Friday, October 31, 2008

Làm Sao An Phận

"Thất Quốc sầu trôi theo vận nước,
Tha hương tủi nhục vướng nghiệp nhà."
(Lưu Vân)


Trong dạ tiệc nói cười ca hát,
Ngậm ngùi tìm giải thoát dân hiền
Dẫu rằng đang sống đất liền
Mà lòng thương nhớ triền miên dân mình.

Ðất tạm dung đầy tình nhân đạo
Cơm áo lành gạo trắng cá tươi
Tự-do Dân-chủ quyền-người.
Làm sao an phận vui cười được đây ?

Thương nhớ thương đọng đầy tâm não
Lòng căm thù "chồn-cáo" ác gian
Làm cho nòi giống tóc tang
Nỡ nào nhắm mắt chẳng màn việc chi.

Thuở ra đi môi chì mặt nám
Mấy mươi năm sống bám quê người
Ðất lành chim đậu ai ơi !
Nhưng lòng hãy nhớ khung trời quê hương,

Ðang xẩy ra đau thương tràn ngập
Từ Chúa Giáo đến Phật Pháp Tăng
Ðộc tài bạo lực hung hăng
Bỏ tù Linh Mục, đày hàng Chân Sư.

Tư Bản Ðỏ khư khư khống chế
Buộc dân lành phải nễ "đảng ta"
Bảo là; phải hát phải ca :
Những lời của "đảng" đặt ra đúng đời.

Thứ vô thần, chẳng Trời, Chúa, Phật
Cai trị dân theo lạc hậu xưa...
Trời ơi ! Ông hãy chuyển mưa
Sét lên đánh "đảng ta" chừa thói ngu.

Từ Nam-Bắc mây mù sẽ biến
Ðến ngoài, trong thăng tiến phục hồi
Trăm năm duy vật đổi dời,
Duy Tâm mãi mãi sáng ngời chẳng phai.

Anh Hùng, tuổi trẻ chờ ai nữa ?
Mau đứng lên trị sửa ác quân.
Toàn dân chung sức họp cùng,
Dựng nền Dân-chủ khắp vùng Trời Nam.

Việt Dương Nhân

Tuesday, October 28, 2008

Bài viết của một du học sinh về lá Cờ Vàng Ba Sọc Ðỏ

" Trên một miếng vải màu vàng người ta vẽ lên 3 sọc đỏ, đó là lá cờ ba que xỏ lá của bọn ngụy quân, ngụy quyền đã bại trận, và hiện nay nó là cờ của bè lũ phản động Hải Ngoại toàn là những kẻ bỏ nước ra đi, giờ vẫn ôm hận thù. Không biết sống ở nước ngoài thì yêu Việt Nam cỡ nào mà đấu với chả tranh, chỉ luôn nuôi hận thù đòi lật đổ chế độ, một chế độ ổn định không có các cuộc biểu tình bạo loạn, và không bị đánh bom khủng bố như các nước phương tây...”

Đó là tất cả những gì tôi được nghe, được tuyên truyền, và được quyền biết đến trong suốt quảng đời tuổi trẻ sống và học tập theo gương bác Hồ vĩ đại, và đó cũng là những luận điệu được lặp đi lặp lại na ná nhau của phần đông thế hệ thanh niên quốc nội sinh sau năm 1975 khi được hỏi “bạn biết gì về cờ vàng ba sọc đỏ”. Và không biết nên vui hay buồn khi phải cho mọi người biết một sự thật rằng trong thời gian ở Đài Loan tôi có thăm dò cộng đồng người việt cũng bằng câu hỏi đó thì cứ khoảng 10 người Việt Nam sang du học, lao động hoặc kết hôn thì đến 6 người trả lời “cờ vàng ba sọc đỏ? tôi chưa nghe đến bao giờ, là cờ của nước nào vậy?” 3,9 người còn lại sẽ trả lời như ở đầu bài (1).

Đấy! nói như thế để những ai may mắn có điều kiện tiếp xúc với internet và đang đọc những dòng này biết được sự quan tâm đến hiện tình đất nước và hiểu biết về lịch sử của đa phần người dân đang ở mức độ nào. Và chính tôi một thời gian trước đây khi còn ngồi dưới mái trường xã hội chủ nghĩa cũng không hơn gì họ, thậm chí còn ngờ nghệch ảo tưởng hơn nhiều, và tôi cảm thấy “thằng tôi” của ngày hôm qua đáng thương hơn đáng giận.

Vì tôi được sinh ra tại Việt Nam sau năm 1975- khi đất nước đã được được những người Cộng Sản “thống nhất”.

Vì ông bà cha mẹ họ hàng gia đình tôi là những người từng đổ máu chiến đấu cho lí tưởng Cộng Sản.

Vì tôi đã được học dưới mái trường xã hội chủ nghĩa 12 năm với những trang sử đánh Mỹ cứu nước hào hùng của dân tộc.

Vì cứ vào thứ hai đầu tuần phải nghiêm trang trong tư thế chào cờ mắt nhìn lá cờ đỏ sao vàng được kéo lên đầy vẻ tự hào và miệng hát “đường vinh quang xây xác quân thù, thắng gian lao cùng nhau lập chiến khu, vì nhân dân chiến đấu không ngừng ...”.

Vì tôi đã từng là đoàn viên thanh niên Cộng Sản Hồ Chí Minh, và với 1 lý lịch tốt như gia đình tôi thì nếu cố gắng phấn đấu tôi sẽ được kết nạp vào đảng với nhiều cơ hội tiến thân .

Vì tôi đã từng yêu bác Hồ hơn bất kỳ thiếu niên nhi đồng nào trên đất nước việt nam này, từ khi còn bé tôi đã nằm lòng những bài thơ của Tố Hữu, đã đọc nhàu nát những cuốn sách kể chuyện về bác Hồ, và còn cẩn thận ép tấm ảnh bác trong cuốn tập nhỏ và xếp ngay ngắn trong cặp sách với niềm tin ánh sáng của bác sẽ soi đường khi mình lạc lối.

Vì thế tôi dám chắc nếu mọi người từ khi lọt lòng đều phải sống trong hoàn cảnh ấy thì cũng không khá gì hơn tôi và những bạn trẻ trong nước hiện nay, vậy nên xin mọi người đừng mỉa mai chúng tôi, đừng thù ghét mỗi khi chúng tôi phỉ báng lá cờ vàng ba sọc đỏ, mà xin hãy rộng lòng yêu thương , vì chúng tôi là sản phẩm của mái trường xã hội chủ nghĩa , vì chúng tôi là những tờ giấy trắng như biết bao trẻ em trên khắp hành tinh này nhưng “họ” đã bôi trét lên đó những gì tai hại nhất. Chỉ có lòng bao dung với ánh sáng của tình thương dẫn đường mới có thể giúp chúng tôi thoát khỏi những ảo tưởng để trải lòng tiếp nhận những thông tin mới.

Tôi yêu quê hương xứ sở vô cùng, tôi nhớ những nón lá những đôi vai gầy một nắng hai sương, nhưng sao những ngọn núi những dòng sông giờ đây đã điêu tàn tan hoang đến vậy, nhưng sao những người tôi yêu dù chăm chỉ làm ăn, chịu thương chịu khó mà phải sống một cuộc sống cơ cực và mất tự do đến thế. Vậy nên tôi đã quyết tâm truy tìm và kiểm chứng lại tất cả những gì tôi đã được học , và mỗi lần những sự thật trần trụi được phơi bày là những lần lòng tôi lại mang thêm nhiều những vết thương .

Chính vì thế nên mặc dù biết rõ sẽ gặp nhiều rắc rồi từ phía chính quyền cộng sản nhưng tôi cảm thấy mình có trách nhiệm phải nói cho thế hệ trẻ hôm nay và mai sau biết được nguồn gốc và ý nghĩa của 2 lá cờ: đỏ sao vàng và vàng ba sọc đỏ cùng những trải nghiệm trên con đường thay đổi nhận thức của mình . Để từ đó những chủ nhân tương lai của đất nước quyết định đâu là sinh lộ cho quê hương.

Cờ vàng ba sọc đỏ:

Tôi còn nhớ lần đầu tiên tôi biết đến lá cờ vàng ba sọc là vào khoảng thời gian tôi học cấp 2, khi tôi nghe các anh lớn bàn chuyện với nhau về hát nhạc vàng nhạc đỏ, tôi đã thắc mắc tại sao lại có sự phân biệt này, còn hỏi “làm răng để khi nghe biết được cái mô là nhạc vàng cái mô là nhạc đỏ”. Tất nhiên tôi bị mấy anh gỏ to đầu nói “mi ngu lắm nhạc vàng là nhạc phản động mi đã nghe ai nói cờ vàng ba que xỏ lá của bọn ngụy chưa , mi cứ thấy ai hát lè nhè như Duy Khánh, Chế Linh là nhạc vàng, mi cứ thấy mấy cái video có cảnh trai gái hở hang nhảy nhót quấn lấy nhau trên sân khấu có mấy thằng lính cầm cờ ba que chạy lui chạy tới là nhạc vàng...”

Nể phục trước những kiến giải sâu xa của các anh lớn ,thế là từ đó tôi có thêm hiểu biết quý báu về cái gọi là nhạc vàng, cờ vàng, và thỉnh thoảng để ra vẻ hiểu biết với tụi bạn cùng trang lứa tôi dạy lại chúng nó cụm từ “cờ vàng ba que xỏ lá” một cách đầy tâm đắc với kiến thức của mình.

Và hiện nay khi nhìn lại thế hệ các em tôi, tôi thấy các em cũng không hiểu biết hơn tôi ngày trước là bao, nhưng điều đáng buồn hơn là ngay cả các anh tiến sỹ (2) cũng không biết hay cố tình không biết, làm sao có thể giải thích cho mọi người hiểu được vấn đề 1 cách trọn vẹn, khi để hiểu được nguồn gốc và tính dân tộc của 2 lá cờ thì phải lội ngược dòng lịch sử để tìm rõ căn nguyên, lại càng khó hơn khi nhiều trang web ở Hải Ngoại bị đặt tường lửa, phương tiện truyền thông trong nước thì đều là công cụ của đảng, và toàn bộ sử liệu từ đầu thế kỷ 20 cho đến nay trong các thư viện và nhà sách Việt Nam đều là sách của đảng được nhào nặn bởi những “sử nô” danh tiếng thường xuyên xuất hiện trên các phương tiện truyền thông, thế nên chỉ nghe tên thôi bọn trẻ cũng có thể hoàn toàn tin là sự thật, trong mắt trẻ thơ những gì được đăng tải trên truyền hình, sách vở và báo chí đều là sự thật, thế nên hỡi ôi các nhà báo các nhà làm phim các nhà giáo dục quí vị có thấy day dứt lương tâm khi đã đánh lừa niềm tin của con em chúng ta hay không?

Chính vì thế nên thỉnh thoảng ở các diễn đàn tiếng nói tự do của người dân Việt Nam trên yahoo, paltalk, và gần đây là phong trào viết blog không tránh khỏi có nhiều lời lẽ miệt thị hay tẩy chay cờ vàng.

Nay tôi xin được lược trích lại một số tư liệu (3) để lần nữa xác định rằng lá cờ vàng đã có từ trước khi nền Đệ Nhất Cộng Hòa ra đời.
1.. Long Tinh Kỳ (1802-1885) : Quốc Kỳ nguyên thủy của triều đình Nhà Nguyễn

Đối chiếu với các tài liệu được tham khảo thì lá quốc kỳ đầu tiên trong thời nhà Nguyễn đã được đặt tên bằng tiếng Hán là "Long Tinh Kỳ". (Ghi chú cho tuổi trẻ Việt Nam: Ý nghĩa của các chữ Hán như sau: Kỳ là cờ. Long là Rồng, biểu tượng cho hoàng đế, có màu vàng. Râu tua màu xanh dương chung quanh tượng trưng cho Tiên và cũng là màu đại dương, nơi Rồng cư ngụ. Tinh có nghĩa là ngôi sao trên trời, mà cũng có nghĩa là màu đỏ. Màu đỏ còn biểu tượng cho phương Nam và cho lòng nhiệt thành. Long Tinh Kỳ là Cờ Rồng có chấm Đỏ viền tua xanh, biểu hiệu cho một dân tộc có nguồn gốc Rồng Tiên ở phương Nam vùng nhiệt đới.)

2. Đại Nam Quốc Kỳ (1885-1890)
Đây là hình lá cờ Đại Nam của triều đình Đồng Khánh, được tìm thấy qua tài liệu của người Tây phương.

3. Quốc kỳ Nền Vàng Ba Sọc Đỏ dưới hai triều đại Kháng Pháp 1890 - 1920
Nền vàng.
Ba sọc đỏ bằng nhau biểu hiệu Bắc Nam Trung bất khả phân.
Có thể nói Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ - gọi tắt là "Cờ Vàng" - là lá "quốc kỳ" đúng nghĩa đầu tiên của dân tộc Việt, vì nó hàm chứa nguyện vọng độc lập và thống nhất của lãnh thổ Việt.

Sự kiến tạo lá quốc kỳ mới ấy có nhiều ý nghĩa vô cùng quan trọng:

- Thể hiện ý chí đấu tranh, bác bỏ hiệp ước Quý Mùi, "chia để trị" của thực dân Pháp, đã tao ra tình trạng Nam Kỳ thuộc địa, Trung Bắc kỳ bảo hộ.
- Xác quyết sự toàn vẹn lãnh thổ của Đại Nam Quốc, ba miền đều có tư thế chính trị giống nhau và bất khả phân trong nền tảng màu Vàng của dân tộc Việt ở phương Nam.
- Nêu cao tinh thần "quốc gia dân tộc", bằng cách đoạn tuyệt với sự liên hệ của chữ Hán, cũng như thoát ly ra khỏi nền bảo hộ Pháp và triều cống Tàu.

Chính vì các ý nghĩa trên mà lá cờ Vàng còn được mệnh danh là cờ "Quốc Gia". Như vậy, từ ngữ "quốc gia" có từ cuối thế kỷ 19, đối nghịch với "thuộc địa", chớ không chỉ mới có vào bán thế kỷ 20 khi từ ngữ "cộng sản" xuất hiện.

4. Cờ Bắc Trung Kỳ trong thời miền Nam thành thuộc địa Pháp
Long Tinh Kỳ (1920 - 10 Mar, 1945).
Nền vàng. Một sọc đỏ lớn.
Biểu tượng cho Bắc và Trung kỳ mà thôi.
10-3-45 là ngày cáo chung của chế độ bảo hộ Pháp

Lá cờ Vàng Một Sọc Đỏ, cũng được gọi là cờ "Long Tinh", vì nó biến thể từ Long Tinh Kỳ nguyên thủy trong mấy chục năm đầu của nhà Nguyễn. Nền vàng có hình chữ nhật tương tự như quốc kỳ của các quốc gia khác. Chấm đỏ được kéo dài ra thành sọc đỏ ở giữa. Tua xanh không còn nữa. Đây là lá cờ biểu hiệu cho một quốc gia chỉ còn hai miền Bắc và Trung, thuộc quyền bảo hộ Pháp. Lá cờ này trải qua đời vua Khải Định và tồn tại trong đời vua Bảo Đại, sau khi vua Khải Định băng hà vào năm 1925. Sau khi lên ngôi vào đầu năm 1926 lúc mới 12 tuổi, vua Bảo Đại trao hết quyền cho "Hội Đồng Phụ Chính" với sự chỉ đạo của Toàn Quyền Pháp rồi trở sang Paris tiếp tục học cho đến 1932 mới trở về chấp chính. Lá cờ Long Tinh vẫn được tiếp tục dùng làm biểu tượng của triều đình Huế, lúc bấy giờ chỉ còn thẩm quyền cai trị hai miền Bắc và Trung dưới sự bảo hộ của Pháp.

5. Cờ Nam Kỳ Thuộc Địa (miền Nam thuộc địa Pháp)
Cờ Nam Kỳ Thuộc Địa (1923 - Mar 10, 1945)
Nền vàng
Cờ Tam Tài, màu xanh trắng đỏ nằm trên góc trái.
10-3-45: Nhật đảo chính Pháp
Cờ này tồn tại đến 10-3-45 thì cáo chung sau khi Nhật đảo chính Pháp tại Đông Dương.

6. Long Tinh Kỳ trong thời Nhật chiếm Đông Dương, 11 tháng 3, 1945 - Aug 1945
Long Tinh Đế Kỳ (11 Mar - 30 Aug, 1945)
Nền vàng,
Sọc đỏ bằng 1/3 cờ.
11-3-45: Bảo Đại tuyên bố VN độc lập, Long Tinh Kỳ trở thành Đế Kỳ
30-8-45: Bảo Đại thoái vị, Đế Kỳ cáo chung.

Một ngày sau khi Nhật đảo chánh Pháp, vua Bảo Đại đăng đàn tại Huế vào ngày 11-3-45, tuyên bố hủy bỏ hòa ước Quý Mùi 1883 và Giáp Thân 1884, Việt Nam thống nhất và độc lập, theo chế độ Quân Chủ tân thời như một số quốc gia Tây Phương, và ủy nhiệm cho học giả Trần Trọng Kim thành lập chính phủ. Sau đó, vua Bảo Đại phân định cho Long Tinh Kỳ trở lại cương vị của Đế Kỳ, chỉ treo nơi Hoàng Thành Huế hoặc mang theo những nơi vua tuần du. Long Tinh Đế Kỳ cũng tương tự như Long Tinh Quốc Kỳ trong thời Pháp bảo hộ, nhưng nền vàng đậm hơn và sọc đỏ thu hẹp lại bằng 1/3 chiều cao lá cờ, để tương xứng với cờ Quẻ Ly của chính phủ Trần Trọng Kim.

6. Cờ Quẻ Ly của quốc gia Việt Nam trong thời Nhật chiếm Đông Dương
Cờ Quẻ Ly thời Nhật (11 Mar - 5 Sep, 1945)
Nền vàng, ba sọc đỏ, sọc giữa đứt khoảng hơi giống hình Quẻ Ly
Quốc kỳ chính thức thời Nhật, đồng thời với Long Tinh Kế Kỳ

Để biểu trưng cho Quốc Gia trong chế độ Quân Chủ, Bảo Đại ký sắc lệnh chấp thuận đề nghị của Thủ Tướng Trần Trọng Kim, lấy lại quốc hiệu Việt Nam mà nhà Thanh đã chấp thuận trong thời vua Gia Long, và sáng tạo ra một quốc kỳ mới. Đó là lá cờ có nền vàng tương tự như Long Tinh Đế Kỳ nhưng vạch đỏ được chia làm ba vạch nhỏ bằng nhau, riêng vạch giữa thì đứt khoảng, tương tự như quẻ Ly, một quẻ trong bát Quái.

7. Cờ Đỏ Sao Vàng của Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời "Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa"
Cờ Mặt Trận Việt Minh (5 Sep, 1945 - 20 Dec, 1946)
Nền đỏ, sao vàng, cạnh sao hơi cong.
5-9-45: Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 5 dùng cờ Việt Minh làm Quốc Kỳ, thay thế cờ Quẻ Ly.
20-12-46: Việt Minh rút vào bưng kháng chiến chống Pháp. Cờ Việt Minh tạm mất tư thế Quốc Kỳ.

- Trong suốt năm 1946, quân đội Pháp càng ngày càng chiếm ưu thế trên các cuộc đụng độ với quân đội Việt Minh. Đến 20-12-46, Pháp chiếm được Bắc Bộ Phủ, Hồ Chí Minh tuyên bố rút vào bưng kháng chiến. Dần dần, Pháp chiếm đóng và kiểm soát các thành phố, quận lỵ, và các làng xã đông dân; còn Việt Minh thì đồn trú tại các vùng quê, rừng núi hẻo lánh. Như vậy, Cờ Đỏ Việt Minh bị xem như tạm thời mất tư thế "quốc kỳ" kể từ ngày 20-12-46 là ngày Pháp chiếm Bắc Bộ Phủ cho đến ngày 20-7-1954 là ngày đất nước chia đôi và Việt Minh trở lại cầm quyền trên miền Bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 17 trở lên.

8. Cờ Vàng sọc Xanh của Chính Phủ Lâm Thời "Nam Kỳ Cộng Hòa Quốc"
Cờ Nam Kỳ Cộng Hoà Quốc (1 Jun, 1946 - 2 Jun, 1948)
1-6-46: Nam Kỳ CH Quốc trong Liên Bang Đông Dương.
Nền vàng, ba sọc xanh, hai sọc trắng
2-6-48: Bảo Đại lập Quốc Gia Việt Nam trong Liên Hiệp Pháp, thống nhất ba miền.

9. Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ của "Việt Nam Quốc" và "Việt Nam Cộng Hòa"
Cờ Vàng Quốc Gia VN (2 Jun, 1948 - 20 Jul, 1954)
2-6-48: Chính Phủ Trung Ương dùng Cờ Vàng làm quốc kỳ giống như Đại Nam Kỳ thời 1890-1920.
20-7-54: Đất nước chia đôi theo Hiệp Định Genève. Từ đó, Cờ Vàng vẫn được dùng làm Quốc Kỳ Việt Nam Cộng Hoà từ 20-7-54 đến 30-4-75.

Vào năm 1948, Bảo Đại không muốn tái sử dụng Long Tinh Kỳ vì đó là Đế Kỳ của một đế chế mà ông đã chấm dứt vào tháng 8 năm 1945. Một ông vua tha thiết với nền độc lập và sự toàn vẹn lãnh thổ, đến nỗi chịu thoái vị vì quyền lợi tối thượng của đất nước, hẳn dư biết nguồn gốc của lá Cờ Vàng. Ngoài ra, một vài chi tiết lịch sử quan trọng khác cũng đã góp phần vào việc chọn lựa Cờ Vàng: Đó là cái chết oan ức tại Phi Châu vào cuối năm 1945 của hoàng tử Vĩnh San, tức là cựu hoàng Duy Tân, và sự hiện diện tại Sài Gòn từ năm 1947 của cựu hoàng Thành Thái, thân sinh của Duy Tân. Cờ Vàng đã được dùng làm Quốc Kỳ lần đầu trong triều đại của hai vị vua này.

Cả hai đã là linh hồn của cuộc kháng chiến chống Pháp dành độc lập vào đầu thế kỷ 20, mà hậu quả là cuộc xử tử các thủ lãnh Quang Phục Hội như anh hùng Thái Phiên, Trần Cao Vân vào năm 1916, và án lưu đày Phi Châu của hai vị vua ái quốc ấy. Năm 1942, hoàng tử Vĩnh San gia nhập quân đội Pháp (cánh De Gaulle), đến năm 1945 được thăng cấp Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng. Khi Thế Chiến thứ 2 kết thúc, Tướng De Gaulle về Pháp cầm quyền, dự định cho ông về Việt Nam. Nhưng sau đó, có người tố cáo cho De Gaulle biết Vĩnh San luôn luôn ấp ủ chủ trương Việt Nam độc lập và thống nhất Nam, Trung, Bắc.

Vì vậy, trong lần hội kiến với De Gaulle vào ngày 14-12-1945, ông bị khiển trách nặng nề và bị tước mất cấp bậc. Ông đã tâm sự với người bạn thân rằng ông lo ngại sẽ bị hại. Ngày 24-12-45, ông bị đưa về lại đảo Réunion. Hai hôm sau, ông bị tử nạn máy bay tại Trung Phi. Cái chết đầy nghi vấn của cựu hoàng Duy Tân đã làm dư luận Việt Nam xúc động và thương tiếc vị vua ái quốc. Năm 1947, cha ông là cựu hoàng Thành Thái lúc bấy giờ đã 68 tuổi, được Pháp cho về Sài Gòn, với điều kiện là ông không giữ bất cứ một trách nhiệm chính trị nào cả. Dù vậy, sự hiện diện của cựu hoàng Thành Thái cùng với cái chết của cựu hoàng Duy Tân hiển nhiên đã gợi lên tinh thần tôn kính hoài bão của hai vua.

Chắc chắn Bảo Đại có đến thăm bậc Thái Thượng Hoàng khả kính của ông, và hội ý trong việc chọn Cờ Vàng làm Quốc Kỳ, nhưng ông không thể tiết lộ ra, vì sẽ phạm vào điều kiện của De Gaulle khi cho cựu hoàng Thành Thái về VN, là không được tham dự vào chính trị phục quốc. Sự rao truyền rằng Cờ Vàng do họa sĩ Lê Văn Đệ vẽ ra mà không nhắc đến sự hiện hữu của Cờ Vàng 50 năm trước, cũng có dụng ý. Đó là vì nhu cầu bảo vệ an nguy của cựu hoàng Thành Thái. Vì thế, việc Quốc Trưởng Bảo Đại lựa chọn Cờ Vàng của thời chống Pháp làm Quốc Kỳ cho tân chế độ là một quyết định sáng suốt và hợp chính nghĩa.

Vì nguồn gốc kháng Pháp hào hùng của Cờ Vàng, mà năm 1955, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm tổ chức "trưng cầu dân ý", lập ra chế độ Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hoà, quốc hội mới vẫn giữ nguyên quốc kỳ của một chế độ đã cáo chung. Cuộc đảo chánh năm 1963, chấm dứt nền Đệ Nhất Cộng Hòa, lập nên Đệ Nghị Cộng Hoà, Cờ Vàng vẫn được giữ nguyên là Quốc Kỳ cho đến khi miền Nam bị miền Bắc thôn tính. Hết Trích.

Vậy đã rõ ràng cờ vàng ba sọc đỏ không phải là “cờ ba que xỏ lá” mà đó đã từng là một Quốc Kỳ của nhiều chế độ trước đó , đồng thời mang đầy đủ nguyện vọng dành độc lập ,ý thức chống giặc ngoại xâm và yêu chuộng tự do của cả một dân tộc. Và hiện nay cờ vàng ba sọc đỏ là ngọn cờ của người Việt hải ngoại.

Cờ Liên Sô nền đỏ, trên đầu góc trái có hình búa liềm.
“Tượng trưng cho chủ quyền của Liên bang Xô Viết và khối liên minh không gì phá vỡ nổi(6) của công nhân và nông dân trong cuộc đấu tranh để xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa”. Màu đỏ tượng trưng cho cuộc đấu tranh anh dũng của nhân dân Xô Viết dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Liên Xô nhằm xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Búa liềm chỉ khối liên minh vững chắc của giai cấp công nhân và nông dân. Ngôi sao năm cánh trên cờ Liên Xô tượng trưng cho thắng lợi cuối cùng của các tư tưởng chủ nghĩa cộng sản trên 5 châu lục toàn thế giới.” (7)

Nhắc đến chủ nghĩa cộng sản phải nhắc đến Mác với câu nói“ Vô sản thế giới đoàn kết lại” mà sau này được dùng làm khẩu hiệu của những người Cộng Sản, và theo Mác để xây dựng một xã hội mới không còn cảnh người bóc lột người thì phải từ bỏ tất cả những giá trị của xã hội cũ, phải từ bỏ quyền tư hữu, từ bỏ gia đình, từ bỏ quê hương, từ bỏ tôn giáo, và từ bỏ hết tất cả những giá trị văn minh nhân loại suốt mấy ngàn năm qua… Tôi đang tự hỏi không biết khi đem chủ nghĩa Mác về Việt Nam ông Hồ Chí Minh có biết hay cố tình không biết là vào những năm cuối đời Mác đã ăn năn hối lỗi về sự lầm lạc của chủ nghĩa Cộng Sản, cũng giống như nhận định “Ngay cả Mác cũng không thể trung thành với một lý thuyết như thế. Lý thuyết ấy như một cô gái cực đẹp nhưng lẫn thẩn, chắc chắn người ta sẽ vồ lấy và sau đó tất yếu là sự phản bội.” (8)

Hậu quả mà chủ nghĩa Cộng Sản đã gây ra tại nước Nga còn nặng nề hơn nhiều so với Việt Nam từ tổn thất con người cho đến tôn giáo ,chính trị, kinh tế , văn hóa … mà nổi bật nhất là cuộc thanh trừng vĩ đại hay còn gọi là “nỗi khiếp sợ vĩ đại” trong thập niên 1930 Stalin đã ký quyết định giết hàng chục nghìn người được coi là đối thủ chính trị hay bất đồng chính kiến với ông ta , và đẩy hàng triệu người đến các trại lao động tập trung Gulag .

Năm 1953 khi nghe tin Stalin qua đời , nhà thơ Tố Hữu đã có những câu thơ làm rúng động lương tâm con người :

“Sta-lin sta-lin!
Yêu biết mấy khi con tập nói
Tiếng đầu lòng con gọi Sta-lin
[…]
Thương cha thương mẹ thương chồng
Thương mình thương một thương Ông thương mười”

Phần đánh giá xin nhường cho bạn đọc .

Tiếp đây tôi xin trích 1 đoạn nói chuyện giữa đạo sĩ Hamud và giáo sư Allen trong cuốn “Hành trình về phương đông” được xuất bản từ năm 1924 để mọi người chiêm nghiệm.
“Hamud im lặng một lúc rồi thong thả :
- Tôi muốn các ông ghi nhận một điều này, các ông có thể coi đó như một lời tiên đoán hay cảnh cáo trước cũng được. Thời gian sắp đến sẽ là một giai đoạn cực kỳ tiến bộ về tri thức, nhưng thoái bộ về tâm linh.[…] Thêm vào đó, sự khai quật các ngôi cổ mộ Ai cập sẽ tháo củi xổ lồng cho vô số âm binh, các động lực cực kỳ hung dữ. Như tôi vừa kể với các ông, thời kỳ chót của nền văn minh Ai cập, các giáo sĩ đã thực hành tà thuật tối đa, mà khoa ướp xác là một bí thuật mang sự liên lạc của cõi vô hình vào cõi trần[…] Một số pháp sư vốn là sứ giả cõi âm sẽ đầu thai trở lại, hoặc nhập xác để tác oai, tác quái, tái tạo một xã hội tối tăm, sa đoạ, đi ngược trào lưu tiến hoá của thượng đế. Thế giới sẽ trở thành nạn nhân của thứ tôn giáo ma quái này.. Chiến tranh, đau khổ, bất an cùng các kích thích của cảm giác mới lạ do nền “khoa học hiện tượng” mang lại, sẽ thúc đẩy con người vào các cùng cực của cuộc sống […] họ sẽ đội lốt tôn giáo, họ sẽ kêu gọi sự hợp tác của thần quyền, họ sẽ đặt ra các giáo điều mới, thay thế các chân lý cao đẹp để lôi kéo con người từ bỏ thượng đế. Họ sẽ sử dụng danh từ, ngôn ngữ để đánh lạc hướng mọi người, tuy nhiên trước sau gì họ cũng phải chết và trước khi chết, họ sẽ di chúc yêu cầu ướp xác họ và xây dựng những nhà mồ vĩ đại bằng đá như họ đã từng làm trong quá khứ…

Giáo sư Allen bật cười :
- Như vậy thì nhận diện họ quá dễ, nhưng tôi không tin thời buổi này còn ai ướp xác, xây cất nhà mồ như vậy, ông nên nhớ chúng ta đã bắt đầu vào thế kỷ 20, không phải 8 ngàn năm trước ?

Hamud mỉm cười :
- Rồi các ông sẽ thấy, tôi mong các ông ghi chép những điều này cẩn thận rồi đúng hay sai thời gian sẽ trả lời.”

Cờ Trung Cộng cũng một nền đỏ, trên đầu góc trái có một ngôi sao vàng lớn và 4 ngôi sao vàng nhỏ hình cánh cung phía bên mặt.

Về các thành tựu mà Đảng Cộng Sản Trung Quốc đã mang lại cho dân tộc Trung Hoa thì các bạn có thể tìm đọc thêm ở tài liệu “Cửu Bình” (chín bài bình luận về Đảng Cộng Sản) (9) tài liệu này được ví như một quả bom mang sức công phá khủng khiếp vào chính quyền các nước khối cộng sản, và chỉ sau 1 năm ra mắt đã khiến hơn 6 triệu đảng viên Trung Quốc trả lại thẻ đảng, thiết nghĩ chúng ta cũng nên quảng bá rộng rãi tài liệu này để giúp những người Cộng Sản Việt Nam sớm thức tỉnh .

Còn ai lâu nay chỉ quen nghe những lời đạo đức từ miệng của các lãnh tụ Cộng Sản thì hãy nghe Mao tuyên bố rùng rợn : “Người chết cũng có lợi, xác họ làm phân bón”, “ chúng ta sẳn sàng hy sinh 300 triệu dân Trung Quốc để hoàn thành chủ nghĩa Cộng Sản” (10)

Cờ Việt Minh – cờ đỏ sao vàng cạnh sao hơi cong.
Năm 1927 ở vùng Nghệ Tĩnh có cuộc phiến động gây ra bởi Đảng Cộng Sản do Nguyễn Ái Quốc cầm đầu. Đến ngày mùng 9 tháng 3 năm 1945 quân Nhật đánh đánh quân Pháp và giao quyền lại cho vua Bảo Đại. Được mấy tháng thì đồng minh thắng trận, Nhật đầu hàng. Đảng Việt Minh dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Ái Quốc đổi tên là Hồ Chí Minh nổi lên cướp chính quyền. Vua Bảo Đại thoái vị nhường quyền cho đảng Việt Minh.

Việt Minh là tên gọi tắt của đảng Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội do Đảng Cộng Sản lập ra khi còn ở bên Quảng Tây Trung Quốc, tránh 2 chữ Cộng Sản cho người ta khỏi nghi ngờ. (11)

2. Tại sao hiện nay cờ đỏ sao vàng là Quốc Kỳ của Việt Nam :

Những người Cộng sản nhận định rằng : “Cuộc Cách mạng tháng Tám 1945 thực sự là biểu trưng, là kết quả của khối đại đoàn kết dân tộc, là hội tụ của các nguồn xung lực hồi sinh mạnh mẽ của toàn dân tộc trong thời khắc bước ngoặt lịch sử dưới ngọn cờ chói lọi tinh thần yêu nước của mặt trận Việt Minh do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo.”

Trong một cuộc giao lưu trực tiếp trên truyền hình khi được hỏi “ông định nghĩa thế nào về sự thật lịch sử”, ông Dương Trung Quốc tổng thư ký hội sử học Việt Nam đã trả lời : “Trách nhiệm của những người làm sử chúng tôi là phải nghiên cứu để tìm ra sự thật lịch sử, vì chỉ có sự thật mới tạo được niềm tin trong nhân dân. Chúng tôi quan niệm, không phải sự thật nào cũng có thể nói ra, nhưng đã nói thì phải nói đúng sự thật. Chúng ta phải tìm lại, để học lại nghiêm túc những bài học của lịch sử.” (12)

Trời ơi ! sự thật là sự thật, tại sao lại có những sự thật không thể nói ra?

Và câu hỏi được đặt ra là biến cố tháng 8-1945 do Việt Minh gây ra có phải là một cuộc cách mạng không! Về câu hỏi này thì mặc dù đã được nghe ý kiến của nhiều người nhưng tôi vẫn chưa thể có kết luận thỏa đáng cho bản thân. Nhưng dù sao cũng thật khó khi nói cuộc cướp chính quyền không phải là nguyện vọng của người dân, mà trên thực tế người dân của chúng ta lúc đó đa phần nghèo khó nhưng bản tính thật thà chấc phác họ đã tin theo những hứa hẹn hão huyền của chủ nghĩa cộng sản nhằm mơ tưởng một xã hội công bằng văn minh không có cảnh người bóc lột người, nhưng họ đã không thể hiểu được bản chất của Cộng Sản là chiến tranh, hận thù, độc tài, giết chóc, tham lam, bóc lột và khủng bố ...

