Wednesday, April 8, 2009

CHIẾN LƯỢC BIỂN ĐÔNG CỦA VIỆT NAM

Có lẽ giải pháp cho những người Việt Nam yêu nước nằm trong các bài học ngàn đời của lịch sử: Trung Quốc là nước lớn nằm sát nách Việt Nam luôn nhòm ngó và muốn sát nhập nước ta vào lãnh thổ của họ. Khi Việt Nam hùng cường thì TQ hoà hoãn, khi VN suy yếu thì TC không ngần ngại thôn tính nước ta và TQ đã từng chiếm đoạt lãnh thổ và đô hộ Việt Nam gần 1000 năm.

Giá trị Biển Đông đối với Việt Nam ra sao?

Biển Đông là vùng biển chiến lược của VN, không những là vùng chứa nguồn lợi hải sản, dầu khí mà còn là vùng đệm cho an ninh quốc phòng về mặt phía Đông. Do đó, muốn bảo vệ Biển Đông, VN phải có một hải lực hùng hậu và hệ thống phòng thủ mà tầm ngắn nhất cũng phải là vòng cung phía Đông của trục Hoàng Sa-Trường Sa xuống đến Nam Côn Sơn. Mặt phía Tây của VN là hai nước yếu Lào và Cam Bốt, muốn tăng khả năng phòng thủ, VN phải liên kết với hai nước Đông Dương này; nếu không, TQ sẽ chẳng bỏ qua cơ hội chuyển một lộ quân xuống trấn dọc theo biên giới giữa ba nước Việt-Miên-Lào để vửa lợi dụng vùng biên giới làm căn cứ hậu cần an toàn, bao vây VN, hoặc từ đó, dễ dàng thọc nhưng mũi dùi đánh vào bất cứ cạnh sườn nào của nước ta rồi rút hoặc cắt nước ta thành nhiều đoạn nếu chiến tranh giữa TQ-VN xảy ra.

VN có căn bản pháp lý vững vàng về chủ quyền trên các hải đảo và thềm lục địa

Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam mà theo luật quốc tế do Hội Nghị Liên Hiệp Quốc 1982 Về Biển quy định rõ rệt là những tài nguyên và hải sản "thuộc quốc gia ngay bên cạnh thềm lục địa đó." Trong khi Việt Nam trưng ra đủ chứng từ và tài liệu thuyết phục về quyền sở hữu trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thì Trung Quốc chỉ dựa vào một tấm bản đồ do họ tự vẽ lại để đòi tất cả Biển Đông thuộc về nước họ bất chấp luật Biển và đề nghị thương lượng tay đôi với các quốc gia nhỏ bé ở Đông Nam Á để dễ bắt nạt.

Quyền lợi về dầu lửa ở Biển Đông. Những hòn đảo nhỏ không có giá trị nhiều nhưng vì có thể tàng trữ lượng dầu lửa lớn lao, giúp đất nước phồn vinh; cho nên, VN phải bảo vệ quyền lợi đó. Trữ lượng dầu hỏa nằm ở trong không những thềm lục địa mà còn ở vùng biển trên thềm lục địa gọi là vùng kinh tế đặc quyền, từ bờ lục địa ra đến 200 hải lý. Trước năm 1975, các hãng dầu ngoại quốc thăm dò tiềm năng dầu khí cho biết rằng ngoài khơi Việt Nam , nhiều nhất là vùng Trường Sa có trữ lượng dầu và khí đốt rất lớn. Cuộc thăm dò bởi Viện Nghiên Cứu Địa Dư Của Các Nước Ngoài của Nga Sô năm 1995 ước lượng có khoảng 6 tỉ barrel dầu trong đó có 70% là khí đốt trong vùng Trường Sa. Trong khi đó, TQ tuyên bố, biển Đông là “Vịnh Ba Tư thứ nhì” (the second Persian Gulf ” và một số nhà chuyên môn của họ đã quả quyết rằng biển Đông có thể chứa đến 210 tỉ barrels dầu hỏa và hơi đốt [20].

Chiến lược hiện nay của CSVN thế nào?

