Nam và “bảo hộ” miền Bắc và Miền Trung Việt Nam đều có ký hiệp ước với Triều Đình Huế. Đến năm 1887, Pháp kết hợp Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ và Cao Miên lại thành Liên Bang Đông Dương (Union Indochinoise) do một Toàn Quyền Đông Dương (Gouverneur Général de l’Indochine) ở Hà Nội cai trị và đặt dưới quyền của Bộ Thuộc Địa (Minstère des Colonies).

Tuy chính phủ Mỹ không hề ký với các chính phủ Việt Nam một hiệp ước nào về quyền “đô hộ” hay “bảo hộ” như chính phủ Pháp trước đây, nhưng Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã tự động biến thành Bộ Thuộc Địa để áp đặt mọi chính sách và đường lối của Hoa Kỳ lên trên miền Nam và một vài Đại Sứ Mỹ tại Sài Gòn đã tự coi mình như Toàn Quyền Đông Dương hay Cao Ủy Mỹ tại Đông Dương, thường được người Việt gọi là “Quan Thái Thú”. Trạm CIA (CIA Station) tại Tòa Đại Sứ Mỹ ở Sài Gòn đã hoạt động gióng hệt Sở Mật Thám hay Sở Liêm Phóng Đông Dương (Service de Sureté Généralle de l’Indochine) của Pháp ngày xưa! Các Lãnh Sự Mỹ ở tỉnh cũng đóng vai trò của các Công Sứ Pháp.

Dưới thới Tổng Thống Eisenhower, ông Elbridge Durbrow khi làm Đại Sứ Mỹ tại VNCH (1957 – 1960), đã tự coi mình là Toàn Quyền Đông Dương, buộc Tổng Thống Ngô Đình Diệm phải thi hành các chỉ đạo của ông mới được nhận viện trợ. Nhưng Washington không đồng ý với nhiều chủ trương và cách thức hành động của ông, nên ông chưa làm gì được thì đến cuối năm 1960 ông đã bị thay thế vì có liên hệ đến cuộc đảo chánh ngày 11.11.1960.

Đến thời Tổng Thống Kennedy, Averell W. Harriman, đã trở thành một con người có thế lực nhất ở Washington vì được Tổng Thống Kennedy tin cậy nhất, mặc dầu ông ta chỉ là Phụ Tá Ngoại Giao về Đông Nam Á Sự Vụ và sau đó trở thành Thứ Trưởng Ngoại Giao đặc trách về Chính Trị Sự Vụ. Ông nghiễn nhiên trở thành Bộ Trưởng Bộ Thuộc Điạ khi Tổng Thống Kennedy quyết định “trung lập hóa” Lào để giải quyết cuộc chiến Việt Nam và giao cho ông thi hành quyết định này. Khi giải pháp “trung lập hóa” Lào bị thất bại thê thảm, ông quyết định lật đổ ông Diệm và đề nghị Tổng Thống Kennedy đưa ông Henry Cabot Lodge đến Sài Gòn làm Toàn Quyền Đông Dương để thực hiện chủ trương này.

Sau khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị giết, miền Nam gần như không còn chủ quyền nữa.

Sau đây là những sự kiện chính có thể giúp chúng ta hiểu rõ chính sách của Hoa Kỳ trong cuộc chiến Việt Nam hơn.

BỘ TRƯỞNG THUỘC ĐỊA HARRIMAN

Trước khi nhận chức Tổng Thống, ngày 19.1.1961 ông Kennedy đã họp với Tổng Thống Eisenhower để nghe trình bày vấn đề Đông Dương. Tổng Thông Eisenhower nói rằng Lào là mấu chốt của toàn bộ khu vực Đông Nam Á. Nếu Lào sụp đổ, cả khu vực sẽ sụp đổ. Nhưng sau khi nhận chức Tỗng Thống, ông Kennedy đã hành động theo cảm tính. Ông nói ông không muốn là kẻ thừa kế chính sách Đông Nam Á của Tổng Thống Eisenhower. Ông thích một giải pháp ngoại giao hơn là quân sự. Ông ra lệnh cho Harriman tìm cách “trung lập hoá” Lào bằng mọi giá với sự tin tưởng rằng sau khi Lào trở thành trung lập, Cộng Sản Bắc Việt sẽ không còn đường xâm nhập miền Nam nữa!

Ngày 16.5.1961 Hội Nghị Quốc Tế Giải Quyết Vấn Đề Lào được tổ chức tại Genève.

1.- Cãi lộn với ông Ngô Đình Nhu

Tháng 7 năm 1961, hoàng tử nước Moroco là Moulay Hassan lên ngôi kế vị cha, được gọi là Hoàng Đế Hassan II. Nhân dịp này, Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã cử ông Ngô Đình Nhu, Cố Vấn Chính Trị của Tổng Thống, đại diện chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đi dự lễ đăng quang này với mục đích tạo cơ hội cho ông ghé Genève thảo luận với ông Harriman về vấn đề trung lập Lào. Ông Nhu đã ghé qua Pháp rồi cũng Giáo sư Bửu Hội đến Rabat dự lễ. Sau đó ông trở lại Pháp rồi cùng ông Cao Xuân Vỹ và người con gái là cô Ngô Đình Lệ Thủy đền Genève gặp Harriman đang tham dự hội nghị trung lập Lào tại đây.