Rồi đến 20-12-1946 Pháp chiếm Bắc Bộ phủ, Hồ Chí Minh phải rút vào các vùng núi hẻo lánh tiếp tục ôm lý tưởng Cộng Sản để “giải phóng dân tộc”, như thế lá cờ đỏ sao vàng chỉ hiện diện chính thức trong tư thế Quốc Kỳ khoảng thời gian từ 5-9-1945 đến 20-12-1946 .

Trong khi đó tại miền Nam từ 1-6-1946 đến 2-6-1948 dùng cờ Nam Kỳ Cộng Hòa Quốc với nền vàng ở giữa là 3 sọc xanh, chen giữa 3 sọc xanh là 2 sọc trắng .

Và từ 2-6-1948 Chính phủ trung ương dùng lá cờ vàng 3 sọc đỏ chính thức làm Quốc Kỳ và lá cờ này giống với Đại Nam Kỳ thời 1890- 1920, mãi đến 20-7-1954 khi đất nước bị chi đôi theo hiệp định Geneve. Từ đó lá cờ vàng 3 sọc đỏ vẫn được dùng làm lá Quốc Kỳ Việt Nam Cộng Hòa từ 20-7-1954 cho đến 30-4-1975.

Đó chỉ là những mốc khái quát sơ lược về sự thay đổi của Quốc Kỳ Việt Nam, các bạn có thể tham khảo thêm ở những tài liệu khác để hiểu thêm chi tiết.

Như vậy từ 20-7-1954 đất nước ta thực sự bị chia cắt thành 2 miền, mà sau này nguyên nhân góp phần làm miền Nam rơi vào tay Cộng Sản chính là việc ký kết hiệp định Paris vào ngày 27-1-1973 chấm dứt mọi sự can thiệp quân sự của Hoa Kỳ và cuối tháng 3 năm 1973 lính Mỹ cuối cũng đã rút khỏi Việt Nam, chúng ta cũng nhìn nhận rằng vào thời điểm trước đó những cuộc biểu tình phản chiến diễn ra rầm rộ cũng gây ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình lúc đó.

Thật đúng là một thời đại tiến bộ về tri thức mà thoái bộ về tâm linh, giai đoạn 1954-1975 là giai đoạn mà các mặt của đời sống như y tế, giáo dục, văn hóa, kinh tế, chính trị, xã hội ở miền Nam ngày một tiến lên và miền Bắc thì cứ thụt lùi theo khoảng cách ngày một xa,vậy mà bộ máy tuyên truyền của Hồ Chí Minh luôn phát đi những bản tin về đời sống cơ cực khốn khó của hòn ngọc viễn đông, đánh cho mỹ cút ngụy nhào, bác cháu ta sẽ xây lại đất nước mười phần đẹp hơn lại còn tuyên truyền rằng đời sống người dân miền nam rất khốn khó, miền bắc sẽ tiếp tế cho miền Nam hàng triệu tấn lương thực và thuốc men..., các giá trị chuẩn mực đạo đức thực sự bị thoái hóa trầm trọng, và cái mốc 1975 cũng giống như cánh cửa hy vọng tiến hóa cuối cùng của dân Việt vị đóng sập lại bởi các âm binh.

Trong khi đó hãy nhìn lại suốt chiều dài lịch sử, người Việt chúng ta vốn bản tính hiền lành chất phác lấy nhân lễ nghĩa trí tín làm đạo thường cho sự ăn ở đối xử lẫn nhau , còn nhớ năm xưa khi Nội Thư Hoàng Tá Thốn đưa bọn Ô Mã Nhi về nước đã dùng kế của Hưng Đạo Vương, lấy người giỏi bơi lặn, sung làm phu thuyền, ban đêm dùi thuyền cho đắm, bọn Ô Mã Nhi đều chết đuối cả. Để rồi đời sau Sử Thần Ngô Sỹ Liên phải thốt lên “Chữ Tín là vật báu của nước, mà làm cho người khác phục mình sâu sắc thì đó là gốc của vương chính, Hưng Đạo Vương dùng bá thuật, muốn được thành công trong một thời mà thất Tín với muôn đời, đã nói là đưa về nước mà lại dùng mưu kế để giết đi thì thực là quỷ quyệt lắm [...] đâu có thể nói chữ Tín chỉ là chuyện nhỏ nhặt ”. (13)

Than ôi nghe người viết sử luận bình việc Tín Nghĩa mà hậu bối xấu hổ lắm thay, cái gốc của dân tộc này đã mất rồi ! Hỡi các Vua Hùng có công dựng nước, các bậc sỹ phu đã ngã xuống để giử nước, hỡi hồn thiêng sông núi hãy về đây, hãy về chứng kiến triều đại Cộng Sản, một Hồ Chí Minh bám theo học thuyết Mácxít, Lêninit,Stalinit, Maoít đã đem bóng ma Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản nấp dưới lá cờ đỏ sao vàng về bao trùm lên quê hương Việt Nam. Họ[chính quyền Cộng Sản] dùng tất cả những mưu mô xảo trá đẩy hàng triệu người vào biển máu vì mù quáng tin theo những khẩu hiệu có cánh như “đánh Mỹ cứu nước”, “giải phóng miền nam”, “xây dựng thiên đàng hạ giới” , “chấm dứt cảnh người bóc lột người” ... để rồi khi “con thuyền cách mạng” cập bến thành công thì họ hiện nguyên bản chất ngu dốt tham lam nhưng có ưu thế là rất ác ôn, họ quay lại bóc lột ngay chính đồng bào ruột thịt của mình. Thử hỏi nhân lễ nghĩa trí tín ở chổ nào , có thủ đoạn nào đê tiện hơn thế không?

Hãy nhìn sang nước bạn và nghe ông M. Gorbatchev, cựu Tổng bí Thư Đảng Cộng sản Liên Sô : “Tôi đã bỏ hơn nửa cuộc đời đấu tranh cho lý tưởng cộng sản, nhưng ngày hôm nay tôi phải đau buồn mà nói rằng cộng sản chỉ biết tuyên truyền và nói láo.”, trong khi đó đất nước của chúng ta đã sinh ra một người phụ nữ thông minh xinh đẹp nhưng thiếu trung thực - Nguyễn Thị Bình, bộ trưởng ngoại vụ của chính phủ cách mạng lâm thời, vào năm 1973 tại Paris khi được ký giả Michel Tauriac phỏng vấn : “Xin trả lời tôi thẳng thắn, thưa bà, bà có phải cộng sản không?”. Rất “thông minh”,người phụ nữ ấy đã trả lời: “Không, thưa ông, tôi không phải cộng sản” và trước đó tháng 4 năm 1959 trước các ký giả Mỹ, Fidel Castro cũng đã tuyên bố : “Tôi đã nói một cách rõ ràng và khẳng định là chúng tôi không phải là cộng sản” (14 ) .

Tất cả những điều đó để cho chúng ta thấy rằng một khi những người cộng sản vẫn còn nắm chính quyền trong tay thì họ chỉ biết tuyên truyền và nói láo, khi mà cả thế giới đã quá hiểu bản chất tham tàn của cộng sản mà “theo cuốn The Black Book of Communism tiết lộ cho biết số người vô tội bị Quốc Tế Cộng Sản sát hại khắp nơi trên thế giới được ước tính như sau: tại Nga Sô hơn 20 triệu, tại Trung Hoa lục địa 65 triệu, Việt Nam 1 triệu, Bắc Hàn 2 triệu, Cambodia 2 triệu, Đông Âu 1 triệu, Phi Châu 1,7 triệu, Afghanistan 1,5 triệu và châu Mỹ La Tinh 150.000 người. Tất cả đã chết dưới bàn tay của Lenine, Staline, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh, Pol Pot và Kim Nhật Thành.” (15) với 1 bản cáo trạng làm cả thế giới phải khiếp sợ như thế, thế nên họ đã khéo léo ẩn mình dưới vỏ bọc là “mặt trận quốc gia giải phóng” chứ không chịu nhận mình là Cộng Sản để đánh lừa những ánh mắt tò mò nhìn từ thế giới bên ngoài, và bên trong thì họ ra sức bưng bít thông tin tuyên truyền dối trá và hứa hẹn với người dân đủ điều , nhiều trí thức và báo giới phương tây chưa một ngày sống dưới chế độ Cộng Sản đã mắc vố lừa thật to khi lòng trắc ẩn của họ cũng bị đánh lừa, hay họ chưa hiểu thấu đáo về bản chất của 1 cuộc chiến , họ xuống đường hô to khẩu hiệu đòi Mỹ phải rút quân, điều đó trên thực tế là đã thể hiện sự bất lực trước sự bành trướng của Đệ Tam Cộng Sản, khi ma quỷ đã đạt đến trình độ thượng thừa về hóa trang. Norman Morrison đặt người con gái bé bỏng Emily xuống gởi cho một người nào đó trong đám đông xung quanh rồi châm lửa tự thiêu trước lầu năm góc, một Norman 22 tuổi ngày đó cũng đã chọn một cái chết với lý tưởng thật cao đẹp như những người thanh niên Bắc Việt ngã xuống bên lá cờ đỏ sao vàng với một lòng tin sắt đá là họ đã chết cho tự do, chết cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng những người miền nam ruột thịt đang phải sống dưới ách đô hộ của Mỹ ... Thế là bài “Emily em ơi” của Tố Hữu đến tận hôm nay vẫn còn góp mặt trong sách giáo khoa của con em chúng ta, và những hình ảnh phản chiến được Hà Nội tuyên truyền như một sự ủng hộ chính nghĩa từ thế giới, đã đẩy lớp lớp thanh niên đổ biết bao xương máu ngay trên chính quê hương mình để đấu tranh cho lợi ích của một bộ phận đảng viên cao cấp.

Và giờ đây có lẽ các sinh viên trí thức các giáo sư khuynh tả ngày nào đã phải ăn năn hay xấu hổ khi thấy một Việt Nam không hề có tự do dân chủ đa đảng đa nguyên, tôn giáo bị đàn áp, và con người phải sống cuộc sống túng quẫn, nếu họ có dịp đến Việt Nam ngày hôm nay họ sẽ được ngã lưng trên một chiếc giường thật êm ái trong căn phòng lộng lẫy của một khách sạn cao cấp không thua bất kỳ nơi nào, họ có thể phóng tầm nhìn ra xa để thấy một cuộc sống mới sau chiến tranh thật sôi động với những dòng sông xe gắn máy cuộn chảy trên đường phố , bên cạnh những tấm bảng sặc sở đậm chất tuyên truyền cố hữu của những nước Cộng Sản với hình cờ đỏ sao vàng , búa liềm hay chếch lên phía trên tấm hình ông Hồ Chí Minh luôn có những câu khẩu hiệu đại loại như “vì mục tiêu dân giàu nước mạnh xã hội công bằng văn minh” , họ sẽ hiểu thế nào là “dân giàu” khi nhìn thấy những cửa hàng với những nhản hiệu thời trang như Gucci, Louis Vuitton, của những nhà tư bản mới và khách hàng là những vị tư bản đỏ cưỡi trên những con xe đắt tiền , họ sẽ thấm thía thế nào là “xã hội công bằng” khi thấy dân oan trong đó có cả những gia đình có công với cách mạng kéo nhau đi khiếu kiện vì bị chính quyền cướp mất đất đai, đời sống rơi vào ngõ cụt ... tất cả còn thảm cảnh hơn hình ảnh lính Mỹ bật quẹt Zippo đốt nhà tranh mà họ đã thấy trên báo chí , họ sẽ thấy tôn giáo ở nước này đang bị bóp chết dần dần và tệ hại hơn là sự biến thái của các linh mục, hòa thượng quốc doanh, tất cả còn đau đớn hơn hình ảnh Thích Quảng Đức tự thiêu năm nào, họ sẽ học được bài học thế nào là “văn minh” ở xứ này khi thấy có nhiều những trẻ em bụi đời sống vất vưởng trên đường phố phải cấu xé lẫn nhau để dành dật miếng ăn không khác gì những con thú hoang hay trong các động mại dâm ở Campuchia có rất nhiều những đứa trẻ nói tiếng Việt, tất cả còn thê lương hơn em bé Kim Phúc trần truồng với vết bỏng Napalm mà họ đã xót xa năm ấy. Như thế ai dám bảo rằng sự nhẹ dạ cả tin của người phương tây không góp phần vào sự hiện diện của lá cờ đỏ sao vàng ở Việt Nam hiện nay.

Và ngày 30-4-1975 là ngày mà “có triệu người vui, cũng có triệu người buồn” để rồi ngay sau đó thôi thì triệu người vui kia cũng phải gào khóc thảm thương như những con thú đang bị ông chủ cách mạng của mình xẻ thịt trong lò mổ. Thời điểm đó để che mắt và trấn an dư luận Cộng Sản Bắc Việt đã thành lập chính phủ lâm thời với lá cờ nửa trên đỏ, nửa dưới xanh, ở giửa là ngôi sao vàng, nhưng đâu rồi cũng lại vào đó ngày 2-7-1976 chính thức thống nhất 2 miền thành Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và dùng lá cờ đỏ sao vàng làm Quốc Kỳ cho đến hôm nay.

Như vậy chúng ta đã thấy rõ để chiếm được vị trí làm lá Quốc Kỳ của nước Việt Nam ngày hôm nay, lá cờ đỏ sao vàng đã giương cao một lý tưởng cao đẹp nhưng ảo tưởng, lá cờ đỏ sao vàng đã đánh lừa niềm tin của rất nhiều người, đã tuyên truyền vô cũng tinh vi và xảo trá, đã tắm bằng máu của hàng triệu người vô tội trên cả 2 chiến tuyến trong một cuộc chiến không đáng có (16a), đã thể hiện bản chất là đứa con trung thành của Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản và hiện nay là chư hầu của Trung Cộng ...

Dù hiện nay tôi không còn tin vào lá cờ đó nữa nhưng tôi vẫn luôn luôn dành tình yêu thương và tự hào bởi cách mà cha ông mình đã hy sinh, họ đã hiến dâng cả cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng, họ đã phơi xác trên hàng rào kẽm gai với viên đạn găm trong lồng ngực khi trên tay còn nắm chặt lá cờ đỏ sao vàng, dòng máu đỏ từ tim tung tóe mạnh liệt như họ đã từng tin rằng họ chết cho quê hương, họ chết cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, họ chết cho thế hệ mai sau được sống tự do hạnh phúc , mà giờ đây tôi đau buồn nhận ra rằng sau 33 năm sống dưới triều đại Cộng Sản, dân tộc này không còn nhiều người dám hy sinh như thế. Từ góc nhìn giá trị nhân bản thì đó là một cái chết vinh quang một cái chết rất người, nhưng nhìn từ cục diện chính trị thế giới tại thời điểm đó thì đó là một cái chết tức tưởi một cái chết lãng xẹt, VÌ ĐÁNG RA TẤT CẢ NHỮNG NGƯỜI VIỆT NAM KHÔNG CÓ AI PHẢI CHẾT. (16b)

3. Những thành quả mà lá cờ đỏ sao vàng mang về cho dân tộc :

1930-1931
Phong trào “Xô Viết Nghệ Tỉnh” là cuộc nổi dậy đầu tiên do Đảng Cộng Sản lãnh đạo với khẩu hiệu “Trí, phú , địa , hào, phải đào tận gốc trốc tận rễ” tức là cứ theo thứ tự bất lợi cho cách mạng thì tầng lớp trí, được “ưu tiên” rồi đến ,phú địa, hào đều phải được giết sạch thì thành phần vô sản mới có thể đẩy mạnh phong trào Cộng Sản trên khắp cả nước .

Và bài vè của Hà Sỹ Phu thật chua chát lắm thay khi cho chúng ta thấy bộ mặt lật lọng của Đảng Cộng Sản từ ngày còn sơ khai đến ngày đè đầu cưỡi cổ được dân tộc, “hiền tài là nguyên khí của quốc gia” nghe cũng có lý nhưng nếu bỏ Trí lên trên thì xem ra không được logic lắm với cái lịch sử giết chóc dã man kia, thế là xếp CÔNG- NÔNG-TRÍ .

Bốn anh Trí Phú Địa Hào
Chỉ riêng anh Trí lao đao đến giờ
Đảng ta thương Trí ngu ngơ
Cho Công – Nông - Trí chung cờ liên minh
Trông lên Liềm - Búa hai hình
Trí ta vẫn chẳng thấy mình ở đâu
Quay sang tìm Phú, Địa, Hào
Thấy ba bụng phệ… đã vào… Đảng ta!

1949-1956
“Cải cách ruộng đất” lần này thì với khẩu hiệu “hãy giết sạch lũ cường hào địa chủ ác bá” “đào tận gốc trốc tận rễ” “ cường hào ác bá phá ra tro” . Đúng , đảng ta luôn luôn đúng , phải giết hết phải đập phá hết tất cả ,lấy của người giàu chia cho người nghèo , sẽ không còn người bóc lột người . Tất cả những nơi thơ tự , chùa chiền , đình làng đều bị phá hủi, những người dân chịu khó tích cóp làm ăn bấy lâu nay , giờ đây trở thành những tên cường hào ác bá hay việt gian phản động , sẽ bị đem ra đấu tố bởi chồng con hay chính cha mẹ họ , hãy lắng nghe nhà thơ Xuân Diệu :

“Anh em ơi! Quyết chung lưng
Đấu tranh tiêu diệt tàn hung tử thù
Địa hào, đối lập ra tro,
Lưng chừng phản động đến giờ tan xương.
Thắp đuốc cho sáng khắp đường,
Thắp đuốc cho sáng đình làng đêm nay.
Lôi cổ bọn nó ra đây
Bắt quỳ gục xuống, đoạ đày chết thôi...”

Những ai bị đọa đày mà chưa chết thì sẽ bị đem ra xử bắn hay dùng trâu cày kéo đứt cổ để răn đe mọi người .

Ước tính trong thời gian này có hơn 150 ngàn người đã bị sát hại, những truyền thống tốt đẹp, đời sống tinh thần và tâm linh của người Việt bị phá hủy.

Sau đó với “chiến dịch sửa sai” Trường Chinh và Hồ Viết Thắng phải ngậm đắng nuốt cay khi Bác lấy khăn lau nước mắt rồi đem hai chú ra làm vật tế thần để xóa tan sự phẩn nộ trong quần chúng , thế mà thế hệ ba tôi ai cũng tin là thật, còn khen Bác thật đúng là con người nhân nghĩa đã khóc thương dân , chỉ có tụi cấp dưới làm bậy thôi .

1955-1958
“Nhân Văn Giai Phẩm” gắn liền với những tên tuổi như Nguyễn Hữu Đang ,Trần Dần, Lê Đạt, đã bị kết án tù đày vì dám lập ra tờ báo Nhân Văn và ấn bản Giai Phẩm với nội dung là những câu thơ tiêu biểu như của Trần Dần :

“Tôi bước đi không thấy phố không thấy nhà
Chỉ thấy mưa sa trên mầu cờ đỏ”

Người trực tiếp đứng ra tiêu diệt “Nhân Văn Giai Phẩm” chính là nhà thơ Tố Hữu trưởng ban tuyên huấn trung ương với những vần thơ khát máu:

“Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ
Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong,
Cho Đảng bền lâu, cùng rập bước chung lòng
Thờ Mao Chủ tịch, thờ Sít-ta-lin... bất diệt.”

Và những người có dính líu cũng bị tù đày tùy theo mức độ liên quan , tất nhiên những người này sẽ mang theo một “vết nhơ” không chỉ trong lý lịch của mình mà còn liên lụy đến con em. Như trường hợp nhà thơ Lê Đạt kể từ ngày 12-8-1958 bị đẩy đi tù đày lao động khổ sai, 30 năm mất bóng trên diễn đàn văn và trước khi ông chết 1 năm đã được trao giải thưởng văn học nghệ thuật nhà nước 2007.

1959.
Quốc hội ký quyết định thông qua vấn đề “hợp tác hóa nông nghiệp”, tôi đã đọc quyết định này 2 lần mà không hiểu nó viết về vấn đề gì , âu cũng là cách hành văn mơ hồ trong văn bản luật pháp của Cộng Sản, nhưng trên thực tế sau cải cách ruộng đất, cướp của người giàu chia cho người nghèo, thành phần bần cố nông nay được chia cho 1 ô đất nhỏ và vài cái cuốc cái xẻng , nhưng để vô sản hóa đến tận cùng đảng ta đã dùng những “kế hoạch kinh tế 3 năm, 5 năm” “công tư hợp doanh” “ hợp tác xã” để dần dần công hữu hóa hết những tài sản còn sót lại của thành phần bần nông , khiến miền Bắc trở nên vô cùng nghèo nàn và lạc hậu, trong khi tại thời điềm này ở miền Nam dưới lá cờ vàng tung bay quốc dân đang sống ở một nơi được mệnh danh là hòn ngọc viễn đông, tình cảnh thật không khác gì bắc Hàn, nam Hàn ngày hôm nay .

Ai khổ mặc kệ, Hồ Chí Minh thì vẫn cứ ở trên bục ra rả thuyết pháp “Đảng ta là vĩ đại, vì ngoài lợi ích của giai cấp, của nông dân, của dân tộc, đảng ta không có lợi ích gì khác”

1968 “Huế Mậu Thân”.
Thơ chúc tết của Hồ Chí Minh :
“xuân này hơn hẳn mấy xuân qua
Thắng trận tin vui khắp nước nhà
Nam Bắc thi đua đánh giặc mỹ
Tiến lên! toàn thắng ắt về ta”

“Trong cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước. Ta được tận hưởng tư tưởng, tình cảm cao đẹp của Bác Hồ, yêu nước, yêu dân, tin dân, tin cách mạng, tin vào thắng lợi qua những vần thơ Tết Xuân Mậu Thân, cho ta soi mình vào tâm đức tổ tiên, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ.” (Trích báo đảng kỷ niệm 40 năm tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân của tiến sỹ Trần Viết Hoàn)

Và kết quả của tình “yêu nước, yêu dân” đó là ở Huế có 9776 ngôi nhà bị phá hủy, hoàn toàn, 3169 ngôi nhà bị hư hỏng nặng, 7000 người vô tội đã bỏ mạng.

“Chiều đi qua Bãi Dâu, hát trên những xác người
Tôi đã thấy, tôi đã thấy
Trên con đường người cha già ôm con lạnh giá
Chiều đi qua Bãi Dâu, hát trên những xác người
Tôi đã thấy, tôi đã thấy
Những hố hầm đã chôn vùi thân xác anh em”
Trịnh Công Sơn 1968.

1972 “Mùa hè đỏ lửa”.
“Mùa Hè 1972, trên thôn xóm và thị trấn của ba miền đồng bốc cháy một thứ lửa nhân tạo, nóng hơn, mạnh hơn, tàn khốc gấp ngàn lần, vạn lần khối lửa mặt trời sát mặt. Lửa ngùn ngụt. Lửa bừng bừng. Lửa kêu tiếng lớn đại pháo. Lửa lép bép nức nở thịt da người nung chín. Lửa kéo dài qua đêm. Lửa bốc khói mờ trời khi ngày sáng. Lửa gào chêm tiếng khóc của người. Lửa hốt hoảng khi cái chết chạm mặt. Lửa dậy mùi thây ma. Lửa tử khí trùng trùng giăng kín quê hương thê thảm khốn cùng.

Kinh khiếp hơn Ất Dậu, tàn khốc hơn Mậu Thân, cao hơn bão tố, phá nát hơn hồng thủy. Mùa Hè năm 1972 - Mùa Hè máu. Mùa Hè của sự chết và tan vỡ toàn diện. Mùa Hè cuối đáy điêu linh. Dân tộc ta sao nỡ quá đọa đày!” (17)

30-4-1975 Đối với tôi những con số này như mang theo thông điệp của quỷ, nó nhắc cho người Việt Nam phải nhớ rằng: Hỡi người anh em ! chúng ta phải thương yêu nhau vì tất cả chúng ta đều đau khổ.

Những gì viết trên đây chỉ mang tính chất liệt kê, còn để trình bày đầy đủ thì không bút mực nào chịu đựng nỗi bi kịch oan khiên đó.

Hãy điểm xem đến nay đất nước ta đã đạt được những thành tựu gì từ khi lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên nóc Dinh Độc Lập :

- Tham nhũng tràn lan, quan sống phè phỡn, đạo đức xã hội suy đồi, con giết cha , mẹ bán con, vợ giết chồng ...
- Kinh tế ,chính trị, y tế, giáo dục, văn hóa, xã hội xuống cấp, tụt hậu thê thảm so với thế giới.
- Trí thức, sử gia, luật gia, khoa học gia, kỹ sư, bác sỹ dược sỹ, tiến sỹ, nhà văn nhà báo , họa sĩ nhạc sĩ và thi sĩ ... đa số đều trở nên vô cảm .
- Lạm phát phi mã cộng thêm quan lại tham lam đẩy người dân vào cảnh khốn cùng
- Hàng triệu người Việt Nam vượt biên tìm cuộc sống hạnh phúc ở xứ người.
- Hàng chục ngàn cô gái Việt Nam bị bán sang nước ngoài để bán thân, trong đó có cả những em bé.
- Hàng trăm ngàn lao động phải chạy ra ngước ngoài để bán bán sức .
- Bao cảnh đời khó khăn khổ sở đói nghèo trong nước phải làm những nghề mạt hạng ăn xin, bán dâm, giết người trộm cắp…
- Tình trạng dân oan khiếu kiện kéo dài, oán hận không được giải quyết
- Tôn giáo bị đàn áp, linh mục và hòa thượng quốc doanh thì tăng lên theo cấp số nhân.
- Công lý bị phỉ báng, tự do bị tước đoạt và nhân quyền bị bóp nghẹt
- Đất đai của tổ tiên thì ngày một bị thu hẹp lại

...

Nhìn vào một xã hội như thế để thấy được cái vô đạo đức của người làm chính trị, và “khi khảo sát và nghiên cứu sự phát triển trên thế giới mới thấy xã hội Việt Nam hiện nay vẫn ở thời Trung Cổ, tức tụt hậu sau thế giới gần 500 năm” (18). Nhưng theo tôi thì không cần so với thế giới làm gì , người Việt hôm nay còn tụt hậu hơn chính mình 500 trước . Bạn sẽ bảo tôi, làm sao có thể như vậy được khi chúng ta hàng ngày vẫn được chạy ô tô, ở nhà có máy lạnh, xem truyền hình, ăn KFC và uống Coca Cola ... toàn là những thứ mà 500 trước không hề có. Nhưng chỉ cần bạn chịu khó đọc lại lịch sử thôi thì sẽ thấy muôn mặt đời sống xã hội hiện nay đang tuột dốc không phanh. (1460- 1497) thời vua Lê Thánh Tông, cha mẹ dạy con có phép tắc, trai gái đều có nghề nghiệp, không có nạn rượu chè cờ bạc, không tụ tập đồ đảng để đi trộm cướp, vợ chồng cần kiệm làm ăn, ân nghĩa trọn vẹn, quan dân đều phải hiếu để, chăm chỉ làm ruộng cùng giúp đỡ lẫn nhau… về giao thiệp với Tàu thì luôn cho người dám sát đề cao cảnh giác, ngài nói rằng “Ta phải giử gìn cẩn thận, đừng để cho ai lấy mất 1 tấc núi, 1 tấc sông của Thái Tổ để lại” (19). Nhờ có những bậc minh quân tài trí đức độ như thế nên văn hóa nước ta thời đó mới được hưng thịnh. Chỉ mấy điều đó thôi chưa đủ để chúng ta phải hổ thẹn sao?

Chính quyền Cộng sản đã biến đời sống xã hội của Việt Nam thành một thứ xã hội mà con người sống trong đó phải luôn luôn toan tính ăn thịt nhau để sống, đó chính là hậu quả của học thuyết vô thần, họ tiêu diệt tôn giáo cho đó là “thuốc phiện” ru ngủ nhân dân, họ luôn luôn sống trong hận thù, thứ hận thù giai cấp, mà những ai không phải là Cộng Sản thì được họ xếp vào những kẻ thù cần “phải bị đấu tố như những tên bồi của đế quốc” (20) như Hồ Chí Minh đã từng nói. Ngày trước Phạm Quỳnh một nhà trí thức lỗi lạc với chủ trương “xây dựng một Việt Nam phú cường tự do và độc lập” đã bị Việt Minh đấu tố là tên việt gian phản quốc , rồi bị đưa vào rừng đập vở đầu bằng cày và cuốc, đến sau này khi nhạc sỹ Phạm Tuyên con trai của Phạm Quỳnh được gặp Hồ Chí Minh vào năm 1945, “ông già dân tộc” đã khẳng khái nói rằng : “Cụ Phạm là người của lịch sử, sẽ được lịch sử đánh giá lại sau này. Con cháu cứ vững tâm đi theo cách mạng”. (21), Và Hòa Hảo-Huỳnh Phú Sổ, Quốc Dân Đảng-Nguyễn Thái Học, Duy Tân-Lý Đông A, Đệ Tứ Cộng Sản-Tạ Thu Thâu ... tất cả đều bị ám hại bởi những thủ đoạn tương tự .

Ngày hôm nay thì chính quyền Cộng Sản lại quay sang hận thù với chính người dân trong nước, bà con dân oan biểu tình, người dân lao động đình công, giáo dân cầu nguyện, hay sinh viên xuống đường đả đảo Trung Cộng.... tất tả những thành phần này đã được bộ máy an ninh khổng lồ dành cho sự chăm sóc đặc biệt, họ dùng công cụ là báo chí và truyền hình với những tay sai đắc lực là lũ văn nô bồi bút ra sức nhào nặn bóp méo sự thật một cách trắng trợn, rồi tuyên truyền về sự nguy hiểm của các thế lực thù địch, diễn biến hòa bình, phản động, khủng bố ...ai có ý định chống đối là bắt giam.

Họ luôn mồm kêu gọi hòa đồng hòa giải dân tộc, nhưng luôn gọi thành phần người Việt hải ngoại với cờ vàng ba sọc trên tay là “bọn chống cộng cực đoan”, ai mới là kẻ cực đoan đây khi chính quyền Cộng Sản là kẻ nắm quân đội trong tay với pháp luật là giấy thông hành , chính quyền sẽ bỏ tù hết những tên nào dám vì lợi ích quốc dân mà làm tổn hại đến lợi ích của đảng, vậy xin hỏi ai mới là kẻ khủng bố cực đoan đây?

Để minh họa rõ hơn về vấn đề này hãy lấy Lê Thị Công Nhân làm một ví dụ, chị đã chịu án 4 năm tù và 3 năm quản chế vì tội dám bất đồng chính kiến. Và ký giả Xuân Hồng của BBC đã đặt so sánh về hoạt động thời trẻ của bà Nguyễn Thị Bình với những nhà bất đồng chính kiến gần đây như Lê Thị Công Nhân, hỏi bà có suy nghĩ gì . Bà ta đã trả lời “Những việc làm của họ [những người đấu tranh chính trị] trong tình hình này không đem lại lợi ích cho đất nước.” (22)

Vậy là đã rõ, người đàn bà thiếu trung thực này đã một lần xảo trá với báo chí phương tây năm 1973, giờ đây bà ta còn dám bảo việc đấu tranh chính trị xóa bỏ cái đảng độc tài thối nát này đi không mang lại lợi ích cho đất nước, vậy nó không bị xóa bỏ thì mang lại lợi ích cho ai?

Đảng Cộng Sản Việt Nam hiện nay có đầy đủ các “đức tính” tham lam, độc tài, cực đoan, khủng bố, họ cho rằng đất nước Việt Nam này chỉ do một mình họ quyết định mà người dân không có quyền tham gia, bằng chứng là gần đây khi thấy phong trào viết Blog phát triển mạnh với nhiều sự thật rùng rợn của đảng được phơi bày, họ đã đánh hơi thấy mối nguy hiểm , họ cho cái loa phóng thanh Đỗ Quý Doãn phát đi bản tin : “Blog Không được đề cấp đến các vấn đề kinh tế chính trị xã hội theo hướng tiêu cực, Quy định hoạt động blog sẽ định ra những tiêu chí để người tham gia hoạt động biết việc nào mình được làm và việc nào không được làm.” (23)

Mọi người đã thấy bản chất độc tài cực đoan bộc lộ rõ chưa, trí tuệ của họ vĩ đại đến độ biết hướng nào là tiêu cực ,việc gì là nên làm và việc gì không nên làm cơ đấy! Lấy ví dụ đó để thấy rằng đảng không cho phép người dân bàn việc nước, mà cái đất nước này của ai, đâu phải của riêng người Cộng Sản đâu mà tự cho mình cái quyền cắt đất cắt biển dâng cho Trung Cộng. Chợt nghĩ nếu Trần Quốc Toản vô phúc sống dưới chế độ này dám bóp nát quả cam cái coi, chí ít cũng phải lãnh án 3 đến 4 năm tù .

[...]

Như vậy chúng ta có thể thấy từ năm 1927 khi đó ở Việt Nam chưa xuất hiện lá cờ đỏ sao vàng , nhưng trên thực tế thì nó đã ấp ủ từ trong âm mưu bành trướng của Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản mà Hồ Chí Minh là tay sai, và từ đó đến nay nó không hề mang ý thức dành tự do, không có nguồn gốc dân tộc và không có tình yêu thương đồng bào.

Có lẽ năm xưa khi Trần Trọng Kim viết cuốn Việt Nam Sử Lược không thể hình dung ra được kết quả “trăm năm trồng người” của Hồ Chí Minh nên mới có những câu cảm thán “Người bản quốc phải biết rằng phàm sự sinh tồn tiến hóa của một nước, là ở cái chí nguyện, sự nhẫn nại và sự cố gắng của người trong nước. Vậy ta phải hết sức mà học tập, giử cái tâm cái trí cho bền vững thì chắc tương lai còn hy vọng” .

Ôi! sao tôi bi quan quá, tương lai còn hy vọng không khi ở trong nước ngày nào cũng thấy thi đua học tập tư tưởng Hồ Chí Minh, người người nhẫn nại phấn đấu vào đảng để được hưởng đặc quyền đặc lợi , bác Hồ kính yêu cũng đã từng nói : "muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, thì phải có những con người xã hội chủ nghĩa", bác ơi bác hô khẩu hiệu thì không ai dám so với bác , nhưng bác về mà xem thành quả trăm năm trồng người của bác này, một người lý tưởng trong xã hội Việt Nam hiện nay được định hướng như sau :

Phải phấn đấu vào đại học ,rồi ráng lên thạc sỹ, tiến sỹ, sau đó ra trường làm thật nhiều tiền, phấn đấu mua thật nhiều áo quần hàng hiệu, phấn đấu sắm ô tô hạng sang, và phấn đấu ở biệt thự cao cấp ... và dường như đó đã thành những giá trị chuẫn mực của các chàng trai cô gái cần phải cố gắng đạt đến trong cuộc sống. Một bộ phận không nhỏ khác thì cái tâm cái trí đã chìm vào rượu chè và các cuộc chơi thâu đêm suốt sáng , họ không tìm được ý nghĩa đích thực trong cuộc sống hiện tại, họ đang lạc lối trong “thiên đàng hạ giới” như những con thú hoang quen với khu rừng của nó và hàng ngày phải cắn xé đồng loại để dành dật miếng ăn. Chỉ còn một số bộ phận nhỏ họ là những thanh niên rất giỏi trong nhiều lĩnh vực của đời sống như y khoa, kinh tế, kiến trúc ... nhưng họ chỉ có thể cứu vài người bệnh đang hấp hối, thành lập vài công ty giải quyết công ăn việc làm cho vài người, và xây những tòa nhà cao tầng, những khu vui chơi tráng lệ để phục vụ cho 1 bộ phận người dân, và họ đâu biết rằng họ chỉ là những bánh răng tốt hiếm hoi trong một guồng máy khổng lồ bệ rạc và rĩ rét phải oằn mình kéo theo lũ cán bộ mặt người với đầy đủ phẩm chất của heo. Cái dân tộc này cần trong thời điểm hiện nay không phải là những chiếc bánh răng rời rạc, mạ vàng hay bằng kim cương, mà cần một guồng máy được điều khiển bởi ý chí và sức mạnh toàn dân để đuổi theo thế giới văn minh đã tiến quá xa kia kìa.