Đối phó với cường quốc nhiều tham vọng phía Bắc, trên thực tế, vì VN quá yếu về cả quân sự, lẫn kinh tế, không dựa vào Nga Sô được nữa thì chỉ còn hai đường: dựa vào HK để cương quyết chống TQ thì phải thay đổi thể chế hoặc đi với TQ thì phải chịu phục tùng họ để bám quyền. Trong nước thì Đảng CSVN bị đaị khối dân tộc bất mãn chống đối, bên ngoài thì bị áp lực quốc tế, nên tập đoàn lãnh đạo CSVN tìm đủ cách kéo dài thời gian bám quyền bất kể đến quyền lợi quốc gia và sự tồn vong của dân Việt. Áp lực của Tây Phương thì CSVN chẳng sợ bao nhiêu vì còn có TQ chống lưng đàng sau. Thế nên, Đảng CSVN luôn chọn cách “đu giây” với cà TQ và HK để “nín thở qua sông” hưởng lợi; nhưng khổ nỗi, chính áp lực của TQ trên VN mới là nỗi lo triền miên của tập đoàn lãnh đạo. Vì HK thì ở xa mà TQ lại ở ngay bên cạnh, nên chúng ta thấy rằng VN do vì nhu nhược và vì cô độc nên hiện nay tỏ ra quy phục TQ để hầu được yên thân, nắm quyền càng lâu càng tôt. Do đó, trên mặt nổi, chúng ta nhận thấy chiến lược của VN có thể tóm gọn như sau:

1. Đu giây với TQ và HK chứ không thật tâm ngả về bên nào

Tập đoàn lãnh đạo CSVN không tin TQ nhưng sợ bị TQ thôn tính thì “mất cả chì lẫn chài” nên “bắt cá hai tay” nhằm hưởng lợi từ cả TQ và HK. Mặt khác, VN chỉ muốn lợi dụng HK và Tây Phương để tránh bị tẩy chay, mất nguồn đầu tư vào VN, mất lợi nhuận riêng của họ và quan trọng hơn, để làm đối trọng với TQ và họ ở giữa yên thân hơn, làm “ngư ông hưởng lợi.” Nhưng chắc chắn là VN không thể qua mặt được TQ và cả HK; nên chi, cả 2 nước này cũng chỉ đãi bôi, giao thương với VN để cùng có lợi và “play games” với nhau mà thôi. Nghĩa là, TQ đã nắm được thóp VN nên điều khiển con rối VN dễ dàng theo ý họ. TQ cho phép VN đi với HK một phần để lấy lợi nhuận mà họ cũng được hưởng lây, một phần để mở “van an toàn” cho dân bớt chống đối Nhà Nước CSVN, phần nữa TQ làm bộ hiếu hòa, thân hữu để chứng tỏ VN còn tự chủ dưới mắt người dân sẽ giúp CSVN tồn tại hầu tiếp tục làm tay sai cho TQ.

2. Tránh Đụng Độ và Chịu Lép Vế Với TQ Để Tồn Tại

Vì quá yếu, VN cảm thấy khó thể đương cự nổi TQ khi họ ra tay chiếm đoạt nước ta nên đành nhắm mắt đưa chân, cố tránh đụng độ trực tiếp về quân sự, để giảm thiểu thiệt hại, mất mát, hi sinh nhiều hơn. CSVN biết rằng HK không nuôi dã tâm chiếm đoạt VN; nhưng ngược lại, nguy cơ VN bị TQ nuốt gọn rất cao. Vì vậy, thế đu giây của CSVN đành nghiêng hơn 60% về TQ để an thân, làm giàu nương theo lời chỉ đạo của TQ, đàn áp dân Việt để củng cố địa vị, bám quyền hưởng thụ càng lâu càng tôt. Đây là lý do mà TQ ngày càng lấn lướt và chiếm đoạt lãnh hải, lãnh thổ và uy hiếp nước ta về mọi mặt từ quân sự, chính trị đến văn hoá, kinh tế. Thế nên, mặc dù HK có thật lòng muốn giúp đỡ VN chăng nữa mà với thái độ “khiếp nhược” đó thì khi gặp nạn, bị TQ xâm lăng chẳng hạn, VN cũng đừng mong HK sẽ tận tình can thiệp, yểm trợ hoặc nhập cuộc đánh TQ giùm họ khi hai nước chưa tạo được mối liên minh quân sự để có thể tin cậy nhau.