Ông Cao Xuân Vỹ tường thuật lại rằng, theo chương trình, ông Harriman chỉ chịu tiếp ông Nhu trong vòng nửa tiếng. Ông Vỹ và cô Ngô Đình Lệ Thủy không được tham dự. Nhưng cuộc nói chuyện đã kéo dài đến 3 tiếng đồng hồ. Khi Harriman tiển ông Nhu đi ra cửa phòng, ông thấy mặt hại người đều hầm hầm. Sau đó, ông Nhu có than phiền với ông Vỹ: “Thằng cha này chẳng hiểu gì hết!”. Ông Vỹ hiểu rằng Harriman không chịu bỏ chủ trương trung lập hóa Lào. Trong buổi ăn tối, ông Nhu đã tiết lộ hai điểm rất quan trọng nói lên sự ngạo mạn của Harriman:

Điểm thứ nhất: Harriman cho rằng Việt Nam chưa bằng California, thế mà người Mỹ còn mua California được, miền Nam Việt Nam không nghĩa lý gì!

Điểm thứ hai: Harriman khẳng định rằng vấn đề Lào là vấn đề riêng giữa chính phủ Mỹ và chính phủ Lào, vấn đề này không liên hệ gì đến VNCH. Chính phủ VNCH cứ lo vấn đề Việt Nam đi, đừng can thiếp vào vấn đề Lào.

Ông Nhu trả lời rằng vấn đề Lào liên quan đến sự tồn vong của Miền Nam Việt Nam nên chính phủ Miền Nam phải quan tâm, nhưng Harriman gạt đi.

2.- Đe doạ Tổng Thống Diệm

Vì có sự bất đồng giữa Harriman và ông Ngô Đình Nhu, ông Diệm đã rút phái đoàn VNCH khỏi hội nghị Genève. Trung tuần tháng 9 năm 1961, Harriman phải đích thân đến Sài Gòn để thảo luận với các viên chức Hoa Kỳ và chính phủ Ngô Đình Diệm về giải pháp trung lập hoá Lào. Một cuộc họp đã diễn ra ngày 20.9.1961 tại một căn phòng nhỏ tại Dinh Gia Long. Ông Diệm trình bày qua một thông dịch viên. Ông giải thích cho Harriman một cách thẳng thắn tại sao ông không tin tưởng Cộng Sản sẽ thi hành hiệp ước sau khi đã ký. Tuy nhiên, Harriman đã không thèm nghe và nhắm mắt lại. Ông xem ra đang ngủ. Ông Diệm chú ý đến thái độ này và hơi bực mình, nhưng vẫn tiếp tục độc thoại.

Đại Sứ Nolting ngồi gần Harriman trên một cái sofa, nhận thấy rằng ông ta đang trải qua một giấc mơ dài và mệt mỏi. Ông cố gắng làm cho ông ta chú ý. Cuối cùng, Harriman gắt gỏng:

“Thưa Tổng Thống, tôi có “cảm nghiệm tường tận” (fingertips feeling) rằng Liên Sô sẽ thi hành các thỏa ước này và làm cho những người khác tuân theo thỏa ước đó. Tôi không thể đưa ra cho ngài bất cứ bảo đảo nào, nhưng có một điều rõ ràng là: nếu ngài không ký hiệp ước này, ngài sẽ mất hết viện trợ. Ngài phải chọn.”

Sau đó, Harriman trở lại Genève.

Ngày 22.6.1962, chính phủ liên hiệp Lào được thành lập gồm 3 chính đảng: trung lập 7 ghế, phe Phoumi 4 ghế, phe Pathet Lào 4 ghế và 4 ghế dành cho những người không thuộc đảng phái nào. Đây là chính phủ liên hiệp thứ hai của Lào.

Ngày 23.7.1962, Hiệp Ước Hòa Bình tại Lào đã được ký kết. Có 14 quốc gia đứng ra bảo đảm sự trung lập của Lào. Các cố vấn quân sự của Hoa Kỳ được lệnh rút ra khỏi Lào. Nhưng sau đó, 7.000 quân của CSBV chẳng những không rút lui mà còn tăng cường thêm. Họ đã xử dụng một cách tự do con đường Tây Trường Sơn trên đất Lào để xâm nhập vào miền Nam, Mỹ phải can thiệp trở lại.

3.- Quyết định lật đổ ông Diệm

Ông Frederick Nolting, cựu Đại Sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Cộng Hòa, ghi rõ trong cuốn “From Trust to Tragedy” như sau:

“Âm mưu “trung lập hóa” Lào của ông ta (Harriman) là một sự thất bại thê thảm, và sự thù nghịch ngày càng gia tăng của ông với Tổng Thống Ngô Đình Diệm và gia đình của ông ta, trở thành một yếu tố chủ yếu trong việc lật đổ ông Diệm. Tuy nhiên, thanh thế và ảnh hưởng của Harriman ở Washington lớn đến nổi trở thành quyết định trong các hành động cốt yếu mà chính phủ chúng ta đã thực hiện trong năm 1963.”

4.- Nhìn vào việc người

Trong cuốn hồi ký mang tên “The memoirs of Richard Nixon”, Tổng Tống Nixon có kể lại rằng khi đến Pakistan, ông gặp lại người bạn cũ là Tổng Tống Ayub Khan. Tổng Thống Khan đã nói một cách đau buồn về việc hạ sát Tổng Tống Ngô Đình Diệm:

“Tôi không thể nói – lẽ ra các ông đừng bao giờ ủng hộ ông Diệm ngay từ đầu. Nhưng các ông đã ủng hộ ông ta trong một thời gian dài và mọi người ở Á Châu đều biết điều đó. Dù họ có tán thành hay không tán thành điều đó, họ biết điều đó. Rồi đột nhiên các ông ngừng ủng hộ ông ta – và ông Diệm đã bị giết.” Ông ta lắc đầu và kết luận: “Việc hạ sát ông Diệm có ba ý nghĩa đối với các nhà lãnh đạo Á Châu: làm một người bạn với Hoa Kỳ là nguy hiểm; trung lập phải trả cái giá của nó; và đôi khi làm kẻ thù (của Hoa Kỳ) lại tốt hơn! Lòng tin cậy như một sợi chỉ mong manh và một khi nó đã đứt, rất khó mà nối lại.”

Mặc dầu biết như vận, sau này ông Nixon cũng làm gióng hệt chính phủ Kennedy.

5.- Kennedy quay ngược lại và bị giết

Sau khi lật đổ và giết ông Diệm, Tổng Thống Kennedy không còn tin tưởng vào cuộc chiến thắng tại miền Nam Việt Nam. Trong cuộc họp báo ngày 14.11.1963, Tổng Thống hỏi: “Bạn có chào thua tại miền Nam Việt Nam không?” Rồi ông tự trả lời câu hỏi của chính mình: “Chương trình quan trọng nhất, dĩ nhiên là cho nền an ninh của chúng ta, nhưng tôi không muốn Hoa Kỳ đưa quân tác chiến sang đó.” Sau đó ông nói: “Giờ đây mục tiêu của chúng ta là đưa quân nhân Hoa Kỳ về nước, cho phép Việt Nam tự duy trì lấy nước mình như là một quốc gia độc lập.”

Trong khi đó, các thế lực tư bản đứng đàng sau đang làm mọi cách để mở rộng chiến tranh và đổ quân vào Việt Nam. Vì thế, Tổng Thống Kennedy đã bị giết ngày 23.11.1963 tại Dallas.

BỘ TRƯỞNG THUỘC ĐỊA KISSINGER

1.- Những lời tiên đoán

Chúng tôi xin nhắc lại, trong công điện gởi cho Bộ Ngoại Giao lúc 2 giờ chiều ngày 7.9.1963, Đại Sứ Cabot Lodge có kể lại lời ông Ngô Đình Nhu đã nói với ông như sau:

“Tôi báo động về những gì sẽ xẩy ra trong Quân Lực. Nếu tôi ra đi, Quân Lực sẽ nắm chính quyền. Bọn cóc nhái của CIA và USIS này sẽ phá hoại nỗ lực chiến tranh.”

(I am alarmed by what's going on in the Armed Forces. If I leave, the Armed Forces will take over the government. 'Ces grenouillards' (which I translate as "these schemers" or 'these contrivers') of the CIA and USIS will sabotage the war effort.)

Trong công điện gởi Bộ Ngoại Giao lúc 6 giờ 39 phút chiều 29.10.1963, Đại Sừ Lodge trình rằng chiều 25.10.1963, ông Trần Trung Dung, cựu Phụ Tá Bộ Trưởng Quốc Phòng, đã nói với viên chức CIA rằng ông được biết các tướng lãnh dự định làm đảo chánh trong vòng 10 ngày. Theo ông biết, các tướng lãnh không tiếp xúc với các nhà lãnh đạo dân sự. Ông ta bày tỏ một vài sự quan tâm về khả năng và ý định của các Tướng Lãnh. “Ông ta coi đa số các Tướng Lãnh không gì khác lơn là các trung sĩ được Pháp huấn luyện trong quân phục Tướng Lãnh” (He consider majority of Generals no more than French trained sergeants in Generals’ uniforms)... Theo ông ta, các Tướng Lãnh thiếu kinh nghiệm chính trị cần thiết để điều hành chính phủ.

Những lời tiên đoán này đã trở thành hiện thực. Trong tác phẩm “President Kennedy, Profile of Power”, sử gia Richard Reeves đã ghi lại tình trạng tại miền Nam sau khi chế độ Ngô Đình Diệm sụp đổ và các tướng lãnh Việt Nam lên nằm chính quyền như sau:

“Người Mỹ, vì các mục tiêu thực tế, đã cai quản đất nước. Các tướng lãnh Việt Nam cười trước các máy quay phim, nhưng lo lắng và chờ đợi tiền và chỉ thị từ Washington, thủ đô mới của miền Nam Việt Nam. Họ chờ đợi những mệnh lệnh mà ông Diệm từ chối, sẵn sàng bắt đầu công việc thắng cuộc chiến!”

Một số tướng lãnh miền Nam đã tự nguyện làm lính Khố Xanh (Gardes Indigènes) hay lính Khố Đỏ (Tirailleurs) cho Mỹ. Sự mất chủ quyền lên đến cao điểm khi người Mỹ đưa hai nhân viên CIA của họ là Tướng Nguyễn Văn Thiệu và Tướng Trần Thiện Khiêm lên năm chính quyền và cho nhân viên CIA thứ ba là Tướng Đặng Văn Quang ở cạnh Tổng Thống Thiệu để theo dõi. Tướng này trở thành chuyên viên “kinh tài” cho Tổng Thống Thiệu. Từ đó, người Mỹ đã tự quyết định lấy số phận của miền Nam Việt Nam.

2.- “Việt Nam hoá” chiến tranh

Vì không tìm thấy được thắng lợi một cách dễ dàng và nhanh chóng sau khi giết ông Diệm và đổ quân vào Việt Nam như người Mỹ tưởng, kể từ đầu năm 1968, Hoa Kỳ bắt đầu cố gằng làm tiêu hao lực lượng của Cộng quân và “Việt Nam hoá” chiến tranh để rút lui. Việc Hà Nội lập kế hoạch tấn công Tết Mậu Thân là một cơ hội tốt để Hoa Kỳ làm tiêu hao lực lượng của địch.