Giờ đây khi đang gõ những dòng để kết thúc bài viết này, chỉ còn tiếng lách tách trên bàn phím trong đêm khuya nơi đất khách quê người càng khiến tôi nao lòng và cảm thấy cô đơn hơn bao giờ , tôi đang ngồi đây, đang nghe tiếng thở yếu ớt từ quê hương xa xôi vọng lại như một bệnh nhân đã kiệt sức vì chống chọi với căn bệnh trầm kha, để cứu bệnh nhân Việt Nam bây giờ đã là quá muộn, tôi mong rằng khi đọc xong những dòng tâm huyết này đây , các bạn của tôi ở trong nước sẽ nhận ra đâu là “ngọn cờ đại nghĩa của dân tộc Việt” để rồi sống có trách nhiệm với bản thân trước tính mệnh của dân tộc, như chúa Giêsu đã nói “Anh em hãy tìm lấy sự thật, và sự thật sẽ giải phóng anh em” .

Có một số anh em của tôi có quan điểm rằng “họ chỉ đấu tranh vì tự dân chủ chứ không chống cộng”

Nay tôi xin bày tỏ quan điểm của mình rằng : những gì cần nói tôi đã nói trong nội dung bài viết này, chúng ta đã thấy rõ bản chất tà giáo của chủ nghĩa Cộng Sản đang ẩn nấp dưới ngọn cờ dân tộc, và một khi so sánh bản chất cố hữu ở các nước cộng sản với các nước không cộng sản thì chúng ta sẽ thấy 2 vấn đề :

Một chế độ Độc Tài có thể không phải là chế độ Cộng Sản (tức đảng Dân Chủ hay đảng Lao Ðộng cũng có thể trở thành độc tài), nhưng Cộng Sản chắc chắn phải là Độc Tài

Một nước tự do dân chủ đa nguyên đa đảng thì có thể có đảng Cộng Sản hoạt động, nhưng một nước Cộng Sản thì không thể đòi hỏi vế ngược lại .

Vì bản chất cố hữu mang tính di truyền đó của chính quyền Cộng Sản nên chúng ta không thể hợp tác với chính quyền Cộng Sản chống tham nhũng, cũng giống như chúng ta không thể dạy cho con linh cẩu sống bằng cách ăn hoa quả .

Chúng ta không thể hợp tác với chính quyền Cộng Sản xây dựng nhà nước pháp quyền.

Chúng ta không thể đòi hỏi ở chính quyền cộng sản tự do và dân chủ, vì như ông Nguyễn Minh Triết đã nói 1 câu rất thật lòng “ bỏ điều 4 là tự sát”

Trong cuộc đấu tranh này chúng ta phải nhìn rõ một sự thật rằng với một chính quyền mà nhân lễ nghĩa trí tín đều không có, thì đừng mong họ tự sát cho dân tộc sống .

Và hiện nay Quốc Tế Cộng Sản đã bị tòa án quân sự thế giới lên án với :

Tội ác chống lại hòa bình thế giới
Tội ác chiến tranh
Tội ác chống lại con người

vậy chúng ta chống cộng có nghĩa là chúng ta chống lại làn sóng vô thần đang ám hại, xô đẩy loài người xa rời thượng đế, xa rời rời lẽ sống đạo đức ở đời.

Chúng ta chống cộng có nghĩa là đấu tranh cho hòa bình tự do dân chủ và xóa bỏ hận thù do chủ nghĩa Cộng Sản dựng lên.

Và hơn hết chúng ta chống cộng có nghĩa là chúng ta giúp đở những người anh em đang còn u mê với lý tưởng Cộng Sản (trong đó có cả những người thân trong gia đình tôi), hãy thức tỉnh hãy quay về với nhân dân, giúp họ thoát khỏi bờ vực thẳm của lương tâm con người. (24)

Cuối cùng tôi rất mong muốn được lắng nghe những tiếng nói phản biện, làm ơn hãy cho tôi một lý do để thế hệ hôm nay và mai sau tiếp tục lầm lũi bước đi dưới sự chỉ đạo của đảng và giương cao lá cờ đỏ sao vàng .

Chú thích:
1. Tất nhiên đây chỉ là một khảo sát với vài người mà tôi có dịp trò chuyện, chưa có ai quan tâm đến vấn đề này nên tôi dành 0,1 cho hy vọng .
2. Tôi có một người anh hiện là tiến sỹ triết học Mác Lênin hàng ngày vẫn đang miệt mài thuyết pháp trên bục giảng các trường đại học ở Sài Gòn, bài viết này cũng xin tặng anh, vì anh rất quan tâm đến tôi , luôn nhắc nhở tôi phải cảnh giác cao trước âm mưu lôi kéo kích động của các thế lực thù địch phản động, khủng bố ...
3. Trích từ “Quốc Kỳ Việt Nam- Nguồn gốc và lẽ chính thống” của Kỹ Sư Nguyễn Đình Sài. Tôi cũng đã kiểm chứng ở phần tài liệu tham khảo của tác giả cộng thêm một số sử liệu khác và thấy rằng đây là một tài liệu khả tín, nếu các bạn không đồng ý thì có thể đưa ra những tư liệu phản bác lại.
4. “Người vẽ Quốc Kỳ Việt Nam”, Nguyễn Xuyến, Website Đảng Cộng Sản Việt Nam, 08/09/2004.
5. “Quốc Kỳ Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam” website Đảng Cộng Sản Việt Nam, 15/08/2003
6. Quốc kỳ Liên bang Nga hiện nay là lá cờ có 3 màu, xếp thứ tự từ trên xuống dưới: trắng, xanh, đỏ. Lá cờ 3 màu bắt nguồn từ thời hoàng đế Piốt vĩ đại. Và sau sự sụp đổ của Đảng cộng sản Liên Xô đã đưa lá cờ 3 màu truyền thống của Nga trở lại đất nước này.
7. “Quốc Huy Quốc Kỳ và Quốc Ca của nước Nga” Website Đảng Cộng Sản Việt Nam , 24/10/2005.
8. “Chia tay ý thức hệ”, Hà Sỹ Phu, 1995
9. Đọc “Cửu Bình” ở : www.cuubinh.org hoặc www.cuubinh.net , Tài liệu gốc bằng tiếng Trung : http://dajiyuan.com/gb/4/11/19/n722351.htm
10. “Mao Unknow Story”, chương 40, Jung Chang& Jon Halliday
11. “Việt Nam Sử Lược” ,tr234, Trần Trọng Kim.
12. “Cách mạng tháng 8: những thông điệp từ quá khứ”, Vietnamnet, 17-8-2005
13. “Đại Việt Sử Ký Toàn Thư”, tr199.
14. “Hồ sơ đen cộng sản Việt Nam từ 1945 đến nay”, tr56, Michel Tauriac, Nguyên Văn chuyển ngữ, văn mới 2002.
15. “Hải Ngoại huyết thư”, Nguyễn Anh Tuấn.
16a, 16b. Bài học kinh nghiệm của Nhật Bản trong giai đọan thay đổi chế độ từ quân chủ phong kiến sang quân chủ lập hiến, rồi từ quân chủ sang dân chủ , một Nhật Hoàng nhìn xa trông rộng, ông đã nhẫn nhục làm tù binh cho Hoa Kỳ đễ dựa vào Hoa Kỳ mưu lợi cho quốc dân mà kết thúc là hiệp định San Francisco được ký kết , Hoa Kỳ trao trả độc lập cho Nhật bản năm 1951 ... cùng với phong trào trao trả thuộc địa sau này mà Hồng Kông là 1 ví dụ... so sánh và liên hệ như thế cho chúng ta thấy nếu như không có Hồ Chí Minh thì dân tộc này sẽ không có ai phải chết vì chiến tranh , thậm chí có thể đã là một quốc gia phú cường hàng đầu Châu Á.
17. “Mùa hè đỏ lửa” Phan Nhật Nam
18. “Cờ vàng ba sọc đỏ: Ngọn cờ đại nghĩa của dân tộc Việt”, Nguyễn Anh Tuấn.
19. “Việt Nam Sử Lược” ,tr102, Trần Trọng Kim.
20. “Hai Việt Nam”, tr 120, Bernard Fall, Payot, 1967.
21. “Nhạc Sỹ Phạm Tuyên, lịch sử sẽ công bằng với cha tôi” Tiền Phong, 4-12-2007.
22. BBC phỏng vấn bà Nguyễn Thị Bình , 13/10/2008.
23. Thứ trưởng thông tin truyền thông Đỗ Quý Doãn trao đổi với Vietnamnet, 2/10/2008.
24. Bài viết này cũng dành tặng cho một người bác của tôi hiện đang công tác ở Phòng PA25, mong rằng sau khi đọc được bài viết này bác cháu mình sẽ hiểu nhau hơn .

***

“Mặt trời đứng bóng thì xế,
Mặt trăng khi tròn thì khuyết,
Vật gì thịnh lắm thì suy.”

Viết từ Đài Loan hòn đảo xinh đẹp với những mảnh đời bất hạnh của người Việt Nam tha phương. 20-10-2008

Lê Trung Thành

______________
Kính thưa quí đọc giả,

Trong bài viết có hình lá cờ máu của VC nữa, nhưng Sydney không thích đăng cờ quỷ quái của CSVN! Nếu quí đọc giả thích xem xin nhấn vào link ở dưới ạ!
(lời : Sydney)

* Source: http://tiengnoitudodanchu.org/vn/mod...ticle&sid=6578

Monday, October 27, 2008

Thế Giới Tự Do đã để ý đến vấn đề tự do Tôn Giáo và Nhân Quyền tại Việt Nam

Cuộc họp thường kỳ của Quốc Hội Âu Châu đã diễn ra từ ngày 20 đến 23/10/2008 tại thành phố Strasbourg, Pháp quốc. Theo biên bản của cuộc họp, dân biểu Jean-Pierre Jouyet có trách nhiệm trả lời quốc hội vào ngày 21/19/2008 về Hiệp Định và Đối Tác giữa Liên Hiệp Âu Châu với Việt Nam. Khối Âu Châu phải tái thẩm định mối quan hệ này và chỉ thỏa hiệp khi Việt Nam tôn trọng tự do tôn giáo và phải cải thiện về nhân quyền. Sau cuộc hội thảo tại Strasbourg, Quốc Hội Âu Châu đã bỏ phiếu biểu quyết cho vấn đề Việt Nam với 479 phiếu thuận, 21 phiếu chống và 4 phiếu trắng. Kết quả bỏ phiếu này cho thấy sự đồng thuận của toàn khối Liên Hiệp Âu Châu đối với tình hình Việt Nam. Liên Hiệp Âu Châu sẽ dựa vào lý lẽ trên để nhìn lại quan hệ hợp tác với cộng sản Việt Nam.

Như thế, thế giới tự do đã để ý đến vấn đề tự do tôn giáo và nhân quyền tại Việt Nam chặt chẽ hơn. Có thể từ khi các cuộc cầu nguyện cho công lý và hòa bình được phát xuất từ đầu năm 2007 tại Tòa Khâm Sứ Hà Nội và sau đấy lan rộng tại Thái Hà lôi kéo được dư luận thế giới vào cuộc bênh vực cho mục đích cao cả này. Cuộc đấu tranh đạt đến cao điểm khi nhà cầm quyền Hà Nội quyết định sử dụng vũ lực gây đổ máu cho người dân cầu nguyện ôn hòa, đánh nhà báo ngoại quốc, giải tỏa khu vự Tòa Khâm Sứ và tòa tổng giám mục Hà Nội bằng hàng rào kẽm gai cộng với quân đội và chó săn, ngoài ra báo đài nhà nước đồng loạt đi qua lề bên phải đưa các nguồn tin tức gian trá.

Qua Quốc Hội Âu Châu với nghị quyết mới nhất thì đây đúng là một đòn giáng mạnh nhất của thế giới tự do dân chủ từ trước tới nay xuống thẳng đầu csVN từ khi được hội nhập vào thị trường WTO.

Việt Nam đang vật vã với nạn lạm phát khủng khiếp lên đến 30%, khốn đốn với trào lưu đòi công lý hòa bình từ mọi tầng lớp, các phong trào đòi lại đất bị nhà nước cướp mất diễn ra hằng ngày. Lúc này csVN chỉ còn biết ngửa tay ăn xin của Mỹ, Nhật và Âu Châu để cầm cự cuộc sống. Các nước tư bản này cũng đang chao đảo về thoái hóa kinh tế toàn cầu. Việt Nam có thể thoát qua cơn bĩ cực này không, nếu chối từ các quan hệ đối tác với thế giới tự do và không thỏa mãn các điều kiện cải thiện về tôn giáo và nhân quyền.

Qua tin tức từ Quốc Hội Âu Châu hôm qua có thể làm cho người dân tại Hà Nội và giáo dân Thái Hà vững tin thêm cho lý tưởng đòi công lý và sự thật. Liên Hiệp Âu Châu gián tiếp ủng hộ lập trường của Đức TGM Giuse Ngô Quang Kiệt bằng đường lối đối thoại, ôn hòa, tôn trọng sự thật. Ngược lại chính sách bạo lực, vô văn hóa, đôi khi lẫn dối trá của chủ tịch thành phố Hà Nội, Nguyễn Thế Thảo đang làm cho thế giới phương Tây càng mạnh tay hơn với Việt Nam như quyết định tại Strasbourg vừa qua của khối Liên Hiệp Âu Châu. Đúng là một cú tát thật đau đớn cho ông chủ tịch Thảo.

Việt Nam không tránh khỏi cái vòng lẩn quẩn về vi phạm nhân quyền. Sự thật, hàng tuần thế giới đều đăng tải các tin tức rất tiêu cực cho csVN:

• Ngày 14.10.2008: Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chui vào cửa hậu tại thành phố Melbourne.

• Ngày 15.10.2008: Cả thế giới chú ý đến Việt Nam về bản án 2 năm dành cho Nguyễn Việt Chiến, ký giả báo Thanh Niên vì lý do chống nạn tham nhũng.

• Ngày 15/10/2008: Chủ tịch Nguyễn Thế Thảo lại dám cả gan lên án Đức TGM Giuse Ngô Quang Kiệt trước các vị Đại Sứ, Phó Đại Sứ và Trưởng Đại Diện các Đoàn Ngoại Giao tại thủ đô Hà Nội.

• Ngày 22.10.2008: Tổ chức Phóng Viên Không Biên Giới liệt kê Việt Nam nằm trong nhóm 10 quốc gia đứng tận cuối bảng xếp hạng về tự do báo chí: đứng thứ 168 trong tổng số 173 quốc gia. Như thế Việt Nam đang là một quốc gia rất tồi tệ về báo chí. Báo chí VN trở thành cộng cụ tuyên truyền của đảng csVN và đang dẫn nhau đi bền lề phải, điển hình báo đài đưa tin xảo trá về lời phát biểu yêu nước nồng nàn của Đức TGM Giuse Ngô Quang Kiệt. Như thế VN đã tụt hạng tồi tệ hơn năm 2007 với thứ hạng cũng gần chót: 162.

• Ngày 22/10/2008: Khối Liên Hiệp Âu Châu biểu quyết tái thẩm định mối quan hệ với VN và chỉ thỏa hiệp khi Việt Nam tôn trọng tự do tôn giáo và phải cải thiện về nhân quyền.

Hôm 22/10/2008 các tin tức được thế giới loan đi mau chóng về nghị quyết nóng bỏng của Quốc Hội Âu Châu cho sự quan hệ hợp tác với Việt Nam sẽ được dựa vào nền tảng tự do tôn giáo và nhân quyền:

- Liên Hiệp Âu Châu should review Vietnam ties due to rights abuses: MEPs. The assembled MEPs called on the European Commission, the Liên Hiệp Âu Châu 's executive arm, "to reassess cooperation policy with Vietnam... based on respect for democratic principles and fundamental rights." (Eubusiness)

- Die Zusammenarbeit mit Vietnam: Jean-Pierre Jouyet beantwortet am 21. Oktober eine mündliche Anfrage über das Partnerschafts- und Kooperationsabkomme n zwischen der Liên Hiệp Âu Châu und Vietnam in Bezug auf Demokratie und Menschenrechte. (Sitz des Europäischen Parlaments - Straβburg)

- Human rights and democracy clauses in Liên Hiệp Âu Châu trade agreements should be either upheld or abolished: Dr. Tannock made his comments in a debate in the European Parliament on a proposed Liên Hiệp Âu Châu trade agreement with Vietnam. He said that the human rights and democracy clauses, which are now standard for such agreements, were not worth the paper they were written on if the European commission was not genuinely prepared to impose sanctions in the case of human rights abuses. (Conservativeeurope )

- Europe asks Hanoi to end "systematic violation" of human rights: A resolution of the European parliament also makes specific reference to religious freedom, and to the actions of the authorities against "Catholic parishioners," Buddhist monks, and highlanders. (asianews)

- Europaparlament fordert von Hanoi Respektierung der Religionsfreiheit: Abgeordnete kritisierten Übergriffe der kommunistischen Behörden gegen gläubige Katholiken und Buddhisten. Frankreichs Europa-Staatssekretä r Jean-Pierre Jouyet sagte, das geplante Kooperationsabkomme n mit Vietnam könne ausgesetzt oder gekündigt werden, wenn eine der beiden Seiten es nicht einhalte. Die vorgesehene Menschenrechtsklaus el sei daher ein starkes juristisches Instrument, um die Achtung der Menschenrechte in Vietnam einzufordern. (KATHweb)

- Liên Hiệp Âu Châu calls for reassessment of Vietnam rights dialogue: The European parliament says the European Union must reassess its cooperation with Vietnam over human rights.They called on the European Commission, the Liên Hiệp Âu Châu 's executive arm, to reassess cooperation policy with Vietnam, based on respect for democratic principles and fundamental rights. (Radio Australia)

- Liên Hiệp Âu Châu: „Vietnam soll Religionsfreiheit achten": Das Europaparlament fordert Vietnam zur Achtung der Religionsfreiheit auf. Bei den laufenden Verhandlungen über ein neues Kooperationsabkomme n mit dem asiatischenLand müsse die Liên Hiệp Âu Châu strengere Menschenrechtsklaus eln einbauen, verlangten die Abgeordneten am Mittwoch in Straßburg mit großer Mehrheit. Die derzeitige systematische Verletzung von Demokratie und Menschenrechten müsse vor dem Abschluss des Abkommens beendet werden. (Radio Vatikan)

Giáo dân Hà Nội và Thái Hà hãy can đảm lên! Các bạn đang dẫn toàn dân Việt Nam đi bên lề trái với những lời cầu nguyện ôn hòa, những bài hát thánh ca thắm thiết và với ánh nến tỏa sáng đêm đen. Thế giới đang ủng hộ và đứng về phía các Bạn.

Cầu mong công lý và sự thật được thể hiện trên quê hương Việt Nam!


Hà Long

Nguổn :
VietCatholic News (Thứ Năm 23/10/2008 14:17)
Thế Giới Tự Do đã để ý đến vấn đề tự do Tôn Giáo và Nhân Quyền tại Việt Nam
http://vietcatholic.net/News/Html/60328.htm

Thursday, October 23, 2008

Mây Vẫn Còn Bay

Thiên Kim

''Tiếng Việt còn. Nước Việt còn...''


Trời vào đông năm nay không lạnh lắm, nhưng sương mù lờ mờ và mây xám giăng giăng... Xế trưa, ngày Lễ Giáng Sinh (25-12-2002). Tôi đem rác xuống sân bỏ vào thùng, sực nhớ hôm qua không lấy thự Tôi đến mở hp thư, thấy phong bì hơi dầy màu hồng, tôi nhận ra ngay tuồng chữ của Kim, đứa con gái lai Tây, tâm tánh rất hiền ngoan, năm nay được 34 tuổi. Tôi biết đó là thiệp chúc Giáng-sinh và Tết Dương-lịch của Kim. Tôi không lên nhà mà liền mở thư ra đứng đọc giữa sân :
''Jeudi 19 Décembre 2002
Ma chère Maman,
Con chúc Má một mùa Giáng Sinh vui vẻ và một năm mới 2003 hạnh phúc may măn (mắn) và dồi dào sức khỏe !
Con thương Má nhiều lắm ! !
Hẹn gặp nhau ở Ivry nay mai năm mới !
Con âm (hôn) Má nhiều !
Kim''
(Thủ bút của Kim)

Tôi đọc xong mấy dòng chữ nguệch ngoạc trong tấm thiệp thật đẹp. Ôi ! Nỗi vui mừng của tôi lâng lâng không sao tả được. Tôi áp tấm thiệp vào bên ngực trái, nước mắt rưng rưng, nhìn lên không trung : ''Con tạ ơn Trời ! Tạ ơn Trời đã ban cho con của con biết nói và viết được chữ Việt...''. Tôi nghe nhẹ lòng, tâm hồn bớt ray rức. Vì từ bấy lâu nay, tôi tự thấy hổ thẹn với lòng : ''Mình làm mẹ mà con mình không biết nói tiếng của mình. Thật là đáng trách... !''.


*


Cách đây khoảng 15 năm, Kim có học chữ Việt với Cô Mai một thời gian rất ngắn, vì căn bệnh... tái phát nên Kim phải đành bỏ dở dang...

Năm rồi, một buổi trưa Chủ Nhật giữa mùa hè cây cỏ xanh tươi, ngàn hoa khoe sắc, nắng vàng tỏa sáng khắp nơi nơi. Kim về nhà ăn cơm với tôi. Bất chợt Kim hỏi (bằng tiếng Pháp): ''Con muốn học chữ Việt. Má biết chỗ nào dạy không ?''. Ðúng lúc, tôi vừa nhận tờ Nguyệt San Nhân Bản, đọc thấy có đăng dạy tiếng Việt mỗi chiều thứ Bảy, từ 16 giờ đến 18 giờ, do Cô Phương Khanh phụ trách... Tôi đưa cho Kim xem, Kim liền ghi địa chỉ, ngày, giờ đàng hoàng. Rồi sau đó, Kim ráng rặng từng tiếng Việt nói chuyện với tôi...(...)

Lối cuối tháng 9, Kim đi ghi tên, đóng tiền. Và từ đó, Kim không bỏ buổi học nàọ Từ hè đến giờ, Kim thường về ăn cơm với tôi vào trưa Chủ Nhật. Và, tôi có chị bạn thân, tên Marie-Colombe Bạch Thị Ngọc Sương có trình độ giáo-khoa khá cao nên Kim nhờ chị chỉ dạy kèm thêm. Theo ước tính của tôi, thì Kim mới học được 9 hay 10 buổi học gì đó ?... Mà tối hôm qua (1-1-2003), từ nhà Ba của Kim ở dưới Cannes (Côte d'Azure), Kim điện thoại về chúc năm mới. Kim vừa nói 2, 3 câu tiếng Pháp. Tôi liền hỏi bằng tiếng Việt : ''Ủa ! Con quên hết tiếng Việt rồi sao ?''. Kim vội vàng đổi giọng, nói chầm chậm : ''Không, không. Con không quên đâu Má ơi ! Má khỏe không ? Má chơi đêm Giáng Sinh và tối qua có vui không ? Con chúc Má năm mới được vui vẻ...''. Và sau đó, hai mẹ con tôi nói chuyện hoàn toàn bằng tiếng Việt... Chỉ câu cuối cùng là Kim nói : ''Au revoir et Chủ Nhật tới, con về ăn cơm với Má...''. Xin quý vị và các bạn chia sẻ niềm vui này cùng với tôi !

Có những đêm nằm trằn trọc nhớ con, và nghe lòng buồn buồn, tôi tự than : ''Mình làm thơ, viết truyện mà con mình không đọc được những gì mình viết... !''. Nhưng rồi cũng tự mình an ủi : ''Ở xứ người, phần nhiều những đứa con nít lớn lên, gần như hầu hết không nói, đọc được chữ Việt, vì cha mẹ bận rn chuyện ''áo cơm''... Nhưng... tôi lại nhớ đến Anh bạn... làm việc trong một bệnh viện ... tại Paris. Anh là ''gà trống nuôi con'' từ thuở cậu con trai mới lên 5 tuổi. Nay cậu nối nghiệp cha, đang theo học ngành Y-khoa năm thứ 5, thứ 6 gì rồi. Anh bạn của tôi dạy cho con học, đọc, nói và viết chữ Việt đàng hoàng. Tôi rất khâm phục Anh...

Cách đây, khoảng chừng 3 năm, tôi gặp cậu đi với cha, cậu chào và nói chuyện với tôi y như một thanh niên từ Việt Nam mới qua Tây. Vì không ai có thể nghĩ là cậu sanh và lớn lên tại Pháp. Còn Kim, con tôi sanh ở Sài-gòn, qua Pháp lúc 6 tuổi và nói thạo tiếng Việt đến 8, 9 tuổi. Sau này, có những lúc buồn, tôi ngồi bóp trán, lắc đầu tự hỏi : ''Vì sao, con tôi mất tiếng Việt ?''. Tôi xin tạ lỗi cùng Tổ Tiên và Mẹ Việt Nam. Vì lúc đó (1978), cha Kim bỏ đi, tôi chỉ lo đi làm, rồi cuối tuần còn đi họp hội, hát hò văn-nghệ... Mỗi ngày gặp được con vài tiếng đồng hồ, xem bài vở sơ sơ, tôi để mặc tình con nói tiếng Pháp với tôi. Thật sự, sau này tôi giận tôi vô cùng.

Hồi mới qua Pháp, giữa năm 1976, tôi liên lạc được Ông Việt Ðịnh Phương, chủ nhiệm Tuần Báo Trắng Ðen, tôi có viết cho Ông một lá thư, nhưng không ngờ Ông lại đăng hết lá thư ấy trong ''Mất Quê Hương''. Hồi ký của Việt Ðịnh Phương (Xin trích một đoạn ngắn trong thư...)

''... Nếu tôi mà có gặp người đó lại thì tôi gọi là ''thằng cha mất gốc không có cội nguồn...''. Vì vậy mà tôi không nói tiếng Pháp với con tôi, và lớn lên tụi nó phải biết viết và đọc chữ V.N. để có đi đâu hay đi làm xa phải viết thơ bằng chữ Việt cho tôi đọc, mặc dù chữ Anh-Pháp, tôi cũng biết sơ sơ. Nhưng hy vọng con tôi viết thư cho tôi bằng chữ Việt...''.
(Mùa Phật Ðản 2520 Tuần Báo Trắng Ðen Weekly Magazine số 11 năm 1976, trang 34).

Những năm gần đây, mỗi lần đọc lại trang báo đó, tôi tự thấy xấu hổ và thẹn với lòng. Vì lời nói với việc làm không đi đôi ! Nay, Kim đã nói trở lại tiếng Việt, và còn viết được chữ Việt, thì thử hỏi với quý vị và các bạn. Tôi không vui mừng sao được ?

Bữa hôm, tôi gọi điện thoại hỏi thăm Cô Phương Khanh, nói chuyện qua loa, rồi Cô cho tôi biết : ''Em hỏi Kim học tiếng Việt để làm gì ? Kim trả lời, học chữ Việt để đọc sách của chị và muốn biết những gì chị viết...''. Tôi nghe Cô Phương Khanh nói lại, làm tôi vui lắm. Chân thành cảm ơn Cô Phương Khanh đã tận tình dạy cho Kim (nói riêng) và cho tất cả Học Sinh (nói chung) học tiếng Việt Nam mau hiểu, mau nói và viết... Và, tôi cũng không quên ơn Tổng Hội Sinh Viên Việt Nam tại Paris đã tổ chức ''Lớp Học Tiếng Việt'' vào mỗi chiều thứ Bảy. Tôi hy vọng nơi đó sẽ thâu nhận Học Sinh càng ngày càng đông thêm. ''Tiếng Việt là hơi thở của Mẹ Việt Nam. Xin đừng để cho Mẹ tắt thở...'' (Lời của Giáo Sư Vũ Ký trong ''Luận Cương Về Văn Hóa Việt Nam'').

Ðây là lời chân thật, là nỗi vui mừng tận đáy lòng của tôi, là niềm vui của một người mẹ vừa được đứa con gái, tên Thiên Kim Agnès Hiver trao tặng một món quà tinh thần to lớn nhứt đời vào dịp Lễ Giáng Sinh, năm mới 2003 và Tết Nguyên Ðán Quý Mùi.

Từ khi, tôi tập tành làm thơ, viết lách, tôi có lo nghĩ : ''Rồi đây không biết còn có ai trong gia đình mình đọc được và gìn giữ những gì mình đã viết... ? Chắc là phải đem gởi cho mây khói sẽ tan vào hư-không !''. Nhưng nay, sự mong ước của tôi đã trở thành sự thật... Ðêm nay, bên ngoài đầy giông bão, sấm chớp nổ vang rền. Còn trong nhà thì nghe se lạnh. Nhìn một khoảng trời xa thấy Mây Vẫn Còn Bay...

(Ivry-sur-Seine, đêm đông mưa gió 02-01-2003)
Việt Dương Nhân
(Giao Mùa Xuân Quí Mùi)

Monday, October 20, 2008

Thao thức của người trẻ và sinh viên Việt Nam trước hiện tình đất nước



Tôi tự nghĩ những tâm tư của tôi sau đây có thể là đại diện tiếng nói chung của sinh viên và những người trẻ đang sống trong xã hội Việt Nam hôm nay. Chúng tôi sinh ra và lớn lên trong xã hội VN, vào thời XHCN, qua những gì được học tập ở nhà trường, chúng tôi cũng tưởng rằng mình được gia đình và xã hội đào luyện cho để sau này nối gót cha anh, xây dựng đất nước, xây dựng tương lai cho chính mình. Chúng tôi đã lạc quan, trong một sự thiếu hiểu biết, rằng mình đang được sống trong một chế độ dân chủ, tự do, độc lập và hạnh phúc. Nhưng càng lớn lên, càng biết suy nghĩ, nhìn nhận thực tế, chúng tôi lại càng nhận ra rằng sự thực không phải là thế!

Chúng tôi bị bắt buộc học những bài học chính trị vừa khô khan cằn cỗi, lại vừa không thực. Nó không thực với xã hội, với thế giới bên ngoài. Cái "thiên đường XHCN" trong sách vở và cái xã hội thật tế, do các vị lãnh đạo và xây dựng hàng hơn một nửa thế kỷ nay, nó khác hẳn nhau. Như vậy:

- Một là cái Thiên đường XHCN ấy là phi thực tế, là không tưởng, nên các nước đầu đàn XHCN đã dần dần tiêu tan, thế giới đã từ bỏ chủ thuyết ấy, và đến nay chỉ còn lại Trung Quốc, Bắc Hàn và ta, thì các xã hội này dân chúng lại đói nghèo, mất tự do, không dân chủ. Trong những xã hội XHCN này, dân thì sống quá nghèo nàn cực khổ, còn các nhà lãnh đạo hay đảng viên nhà nước thì lại qúa giàu có. Vậy chỉ có dân là vô sản, còn chính quyền thì lại là tư sản hay tư bản sao?

- Hai là các nhà lãnh đạo đã đi sai đường lối của mình, nên đẩy đưa đất nước đến cảnh nghèo nàn, lạc hậu, mất dân chủ! Chúng tôi thấy các ông lãnh đạo thì tài sản kếch sù, trong khi không kinh doanh làm ăn gì, mà không ai đụng đến các ông cả. Còn người dân mà có máu mặt một chút là khó yên. Thế thì công bằng ở đâu, dân chủ ở đâu, tự do ở chỗ nào? Hạnh phúc ở đâu mà thấy dân chúng chỗ nào cũng ta thán, cũng biểu tình chống đối? Chẳng lẽ họ hạnh phúc mà họ lại không chịu? Chẳng lẽ họ đang hưởng Thiên đường mà họ lại không ưng? Và xã hội ta đây là Thiên đường sao? Thiên đường của bất công, của đói nghèo, của tệ nạn, của vô luân bại lý, của lọc lừa, của giả dối, gian tham? Năm nào vào cuối năm trên TV cũng có diễn các bài "Sớ Táo Quân dài dằng dặc, kể tội các tham quan ô lại, còn hơn thời Thực dân Phong kiến, nghe xong người dân cười ra nước mắt! Báo Tuổi Trẻ Cười thì đầy dãy những sự việc và con người đáng kinh tởm, đọc xong thấy xấu hổ, tủi nhục cho đất nước, cười hết nổi!

Trước kia chúng tôi cứ tưởng mọi người dân đang bình an chấp nhận cuộc sống hiện tại, nhưng càng gần đây, qua các cuộc đấu tranh của quần chúng nhân dân, chúng tôi mới vỡ lẽ! Trước đây chúng tôi tin vào lời thày cô, tin vào sách báo, đài phát thanh, truyền hình, vì tưởng đó là những thông tin trung thực, nhưng mới đây chúng tôi mới biết rằng nhà nước cũng xuyên tạc, cũng nói gian!

Trước đây chúng tôi tưởng chính quyền thương dân, lo cho dân, các chú công an bênh vực bảo vệ dân, chỉ bắt và đánh bọn tội phạm, bây giờ chúng tôi lại thấy rằng nhà nước ép chế, chiếm cứ bất hợp pháp đất của dân, công an đi với côn đồ đánh dân, uy hiếp dân.

Trước đây chúng tôi được học là đất nước ta có truyền thống anh hùng, đánh đuổi ngoại xâm, nhưng bây giờ thì chúng tôi lại được đọc những văn bản cắt đất, dâng đảo, công nhận chủ quyền của kẻ xâm lăng trên lãnh thổ của mình! Chúng tôi được học tập bảo vệ môi trường, nhưng môi trường đang bị quý vị lãnh đạo ở nhiều nơi cho triệt phá tan tành!

Chúng tôi, trong một thời gian gần đây thấy choáng váng, vỡ mộng, ê chề, và thực sự cảm thấy bị "sốc", vì những vấn nạn mà thực tế phũ phàng đã đặt ra cho chúng tôi:

- Tại sao các nhà báo, các nhà trí thức, cùng những người dân Việt Nam trong đó có các thanh niên, sinh viên, học sinh, bày tỏ lòng yêu nước, lên tiếng khi Trung Quốc xâm lăng nước ta, hay khi họ chống tham nhũng là một tệ nạn xấu xa làm hại dân nước, thì họ lại bị chính quyền đàn áp, bắt bớ cầm tù như những kẻ tội phạm?