3. Dựa Vào TQ, Bám Quyền Bằng Bạo Lực

Về mặt công luận quốc tế, Trung Quốc tích cực tuyên truyền cho chủ quyền của họ ở Biển Đông, mặc dù VN có chính nghĩa và vững vàng về mặt pháp lý, nhưng Việt Nam và các nước ASEAN tranh chấp ở Biển Đông không được quốc tế ủng hộ nhiều vì thiếu đoàn kết và yếu nỗ lực ngoại vận. VN sợ cứng rắn quá với TQ thì sẽ gẫy nên chấp nhận chính sách “chịu bẻ cong để không bị gẫy” chẳng dám phản kháng để tồn tại dưới áp lực TQ. Vì vậy, riêng Đảng CSVN thì họ chẳng sợ áp lực quốc tế bao nhiêu mà cũng chẳng ngại bị dân chúng lật đổ vì có TQ chống lưng và hệ thống công an bảo vệ. Tuy nhiên, với một cộng đồng hải ngoại đoàn kết, gây dựng được thực lực, tạo được uy tín đối với quốc tế và yểm trợ hữu hiệu cho quốc nội thì một cuộc cách mạng phế bỏ chế độ CSVN có cơ thành tựu.

Chiến lược hiện nay của CSVN có hữu hiệu, hoá giải được nguy cơ và tham vọng của TQ hay không? Chắc chắn là KHÔNG! Nó chỉ giúp tập đoàn lãnh đạo CSVN bám quyền mà thôi mà nguy hai cho cơ đồ VN khôn lường; vì rằng, càng ngày VN càng bị suy yếu, càng bị lệ thuộc nhiều hơn vào TQ về mọi mặt thì TQ sẽ chiếm VN chỉ là vấn đề thời gian, nếu toàn dân Việt chưa nhận thức được nguy cơ mất nước này...

Chiến lược thích hợp mà VN nên áp dụng để bảo vệ đất nước thế nào?

Thứ 1: Việt Nam Phải Có Tự Do, Dân Chủ Để Tạo Tình Đoàn Kết Dân tộc

Nếu các nhà lãnh đạo Việt Nam thật sự “yêu nước, thương dân” thì có thể áp dụng chính chiến lược của TQ “che dấu khả năng của mình và chờ thời” để dùng “gậy ông đập lưng ông;” bên trong thì âm thầm xây dựng nội lực, thuận lòng dân, hợp mệnh Trời và bên ngoài thì theo đuổi chính sách đối ngoại mềm mỏng, sáng suốt, đặt quyền lợi đất nước trên hết. Nghĩa là ổn định xã hội bằng chính sách an dân hợp vương đạo, phát triển kinh tế để có đủ phương tiện hiện-đại-hoá quân lực, khôn khéo trên trường ngoại giao để tạo thế và lực thật sự của dân tộc nhờ vào lòng dân, sức người và sự yểm trợ của quốc tế.

Chúng ta dễ dàng nhận thấy lý do thất bại của quân Nguyên trong kế hoạch dùng hải, lục quân xâm lăng Việt Nam vào cuối thế kỷ 13. Lúc bấy giờ, mặc dù quân Nguyên đã chiếm toàn Châu Á, cộng với nửa Châu Âu, nhưng đánh Việt Nam thì thất bại cả 3 lần vì nhà Trần phát huy tinh thần Diên Hồng để vận dụng được sức mạnh dân tộc một lòng chống giặc. Như vậy, chỉ một chính quyền thật sự “của dân, do dân, vì dân” và được lòng dân trong và ngoài nước mới có thể huy động đại-đoàn-kết dân tộc và tạo điều kiện xây dựng cho dân giầu, nước mạnh, đủ khả năng tự túc tự cường và bảo vệ đất nước mà thôi.

Thứ 2: Việt Nam Phải Xây Dựng Khả Năng Quốc Phòng

Trong nhiều năm qua, chính quyền Hà Nội đã duy trì quân đội theo mục tiêu chính trị để bảo vệ chế độ thay vì có khả năng bảo vệ đất nước. Việt Nam nên chú trọng vào những kế hoạch bảo vệ lãnh thổ và lãnh hải một cách thực tế thích hợp với nhu cầu và khả năng quốc phòng. Việc phát triển quân đội mà Hải Quân Việt Nam tương lai, trước tiên, nên chú trọng vào xây dựng một hạm đội gồm nhiều chiến hạm hiện đại hạng nhẹ, hỏa lực mạnh, vận tốc nhanh, dễ xoay sở. Chống lại cuộc tấn công từ ngoài biển Đông vào thì HQVN nên tập trung vào các lãnh vực phòng thủ nhiều lớp: phòng thủ cận duyên, phòng thủ viễn duyên và phòng thủ chiến lược .