Các tài liệu cho thấy cả chính phủ VNCH lẫn Hoa Kỳ đã nhận được khá nhiều tin tức về Việt Cộng sẽ tấn công vào dịp Tết Mậu Thân. Cơ quan tình báo Hoa Kỳ biết rất rõ Hà Nội sẽ chiếm thành phố Huế và dùng nơi đây làm thủ đô của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, nên Mỹ đã tương kế tựu kế, lập kế hoạch để tiêu diệt toàn bộ lực lượng này.

Trước Tết khoảng hai tuần, quân đội Hoa Kỳ đã ra lệnh cho Sư Đoàn 1 Không Kỵ di chuyển từ An Khê, Bình Định, ra Vùng I Chiến Thuật, được nói là để tiếp viện cho mặt trận Khe Sanh, nhưng khi ra tới Huế, sư đoàn này được lệnh dừng lại và đóng ở Phú Bài, phía đông nam thành phố Huế. Sư Đoàn Dù của VNCH cũng được Hoa Kỳ yêu cầu tăng viện cho Vùng I một Chiến Đoàn. Vì thế, trước Tết, Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn Dù đã gởi ra Vùng I Tiểu Đoàn 2 và Tiểu Đoàn 9. Đến mồng 2 Tết gởi thêm Tiểu Đoàn 7. Ba tiểu đoàn này đã mai phục ở vùng Sịa để chờ tấn công vào thành phố Huế. Nhờ vậy, khoảng 7.500 Cộng quân chiếm thành phố Huế đã bị tiêu diệt hơn phân nữa.

Trong khi đó, Tổng Thống Thiệu cũng được báo tin khá đầy đủ về Việt Cộng sẽ tấn công vào dịp Tết Mậu Thân, nhưng ông không tin chuyện đó có thể xẩy ra, nên ông không ra lệnh ứng chiến và đã đi Mỹ Tho ăn Tết ở quê vợ!

Sau trận Mậu Thân, tháng 5 năm 1970, Hoa Kỳ phối hợp với Quân Lực VNCH mở các cuộc hành quân qua Cam-bốt phá hủy hậu cần rất lớn của Sư Đoàn 7 của Cộng quân nằm cách biên giới Việt – Miên khoảng 5 cây số, tịch thu nhiều vũ khí và 300 xe cộ các loại. Nhưng khi mở cuộc hành quân Lam Sơn 719 qua Lào vào tháng 2/1971, cho Sư Đoàn Dù tiến chiếm mật khu 604 của Cộng quân nằm gần thành phố Tchépone của Lào, dụ 5 sư doàn Cộng quân đang lảng vảng trong vùng này nhập cuộc để tiêu diệt thì bị thất bại nặng vì Tổng Thống Thiệu bất thần nhảy vào phá vỡ kế hoạch hành quân, làm Quân Lực Mỹ và VNCH bị tổn thương rất nặng. Washington điên lên.

3.- Quyết định bỏ miền Nam

Qua cuộc hành quân nói trên. Người Mỹ nhận ra rằng “các trung sĩ được Pháp huấn luyện trong quân phục Tướng Lãnh” không đủ khả năng tiếp tục điều khiển cuộc chiến sau khi Mỹ rút, cho dù được viện trợ tối đa. Vì thế, Tổng Thống Nixon đã quyết định bỏ miền Nam và phái Bộ Trưởng Thuộc Địa Kissiger qua Trung Quốc thương lượng để giao miền Nam cho Trung quốc.

Vào tháng 8 năm 2004, nhân kỷ niệm 30 năm ngày Tổng Thống Nixon từ chức (9.8.1974 đến 9.8.2004) Miller Center of Public Affairs thuộc Đại Học Virgina đã cho công bố băng ghi âm các cuộc nói chuyện giữa Nixon và Kissinger. Tài liệu này cho biết mặc dầu đang mở cuộc oanh tạc Bắc Việt trong suốt mùa xuân và mùa hè 1972, Tổng Thống Nixon kết luận rằng Hoa Kỳ ủng hộ việc “Nam Việt Nam có thể không bao giờ còn tồn tại dù bất cứ cách nào.” (South Vietnam probably can never even survive anyway).

Tổng Thống Nixon đã hỏi Kissinger rằng “chúng ta có thể có một chính sách ngoại giao sống còn (a viable foreign policy) nếu một năm kể từ bây giờ hay hai năm kể từ bây giờ, Bắc Việt thôn tính Nam Việt Nam? Đó thật là vấn đề.”

Kissinger trả lời: “Nếu một hay hai năm kể từ bây giờ, Bắc Việt thôn tính Nam Việt Nam, chúng ta có thể có một chính sách ngoại giao sống còn nếu coi điều đó như là kết quả của sự bất tài của người Nam Việt Nam (if it's the result of South Vietnamese incompetence. )

Trái lại, trong cuộc nói chuyện với Thủ Tướng Chu Ân Lai ngày 20/6/1972 tại Bắc Kinh, khi Chu Ân Lai nói Trung quốc sẽ không nói chuyện với Hoa Kỳ chừng nào Hoa Kỳ chưa lật đổ chế độ Tưởng Giới Thạch ở Đài Loan, Kissinger trả lời:

“Chúng tôi đã không làm việc đó dù rất trân trọng quan hệ giữa hai nước chúng ta. Then chốt quan hệ giữa chúng ta là để mọi sự diễn biến một cách hòa bình, chứ không phải là hành động thiếu danh dự. Nếu chúng tôi có thể phản bội một đồng minh này thì chúng tôi cũng có thể phản bội các đồng minh khác, và còn ai tin chúng tôi nữa?”

Như vậy, trong cách nhìn và lý luận của Kissinger, Hoa Kỳ có thể bỏ miền Nam vì đó là “là kết quả của sự bất tài của người Nam Việt Nam”, còn Hoa Kỳ không thể bỏ Đài Loan được.

4.- Áp lực VNCH ký Hiệp Định Paris

Một cuộc hòa đàm để chấm dứt chiến tranh Việt Nam đã được tổ chức tại Paris kể từ năm 1968. Trong cuốn “Viet-Nam, Pourquoi les Etats-Unis ont-ils perdu la guerre” (Việt Nam, Tại sao Hoa Kỳ đã thất trận), ông Nguyễn Phú Đức, Cố Vấn Đặc Biệt của Tổng Thống Thiệu về Đối Ngoại, đã viết:

“Cuối cuộc họp, khi chúng tôi ở một mình với nhau, Kissinger muốn biết cảm nghĩ của tôi về bản dự thảo Hiệp Định, tôi nói với ông về lập trường của Chính Phủ Việt Nam trên hai vấn đề chính - rút quân lực của Bắc Việt, và không có chính phủ liên hiệp tại Nam Việt Nam - vẫn không thay đổi. Ông ta lưu ý tôi đó là những vấn đề nghiêm trọng. Tôi cách nghĩa cho ông ta rằng đó là vấn đề sinh tử của Nam Việt Nam... Tôi thẫm định rằng Hiệp Định này, với những từ ngữ của nó hiện tại, sẽ đưa đến sự sụp đổ của Nam Việt Nam.” (trang 361)

Ngày 18.10.1972 Kissinger đã bay đến Saigon để làm áp lực buộc Tổng Thống Thiệu phải đồng ý nội dung bản dự thảo nầy, với hy vọng sẽ mang bản dự thảo đó ra Hà Nội ngày 24.10.1972 để Thủ Tướng Phạm Văn Đồng ký tắt vào. Nhưng Kissinger đã thất bại. Chỉ trong một thời gian ngắn, phía Việt Nam Cộng Hòa đã phát hiện ra đến 23 điểm cần phải điều chỉnh. Kissinger chỉ đồng ý điều chỉnh 16 điểm không quan trọng mà thôi. Số còn lại phải để nguyên. Cuộc đối thoại trở nên gay cấn về hai điểm then chốt là việc chấp nhận cho quân đội Bắc Việt ở lại miền Nam Việt Nam và việc thành lập một Hội Đồng Hòa Giải Hòa Hợp giống như một chính phủ liên hiệp. VNCH coi đây là một cách bán đứng miền Nam Việt Nam cho Hà Nội nên cương quyết chống lại.

Thất bại với VNCH, Tổng Thống Nixon và Kissinger quay lại làm áp lực với Hà Nội. Kissinger đưa ra một bản dự thảo mới, yêu cầu Hà Hội tái thảo luận, nhưng Hà Nội từ chối. Tổng Thống Nixon liền gởi cho Hà Nội một thông điệp nói rằng nếu Hà Nội không chấp nhận thảo luận một cách nghiêm chỉnh thì sau 72 tiếng đồng hồ nữa Hoa Kỳ sẽ ném bom trở lại từ vĩ tuyến 20 trở lên. Ngày 18.2.1972, khi thời hạn này chấm dứt, hàng loạt B.52 đã bay đến ném bom xuống các căn cứ quân sự ở Hãi Phòng và Hà Nội. Đây là những khu vực chưa hề là mục tiêu đánh phá từ trước.

Cùng lúc đó, Tướng Haig được cử đến Saigon với sứ mạng vừa hứa hẹn vừa đe dọa. Trong thông điệp trao cho Tổng Thống Thiệu ngày 14.11.1972, Tổng Thống Nixon có cam kết:

“Tôi tuyệt đối cam đoan với Ngài rằng nếu Hà Nội không tuân theo những điều kiện của Hiệp Định nầy thì tôi cương quyết sẽ có hành động trả đủa mau lẹ và ác liệt.”

Nhưng Tướng Haig cũng không quên lặp lại lời đe dọa của Washington rằng nếu Tổng Thống Thiệu không chấp nhận bản dự thảo hiệp định mới, Hoa Kỳ sẽ cắt hết việt trợ và ký một hiệp định riêng với Bắc Việt.

Tổng Thống Thiệu thừa biết Bắc Việt cố giữ lại điều khoản không rút quân để khi Hoa Kỳ rút hết, họ sẽ mở cuộc tấn công trở lại, nhưng bị ám ảnh bởi cái chết của Tổng Thống Ngô Đình Diệm khi Mỹ muốn đem quân vào, Tổng Thống Thiệu đã tự trấn an bằng những lời cam kết của Tổng Thống Nixon mà Tướng Haig mới chuyển đến, kèm thêm một số quân dụng được tiếp tế khẩn cấp qua chương trình Enhance và Enhance Plus, đã ra lệnh cho ký kết bản Hiệp Định Paris ngày 27.1.1973, một bản hiệp định mà ông thấy có quá nhiều điểm thất lợi.

KHÔNG CẦN BIẾT ĐỒNG MINH VÀ ĐỊCH

Sau khi buộc VNCH ký Hiệp Định Paris xong, ngày 29.6.1973 Hạ Viện Hoa Kỳ biểu quyết dự luật cấm các hoạt động quân sự của Hoa Kỳ trên toàn lãnh thổ Đông Nam Á. Dự luật nầy đã được lưỡng Viện thông qua ngày 21.9.1973. Đến ngày 12.10.1973, lưỡng Viện Hoa Kỳ lại thông qua dự luật hạn chế quyền của Tổng Thống trong việc đưa quân đội Hoa Kỳ ra ngoại quốc. Đến đây, VNCH phải hiểu ngay rằng Quân Đội Mỹ sẽ không trở lại Đông Dương nữa và VNCH phải tìm một giải pháp khác để sinh tồn. Nhưng điều đáng tiếc là Tổng Thống Thiệu đã không hiểu như thế!

Tổng Thống Thiệu có tướng mạo khá phương phi, nhưng lại có cái đầu đặc, biết rất ít về chính trị lẫn quân sự, thường hành động theo cảm tính và sự độc đoán của mình, KHÔNG CẦN BIẾT ĐỒNG MINH VÀ ĐỊCH ĐANG LÀM GÌ. Ông đúng là một “trung sĩ được Pháp huấn luyện trong quân phục Tướng Lãnh” như ông Trần Trung Dung đã nói với Đại Sứ Cabot Lodge.

Mỗi lần xẩy ra biến cố gì, ông đều có bảo cấp dưới nghiên cứu và đề nghị giải pháp, nhưng sau khi liếc qua phúc trình của cấp dưới, ông xếp vào đống hồ sơ rồi hành động theo những cảm nghĩ nông cạn của mình.

Người Việt chống cộng thường nhắc đi nhắc lại một câu nói của Tổng Thống Thiệu: "Đừng nghe những gì Công Sản nói, mà hãy nhìn kỹ những gì Cộng Sản làm". Tuy dạy người khác như vậy, nhưng ông không bao giờ chịu “nhìn kỹ những gì Cộng Sản làm”.

Sau khi ký Hiệp Định Paris, trong khi Hà Nội quyết định làm lại con đường 14, gọi là con đường Đông Trường Sơn, để đưa quân vào Phứóc Long và Bình Long rồi đánh thẳng xuống Sài Gòn năm 1976, bỏ qua các tỉnh miền Trung, Tổng Thống Thiệu lại hô hào “cải tổ hành chánh” để được lòng dân và thắng Cộng Sản! Ông bắt các công chức cao cấp đi dự một khoá huấn luyện ở Vũng Tàu và đưa Hoàng Đức Nhã xuống giảng về luân lý giáo khoa thư lớp đồng ấu! Tôi nhờ khi bước lên diễn đàn, Hoàng Đức Nhã đã đưa tay chỉ lên trời và nói: “Tôi đi guốc trong bụng tên Võ Nguyên Giáp!”

Chẳng những không quan tâm đến các khuyến cáo của cơ quan DAO, Tổng Thống Thiệu còn quyết định bỏ Phước Long “để xem Mỹ nó làm gì”, tức xem Hoa Kỳ có “hành động trả đủa mau lẹ và ác liệt” như Tổng Thống Nixon đã hứa không!

Khi viện trợ quân sự bị cắt dần, Tổng Thống Thiệu không nghĩ phải tìm một giải pháp chính trị mà cho rằng Mỹ cho 2 tỷ, ta giữ cả miền Nam. Mỹ rút xuống còn 700 triệu, ta chỉ giữ một phần lãnh thổ thôi. Ông làm như miền Nam là của Mỹ, ông chỉ là người làm công hay lính đánh thuê. Ông cho mời Chuẩn Tướng Ted Sarong, một chuyên viên du kích chiến của Úc, hợp tác với Tướng Đặng Văn Quang, một tay chuyên đi làm tiền, lập kế hoạch bỏ Vùng I và Vùng II và thiết lập một phòng tuyến mới từ Tây Ninh đến Nha Trang, gọi là kế hoạch “Đầu Bé Đít To”, để giữ phần đất còn lại! Kế hoạch này đã bị phê phán nặng nề, nhưng ông vẫn cho thi hành, làm mất miền Nam nhanh chóng.

LẤY THÚNG ÚP VOI

Mặc dầu các tài liệu bí mật về chiến tranh Việt Nam đã được Hoa Kỳ cho tiết lộ gần hết, một số người Việt chống Cộng vẫn chủ trương đừng nhắc đến những chuyện bi thảm này và chỉ nên nói đến những thất bại của Cộng Sản. Họ muốn lấy thúng úp voi, mặc dầu không thể làm được.

Điều quan trọng không phải là “lấy thúng úp voi”. Điều quan trọng là phải rút kinh nghiệm lịch sử để tìm ra một hướng đi mới giải phóng dân tộc.

Lữ Giang

(Ngày 30.6.2009)

Thursday, June 25, 2009

Cơn Quốc Nạn

Xứ tự do ai làm nấy chịu
Chốn độc tài tam tộc tru di
Bao năm qua đảng Cộng trị vì
Dân còn bị bất công đối xử !

Miệng luôn nói nhân quyền dân chủ
Cho công an kềm kẹp dã man
Trên tôn thờ đế quốc Tàu bang
Dưới đàn áp những nhà phản kháng !

Biết tuổi trẻ vùng lên bất mãn
Bọn độc tài dùng thế liên hoàn
Dàn dựng trò chống Đảng hiên ngang
Rồi tự thú vì theo lầm lỡ !

Đảng thời cơ mồi chài nâng đở
Làm nản lòng tuổi trẻ quyết tâm
Nhìn chung quanh sợ bị theo lầm
Nên an phận mặc cho thế cuộc !

Ta không để bọn nầy thao túng
Phải nhìn ra hiện tượng chúng bày
Đang vẽ đường Hươu chạy loay quay
Làm tản lực đấu tranh hải ngoại .

Trong quốc nội lòng dân tê tái
Sống trên đe dưới búa hằng ngày
Bọn bá quyền xâm lược Tàu bang
Dân ta phải vùng lên cách mạng .

Cứu đất nước diệt loài vong bản
Giành chủ quyền lãnh hải,Nam Quan
Đuốc Liên Tôn tỏa sáng hào quang
Đưa dân tộc thoát cơn quốc nạn

Trần Bửu Hạnh
Ngày 23 tháng 6 năm 2009

Tuesday, June 23, 2009

Cái Nhục Lớn Nhất Của Một Dân Tộc Là Có Một Chính Quyền Hèn Nhát


Nhiều người nghĩ rằng cái nhục lớn nhất của một dân tộc là cái nhục mất nước. Điều này không đúng hẳn. Nước nhỏ, dân ít, bị một nước lớn, dân đông, xâm chiếm là điều thường xẩy ra trên thế giới, nhất là vào thời kỳ khoa học, kỹ thuật chưa được tiến bộ. Vấn đề quan trọng là dân tộc đó có ý chí, có quyết tâm để tìm cách lấy lại chủ quyền hay không. Chỉ khi nào dân tộc đó cam chịu số phận mất nước, không có ý chí phục thù, không có quyết tâm giành lại độc lập, mới gọi là nhục.

Nước ta bị người Tầu đô hộ một ngàn năm và bị người Pháp đô hộ gần 100 năm, nhưng dân tộc ta không bao giờ chịu nhục. Lúc nào dân tộc ta cũng tìm cách nổi dậy để đánh đuổi người Tầu, người Pháp ra khỏi bờ cõi, giành lại độc lập cho đất nước và lấy lại chủ quyền cho dân tộc. Nhưng có độc lập, có chủ quyền mà đất bị lấn bị chiếm, biển bị xâm phạm mà chính quyền lại hèn nhát, không dám liên tiếng, thì qủa là một cái đại nhục cho dân tộc.

Ngày 19/1/74, trong khi Hải Quân của Việt Nam Cộng Hòa tử chiến với quân xâm lược Trung Cộng để bảo vệ Hoàng Sa thì ngụy quyền Việt Công Hà Nội im hơi lặng tiếng một cách hèn hạ, không một lời phản đối Trung Cộng.

Ngày 2/12/07, Trung Quốc phê chuẩn việc thành lập một quận lỵ lấy tên là Tam Sa trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam để trực tiếp quản lý cả hai quần đảo này, ngụy quyền Cộng Sản Việt Nam cũng chỉ dám phản đối một cách yếu ớt qua lời tuyên bố của Lê Dũng, người phát ngôn của Bộ Ngọai Giao Cộng sản Việt Nam, rằng "Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa". Và rằng "Hành động này đã vi phạm chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam, không phù hợp với nhận thức chung của Lãnh đạo cấp cao hai nước, không có lợi cho tiến trình đàm phán tìm kiếm biện pháp cơ bản, lâu dài cho vấn đề trên biển giữa hai bên".

Ngày 16/5/09, Trung Cộng đã thính thức ra lệnh cấm đánh cá đặc khu kinh tế khổng lồ bao quanh quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, không phải cả các vùng đang bị tranh chấp mà cả các vùng mà Việt Nam có chủ quyền. Là cơ quan hành pháp, đại diện cho một quốc gia, đứng trước hành động hỗn xựợc này của Trung Quốc, đúng lý ra, bộ Ngoại Giao Việt Nam phải cho mời Đại Sứ Trung Quốc tới để phản đối hoặc gửi công hàm phả đối với lời lẽ thật mạnh mẽ và cương quyết như "vi phạm chủ quyền của Việt Nam" "xâm phạm lãnh hải Việt Nam" và "yêu cầu Trung Quốc tôn trọng chủ quyền Việt Nam, lãnh hải của Việt Nam cũng như quyền đánh cá của ngư dân Việt Nam".

Theo phát ngôn viên của chính quyền Việt Cộng thì bộ Ngoại Giao Việt Cộng đã yêu cầu Đại Sứ Trung Quốc tại Hà Nội kêu gọi chính phủ Bắc Kinh ngừng các hoạt động trên biển. Nhưng thực ra chính quyền Cộng Sản Việt Nam không những đã không dám phản đối mà chỉ xin xỏ một cách hèn hạ như "đề nghị phía Trung Quốc không nên có các hoạt động cản trở hoạt động bình thường của ngư dân Việt Nam" hoặc "việc Trung Quốc tăng cường tuần tra sẽ dẫn tới có thêm nhiều vụ bắt bớ ảnh hưởng tới các hoạt động đánh bắt cá bình thường của ngư dân Việt Nam tại khu vực đánh bắt cá truyền thống của Việt Nam".

Thế nào là "khu vực đánh bắt cá truyên thống" ? Phải chăng đó là ngôn từ ngoại giao của bè lũ bán nước Nông Đức Mạnh, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng ? Ôi, nghe sao mà hèn hạ vậy? Nếu không dám dùng những danh từ dao to, búa lớn, những danh từ sặc mùi khát máu mà bọn mi đã dùng trong thời xâm chiếm miền Nam thì ít nhất cũng phải dùng những chữ cho rõ nghĩa, cho đúng với ngôn từ của một quốc gia có chủ quyền như: "không được có những hành động cản trở những hoạt động bình thường của ngư dân Việt Nam" hoặc "không được xâm phạm tại khu vực đánh cá thuộc chủ quyền của Việt Nam" v.v…. Đúng là phương khôn nhà dại chợ, chỉ quen áp bức dân lành.

Hèn mạt, không dám phản đối quan thầy Trung Quốc, nhưng lại sợ lòng yêu nước của người dân nổi dậy, bọn lãnh đạo hèn nhát Việt Cộng quay sang tìm cách đàn áp những người bất đồng chính kiến để bịt miệng, đúng như tờ báo chui, "Báo Sinh Viên Yêu Nước" của anh em Sinh Viên trong nước đã nhận định trong cố báo thứ 5: "Thời gian qua, sự kiện Trung Quốc khai thác Bauxit ở Tây Nguyên còn đang bi dư luận phản đối. Vụ ngư dân Việt Nam đã không dám đánh cá vì bị tàu Trung Quốc tấn công. Vụ lãnh hải Việt Nam bị thu hẹp vì Trung Quốc dùng sức mạnh bá quyền công khai áp lực. Vụ luật sư Cù Huy Hà Vũ dám ra mặt kiện Nguyễn Tấn Dũng. Trước áp lực dư luận có nguy cơ bùng nổ, phô bày bản chất yếu hèn, phản động của đảng CSVN trước tham vọng xâm lăng Việt Nam của Trung Quốc. Hà nội quyết định bắt luật sư Lê Công Định cũng là cách để chuyển dư luận chống đối sang ngã rẻ khác, vừa răn đe thành phần đấu tranh dân chủ, vừa nhắn nhủ giới luật sư, trí thức, thanh niên sinh viên Việt Nam đang manh nha hình thành lực lượng nhằm phản đối vụ khai thác Bauxit và những quyết định bạc nhược, hèn yếu của Chính trị bộ đối với quan hệ Trung - Việt.

Hẳn chúng ta còn nhớ, cách đây gần 2 năm, sau khi biết tin Trung Cộng công khai xân chiếm hai quần đào Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam và sát nhập vào một quần đảo khác của Trung Cộng để thành lập một quận lỵ lấy tên la Tam Sa, các học sinh và sinh viên Việt Nam cùng đồng bào trong nước đã tổ chức 2 cuộc biểu tình vào ngày 9/12/07 tai Saigon và Hà Nội để phản đối hành động xâm lược của Trung Quốc. Bọn nguỵ quyền Cộng Sản Hà Nội, không những không ủng hộ hay khuyến khích mà lại còn bắt bớ, cấm đoán và hăm dọa. khiến một nữ sinh viên qúa uất ức đã vừa khóc vừa la: "Chúng cháu đến đây để thể hiện lòng yêu nước của mình … tai sao lực lượng an ninh lại ngăn cản lòng yêu nước của chúng cháu …? Khi ngăn chặn chúng cháu lại và không cho chúng cháu vào tham gia cùng mọi người …? Taị sao? Tại sao?. Và một thanh niên khác, không dằn được sự tức giận, đã hiên ngang đập mạnh tay xuống bàn và la lớn: "Các ông chỉ biết lo cho cái ghế của các ông, bọn tham nhũng".

Ngày nay chúng ta đã thấy, người dân đã dám bàn chuyện chính trị, dám phê phán chính quyền công khai, không còn dè dặt và sợ hãi như những năm trước nữa. Nhiều người còn dám rủ nhau đi kiện, đi biểu tình phản đối những vụ chính quyền trưng dụng nhà cử đất đai của họ. Các anh em sinh viên cũng đã dám ra một tờ báo chui gọi lá Báo Sinh Viên Yêu Nước để bầy tỏ thái độ và các trí thức trong nước cũng đã dám công khai bầy tỏ lập trường, họ không còn sợ hãi trước sự hù dọa hay sự bắt bớ, giam cầm, bỏ tù một số người chống đối của ngụy quyền Cộng Sản Việt Nam. Một vài luẫt sư đã dám tranh luận thẳng thừng với các chánh án Việt Cộng để bênh vực cho thân chủ trong các vụ án có lien can tới chính trị. Nhưng vẫn chưa đủ, cần phải tích cực hơn nữa, mạnh mẽ hơn nữa cho tới khi nào chế độ Cộng Sản Việt Nam bán nước phải cáo chung.

Một người dân trong nước cũng viết: "Tôi bần thần tự hỏi, chính quyền hiện hành có còn là chính quyền của dân tộc VN hay không ? Tự hỏi để rồi ngầm trả lời: Không, không, không, chính quyền này không phải là của dân tộc VN, mà là chính quyền của đảng cộng sản VN ! Tôi và bao bậc cha mẹ khác lẽ nào đưa con mình đi cầm súng để bảo vệ đảng nô lệ như thế này ??? Tôi đã rớt nước mắt. Tệ hại quá, tôi phải "nướng" con tôi cho lũ cầm quyền phản dân tộc này ? Tôi sẽ phải làm thế nào ? Cầm súng bảo vệ đất nước thì tôi không sợ, cầm súng chống bọn xâm lấn Trung Quốc thì tôi sẵn sàng đưa con tôi lên đường ! Còn cầm súng, hi sinh con cái chúng tôi cho quyền lợi riêng của đảng cộng sản VN thì khác nào sự ngu xuẩn, hơn nữa, đó là sự nhục nhã !

Thật không có cái nhục nào to lớn bằng cái nhục của một dân tộc có một chính quyền hèn hạ và đốn mạt như chính quyền cộng sản Việt Nam ngày nay, một chính quyền bán nước hại dân, chỉ biết tham nhũng và hiếp đáp dân lành. Và cũng không có cái hèn nào to lớn bằng cái hèn của một dân tộc khi có một chính quyền đốn mạt như vậy mà không dám chống đối.

Lê Duy San
.