- Tại sao khi người trẻ chúng tôi đi xin một việc làm để sinh sống và góp phần xây dựng xã hội, thì vào chỗ nào cũng được đưa ra một cái giá phải trả để "mua chỗ", mà không xét đến khả năng phục vụ của chúng tôi?

- Tại sao trong cả nước, chỗ nào người dân cũng ta thán, cũng biểu tình chống đối Nhà Nước?

- Tại sao các nhà lãnh đạo cao cấp VN như Thủ Tướng, Chủ Tịch nước… khi đi qua các nước tự do dân chủ tự do, lại bị khinh khi xem thường, bị đuổi, thậm chí phải đi lòn cửa sau, không được coi như một nhà lãnh đạo, như một quốc khách?

Những câu hỏi ấy đang bao quanh lấy chúng tôi, khiến chúng tôi phải nhụt chí, phải xấu hổ, và mất tin tưởng vào quý vị lãnh đạo, xin giải thích dùm chúng tôi, tại sao vây?

Ngày giờ này, lớp trẻ chúng tôi người thì đã học xong, người thì còn đang trên ghế nhà trường,và đang hăm hở, ra công học tập để chuẩn bị vào đời, xây dựng tương lai cho mình và cho đất nước, chúng tôi sẽ ra sao, và phải làm gì trong hoàn cảnh này? Ai sẽ hướng dẫn cho chúng tôi sống đúng, sống tốt, trong khi gương sống của cha anh, của cấp lãnh đạo mình như vậy? Ai là người cho chúng tôi niềm tin và sự bình yên để học tập hay làm việc? Chẳng lẽ chúng tôi sống theo gương của quý vị?

Quý vị là những người đã phá vỡ sự bình yên của tuổi trẻ chúng tôi! Quý vị là người đã chà đạp lên niềm tin và niềm tự hào của chúng tôi! Quý vị là những người đã làm ô nhiễm cuộc sống của chúng tôi ! Ngày giờ này, với tư cách là những người chủ tương lai của đất nước, với tư cách là con em của quý vị, chúng tôi đòi hỏi quý vị:

- Hãy trả lại niềm tin cho chúng tôi đã quý vị phá vỡ.
- Hãy trả lại cuộc sống bình yên cho chúng tôi.
- Hãy trả lại môi trường trong lành cho chúng tôi được sống, được hít thở.
- Hãy tạo lại một xã hội bình yên và ổn định cho chúng tôi, để chúng tôi yên tâm học hành, và vào đời với tinh thần trong sáng, với niềm tin rạng ngời, và với lòng hăng say nhiệt thành để xây dựng tương lai, xây dựng đất nước.

Nếu quý vị không làm như vậy, là quý vị đã đắc tội với lịch sử, với tiền nhân, với non sông, với đồng bào, vì quý vị đã phá vỡ đất nước, và nhất là phá vỡ một thế hệ trẻ chúng tôi, là con cháu của quý vị, và là tương lai của Tổ Quốc Việt Nam!

Tôn Đạo
VietCatholic News (Chúa Nhật 19/10/2008 12:33)
http://vietcatholic.net/News/Html/60217.htm

Friday, October 17, 2008

Cơ Thể Việt Nam - Ung thư đã đến hồi phát tác !!!

Ung thư đã đến hồi phát tác !!!

Xã luận bán nguyệt san Tự do Ngôn luận số 61 (15-10-2008)

Từ điển y học của bác sĩ André Duranteau (nhà xuất bản Hậu Giang 1990), mục Ung thư (trang 298), đã viết như sau: "Bình thường các tổ chức của cơ thể phát triển một cách cân đối hài hòa, đạt tới các hình thể mà ta đã biết. Sở dĩ như vậy vì trong tổ chức lành, tế bào sinh trưởng theo quy luật điều hòa, nhờ sự thông tin và nhận tin từ tế bào này sang tế bào khác. Quá trình ung thư là một loại "thay đổi": Một số tế bào không tuân theo luật định mà phát triển một cách khác thường. Chúng (tế bào ung thư) có những đặc tính riêng: nhân to nham nhở, nguyên sinh chất rất ít, và không giống các tế bào thuộc tổ chức sinh ra chúng đến mức chẳng nhận ra được nữa. Chúng sinh trưởng một cách vô tổ chức, thoát khỏi sự điều hòa bình thường, kháng lại sự tự vệ miễn dịch thường tiêu diệt các tế bào lạ. Từ một nhóm nhỏ tế bào ung thư hóa, sau một thời gian dài "ẩn dật", sự phát triển vô tổ chức dẫn đến sự hình thành một khối u có thể nhận biết được. Ước tính rằng phải từ 8-10 năm mới hình thành được một u đường kính 1cm. Qua những năm dài "ẩn dật", dù chậm, quá trình ung thư vẫn có và không chỉ giới hạn trong sự trưởng thành của u chính: một số tế bào có thể tách ra, vào máu và di chuyển đến một nơi khác của cơ thể, tụ lại, sinh trưởng thành một u thứ phát gọi là u di căn".

Cơ thể Việt Nam, kể từ năm 1945, đã bị một nhóm tế bào ung thư là nhúm đảng viên Cộng sản do Hồ Chí Minh lãnh đạo xâm nhập vào, mang theo một mầm mống ung thư chết chóc là chủ nghĩa Mác-Lê, căn bệnh đã tàn phá cả nhân loại trong thế kỷ 20 và còn tiếp tục tàn phá trong thế kỷ 21. Như tế bào ung thư sinh học, họ cũng có những đặc tính tương tự: nhân to nham nhở, nghĩa là một bản năng quyền lực, một tham vọng thống trị hết sức ngông cuồng, che giấu dưới chiêu bài (cũng được la toáng thật to, tuyên truyền thật rộng) là "xây dựng một đất nước độc lập tự do, một xã hội không còn cảnh người bóc lột người, một thế giới đại đồng theo khả năng mà làm, theo nhu cầu mà hưởng". Tuy nhiên nguyên sinh chất của họ là lòng yêu tổ quốc đồng bào, niềm chuộng công bằng dân chủ thì rất ít, nếu không muốn nói là chẳng có tí nào. Thành ra sau khi nắm quyền trọn vẹn ở miền Bắc, nhóm tế bào ung thư ấy (tức đảng CS) bắt đầu tàn phá xã hội, qua một chính sách cai trị độc đoán hà khắc. Trong cơ thể xã hội chẳng còn có sự thông tin và nhận tin từ tế bào này sang tế bào khác, nghĩa là chẳng còn có việc giải trình trước quốc dân cách trung thực và lắng nghe tiếng nhân dân cách nghiêm chỉnh. Tất cả chỉ là tuyên truyền láo khoét, mỵ dân lừa gạt, bóp miệng bịt mắt bưng tai mọi người. Xã hội Việt Nam xưa nay phát triển một cách hài hòa nhờ đạo lý gia đình, nghĩa tình làng xóm, sở hữu điền thổ (mà phong kiến lẫn thực dân luôn thừa nhận) và niềm tôn trọng kẻ sĩ thì bỗng nhiên trở thành hỗn loạn vì cuộc Cải cách Ruộng đất (trong đó quyền sở hữu đất bị tước đoạt, đạo lý gia đình bị tàn phá, tình làng nghĩa xóm bị khinh khi) và vụ án Nhân văn Giai phẩm (trong đó khả năng tri thức bị coi thường, vai trò kẻ sĩ bị đánh đổ). Những giá trị tinh thần mới mẻ của cộng đồng nhân loại như tam quyền phân lập, dân chủ tự do -vốn giúp một xã hội hiện đại hài hòa phát triển mọi mặt- đều bị chặn đứng hay tiêu hủy bởi khối ung thư độc tài, độc tôn, độc đảng. Nhân dân miền Bắc chỉ được sống với cái bánh vẽ trong thời gian ủ bệnh này.

Qua cuộc xâm lăng miền Nam, khối ung thư Cộng sản Việt Nam tiếp tục phình to, mở mang thêm khối ung thư Cộng sản quốc tế, nhưng đồng thời nó cũng tàn phá thân thể đất Việt với việc đẩy hàng triệu thanh niên vào chỗ chết, khiến nguyên khí quốc gia bị tổn hại trầm trọng, với việc dồn tài lực vật lực cho chiến tranh khiến toàn thể đất nước không thể phát triển, thậm chí còn phải cắt đất nhường biển để trả nợ vũ khí. Rồi sau khi chiến thắng, thống nhất tổ quốc thì lại thực thi một chế độ cai trị tuy được tổ chức hết sức chặt chẽ (với một hệ thống bàn giấy khổng lồ, một màng lưới kiểm soát nhiều tầng nấc, một bàn tay thâu tóm tất cả mọi quyền lực) nhưng thật sự là vô tổ chức, vì không đưa đến sự phát triển tốt đẹp của toàn thân thể xã hội và của từng tế bào công dân. Trái lại đảng chỉ làm cho đất nước lụn bại mọi mặt: tụt hậu kinh tế và tham nhũng tràn lan khiến Việt Nam luôn mãi đói nghèo, suy đồi đạo đức và băng hoại giáo dục khiến giống nòi ra yếu hèn thua kém, tước đoạt nhân quyền và gieo rắc sợ hãi khiến nhân sinh không thể phát triển, tàn phá môi trường và cống dâng đất tổ khiến tương lai dân tộc thành bấp bênh… Đồng thời, khối u chính cộng đảng lại tạo ra vô vàn khối u thứ phát, u di căn không kém xâm nhập và tàn phá cơ thể xã hội là những thành viên của cái gọi là Mặt trận Tổ quốc!!!

Cái khiến cho khối ung thư Cộng sản ngày càng hoành hành, làm hại trực tiếp cơ thể đất nước và gián tiếp cơ thể nhân loại như thế, đó chính là vì tham vọng thống trị điên cuồng đi đôi với tham lam hưởng thụ vô đáy. Đang khi đại đa số nhân dân lâm cảnh cùng khốn thì hàng lãnh đạo trong đảng trở thành giàu sụ và ăn chơi xa xỉ, bằng cách thâu tóm toàn bộ diện tích đất đai và tài nguyên đất nước vào tay mình. Đang khi toàn thể nhân dân bị trói buộc trong vô vàn luật lệ khắt khe phi lý, dưới trùng trùng công an mật vụ theo dõi thì đảng lại ngang nhiên ngồi xổm trên pháp luật, biến tam quyền nhà nước (hành pháp, lập pháp, tư pháp) và tam quyền nhân dân (quân đội, báo chí, tôn giáo) trở thành công cụ. Và để thỏa mãn hai thứ tham này, cộng sản dùng tới dối trá và bạo lực (như tế bào ung thư sinh học đánh lừa được cơ chế tự vệ miễn dịch và thô bạo tấn công mọi tế bào bình thường). Dùng bạo lực làm phương pháp và dối trá làm nguyên tắc, y như lời đại văn hào Nga Aleksandr Solzhenitsyn (mới mất hôm mồng 3 tháng 8 vừa qua) đã nói trong diễn văn gửi đến Hội đồng Nobel cách đây gần 40 (khi ông được trao giải Nobel văn học 1970): "Chúng ta đừng quên điều này: bạo lực không sống một mình và không có khả năng sống một mình; nó buộc phải đan xen với dối trá. Giữa chúng có một mối dây liên kết tự nhiên, mật thiết và sâu đậm nhất. Bạo lực lấy gian dối làm nơi trú ẩn, gian dối lấy bạo lực làm chỗ nương tựa. Người nào từng một lần tuyên bố lấy bạo lực làm phương pháp thì người đó buộc phải chọn dối trá làm nguyên tắc. Khi mới ra đời, bạo lực hoành hành một cách công khai và thậm chí vênh vang. Nhưng khi nó mạnh rồi, có ghế ngồi vững vàng rồi, nó cảm thấy bầu không khí quanh mình loãng ra nên không thể sống được nếu không hạ xuống mà nấp vào lớp mây của gian dối, ngụy trang mình bằng những lời đường mật. Không nhất thiết là lúc nào nó cũng công khai cắt cổ người ta, mà thường thường nó đòi buộc dân đen của mình thề trung thành với dối trá, đồng lõa với dối trá". Đó là điều được chứng nghiệm qua bao sai lầm và tội ác do khối u cộng đảng gây ra suốt thời gian nó xâm nhập vào thân thể đất nước dân tộc, mà điển hình là vụ Tòa Khâm sứ-xứ Thái Hà mới đây. Dựa trên nguyên tắc chính trị bất công: "đất đai do nhà nước quản lý" (mà thực chất là đảng sở hữu), CSVN tiếp tục coi mình là người cấp phát ơn huệ điền thổ theo kiểu xin-cho, khiến Hội đồng Giám mục Việt Nam phải lên tiếng (trong bài Quan điểm ngày 25-09-2008): "Tình hình khiếu kiện đất đai kéo dài và chưa được giải quyết thỏa đáng là vấn đề thời sự, trong đó có đất đai của các tôn giáo nói chung và giáo hội Công giáo nói riêng, cụ thể như vụ việc Tòa Khâm sứ cũ và giáo xứ Thái Hà. Chắc chắn có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, nhưng ở đây chúng tôi muốn lưu ý đặc biệt đến điều này: luật về đất đai tuy đã sửa đổi nhiều lần nhưng vẫn còn bất cập, chưa đáp ứng kịp đà biến chuyển trong đời sống xã hội, đặc biệt là chưa quan tâm đến quyền tư hữu chính đáng của người dân. Thêm vào đó, nạn tham nhũng và hối lộ càng làm cho tình hình tệ hại thêm. Thiết nghĩ không thể có một giải quyết tận gốc nếu không quan tâm đến những yếu tố này".

Rồi dựa trên đường lối "bạo lực làm phương pháp và dối trá làm nguyên tắc", CSVN đã tung nhiều đòn đàn áp tàn bạo đối với những công dân đang hiền hòa đòi công lý qua việc sốt sắng cầu nguyện và qua việc đối thoại chân thành (cũng như đối với nhiều công dân khác liên hệ tới việc đòi dân chủ cùng thời gian, theo kiểu thanh toán cho rảnh tay để xử trí vụ Tòa Khâm sứ-xứ Thái Hà, như vụ các thành viên Khối 8406 giăng biểu ngữ, các sinh viên biểu tình chống Trung quốc, các phóng viên viết bài chống tham nhũng). CS cũng dùng toàn bộ hệ thống báo đài công cụ (những khối u di căn) để tung ra vô số phóng sự, bài viết, cuộc phỏng vấn đầy ác ý, bóp méo, xuyên tạc hòng lèo lái, đầu độc công luận, thậm chí còn đầu độc cả giới trẻ (trên báo Thiếu niên tiền phong số 79 [9-2008] chẳng hạn), khiến cho Hội đồng Giám mục Việt Nam phải cảnh báo: "Trong tiến trình giải quyết những tranh chấp, một số phương tiện truyền thông thay vì là nhịp cầu liên kết và cảm thông thì lại gieo rắc hoang mang và nghi kỵ. Vì thế, chúng tôi đề nghị những người làm công tác truyền thông đại chúng phải hết sức cẩn trọng khi đưa tin tức và hình ảnh, nhất là khi liên quan đến danh dự và uy tín của cá nhân cũng như tập thể…. Cũng trong tiến trình giải quyết những xung đột nêu trên và nhiều vụ việc khác, một số người có khuynh hướng sử dụng bạo lực, và như thế, tạo thêm bất công trong xã hội… Vì thế, chúng tôi tha thiết mong ước mọi người hãy chấm dứt mọi hình thức bạo lực, trong hành động cũng như trong ngôn từ".
Song song và đồng thuận với bài Quan điểm trên là vô số lời nói và hành động phản bác trong toàn thể xã hội Việt Nam cũng như nơi đồng bào hải ngoại và công luận thế giới. Suốt hơn 60 năm qua, chưa bao giờ người ta thấy sự phản kháng mạnh mẽ như vậy đối với chế độ và đảng CSVN. Sự ra đời của Nghị Quyết 1636 do Quốc Hội Liên Hiệp Âu Châu thông qua ngày 3-10-2008 mới rồi để đề cao vai trò của Truyền thông trong các nền Dân chủ cũng là việc gián tiếp góp phần vào sự phản đối ấy. Tất cả như làm nên một thứ kháng thể để chống lại kháng nguyên là khối ung thư CS mà nay làm nhiễm độc toàn bộ cơ thể Việt Nam. Khối ung thư gian dối và bạo lực này đã đến hồi phát tác. Nghĩa vụ chúng ta là phải cắt bỏ nó cho sớm mới hy vọng cứu cả toàn thân!

Ban Biên Tập

Thursday, October 16, 2008

Trích bài đăng của Thời Báo Montreal số 127 - Nguyễn Khắc Anh Tâm

Kính,

Chỉ có loài cầm thú, hay nói cho đúng ra thì tệ hơn loài cầm thú như con cháu Lê Chiêu Thống mới có thể đặt bút xuống để viết, hay tàn nhẫn để đăng, những lời thoá mạ đến QLVNCH, bội ơn QLVNCH trong khi QLVNCH đã đem sinh mạng, tuổi thanh xuân của mình ra để bảo vệ giang sơn gấm vóc, bảo vệ cho tất cả mọi người - trong đó có họ, có tôi - có được cuộc sống ấm êm, tự do, được làm ăn buôn bán, ăn học. Dĩ nhiên, khi có được cuộc sống ấm êm, tự do rồi, khi có tiền bạc rồi, khi được ăn học đủ để có thể khua môi múa mỏ rồi, thì họ có quyền dùng thời giờ sau đó của họ để làm bất cứ điều gì khác. Ngay cả phản bội!

Họ có quyền !

Không ai có thể cản nổi những hành động vô ơn bạc nghĩa chỉ xảy ra từ những con-người-rất-thú hay thấp-hơn-thú. Cũng vậy, không ai có thể cản được những hành động vu khống công khai và trắng trợn chỉ xảy ra từ những loại văn nô, những hàng báo đầu đường xó chợ hòng kiếm chút cơm thừa cá cặn của bạo quyền.

Dĩ nhiên, không ai cản nổi cái quyền của họ khi họ đan tâm làm một thằng con muôn-đời-hạ-nhục-tổ-tiên rất ư là tệ bạc này!

Tôi còn quá nhỏ để vô quân ngũ trước ngày con cháu Lê Chiêu Thống cướp đất nước của tôi, của đồng bào tôi, và cho mãi đến nay, tôi vẫn chưa có thể thấu hiểu hết tất cả những sự đau khổ, mất mát mà QLVNCH đã và đang còn gánh chịu, nói chi đến chuyện trả được ơn sâu nghĩa nặng đó một đôi phần. Dù vậy, tôi biết rõ một điều: QLVNCH là một điễn hình cho những anh hùng, anh thư của thời đại, chiến đấu và hy sinh một cách rất ư là dũng cảm chỉ vì chính nghĩa cho tôi, gia đình tôi được sống một cuộc sống đáng sống.

Bởi vậy tôi cũng có quyền.

Tôi cũng có quyền để chỉ thẳng vào mặt những văn nô, những hàng báo đầu đường xó chợ dám thoá mạ QLVNCH để chưởi chúng Mất Dạy ! Những hạng ruồi bu này không những đã mất dạy với QLVNCH, mất dạy với chính tổ tiên của họ, mà còn mất dạy với 80 triệu đồng bào đang sống lầm than dưới ách của bạo quyền, với quê cha đất tổ.

Kính,

Nguyễn Khắc Anh Tâm

Tuesday, October 14, 2008

Phân Tích sự tranh chấp giữa CSVN với Công Giáo gần đây

Chú Thích: Phân tích dưới đây được nhìn từ góc độ của người đấu tranh, không nhằm phản ánh quan điểm hay góc nhìn của giáo dân Thái Hà, Toà Khâm Sứ hay Hội Đồng Giám Mục Việt Nam. Trong bài, chữ viết tắt CSVN đứng riêng được dùng để chỉ nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam. Chúng tôi không dùng danh từ chính quyền để chỉ họ vì không muốn duy trì ấn tượng chính danh cho nhà nước CSVN hiện nay.

Đặng Vũ Chấn

CSVN hiện nay đang đứng trước sự bất mãn của nhiều thành phần nhân dân, như dân oan, nông dân, công nhân, thanh niên sinh viên, các nhà đấu tranh cho dân chủ, các giáo hội tôn giáo như Giáo Hội Phật Giáo Việt NamThống Nhất, Phật Giáo Hoà Hảo, Tin Lành, Cao Đài, Công Giáo, đồng bào sắc tộc Tây Nguyên v.v.. Trong tất cả các thành phần nhân dân trên, có lẽ người công giáo là thành phần có khả năng mở ra phong trào tranh đấu bất bạo động tương đối hữu hiệu nhất vì đây là một tập thể có kỷ luật theo hệ thống tổ chức tôn giáo thuần nhất, có nhiều khả năng vận dụng hỗ trợ quốc tế, và có niềm tin khá tuyệt đối vào đấng tối cao, khó lay chuyển hơn là nếu họ tin vào một nhân vật trần thế có thể thay đổi theo thời gian. Thực tế ta thấy gì qua cuộc đấu tranh công khai của người dân Công Giáo gần đây, khởi đi từ cuối năm ngoái?

Cuộc Diễn Tập lần thứ nhất:


Vụ tranh đấu đòi lại đất Toà Khâm Sứ tại Hà Nội nổ ra công khai từ trung tuần tháng 12 năm 2007 sang tháng Giêng năm 2008. Lần đầu tiên qua vụ này ta thấy giáo dân đã theo đúng một số nguyên tắc cơ bản của phương pháp đâu tranh ôn hòa bất bạo động:
1- Đấu tranh ôn hòa bằng hình thức cầu nguyện, một hình thức dễ dàng mà ai cũng có thể làm được, vừa gia tăng niềm tin vừa khó gây ra những lý cớ để chế độ đàn áp, và dễ thu hút sự tham gia tập trung của đông đảo bà con giáo dân

2- Số Đông Người. Càng đông, người ta càng bớt sợ hãi, cho nên những lời lên án răn đe của nhà cầm quyền Hà Nội thay vì có thể uy hiếp tinh thần bà con lại có tác dụng ngược của sự thách thức khiến bà con càng đổ về tập họp cả nhiều ngàn người

3- Mục tiêu ban đầu nhỏ đơn giản: đòi ngưng thi công trên vùng đất đang tranh tụng, mà nhà thờ đã từng khiếu kiện đòi lại từ bao năm qua. Mục tiêu này làm cho CSVN ban đầu không có lý do thẳng tay đàn áp, trong lúc số người tham gia cầu nguyện chưa đủ đông.. Mục tiêu không to lớn trừu tượng, bà con liên hệ được để mạnh dạn tham gia bước đầu

4- Có kỷ luật, tổ chức. Các giáo dân đã rất kỷ luật và có tổ chức để bảo vệ nhau và bảo vệ các người lãnh đạo của mình. Những công an mật vụ được gài vào đám đông đều bị phát hiện và không vô tới được vòng trong gần ban lãnh đạo.

5- Đẩy CSVN vào thế tiến thoái lưỡng nan: CSVN nếu để yên thì phong trào càng lớn, nếu nhượng bộ thì mở đường cho các thành phần nhân dân bất mãn khác cùng theo nhau đứng dậy, nếu dùng bạo lực đàn áp thì sẽ trả giá đắt với dư luận và áp lực quốc tế, trong lúc đang cần hội nhập vào thế giới văn minh để làm ăn.

Nhưng CSVN không thiếu bản lãnh. Biết rõ hệ thống chỉ huy trong tổ chức giáo hội Công Giáo, họ đã đi thẳng lên cấp quyền Công Giáo cao nhất là Vatican. Không biết hai bên đã ngầm thỏa thuận với nhau điều gì, chỉ thấy CSVN hứa sẽ giải quyết vấn đề đất đai của toà Khâm Sứ và Đức Hồng Y Quốc Vụ Khanh Bertone của Vatican đã gửi thư ra lệnh cho Đức Tổng Giám Mục ở Hà Nội giải tán các cuộc cầu nguyện tập thể. Sau đó tình hình tạm lắng đọng mặc dù cốt lõi vấn đề vẫn còn nguyên. CSVN ổn định được tình hình, và có thêm thì giờ để rút kinh nghiệm, chuẩn bị kế sách đối phó với các biến động sau này hữu hiệu hơn.

Có người thất vọng bất mãn với lệnh giải tán trên từ Vatican. Nhưng nhìn kỹ, thì đây là một quyết định khôn ngoan. Chắc Vatican cũng hiểu bản chất CSVN là phải cướp và nắm chính quyền bằng mọi giá. Cho nên nếu mà giáo dân Hà Nội tiếp tục đẩy tới, dồn CSVN vào chỗ bế tắc, đe dọa trầm trọng vào sự ổn định của chế độ độc tài, và với tương quan lực lượng lúc này vẫn còn nghiêng quá nhiều lợi thế về phía CSVN, thì có xác xuất cao họ sẽ làm một Thiên An Môn thứ hai bất chấp giá phải trả với thế giới. Hoặc nếu không có Thiên An Môn, mà CSVN cứ khoanh vùng và chai lỳ, cuộc tụ tập đông người sẽ khó kéo dài mãi mãi mà không bị soi mòn rơi rụng vì bản chất tự nhiên của phong trào quần chúng. Nên giải tán để bảo toàn lực lượng là bước lui binh chiến thuật rất khéo, sau khi giáo dân đã làm các thi công trên vùng đất tranh chấp phải tạm ngưng, đã có được cơ hội thực tập đối đầu với bạo lực, xác quyết được niềm tin và tạo sự chú ý của thế giới.

Trận thử lửa lần thứ 2: Vụ Thái Hà-Tòa Khâm Sứ

Vụ Thái Hà và Tòa Khâm Sứ lần này bắt đầu từ trung tuần tháng 8 năm 2008 cho tới nay. Thời điểm thoạt đầu tưởng bất lợi cho CSVN khi họ đang phải đối đầu với những khó khăn khác như kinh tế suy thoái, lạm phát phi mã, và nhất là khi có những nhen nhúm hâm nóng việc họ bán đất nhượng biển cho Trung Quốc nhân dịp 50 năm đánh dấu công hàm ô nhục của thủ tướng CSVN Phạm Văn Đồng vào tháng sau, 14-9.(gọi tắt là vụ Hoàng Sa Trường Sa, HS-TS)

Nhưng với kinh nghiệm già dặn ranh mãnh, CSVN thay vì bị ở thế tứ bề thọ địch, đã xoay trở để biến tình hình thành cơ hội làm loãng đi vụ HS-TS. Bộ máy tuyên truyền của họ đã im lờ đi mọi đề cập về HS-TS trong lúc họ lặng lẽ tung chiến dịch trấn áp triệt để các thành phần, nhân vật mà họ nghĩ có lien quan đến vụ HS-TS, dập tắt kế hoạch biểu tình lên án bá quyền Trung Quốc của thanh niên sinh viên ngay trong trứng nước. Thay vào đó bộ máy tuyên truyền của chế độ thổi lớn lên những lên án đả kích giáo dân Thái Hà và đức Tổng Giám Mục Hà Nội Ngô Quang Kiệt.

CSVN phải chuyển mọi chú ý của dư luận trong nước ra khỏi vụ HS-TS vì đây là điểm nhược nhất của họ. Họ hiểu rõ hình ảnh hành động bán nước, khôn nhà dại chợ, hung hăng bịt miệng đồng bào yêu nước của mình trong khi đó lại mềm nhũn trước sự lấn át chi phối của Bắc Kinh, là điều mà toàn thể nhân dân Việt Nam không thể chấp nhận nếu mọi người đều biết. Và nguy hiểm nhất cho họ là hình ảnh đó đang bắt đầu được truyền bá trong hàng ngũ quân đội và công an, vốn là những trụ cột chính chống đỡ bảo vệ chế độ, với lời ngầm kêu gọi nhau rằng quân đội là để bảo vệ tổ quốc chứ không phải bảo vệ Đảng. (ông Nguyễn Minh Triết đã phải bay vào Nam đích thân sinh hoạt với Quân Khu 5, vùng có trách nhiệm trên các vùng đảo HS-TS, để trấn an những bức xúc của các chiến sĩ Quân Khu này). Cho nên đối với CSVN, vụ Thái Hà trở nên tương đối nhỏ, dễ giải quyết khắc phục, nhất là sau khi họ đã rút được một số kinh nghiệm đối phó từ lần trước. Vì thế họ có vẻ chủ động làm lớn chuyện này trong nước để thu nhỏ quan tâm của quần chúng vào vụ mất đất nhỏ của riêng giáo xứ Thái Hà thay vì vào vụ mất đất mất biển lớn của chung cả tổ quốc

Những chiêu thế của CSVN trong vụ Thái Hà lần 2:

1- Tuyên truyền áp đảo sớm: Các báo đài đồng loạt đưa tin rất sớm xuyên tạc lên án các hành động cầu nguyện tập thể cuả giáo dân để dọn đường cho thái độ cứng rắn của nhà nước.

2- Sử dụng bạo lực sớm: cô lập khu vực, dùng lựu đạn cay giải tán cuộc tụ tập cầu nguyện, cho côn đồ hành hung giáo dân, bắt bớ các giáo dân bị nghi là nồng cốt chỉ đạo, trước khi những cuộc cầu nguyện thu hút đủ số đông khó dẹp

3- Đặt giáo dân trước sự đã rồi: gấp rút thi công xây công viên và thư viện trên vùng đất tranh chấp trong thời gian kỷ lục, khiến giáo dân khó đòi mà nếu làm lớn chuyện cứ đòi thì rơi vào thế đã gài sẵn như sau:

4- Thổi lên hình ảnh giáo dân Công Giáo là thành phần xấu ích kỷ, đặt quyền lợi riêng trên nhu cầu phục vụ quần chúng, thiếu nhi của nhà nước, với vị chủ chăn Ngô Quang Kiệt "không muốn nhận mình là người Việt Nam". Thuê thường dân và xã hội đen đến quấy phá chửi bới khiêu khích giáo dân, thổi lên hình ảnh nhân dân đang chửi chống thiểu số giáo dân. Có lẽ CSVN qua đó muốn như sau:

5- Chia để trị: tạo sự phân hóa chia rẽ giữa các thành phần dân tộc, khích động sự xung đột giữa giáo dân và người ngoại đạo, để người dân quên đi mối nhục chung là độc tài đã nhường đất biển cho ngoại bang.

6- Xiết và nhả trong tư thế bề trên: Bên cạnh sự cứng rắn áp đảo, CSVN cũng nhả ra một chút, đưa ra ba miếng đất để Tổng Giám Mục Hà Nội chọn một để thế cho miếng đất toà Khâm Sứ đã bị trưng thu , với điều kiện phải làm đơn xin phép. Đây là cung cách quen thuộc cố hữu của CSVN: xiết cổ nạn nhân cho gần quỵ rồi nhả ra một chút cho thở, nạn nhân sẽ biết ơn được ban cho sự sống và quên rằng sống thở thoải mái không bị ai xiết họng là quyền tự nhiên của mình.

Những thế đối phó của Công Giáo Việt Nam:

1- Giữ vững kỷ luật hàng ngũ: triệt để bất bạo động, không rơi vào bẫy khích động bạo động của công an và đám côn đồ được thuê tới. Vì bạo động là cung cấp cho CSVN có lý cớ để thẳng tay dùng bạo lực đàn áp.

2- Bám chặt đối phương để giảm thiểu bạo lực: Các linh mục và giáo dân đã thắng một bước khi buộc được viên chỉ huy công an phải làm biên bản về cuộc tấn công bạo động của công an và bọn côn đồ. Việc công an làm biên bản theo sự yêu cầu của dân là dấu chứng xác nhận " giáo dân chúng tôi là những công dân tôn trọng luật pháp, tôn trọng thẩm quyền của công an dù bất đồng, là nạn nhân của bạo lực, công an không có lý do gì mà đàn áp thêm mà còn có trách nhiệm phải bảo vệ chúng tôi". Có lẽ vì thế mà bạo lực đã khó mà leo thang tiếp từ phía nhà nước.

3- Nâng cấp đấu tranh: nâng cấp đòi hỏi lên một bước rộng hơn, đòi Công Lý Công Bình và Sự Thật. Sau tám tháng chờ đợi để thấy rõ hơn nhà nước thất hứa, dùng thủ đoạn gian trá, và sau khi bị khích động bởi bạo lực đã không khuất phục được niềm tin, sự quyết tâm và dấn thân của giáo dân đã chín mùi để mở ra mục tiêu cao hơn. Và mục tiêu này phổ quát chung cho mọi thành phần dân tộc để phá đi hình ảnh ích kỷ cục bộ của thiểu số mà nhà nước đã cố tuyên truyền xuyên tạc về giáo dân. Ngoài ra cũng nâng cấp nhập cuộc của hàng ngũ lãnh đạo tôn giáo. Không còn một LM Nguyễn Văn Lý cô đơn trước sự im lặng của đồng sự, mà dần dần đã lên tới cả Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã chính thức lên tiếng bênh vực cho con chiên và lẽ phải, vun bồi thêm niềm tin tranh đấu.

4- Cốt chắc vỏ mềm: lần này ta có thể cảm nhận được sự kiên quyết đi tới cùng của công giáo VN. Nhất định không chấp nhận việc xin cho đất để thỏa hiệp về việc đất nhà thờ bị cướp mất, mà còn mở rộng tầm tranh đấu như ở trên. Thế mà nghe và đọc các lời báo cáo, tuyên bố của các vị lãnh đạo tinh thần Công Giáo, ta không hề thấy những từ ngữ nặng nề tấn công CSVN mà hầu hết là những lời ôn tồn hòa hoãn kêu gọi sự bền tâm vững tin vào lẽ phải. Phong cách trên không những thể hiện bản lãnh của những người đầy niềm tin vào nội lực của mình, không như những thùng rỗng kêu to, mà còn bộc lộ rõ sự tương phản giữa một bên là sự trong sáng tử tế đầy thiện ý và bên kia là sự trí trá xảo quyệt của CSVN. Phong cách tử tế này cũng buộc CSVN ít nhất phải tỏ vẻ tử tế tương xứng theo.

5- Vận dụng báo đài hải ngoại và quốc tế để trung hòa tuyên truyền xấu từ truyền thông nội địa: Những tin tức trung thực về cuộc tranh đấu, tiếng nói của giáo dân, cha xứ, Hội Đồng Giám Mục đã có cơ hội chọc thủng tấm màn bưng bít xuyên tạc một chiều của bộ máy tuyên truyền CSVN nhờ truyền thông bên ngoài bắn ngược vào trong nước
6- Kêu gọi được sự hiệp thông rộng rãi lan rộng khởi đầu từ các giáo xứ khác sang dần đến các thành phần dân tộc khác, ra cộng đồng người Việt hải ngoại, cho tới Giáo Hội Phật Giáo Việt NamThống Nhất trong nước cũng đã bày tỏ sữ cảm thông hỗ trợ. Cơ sở cho một liên minh dân tộc thực sự đang có triển vọng được xây dựng.

Từ những nhận xét trên, những điều có thể rút tỉa:

1- Đấu tranh bất bạo động không phải là lối đấu tranh thụ động tự phát. Nó đòi hỏi tính tổ chức, kỷ luật, cân nhắc đấu trí, liên tục đánh giá tương quan lực lượng hai bên để có những bước tiến lùi công thủ cho hữu hiệu. Nó có lúc sẽ dấy lên những phong trào sôi nổi, có lúc lặng xuống nhưng vẫn ngún như than hồng bên trong.

2- Cuộc đấu tranh của giáo dân Hà Nội hiện nay đang vào giai đoạn than hồng giữ lửa sau khi bùng lên và đạt được một số thành quả tiếp theo trận diễn tập lần đầu: quan trọng nhất là nó đã được nâng cấp về chiều sâu lẫn độ rộng như đã viết ở trên.(xem thêm bài"Giáo xứ Thái Hà đã giành được nhiều thứ cho giáo dân và dân tộc Việt Nam" của ông Hoàng Cơ Định, www.viettan. org )

3- Nhưng nó vẫn còn khó mà đi đến thắng lợi sau cùng, giống như các cuộc đấu tranh của Giáo Hội Phật Giáo Việt NamThống Nhất, của Phật Giáo Hòa Hảo, của Tin Lành, của đồng bào thiểu số Tây Nguyên, của dân oan, công nhân hay của thanh niên sinh viên yêu nước hay các nhà đấu tranh dân chủ, khi nó chưa được lồng vào trong cùng nhịp với sự bức xúc khắc khoải chung của mọi thành phần dân tộc trong nước. Khi chưa đánh trúng vào tần số chung của mọi thành phần, thì những cuộc đấu tranh của từng thành phần kể trên vẫn mới chỉ có tác dụng quấy rối chế độ một cách lẻ tẻ dù có liên hòan; có soi mòn đẩy lùi chế độ độc tài mau hay chậm vẫn còn tùy thuộc vào bản lãnh ứng phó, kinh nghiệm ma mãnh, mức độ phi nhân bản của nhà cầm quyền độc tài, những điều mà CSVN không thiếu.

4- Khi có được một thông điệp chung mà tất cả các thành phần dân tộc đều liên hệ được và thấy mình trong đó, người người sẽ tham gia tích cực đấu tranh một cách đồng bộ đưa tới một con số đông quần chúng tới mức độ mà bạo lực không còn có thể trấn áp được nữa và phải quy hàng. Lúc đó cuộc cách mạng hòa bình bất bạo động ít đổ vỡ sẽ thành công như đã thành công tại Đông Âu.

5- Liệu thông điệp mà công giáo Việt Nam phần nào đề xuất: Tranh đấu cho Công Lý, Công Bình, Sự Thật, có đủ tác dộng để làm thông điệp chung kể trên chưa? Nó có đánh động chung lòng người mạnh hơn là những từ Dân Chủ, Nhân Quyền, Tự Do Tôn Giáo, Chống Tham Nhũng, Đòi Tăng Lương, Đòi lại Hoàng Sa Trường Sa v.v… không? Nó có tạo điều kiện tốt hơn để soi mòn các trụ cột chống đỡ chế độ không? Có một thông điệp nào hay hơn nữa không? Câu trả lời xin dành cho tất cả chúng ta.


Nguồn : tranmongvu@googlemail.com

Sunday, October 12, 2008

Trần Quốc Cường: Tôi Cũng Muốn Nói Lên Sự Thật


Mặc dù đang sống tại Việt Nam, sau khi đọc bài “Bức tâm thư gởi Đảng và những người yêu mến sự thật” của cô Lê Thị Thanh Thảo đăng trên trang web vietcatholic.net, tôi thấy mình không thể ngồi yên cách hèn nhát được mà cần phải góp tiếng nói cùng với những người yêu nước bày tỏ tâm tình với nhà lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Ai sẽ lên tiếng... Who will speak

Trước tiên tôi xin giới thiệu về bản thân mình. Tôi tên là Trần Quốc Cường, 28 tuổi, quê Thái Nguyên, tốt nghiệp đại học sư phạm Hà Nội khoa Văn. Hiện nay tôi đang học cao học và công tác tại TPHCM. Tôi là con của cán bộ huyện đã về hưu, và cũng như cô Thảo, tôi không phải đạo Thiên Chúa. Có lẽ nhiều người sẽ hỏi tôi: không phải đạo Thiên Chúa thì viết làm gì? Tôi xin trả lời ngay: tôi viết vì ủng hộ sự thật! Không phải chỉ những người có đạo mới yêu sự thật mà tất cả mọi người đều yêu mến nó.

Mới đây tôi được một đồng nghiệp gởi bài “Bức tâm thư gởi Đảng và những người yêu mến sự thật” của cô Thanh Thảo, một nữ sinh viên du học tại Australia, đăng trên trang web vietcatholic.net. Thế là lần đầu tiên tôi biết trang web này. Tôi đã mất mấy đêm để đọc các thông tin trên đó. Và từ trang web, người ta cho tôi đường link qua nhiều trang khác. Đọc xong tôi cảm thấy mình thật xấu hổ và buồn vô cùng vì tôi nhận ra mình đã bị lừa đảo suốt 28 năm qua!

Thực ra chuyện tranh chấp đất đai trong vụ Tòa Khâm Sứ và nhà thờ Thái hà giữa người công giáo và chính quyền không lạ gì đối với tôi, vì báo đài trong nước có đưa tin. Nhưng từ trước đến nay tôi vẫn nghĩ đó là do một số giáo sĩ đã lợi dụng kích động quần chúng làm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, và tôi cũng bực tức với lời phát biểu của bác giám mục Ngô Quang Kiệt về tấm hộ chiếu Việt Nam. Nhưng khi đọc những thông tin trên trang web vietcatholic tôi mới thấy cái nhìn của mình quá thiển cận. Mình chỉ nghe được một chiều. Mình bị nhà nước nhồi sọ. Nhất là khi đọc xong bài của bạn Thảo và những bài tâm huyết khác tôi cảm thấy buồn bã và căm tức những cán bộ ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội; căm tức hệ thống báo đài VN và căm tức cả các ông lớn khác như ông Mạnh, ông Dũng, ông Triết... vì mấy ông này là đầu sỏ của nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam. Chính mấy ông này đã làm ngơ để thuộc cấp của mình làm những việc lừa đảo và hại nhân dân trong thời gian qua.

Tại sao tôi nói thế? Bởi vì khi tòa giám mục Hà nội bị quân của các ông phong tỏa để xây công viên, bác giám mục Kiệt đã gởi đơn khẩn cấp kêu cứu các ông, tại sao các ông không chỉ đạo tạm ngưng để xem xét? Các ông không nhận được đơn hay nhận được mà không đọc? Các ông mù chữ không đọc được hay đang “bận” uống bia ôm hoặc tắm bùn như ông bộ trưởng GTVT trước đây đã làm? Tại sao các ông không cho báo chí đăng tin rằng: miếng đất đó trước đây đang phục vụ nhu cầu tôn giáo của giáo hội Thiên Chúa, rồi bị Đảng chiếm dụng. Và những người này đã kiên nhẫn làm đơn suốt mười mấy năm trời để đòi lại, các ông không điếm xỉa mà lại rục rịch xây khách sạn, vũ trường gì đó. Đến khi họ không còn con đường nào khác đành phải thắp nến cầu nguyện hằng đêm để xin trời phật phù hộ. Khi họ đang cầu nguyện, các ông cho công an đến đánh và xịt hơi cay vào mặt họ.Tại sao các ông không cho báo chí nói như vậy mà chỉ nói rằng họ là những người không tuân thủ pháp luật, gây mất an ninh trật tự xã hội?

Đợi mãi đến khi công viên xây xong, các ông mới gặp mấy giám mục. Tưởng sẽ giải quyết được gì cho họ nhưng cũng không được. Thật là hết nói! Khi biết đầy đủ thông tin về vụ này, tôi cũng có tâm trạng như cô Thảo: “Chẳng lẽ Đảng Cộng Sản Việt Nam không còn ai tài ba hơn, không còn ai học cao hiểu rộng hơn, không còn ai cao thượng hơn để lãnh đạo và giải quyết các yêu cầu của người dân cách hợp lý hợp tình và thuận lòng người sao?”

Về lời phát biểu của bác giám mục Kiệt, tại sao các ông không cho báo chí đăng nguyên văn lời phát biểu của bác ấy mà chỉ cắt xén lấy một câu rồi xuyên tạc theo ý các ông? Đọc toàn văn lời phát biểu của bác Kiệt, tôi không thấy bác ấy là người phản bội dân tộc, mà phải nói là một anh hùng, vì bác ấy làm nhiều nghĩa cử cao đẹp. Nhất là khi nghe băng, tôi thấy giọng bác điềm đạm và thẳng thắn chứ không hằn học như mấy phát ngôn viên truyền hình tường thuật. Tại sao các ông làm ngơ để báo chí mạt sát người dân như vậy? Các ông đã chỉ đạo một cách ngu xuẩn để gây ra tai hại không lường được! Tôi xin phân tích để các ông thấy.

1. Khi đơn phương quyết định xây công viên, các ông chỉ được việc chứ không được người. Nếu đó là công việc liêm chính thì tại sao, trong khi xây dựng, các ông cho công an đứng dày đặc xung quanh? Công viên đã xây xong, cây cối xanh tươi, nhưng lòng các ông có thanh thản không? Nếu thanh thản thì tại sao các ông lại tiếp tục cho gắn camera, máy nghe trộm để theo dõi khu vực tòa nhà của bác giám mục Kiệt? Nếu các ông đang làm một việc chính nghĩa thì tại sao lại sợ những người dân bình thường? Tại sao các ông không đủ tri thức để tính toán xây dựng một công trình có tiếng khen ngàn đời mà lại xây dựng một công trình bị nguyền rủa muôn thuở?

2. Vì tầm nhìn quá thiển cận nên các ông chỉ thấy người Thiên Chúa giáo đang đòi mấy hecta đất chứ không nhận ra họ đang đòi công bằng và sự thật cho đất nước! Trước đây thì không, nhưng bây giờ tôi triệt để tán thành công việc của họ. Đất nước chúng ta còn quá nhiều bất công, gian dối, tham nhũng và áp bức... nên rất cần những người dám nói sự thật như bài của cô Thảo: “Đất nước Việt nam cần nhiều con người can đảm nói lên sự thật như Giám Mục cùng những người khác đã làm. Chúng cháu rất trân trọng những vị này hơn nhiều cán bộ nhà nước” . Những người chân chính, bất luận có tôn giáo hay không, rất trân trọng công bằng và sự thật. Họ sẵn sàng chết để bảo vệ những giá trị đó. Một đất nước hùng mạnh phải xây dựng trên công bằng và sự thật.

3. Cũng vì tầm nhìn quá thiển cận nên các ông chỉ đạo cho báo đài xuyên tạc và mạt sát bác giám mục Kiệt. Các ông tưởng như vậy sẽ làm mất uy tín của họ sao? Trái lại chính các ông bị mất uy tín. Chính Đảng Cộng Sản bị mất uy tín. Cả hằng ngàn người trẻ, trong đó có tôi, nhờ dịp này đã giác ngộ và nhận ra mình bị lừa đảo suốt mấy chục năm qua. Cô Thảo đã thay mặt cho chúng tôi nói lên điều đó: “Bây giờ chúng cháu đủ khôn lớn để nhận định rằng báo chí Việt Nam không còn là công cụ của nhân dân mà chỉ là công cụ của một phe đảng, một băng nhóm nào đó thôi. Nó không còn phục vụ lợi ích của nhân dân nữa mà chỉ phục vụ cho lợi ích của bọn cầm quyền. Vì thế chúng cháu không còn tin vào báo chí Việt Nam như xưa nữa” .

Lý do khác khiến tôi viết bài này vì tôi cũng ở trong số những người yêu mến sự thật. Hơn nữa tôi được xã hội xếp vào giới trí thức, ăn lương theo giới trí thức. Vì thế tôi phải suy nghĩ và đánh giá sự việc theo đúng tầm trí thức. Tôi không thể im lặng cách hèn nhát mà phải có trách nhiệm góp sức thông tin sự thật sau khi mình đã nhận ra. Từ khi đọc bài viết của cô Thảo tôi thấy xấu hổ với chính mình! Tại sao một cô bé còn đang ngồi ghế nhà trường mà nhận ra sự thật và lên tiếng bênh vực, còn mình thì không? Tôi thấy mình không thể để một chế độ gian dối đè đầu đè cổ mãi nữa. Tôi phải đứng lên giải thoát chính mình và đẩy lui sự gian dối. Tôi hoàn toàn khâm phục tinh thần kiên cường của bạn Thảo. Tôi sẽ tiếp tục kêu gọi nhiều người đóng góp tiếng nói chân thật cho đất nước Việt Nam thân yêu. Có nhiều người như vậy, tôi hy vọng trong tương lai không xa, chúng ta sẽ thoát khỏi cảnh bị áp bức và gian dối như hôm nay.

Tôi xin ai đọc bài này vui lòng gởi cho những người khác, nhất là những người ở trong nước, để họ không còn bị nô lệ bởi một chế độ đầy bất công và lừa bịp nữa. Tôi xin các báo đài trong nước hãy đăng bài của tôi để phổ biến đến mọi người.

Tôi cũng xin cám ơn cô Thảo. Cám ơn trang web vietcatholic cùng những trang web khác tôi đã đọc. Xin cám ơn tất cả những người đã và đang nói sự thật, dù họ thuộc tôn giáo nào hay không có tôn giáo. Nhờ họ mà tôi tìm lại được chính mình.

TPHCM ngày 10.10.2008

Trần Quốc Cường, Bình Thạnh

Địa chỉ mail lien lạc: trqcuong95@yahoo.com

Trần Quốc Cường

Thursday, October 9, 2008

Đàn Chim Việt


Căn nhà nho nhỏ vừa sửa chữa, sơn phết lại màu xanh nước biển, có gác suốt, vách ván, mái lợp tôn, sàn lót gạch bông, có sân nhỏ trán xi-măn chừng bốn năm thước vuông, bên góc tay trái có giàn bông giấy tàng to lớn, hoa nở rộ màu hồng-đỏ rực rỡ. Căn nhà nằm trong hẻm khá rộng, xe hơi vô được, ở cuôi đường Hưng-Phú gần lò heo Chánh-Hưng, thuộc Quận 8 (Sài-gòn), do bà góa phụ Nguyễn Quốc Việt làm chủ. Nơi đây, bà Việt sống một mình gần bốn mươi năm qua. Tuổi bà đã hơn tám mươi mà tâm trí vẫn còn sáng suốt, da mặt không nhăn nheo và cũng không trỗ đồi mồi. Nhưng đi đứng thì có phần chậm chạp, đôi mắt hơi yếu, răng rụng sạch bách, đầu cạo trọc lóc, ăn mặc như mấy bà vãi tu ở trong chùa. Nhưng bà không chay trường, mà chỉ ăn chay tám ngày mỗi tháng thôi. Đêm đêm bà hay tụng và nghe Kinh Phật trước khi đi ngủ. Hôm nay bà Việt vui lắm. Vì có Quê, đứa con gái út từ bên Pháp trở về thăm sau hơn hai mươi lăm năm ly quốc. Tuy Quê là con gái út, nhưng nàng đã hơn năm mươi tuổi đời.
Đầu tháng sáu bước sang mùa mưa, Sàigòn vẫn còn nóng oi bức, thỉnh thoảng những cơn mưa trút xuống như thác đổ, nhiệt độ liền hạ thấp nghe mát lạnh. Chiều nay một cơn mưa lớn vừa dứt, thì hơi nóng bốc khói từ mặt đất lên làm nóng hầm trở lại. Bà Việt đang nằm trên chiếc ghế mây dài kề bên chiếc quạt máy cũ kỹ, bà thò bàn tay già nua gầy ốm bấm nút, tiếng chong chóng của chiếc quạt quay nghe lọc cọc, lạch cạch và xoay qua xoay lại. Bà Việt đứng dậy nhìn ngoài sân còn vài giọt mưa từ trên mái nhà nhỏ xuống, bà thở ra và hỏi Quê :
- Ở bên Tây có mưa lớn như vầy không vậy con ?
- Dạ, ít khi lắm, chỉ có mưa phùn thôi má à !
- Rồi ruộng nương họ cày cấy làm sao ?
- Ở bên ấy cái gì người ta cũng dùng bằng máy. Họ không có cấy mà chỉ rải hột thóc thôi. Còn nước thì họ có những ống dẫn nước từ giếng, rạch, kinh đào hoặc những dòng sông lớn...
Bà Việt đi chầm chậm đến ngồi bên cạnh con gái :
- Hai mươi mấy năm trời con mới trở về ! Còn hai anh của bây thì không biết bao giờ mới trở lại thăm má ?
- Anh Nam có viết thơ cho con. Còn anh Bắc thì điện thoại nói với con, thế nào các anh cũng sẽ về đây một lần để thăm má và quê hương. Ờ, anh Trung và chị Hương có lên thăm má thường không ?
- Ít khi lắm. Má nghe đâu vợ chồng thằng Trung đang ly dị gì đó. Còn con Hương thỉnh thoảng mới lên đây. Cũng may, nó sống êm đềm với chồng con của nó. Má chỉ rầu nhứt là việc gia đình anh Ba con thôi.
- Vợ chồng anh Ba đã già rồi mà còn ly dị ?
- Thằng Trung dường như nó mắc chứng bệnh thần kinh !
- Trời ơi ! Có nặng không má ? Mà sao chị Ba chỉ muốn ly dị, chỉ ác quá vậy ? Sao má không khuyên cản ?
- Má đâu có quyền hành gì mà xía vô chuyện gia đình của tụi nó. Tại thằng Trung bị bệnh ấy, lâu lâu nó nhậu say, rồi lên cơn là đánh vợ. Ôi, khổ lắm con ơi !
- Rồi mấy đứa con của ảnh ?
- Đứa nào cũng lớn, tụi nó đã có gia đình ra ở riêng hết rồi. Cũng may là có hai đứa.
- Chị Hương cũng có hai đứa phải không. Mà tụi nó tên gì và mấy tuổi rồi vậy má ?
- Ờ, thằng Phục hai mươi lăm, còn thằng Quốc thì hai mươi ba tuổi rồi...
Ánh mắt Quê hiện lên những tia hy vọng, nàng nói :
- Phục, Quốc, nghe kêu dữ à. Con hy vọng tâm hồn và ý chí của tụi nó gắn liền với cái tên đã đặt...
- Hồi tụi nó mới đẻ, anh Năm bây đặt tên đề trong khai sanh chớ ở ngoài đâu có dám gọi tên thật, nên cứ kêu tụi nó là Bé Lớn, Bé Nhỏ.
- Chắc anh sợ mấy tụi Việt Cộng chớ gì ?
- Còn phải nói gì nữa !
- Cái chánh sách gì mà độc tài như quỉ sứ...
- Nói nhỏ nhỏ con ơi !
Bà Việt nhìn Quê, bà nói chuyện khác :
- Nè, ở bên Tây con làm cái gì ?
Quê nghe mẹ hỏi, nàng nín thinh đôi mắt hiện lên nét buồn. Quê nhìn ra cửa sổ giả đò không nghe... tâm hồn nàng như gởi tận đâu đâu...
Bà Việt hỏi lại... Quê giựt mình :
- Dạ... Dạ, con chạy bàn nhà hàng !
- Má thấy trong mấy tấm hình con chụp trên tuyết gởi về, chắc là ở bên Tây trời lạnh lắm phải không con ?
- Dạ. Những hình đó là con chụp lúc mùa đông. Nhưng tới khoảng tháng tư tháng năm là ấm trở lại, rồi đến tháng sáu tháng bảy thì có khi cũng nóng lắm má à !
- Con làm có cực nhọc lắm không. Tiền lương có khá hôn ?
- Dạ, cũng không cực lắm. Tiền lương cũng được được đủ sống.
- Hổng biết anh Hai con ở bên Úc làm nghề gì. Còn anh Tư bây sống như thế nào bên Mỹ mà khi viết thơ cho má, tụi nó chỉ hỏi thăm má chớ không có nói làm gì hết !
- Mấy anh có gởi tiền về cho má không ?
- Chỉ có một mình con nuôi má từ hồi nào tới giờ, chớ có đứa nào lo đâu !
Quê bào chửa cho các anh :
- Chắc tại vì các anh con chưa ổn định cuộc sống bên ấy đó má à ! Bởi vì còn lo cho vợ con của mấy anh nữa. Mà má đâu có thiếu hụt gì ?
- Nói, thì má nói vậy thôi. Chớ nội tiền của con gởi cho má ăn xài còn dư nữa là khác. Nhưng má buồn lắm con à !
- Má buồn gì má ?
- Buồn vì... thằng Bắc, thằng Nam, tụi nó còn thù anh Trung mầy.
Ánh mắt của Quê đăm đăm nhìn xuyên qua cửa sổ, đôi hàm răng cắn chặt, rồi nói một giọng như đay nghiến :
- Thù cũng đâu có sai. Há, nối giáo cho giặc vào nhà gây đầy tội ác.
- Nói nhỏ nhỏ con ơi !
Quê quay sang nhìn mẹ, ánh mắt dịu lại :
- Nhưng thôi, má cũng đừng quá lo lắng mà làm gì. Không phải chỉ có gia đình mình gặp cảnh ấy đâu. Theo con nghĩ, chắc là anh Trung, ảnh giả điên đó má à !
- Giả điên ! Vì sao con nghĩ nó giả điên ?
- Thì... thì ảnh bị thất vọng. Vì tưởng đâu theo Mặt-Trận-Giải-Phóng-Miền-Nam là ngon, là có công lớn với đất nước... Ai dè... sau khi đó thì... thì bị tụi cầm đầu Hà Nội trở mặt dẹp ảnh qua một bên. Ảnh lầm, mà cả miền Nam lẫn miền Bắc cũng lầm, chớ không phải một mình anh Trung lầm đâu ! Con có nghe phong phanh, là bác Quốc Giang từ ngoài Bắc trở về, Ông đi họp, rồi nóng mũi đứng lên phát biểu ý kiến gì đó. Bị chúng nó cho đi học tập - cải tạo ba tháng để cảnh cáo, rồi cho bác về hưu luôn. Cũng may là bác đi Kháng-Chiến chống Pháp từ năm 1945 với ba con, nên tụi nó nương tay... Nếu ba con còn sống, thì chắc chắn cũng vào chung tình cảnh với bác Quốc Giang rồi. Còn bác Quốc Sơn là Đại Tá Công-Binh trong Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa. Thật tội nghiệp ! Vì bác quá tự tin là tụi nó không làm gì đến bác, nên những ngày nóng bỏng cuối tháng tư, bác cho vợ con di tản sang Pháp, chỉ một mình bác ở lại. Nhưng đâu ngờ cái thứ vô thần, phi nhân bắt bác đày đi học-tập cải-tạo mười lăm năm. Đến khi tụi nó thấy bác Quốc Sơn sắp rã xương mới thả bác ra. Rồi cho bác đi đoàn tụ gia đình bên Pháp. Vừa qua tới Tây, bác được vô nhà thương trị bệnh liền. Nhưng chỉ có mười lăm ngày sau là bác Quốc Sơn chết đó má.
Nói đến đây Quê rươm rướm nước mắt. Bà Việt thở ra :
- Thật tội nghiệp cho bác Quốc Sơn bây. Ảnh học bên Tây thành kỹ-sư cầu-cống. Rồi về giúp nước hồi năm 1952. Ảnh nhân từ, hiền hậu và học giỏi lắm. Hứ hự ! Còn ba bây hồi đó, ổng cũng đi Việt Minh chống Pháp có mấy năm sau là ổng đền nợ nước. Còn má... thì má...
Nói đến đây bà Việt cảm động, nước mắt tuôn ra. Quê thấy vậy vội vàng đi lấy khăn chậm nước mắt cho mẹ và nói :
- Má ! Má buồn làm gì. Rủi má bệnh là khổ cho tụi con.
- Khổ cho con là đúng hơn. Chớ mấy anh chị của con có đếm xỉa gì đến má đâu. Con là con gái út mà phải gánh hết gia đình từ hồi nào đến giờ. Con có giận má không ?
- Trời ơi ! Sao má hỏi con gì kỳ vậy ? Mấy chục năm rồi, con vẫn là con của má mà.
- Khi ba con chết, má không làm tròn phận mẹ...
- Má ! Má nhắc làm chi chuyện... đó. Má hãy cho vào dĩ vãng và xóa bỏ đi má ơi !
- Làm sao má quên được sự bồng bột của má.
- Khi ba con chết, lúc đó má còn trẻ măng mà.
- Nhưng má không tròn bổn phận với các con.
- Làm người có ai mà Thập-Toàn đâu má ! ... Nếu má nhắc hoài là má làm con buồn đó.
Bà Việt liền đứng dậy :
- Thôi, tối rồi. Đi nấu cơm ăn con ơi ! Má hứa sẽ không nhắc nữa.
Ăn cơm dọn dẹp xong, trời cũng đã tối, hơi nóng dịu dần. Quê phụ mẹ giăng mùng rồi lên giường nằm nghỉ mệt, nàng hỏi bà Việt :
- Má ơi ! Sáng mai mình về Tân Nhựt thăm gia đình anh Trung và chị Hương nghe má ?
Bà Việt chần chờ đôi phút, rồi nói :
- Chắc là má không đi đâu. Con có đi thì đi một mình...
- Sao vậy má ?
- Má không thích về đó. Vì... vì... Thôi con đừng hỏi vì sao mà má không về.
- Má không thích thì con cũng không ép. Vậy để vài ngày nữa con về cũng chẳng muộn màng gì.
Mấy ngày sau, sáng sớm bình minh lập lòe ánh nắng vàng chân trời phía đông, những hạt sương mai lóng lánh như kim cương còn đọng trên cánh lá, đầu cỏ. Quê thức dậy, ăn sáng xong, nàng vội vàng lấy xích-lô qua Chợ-Lớn-Mới, ghé vào tiệm mua năm sáu con vịt quay và cả chục ổ bánh mì, leo lên xe đò về Chợ-Đệm. Quê quá giang ghe hàng đi tắt về làng Tân-Nhựt thuộc quận Bình-Chánh (Sài-gòn).
Quê ngồi trên chiếc ghe tam-bảng có gắn máy đuôi vịt chạy ạch-ạch nhẹ nhàng lướt sóng trên dòng sông nước trong vắt, mấy dề lục bình có bông màu tim tím trôi lểnh bểnh giữa sông trông cũng đẹp mắt. Thỉnh thoảng có vài chiếc ghe khác chạy ngược chiều, họ vẫy tay chào nhau. Sau đó, chiếc ghe giảm bớt tốc độ chạy từ từ rồi rẻ vào con rạch nhỏ. Dọc hai bên bờ sông có nhiều cây bầng cao ngất, những dây cám leo có nhiều trái tòn ten, đám dừa nước rậm rạp, nhiều bụi ô-rô xanh lè... Chiếc ghe cặp vô bến nhỏ. Trên ghe có cả chục người đàn ông lẫn đàn bà. Họ là những người đi buôn bán rau cải, trái cây, tôm tép, cá mắm, heo, gà, vịt... Khi họ trở về thì những chạc, rổ, thúng, cần xé đều trống không. Họ lần lượt bước lên chiếc cầu ván đóng đinh lắt lẻo - gập ghềnh mà vào bờ chào nhau đi về. Còn Quê thì đứng nán lại đợi người chủ ghe cột dây xong, nói cảm ơn. Quê nhét vô tay ông ta tờ giấy năm chục ngàn đồng. Người chủ ghe tươi cười :
- Dạ, cám ơn bà. Bà đưa tôi xách phụ cho. Có phải bà là Việt-Kiều ở bên Tây mới về, là em của anh Ba Trung và chị Năm Hương phải không ?
- Dạ, phải. Ủa, anh có quen anh chị tôi. Sao hồi đó tôi không biết anh cà ?
- Hồi đó, tôi ở trên Sài-gòn.
- Hèn chi mà tôi không gặp anh.
- Thời cuộc biến đổi... Những năm, sau khi tôi bị đi học tập được trở về. Gia đình tôi mới đến đây lập nghiệp...
Hai người vừa đi vừa nói chuyện. Người chủ ghe nói tiếp :
- Hơn hai mươi năm trước, ba má tôi có quen biết một gia đình ở làng này. Họ có đất muốn bán. Ba má tôi thấy rẻ mới mua cho tôi để cất nhà và trồng trọt mà sinh sống. Vì ở trên Sài-gòn dạo ấy tình hình phức tạp lắm... Ở ngoại quốc chắc bà có nghe tin tức và hiểu... mà. Mấy năm nay họ dễ giải một chút xíu, tôi mới mua chiếc ghe tam-bảng này để chở bà con ra chợ buôn bán sống qua ngày, để chờ...
Quê tiếp lời nhanh :
- Chờ ngày quật-khởi hén ? Này, hồi đó anh có đi lính Cộng-Hòa hả ?
- Dạ, có. Mà chỉ cấp bậc Hạ-Sĩ-Quan. Nên đi học tập có hai năm thôi.
- Cũng may cho anh. Tôi... có hai người anh đi lính Biệt-Kích-Dù. Nên vượt biển trong những ngày nóng bỏng cuối tháng tư năm ấy. Dạo đó, anh không có tính đi vượt biển sao ?
- Dạ, có chớ. Đi mấy lần, mà lần nào cũng bị bắt ở tù. Rồi bị những người tổ chức giả gạt hết tiền hết bạc. Ôi, lúc đó biết bao chuyện khủng khiếp rùng rợn kể sao cho xiết bà ơi !
- Theo anh thấy tình hình sẽ thay đổi. Và dân chúng nghĩ như thế nào không ?
- Nói nhỏ với bà. Sự thật, nếu ai mà dũng cảm và được có uy tính với dân chúng mà đứng lên cầm đầu nổi dậy, thì chắc chắn là toàn dân sẽ cùng đứng lên một lượt là xong chuyện liền đó bà ơi ! Nhưng chưa có ai. Mà trước sau gì tụi nó cũng tiêu hà...
Quê nghe thế liền gật đầu rất đắc ý. Nàng quay qua hỏi người chủ ghe :
- Chắc anh quen thân với anh Ba tôi lắm phải không ?
- Dạ, tôi quen chút chút thôi. Vì gia đình anh Ba Trung là gia đình Cách-Mạng.
Trên gương mặt Quê thay đổi không mấy gì bằng lòng, nàng nói nhanh :
- Cách-Mạng khỉ khô gì. Ảnh là loại nằm vùng, là Bộ-Đội 30. Sau khi mất Sài-gòn ảnh mới lòi mặt ra. Tôi nghe vậy, mấy ngày sau tôi vọt về đây nắm cổ ảnh. Ảnh năn nỉ thiếu điều lạy tôi. Vì ảnh đã thấy bộ mặt của tụi nó thò lò ra rồi. Ảnh biểu tôi lo đi Pháp mau mau.
Người chủ ghe thở dài và nói một giọng chán chường :
- Cũng may là bà đi sớm. Vì không đầy một năm tụi nó cưỡng chiếm Sàigòn, dân chúng bị lùa đi Kinh-Tế-Mới quá trời !
- Tôi có nghe chuyện ấy. Chắc anh đến nhà anh tôi chơi thường nên anh mới biết là anh tôi có người nhà ở ngoại quốc ?
Người chủ ghe lắc đầu :
- Ít khi lắm. Ở cùng trong làng nhỏ này, gia đình ai có người được thoát ra ngoại quốc thì cả làng biết hết. Tôi thấy bà hao hao giống chị Năm Hương, tôi nghi liền. Nhưng vì có đông người nên tôi không tiện hỏi chuyện với bà được.
Quê quay sang nói chuyện khác :
- Chắc anh nhỏ hơn tôi ?
- Cũng có thể. Tôi được bốn mươi chín tuổi !
- Còn tôi đã ngoài năm mươi. Anh gọi tôi bằng chị đi, đừng kêu tôi bằng bà nữa...
- Nếu bà cho phép.
- Này, nhà anh ở xóm nào ?
- Nhà tôi ở phía bên xóm Cầu-Tre, cách đây cũng không xa lắm. Chị về đây chơi, rồi chừng nào chị đi ?
- Về đây... chắc mai tôi sẽ trở lên Sài-gòn. Còn trở lại Pháp thì cỡ mười ngày nữa. à, ghe anh có ra Chợ-Đệm sáng mai không ?
- Không.
Ánh mắt của Quê có vẻ băn khoăn, người chủ ghe nói tiếp :
- Cách hai ngày tôi mới đi một chuyến. Nếu chị muốn thì sáng mai tôi lấy xuồng nhỏ đưa chị ra chợ cũng được.
- Thôi, để tôi tính lại. Nói chuyện với anh nãy giờ mà tôi quên hỏi anh tên gì ?
- Tôi tên Đình ! Còn chị là Út Quê phải hôn ?
- Dạ, đúng. Sao anh biết hay quá vậy ?
- Tôi có nghe chị Năm Hương nhắc tên chị.
Đến ngõ vô nhà của Ba Trung, Quê nói :
- Thôi, tôi vô nhà. Nè, chút chiều, nếu anh có rảnh mời anh qua nhậu với anh Ba tôi.
- Để tôi xách đồ vô tới sân cho chị.
- Khỏi, đâu có gì nặng, anh đưa tôi xách được rồi. Có gì, anh nhớ chiều chiều ghé qua nha !
- Dạ, cám ơn chị. Để tôi coi, chớ tôi không dám hứa. Chào chị !
Từ cửa ngõ đi vào nhà, Quê ngắm nghía hai bên đường đất còn ướt, có mấy gốc bông giấy và bông bụp, bên tay trái có cái đìa với đám dừa nước lưa thưa, hai ba cây bình bát nhiều trái còn xanh lè lòng thòng dựa mé đìa, bầy vịt xiêm tơ bảy tám con, kêu cạp-cạp đang bơi lội dưới ao. Trước cửa nhà một cái sân tráng xi-măn, căn nhà lợp ngói đỏ cũ kỹ rêu xanh trên nốc, vách ván, xây cất kiểu bánh ếch xưa rít. Ngoài vườn có hai ba tảng đá ong khá lớn nằm ngả nghiêng kế gốc cây vú sữa tím. Trong vườn khá rộng, có thêm các loại cây ăn trái như khế, ổi, cam, quít, mít... Những cây cối đều già cằn cỗi, cỏ mọc tứ tung. Bởi thiếu sự chăm sóc của gia chủ. Từ trong nhà có bóng người bước ra cửa và la lên :
- Út Quê ! Trời ơi ! Mầy đó hả Út Quê ?
Quê tươi cười :
- Dạ, thưa anh Ba, em đây. Anh khỏe hôn ?
- ờ, ờ... Khỏe.
Ông Ba Trung, khoảng sáu mươi tuổi, vóc dáng ốm nhom ốm nhách và cao khiều khiệu, nước da đen xạm nắng, tóc bạc trắng và cắt ngắn ngủn, gương mặt xương xương hơi dài, ông ở trần trùi trụi, chỉ mặc chiếc quần xà lỏn đen. Ông đi ra đưa tay xách phụ mấy giỏ đồ, vừa đi vô nhà, vừa hỏi Quê :
- Tao có nghe má nói là năm tới mầy mới về mà. Mầy về được mấy bữa rồi ?
Quê để tất cả đồ trên bộ ván gỗ nhỏ. Rồi nhìn dáo dác, trả lời và hỏi :
- Dạ, em về được ba bữa nay. Ủa, chị Ba đâu rồi, sao em không thấy ? - Chị Ba mầy, nó giận tao nên đi qua bên nhà vợ chồng thằng Triều ở hỗm rày.
- Chút nữa, anh qua bễn gọi chỉ với vợ chồng cháu Triều và cháu Đại về đây đi. Em đã nghe má kể sơ sơ về chuyện gia đình anh rồi. Tối ngày anh cứ uống rượu say sưa, rồi đánh vợ. Nên bị người ta bắt nhốt anh trong nhà thương điên mấy lần phải không ?
- Đánh đâu mà đánh. Tại chị Ba mầy, nó chửi tao là thằng Việt-Cộng hết thời. Thằng Bộ-Đội-30 thất thế hoài. Ai chịu cho nổi. Nên đôi khi tao nổi điên lên đó... Chớ... chớ... tao nào muốn đánh vợ bao giờ !
- Chị Ba nói như vậy thì có sai chỗ nào đâu ? Anh có thấy anh hết thời, thất thế không ? Sự thật phũ phàng là như vậy, thì anh cứ nhận đi, mắc gì phải đánh vợ. Anh có biết, đàn ông mà đánh đàn bà là vũ-phu không ? - Thôi, bữa nay có mầy về là ngày vui, đừng có nhắc tới chuyện đó nữa. à, má vẫn khỏe hả Quê ? Mà sao mầy không mời má về đây chơi ? - Cha, anh muốn chạy tội hén ! Mai mốt anh Nam và anh Bắc trở về là anh hết chối. Nói chơi với anh, chớ anh em của tụi em sống trên mấy xứ Tự-Do, Dân-Chủ. Tụi em không có bắt bẻ hay hỏi tội anh đâu. Nhưng anh cũng phải làm cái gì để lấy công chuộc tội chứ ?
- Thì tao cũng theo dõi tình hình. Nếu có gì hay hay là kêu gọi dân chúng đồng đứng lên chung. Và tao hy vọng sẽ có được thật sự Dân-Chủ, Tự-Do sau này. Mầy cũng biết quá rồi. Toàn dân Việt Nam, ai mà không mong muốn và khát khao có được những thứ đó.
- Ừa, ráng đi nha. Ở Hải-Ngoại người ta cũng ủng hộ trong này lắm đó... à, về má, thì em có hỏi. Nhưng má không chịu đi.
- Má không chịu về đây. Tại vì má khó tánh quá !
- Khó cái gì ? Tại má sống một mình mấy chục năm, nên má quen rồi. Em nghĩ, là má không ưa... dâu và rễ. Thôi, để cho má yên ở trên Sài-gòn. Nhưng anh sẽ chờ xem, chừng nào có anh Nam về là ảnh nói cái gì má cũng chịu hết.
- Tao biết mà, anh Nam là con trai trưởng, nên má cưng nhứt nhà.
Quê cười cười :
- Còn em là con út. Người đời thường nói : Giàu Út ăn, nghèo Út chịu. Nên em lãnh hết... từ khi gia đình mình suy sụp. Nhưng em hy vọng rồi đây tất cả sẽ thay đổi... Và mình phải ráng làm sao cho dân chúng được Tự-Do no ấm và cả má nữa.
- Thôi, mầy đi rửa mặt hay ra đàng sau tắm đi. Để tao chạy qua cho mẹ con thằng Triều, thằng Đại hay và bảo tụi nó kéo về đây gặp cô nó.
- Nè, anh bảo đứa nào đó chạy tạt qua nhà chị Năm cho chỉ hay luôn nghe. Nói là có em về, chút chiều vợ chồng chỉ với hai cháu Phục và Quốc qua đây ăn chung luôn.
Các anh chị và mấy đứa cháu của Quê về tề tựu cùng ăn uống chung, tất cả đều vui vẻ. Qua ngày sau, Quê đi thăm hỏi mấy nhà bà con và lối xóm. Quê ở lại nhà ông Ba Trung hai ngày. Qua sáng thứ ba, Quê quá giang ghe của Đình ra Chợ-Đệm để lấy xe đò trở lên Sài-Gòn.
Gặp lại mẹ, Quê kể sơ sài là gặp tất cả hai gia đình anh Ba Trung và chị Năm Hương cho mẹ nghe. Trên gương mặt bà Việt rất là vui. Rồi bà sực nhớ, miệng cười đưa hết hai cái nứu không còn cái răng nào, bà kéo học tủ lấy lá thư và nói :
- Chút xíu nữa má quên mất. Hôm qua má có nhận thư của thằng Nam bên Úc nè. Con đọc coi nó nói cái gì ?
- Vậy hả má ? Đưa đây, đưa đây con đọc cho.
Quê mừng rỡ, liền mở thư ra đọc lớn lên cho mẹ nghe :
Sydney, ngày... tháng... năm...
Má kính thương của con,
Trước hết, con kính thăm má và mong má được khỏe mạnh. Con có nghe con Quê về Việt Nam trong tháng này. Vậy nó về tới chưa ? Còn riêng con và thằng Bắc đã hẹn nhau rồi, là tụi con sẽ cố gắng kéo về ăn Tết vào năm tới với má. Nếu con Quê có mặt đó thì má nhớ nói với nó, là ráng Tết tới trở về gặp tụi con luôn. Con và vợ con cùng hai cháu của má tất cả đều bình yên, khỏe mạnh.
Vài hàng thăm má. Con kính chúc má được vạn sự an lành.
Con trai của má
Quốc Nam

Bà Việt nghe xong những lời trong thư người con trai trưởng gởi về, bà mừng và cảm động đến rơi lệ. Bà đi tới ôm Quê và nói :
- Các anh con Tết tới sẽ về. Vậy con cũng ráng mà về cho cả gia đình xum họp một lần. Rồi sau đó, má có theo ông theo bà, má cũng mãn nguyện nghe con.
- Con đọc thư anh Nam, con cũng nghe mừng lắm. Chắc chắn là con phải ráng về rồi. Chuyện khó có mà sẽ thành sự thật. Chúng con như đàn Chim trở về tổ. Và quyết tâm đả phá chánh sách độc-tài phi-nhân, để có được thật sự Dân-Chủ Tự-Do và đầy đủ quyền làm người và cùng nhau xây dựng lại quê hương, mà cũng là món quà xuân chúng con sẽ tặng cho má ba ngày Tết. Con hy vọng thế kỷ 21 này quê hương mình sẽ được như ý nguyện của toàn dân. Con tin tưởng và chắc chắn sẽ có nhiều Anh Hùng và Thanh Niên trẻ đứng lên cứu nước đó má !
Bà Việt gật gật đầu :
- Má tin tưởng như con đó. Vì đã hơn một phần tư thế kỷ mà chúng nó vẫn còn kìm kẹp, độc tài quá ! Trong lịch sử dân tộc của nước ta đã có biết bao vị Anh Hùng - Nữ Kiệt cứu nước dựng nước thì tức nhiên phải có Anh Thư - Hào Kiệt ngày nay.
Bà Việt nói xong, miệng mỉm cười sung sướng, rồi từ từ đứng lên đốt ba nén nhang xá xá, cấm vào lư hương trên bàn thờ Phật, và lẩm nhẩm khấn vái :

Nguyện cầu Dân Tộc nhất tình
Cùng nhau xây dựng Hòa Bình từ đây
Tự do Dân chủ ngày mai
Trong, ngoài xum họp, lấp đầy tình thâm.


Việt Dương Nhân
(Một góc trời Tự Do - đông 01/2001)

Wednesday, October 8, 2008

THƠ "PHI CHÍNH TRỊ"

Chiều chiều tựa cửa ngóng quê
Chờ ngày hết giặc trở về thôn xưa!

Buồn, dạo quanh vườn thơ liên mạng
Thật không ngờ: Muôn vạn bài thơ
Thơ tình, lãng mạn, vu vơ
"Giao lưu, nối kết" đôi bờ đại dương !

Chợt nhớ cảnh quê hương ngày ðó
Giặc cộng vào nhuộm đỏ Miền Nam
Chúng đem sách "ngụy", nhạc "vàng"
Đốt thành tro bụi kho tàng văn chương !

Theo sách lược Tần vương độc ác
Lũ rợ hồ phá nát giang san
Bất nhân, thất đức, tham tàn
Giết thầy, đốt sách, tạo ngàn thương đau

Tội của chúng không sao giấu được
Tội buôn dân bán nước rành rành
Độc quyền, độc đảng, lưu manh
Rút bòn công quỹ, dân lành đói cơm

Nay đến lúc căm hờn cao độ
Dân Việt Nam quá khổ vùng lên
Kêu gào điểm mặt chỉ tên
Quyết thề oán trả, tội đền phân minh!

Bọn cộng sản giật mình lo sợ
Sợ nhân dân đòi nợ máu xương
Bày trò kêu gọi yêu thương:
"Về đây xây dựng quê hương, quên thù !"

Lập "liên mạn giao lưu" viễn xứ
Gởi văn nô tình tự họa thơ
"Động viên", "kiều vận" hằng giờ:
Rằng: "Em cố quận vẫn chờ người đi!"

Bày quy luật : thơ "phi chính trị"
Ðể đánh lừa thi sĩ gần xa:
"Giữ bầu không khí ôn hòa,
cấm thơ chánh trị, quốc gia, cờ vàng !"

Rồi "hồ hỡi" hiên ngang kiểm duyệt
Thơ đấu tranh cấm tiệt từ đây
Ai không chấp nhận nội quy
"Vui lòng rời khỏi nơi nầy, bạn ơi !"

.............

Hỡi thi sĩ bạn tôi thân mến
Hãy bình tâm nghĩ đến giang san
Đừng tin miệng lưỡi quân gian
Để loài cộng phỉ phá tan sơn hà !

"Giặc đến nhà đàn bà phải đánh"
Người quốc gia bản lãnh để đâu ?
Quê ta giặc dữ gồm thâu
Sĩ phu trí thức cúi đầu đành sao ?

Hãy thức tỉnh đề cao, bạn hỡi
Chớ mềm lòng phản bội dân ta
Hiên ngang tố ác bài tà
Đừng
"PHI CHÍNH TRỊ" nước nhà điêu linh !

Người ơi, thương lấy dân mình
Đứng lên đả cộng trọn tình nước non !


Hương Sài-Gòn
29-05-2006
_____________________
Nguồn : bln_1975@yahoo.com

Tuesday, October 7, 2008

Đức TGM Giuse Ngô Quang Kiệt tuyên bố : "Tôi không có sợ bất cứ một cái gì hết, dù tôi có phải chết".... "một cái chết vinh quang".


"Nếu như mà có bị bắt đi chăng nữa thì đấy cũng là một hình thức tử vì đạo"... "Chúng tôi rất lấy làm vinh dự nếu như được chết như thế"... "chúng tôi sẵn sàng chết cho sự thật"...

"Chúng tôi không sợ, vì chúng tôi đang làm công việc không sai"... "chẳng có chút gì phải lo ngại và lo sợ cả"...

"Người ta muốn bắt thì người ta bắt thôi.
Mà sự thật vẫn là sự thật"…

***
Hoan Hô Đức TGM Kiệt

Toàn giáo dân hoan hô Đức Tổng
Ngài mở đường cho giáo dân đi
Chẳng e sợ một cái gì
Tội tù, giết chóc có khi lại mừng!
Làm người ai cũng một lần chết
Chết vinh hơn sống nhục, sống hèn
Chết vì Chúa thực đáng khen
Nói lên Công Lý, nói lên Công bằng!
Thánh tử đạo xưa rày không hiếm
Đức Tổng Điền,Hồng Y Thuận, Linh mục Jerzy (1)

Các Ngài, từ Chúa sai đi
Chết tử vì đạo bởi vì Đức Tin
Đất Thái Hà cùng Tòa Khâm Sứ
Sao ngang nhiên chiếm cứ, cướp luôn?
Xưa nay chưa thấy chính quyền
Dùng quyền, dùng lực ngang nhiên cướp bừa!
Hỡi Giáo dân phen này phải gắng
Ta nguyện cầu đến thắng mới thôi
Việt Nam, ngàn thứ tệ tồi
Gây ra bởi một bọn người buôn dân!

Bút Xuân TRẦN CÔNG TỬ
__________________________
(1) LM Jerzy, Ba Lan bị CS Balan giết khi
Ngài tranh đấu cho một nước Ba Lan Dân Chủ.

Monday, October 6, 2008

Đức Tổng Giám Mục Hà Nội Đã Nói Sự Thật Quá Hiển Nhiên: “…chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam, đi đâu cũng bị soi xét …“


Từ sáng sớm ngày 19 tháng 9 năm 2008, nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đã huy động một lực lượng hùng hậu gồm một số chó nghiệp vụ, một lũ côn đồ khá đông và hằng trăm công an đủ loại, có cả ông tướng công an Nguyễn Đức Nhanh trực tiếp chỉ huy đội xe cơ giới đến đập phá Toà Khâm Sứ. Cả thế giới bàng hoàng khi hay tin Toà Khâm Sứ bị đập phá.

Ngày 20 tháng 9 năm 2008, Uỷ Ban Nhân Dân thành phố Hà Nội lại tổ chức một cuộc họp và có mời Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt đến tham dự. Nội dung của buổi họp không thấy được phổ biến, nhưng qua lời phát biểu của Đức Giám Mục Hà Nội thì được biết buổi họp của Uỷ Ban nhằm mục đích kể công với Đức Cha Kiệt là Uỷ ban Hà Nội đã ban ân huệ cho Giáo phận Hà nội trong những năm vừa qua như được phép tổ chức các lễ hội, được phép tổ chức các ngày lễ Noel…đó là điều thứ nhất, còn điều thứ hai tức về chuyện Toà Khâm Sứ thì ông Chủ tịch Uỷ ban có đề cập ngoài vấn đề pháp lý, chúng ta phải cư xử theo tình người.

Người viết xin mở dấu ngoặc ở đây để nói về lời tuyên bố của ông Chủ tịch khi đề cập đến tình người trong cách hành xử về vụ việc Toà Khâm Sứ. Thật sự thì cũng rất éo le vì chuyện văn chương chữ nghĩa của các nhà đỉnh cao trí tuệ thường khác với những người Việt Nam con rồng cháu tiên bình thường . Cứ xem đám đỉnh cao trí tuệ này đã giải quyết vụ Thái Hà và Toà Khâm Sứ theo tình người VC như thế nào thì rõ, tình người VC khác với tình người của người Việt Nam và cả nhân loại. Quả thật, thế gới đã ngậm đắng nuốt cay trong suốt thời gian qua, khi nhìn thấy sự việc lạ đời của một nhà nước tự xưng là nhà nước pháp quyền, lại đi đối phó với những người dân hiền hoà một cách điên rồ. Thế giới đã chứng kiến qua hình ảnh được đưa lên Net về cái tình người mà họ đang dùng là xịt hơi cay, đánh chảy máu mặt bà già, đánh bể đầu nhà báo Ben Stocking, tình người VC là những chiếc xe ủi đất cày phá Toà khâm Sứ, tình người VC là cho thành phần bất hảo đến đập phá đền Thánh Giêrađô Thái Hà, bắt Tượng Đức Mẹ Sầu Bi và Thánh Giá nhốt vào thùng sắt. Họ đã đem Mẹ và Thánh Giá đi đâu? chắc có lẻ để bắt Đức Tổng Kiệt phải trả tiền nộp phạt một triệu bảy trăm ngàn năm trăm đồng để đổi lại Tượng Đức Mẹ và Thánh Giá .

Xem ra tình người VC là của lũ vượn người, nên thường khác với tình người của nhân loại.

Đó là chuyện tình người mà Uỷ Ban Nhân Dân thành phố Hà Nội đã nhấn mạnh khi nói chuyện với Đức TGM Ngô Quang Kiệt.

Bài phát biểu của Đức TGM Ngô Quang Kiệt được ghi âm rất rõ ràng, cả thế giới đều được nghe rõ mồn một với giọng nói khá bình tĩnh của một vị mục tử khi đang hiên ngang đối diện với bạo lực.

Khi đề cập đến vấn đề Uỷ Ban kể công với Giáo hội Công giáo, Đức Tổng Giám Mục đã phát biểu rất chính xác và rất tình người qua câu nói :

“ Trước hết ông chủ tịch có nói rằng: Uỷ ban nhân dân thành phố đã tạo rất là nhiều điều kiện cho Giáo hội Công giáo trong những năm qua, nhất là dịp lễ Noel…chúng ta phải công nhận trong những năm gần đây có nhiều điều kiện, thế tuy nhiên khi như thế, khi nói tạo điều kiện vẫn còn mang cái tâm lý xin cho. Tức là cái này là cái ân huệ tôi ban cho anh đó. Nhưng mà cái tôn giáo là cái quyền tự nhiên con người được hưởng. Và nhà nước vì dân cho dân phải có trách nhiệm tạo điều đó cho người dân, chứ không phải cái ân huệ chúng tôi xin. Không có. Tự do tôn giáo là quyền chứ không phải cái ân huệ “Xin Cho”

Không hiểu các nhà đỉnh cao trí tuệ có hiểu nổi câu nó rất rõ ràng mà Đức Tổng Giám mục Hà Nội đã nhấn mạnh bằng giọng nói rất mạnh mẽ: ”…chúng ta phải công nhận trong những năm gần đây có nhiều điều kiện, thế tuy nhiên khi như thế, khi nói tạo điều kiện vẫn còn mang cái tâm lý XIN CHO và Đức Giám Mục đã kết luận bằng lời tuyên bố quá minh bạch: “Tự do tôn giáo là quyền chứ không phải xin cho”.

Xin các nhà đỉnh cao trí tuệ nhớ cho kỷ: Tự do tôn giáo là quyền chứ không phải xin cho, không phải ân huệ để nhà nước kể công là nhà nước đã thế nầy thế nọ khi đề cập những vấn đề có liên quan đến tôn giáo.

Uỷ ban Nhân dân thành phố Hà Nội tưởng rằng buổi họp hôm 20 tháng 9 năm 2008 là để đe dọa cũng như ra mặt thị uy về quyền hành của những quan chức nhà nước Xã hội chủ nghĩa Việt Nam với Đức Giám Mục Hà Nội. Thế nhưng Đức TGM Hà Nội đã chẳng chút sợ sệt và cũng chẳng nể mặt ông quan nào cả dù ông lớn hay ông nhỏ, nên Ngài đã phát biểu một cách trung thực và thẳng thắn. Câu phát biểu rất thực tế và có giá trị lịch sử, nhất là trong khi cộng sản đang ra tay dùng mọi thủ đoạn đê hèn, bất chấp cả dư luận quốc tế để thủ tiêu, chà đạp nền công lý và chân lý qua hình ảnh Thái Hà và Toà Khâm Sứ đang lâm nạn. Trong nghẹn ngào, Ngài nói:”…chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam, đi đâu cũng bị soi xét, chúng tôi buồn lắm chứ, chúng tôi mong muốn đất nước mình mạnh lên. Làm sao như một anh Nhật nó cầm cái hộ chiếu là đi qua tất cả mọi nơi, không ai xem xét gí cả. Anh Hàn Quốc bây giờ cũng thế. Còn người Việt Nam chúng ta thì tôi cũng mong đất nước lớn mạnh lắm và làm sao thực sự đoàn kết, thật sự tốt đẹp, để cho đất nước chúng ta mạnh, đi đâu chúng ta cũng được kính trọng”

Sau buổi họp tại Uỷ Ban, lập tức tất cả các hệ thống truyền thông liền theo lệnh đảng đúng với khẩu hiệu trước sau như một của tập đoàn ông Hồ: nghe theo đảng, nói theo đài. Toàn bộ hệ thống báo đài bùng lên đem Đức Cha Kiệt lên bàn mổ với cái tài ăn gian nói dối của tập đoàn truyền thông báo chí đảng csVN. Những tay nhà báo đã cắt xén câu nói lịch sử này, nhắm mục đích vu cáo và ghép tội phản động cho Đức Cha Kiệt. Chuyện phản động hay phản lại chế độ cộng sản gian manh cũng đồng nghĩa với nhau, không hơn không kém chút nào, cho nên câu nói của Đức Cha Kiệt đã đi vào lịch sử .

Các nhà đỉnh cao trí tuệ nên suy nghĩ một chút cho thấm thía cuộc đời khi đang nghe và đối diện với thực tế về tiếng kêu của dân oan, những bất đồng chính kiến một cách ôn hoà của những con người đang ước mong nạn cộng sản sớm chấm dứt trên đất Việt Nam ”… chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam…”

Câu nói của Đức Cha Kiệt đã phát xuất tự đáy lòng đầy nổi trăn trở, trăn trở khi đứng trước cảnh bất công nên đã Ngài hiên ngang nói với Uỷ Ban thành phố Hà Nội: “chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam…”. Đây là hình ảnh quá thực tế mà những ai đã được xuất ngoại chắc cũng thấm thía như Đức Cha Kiệt khi cầm cái hộ chiếu thì được như là một ân huệ của nhà nước ban cho, cho nên lại phải làm sao để được cấp hộ chiếu nữa, vô cùng nhục nhã.

Ai cấp cái hộ chiếu Việt Nam? Có phải nhà nước “Cộng Hoà Xã Hội Chủ nghĩa Việt Nam” do đảng cộng sản độc tài lãnh đạo cấp không nhỉ?

Chính cái nước CHXHCNVN này đã làm ô danh Dân tộc Việt Nam. .” chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam…” hay nói đúng hơn là chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu do đảng cộng sản Việt Nam hay nhà nước cộng sản Việt Nam cấp.

Câu này cũng tương tự như câu phát biểu của một vị tranh đấu trong nước: “Tôi lấy làm xấu hổ khi phải sống dưới chế độ cộng sản Việt Nam”.

Câu nói của Đức Cha Kiệt lại càng phù hợp với những hành động đã và đang trải qua mà nhà nước CHXHCNVN đã đem ra áp dụng tại Thái Hà và Toà Khâm Sứ.

Không nhục sao được khi nhà nước CHXHCNVN đem những bằng chứng giả tạo ra để cố xoá tan quyền sở hữu của Dòng Chúa Cứu Thế Thái Hà, hầu chiếm dụng đất đai một cách bất hợp pháp, và đã bị các linh mục Dòng Chúa Cứu Thế Hà Nội phản đối.

Không nhục sao được khi nhà nước CHXHCNVN hứa lèo với Vatican là sẽ trả Toà Khâm Sứ, rồi phớt lờ và dùng mọi thủ đoạn để chiếm đoạt luôn, bằng các vội vả lập công viên..

Không nhục sao được khi nhà nước CHXHCNVN đánh đuổi nhà báo của hảng thông tấn AP là Ben Stocking, cho công an hành hung gây thương tích mà cả thế giới thấy rõ mồn một qua hình ảnh xuất hiện trên các trang mạng toàn cầu, rồi ông Lê Dũng đại diện cho nhà nước CHXHCNVN lại chối bai bải: không hề có chuyện an ninh đánh đập nhà báo gì cả.

Không nhục sao được khi nhà nước CHXHCNVN mới tờ mờ sáng đã đem lực lượng đầu gấu, công an đủ loại, chó nghiệp vụ và dưới sự chỉ huy của tướng công an Nguyễn Đức Nhanh điều động đội cơ giới đến cày xới, phá Toà Khâm Sứ để thực hiện một cái công viên ô nhục. Có nhà nước nào đi làm công viên theo như cách làm như nhà nước CHXHCNVN không ?

Không nhục sao được khi nhà nước CHXHCNVN đem thành phần ưu tú là con cháu của ông Hồ mang danh nghĩa Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh cùng với lũ đầu gấu đến nơi trang nghiêm thờ tự, trong lúc giáo dân đang đọc kinh cầu nguyện lại pha trò mất dạy múa hát và ca bài như có bác Hồ, bác Cáo để tìm cách khiêu khích với giáo dân.

Không nhục sao được khi nhà nước CHXHCNVN mà đại diện là Uỷ Ban Nhân dân do ông Hoàng Công Khôi ký một văn bản gọi là “Quyết định xử phạt hành chánh trong lĩnh vực đất đai” gởi Toà Tổng Giám Mục Hà Nội đã không dám đặt thẳng vấn đề tịch thu Tượng Đức Mẹ Sầu Bi và Thánh Giá được đặt tại Toà Khâm mà lại dùng lối viết văn bản mập mờ, nhằm đánh lận con đen như phạt Toà tổng giám mục Hà Nội về hành vi tự ý để các đồ vật lên thửa đất 42 phố Nhà Chung (sic). Thử hỏi tang vật và đồ vật mà công an và người của nhà nước đến tháo gở tại Toà Khâm Sứ rồi bỏ vào xe bịt bùng đem đi là tang vật gì nhỉ? Tại sao lại không dám công khai ra lệnh tịch thu Tượng Đức Me, tịch thu Thánh Giá và tại sao lại không dám công khai chở trên xe bình thường mà lại bỏ vào xe bịt bùng nhỉ?

Không nhục sao được khi nhà nước CHXHCNVN điên khùng mở chiến dịch vu cáo, nhục mạ Đức Cha Kiệt, các Cha Dòng Chúa Cứu Thế và sai khiến thành phần bất hảo đến đe dọa giáo dân cầu nguyện, nhưng có ai sợ đâu?

Nhà nước CHXHCNVN có thấy nhục nhã khi điều động bọn đầu gấu đến quậy phá giáo dân cầu nguyện tại Thái Hà, tại Toà Khâm Sứ, nhưng giáo dân vẫn cứ bình an, coi sự quấy rầy như không có, họ đặt tâm trí vào việc cầu nguyện và không một chút bận tâm, họ coi thường và họ đã thương cầu nguyện xin tha thứ cho hạng người vô liêm sĩ do nhà nước xúi bẩy.

Biết bao giờ kể hết về những chuyện nhục nhã mà nhà nước CHXHCNVN đã làm trong suốt mấy chục năm qua từ khi nhà nước của ông Hồ xuất hiện? Làm sao kể hết được? giấy vở nào đủ để viết hết được? Nội cái những người lãnh đạo của nước CHXHCNVN khi đến nước ngoài đều chuyên môn phải đi cửa hậu thôi cũng đã cảm thấy nhục nhã trăm bề rồi.

Người viết chỉ nêu sơ về sự nhục nhã của nhà nước CHXHCNVN qua vụ dùng đòn phép đê tiện nhất, để cố tình chiếm đoạt đất Thái Hà và Toà Khâm Sứ, cố tình chà đạp công lý và sự thật một cách điên rồ, qua hành động sử dụng thành phần bất hảo để thực hiện kế hoạch cả vú lấp miệng em, như một phương cách duy nhất của đảng csVN, khi phải dùng kế sách để bảo vệ sự gian dối của nhà nước một cách trơ trẻn, cũng đủ nhục nhã với toàn thế giới rồi.

Thật nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam là ở chỗ ấy.

Nói chi đến cái nhục của các nhà lãnh đạo Bắc Bộ phủ, đi đâu cũng đem cái bùa đất nước tôi nghèo lắm, để van lạy và cầu xin viện trợ với cái tựa đề raât ruột: cứu đói giảm nghèo. Thế nhưng bao nhiêu tiền viện trợ nhân đạo của các nước đổ vào cho chương trình xoá đói giảm nghèo, đều lọt vào tay các nhà đỉnh cao trí tuệ hết trơn. Nhục ơi là nhục.

Đảng đỉnh cao trí tuệ hãy nghe Đức Cha Kiệt than thở để biết lòng yêu nước của một vị Giám mục ra sao? “…chúng tôi muốn đất nước mình mạnh lên. Làm sao như một anh Nhật, nó cầm cái hộ chiếu là đi qua tất cả mọi nơi, không ai xem xét gì cả. Anh Hàn quốc bây giờ cũng thế. Còn người Việt Nam chúng ta thì tôi cũng mong đất nước lớn mạnh lắm và làm sao thật sự đoàn kết, thật sự tốt đẹp, để cho đất nước chúng ta mạnh, đi đâu chúng ta cũng được kính trọng “.

Đó là nổi trăn trở của một người yêu nước nồng nàn đó các nhà trí tuệ ơi. Đảng cộng sản Việt Nam đã làm băng hoại bao thế hệ người Việt Nam rồi. Hãy can đảm lột xác đi cho dân tộc được nhờ với. Chừng nào còn chế độ cộng sản Việt Nam cai trị đất nước thì rõ ràng ai cũng lấy làm nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam đi nước ngoài cả, chứ không phải chỉ một mình Đức Cha Kiệt mà thôi đâu.

Bởi vì nhà nước cộng sản Việt Nam đã đào tạo giới trẻ trở thành Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh để phục vụ đảng một cách điên rồ, không cần suy nghĩ, như vụ đảng đã điều động lực lượng thanh niên nhà Hồ đến nhảy múa, ca hát, quậy phá Thái Hà và Toà Kâm Sứ khi giáo dân cầu nguyện.


Ôi ! còn gì nhục nhã hơn ?


Seattle, Tháng Mân Côi 2008
Nguyễn An Quý

Việt Nam trong những ngày tháng tới

33 năm sau khi xâm chiếm miền Nam Việt Nam, đặt nền móng thống trị độc tài trên toàn đất nước, đảng CSVN đã hoàn toàn thất bại trong việc đem lại cho dân tộc Việt Nam một cuộc sống thanh bình, ấm no thịnh vượng như những lời hứa hẹn. Trên thực tế, đảng Cộng Sản Việt Nam ngày nay đã trở thành một đảng hủ hóa từ trên xuống dưới. Lãnh đạo đảng thì biến thái tư bản, bán nước và tham nhũng tài nguyên quốc gia, cán bộ đảng viên thì đua nhau bòn rút, hà hiếp, bóc lột dân. Khắp nơi tiếng oán than cao thấu trời xanh.

Kia là người phụ nữ Việt, đứng trần truồng trên bục cho ngoại nhân đến sờ mó chọn lựa như những món hàng. Kìa là trẻ thơ Việt Nam, với một khuôn mặt thản nhiên vô cảm, đưa tay làm dấu hiệu giá cho một em, trước người ngoại nhân đến mua ấu dâm. Nọ là hình ảnh hai trẻ thơ đầu quấn khăn tang khóc mẹ đi lao động xuất khẩu bị chủ nhân hãm hiếp, không chịu nổi sự nhục nhã nên vừa tự tử chết, nay lại lịm dần bên thi hài người cha vừa mới tự sát bên cạnh di ảnh người vợ. Đó là hình hài héo hắt trơ xương nằm chờ tử thần của một người già không thực phẩm… Biết bao nhiêu thảm cảnh trên đất nước không kể hết dưới chế độ cộng sản Việt Nam.

Xã hội Việt Nam ngày hôm nay dưới chế độ cộng sản được người trong nước mô tả là xã hội của những con người thiếu tử tế, thiếu nhân cách. Hay là xã hội của những con cừu ngoan ngoãn hoặc những đàn vịt chỉ biết ùa theo những nắm thóc vung ra từ tay của những kẻ lái buôn. Sự thật không biết có đúng như thế hay không? Nhưng khi nhìn vào lịch sử dân tộc, thì Việt Nam là một dân tộc đấu tranh bất khuất cho tương lai hạnh phúc giống nòi. Trong sự giây phút tuyệt vọng, lịch sử Việt Nam sẽ chuyển mình.

Đúng thế, những ngày tháng tới trên đất nước, khi những người dân Việt Nam không còn gì để bám víu, không còn gì để sợ, và không thể tiếp tục cuộc sống tôi đòi ngay trên đất nước cho ngoại bang hay cho bọn tư bản đỏ. Khi người dân Việt Nam không thể chịu đựng mãi cuộc sống vô cảm của những con người không tử tế với chính mình và với chính dân tộc, thì người Việt Nam sẽ vùng lên đòi lại những gì mà họ và gia đình đã bị chế độ cộng sản Việt Nam tướt đoạt kể từ khi chế độ nắm quyền cai trị đất nước. Cuộc đấu tranh của người trong nước tuy nhiên không cô đơn mà họ sẽ được sự trợ lực tích cực bởi những lực lượng dân tộc dân chủ hải ngoại trên mọi mặt chính trị, kinh tế, ngoại vận, quốc tế vận, trí tuệ và tài lực.

Những ngày tháng của Việt Nam sẽ là những ngày tháng hội tụ của những tâm thức Việt Nam son sắt thủy chung với vận mệnh quê hương dân tộc. Chế độ cộng sản Việt Nam sẽ phải ra đi. Người Việt trong ngoài và khắp năm châu sẽ cùng nhau viết lên trang sử mới tự do dân chủ thật sự và vĩnh cửu cho đất nước Việt Nam.

Tuệ Vân

August 9, 2008
_____________________________________
[Trích trong Lời Kết, Đặc Tập Tâm Thức Việt Nam – phát hành ngày 31 tháng 8 năm 2008]

Sunday, October 5, 2008

Thế kẹt của cộng đảng Việt Nam hiện nay - Nguyễn Chính kết


Hiện nay, cuộc đấu tranh trong nước gồm nhiều mặt:

1) Cuộc đấu tranh của dân oan đòi lại đất đai bị CSVN cướp đoạt cách bất công bằng những đơn khiếu kiện, bằng những cuộc biểu tình, đặc biệt tại Hà Nội và Sàigòn.

2) Cuộc đấu tranh của người công nhân bị bóc lột qua các cuộc đình công khắp nơi trong nước.

3) Cuộc đấu tranh của các nhà dân chủ đòi CSVN phải thực thi dân chủ đa nguyên và tôn trọng các quyền làm người của người dân.

4) Cuộc đấu tranh của giới trí thức, sinh viên chống Trung Quốc chiếm Hoàng Sa Trường Sa, đồng thời lên án hành động bán nước của CSVN qua việc bán đất nhượng biển cho Trung Quốc.

5) Cuộc đấu tranh của Tòa TGM Hà Nội và giáo dân Thái Hà đòi lại đất đai và cơ sở bị CSVN cướp đoạt mấy thập niên qua.

Ba cuộc đấu tranh của dân oan, công nhân, và các nhà dân chủ − đặc biệt của Khối 8406 − là cuộc đấu tranh thường hằng mà CSVN phải điên đầu đối phó suốt nhiều năm qua. Hai cuộc đấu tranh sau chỉ mới nổi lên gần đây nhưng lại dồn CSVN vào ngõ bí. Tất cả những cuộc đấu tranh ấy đều được các nhà dân chủ − đặc biệt các thành viên Khối 8406 − sẵn sàng yểm trợ, tiếp tay, đưa tin vì chúng luôn luôn tạo lợi thế cho cuộc đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền.

Hai cuộc đấu tranh xảy ra mới đây − Vụ Thái Hà đòi đất và vụ sinh viên biểu tình chống Trung Quốc − đã tạo cho nhà cầm quyền CSVN lâm vào thế kẹt, vì:

− Vụ Tòa Khâm Sứ và Thái Hà: CSVN đã lỡ cướp đất của Giáo Hội từ mấy thập niên trước. Tưởng nuốt trôi được những mảnh đất ấy, CSVN đã sang tay cho các chủ mới − thường là những tay tư bản đỏ, những cán bộ cấp cao trong đảng CSVN − với giấy tờ “hợp pháp” hẳn hoi, và tiền thu được đã chia chác nhau và thành của riêng hết.

Nay đảng CSVN đang thời suy tàn, móng vuốt không còn sắc bén và mạnh mẽ như “thuở tung hoành hống hách những ngày xưa” thì Tòa Giám mục Hà Nội và giáo dân Thái Hà lại lên tiếng đòi đất lại với những chứng cứ, giấy tờ hợp pháp về chủ quyền những miếng đất bị cướp. Để đối phó, CSVN đã tìm đủ mọi thủ đoạn gian trá, du côn, thậm chí hèn hạ và tiểu nhân tới cùng cực: nào là ngụy tạo giấy tờ giả, bằng chứng giả, nào là dùng truyền thông độc quyền để vu khống, nào là cho công an tay sai và xã hội đen đến đánh đập khủng bố giáo dân Thái Hà, v.v...

Tưởng dùng kế “cả vú lấp miệng em”, “sức mạnh phát xuất từ đầu súng” là sẽ giải quyết được thế bí. Nhưng những “bài cũ soạn lại” ấy đã không thành công. Kẻ cướp không sao chứng minh được cách thuyết phục việc cướp đoạt bất hợp pháp của mình là hợp pháp, hợp lý, cũng không sao chấm dứt cuộc tranh đấu rõ ràng là đầy chính nghĩa này.

Như vậy, có muốn trả lại đất cho Thái Hà và Tòa Giám Mục thì lấy đất đâu ra mà trả? Giả như có đất để trả thì cũng không trả được, vì nếu trả cho giáo xứ này, tôn giáo này thì các giáo xứ khác, các tôn giáo khác được thể sẽ ra sức đòi cho bằng được… Đảng CSVN sẽ lâm vào thế hết sức kẹt. Nhưng nếu không trả lại đất cho Thái Hà và Tòa Giám Mục thì họ cứ tranh đấu hoài; điều này làm CSVN bị mất mặt với thế giới. Dùng biện pháp mạnh để giải tán thì bị mang tiếng là đàn áp tôn giáo, bị đưa lại vào danh sách CPC; điều này khiến đảng và cá nhân các đảng viên sẽ bị thiệt hại biết bao quyền lợi!!! Thật là thiên nan vạn nan!

− Vụ biểu tình chống Trung Quốc: Việc CSVN bán đất nhượng biển cho Trung Quốc rõ ràng là một hành động bán nước mà hiện nay không sao ém nhẹm được nữa. Người dân trong nước đã nhìn thấy rất rõ ràng đảng CSVN thực chất chỉ là một đảng cướp, chỉ khác với những đảng cướp khác ở chỗ đã cướp được chính quyền mà thôi.

Một đằng thì đảng này cướp đoạt đất đai, tài sản của dân, kể cả những người dân nghèo khổ nhất, đằng khác họ lại sẵn sàng dâng đất biển của tổ quốc cho quan thầy ngoại bang − vốn là kẻ thù truyền kiếp của dân tộc − chỉ để giữ vững ngai vàng. Đúng là “đội trên đạp dưới”, đảng chẳng hề vì dân vì nước một chút nào mà chỉ vì lòng tham vô đáy cố hữu của một đảng cướp chính hiệu.

Việc biểu tình chống Trung Quốc chiếm đất chiếm biển rõ ràng là một hành động yêu nước và hết sức chính đáng mà đảng CSVN không có lý do gì chính đáng để dẹp bỏ. Nhất là việc CSVN bán đất nhượng biển cho Trung Quốc đang làm người Việt trong nước cũng như hải ngoại phẫn nộ, và sẵn sàng đoàn kết để chống lại.

Tuy nhiên đảng vẫn cố gắng hết mức dẹp bỏ mọi cuộc biểu tình bằng những hành vi hết sức phi lý, dã man, tàn bạo. Sở dĩ đảng không thể để yên cho sinh viên bầy tỏ lòng yêu nước chính đáng như thế vì điều này rất nguy hiểm cho sự tồn tại của đảng. Đảng đã lỡ lén lút ký kết những mật ước bán đất bán biển cho Trung Quốc rồi, bây giờ Trung Quốc đang đòi đảng thực thi mật ước ấy. Không thi hành những mật ước ấy thì không xong với cái đảng quan thầy của mình, vốn cũng là một đảng cướp vừa mưu mô quỷ quyệt, vừa tàn ác không kém gì mình.

Không khéo thì Trung Quốc sẽ lấy cớ đó để xâm lăng Việt Nam bằng quân sự! Điều này rất nguy hiểm vì như thế toàn bộ lãnh đạo đảng CSVN sẽ bị Trung Quốc đưa ra xử tội hết. Lúc đó vừa mất nước lại vừa mất đảng! Đáng sợ nhất là bản thân của các thành viên Bộ Chính Trị cũng chẳng được an toàn: chẳng những mất của cải, nhà cửa, mất tất cả những gì đã cướp được suốt bao năm mà còn có thể mất cả mạng nữa!

Đảng CSVN bây giờ đang ở trong thế bị ép ở giữa: một đằng người dân ép lên, một đằng quan thầy Trung Quốc ép xuống. Đảng không biết phải xử trí cách nào! Vì thế, biểu tình phản đối âm mưu chiếm đất của Trung Quốc, đồng thời tố cáo tội bán nước quá rõ ràng của đảng CSVN, là làm cho đảng CSVN lâm vào một thế hết sức bí, kẹt.

Do đó, giữa hai vụ việc trên − vụ Thái Hà và vụ chống Trung Quốc − vụ sau quan trọng và nguy hiểm hơn rất nhiều, vì nó đe doạ trực tiếp và trầm trọng tới sự sống còn của chế độ. Do đó, CSVN nhất quyết phải dẹp biểu tình của sinh viên với bất cứ giá nào, bất chấp việc biểu tình ấy có chính nghĩa hay chính đáng tới đâu, và bất chấp phải dùng những thủ đoạn đê hèn bỉ ổi nào!

Và cũng phải dẹp ngay − bất chấp việc phải dùng bạo lực − những nhà đấu tranh dân chủ nào hó hé phản đối chuyện hết sức nhạy cảm này, cho dù chỉ là tọa kháng hết sức ôn hòa ngay trước cửa nhà mình như trường hợp cô Phạm Thanh Nghiên. Để dẹp ngay từ trong trứng nước âm mưu biểu tình chống Trung Quốc của sinh viên, một đằng đảng đã bắt bớ ngay lập tức một loạt những nhà đấu tranh dân chủ mà họ nghi ngờ là những người đứng đằng sau, thúc đẩy cuộc biểu tình của sinh viên (1*); đằng khác khủng bố những sinh viên nào biểu tình, quay phim đoàn biểu tình để sau đó “bắt nguội”, dọa đuổi học những sinh viên tham gia, tìm bắt những sinh viên lãnh đạo hay hô hào biểu tình, ráng quy kết họ tội phá rối trật tự công cộng…

Vả lại, vụ Thái Hà và vụ biểu tình chống Trung Quốc, không thể xử trí hai vụ quá khó khăn này cùng một lúc được. Do đó, cần phải thanh toán trước mối nguy hiểm lớn hơn − là việc chống Trung Quốc và phản đối hành động bán nước của họ − để họ rảnh tay xử trí vụ Thái Hà + Tòa Khâm Sứ. Thời gian Hoa Kỳ và các chính khách nước này bận túi bụi với việc bầu cử tổng thống là thời gian thuận lợi nhất để ra tay thực hiện việc thanh toán này, vì các chính khách này không còn đầu óc và thì giờ để phản đối hay ngăn chặn vụ này.

Bất chấp dân chúng bất mãn nhất là giới Công giáo, bất chấp dư luận quốc tế khiến Việt Nam có thể bị đưa trở lại danh sách CPC, CSVN cố tình đàn áp mạnh tay giáo dân Thái Hà, vu cáo và hăm dọa Tổng Giám mục Hà Nội, biến hai khu đất của Giáo Hội Công giáo thành công viên. Mục đích của họ là làm cho dư luận quốc tế cũng như sự quan tâm người Việt trong và ngoài nước tập trung vào việc này mà bớt chú tâm tới tội bán đất nhượng biển của CSVN đang dồn đảng CSVN vào thế rất kẹt. Nhờ vậy, áp lực đè trên họ về việc này phần nào giảm bớt.

Việc biến đất của Tòa Khâm Sứ và của giáo xứ Thái Hà thành hai công viên cây xanh cũng là một lối hoãn binh và thoát hiểm rất khôn ngoan của đảng CSVN. Trong việc thoát hiểm này, đảng CSVN đành phải lùi một bước là buộc các chủ mới của những miếng đất trên, vốn là những đảng viên cao cấp trong đảng, phải tạm thời hy sinh mối lợi riêng của mình để cứu lấy đảng trước đã, chuyện lợi riêng thì hạ hồi phân giải.

Nếu biến hai miếng đất cướp được kia thành công viên thì hầu chắc sẽ được người dân Hà Nội ủng hộ, vì công viên phục vụ lợi ích chung: người dân Hà Nội có chỗ thoáng mát để tập thể dục, giải trí, nghỉ ngơi… Đảng lại còn được tiếng là lo cho dân. Một khi dân ủng hộ việc làm này thì họ sẽ không còn ủng hộ việc đòi đất của Tòa Giám mục Hà Nội và giáo dân Thái Hà nữa. Đợi khi tình hình lắng dịu, đảng sẽ tìm cách trả lại đất cho chủ mới vốn cùng “phe” với mình.

Đương nhiên, Tòa Giám Mục và giáo dân Thái Hà không chấp nhận để CSVN lường gạt dễ dàng như vậy. Họ đã bị CSVN lường gạt quá nhiều lần, họ sẽ không ngây thơ và thiếu trí đến nỗi để CSVN lường gạt thêm lần nữa. Chắc chắn họ sẽ tiếp tục đấu tranh. Nếu Thái Hà và Tòa Giám mục cứ nhất quyết đấu tranh, CSVN sẽ phải suy nghĩ để tìm ra những cách thoát hiểm khác, chẳng hạn tìm cách tạo sự ganh tị, chia rẽ giữa các tôn giáo để các tôn giáo đánh phá lẫn nhau.

Cũng như trước đây, đảng đã ra lệnh cho bọn tay sai tại hải ngoại và trong nước giả danh Phật giáo tung tin vô căn cứ rằng đất của Giáo Hội Công giáo bị CSVN cướp đoạt vốn là đất của Phật giáo trước đây nên đúng ra phải trả lại cho Phật giáo là một thí dụ điển hình. Nếu các tín đồ tôn giáo không sáng suốt hoặc cảnh giác thì sẽ mắc bẫy! Họ có thể tìm ra những cách thoát hiểm “thần sầu” mà những người đấu tranh khó mà đoán trước được. Chính vì thế, các tôn giáo cần phải đoàn kết, hợp lực với nhau chống lại kẻ gây ác cho xã hội, cho đất nước, đừng mất năng lực vào việc chống báng nhau.

Lênin, ông tổ của chủ nghĩa cộng sản nói: “Ở đâu có bất công, ở đó có đấu tranh”, điều đó có nghĩa: bất công là mầm mống gây ra đấu tranh. Từ trước đến nay, đảng CSVN đã gây ra cho nhân dân biết bao bất công từ những tội ác do lòng tham của họ. Nhưng họ đã cố gắng hết sức dùng khủng bố để kiềm chế, không cho đấu tranh bùng phát, đồng thời họ vẫn tiếp tục gia tăng bóc lột, cướp đoạt, gây bất công… Ít ra cho đến nay họ đã khá thành công trong việc vừa gia tăng bất công vừa kềm hãm đấu tranh. Sự thành công ấy chỉ làm cho lòng dân ngày càng căm hờn, oán thán…

Họ tưởng họ có thể tiếp tục làm như thế mãi. Nhưng khi thế lực của họ bắt đầu suy yếu thì đó cũng là thời họ phải “trả quả”. Đó chính là lúc họ không còn đủ sức mạnh để ngăn chặn thế “tức nước vỡ bờ” của lòng căm thù nơi người dân nữa. Sức mạnh của CSVN chắc chắn có hạn, và khả năng chịu đựng của người dân đương nhiên cũng có hạn. Thiết tưởng người cộng sản nên biết điều ấy!

New York, ngày 03/10/2008
Nguyễn Chính Kết

[1] Trong đợt này (tháng 9/2008), CSVN đã bắt giam hơn một chục nhà đấu tranh đấu tranh năng nổ hoạt động như Nguyễn Xuân Nghĩa (Hải Phòng), Phạm Thanh Nghiên (Hải Phòng), Phạm Văn Trội (Hà Tây), Nguyễn Văn Túc (Thái Bình), Ngô Quỳnh (Bắc Giang), Trần Đức Thạch (Nghệ An), Vũ Hùng (Hà Tây), Lê Thanh Tùng (Hà Nội), Nguyễn Văn Tính (Hải Phòng), Nguyễn Mạnh Sơn (Hải Phòng), Hà Phương (Hải Phòng), Nguyễn Kim Nhàn (Bắc Giang)…

* Source: http://tiengnoitudodanchu.org/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=6487

SÁM HỐI THẦM LẶNG CỦA MỘT NHÀ BÁO


Tôi xin phép không dài dòng để phân tích trong cuộc đối đầu giữa giáo hội Công giáo Việt Nam với chế độ Hà Nội, xoay quanh sự kiện Thái Hà & tòa Khâm Sứ, chân lý thuộc về phía nào. Vì tôi tin, bất luận ai nếu KHÁT KHAO SỰ THẬT thì không thể không tự tìm kiếm trên các website, với những chứng lý được đưa ra, để tự mình rút ra kết luận. Nếu bó rọ đầu óc chỉ đọc, chỉ xem báo chí trong nước thì không tài nào tìm được. Tôi cũng tin, trí thức đúng là trí thức thì không thể chấp nhận những thông tin một chiều, được bào chế sẵn bởi hội đồng thầy lang băm của Ban Tuyên giáo trung ương đàng CSVN (mà về mặt chuyên môn nghề thuốc cũng lắm sự đáng ngờ, vì vốn dĩ hội đồng được cơ cấu hồng hơn là chuyên). Chỉ cần biết đặt vài câu hỏi: tại sao Nhà nước XHCN Hà Nội không dám công khai đăng tải trên báo chí những chứng lý từ phía giáo hội Công giáo Việt Nam, để bàn dân thiên hạ rộng đường dư luận? tại sao, gọi là tranh chấp, Nhà nước XHCN Hà Nội không dám đưa vụ việc ra tòa án (với sự có mặt của giới truyền thông quốc tế), theo yêu cầu của giáo hội Công giáo Việt Nam, để phân xử trắng đen? Biết hỏi là đã có thể ngờ ngợ về màn kịch độc diễn đang ra rả diễn ra trên màn ảnh nhỏ, trên các mặt báo nội địa. Biết hỏi, tôi nghĩ, là phẩm chất tự trọng của người trí thức.

Giờ đây, sự kiện Thái Hà & tòa Khâm Sứ đang mang một tầm vóc mới: đòi sự thật, đòi công bằng. Hàng ngàn người dân Việt đã dám đối mặt với chế độ bạo quyền, dám vượt-qua-sợ-hãi. Sao? Không sợ hãi ư? Đó là điều khó tin được trong thể chế cộng sản. Hơn nửa thế kỷ đằng đẵng, đồng bào Việt Nam của tôi cứ lầm lũi mà sống, nói đúng hơn là "tồn tại", sống không ra sống. Người dân bị tước đoạt quyền sống. Đang mưu sinh, đột ngột tai họa từ trên rơi xuống, chính quyền các cấp hoặc trung ương hoặc địa phương giở ra những trò "qui hoạch", đền bù bằng món tiền còi cọc hoặc cướp trắng dưới chiêu bài "sở hữu toàn dân", đẩy đồng bào của tôi ra đường. Công an đe nẹt, chính quyền hù doạ, và thế là không ít đồng bào tôi riu ríu chấp nhận, sợ hãi, sống vật vờ, và chờ chết.

Sao? Không sợ hãi ư? Hàng ngàn người dân Việt hiền hòa nhưng không chấp nhận hèn nhát, đã có mặt ở Thái Hà để lên tiếng, trong tinh thần bất bạo động. Điều đó đã làm rúng động tâm can, phá vỡ sự sợ hãi đè nặng, làm giật mình lương tâm. Trong đó có bạn tôi, một nhà báo…

& 2 &

Tôi đưa bạn tôi đến dự đêm thắp nến cầu nguyện tại Nhà thờ Dòng Chúa Cứu thế. Người bạn muốn hình dung về không gian tâm linh nào giúp vượt thắng sự sợ hãi. Thế rồi, một sự việc xảy ra đối với người bạn. Một cô gái nhận ra anh nhà báo, cô lắp bắp hỏi, "Anh …anh cũng đến đây hả", với sự e dè tột độ. Vài người gần đó nghe chuyện, đưa mắt nhìn. Cũng may, cô gái đó bỏ đi. Cũng may, chỉ vài người biết. Tại sao người ta lại nhìn tôi với ánh mắt dè chừng …, anh bạn nhà báo sau đó buồn rầu nói với tôi trong quán nước mà chúng tôi ghé lại khi đêm thắp nến cầu nguyện đã dứt. Tại sao họ tỏ thái độ ngờ vực tôi, tôi có phải là công an đâu, người bạn tôi thốt lên, tôi cảm thấy đau vì nhận ra trong ánh mắt e dè của dân một sự khinh bỉ giấu kín.

Tôi không biết giải thích ra sao để người bạn bớt "sốc". Bạn tôi là một người thầm lặng, không giống với cánh nhà báo ầm ào, họ khoái ăn to nói lớn nhưng … khi gặp phải "vấn đề nhạy cảm chính trị" thì ngay lập tức kín miệng như bưng hoặc thay đổi thái độ, để thủ thân hoặc tệ hơn là kiếm chác.

Dòng người ở Thái Hà nằm trong một khung cảnh trỗi dậy của nhu cầu về sự thật bị bức hại, trên toàn cõi đất nước Việt Nam hôm nay. Người dân xuống đường khiếu kiện vì bị tước mất quyền tư hữu đất đai một cách sỗ sàng, tức bị tước quyền sống, lúc nổ ra ở Hà Nội, lúc nổ ra ở Sài Gòn, lúc bùng lên tại Cà Mau …, trong đó có không ít bà mẹ từng nuôi giấu cán bộ cộng sản dưới hầm thời chiến tranh. Mặc mưa to gió lớn quất vào tấm thân còm cõi, mẹ vẫn đội sớ biểu tình. Vừa khóc vừa giận, không ít bà mẹ bảo nếu biết tụi bây (nhà cầm quyền) trở mặt như vầy thì hồi đó tao đậy nắp hầm cho tụi bây chết ngộp cho rồi. Sự phản bội, nhẫn tâm như muối chà xát vào ruột của mẹ già. Trước nỗi đau tím ruột tím gan đó, trên báo chí nội địa, ta thấy gì? "Có kẻ thù xúi giục…". Nói, viết như thế là bất hiếu đối với mẹ, là hỗn xược, khinh miệt đối với dân.

Bạn tôi kể, trong hồi ký cuối đời của nhà văn Nguyễn Khải – một "cán bộ viết văn" đã tỉnh ngộ viết như sau: "Trong nửa thế kỷ sống dưới sự lãnh đạo của một Đảng theo học thuyết Mác Lê, tôi luôn luôn được nhắc nhở phải tôn trọng quần chúng, sức mạnh của quần chúng có thể thay đổi dòng chảy của lịch sử và số phận của nhiều cá nhân. Nhưng cũng thật trớ trêu, không có một chế độ cộng hoà nào ở thế kỷ 20 lại dám coi thường quần chúng như tại các nước xã hội chủ nghĩa." Còn luật sư Nguyễn Mạnh Tường vạch trần, "Người ta (nhà cầm quyền cộng sản) tự cho phép làm những việc không thể tưởng tượng được, bách hại dã man, điên rồ bỉ ổi. Không ai dám nhìn vào bên trong cái hỏa ngục, trong đó diễn ra những tội ác chỉ có trong thời kỳ thế mạt, làm mất hết nhân phẩm, nhân tính" .

Báo chí trong nước từng có những lúc đua nhau tôn vinh nhà văn Nguyễn Khải trước những sản phẩm văn học "đi đúng một lề", nhưng hiện nay vờ quên đi, không dám nhắc đến hồi ký cuối đời của nhà văn. Một sự dối trá trước người đọc. Bạn tôi nhắc đến lời phát biểu trước đây của ông Trần Quốc Thuận, đại biểu Quốc hội: "Cái lớn nhất bị mất, đó là đạo đức. Chúng ta sống trong một xã hội mà chúng ta phải tự nói dối với nhau để sống. Nói dối hằng ngày nên thành thói quen".

Nói dối leo lẻo, đi kèm với sự xúc xiểm. Khi thượng tọa Thích Quảng Độ hiên ngang đứng giữa vòng vây của công an, để chia sẻ nỗi đau mất đất mất nhà của dân, lúc ấy báo chí nói gì? Chỉ rặt giọng điệu xúc xiểm, "có kẻ thù xúi giục" . Khi giám mục Ngô Quang Kiệt dõng dạc lên tiếng trước mặt chính quyền Hà Nội, để bảo vệ quyền tuyên xưng đức tin, tự do tín ngưỡng (quyền, chứ không phải ân huệ xin-cho), lúc ấy báo chí nói gì? Chỉ rặt giọng điệu xúc xiểm, "có kẻ thù khích động" .

Viết báo, làm báo như thế - người bạn nhà báo nói – nhục lắm.

& 3 &

Hàng ngàn người dân Việt đòi hỏi sự thật tại Thái Hà & tòa Khâm Sứ: họ tiếp nối tâm huyết của một Nguyễn Trường Tộ - trí thức Công giáo dám lên tiếng trước triều đình nhà Nguyễn hủ lậu. Nguyễn Trường Tộ đã "thua", nếu nhìn với cặp mắt thiển cận, vị kỷ cá nhân. Nhưng tinh thần Nguyễn Trường Tộ đã chiến thắng ngạo nghễ, được ghi vào lịch sử Việt Nam. Cũng may một thời chúng ta có những người viết sử tử tế, họ không "phân biệt lý lịch", "khoanh vùng" Nguyễn Trường Tộ rằng ông là người Công giáo để xúc xiểm đó chỉ là cuộc tranh chấp giữa giáo dân Công giáo với chế độ cầm quyền. Trên hết, Nguyễn Trường Tộ là một người yêu nước nhiệt thành, yêu nước đớn đau trước cơ đồ đất nước đang rơi dần vào chỗ suy vong.

Trí thức chân chính thì không phân biệt thượng tọa Thích Quảng Độ là đấu tranh vì quyền lợi nội bộ của Phật giáo Việt Nam thống nhất. Trí thức chân chính thì không phân biệt giám mục Ngô Quang Kiệt lên tiếng vì quyền lợi nội bộ của Công giáo Việt Nam. Sự phân biệt, trong một sự vô tình nhất (ở đây loại trừ sự cố ý vì a dua theo nhà cầm quyền), sẽ vô tình mắc lỡm rơi vào sự biện hộ cho bạo quyền. Thượng tọa Thích Quảng Độ, giám mục Ngô Quang Kiệt - cả hai vị lên tiếng vì lòng từ bi, vì sự bác ái. Cho hàng triệu dân đen bị tước đoạt nhân quyền.

Nói được lời tử tế như ông Trần Quốc Thuận là hiếm, sám hối tử tế như nhà văn Nguyễn Khải là hiếm. Tử tế trong tác nghiệp báo chí càng hiếm: người bạn của tôi bảo, có lẽ … cũng có vài tờ báo nào đó trong hơn 600 cơ quan báo chí hiện nay dám "luồn lách" để không đăng tin bài xúc xiểm. Thế nhưng, ăn làm sao, nói làm sao với lương tâm khi chẳng may – bạn tôi bứt rứt – nếu phải sống trong một tờ báo mà ở đó, người ta cung cấp những viên độc dược tin tức (theo toa thuốc của hội đồng lang băm tuyên giáo trung ương đảng CS)?

Màn đêm nặng trịch phủ xuống. Chúng tôi chia tay.

Mới gần đây, tôi được biết người bạn nhà báo vừa làm đơn nghỉ việc ở tờ báo nọ. Bạn tôi là nhà báo thầm lặng, nên tôi xin không nêu danh tính ra đây. Vậy là …người bạn nhà báo bắt đầu một chặng đường kiếm sống rất gian nan, khi trở về với đời sống đầy gập ghềnh của dân, khi từ khước những bổng lộc mà cánh báo chí "chính thống đi theo một lề" vẫn thường được ban phát.

Tôi chỉ muốn nói với người bạn: trong dòng chảy thầm lặng hiện nay của đồng bào Việt Nam, còn nhiều lắm những người biết sống tử tế với lương tâm của chính mình. Bạn đừng nên nhọc lòng trước những lý lẽ quàng xiên của chính quyền, vì hai lẽ: 1/ đây là thời đại, nói như nhà văn Nguyễn Khải, "kẻ vô luân nói chuyện đạo đức, tên ăn cắp dạy dỗ phải bảo vệ của công" , 2/ tất cả sự dối trá của bạo quyền sẽ tan vỡ ngay, nếu đất nước này có được tự do ngôn luận.

Nói đâu xa, nhà nước XHCN Hà Nội yêu cầu giám mục Ngô Quang Kiệt, trước đó là thượng tọa Thích Quảng Độ và một số nhà đấu tranh dân chủ là "không được vi phạm pháp luật" … Trong khi đó, thủ tướng cộng sản Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố "Cấm báo chí tư nhân" , ăn nói vi phạm Hiến pháp cỡ đó, vi phạm trắng trợn, ai xử lý? Kẻ ngồi xổm trên luật, ăn cướp luật, biến luật thành mớ giấy lộn thì lại dạy dỗ người khác phải bảo vệ luật. Còn hơn một tấn hài kịch.

Chỉ thương cho đồng bào tôi không thể cười mà phải ứa máu và nước mắt, phải chịu đựng tấn tuồng lố bịch kéo dài hơn nửa thế kỷ đằng đẵng. Tôi cũng phải sám hối vì những lúc không dũng cảm sống cho ra con người, sám hối như người bạn nhà báo thầm lặng …

Đặng Ái Quốc

VietCatholic News (Chúa Nhật 05/10/2008 02:05)

Friday, October 3, 2008

MỘT VỊ LÃNH ĐẠO CÓ TẦM CỠ

Đức TGM Giuse Ngô Quang Kiệt

VietCatholic News (Thứ Sáu 03/10/2008 09:47)
"Giết Tổng Giám Mục Kiệt"!

Đó là những tiếng hô rợn người của một đám đông gồm mấy trăm con người điên loạn vừa la hét vừa đập phá tại linh địa Đức Bà vào đúng 0 giờ 05 phút tại Thái Hà được Vietcatholic ghi lại rất tỷ mỷ trong bản tin ngày 22-09-2008. Điều đáng ghi là sự việc trên đây diễn ra trước sự chứng kiến của những viên chức có trách nhiệm bảo vệ an ninh trật tự. Câu hỏi đặt ra là do đâu mà Đức Tổng Giám Mục Hà Nội Ngô Quang Kiệt trở thành người không chỉ đáng ghét, mà thậm chí đáng giết chết như vậy. Để thử tìm câu trả lời, ta hãy tiếp tục ghi nhận một số sự kiện xảy ra trước đó.


"Cảnh cáo" ông Ngô Quang Kiệt

Vẫn theo VietCatholic (Chúa nhật 21-09-2008) thì ngày 21-09 UBND Thành phố Hà Nội đã có công văn số 1370/UBND-TNMT về việc "cảnh cáo ông Ngô Quang Kiệt, Tổng Giám Mục Hà Nội":

• 1. Dừng ngay các hành vi vi phạm pháp luật. Nếu không sẽ bị xử lý theo quy định của Luật. Đồng thời có trách nhiệm vận động các giáo sỹ, giáo dân chấp hành đúng các quy định của pháp luật, không được tổ chức hoạt động tôn giáo trái phép, khẩn trương di chuyển tượng, thánh giá... về đúng nơi thờ tự.

• 2. Không được tổ chức các hoạt động thông tin tuyên truyền với nội dung xuyên tạc, kích động, lợi dụng, lôi kéo giáo sỹ, giáo dân vào các hoạt động vi phạm pháp luật.

Nhưng muốn biết do đâu mà có công văn này thì câu trả lời không khó, đó là từ cuộc họp giữa một bên là phái đoàn Toà TGM Hà Nội do chính Đức Tổng Giám Mục dẫn đầu và bên kia là UBND Tp. Hà Nội, dẫn đầu là ông Chủ tịch Nguyễn Thế Thảo, cuộc họp diễn ra cùng ngày 20-09 trước khi có công văn nói trên. Khi tường thuật lại cuộc họp này, báo đài Nhà Nước đã trích ra một câu nói của Đức Tổng, cắt bỏ ngữ cảnh của câu văn để có cớ kết án ngài. Nguyên văn câu nói của Đức Tổng như sau: Do đó, chúng tôi xin nhắc lại, chúng tôi rất mong muốn xây dựng một khối đại đoàn kết dân tộc. Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam, đi đâu cũng bị soi xét, chúng tôi buồn lắm chứ, chúng tôi mong muốn đất nước mình mạnh lên. Làm sao như một anh Nhật nó cầm cái hộ chiếu là đi qua tất cả mọi nơi, không ai xem xét gì cả. Anh Hàn Quốc bây giờ cũng thế. Còn người Việt Nam chúng ta thì tôi cũng mong đất nước lớn mạnh lắm và làm sao thật sự đoàn kết, thật sự tốt đẹp, để cho đất nước chúng ta mạnh, đi đâu chúng ta cũng được kính trọng. Cả câu văn là như thế, nhưng báo đài chỉ giữ lại mấy chữ: Chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam để kết tội Đức Tổng Giám Mục Hà Nội là miệt thị dân tộc đất nước mình, gây bức xúc phẫn nộ trong nhân dân Thủ đô. Nhưng đây chỉ là cái cớ, vì khi trích dẫn lời Đức Tổng Kiệt, người ta đã cố tình cắt bỏ ngữ cảnh khiến cho phần còn lại diễn tả ý tưởng ngược với ý của người nói. Vậy đâu là lý do sâu xa của thái độ hằn học đến tột độ như thế.

Quyền chứ không phải ân huệ

Cũng trong lời phát biểu trước UBND Tp. Hà Nội, Đức Tổng Giám Mục Hà Nội đã nói: Trước hết ông chủ tịch có nói rằng: Uỷ ban nhân dân TP đã tạo rất là nhiều điều kiện cho Giáo Hội Công Giáo trong những năm qua nhất là dịp Lễ Noel… chúng ta phải công nhận trong những năm gần đây có nhiều điều kiện, thế tuy nhiên khi như thế, khi nói tạo điều kiện vẫn còn mang cái tâm lý xin cho: tức là cái này là ân huệ tôi ban cho anh đó. Nhưng mà cái tôn giáo là cái quyền tự nhiên con người được hưởng. Và nhà nước vì dân cho dân phải có trách nhiệm tạo cái điều đó cho người dân chứ không phải cái ân huệ chúng tôi xin. Không có. Tự do tôn giáo là quyền chứ không phải là cái ân huệ "xin cho". Phải xem đoạn video của Vietcatholic khi nghe Đức Tổng Giám Mục nói những lời này với phong thái tự do thanh thản, với giọng nói đanh thép, ta mới hiểu: đây không phải là một người đi xin, nhưng là một người đi đòi, đòi cái quyền tự do đã bị tước đoạt. Và theo tôi, đây mới thực sự là lý do khiến nhà cầm quyền cộng sản nhảy chồm lên như người bị điện giựt: cả gan đụng đến quyền. Khi tôi đi đòi lại cái quyền của tôi, điều đó có nghĩa là quyền của tôi đã bị tước đoạt, đã bị đánh cướp.

Ai đã nói trước?

Dễ thường có người trách Đức Tổng Kiệt tại sao khi không lại nhảy vào ổ kiến để chuốc hoạ vào thân! Thưa đối thoại ôn hoà, kiên tâm chờ đợi đã bao nhiêu năm rồi, nay khi UBND Tp. HN cho xe ủi đến Toà Khâm Sứ thì mọi niềm hy vọng đối thoại ôn hoà đã tiêu tan. Nhưng có một điều quan trọng mà ta không được phép quên là khi Đức Tổng Giảm Mục Hà Nội phản bác cơ chế "xin-cho" thì ngài chỉ nói một chuyện bình thường mà ai cũng nghĩ, nhưng nhất là ngài chỉ lặp lại một điều HĐGM/VN đã nói trong thư ngỏ gửi đến các nhà lập pháp Nước ta sau Đại hội các Giám mục năm 2002. Xin trích một đoạn:

• Xoá bỏ khuyết tật lớn thứ hai là cơ chế bất công và tha hoá con người.

• Cơ chế xin-cho là một điển hình về cơ chế bất công và tha hoá. Cơ chế xin-cho là một cơ chế bất công và tha hoá con người vì những lý do sau đây:

• Cơ chế xin-cho biến những quyền tự do của công dân thành những thứ quyền Nhà Nước nắm trong tay và ban bố lại cho người dân dưới dạng những cái phép. Như thế cơ chế xin-cho vừa xoá đi các quyền tự do của người dân, vừa biến một Nhà Nước của dân, do dân và vì dân thành một chủ nhân ông nắm trong tay các quyền tự do của người dân và thi ân cho họ theo cảm tính hoặc ngẫu hứng của mình.

Và Khi Đức Tổng Giám Mục Hà Nội công khai phản bác cơ chế "xin-cho" trước nhà cầm quyền Hà Nội thì ngài đã đứng vào thế tranh đấu để đòi lại quyền của mình. Đó mới là lý do khiến lãnh đạo Hà Nội nhảy chồm lên và một mặt dùng tất cả các phương tiện nhân lực (công an, cảnh sát cơ động, dân phòng, đoàn TN Cộng sản HCM), vật liệu (dùi cui, roi điện…) kể cả chó nghiệp vụ trong việc giải toả khuôn viên Toà Khâm Sứ để làm công viên với tốc độ nhanh chưa từng thấy trong lịch sử xây dựng, mặt khác sử dụng báo đài để xuyên tạc, mạ lị người đứng đầu Giáo Hội Công Giáo thuộc giáo tỉnh miền Bắc.

Từ ngạc nhiên đến phẫn nộ và tìm cách trả thù

Trở lại với cuộc gặp gỡ giữa phái đoàn Toà Tổng Giám Mục Hà Nội với UBND Tp. HN, sau khi ông Chủ tịch Nguyễn Thế Thảo kể lể các ân huệ Thành phố đã ban cho Giáo Hội trong những năm qua nhất là vào dịp Noel, điều ông chờ là một lời "cám ơn Nhà Nước đã tạo điều kiện thuận lợi, v.v…" (đây vốn là thứ văn chương ta thường nghe từ phía lãnh đạo tôn giáo của ta sau những dịp lễ khánh thành nhà thờ, truyền chức linh mục, khấn dòng…), thế nhưng thay vì lời cám ơn ông chờ đợi, ông lại được nghe, và có lẽ lần đầu tiên, lại từ phía vị lãnh đạo cao cấp nhất của giáo tỉnh Công Giáo miền Bắc: vấn đề ở đây không phải là ân huệ, mà là quyền. Nói rõ rà: Tôi không đi xin ơn, mà là đi đòi quyền. Điều này không chỉ đụng đến cá nhân ông Chủ tịch hay UBND do ông cầm đầu, nhưng đụng ngay đến chế độ độc tài toàn trị vốn coi dân như cỏ rác.

Tầm vóc người lãnh đạo

Câu nói cũng như phong cách Đức Tổng Kiệt cho thấy ngài là một vị lãnh đạo có tầm cỡ. Và đằng sau chiến dịch rầm rộ để mạ lị và cô lập ngài, ta như sờ thấy được nỗi e sợ của nhà cầm quyền vốn đã quen nghe những lời lẽ nhún nhường từ bao năm nay. Nhưng nhìn từ góc độ người tín hữu Công Giáo, ta phải tạ ơn Thiên Chúa đã cho Giáo Hội Việt Nam một vị lãnh đạo không chỉ ôn hoà, khôn ngoan, nhưng vô cùng can đảm.

Kết Luận

Khi tôi viết những dòng này thì đã có tin tức về cuộc gặp gỡ giữa bốn vị đại diện HĐGM/VN với Thủ Tướng Chính Phủ. Mất công ra tận thủ đô để cuối cùng nghe "bổn cũ soạn lại" quan điểm của Nhà Nước Việt Nam về vấn đề đất đai…, tôi thầm nghĩ: chỉ uổng tiền mua vé máy bay và mất thì giờ. Đến nông nổi này thì chẳng còn ai tin là có thể đối thoại với nhà cầm quyền Cộng sản. Điều đáng lưu ý là trong cuộc gặp này các vị đại diện HĐGM đã được giao sứ mạng "dạy dỗ" Đức Tổng Kiệt. Xem ra Đức Tổng Giám Mục Hà Nội đang là nỗi e sợ ngay của những vị lãnh đạo cao cấp nhất của chế độ. Điều này cho thấy họ đã nhận ra tầm cỡ của người đứng đầu giáo tỉnh Công Giáo miền Bắc: Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt.

Sài-gòn, ngày 01 tháng 10 năm 2008
LM Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh, ofm
***

Vài Giòng Tiểu Sử


Đức Tổng Giám Mục Hà Nội Ngô Quang Kiệt sinh ngày 4 tháng 9 năm 1952 có tên thánh là Giuse lúc nhận phép rửa tội tại Lạng Sơn, Việt Nam. Di cư vào Nam năm 1954, và năm1964 Đức Cha Kiệt theo học tại Tiểu Chủng Viện Thánh Têrêsa Giáo Phận Long Xuyên. Năm 1972 Đức Cha theo học Đại Chủng Viện thánh Tôma và phục vụ tại Nhà Thờ Chính Tòa Long Xuyên.

Sau năm 1975, Ngài không được nhà nước CSVN cho nhận chức Linh Mục, và phải chờ cho tới ngày 31 tháng 5 năm 1991 mới được tấn phong Linh Mục tại địa phận Long Xuyên. Cũng tại địa phận này, Đức Giám Mục Bùi Tuần của Giáo Xứ Cao Mộc là một vị kỳ tài, một học giả uyên bác đã từng dạy cho nhiều nhân tài xuất chúng... Năm 1993, Đức Cha Kiệt theo học tại Học viện Công giáo Paris (Institut Catholique de Paris), Pháp.

Ngày 3 tháng 6 năm 1999, Ngài được Tòa thánh Vatican bổ nhiệm Giám mục chánh tòa Giáo phận Cao Bằng Lạng Sơn. Ngày 29 tháng 6 năm 1999 chính thức được thụ phong Giám Mục. Ngày 26 tháng 4 năm 2003 được bổ nhiệm làm Giám Quản Tông Tòa Giáo phận Hà Nôi. Ngày 19 tháng 2 năm 2005 được bổ nhiệm làm Tổng giám mục Giáo phận Hà Nội.

Điệp Khúc Thiện Thật, Thiện Giả Của Bọn Ếch Nhái Đểu Cáng Lại Vang Lên

Ngục sĩ Nguyễn Chí Thiện
Sau khi ông Nguyễn chí Thiện lên đài SBTN mới đây để phát biểu một vài vấn đề đấu tranh dân chủ chung với các ông Bùi Tín, Bùi Diễm v..v thì một chiến dịch đánh phá tên tuổi của nhà thơ được một số báo và một vài trang mạng đăng lên để tạo sự nghi kỵ về uy tín của nhà thơ nối tiếng lừng danh này. Có lẽ tôi cũng xin nêu lên vài lý luận và bằng chứng để chứng minh ông Nguyễn chí Thiện đang có mặt ở hải ngoại đích thực là tác giả tập thơ mà không có lời vu cáo bẩn thỉu đê tiện nào có thể bôi xấu và bác bỏ được chuyện Nguyễn chí Thiện là tác giả tập thơ. Cũng mong bài viết này sẽ rèn luyện thêm cách thức lý luận, óc phán đoán cho một số người đôi khi hoang mang trước chiến dịch bôi bẩn đầy ác ý nhằm chôn vùi tên tuổi Nguyễn chí Thiện.
Phải nói rất may cho tác giả Nguyễn chí Thiện là tập thơ Hoa địa ngục khi được giao cho Tòa đại sứ Anh là một tập thơ được viết tay chứ không phải đánh máy. Chứ nếu tập thơ được đánh máy thì giờ này ai cũng nhảy vào tự xưng là tác giả tập thơ được cả. Ông Nguyễn chí Thiện hiện nay ở hải ngoại là tác giả đích thực của tập thơ vì ông là người có nét chữ giống y chang nét chữ của những bài thơ trong tập thơ. Đây là khẳng định có tính cách khoa học.
Lúc tạp chí Văn Nghệ Tiền Phong xuất bản tập thơ của Nguyễn chí Thiện dưới nhan đề "Bản chúc thư của một người Việt Nam" ( 192 bài thơ bi hùng), tạp chí này có cho trích đăng lá thư viết bằng tiếng Pháp của nhà thơ kèm theo với tập thơ . Đặc biệt vì có sự ăn cắp tập thơ có liên quan đến ông Nguyễn Hữu Hiệu và ông Ngụy Trúc của báo Văn Nghệ Tiền Phong nên tạp chí Văn Nghệ Tiền Phong có cho trích đăng một đoạn của bài thơ "Đồng lầy" ở trang 209 và 210 để giải thích mọi chuyện. Thế là qua bức thư bằng tiếng Pháp và ảnh chụp một phần bài thơ Đồng lầy, người ta đã nhìn thấy thủ bút của tác giả tập thơ.
Trong Tuyển địch Việt - Anh Hoa địa ngục của Nguyễn ngọc Bích (do Tổ Hợp xuất bản miền Đông Hoa Kỳ xuất bản năm 1996) có đăng lá thư tay của ông Nguyễn chí Thiện viết cho giáo sư Nguyễn ngọc Bích ở đầu cuốn sách đề ngày 6 tháng 12 năm 1995. Như vậy ta đã có bút tích của nhà thơ trong lần xuất bản đầu tiên năm 1981, và thủ bút của ông Nguyễn chí Thiện viết cho giáo sư Bích năm 1995. So sánh hai nét chữ thì rõ ràng là của một người. Người đó là Nguyễn chí Thiện. Ai muốn có 3 bản bút tích này để so sánh tìm hiểu chuyện Thiện thật, Thiện giả xin mời gửi email về địa chỉ (dalatogo@yahoo. com) và ghi rõ địa chỉ nhà. Tôi sẽ gửi 3 bút tích này tặng quý vị miễn phí để tìm tòi nghiên cứu. Nếu không vẫn còn không tin tưởng xin mang đến một chuyên viên kiểm tự để nhờ kiểm tra. Đó là cách hay nhất để kiểm tra ông Nguyễn chí Thiện hiện nay ở hải ngoại có phải là tác giả tập thơ hay không?
Cách đây vài chục năm có kẻ tung ra cuốn Hồi ký của trùm Đức quốc xã Hitler. Tờ báo chính trị uy tín của Hoa kỳ là tờ Newswêek của Mỹ chút xíu nữa là bị hố khi tính trích đăng cuốn Hồi ký này. Nhưng rồi các chuyên viên kiểm tự quốc tế nhảy vào làm việc để truy tìm có phải là của Hitler thật không? Họ lấy chữ viết của Hitler và so sánh với chữ viết của cuốn hồi ký và đưa ra lời kết luận đây là cuốn hồi ký giả. Nói như vậy để thấy yếu tố chữ viết là yếu tố quyết định trong chuyện truy tìm ai là tác giả của tác phẩm. Chuyện giả chữ viết chỉ qua mắt người thường, không thể qua mắt chuyên viên kiểm tự chuyên nghiệp. Chữ viết có thể nói là đấu tay của mỗi người, không bao giờ có thể lẫn lộn với người khác được.
Ai là người đưa tên tuồi và hình ảnh nhà thơ Nguyễn chí Thiện ra hải ngoài. Người đầu tiên lên tiếng tác giả tập thơ là Nguyễn chí Thiện là ông Minh Thi, bạn tù của nhà thơ. Ông Minh Thi hiện sống tại quận Cam, California, Hoa Kỳ. Người đưa hình ảnh nhà thơ Nguyễn chí Thiện đến với đồng bào hải ngoại là ông Trần Nhu, cũng là một bạn tù của nhà thơ. Ông Nhu liên lạc về người chị tên Hảo của nhà thơ ở Hà Nội để xin ảnh ông Thiện. Ông Trần Nhu hiện sống ở San José.
Rồi đến hai người bạn tù nổi tiếng cũng làm chứng cho ông Nguyễn chí Thiện ở hải ngoại là tác giả của tập thơ Hoa địa ngục là Linh mục tranh đấu Nguyễn văn Lý và nhà văn Vũ thư Hiên. Năm 2000 có anh Phạm văn Thành ở Pháp đã liên lạc để xác minh Nguyễn chí Thiện ở hải ngoại là tác giả tập thơ.
Linh mục Lý đã khẳng định Nguyễn chí Thiện là bạn tù và là tác giả tập thơ. Còn nhà văn Vũ thư Hiên trong cuốn hồi ký nổi tiếng "Đêm giữa ban ngày" cũng có nhắc đến Nguyễn chí Thiện cùng những vần thơ của ông Thiện mà ông Hiên còn nhớ được. Những vần thơ này dĩ nhiên nằm trong cuốn thơ Hoa địa ngục. Linh mục Lý hiện nay đang ở tù, ai có thắc mắc có thể nhắn lời nghi vấn cho thân nhân để khi thân nhân vào thăm cha Lý, sẽ hỏi chuyện Thiện thật, Thiện giả cho rõ trắng đen. Còn nhà văn Vũ thư Hiên đang định cư ở Pháp, ai có thắc mắc gì về chuyện Nguyễn chí Thiện xin mời điện thoại cho ông Hiên để tìm hiểu sự thật và không nên hoang mang trước luận điệu bôi bẩn rẻ tiền của bọn tay sai Cộng sản đang tính chuyện vùi dập tên tuổi Nguyễn chí Thiện. Dĩ nhiên Linh mục Nguyễn văn Lý và nhà văn Vũ thư Hiên sẽ không bao giờ làm chứng gian cho tác giả Nguyễn chí Thiện nếu ông Thiện không phải là bạn đồng tù và là tác giả tập thơ.
Nhà thơ Nguyễn chí Thiện cho biết, khi đưa tập thơ vào tòa Đại sứ Anh năm 1979, ông có để rõ nhan đề tập thơ là Hoa địa ngục, đề rõ tên Nguyễn chí Thiện kèm với vài cái ảnh, trong đó có ảnh ông chụp với gia đình hồi thanh niên. Có lẽ vì vấn đề tế nhị ngoại giao và vì sự an nguy của nhà thơ nên khi tập thơ được tung ra, chính phủ Anh đã không công bố tên tác giả, và điều đó làm cho nhà thơ khá buồn bực kể từ khi ông đến bến bờ tự do
vì bị bọn tiểu nhân đánh phá bổi bẩn kể từ khi tập thơ đến với người đọc hải ngoại năm 1981.
Hy vọng bài viết này sẽ làm sáng tỏ những uẩn khúc hoang mang của một số người từ trước đến này đã bị bọn lưu manh tay sai cộng sản đầu độc bằng những luận điệu gian trá, ác ý và phản khoa học. Nguyễn chí Thiện là một đóa sen quý, dù bị bọn tiểu nhân bôi bẩn, đóa sen vẫn tỏa hương thơm ngát, và tập thơ Hoa địa ngục mãi mãi là một vũ khí đấu tranh lợi hại chống cộng sản mà bọn tay sai Cộng sản không bao giờ có thể vô hiệu hóa được.
Los Angeles, một đêm trăng sáng cuối tháng 9 năm 2008
TRẦN VIẾT ĐẠI HƯNG

dalatogo@yahoo.com

Thursday, October 2, 2008

Thái Hà - Tòa Khâm sứ :

Suy tư từ vụ Thái Hà - Toà Khâm Sứ
Nhã Nam
01/10/2008

Là một người làm báo, hiện đang phục vụ cho cơ quan ngôn luận của nhà nước XHCN Việt Nam. Theo dõi sát sao vụ tranh chấp đất của giáo xứ Thái Hà và Toà Khâm Sứ (TH – TKS) trong thời gian qua, tôi vô cùng thất vọng trước cách hành xử của chính quyền và cơ quan ngôn luận. Vì lẽ ấy, cảm thấy đã đến lúc cần phải bày tỏ ý kiến của mình dưới khía cạnh của người làm báo, để góp phần gạn đục khơi trong sự kiện này. Như sau:

HỔ THẸN NHỮNG BỒI BÚT – BỒI HÌNH

Người cầm bút viết báo, tiên vàn đòi hỏi phải có đức tính "trung thực". Hơn ai hết, những đồng nghiệp báo hình ở đài truyền hình Việt Nam (VTV) và những đồng nghiệp báo viết trong nước "rất hiểu rõ" điều này. Nhất là trong thời đại dân trí vươn cao như ngày nay, khi phương tiện thông tin quá thuận lợi, dễ dàng xâm nhập đến từng ngõ ngách, từng gia đình, từng cá nhân… Thì tính "trung thực" lại càng phải được đề cao hơn nữa, bởi không thể dễ dàng lừa gạt công luận như thời bao cấp. Chỉ một cú nhấp chuột tại nhà, thì mọi diễn biến trên khắp thế giới này, người ta có thể ngay lập tức rõ tường tận dưới nhiều góc cạnh. Điều sơ đẳng ấy hà tất phải nói ra với đồng nghiệp làm gì? Đau lòng thay! Lại cần phải nói, nói nhiều hơn, nói rõ ràng nhất trong lúc này. Sở dĩ phải "ôn tập" như thế vì có những đồng nghiệp hắc lương tâm, đã bẻ cong ngòi bút, đã phỉ báng báo giới, đánh mất mình để trở thành "tay sai" hạ đẳng phục vụ cho ác tâm của một lũ người, cho bọn "cường hào ác bá" thời đại mới, những kẻ đang phá hoại đất nước, phá hoại tinh thần đại kết dân tộc "dưới lốt nhà cầm quyền".

Ở đây, tôi muốn để cập đến hành vi xuyên tạc câu nói của TGM Ngô Quang Kiệt.

Nếu trong tay có chính nghĩa, tại sao không cho đăng "nguyên văn" bài phát biểu của TGM Kiệt hầu rộng đường dư luận? Người dân đủ trình độ hiểu biết, đủ trí óc phán đoán đúng sai trong đó, để biết nên đứng về bên nào! Ấy thế mà đồng nghiệp của tôi lại giở thủ đoạn cắt đầu, xén đuôi, biến "một đoạn thoại" thành "một câu thoại" mang ý nghĩa khác, thâm độc và nham hiểm vô cùng với cách làm này!!! Đáng hổ thẹn, hổ thẹn ngàn lần! Khi đài truyền hình trung ương, những tờ báo của một nước tự hào có bốn ngàn năm văn hiến, lại trơ trẻn vạch lưng cho thế giới thấy mình là quân "bồi bút" và "bồi hình". Họ đang tả con voi theo cách của 5 anh mù: "rờ trúng cái đuôi, rồi kết luận con voi có khác gì cái chổi đâu!". Ô hô! Quá khôi hài. Bản thân là một nhà báo XHCN, giờ đây chính tôi cũng cảm thấy "rất là nhục nhã khi cầm… cái thẻ nhà báo Việt Nam, vì bị đồng nghiệp làm hoen ố giá trị mất rồi" (xin đừng "thiến" bớt câu này của tôi nếu muốn trích).

Tôi xin kể một câu chuyện được truyền tụng trong ngành y: Ông thầy dẫn nhóm sinh viên thực tập đến giường một người bệnh. Để dạy học trò mình bài học "nhớ đời", thầy kéo quần bệnh nhân, thọc ngón tay vào hậu môn rồi đưa lên mũi ngửi. Xong, ông yêu cầu học trò hết thảy đều làm như vậy. Ai cũng thấy ghê, nhưng chẵng lẽ thầy thị phạm cho xem mà trò lại không làm! Thế là ai cũng thọc ngón tay vào và ngửi. Đợi cho hết lượt, thầy mới hỏi: "Các anh chị nhận thấy gì?" – "Thúi lắm, ghê lắm thầy ơi!". Nhóm sinh viên cùng rùng mình đáp lại. Thầy mỉm cười nói: "Tôi chẳng thấy thúi, chẳng thấy ghê gì cả, mặc dù tôi cũng ngửi ngón tay như các anh chị vậy! Tại sao? Vì tôi thọc ngón trỏ vào hậu môn, nhưng ngửi ngón giữa mà!". Bấy giờ đám sinh viên mới ngẩn người ra. Thầy lại tiếp: "Các anh chị phải có mắt quan sát, phải có óc suy luận, đừng vội tin ngay, đừng hành động ngay theo những gì diễn ra trước mắt. Nhớ nhé!". Bài học này cũng là bài học chung cho nhân dân Việt Nam trong lúc này, đừng để thông tin thủ đoạn của nhà nước đánh lừa. Kẻo không, lại như đám sinh viên "ngửi ngón tay thúi"!

MỘT NHÀ NƯỚC KHÔNG CHÂN CHÍNH

Muốn trưng dụng hai mảnh đất TH – TKS, nhà nước phải chứng minh được những chứng từ pháp lý để người công giáo "tâm phục, khẩu phục", tự động rút lui, thì mới đáng gọi là nhà nước chân chính. Cũng là tư cách cao cả của bậc "phụ mẫu chi dân". Tiếc thay! Họ đã hành xử theo cách của quân đầu đường xó chợ, tự rêu rao cho thế giới biết chế độ ta "vừa ăn cướp vừa la làng" và "đã làm đĩ còn già mồm" đúng như thành ngữ Việt Nam có nói. Nhà nước đã từng răn dạy người dân: "Đất đang tranh chấp, không đối tượng nào được quyền xây dựng công trình trên đó". Vậy mà hai miếng đất trên đang trong lúc "nước sôi lửa bỏng", thì chính họ lại khẩn trương đêm ngày cho làm vườn hoa. Hỏi rằng, ai đã đơn phương chà đạp phát luật?

Xưa nay, tất cả công trình xây dựng do nhà nước thực hiện bao giờ cũng rầm rộ hình thức, nào là lễ động thổ với cờ phướn rợp trời, nào là kêu mời báo đài đến đưa tin, nào là tiệc tùng linh đình sau đó. Lại nữa, thi công lề mề, kéo dài thời gian vốn là đặc thù cố hữu của nhà nước XHCNVN. Ngay cả những công trình quốc kế dân sinh rất bức thiết, họ cũng không hề biết "nóng đít" làm cho kịp tiến độ. Nhưng trong việc xây dựng hai vườn hoa, thì lại quá "thần tốc" và bất ngờ động thổ khi còn tăm tối, vầng thái dương chưa ló dạng chân trời. Chúng ta có câu "bóng đêm là đồng loã của cái ác", chính quyền có nhớ không? Việc xây dựng này phải được xem là kỷ lục Việt Nam, một việc chưa có tiền lệ trước đây và có lẽ cả mai sau nữa. Một nhà nước chân chính, thực hiện một công viên ích nước lợi dân như đang rêu rao thì sợ gì mà phải lén lén, lút lút trong bóng đêm như vậy? Chẳng biết những nhà lãnh đạo TP. Hà Nội ăn phải bùa mê thuốc lú của ai, mà chỉ đạo cho bầy tôi hành động theo lối của phường trộm cắp! Cách làm này tựa hồ ngang nhiên vỗ ngực cho thiên hạ thấy "họ là kẻ chụp giật", cố lấy cho bằng được bằng mọi giá, chẳng cần đối thoại, chẳng cần lòng dân. Rõ ràng "cướp ngày là quan" chẳng sai!

Tôi nhớ không lầm, thì ông Nguyễn Văn Thiệu, tổng thống của chế độ Việt Nam Cộng Hoà đã từng nói: "Đừng nghe những gì cộng sản nói, mà hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm". Nhiều thế hệ trẻ lớn lên sau năm 1975, chưa biết thực hư của câu ấy ra sao, nay thì đã được chính nhà nước cộng sản chứng minh "hai năm rõ mười" rồi đó. Thế là qua vụ TH – TKS, nhân dân Việt Nam, loài người tiến bộ trên thế giới đã có cơ hội thấy được bộ mặt thật của đảng CSVN. Họ mới "ngộ" ra ông Thiệu nói quá đúng. Tôi đang lăm le nộp hồ sơ xin được kết nạp đảng, nhưng giờ nhất quyết dẹp phăng ý định đó, bởi không muốn đứng trong hàng ngũ những kẻ mị dân trắng trợn.

Sau cùng, xin mượn câu chuyện người Do Thái đóng đinh ông Giêsu trên đồi Gongotha để kết thúc bài viết của mình: Quần chúng khi ấy bị nhà cầm quyền xúi dại, đã kêu gào đòi giết ông Giêsu, tha cho tên trộm cắp Baraba. Và bản án đã được thi hành. Nhưng ngay sau đó, nhân loại đã hiểu ra được chân lý này: "Dù tha Baraba, thì Baraba vẫn là tên trộm cắp. Dù đóng đinh Giêsu, thì Giêsu vẫn là Thiên Chúa". Thế đấy! Chính nghĩa là sự bất diệt. Sự kiện TH – TKS rồi đây sẽ được xem là một vết nhơ trong Việt sử, nhưng lại là sự vinh quang trong giáo sử Việt Nam. Người công giáo hãy tin vào điều ấy.

NHÃ NAM


*********
NHẬN DIỆN CÁC VAI KỊCH TRONG BỘ MÁY NHÀ NƯỚC CỘNG SẢN


Vụ việc đòi tài sản đòi công lý của Tổng Giáo Phận Hà Nội đã lôi kéo rất nhiều sự chú ý của công luận. Có rất nhiều bài viết đưa tin, phân tích tình hình, đặc biệt là phân tích về nội bộ của bộ máy nhà nước cộng sản. Có nhiều hướng phân tích suy luận nhưng nhìn chung ngay cả người Công Giáo cũng cho rằng :

- Có nhóm quyền lực thiên về "trả tài sản, từng bước trả lại công lý". Họ gọi là nhóm cấp tiến, đứng đầu là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

- Có nhóm bảo thủ, nhất định không trả tài sản đồng thời thẳng tay dùng bạo lực đàn áp - Họ gọi là nhóm bảo thủ ở Hà Nội đứng đầu là ông Phạm quang Nghị và ông Nguyễn Thế Thảo, cùng những tướng công an khét tiếng như ông Nguyễn Văn Hưởng và ông Nguyễn Đức Nhanh.

Những giả thiết chia phe cấp tiến và bảo thủ trong hàng ngũ lãnh đạo CSVN

• Các phân tích thậm chí tìm cách lý giải hộ cho thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng về lời hứa của ông ta với các giám mục Công Giáo hồi đầu 2008: "Hãy ngưng cầu nguyện tại Tòa Khâm sứ, nhà nước sẽ trả lại tài sản", cho là ông ta thực tình, nhưng rồi đã bị phe bảo thủ vô hiệu hoá. Ông Dũng muốn trả nhưng phe bảo thủ không cho trả. Rồi họ còn so sánh thời kỳ "Công Thần" Võ Văn Kiệt làm thủ tướng, chính ông Kiệt nói công khai trong một hội nghị nội bộ đảng, hứa bảo vệ Nguyễn Hộ (Nguyễn Hộ là một đảng viên lão thành cách mạng một công thần theo cộng sản từ những năm 1930 Sau nhận ra bản chất lưu manh của cộng sản mà quay lưng lại), nhưng sau đó phe bảo thủ bắt giam Nguyễn Hộ - Như một cát tát vào mặt Võ Văn Kiệt. Ngay như vậy ông Thủ tướng Kiệt cũng chẳng làm gì nổi! Phương chi là ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bây giờ!

• Hay có phân tích cho rằng ông Nguyễn Tấn Dũng đã tự đánh mất uy tín của mình qua việc không thể giữ được lời hứa, chứng tỏ vai trò của thủ tướng Dũng chẳng là gì đối với phe bảo thủ. Phe cấp tiến của ông Dũng còn rất mong manh trước phe bảo thủ... Thậm chí có người còn lập luận dù phe cấp tiến "nuốt lời" hay chưa làm được việc gì hữu ích cho quốc gia dân tộc, nhưng vẫn phải "hỗ trợ, nuôi dưỡng" sự cấp tiến. Vì phe cấp tiến cộng sản có thể tạo ra một tương lai sáng sủa hơn của dân tộc... nhất là những người trong miền Nam sau biến cố Tòa Khâm Sứ và Thái Hà -- nay tỏ ra cản đảm hơn và cũng không biết sợ nữa; họ sẽ ủng hộ ông Dũng và ông Triết là người Nam kỳ và cho rằng 2 ông này cấp tiến hơn là quan chức Bắc kỳ thủ cựu! Vì vậy họ suy luận có thể ủng hộ cho cánh Dũng Triết của Nam Kỳ và hãy dựa vào 2 người này mà phát triển đường lối cởi mở với các nhà dân chủ, các phong trào dân chủ. Rồi khi phong trào lớn mạnh thì tính tiếp.

Đoán xa đoán gần như vậy cũng chỉ là phỏng đoán. Nên nhớ rằng Cộng sản vẫn là thứ cộng sản độc tài đảng trị, họ nói mà không giữ lời, không thực hiện lời hứa bao giờ, chỉ nghĩ đến quyền lợi của cá nhân của họ và của đảng mà thôi!

Việc lập luận cộng sản nói mà không giữ lời là do "cơ chế rối rắm của quyền lực cộng sản", sinh ra nó là thế, nó sống cũng nhờ như thế, chứ không phải cá nhân những người cộng sản cấp tiến hay bảo thủ. Thiếu hiểu biết về cộng sản, về xã hội cộng sản sẽ đưa đến tình trạng bị mắc bẫy cộng sản. Đây là hình thức tung hoả mù ra công luận, một hình thức giải cứu nhau, phân lập các thông tin không cho liên kết với nhau, đánh lạc hướng chú ý mà cộng sản vẫn hay dùng. Trong giới lưu manh gọi là "kẻ cướp đồ ném cho kẻ khác cầm chạy". Bắt được người thì cũng không còn tang vật mà luận tội.

Nên nhớ cơ chế là do con người tạo ra, nên nó có thể thay đổi. Thực tế cộng sản đã thay đổi rất nhiều cơ chế chính sách, thậm chí nó thay đổi cả những nguyên lý căn bản mang tính quyết định bản chất của chủ thuyết cộng sản như nguyên lý kinh tế chính trị Mác-Lê-nin.

Trong cơ chế quyền lực có người gọi là "rối rắm" của cộng sản, việc đưa chủ tịch nước hay tổng bí thư, hay thủ tướng đi Trung quốc, đi Mỹ, hay đi Âu châu, đều trong tính toán và bàn thảo quyết định chung của bộ chính trị, với những cuộc họp rất mất thời gian. Đi sang đâu, đi sang rồi đi những đâu, khi đi làm những gì, nói cái gì... đều được Bộ Chính Trị sắp đặt trước như một biên đạo kịch.

Cộng sản vốn là những kẻ không có truyền thống học hành, không được học hành chính qui, cũng không có khả năng học hành bài bản, nhưng lại rất giỏi học lỏm, học mót. Họ rất sợ bị hớ, bị lộ tẩy là những kẻ thiếu học, không có khả năng bổ sung về nội dung, họ tìm cách bổ sung về hình thức. Đặc biệt đối với lãnh tụ cộng sản, đánh bóng hình ảnh là một việc làm cộng sản không tiếc tiền bạc, không từ thủ đoạn (lịch sử đã chứng minh).

Khi xem lại băng hình cuộc gặp mặt giữa Phan Văn Khải và TT Mỹ G.Bush, người ta sẽ thấy ông Thủ tướng Khải phải cầm một tờ giấy (tay không hề cầm bút, vì chẳng có gì phải viết), vừa nói vừa liếc mắt nhìn vào. Cho nên không thể có chuyện mấy ông chủ tịch quận, chủ tịch thành phố Hà nội dám qua mặt Thủ tướng mà tấn công Tổng Giáo Phận Hà Nội. Họ chỉ là những con Robot được lập trình và điều khiển từ xa mà thôi. Nhưng khi cần, họ sẽ thành "Phe bảo thủ" ngăn cản nỗ lực đổi mới đầy tâm huyết của ông Thủ tướng cấp tiến. Họ trở thành những con tốt thí để đánh bóng hình ảnh cho một lãnh tụ cộng sản nào đó.

Đúng là về mặt hình thức có những chuyện tranh giành quyền lực, tranh ăn, mà các nhóm cộng sản hành xử như "đá vào mặt nhau". Nhưng cộng sản từ đầu đã chứng minh họ là những kẻ lưu manh, luôn lợi dụng mọi tình huống, tình tiết để thủ lợi. Ngay cả những việc "đấu đá" như trên, nếu thủ được lợi, nếu qua đó có thể đổ vấy trách nhiệm, thoái thác trách nhiệm. Vỡ truyện ra thì họ tuyên bố: "bất lực vì đã làm hết cách" hay "vì không muốn gà nhà đánh nhau"... Các diễn biến này nếu trúng ý họ, họ cứ để diễn tiến... và không chỉ để "tự diễn biến" cộng sản còn tìm cách tạo ra các sự kiện các diễn biến này.

Kinh nghiệm cho thấy: người cộng sản nếu thấy các diễn biến mà họ không thủ được lợi gì, hay gây thiệt hại thì họ sẽ làm gì? Họ sẽ ra lệnh cho diễn biến đấy phải "đi vào lề bên phải" hay "bắt bỏ tù tội " với tội danh: "lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân" hoặc "làm lộ bí mật công tác", v.v... Cao hơn, họ có thể giết người bằng một tai nạn, như vụ Thượng tướng thứ trưởng quốc phòng cộng sản Lê Trọng Lịch bị "tai nạn" rơi máy bay trực thăng ở Lào.

Vậy tại sao ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng lại hứa lèo?

Một vị thủ tướng hứa lèo về một vụ việc vài ngàn mét vuông đất có đáng không? Nên nhớ đầu 2008 Việt cộng đang phải chuẩn bị chuyến sang Mỹ cho ông Nguyễn Tấn Dũng. Lúc đó cộng sản không thể để vụ việc diễn tiến, cũng không thể đàn áp. Chuyến đi của ông Nguyễn Tấn Dũng phải được diễn ra bằng mọi giá nên đảng cộng sản sẽ hành động bằng mọi giá mà có người nói: "họ sẵn sàng đốt cả toà nhà chỉ nhằm mục đích có lửa để hút điếu thuốc lào mà thôi!"

Học thuyết cộng sản là một học thuyết gian trá, ai theo nó bắt buộc phải đóng kịch, các chính trị gia cộng sản dù lớn dù nhỏ đều là những kịch sĩ "tài năng". Họ triệt để lợi dụng các vai kịch để lừa bịp cho dù cách kệch cỡm đến đâu, như chính ông Hồ chí Minh khóc sau khi bị ta thán về chiến dịch "cải cách ruộng đất". Để cho các vai kịch được hoàn hảo, cộng sản đề cao công tác bảo mật. Có thể nói xã hội cộng sản là xã hội của thâm cung bí sử. Nó phát triển không chỉ trên triều đình, mà lan xuống tận các phủ quận huyện... đâu đâu cũng toàn là "thâm cung bí sử". Thậm chí trong một gia tộc vùng quê nào đó cũng thấy bóng dáng của "thâm cung bí sử"... Chính vì thiếu thông tin mà các vai kịch của cộng sản đã lừa bịp được khá nhiều người. Đến tận ngày nay còn khối người vẫn còn bị mắc lừa!

Trong thực tế, cộng sản đã không biết bao nhiêu lần đóng kịch "quân xanh quân đỏ". Thậm chí trong các vở kịch có cả máu chảy đầu rơi: Vụ Việt Minh cướp tầu chở vũ khí của quân Tưởng trên sông Hồng năm 1945 bị bại lộ thì chính Hồ chí Minh đã xin lỗi quân Đồng Minh và trao mấy tên Việt minh cho quân Tưởng xử trảm. Rồi sau đó lại chính Hồ chí Minh ký bằng "Tổ quốc ghi công" cho mấy tay cướp bị lộ kia. Vụ việc này, thậm chí cộng sản họ còn ghi cả vào chính sử đảng của CSVN.

Cho nên không có phe bảo thủ cũng không có phe cấp tiến nào trong bộ máy cộng sản cả! Tất cả họ đều cùng một giuộc. Phe này, phe kia, người này, người kia, phát biểu này nọ... đều trong một chương trình, trong một nghị quyết ma quỉ nào đó của họ. Đồng bào Việt Nam, đồng hương, đồng đạo, đồng nhân tâm: đừng mắc mưu cộng sản.

Không thể dùng tướng quỉ để trừ quỉ. Cái cần nuôi dưỡng là quần chúng đang chịu bao đau khổ, là những chí sĩ, những giáo sĩ dũng cảm uy phong dám lên tiếng, dám đối đầu với cộng sản chứ không phải phe cấp tiến cộng sản. Còn người cộng sản phản tỉnh ư? Vẫn có cửa chào đón họ đấy chứ: Hãy phản tỉnh bằng hành động.

Đồng Nhân

Wednesday, October 1, 2008

Mẹ Là Tất Cả

Thuở ấy, đời Mẹ phong ba, té ngựa
Mẹ còn xuân. Con lại quá bé thơ
Mẹ định sang thuyền. Con tuổi dại khờ
Nên thù ghét bướm vờn loanh quanh Mẹ.

Từ tuổi mộng, xuân xanh mùa hoa nở
Bướm ong vờn, con thương Mẹ vô biên
Con trở về, với tâm tánh diệu hiền
Mẹ vĩnh viễn không còn bên con nữa.

Mẹ là tất cả, là bầu sữa ngọt,
Là suối nguồn trong, con lội, con bơi
Nhưng bây giờ Mẹ đã xa con rồi...
Lòng tưởng nhớ nghẹn ngào, xin chúc Mẹ :

Chúc Mẹ đi được yên lành
Vào nơi đất Phật nhặt cành Vô-Ưu
Chúc Mẹ giấc ngủ như ru
Nhẹ nhàng trong cõi thiên thu tuyệt vời.


Việt Dương Nhân