Hiện nay, các quốc gia đồng minh trong vùng từ Nhật Bản, Ðại Hàn, Ðài Loan, không nhiều thì ít, đều phát triển quốc gia của mình với sự bảo vệ của Hoa Kỳ. Để tạo thế gián chỉ (deterence) nhằm giảm thiểu rủi ro xung đột quân sự với Trung Quốc, Việt Nam cần tạo thực lực và có liên minh quân sự tốt đẹp với Hoa Kỳ và các nước ASEAN. Trong tương lai gần, viễn tượng thành lập các Hải Đoàn Đặc Nhiệm gồm Hàng Không Mẫu Hạm với các chiến hạm của Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ấn Độ, Úc Đại Lợi, Tân Tây Lan tuần tiễu biển Đông chung với Việt Nam và ASEAN đặt căn cứ tại Cam Ranh là điều thực tế trước hành động bá quyền của TQ.

Trung Quốc chỉ dám bắt nạt những nước nhỏ yếu với cấp lãnh đạo nhu nhược mà thôi. Trong cuộc tranh chấp ở Biển Đông Trung Hoa (East China Sea) với Nhật Bản, Trung Quốc đơn phương tiến hành thăm dò, khai thác dầu trên vùng biển tranh chấp bất chấp sự phản đối quyết liệt của Nhật. Từ tháng 8, 2003, chính phủ Trung Quốc đã ký các thỏa thuận khai thác với các công ty dầu khí Trung Quốc và nước ngoài như Royal Dutch Shell và Unocal với trị giá lên tới nhiều tỉ Mỹ kim. Nhật lên tiếng phản đối viện cớ rằng hoạt động khai thác này sẽ hút cạn nguồn dầu khí nằm sâu trong lòng biển thuộc về hải phận của Nhật. Trung Quốc bỏ ngoài tai phản ứng của đối phương và thường xuyên đưa tàu chiến và tàu ngầm tới vùng biển này để dằn mặt Hải Quân Nhật Bản. Trước hành động lấn át của Trung Quốc, Nhật đã quyết định đưa tàu thăm dò tới vùng biển tranh chấp vào tháng 7, 2004 để chuẩn bị thăm dò và khai thác cho phần mình. Đương nhiên, Trung Quốc quyết liệt phản đối và coi hoạt động này là vi phạm chủ quyền. Tuy nhiên, các phản ứng chỉ dừng lại ở mức ngoại giao và kinh tế. Căng thẳng lên cao độ từ khoảng cuối 2003 - đầu 2004, tới mức chiến tranh tưởng như đã cận kề [22]. Khi cả hai bên tỏ thái độ sẵn sàng đối đầu, nếu không muốn chiến tranh thì lối thoát duy nhất chỉ có thể là hợp tác khai thác. Sau nhiều vòng đàm phán, tới tháng 6, 2008, Nhật Bản và Trung Quốc đã đạt được thỏa thuận khai thác chung. Các khu vực khai thác chung đều nằm trên vùng giáp ranh giữa hải giới của hai nước, nhưng theo quan điểm của Nhật chứ không phải theo quan điểm của Trung Quốc (bản đồ). Rõ ràng là trong thỏa thuận này, đường ranh giới do Trung Quốc vẽ không có chút giá trị nào. Nhật Bản có thể phải nhượng bộ ít nhiều đứng từ lập trường của họ (thí dụ về quy tắc phân chia trong hợp tác khai thác) nhưng lập trường của họ về ranh giới trên biển Đông Trung Hoa đã được giữ vững .

Thứ 3: Việt Nam Cần Dựa Thế Liên Minh Quân Sự Để Đối Trọng Với TQ

Năm 1994, Trung Quốc khoán cho hãng Creston Energy Corporation của Hoa Kỳ thăm dò các lô khoan dầu Tư Chính 133, 134, 135 thuộc khu vực Huangan Bay . Những lời tuyên bố cứng rắn của Việt Nam nhằm bảo vệ chủ quyền dựa vào căn bản pháp lý kèm theo các hành động cương quyết đã khiến TQ phần nào chùn bước. Tuy nhiên, vì nhu cầu nhiên liệu và cậy vào sức mạnh, TQ sẽ chẳng dễ gì bỏ qua mà đang tìm mọi cách chiếm đoạt hoặc thủ lợi. Các nước thuộc khối ASEAN phải nhận thức được rằng sự an ninh của mỗi nước thành viện cũng như sự an ninh trong toàn vùng chỉ tốt hơn nếu mọi nước trong vùng Đông Nam Á cùng tham gia ASEAN và đoàn kết với nhau chống lại tham vọng bành trướng và ý đồ muốn nuốt gọn Biển Đông của TQ [21]. Điều này chưa xảy ra; nhưng trên thực tế, TQ đã thành công trong mục tiêu xé lẻ các nước ASEAN liên hệ đến tranh chấp trong biển Động. Thí dụ như Phillipine đã dễ dàng bị mua đứt để đồng ý ký thỏa thuận hợp tác song phương với Trung Quốc năm 1999 trong khi bỏ mặc Việt Nam sang một bên. Sau đó, vào cuối năm 2008, VN xé lẻ hợp tác với TQ ký hợp đồng 29 tỉ $ US cho TQ thăm dò và khai thác dầu khí, áp lực các công ty dầu khí của Anh, HK, Ấn Độ phải rút lui.

Thứ 4: Đưa Vấn Đề Biển Đông Ra LHQ để Giải Quyết:

Tận dụng phương tiện truyền thông và đường lối ngoại giao, VN nên vận động sự quan tâm và ủng hộ của dư luận quốc tế cho một giải pháp công bằng và hoà bình cho các tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông. Vấn đề chủ quyền lãnh thổ và lãnh hải của các nước liên hệ trong vùng Biển Đông phải được đưa ra LHQ giải quyết càng sớm càng tốt cho VN. Đương nhiên, TQ sẽ bất-hợp-tác hoặc ngăn cản và với tư thế mạnh của TQ hiện nay, LHQ cũng vô hiệu. Trong thỏa thuận hợp tác khai thác dầu khí giữa Nhật Bản và Trung Quốc, hai bên đã cùng viện dẫn Công Ứơc Quốc Tế về Luật Biển, trong khi Nhật Bản cho rằng phải xử dụng đường trung tuyến làm ranh giới thì Trung Quốc muốn dùng giới hạn thềm lục địa của nước này làm ranh giới [23].

Cách giải thích của TQ hay của Nhật Bản đều đã có tiền lệ, vì thế tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc cũng đặt trên cơ sở vững vàng. Tuy nhiên, trong cuộc tranh chấp ở Biển Đông, TQ hoàn toàn tự tiện tuyên bố chủ quyền với bản đồ chủ quyền gồm đường viền “lưỡi Rồng” bao phủ gần trọn Biển Đông mà không có cơ sở pháp lý gì chứng thực. Bất kể đến Công Ứơc Geneva về Thềm Lục Địa 1958 và Công Ứơc Quốc Tế về Luật Biển 1982, Trung Quốc vẫn không sửa lại bản đồ xác định chủ quyền của họ và ý đồ bá chủ biển Đông ngày càng lộ rõ. Dù thế nào, VN cũng phải cương quyết bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ, khẳng định rõ ràng chủ quyền trên vùng lãnh thổ và lãnh hải trong vùng Biển Đông gồm cả vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trước ngày 13 tháng 5 năm 2009. VN có lẽ sẽ đệ trình tài liệu xác định chủ quyền và thềm lục địa lên Liên Hiệp Quốc vào phút cuối để giảm thiểu phản ứng phẫn nộ của TQ. Nếu vì điều này mà gây nên tranh tụng với TQ, VN phải chủ động tạo nên một “case tố cáo TQ vi phạm chủ quyền, chiếm đoạt lãnh thổ lãnh hải của VN” thì đó là một điều tốt, và VN nên liên tục tố cáo để giữ vấn đề tranh chấp này sôi sục và trong vòng xử lý của LHQ.

Phạm Văn Thanh

(Xin xem tiếp Phần III: Biển Đông Nổi Sóng?)

No comments: