Wednesday, April 29, 2009

Đỉnh Cao Trí Tuệ của Đảng Cộng Sản Việt Nam - Lê Nguyễn Huy Trần

Trí tuệ của một con người gồm có sự hiểu biết thông thái, tư duy sáng tạo và ý thức bản thân; là ba yếu tố chủ đạo phân định giữa loài người và giống thú. Thế nhưng đối với những người lãnh đạo nhà nước Việt Nam thì ba yếu tố trên không hề tồn tại.

Trí tuệ của Đảng Cộng Sản được định nghĩa bằng bạo quyền, khủng bố, áp bức, bóc lột, xảo trá, lường gạt, bưng bô, bán nước, phản bội dân tộc, giết hại đồng bào. Bất cứ một hiệp định hay dự án nối giáo cho giặc ngoại bang nào cũng được Đảng tuyên truyền là “đỉnh cao trí tuệ” của nhà nước. Ngày hôm nay nhìn hàng triệu người dân oan đang phải gánh chịu muôn ngàn nỗi đau đớn đến từng thớ thịt, buốt cả tim gan vì những “kế hoạch to lớn” của nhà cầm quyền Cộng Sản, tuổi trẻ chúng tôi không nén được nỗi bực tức cho chế độ độc tài Đảng trị và sự ngậm ngùi cho những số phận nghiệt ngã kia.

Có lẽ bộ não của mấy kẻ thất học trong Bộ chính trị được nhào nặn bằng đất sét hay xi-măng nên họ không đủ trình độ để nhận biết rằng ngọn giáo nối cho giặc Tàu ấy chuẩn bị đâm ngược lại chính bản thân họ. Những tội ác ĐCS đã gây nên trong khoảng thời gian cai trị trên đất nước Việt Nam sẽ bị nguyền rủa mãi cho đến những thế hệ mai sau.

Bắt đầu từ sự kiện hải chiến Hoàng Sa năm 1974. Đây là cuộc chiến xâm lăng quần đảo Hoàng Sa của Tàu Cộng sau khi thực dân Pháp rút khỏi Đông Dương. Cộng hòa Nhân Dân Trung Hoa đã vô cớ cho chiến hạm đến đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa. Tuy nhiên, hải quân Việt Nam Cộng Hòa đã dũng cảm chiến đấu tới cùng để bảo vệ toàn vẹn lãnh hải. Nhiều thuỷ thủ Việt Nam, trong đó có hạm trưởng Nguỵ Văn Thà của HQ-10, đã ngã xuống trong trận hải chiến này nhưng nhà nước XHCNVN không bao giờ tưởng nhớ đến sự hy sinh anh dũng của các anh.

Trái lại, họ dễ dàng để cho giặc Tàu tàn phá những bia chủ quyền, xóa sạch những di tích lịch sử và mộ bia của ngư dân Việt trên quần đảo này. Nhân bản tối thiếu của chính quyền Cộng Sản đã lụn bại quá độ khi đồng tình với lũ ác bá Trung Cộng không để hương hồn của những người đã khuất được yên nghỉ nơi chín suối. Ngày hôm nay lại tiếp tục xảy ra tranh chấp lãnh hãi chỉ vì bản công hàm bán nước do thủ tướng Phạm Văn Đồng đã ký ngày 14/9/1958

Tuy nhiên bản công hàm xác định hải phận này không nói rõ chủ quyền của Trung Quốc ở hai đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trung Cộng đã ngang nhiên dựa vào nó để chiếm cứ hai hòn đảo này mà bất chấp luật quốc tế về biển. Bộ chính trị quốc phòng Việt Nam đã làm gì để ngăn chặn sự cướp đoạt trắng trợn này của Trung Cộng? Họ chẳng có biện pháp nào ngoài hai chữ “câm lặng” thể hiện đỉnh cao trí tuệ của Đảng. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh hành động dâng hiến đất đai của tổ tông cho quân cướp nước là một việc làm sáng suốt.

Cựu Tổng bí thư Lê Khả Phiêu bán Ải Nam Quan, rồi thác Bản Giốc, bãi Tục Lãm và những thắng cảnh thiên nhiên cũng đã mất. Nếu các cán bộ Trung ương này cứ mãi lập chiến công bán nước thì dải đất Việt Nam sẽ không còn mềm mại hình chữ S. Và một ngày không xa, toàn bộ giang sơn gấm vóc chẳng còn thuộc về con Rồng cháu Tiên nữa khi giặc ngoại xâm tràn vào bờ cõi. Thật nhục nhã cho cái mà Đảng và nhà nước gọi là “đỉnh cao trí tuệ”.

Tiếp đến là chiến tranh biên giới Việt – Trung xảy ra vào năm 1979 khi Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa kịch liệt phản đối quan niệm của Tàu Cộng về chủ nghĩa bành trướng ở Liên Xô sẽ nguy hại đến các nước cộng sản trong khu vực Châu Á và vì thế mà không tham gia vào khối liên minh chống Liên Xô. Ngày 17/2/1979, quân đội Trung Cộng bắt đầu tiến đánh tuyến biên giới phía Bắc nước Việt như thể “dạy cho Việt Nam một bài học” theo lời Đặng Tiểu Bình vì cái tội cãi lời đàn anh.

Tuy cuộc chiến này chỉ diễn ra trong vòng một tháng nhưng rất quyết liệt. Những hành vi man rợ của giặc Tàu lấy dao chẻ củi và dùng cọc tre đánh chết hàng trăm trẻ em, phụ nữ rồi quăng xuống giếng nước. Hậu quả là quan hệ hai nước Việt – Trung trở nên căng thẳng hơn bao giờ hết. Không còn khoảng viện trợ từ Trung Quốc, nền kinh tế và vấn đề ngoại giao của Việt Nam lúc bấy giờ bị tổn hại nặng nề. Dù vậy, tinh thần vì thể diện quốc gia của các chiến sĩ Việt Nam đã hy sinh trong cuộc chiến tranh biên giới này sẽ mãi được ghi nhớ trong lòng mỗi người dân mang dòng máu Lạc Việt.

Thế nhưng Đảng Cộng Sản lại cho xây dựng những nghĩa trang với những dòng chữ “nhớ ơn liệt sĩ Trung Quốc” hay “Nhân dân Việt Nam ghi công liệt sĩ người Trung Quốc” trên khắp đất nước. Quả là một chuyện khôi hài mà tôi chưa từng thấy bao giờ. Có thể chế nào lại khua trống thổi kèn biểu dương quân thù đã từng đô hộ đất nước của mình một ngàn năm?

Có chính quyền nào lại dựng đài tưởng niệm kẻ xâm lăng giết hại đồng bào của mình? Có nhà nước nào lại kính trọng dâng những vòng hoa tưởng nhớ công lao của kẻ địch trong khi xương máu các vị anh hùng dân tộc thì bị chìm vào quên lãng? Thật sự tôi không biết phải dùng từ ngữ nào để diễn tả cái đạo đức tồi bại của ĐCS cho phải phép. Vẫn chưa hết, hiện nay có một cuốn sách ca ngợi những chiến công hiển hách của Tàu Cộng trong chiến tranh biên giới Việt – Trung được phát hành trên nước ta. Đó là cuốn “Ma Chiến Hữu” của tác giả Mạc Ngôn ở Trung Quốc do Trần Trung Hỷ dịch thuật.

Tại sao ĐCS cho phép xuất bản? Cho dù tác phẩm này có giá trị văn học đến thế nào đi chăng nữa thì làm sao chúng ta có thể chấp nhận cho nó lưu hành trên thị trường khi mà nó chà đạp lên lòng tự trọng dân tộc và vong linh của các liệt sĩ đã ngã xuống cho quê hương. Đỉnh cao trí tuệ của Đảng là hèn nhát quỳ lạy dưới chân Tàu Cộng mặc cho niềm kiêu hãnh của dân tộc bị bôi nhọ hay sao. “Một cách suy nghĩ khác về chiến tranh” nào nữa nếu không là vì gìn giữ non sông và bảo tồn nòi giống. “Một cách ca tụng riêng về chủ nghĩa anh hùng” tuyệt vời đến mức độ nào đây khi cái thuyết chủ nghĩa ấy chỉ biết đày đọa người dân đến chốn bần hàn cơ cực, ngay cả chén cơm ăn cũng không kiếm nổi. Ôi trí tuệ của Đảng ta!

Nhà cầm quyền Cộng Sản còn tiếp tục vươn đến những đỉnh cao bạo tàn khác nữa chứ không chỉ dừng lại ở đó. Chính quyền địa phương ở nhiều nơi đã dùng quyền lực chiếm đất đai của các giáo hội bất hợp pháp để dùng vào mục đích riêng.

Công an thì thẳng tay đàn áp người dân vô tội khi họ lên tiếng chống đối sự cướp giật ngang ngược của bè lũ lãnh đạo. Tiêu biểu là vụ cướp đất giáo xứ Thái Hà đã gây nên làn sóng phẫn uất trước thái độ lộng hành của nhà nước. Thời đại này là thời đại gì mà cảnh sát, dân phòng, thanh tra xây dựng giăng hào rào dây thép gai xung quanh địa phận nhà thờ Thái Hà vào đêm tối. Hành động lén lút đó chứng tỏ chúng là bọn cướp.

Xót xa thay cho các giáo dân Thái Hà hiền lành hằng ngày chỉ biết cầu xin Đức Mẹ ban phước lành. Những tiếng thét gào đau đớn của các con chiên trước giáo đường xé toạch màn đêm. Những câu kinh cầu nguyện se sắt trái tim những tu sĩ nhà Dòng Chúa Cứu Thế. Một thánh địa tôn nghiêm đến thế mà chính quyền cũng không để yên. Họ còn đe dọa bỏ tù các tín đồ không một tấc sắt trong tay nếu có hành động không tuân thủ luật pháp. Nhà nước Pháp quyền Việt Nam chỉ biết xài luật rừng rú chứ có luật lệ gì khi tín ngưỡng tôn giáo bị cấm đoán và nhân quyền thì hoàn toàn không có.

Ai nói ĐCS của dân, cho dân, và vì dân? Ngày nay Đảng ức hiếp dân, đánh đập dân, và sát hại dân. Xã hội Việt Nam dưới chế độ Cộng Sản đã thật sự đảo điên, không còn luân lý. Tất cả những ai còn lương tâm với vận mệnh đất nước xin hãy đứng lên đòi lại công lý cho giáo xứ Thái Hà. Đó cũng là chính là lối thoát khỏi màn đêm tăm tối do ĐCS bủa vây, tự cứu lấy bản thân, hướng đến một tương lai tươi sáng hơn. Cám ơn những vị luật sư như LS Lê Trần Luật, LS Huỳnh Văn Đông đã không ngại nhà cầm quyền Việt Nam hạch sách để đứng lên tranh đấu cho sự thật và công lý. Tuổi trẻ chúng tôi tin tưởng rằng không một thế lực độc đoán nào có thể chiến thắng được công bằng, bình đẳng và chân lý.

Thêm một chủ trương lớn của Đảng là dự án khai thác Bauxite đã được đưa vào hoạt động. Hàng ngàn mẫu đất trên vùng Tây Nguyên đã bị san bằng cháy đỏ đau thương. Những lá cờ in chữ Tàu cắm rợp trời xung quanh khu vực khai thác như thể đó là lãnh thổ của bọn Trung Cộng bành trướng. Tôi không cần thiết phải nói đến những tác hại về kinh tế, chính trị và môi trường trong việc khai thác quặng vì hầu hết mọi người đều có thể tìm đọc những bài viết phân tích cụ thể ở trên mạng. Vấn đề tôi muốn đề cập đến ở đây là việc di tản dân cư Tây Nguyên đi chỗ khác. Từ xưa đến nay những người lao động chân chính này chủ yếu dựa vào canh tác cà phê, chè, điều, cao su là nguồn thu nhập chính của họ. Đời sống của họ sẽ ra sao khi đến vùng đất mới? Văn hóa Tây Nguyên có thể nào bảo tồn được nữa?

Họ sẽ phải bắt đầu từ đâu và làm gì để sinh nhai? Nhà nước Cộng Sản không những không tạo công ăn việc làm cho người dân mà còn phá hoại công ăn việc làm rồi đẩy họ vào bước đường cùng. Ngày xưa khi miền Bắc thống trị toàn đất nước sau ngày 30/4/1975, người dân miền Nam vượt biên đi tìm xứ sở tự do thì ĐCS bảo là phản bội Tổ quốc. Ngày nay khi chính quyền ép dân phải rời bỏ nơi tổ tiên ông bà thì ĐCS có cho những người dân này là kẻ phản đồ?

Các vị lãnh đạo Đảng gây tổn hại đến phong tục truyền thống, triệt hạ dòng giống, đưa quê hương đến bờ vực thẳm diệt vong. Chính bè lũ này mới là tội đồ ngàn đời của dân tộc bởi những chính sách buôn dân bán nước của họ. Sau hàng loạt tai tiếng như vụ PCI, vụ Lãnh sự quán Việt Nam đã bán hộ chiếu cho mọi người, vụ phi công, tiếp viên hàng không và nhân viên Vietnam Airlines đã tổ chức ăn cắp hàng cao cấp để vận chuyển về Việt Nam tiêu thụ, v.v…thì dân Nhật Bản đã nhận xét chính quyền CSVN chỉ đáng được xem là “giòi bọ”. Nhục nhã thay khi chính chế độ ấy lại đang đại diện cho đất nước Việt Nam trong thời điểm dầu sôi lửa bỏng này.

Trí tuệ con người Việt Nam trong mắt thế giới chỉ biết ăn bám, trộm cắp, xảo biện thế sao? Ai đã làm tuổi trẻ chúng tôi không còn tự tin ngẩng mặt nhìn đời? Ai đã huỷ hoại niềm tự hào lịch sử hơn bốn ngàn năm văn hiến của nước Việt Nam chúng tôi? Đau lắm khi nước mắt mẹ Việt Nam tuôn tràn nhìn đàn con thơ dại có tội tình gì mà phải chịu biết bao bi luỵ và khổ ải.

Sau ba mươi bốn năm chính thức cầm quyền, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã làm được những gì cho nhân dân với cái đỉnh cao trí tuệ ấy. Đó là hình ảnh những đứa trẻ bán vé số với đôi bàn chân trần phải lang thang khắp hang cùng ngõ tận trong chiều đông buốt giá. Là những người nghèo mạt không được xã hội trọng dụng, phải vất vưởng nơi sân ga hay công viên khi không có chổ trú thân qua đêm. Là nhiều gia đình tự tử chỉ vì không đủ tiền mua gạo trong những ngày Tết Kỷ Sửu. Là các công trình xây dựng cầu đường bị sập do sự bòn rút, cắt xén vật liệu của các cán bộ cấp cao.

Là ăn chận của công bỏ túi riêng đến hàng chục triệu Mỹ kim trong khi dân chết mặc dân. Là sự khiếp nhược trước Tàu Cộng tàn ác đến cả thai nhi cũng có thể nấu canh ăn bổ dưỡng khí huyết. Là biết bao phụ nữ Việt Nam bị bán ra ngoại quốc, làm dâu nơi xứ người trong tủi hờn, nhục thể. Là thanh niên thiếu ý thức sa vào cảnh nghiện ngập, hút sách. Là dân oan lên tiếng phản đối chính quyền cướp đất, cướp nhà một cách bất hợp pháp thì bị kết tội gây rối trật tự. Là làn sóng học sinh và sinh viên xuống đường biểu tình chống Tàu Cộng sang xâm lược lại bị chính quyền CSVN đàn áp, bắt bớ. Là những tai ương gieo xuống cuộc sống của hơn tám mưới triệu dân vì chủ nghĩa Cộng Sản. Vậy thì tại sao tuổi trẻ chúng ta chỉ biết nhìn cam chịu mà không hành động? Chúng ta không phải là những kẻ nô lệ phục dịch cho ngoại bang.

Chúng ta không thể ngồi yên cho bạo lực giết chết tương lai của tuổi trẻ Việt Nam. Chúng ta có quyền làm những con người chân chính và hiên ngang sải bước trên mảnh đất Việt Nam. Chúng ta hãy cất lên tiếng nói đòi nhân quyền cho dân tộc mà ĐCS đã ngang nhiên tước đoạt hơn ba mươi năm. Chúng ta phải tranh đấu cho quê hương và dành lấy những gì thuộc về chúng ta. Những cánh chim yêu nước Việt Nam trên toàn thế giới hãy dang rộng đôi cánh yêu thương, hãy nối tiếp từng đàn đùm bọc, hãy vì một tương lai tự do, và hãy hướng về tổ ấm cội nguồn vì nơi đó chúng ta mới là tuổi trẻ Việt Nam.

Lê Nguyễn Huy Trần

TÔI ĐÃ TỈNH THỨC - Lê Nguyễn Huy Trần


Tôi sinh ra và lớn lên ở miền Trung, Việt Nam, trong thời kỳ đất nước được “hoàn toàn thống nhất” và cai trị dưới chế độ Cộng Sản. Hôm nay tôi viết lên đây những tâm tư của một người con trẻ như tôi cuối cùng cũng đã nhận ra bộ mặt thật tàn ác của Đảng Cộng Sản Việt Nam (ĐCSVN) mà không ngôn từ nào đủ sức lên án.

Cũng như những người bạn đồng trang lứa trong nước, tôi được nuôi dưỡng và đào tạo dưới mái trường Xã Hội Chủ Nghĩa (XHCN) Việt Nam mà ở đấy, thầy cô luôn dạy chúng tôi phải làm một người công dân tốt trước khi tiếp thu những kiến thức chuyên môn. Còn gì tuyệt vời hơn khi bản thân tôi được học tập trong một nền giáo dục “tiên học lễ, hậu học văn” đầy lễ giáo ấy.

Ngay từ lúc còn học mẫu giáo, tôi đã cố gắng phấn đấu để làm con ngoan trò giỏi cho ông bà, cha mẹ vui lòng. Cái thước đo sự ngoan ngoãn vâng lời của tôi chính là những phiếu “bé ngoan Bác Hồ” được cô giáo phát thưởng hàng tuần. Tôi tiếp tục rèn luyện mình trở thành một học sinh gương mẫu về đạo đức cũng như về thành tích học tập trong những năm tiểu học (cấp I).

Năm tôi lên lớp bốn, thầy giáo chủ nhiệm đã đề ra một số bạn xuất sắc để kết nạp đội viên vào Đội Thiếu niên tiền phong (TNTP) Hồ Chí Minh, trong đó có tôi. Theo lệ thường thì học sinh nào cũng sẽ được tham gia Đội TNTP khi bước vào ngưỡng cửa trung học cơ sở (cấp II), trừ những thành phần cá biệt mới bị tước quyền gia nhập. Vì thế tôi rất hãnh diện đến lớp với chiếc khăn quàng đỏ tươi thắm trên cổ áo sơ mi trắng lúc tôi được vào Đội trước những người bạn cùng lớp khác.

Tôi nổ lực phấn đấu cho lý tưởng trở thành một công dân tốt của nước XHCN Việt Nam và trời đã không phụ lòng tôi. Một lần nữa tôi lại được vào Đoàn Thanh Niên Cộng Sản (TNCS) Hồ Chí Minh sớm hơn với tư cách là một đoàn viên ưu tú. Đó là năm học cuối trước khi tôi thi tốt nghiệp vào phổ thông trung học (cấp III). Lúc ấy, tôi không bao giờ quên đeo trên ngực chiếc huy hiệu đoàn biểu thị cho một ý chí vững mạnh của thanh niên Việt Nam trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Tôi rất tự hào về những thành tích với các hạng vị đội viên hay đoàn viên mà mình đã đạt được trong những năm đầu đời tập tễnh học làm người. Tôi xây mộng cho một tương lai đảng viên mẫu mực để có thể giúp xã hội ngày càng phát triển hơn. Tôi ước nguyện đất nước sẽ giàu mạnh lên khi nghe Việt Nam, dưới sự lãnh đạo “tài tình” của chính phủ hiện thời, gia nhập vào Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Ngay đến thời điểm tôi rời quê nhà để đi du học thì trong tâm trí tôi lúc nào cũng hướng về một Việt Nam xinh đẹp với những trang sử oai hùng.

Trong những năm đầu du học, tôi nghe và biết người Việt hải ngoại không đồng tình với cách vận hành đất nước của Cộng Sản, nhưng tôi không để ý tìm hiểu lý do vì tôi không thích chính trị. Tôi thiết nghĩ ở đâu thì cũng có những cuộc chống đối giữa các phe phái bởi “chín người mười ý”. Cho đến một ngày gần đây khi tôi may mắn gặp và nói chuyện với một người bạn trẻ yêu nước trên mạng, tôi mới chợt nhận ra rằng tôi muốn làm một công dân tốt nhưng lại rất thờ ơ về hiện tình của đất nước mình. Không phải tôi không quan tâm mà tôi đã quá tin vào đường lối, chủ trương của Đảng Cộng Sản (ĐCS) và những gì mà tôi đã được dạy dỗ từ mái trường XHCN ấy.

Nhưng rồi qua vài cuộc trò chuyện tìm hiểu sự thật về Đảng và cuộc đời Bác Hồ với anh bạn trẻ đó, tôi bắt đầu tò mò và tìm đọc những tài liệu liên quan đến Việt Nam trong quá khứ mà trước đây khi còn ở trong nước, tôi đã bị những quyển sách lịch sử (in bởi Nhà xuất bản Giáo dục) lừa dối. Chỉ vì Đảng muốn bưng bít mọi tội ác đã và đang gây ra cho dân tộc mà phải nguỵ tạo biết bao câu chuyện thần thánh để tô đẹp hình tượng “ác nhân” cụ Hồ, để các bạn trẻ trong nước cứ mãi đắm chìm trong giả dối. Mọi niềm tin tôi đặt vào Đảng Cộng Sản cho một đất nước thanh bình đã tan vỡ.

Tôi đã ngu muội để cho cái chế độ bạo quyền và độc tài ấy nhồi sọ mình mà ngỡ đấy là một niềm hi vọng, là một chân lý sống. Tôi nhục nhã khi nhìn lại hình ảnh đứa bé mẫu giáo (là tôi) đã cẩn thận dán những tấm phiếu “bé ngoan Bác Hồ” ngay ngắn lên tường nhà mà ngây thơ không biết Bác là một con người hạ cấp đến mức độ nào. Tôi tự trách khi quàng chiếc khăn đội viên màu đỏ đã thấm máu của biết bao đồng bào vô tội trong công cuộc “cải cách ruộng đất” do ĐCS thi hành hay phong trào “Nhân Văn-Giai Phẩm” đòi tự do dân chủ trong những năm giữa thập niên 50. Tôi hổ thẹn khi cài chiếc huy hiệu đoàn mang biểu tượng tay cầm lá cờ đỏ sao vàng mà theo Đảng là để soi sáng đường thanh niên tiến bước.

Đó không phải là sự thật. Tôi hận mình đã từng chấp nhận mang trên người sự dối trá đê hèn, bởi chính cái lá cờ ấy mà tất cả người con đang sống trên đất Việt hiện nay do lầm tin một lần để rồi phải sống nô lệ cho ngoại bang từng ngày, từng giờ, từng phút. Hỡi ôi, những cụm từ “giải phóng miền Nam” và “thống nhất đất nước” của Đảng đặt ra sao mị dân đến thế. Vậy mà một số cá nhân vẫn còn sùng bái những chính sách “ngu dân” để rồi tự biến mình thành đứa con tội đồ ngàn đời của mẹ Việt Nam.

Ngày trước tôi còn hồn nhiên trên chiếc xe đạp đến trường, còn vô tư cùng bè bạn vui đùa trong suốt quãng đời học trò yên bình của mình. Xung quanh chúng tôi được bao bọc bởi lớp kính vạn hoa mà nhìn xuyên qua là cả một bầu trời muôn sắc muôn màu hiện ra rực rỡ. Trong cái thế giới ấy, tôi đã thấy những con người ngồi chiễm chệ trên chiếc xe hơi bóng loáng, những cao ốc sang trọng của thời đại tân tiến, những khu phố nhộn nhịp tiếng nói cười hớn hở, những kế hoạch to lớn và quan hệ hợp tác, đầu tư lâu dài của các nhà kinh doanh nước ngoài đối với Việt Nam.

Thời kỳ kinh tế đã bắt đầu mở cửa ư? Không. Bây giờ tôi chỉ thấy đằng sau lồng kính nhiệm màu kia là những hình ảnh đau thương, tang tóc của quê hương. Tôi không còn thấy sự phồn thịnh do Đảng nguỵ tạo lên mà thay vào đó là chết chóc, là đọa đày. Đất nước ngày nay như một sa mạc khô cằn không sức sống, như cánh rừng hoang tàn thiếu tiếng chim ca, như một trại tù cho toàn dân vô tội, như một nghĩa trang đầy những linh hồn chết oan. Xã hội ngày nay tràn ngập tệ nạn mại dâm, đồi truỵ, buôn lậu, ăn cắp, quan liêu cửa quyền, tham nhũng hối lội v.v…

Đã thế ĐCS nào có lo lắng cho đời sống của dân mà cứ hút máu đồng bào như loài ác quỷ, lại còn làm tay sai cho Tàu Cộng để chúng vơ vét hết đất đai, rừng núi, hải đảo của quê hương. Quả là một guồng máy xã hội mục ruỗng, thối nát. Một bọn phản đồ đang sống nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật như thế thì thử hỏi tôn ti trật tự ở đâu, lễ nghĩa phép tắc ở chổ nào đây.

Cái mái trường XHCN chỉ đưa ra những lý thuyết suông thôi sao? Hay nó chỉ dạy cho Đảng phải biết nhường nhịn và tôn thờ quân Tàu cướp nước; còn đối với đồng bào ruột thịt thì chính quyền Cộng sản ra sức đàn áp và giết hại, lúc đó mới gọi là “đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa” sao? Thế mà tôi đã từng thần tượng, cảm phục cái nền giáo dục xảo trá ấy. Còn biết bao tuổi trẻ trong nước phải chịu sự cưỡng bách tư tưởng mà không thể tự do nói lên tiếng nói dân chủ của chính mình. Xót xa thay cho con cháu Lạc Hồng với bề dày lịch sử bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước.

Tuổi thơ của những ai đã từng bị Bộ Giáo Dục và Đào Tạo tiêm cho một mũi độc dược “mang tên Người” thì không thể không nhớ hay ít nhất cũng nghe đến “Năm điều Bác Hồ dạy”. Đây là những lời căn dặn của Hồ Chí Minh viết cho thiếu niên, nhi đồng trong dịp lễ kỷ niệm 20 năm Ngày thành lập Đội Thiếu niên Tiền phong Việt Nam nhưng sau này những câu chữ ấy đã được sửa lại hoàn chỉnh như sau:

1. Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào
2. Học tập tốt, lao động tốt
3. Đoàn kết tốt, kỷ luật tốt
4. Giữ gìn vệ sinh thật tốt
5. Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm

Tôi nhận thấy rằng những cán bộ cao cấp Trung ương Đảng hiện thời thực hành lời dạy dỗ của cụ Hồ còn tốt hơn gấp triệu lần thanh thiếu niên Việt Nam. Nói về “Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào”, họ không bao giờ để nhân dân nhúng tay vào những việc “dơ bẩn” hay bận tâm đến những chuyện trọng đại mang tính dân tộc như bán đất nhượng rừng, hiến dâng hai hải đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Cộng.

Nói về “Học tập tốt, lao động tốt”, các cán bộ này rất ham học hỏi tính đàn áp tôn giáo, tính hạch sách những nhà dân chủ, tính bóc lột dân nghèo và họ cũng lao động cật lực cho quân ngoại xâm . Nói về “Đoàn kết tốt, kỷ luật tốt”, những bộ mặt Đảng viên nhơ nhớp ấy luôn sống đùm bọc cùng bọn cướp Trung Quốc với phương châm “16 chữ vàng” là “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và chủ trương “4 tốt” là “Láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”. Họ tuyệt đối tuân theo những qui định giặc Tàu đề ra với một tinh thần “kỷ luật tốt” để giữ gin tình anh em hữu nghị.

Nói về “Giữ gìn vệ sinh thật tốt” thì không ai chú trọng bảo vệ sức khoẻ bằng cựu Tổng bí thư ĐCSVN Lê Khả Phiêu khi ông ta cho trồng nguyên một vườn rau sạch trên sân thượng để tránh ăn thực phẩm độc hại ngoài chợ. Nói về “Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm”, tôi có thể thấy tính khiêm nhường của các cán bộ này mỗi lần vơ vét của dân được “mười tạ” thì chỉ nói là nhặt nhạnh được “một ký”. Hơn nữa, họ còn thật thà tin vào dự án khai thác quặng bô-xít trên Tây Nguyên của đối tác Trung Quốc để nông dân trong vùng phải sống lay lắt vì mất đất trồng hoa màu. Họ dũng cảm chấp nhận làm tên nô dịch cho giặc Tàu mặc dù hiểu rõ rằng tính mạng hàng triệu đồng bào đang bị đe dọa bởi kế hoạch thống trị toàn đất nước Việt Nam của giặc.

Tôi công nhận những vị cán bộ này quả xứng đáng là cháu ngoan Bác Hồ. Các bạn trẻ trong nước và hải ngoại hãy nhìn vào công cuộc đổi mới của Đảng Cộng Sản mà tự mình phán xét chế độ lộng quyền kia có còn của dân, cho dân, và vì dân hay không.

Tôi sợ lắm khi mình không còn tìm thấy tên nước Việt Nam hiện diện trên bản đồ thế giới vào một ngày mù tối. Tôi buồn lắm khi dân tộc Việt Nam trở thành gia nô cho kẻ thù đã từng đô hộ nước nhà một nghìn năm. Tôi hoang mang không biết nguồn cội của mình ở đâu nếu con cháu Lạc Hồng biến mất trong tiềm thức của dư luận thế giới. Tôi sẽ là ai? Các bạn tuổi trẻ Việt Nam sẽ là ai? Có thể các bạn muốn giống người này kẻ nọ hay những nhân vật nổi tiếng trên thế giới, nhưng hãy nhớ rằng chúng ta không bao giờ trở thành họ vì chúng ta là người Việt Nam mang trong mình dòng máu yêu nước.

Tôi tin những người trẻ chúng ta không một thành phần cá nhân nào muốn quê hương rơi vào bóng đêm rồi câm lặng mãi mãi. Vận mệnh của đất nước đang nằm trong tay chúng ta. Hãy tìm hiểu sự thật và lên tiếng cho nhân quyền! Tôi mong lắm những trái tim nhiệt huyết cùng chung một lý tưởng cho Việt Nam thanh bình và ấm no. Đừng để bản thân các bạn lầm đường lạc bước trên muôn vàn đau thương của quê nhà, các bạn ạ!

Còn tôi, tôi đã thức tỉnh.

Lê Nguyễn Huy Trần

Tuesday, April 28, 2009

Cái giá của Tự Do: Câu chuyện thế giới phải biết...



Thanh Quang, phóng viên đài ACTD (RFA)... ở đây!
2009-04-27

Thảm cảnh trên Biển Đông có lẽ khó – nếu không muốn nói là không bao giờ - nhạt nhoà trong ký ức của thuyền nhân Việt Nam, khi những chiếc thuyền mong manh đưa họ vượt trùng dương tìm đến bến bờ tự do sau biến cố 30 Tháng Tư 1975 hầu như là thường xuyên gặp nạn.

Photo courtesy UNHCR


Khỏang một triệu người may mắn đến được những nơi muốn đến, thì cũng chừng ấy số người đã vĩnh viễn ở lại dưới lòng biển cả.

Mỗi năm cứ mỗi lần đến thời điểm 30 Tháng Tư là người Việt tị nạn tại hải ngọai không khỏi bùi ngùi nhớ lại thân nhân, bạn bè hay chính mình đã trải qua những chuyến vượt biển thập tử nhất sinh.

Ngoài khỏang một triệu người may mắn đến được những nơi muốn đến, thì cũng chừng ấy số người đã vĩnh viễn ở lại dưới lòng biển cả. Riêng với những thuyền nhân sống sót, thì không ít người gặp phải thảm cảnh ở biển khơi, tiêu biểu nhất là bị bão, hải tặc hay tàu chết máy.
Thảm cảnh trên Biển Đông

Ngoài khỏang một triệu người may mắn đến được những nơi muốn đến, thì cũng chừng ấy số người đã vĩnh viễn ở lại dưới lòng biển cả. Riêng với những thuyền nhân sống sót, thì không ít người gặp phải thảm cảnh ở biển khơi, tiêu biểu nhất là bị bão, hải tặc hay tàu chết máy.
Chẳng hạn như, chị Nguyễn Thị Hoa Hương, hiện đang định cư tại Hoa Kỳ, đã ra sức tìm đến bến bờ tự do hồi năm 1989 và gặp nạn, như chị mô tả sau đây :
"Mình không có chỗ nằm, mình chỉ ngồi mà co hai chân lại, ngồi đủ chỗ thôi. Lâu lâu mình duỗi được cái chân thôi chứ không có được nằm. Đó là một kỷ niệm mà em không bao giờ quên khi mà tàu đi 7 ngày trên Thái Bình Dương thì đã bị bão biển rất là lớn và đã đánh tan chiếc tàu ra, chỉ còn lại thân chiếc tàu, còn đầu tàu và đuôi tàu thì bị đứt ra.

Trong cơn nguy cập đó thì người ta đã chuyển tất cả mọi người vô giữa thân của con tàu. Lúc bấy giờ sự chết kể như 90% rồi, tại vì bão kéo dài mấy ngày trời liên tục. Con tàu không còn bộ phận lái gì hết, tự con tàu trôi đi thôi. Trong mấy ngày như vậy thì lương thực hết rồi, mọi người bắt đầu nhịn đói, chỉ có những giọt nước để dành lại và mọi người chia nhau ra để mà uống.

Lúc bấy giờ sự chết kể như 90% rồi, tại vì bão kéo dài mấy ngày trời liên tục. Con tàu không còn bộ phận lái gì hết, tự con tàu trôi đi thôi. Trong mấy ngày như vậy thì lương thực hết rồi, mọi người bắt đầu nhịn đói, chỉ có những giọt nước để dành lại và mọi người chia nhau ra để mà uống.

Chị Nguyễn Thị Hoa Hương, Hoa Kỳ

Có những tiếng la khóc bởi vì sự chết đã đột tới (khóc). Bắt đầu có những người bị kiệt sức quá mà bắt đầu xỉu, trong đó cũng có em mê man không biết gì hết, chỉ nhớ là những người xung quanh đọc kinh cầu xin nhận cho nếu mà có bị chết thì xin cho linh hồn được siêu thoát một cách nhẹ nhàng.

Trong lúc trôi như vậy thì một sự may mắn đến với tất cả những con người trên tàu đó là được tàu của Hạm Đội VII Mỹ đang tập trận ở Thái Bình Dương cứu vớt. Khi cứu lên sàn tàu thì các phụ nữ và trẻ em đều vô phòng cấp cứu bởi vì đã bị kiệt sức quá rồi, không còn sự sống.

Một kỷ niệm mà nếu những ai đi con tàu đó thì chắc không bao giờ quên là các người Mỹ họ đã săn sóc, họ điều trị những người chết đi sống lại, cho phục hồi sức khoẻ rồi mới bắt đầu đưa vô Thái Lan. Trại đó là trại Banatnikhon. Em ở đó là gần 9 năm."

Tàn ác và kinh hoàng

Một thảm cảnh khác trên Biển Đông có liên quan đến chị Lê Thị Sen, hiện cũng đang ở Mỹ. Tàu chị Sen gặp cướp biển như chị cho biết :

"Trên đường vượt biển thì gặp cướp biển. Ở trên tàu nó thả canô xuống qua tàu mình. Mấy người đàn bà con gái bị họ hãm hiếp và họ định đập cho tàu mình chìm nữa. Tiền bạc vòng vàng ai mà có đều nộp cho họ hết. Khi bị cướp xong chạy được một hồi thì tới dàn khoan của Mã Lai. Dàn khoan nó mới kéo tàu vô. Nếu mà không gặp dàn khoan đó thì chắc chìm chết rồi vì tối hôm đó sóng gió quá chừng, mà tàu thì cũng nhỏ nữa, giống như mấy chiếc thuyền đánh cá, mà ở dưới tàu là 126 người nằm sát nhau. Có nhiều đứa bé nó ói quá con mắt trắng dờ tưởng như nó chết rồi."

Trên đường vượt biển thì gặp cướp biển. Ở trên tàu nó thả canô xuống qua tàu mình. Mấy người đàn bà con gái bị họ hãm hiếp và họ định đập cho tàu mình chìm nữa. Tiền bạc vòng vàng ai mà có đều nộp cho họ hết.

Chị Lê Thị Sen, Hoa Kỳ

Ngược dòng thời gian hơn nữa, hồi năm 1979, bà Kim Liên, hiện định cư tại Bỉ, đã từ Vũng Tàu vượt trùng dương đến Indonesia. Nhưng thảm cảnh Biển Đông cũng không dung tha gia đình nữ thuyền nhân ấy :
"Trên đường biển cả trời mưa dông gió, đã vào nhiều đảo nhưng họ không nhận, gặp nhiều tàu cầu cứu không vớt. Cuộc hành trình lênh đênh trên biển cả đã 13 ngày, chúng tôi gặp một chiếc tàu đậu ở biển khơi mà chúng tôi cứ nghĩ đấy là một hòn đảo.

Lúc đêm thì mình thấy như vậy, đến 8 giờ sáng thì trông nó lù lù ra là một cái tàu, thì ra cái tàu dầu nó đậu ở đó, ở biển khơi đó. Chúng tôi cố chạy vào cầu cứu, họ chẳng vớt, và thuyền trưởng ra lệnh cho thợ máy nhổ neo chạy. Vì chiếc tàu nó lớn, chân vịt nó quay, nước xoáy quá mạnh và nó lôi kéo tàu chúng tôi vào chân vịt. Cánh quạt chém tàu tôi hai phát, úp lật con tàu. Mọi người tung xuống biển vì tàu bị bể ra rồi.

Chúng tôi cố chạy vào cầu cứu, họ chẳng vớt, và thuyền trưởng ra lệnh cho thợ máy nhổ neo chạy. Vì chiếc tàu nó lớn, chân vịt nó quay, nước xoáy quá mạnh và nó lôi kéo tàu chúng tôi vào chân vịt. Cánh quạt chém tàu tôi hai phát, úp lật con tàu. Mọi người tung xuống biển vì tàu bị bể ra rồi.

Bà Kim Liên, ở Bỉ

Lúc đó nó chổng lên, mới chìm phân nửa, còn nổi phân nửa. Người nào biết bơi thì bơi vào trong chiếc tàu vì nó chưa chìm hết thì họ cũng bám vào đấy. Người nào khoẻ thì đi cứu những người không biết bơi, lôi kéo nhau vào đó, bám chung quanh.

Tàu làm cho chúng tôi bị chìm nó bỏ đi nửa tiếng gì đó. Tàu này của nước Libya. Tôi thấy nó thả 2 cái bo-bo xuống, nó đi vớt chúng tôi. Khi nó vớt thì cũng đã chết hết 11 người rồi. 68 người chết hết 11 người, nhưng mà vớt được 3 người, nước cuốn đi 8 người trôi đâu mất rồi, trong đó có con gái tôi."

Không có từ ngữ nào để diễn tả

Và một cảnh vô cùng đau xót và kinh hoàng đã xảy đến cho một chiếc tàu phát xuất từ Saigòn hồi năm 1978 chở theo hơn 100 người, khi chỉ có 43 người đến được bến bờ. Chị Kim Chi kể lại câu chuyện thương tâm này :

Chị Kim Chi : Tại lúc đó đói quá thì có người trước chết họ mới nói là tại sao không ăn thịt người để sống. Thì người đó chết và người đó là người bị ăn đầu tiên để nuôi vợ và con họ được sống sót. Thì ý tưởng đó bắt đầu từ lúc đó, sau đó thì những người khác họ thấy như vậy họ mới bắt đầu thôi.

Thanh Quang : Thưa chị, xin lỗi chị. Chị ở trong chuyến tàu đó, phải không?
Chị Kim Chi : Dạ.

Thanh Quang : Thưa, như vậy chị có ăn thịt người không, do hoàn cảnh bắt buộc ?

Chị Kim Chi : Có chớ.

Thanh Quang : Cái cảm giác của chị lúc đó như thế nào ?

Chị Kim Chi : Nói đúng ra thì cũng ghê chứ. Tại vì nói chung là trong lúc người ta đói quá thì hình như là người ta không còn lý trí nữa nhiều để mà suy xét nữa.

Khi nó vớt thì cũng đã chết hết 11 người rồi. 68 người chết hết 11 người, nhưng mà vớt được 3 người, nước cuốn đi 8 người trôi đâu mất rồi, trong đó có con gái tôi.

Thanh Quang : Dạ. Như vậy là đi bao lâu ngày mà rồi gặp nạn như vậy, thưa chị ? Tàu đó có mấy người ?

Chị Kim Chi : Tàu đi cũng đông lắm, anh. 143 người tất cả nhưng mà chỉ còn sống sót 34 người.

Thanh Quang : Tàu phát xuất từ đâu, thưa chị ?

Chị Kim Chi : Dạ, từ Sài Gòn.

Thanh Quang : Đi bao lâu ?

Chị Kim Chi : Đi khoảng 65 ngày.

Thanh Quang : Lâu như vậy bởi lý do ra sao, thưa chị ?

Tại lúc đó đói quá thì có người trước chết họ mới nói là tại sao không ăn thịt người để sống. Thì người đó chết và người đó là người bị ăn đầu tiên để nuôi vợ và con họ được sống sót. Thì ý tưởng đó bắt đầu từ lúc đó, sau đó thì những người khác họ thấy như vậy họ mới bắt đầu ăn thôi

Chị Kim Chi, Vương Quốc Bỉ

Chị Kim Chi : Lúc đó còn bé thì cũng không nhớ rõ nữa, nhưng nếu không lầm thì chân vịt tàu bị quấn lưới, bị gãy, không nhúc nhích được nữa nên tàu cứ lênh đênh thôi, thì nó cứ lênh đênh trên biển vậy đó.

Thanh Quang : Dạ.

Chị Kim Chi : Rồi cho tới ngày nó mắc cạn tấp vô đảo. Không phải là cái đảo, nó thuộc dạng đảo ngầm của Đài Loan. Cái đảo đó nằm giữa biển, khi nước biển dâng lên thì như là cái biển vậy thôi tức cái niveau của nó bằng mặt nước biển, nhưng khi nó tụt xuống thì xung quanh mình là biển thì tàu mình bị tụt xuống nhưng mà nước vẫn còn khoảng tới đầu gối, tức là cạn nhất vẫn tới đầu gối. Nói là cái đảo thì cũng không hẳn nhưng mà nó là cái đảo, đảo giữa lòng biển.

Thanh Quang : Dạ rồi tất cả thuyền nhân một trăm mấy chục người ở trên tàu đó rồi dần dà cạn lương thực, cạn thức ăn và thức uống, có phải không ạ?
Chị Kim Chi : Thì nói chung là vậy. Tại vì tàu đi đâu có dự định đi tới mấy chục ngày như vậy, thì họ mới không đủ thức ăn rồi mới bắt đầu đói khát này kia rồi mới sanh ra cái đó. Nói chung, người đầu tiên là ông cậu của mình.

Rồi những người trong tàu, những gia đình khác họ thấy như vậy, lúc đầu thì họ cũng chửi rủa, phản đối dữ lắm, tại vì họ nói tàn nhẫn, vô nhân đạo, thế này thế nọ tùm lum hết. Nhưng mà qua một đêm như vậy, sáng ra thì họ ăn căp hết trơn, tức là người của ổng chỉ còn là bộ xương thôi.

Chị Kim Chi, Vương Quốc Bỉ

Ngày xưa ổng là một nhà giáo nhưng khi ổng nhìn thấy con ổng đói rồi vợ ổng đói như vậy đó, lúc đó ổng cũng yếu sức lắm, ổng đói lã rồi, tức là ổng gần chết rồi, ổng mới nói là sau khi ổng chết thì hãy dùng thịt của ổng mà cho con ổng ăn với vợ ổng ăn đi để mà nuôi sống được vợ con ổng. Chính vì như vậy cho nên khi ổng chết rồi thì mới lấy ý tưởng của ổng để mà bắt đầu ăn để nuôi sống mình rồi nuôi sống vợ con ổng luôn chứ không phải một mình vợ con ổng không đâu.

Rồi những người trong tàu, những gia đình khác họ thấy như vậy, lúc đầu thì họ cũng chửi rủa, phản đối dữ lắm, tại vì họ nói tàn nhẫn, vô nhân đạo, thế này thế nọ tùm lum hết. Nhưng mà qua một đêm như vậy, sáng ra thì họ ăn căp hết trơn, tức là người của ổng chỉ còn là bộ xương thôi. Người ta chửi thì vẫn chửi nhưng người ta ăn cắp thì người ta vẫn ăn cắp thịt của ổng để người ta ăn.

Thanh Quang : Ăn sống như vậy ?

Chị Kim Chi : Thì đó là cái ý tưởng đầu tiên của ổng đó.

Thanh Quang : Rồi sau đó những người khác tiếp tục, sắp hấp hối rồi chết đi thì những người sống còn lại cũng lóc thịt họ ăn?

Chị Kim Chi : Thì những người đó, nói chung là gia đình nào thì ăn thân nhân gia đình đó. Không phải là mình được ăn tùm lum đâu, tại vì không phải là ai cũng ăn được đâu. Đa số những người mà họ chết trong gia đình thì họ mới được quyền dành xác đó mà ăn thôi chớ không phải mạnh ai mà nấy ăn đâu. Hổng phải người ta chết mà mình đè ra mà ăn đâu.

Những sàn gỗ của thân tàu thì họ bắt đầu dùng cái đó để nấu nướng, nhưng mà riết rồi cũng không còn nữa, tại vì nếu mà họ cứ nấu thì không còn chỗ nằm, với lại một phần nữa là thời gian hình như cuối cùng nếu không lầm thì giống như sống đánh cũng nhiều thành ra mất lửa. Không có lửa nên trong một khoảng thời gian có người họ ăn sống.

Chị Kim Chi, Vương Quốc Bỉ

Thanh Quang : Thế thì những người trong gia đình không có người chết đói thì làm sao họ sống ?

Chị Kim Chi : Thì họ xin. Có nhiều phương pháp lắm: xin, ăn cắp. Tại vì xác chết đâu phải như miếng đồ ăn mà cất vô tủ mà xác chết chỉ nằm ở đó, sau một đêm nhiều khi mình ngủ dậy thì họ ăn cắp hết rồi.

Thanh Quang : Thưa chị, lúc lóc thịt đó như vậy thì họ có nấu nướng gì không ?

Chị Kim Chi : Lúc đó họ bắt dầu nạy gỗ tàu lên làm củi nấu chứ.

Thanh Quang : Dạ.

Chị Kim Chi : Những sàn gỗ của thân tàu thì họ bắt đầu dùng cái đó để nấu nướng, nhưng mà riết rồi cũng không còn nữa, tại vì nếu mà họ cứ nấu thì không còn chỗ nằm, với lại một phần nữa là thời gian hình như cuối cùng nếu không lầm thì giống như sống đánh cũng nhiều thành ra mất lửa. Không có lửa nên trong một khoảng thời gian có người họ ăn sống.

Trong vòng 17 ngày như vậy người ta bắt đầu đói rồi người ta chết từ từ. Nó cũng không cho ăn. Nó tàn nhẫn lắm tại vì nó nghĩ là mình có tiền, thành ra những ai muốn ăn thì phải trả tiền cho nó.

Chị Kim Chi, Vương Quốc Bỉ

Thanh Quang : Dạ.

Chị Kim Chi : Rồi sau đó có tàu đến cứu kịp. Nói chung tình trạng đó kéo dài khoảng mười mấy ngày như vậy thì về sau có tàu đến rước mới thôi.

Thanh Quang : Khi có tàu đến rước thì số người trên tàu còn 34 người như chị nói hồi nãy, phải không?

Chị Kim Chi : Không. Không. Lúc đó còn 64 người, nhưng mà tại vì xui là gặp tàu đánh cá Đài Loan nó thuộc dân tham lam, tức là khi nó gặp người còn sống thì nó rước nhưng với điều kiện là nó bắt phải nộp tiền cho nó. Một đầu người là 7 chỉ vàng thì nó mới rước.
Mọi người đồng ý đóng tiền cho nó. Đến lúc đóng xong thì nó mới nảy ra lòng tham. Hầu như nó cảm thấy người Việt mình giàu, có tiền, nên nó mới nảy ra ý định thay vì trên con đường về từ cái đảo chìm này cho tới đất liền là khoảng 3 ngày thôi nhưng nó kéo dài ra tới 17 ngày bằng cách là nó cho tiếng máy tàu chạy giống như mình tưởng là tàu đang chạy mà thực sự tàu đứng tại chỗ.

Rồi đến lúc nó cảm thấy người ta kiệt quệ không còn tiền và cũng không còn sức nữa, hầu như nó cũng không quết định cho mình về đất liền, tại vì lúc đó có thể nó tính ém luôn chuyện đó, nó cho người ta chết từ từ để nó khỏi đưa về.

Chị Kim Chi, Vương Quốc Bỉ

Trong vòng 17 ngày như vậy người ta bắt đầu đói rồi người ta chết từ từ. Nó cũng không cho ăn. Nó tàn nhẫn lắm tại vì nó nghĩ là mình có tiền, thành ra những ai muốn ăn thì phải trả tiền cho nó. Nó cũng có một bữa cơm chính thức, tức là bữa đó nó cho ăn cháo. Ăn cháo nhưng mà cháo trắng thôi, không có muối, không có thịt, không có nước mắm, không có gì hết.

Nhưng mà nếu ai muốn thêm một cái gì thì phải bỏ tiền ra, thành ra nó kiếm tiền qua cái lợi nhuận đó. Rồi đến lúc nó cảm thấy người ta kiệt quệ không còn tiền và cũng không còn sức nữa, hầu như nó cũng không quết định cho mình về đất liền, tại vì lúc đó có thể nó tính ém luôn chuyện đó, nó cho người ta chết từ từ để nó khỏi đưa về.

Nhưng mà xui hôm đó tàu bị nổ tại vì gas bị xì làm nổ cả tàu và tàu bốc cháy thì cũng làm cháy nhiều người lắm. Họ bị phỏng nặng và lúc đó tàu bị chìm xuống, nước vô. Tất cả tai nạn đó xảy ra cũng một lúc trong vòng tích tắc, tức là vừa bị cháy vừa bị chìm, thế là ông thuyền trưởng sợ quá nên lúc đó ổng mới đánh điện về trong đất liền để xin viện trợ hay là xin đưa người vô mà mình không hiểu nữa. Thì lúc đó Đài Loan mới chấp nhận cho vô đất liền.

Trong tình trạng nửa sống nửa chết nên không có ai tố cáo cũng chẳng có ai thưa kiện, tất cả nằm trong bệnh viện hết. Được vô nằm trong bệnh viện trong gần 2 tháng trời
Về tới Đài Trung thì cảnh sát ra, rồi xe cứu hoả, xe cứu thương ra tùm lum hết. Tại vì lúc đó mấy người chết vì bị phỏng nặng quá thì nó mới đêm vô bệnh viện.

Lúc đó cảnh sát mới bắt đầu điều tra và họ nói là khi chủ tàu đánh điện tín gì đó kêu là 64 người mà tại sao bây giờ còn 34 người, thì lúc đó họ mới bắt đầu điều tra ổng, bắt ổng ở tù, tại vì lúc đó họ nghi ngờ.

Trong tình trạng nửa sống nửa chết nên không có ai tố cáo cũng chẳng có ai thưa kiện, tất cả nằm trong bệnh viện hết. Được vô nằm trong bệnh viện trong gần 2 tháng trời, lúc ra viện thì mới về trại tị nạn, lúc đó thì phái đoàn Mỹ mới xuống để điều tra.

Vì có tuyên thệ để đi Mỹ nên họ mới bắt đầu điều tra thì họ mới bắt đầu biết, từ cái chi tiết lúc đó mới lòi ra chuyện ăn thịt người.

Thanh Quang : Vừa rồi là chị Kim Chi, hiện định cư tại Vương Quốc Bỉ.

>> nguồn

Monday, April 27, 2009

Quê hương bụi đỏ mù trời

Tháng Tư lại nữa Tháng Tư
Bụi đỏ mù trời
Em vẫn đứng giữa hai đầu
Trong lòng quê ngất ngưỡng
Mỗi bước em đi
Mỗi tiếng nói tiếng cười
Đảng bắt phải làm người sợ hãi
Trước họng súng, dùi cui
Cả một lũ mù đui
Mặc áo lông rình mồi
Chơi trò vọc máu tanh hôi
Tô phấn trét son cục xương khô “xã hội”
Quê em có lắm người nông dân xấu số
Viết chữ dán lên lưng
Hộ khẩu,cha ông lý lịch ba đời
Đi giữa đoàn người khốn khổ
Đòi lại miếng đất, mảnh vườn

Giữa đường Hà Nội
Nắng hạ rát da đầu
Có những đứa trẻ trần truồng
Ngửa tay xin đồng tiền Hồ xanh đỏ
Có những ngày mưa đổ
Ngập lụt phố phường
Đảng đổ vạ tội dân
Nghiểm nhiên vung tay cười ngạo mạn
Có những ngày miền Tây nắng hạn
Đứa mục đồng mang khăn đỏ quấn đầu trâu
Dưới các ngõ góc lầu
Trẻ thơ lô nhô giành nhau vỏ chai bia quan bỏ
Những kẻ chết sập cầu
Người nghèo khô chết trôi trên tàu đi chợ Tết

Đó đây có lắm bàn tay thụt két
Khắp mọi nẻo cửa quyền
Những bộ mặt Trung Ương
Nhận lệnh quỷ Bắc phương
Tàn phá quê hương với lửa ngầm âm ỉ
Bán kẻ làm thuê, buôn người làm đĩ
Đảng lãnh đạo
Nước mất nhà tan
Nhân phẩm suy tàn
Bản Giốc buồn, Hoàng Sa dậy sóng
Bô xít Tây Nguyên chao động
Tiếng kêu than từ đáy huyệt trồi lên
Những nỗi khổ đau sáu mươi năm chưa lần giải tỏa
Những trí thức quay cuồng chai đá
Sơn phết nắm xương phế thải quá lâu ngày
Bạo lực bao vây
Sắp bỏ thây mới dám vạch trần mặt đảng
Sáu trăm tờ báo vẫn in rành bài “phân bón”:
“Cọng Hoà Xã Hội Chủ Nghiã Việt Nam”
“Độc lập-Tự do-Hạnh Phúc”
Ba triệu cái vòi thi đua lúc nhúc
Hùng hục hút máu toàn dân
Có những người thoát chết ba lần
Vụ Cải Cách, vụ Mậu Thân, vụ tháng Tư trấn lột
Đảng vẫn nhe răng ăn mừng thắng cuộc
Em đứng đây giữa Sài Gòn ngơ ngác
Đếm lại tháng ngày
Nghe lao xao tiếng Mẹ khóc trong hồn.

Sài Gòn tháng Tư 2009
Hoàng Thị Đăng Trình.

ST

Saturday, April 25, 2009

Hãy cứu lấy Tây Nguyên khỏi thảm họa Bauxite đỏ !


Sách Công Vụ Tông Đồ, bài đọc thứ nhất Chúa Nhật thứ 3 Mùa Phục Sinh năm B này có một đoạn làm chúng tôi bàng hoàng. Ông Phêrô một hôm đang ở giữa đám đông đồng bào Do Thái của mình, đã lên tiếng rất mạnh, lật lại vụ án Chúa Giêsu, cật vấn dân Do Thái: “...Anh em đã chối bỏ Đấng Thánh và Đấng Công Chính, mà lại xin ân xá cho một tên sát nhân. Anh em đã giết chính Đấng khơi nguồn Sự Sống...” ( x. Cv 3, 15 ).

Không phải đay nghiến chì chiết, nhưng xét ra, lại là một lời da diết với mọi người, với cả chính Phêrô, như thể bản thân Phêrô cũng đã gián tiếp đồng loã trong cái chết oan ức bi thảm của Chúa Giêsu. Mà như thế, Phêrô đâu chỉ nói với dân Do Thái ngày xưa cách đây gần hai ngàn năm, nói với cả chúng ta hôm nay nữa đấy chứ !

Chúng tôi đặc biệt thấm thía cái cách ông Phêrô nói về Chúa Giêsu: “Đấng khơi nguồn Sự Sống”. Và chúng tôi xin vận dụng luôn cụm từ này để đặt vấn đề nóng hổi ngày hôm nay, ngay trên đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta, liên quan đến “Bauxite Đỏ.

Không lúc nào thế giới nói nhiều đến môi trường như lúc này. Chẳng phải chuyện đùa hay xa vời viển vông nữa rồi: Trái đất của chúng ta đang trở thành một... trái đắng ! Hành tinh xanh của chúng ta đang bị đổi thành hành tinh xám ! Môi trường sinh thái thân thiện của chúng ta đang biến thành một môi trường gây tử vong. Hội Thánh Công Giáo sau nhiều năm thận trọng cũng đã lên tiếng chỉ rõ việc phá hoại môi trường chính là một tội trọng.

Trước vấn nạn “Bauxite đỏ”, chúng tôi đọc được trong Học Thuyết Xã Hội của Hội Thánh Công Giáo, một công trình có rất nhiều tâm huyết của Đức cố Hồng Y PX. Nguyễn Văn Thuận, rằng:

“…Con người không được sử dụng trái đất cách tùy tiện, bắt nó tùng phục ý muốn của mình một cách không giới hạn, như thể nó không có những yêu cầu riêng và không có một mục tiêu mà Chúa đã ban cho từ trước, một mục tiêu mà con người thật sự có thể triển khai ra nhưng không được phép phản bội. Khi hành động như thế, con người thay vì thi hành vai trò của người cộng tác với Chúa trong công trình sáng tạo, sẽ tự đặt mình thay thế Chúa và rốt cuộc làm cho thiên nhiên phản lại, vì đã hành hạ hơn là cai trị thiên nhiên” ( trang 319 ).

Quả như thế, phá huỷ môi trường, đối với cộng đồng thế giới là một tội ác, đối với người Công Giáo là một tội trọng. Mà tội trọng chính là tội chống lại Thiên Chúa, chống lại Sự Sống, tội giết chính “Đấng đã khơi nguồn Sự Sống”.

Ở Việt Nam, bao nhiêu năm nay người ta cứ lải nhải tuyên truyền, ấn vào đầu óc mấy thế hệ liên tiếp thời hậu chiến cái luận điệu rằng thì là: đất nước mình còn nghèo, còn đang phải ra sức và từng bước khắc phục hậu quả chiến tranh.

Thế là người ta “tranh thủ” bóc lột đất đai với những kiểu xen canh, thâm canh tăng vụ hết năm này đến năm khác, làm bạc màu, làm kiệt sức biết bao nhiêu ruộng đất tự bao đời vẫn hào phóng dâng hiến cho chúng ta những hạt ngọc, những hoa trái quý giá.

Người ta biến hàng vạn mẫu thổ canh đang nuôi sống người nông dân nghèo thành những sân golf khổng lồ, rồi rào lưới B40 lại, chỉ dành riêng cho khách ngoại quốc và giới quan chức giàu có đến mà chơi trò học làm sang.

Người ta khuyến khích phá đê ngăn mặn để lấy nước vào hồ nuôi tôm tăng lãi suất để rồi tôm thì chết mà cả một vùng đồng bằng bao la ngày xưa phải khắc phục “ngọt hoá” 50 năm nữa may ra mới trồng lại được cây lúa.

Người ta cho các đội tàu thuyền lớn nhỏ của quốc doanh tung hoành khắp các vùng lãnh hải gần bờ xa khơi, đánh bắt các loại cá vô tội vạ bằng đủ thứ phương tiện, đủ thứ phương cách đến nỗi biển... cạn, biển... khóc, cá thì tuyệt chủng !

Người ta mở ra những xa lộ hiện đại dọc theo chiều dài đất nước bằng một đầu óc duy ý chí, đã tốn kém tỷ tỷ, không ngờ còn phá huỷ vành đai rừng phòng hộ đầu nguồn, khiến những vùng đất bên dưới vốn đã cằn cỗi nay lại phải chịu thêm hết lũ đá lại đến hạn hán kinh hoàng.

Người ta nhắm mắt làm ngơ cho những Công ty nước ngoài tha hồ xả nước thải khí độc, gây ô nhiễm những con sông dài đang là cơ may mưu sinh cho người dân nghèo, gây bụi mù xám xịt cả một vùng trời, chết chim, héo cây và ngộ độc phổi cấp cho trẻ em và người già.

Và hai năm nay thì người ta đã ngang nhiên háo hức, hồ hởi bán đứng Tây Nguyên – nóc nhà Đông Dương – cho việc khai thác Bauxite Đỏ. Người dân tộc thiểu số khốn khổ đã phải ngơ ngác thiên di đi nơi khác, nhường chỗ cho hàng ngàn công nhân Trung Quốc được nhập khẩu ồ ạt. Đất Tây Nguyên đang chảy những dòng nước lầy nhầy đất đỏ, mà dân Việt cũng bắt đầu chảy máu đỏ sau những cuộc xô xát với kẻ cướp đội lốt anh em láng giềng.

Nhiều bài viết đã phân tích những thảm kịch về khoa học, về đời sống, về văn hoá, cả về chủ quyền lãnh thổ... Chúng tôi không dám lạm bàn thêm, nhưng xin được đứng ở góc độ một người Công Giáo, lấy ánh sáng Tin Mừng rọi vào, làm bật lên những lời cảnh báo. ( Ảnh minh hoạ một hồ chứa bùn đỏ khai thác Bauxite tại Ấn Độ )

Vâng, chúng tôi xin được lập lại điều đã nêu từ đầu, đây là một lời cảnh báo, bây giờ và nơi đây ( now and here ) cho chính Hội Thánh Công Giáo Việt Nam chúng ta, chính là: “Người ta đang giết Đấng đã khơi nguồn Sự Sống”.

Tại sao chúng tôi lại dám nói như thế ? Thưa, vì khi người ta vô thần, không chịu tin vào Thiên Chúa thì người ta có thể làm đủ thứ chuyện bậy bạ tồi tệ. Người ta đâu còn tiêu chuẩn nào để lượng định thiện – ác, tốt – xấu. Lương tâm trở thành từ ngữ xa lạ. Lòng thương xót trở thành điều hiếm hoi, thậm chí... có điên mới nói chuyện thật thà lương thiện vào thời buổi này !

Khi lo Mục Vụ Bảo Vệ Sự Sống, chúng tôi từng nhận ra: khi người ta chủ trương hợp pháp hoá phá thai thì không còn gì để nói nữa, đã thản nhiên giết chết các bé thai nhi thì người ta cũng có thể phạm bất cứ tội ác kinh hoàng nào trên đời.

Thì ở đây cũng vậy, một khi người ta đã không chấp nhận tự do tín ngưỡng, tìm mọi cách trù giập các tôn giáo tử tế, thì làm gì còn có chỗ cho Lòng Tin vào một Thượng Đế, một Thiên Chúa, Đấng khơi nguồn Sự Sống cho chính bản thân họ đang được sống, đang sử dụng chính Sự Sống ấy mà chống lại Thiên Chúa. Và từ đó, mọi quyết định vận hành kinh tế, chính trị, văn hoá, giáo dục của đất nước này dần dần trở nên hỗn loạn, vô đạo đức, mất tích lương tri !

DCCT Thái Hà mấy ngày nay xôn xao chuyện Hồ Ba Giang lại đang bị ngang nhiên xâm phạm. Vẫn chẳng phải chuyện giành lại sở hữu một cái ao, một vuông đất, mà chính yếu vẫn là đòi Công Lý và Sự Thật phải sáng tỏ cho bằng được, đừng có ai tham lam mờ mắt mà dại dột thò tay vào xà xẻo, chia chác, tư túi, cho dù hậu thuẫn phía sau là đủ loại binh chủng khủng bố và vũ khí bạo lực. Và, may quá, nhạy cảm quá, người Công Giáo Hà Nội cũng đã thức tỉnh trong cả chuyện “Bauxite Đỏ”, lời ca Kinh Hoà Bình của họ cũng đang đòi “đem an hoà vào nơi tranh chấp”.ngọn nến nhỏ xíu trên tay họ không chỉ rọi vào khu Hồ Ba Giang mà còn trở thành những ngọn đuốc rực sáng cả vùng Tây Nguyên đang mịt mù tối tăm vì bụi đỏ cường quyền.

Lúc này đây, tuy đã chậm trễ lắm rồi, chúng tôi vẫn muốn kêu to lên với phía Công Giáo chúng ta, với các vị Giám Mục, các Linh Mục, các Tu Sĩ các Dòng và nhất là với tất cả anh chị em Giáo Dân thân yêu của mọi miền đất nước. Chúng ta là người Công Giáo, chúng ta không thể cứ mãi ở bên lề cuộc sống quê hương trong sự e ngại, do dự. Chúng ta không thể cứ mãi chờ đợi lẫn nhau mà không ai dám quyết định một việc gì thiết thực và can đảm. Chẳng lẽ chỉ vì sợ bóng sợ vía một cái gì đấy mà chúng ta lại không sợ điều đáng phải sợ hơn cả, đó là tiếng lương tâm, tiếng nói của Chúa Thánh Thần.

Chúng ta biết nhiều tội ác đã và đang hoành hành trên quê hương chúng ta. Phá thai mấy triệu ca một năm suốt nhiều năm qua. Chúng ta đã im lặng. Nay Bauxite Đỏ có tác hại đến Sự Sống con người ra sao, chúng ta đọc và nghe hết, hiểu hết. Chúng ta lại vẫn im lặng. Và như thế chúng ta cũng sẽ rơi vào bi kịch đồng loã với thế gian độc ác, với những kẻ muốn giết chính “Đấng đã khơi nguồn Sự Sống” !

Chúng tôi thấy các nhà trí thức, đa số ở Hà Nội, đã cùng với giáo sư Nguyễn Huệ Chi, viết một kiến nghị, lấy chữ ký mấy trăm kỹ sư, bác sĩ, giáo sư, nhà văn, nhà thơ, nhà báo để gửi cho nhà cầm quyền, đòi ngưng lại mọi sự đang diễn ra ở hai tỉnh Đăknông và Lâm Đồng.

Phải có một kiến nghị của phía Hội Thánh Công Giáo nữa chứ, mặc dù chúng ta dư biết có “kiến” cách mấy thì người ta cũng chẳng thèm “nghị” đâu, nhưng ít ra đây sẽ là tiếng nói của chính lương tâm chúng ta, những người đang tin vào “Đấng đã khơi nguồn Sự Sống” để Sự Sống thiêng liêng ấy không bị làm cho tổn thương trên quê hương Việt Nam thân yêu của chúng ta. Nó cho thấy người Công Giáo Việt Nam cùng trăn trở xót xa với vận mệnh của quê hương và dân tộc.

Chúng tôi kính mong, tiếng kêu này của chúng tôi được mọi người mạnh dạn hưởng ứng. Xin quý Đức Cha, quý Cha, quý nam nữ Tu Sĩ và anh chị em Giáo Dân gần xa, đừng vì chúng tôi chỉ là một Linh Mục quèn của một Hội Dòng thường bị cho là cấp tiến, mà đành bỏ qua không muốn nghe tiếng kêu của chúng tôi.

Chúng tôi chọn cách nói: “HÃY CỨU LẤY TÂY NGUYÊN KHỎI THẢM HOẠ BAUXITE ĐỎ”. Xin gửi ngay về địa chỉ Mail:
ttmvcssr@gmail.com chúng tôi sẽ cập nhật liên tục trên các websites của chúng tôi như http://www.trungtammucvudcct.com/http://www.dcctvn.net/ và mời gọi các websites khác có thể đăng tải lại cho rộng đường dư luận.

Thứ bảy 25.4.2009

Tái bút: Sau hơn 8 giờ đồng hồ gửi lời kêu gọi qua Mail và Blog, chúng tôi đã nhận được hơn 60 ghi danh hưởng ứng từ khắp mọi miền đất nước và cả các quốc gia khác nữa. Chúng tôi đã bắt đầu gửi lên các websites để đánh động được dư luận mạnh hơn và rộng hơn. Thật bất ngờ và xúc động, chúng tôi cũng nhận được một số phản hồi muốn vấn đề được lan nhanh đến cả những anh chị em không Công Giáo nữa. Xin chân thành biết ơn sự hiệp thông quý giá này. Vậy chúng tôi xin đưa ra mẫu ghi danh đầy đủ các chi tiết như sau:

Tên Thánh ( nếu có ) – Họ và tên – Nghề nghiệp – Nơi đang sống hoặc quê quán – Quốc gia.
Lm. Lê Quang Uy, DCCT




VietCatholic News (25 Apr 2009 06:15)

Wednesday, April 22, 2009

Mối lo sợ mới ở Việt Nam về một cuộc xâm lăng của Trung Quốc

Công nhân Việt Nam trong các hàng cây sao su ở Cao nguyên Trung phần
Việt Nam vào tháng 3/2006. Hình: Kham, Reuters

Cách đây 30 năm, bộ đội Việt Nam tiến hành một trận đánh mãnh liệt cuối cùng trên vùng đồi núi tỉnh Lạng Sơn gần biên giới phía bắc của đất nước để đẩy lui quân thù. Cả hai phía phải chịu đựng nhiều tổn thất kinh khủng, nhưng cuối cùng thì Việt Nam tuyên bố chiến thắng. Hàng thập niên sau, các mối quan hệ ngoại giao được phục hồi và hai quốc gia, ít nhất là ở bề ngoài, gọi lẫn nhau là bạn hữu. Kẻ thù cũ của Việt Nam hiện đang là một thành phần đầu tư quan trọng trong nước, quan hệ thương mãi song phương đang ở một thời kỳ cao nhất từ trước tới nay, và khách du lịch, chứ không phải quân đội, đang đổ vào.

Không, không phải là người Mỹ đổ vào đâu. Người Trung Quốc đấy. Là một phần trong một nỗ lực xông xáo mãnh liệt để bành trướng ảnh hưởng thương mãi cũng như chính trị trong vùng Ðông Nam Á Châu, Trung Quốc đang đầu tư nặng nề vào Việt Nam. Các công ty Trung Quốc hiện đang dính dáng vào vô số các dự án xây dựng đường xá, hoạt động khai thác quặng mỏ và các nhà máy phát điện. Nhưng mặc dù trên thực tế, sự hợp tác giữa hai quốc gia cộng sản đang được khuyến khích bởi giới lãnh đạo Việt Nam, thì sự tràn ngập thân hữu này không được ổn thoả mấy đối với một dân tộc đã từng chống trả sự xâm lăng của người Trung Hoa qua hơn hàng ngàn năm, gần đây nhất là vào năm 1979. Nhiều người Việt Nam lo ngại rằng Trung Quốc hiện đang được trao cho những cái chìa khoá không những chỉ vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên của đất nước nhưng cũng vào cả các khu vực chiến lược nhạy cảm, làm đe dọa đến nền an ninh quốc gia. Như ông Nguyễn Văn Thụ, chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp cơ khí Việt Nam cảnh báo thì "Cái mối nguy hiểm là Trung Quốc đã bỏ trúng thầu hầu hết các mối thầu xây dựng các nhà máy điện lực, xi măng, và hoá chất. Họ gặm nhấm tất cả và không chừa gì lại".

Ông Thụ nói rằng ông nghi ngờ vài công ty Trung Quốc đã trúng thầu các hợp đồng xây dựng bằng cách đưa ra các giá bỏ thầu thấp, có nghĩa là họ sẽ cắt chỗ này bỏ chỗ kia, đe doạ đến chất lượng và mức an toàn (của các công trình). Nhưng mối lo ngại lớn nhất của ông Thụ chính là sự tràn lan đổ vào Việt Nam của một số lớn lao động Trung Quốc, trong đó có cả những người nấu ăn và dọp dẹp, giành mất công ăn việc làm của người Việt Nam và đe doạ đến sự ổn định xã hội trong nước. Ông Thụ nhấn mạnh, "Các nhà thầu Trung Quốc đem mọi thứ vào đây, ngay cả cái bàn cầu! Những vật liệu đó thì Việt Nam có thể sản xuất, và về những công việc kia thì người Việt Nam có thể làm được".

Đòn sấm sét mới nhất đánh vào cảm tính chống Trung Quốc là kế họach của chế độ Hà Nội nhằm cho phép các công ty trực thuộc của Tập đoàn nhôm Trung Quốc (Chinalco) được khai thác quặng bô xít ở Cao nguyên Trung phần Việt Nam. Bô xít là nguyên liệu chủ yếu để chế ra nhôm mà Trung Quốc đang cần để cung cấp cho ngành công nghiệp xây dựng của họ. Việt Nam có một trữ lượng quặng bô xít chất lượng cao được ước tính vào khoảng 8 tỷ tấn, là nguồn dự trữ đứng vào hàng thứ ba trên thế giới.

Nhưng cái giá phải trả cho vấn đề môi sinh môi trường từ việc khai thác khoáng sản này có thể rất cao. Khai thác theo từng mảng thì có hiệu quả cao nhưng đất đai sẽ bị dày xéo và tiến trình chế biến bô xít sẽ thải ra một chất bùn đỏ độc hại, có thể thấm vào trong nguồn nước xử dụng nếu không được gìn giữ một cách thích đáng. Nhiều khoa học gia kỳ cựu cũng như phong trào bảo vệ môi sinh mới chớm nở ở Việt Nam đang thắc mắc về cái đầu óc khôn ngoan (nằm ở đâu) khi cho Trung Quốc cái quyền khai thác mỏ, trong khi chính các khu mỏ của họ phải đóng lại vì những tác hại to lớn sẽ gây ra cho môi trường.

Công nhân Trung Quốc

Nhưng sự chống đối thật sự dường như rất ít là về vấn đề bảo vệ môi sinh, mà nhiều hơn là do sự e ngại của Việt Nam đối với kẻ láng giềng ở biên giới phía bắc. Các nhóm theo chủ nghĩa quốc gia đã lên án việc Hà Nội phải nhượng bộ trước áp lực của một Trung Quốc đang đói khát về nguyên liệu, cho phép các dự án khai thác quặng mỏ được triển khai. Nhiều blogger đang ra sức báo động mối lo sợ về sự đổ tràn vào Việt Nam của lao động Trung Quốc, là một phần trong chiến lược lâu dài của Bắc Kinh nhằm chiếm đóng đất nước họ. Các tổ chức ủng hộ cho dân chủ bị cấm đoán ở Việt Nam, rất vui vẻ khi có bất cứ dịp nào để chỉ trích cái chính phủ độc tài, gọi công việc làm ăn khai thác quặng mỏ này là một "kế hoạch gây ra bệnh hoạn". Đầu tháng này, một nhà sư Phật giáo bất đồng chính kiến là Hoà thượng Thích Quảng Độ, đã cho rằng việc khai thác mỏ theo từng mảng sẽ phá hoại nếp sống của các dân tộc thiểu số trong vùng. Ngài còn nói thêm rằng dự án trên đã tạo ra "một bức tranh minh hoạ cho thấy Việt Nam lệ thuộc vào Trung Quốc". Nhưng lại không có sự phản đối kịch liệt như vậy đối với dự án của Tập đoàn nhôm khổng lồ của Hoa Kỳ là công ty Alcoa nhằm khai thác hai khu vực ở tỉnh Đak Nông thuộc Cao nguyên Trung phần.

Nhưng có lẽ điều không ngờ nhất là sự chống đối từ Ðại tướng Võ Nguyên Giáp, một nhà lãnh đạo quân sự Việt Nam rất được nể trọng, ông đã từng giúp Việt Nam đánh bại người Pháp, và sau đó là người Mỹ . Trong một lá thư gửi cho Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, vị anh hùng thời chiến 97 tuổi đã lên tiếng bày tỏ mối quan tâm về sự hiện diện của con số đông đảo người Trung Hoa ở vùng Cao nguyên Trung phần, vốn là cửa ngõ chiến lược của Việt Nam, là một nơi mà các cuộc chiến được quyết định thắng thua.

Những quốc gia khác trong vùng đã bị làm cho khó chịu vì sự thèm khát tài nguyên của Trung Quốc. Tháng trước đây, vì các mối lo ngại về an ninh quốc gia, chính phủ Úc đã từ chối một giá sang nhượng 1.8 tỷ đô-la của công ty khai thác quặng mỏ Minmetalscủa Trung Quốc để mua lại công ty OZ Minerals, là công ty khai thác quặng kẽm lớn đứng hàng thứ nhì thế giới hiện đang nợ nần như chúa chổm. Công ty OZ Minerals có những hoạt động gần khu thử nghiệm vũ khí Woomera của nước Úc

Nhà nước Hà Nội nói rằng họ đang lắng nghe những mối lo ngại này nhưng hình như vẫn giữ nguyên lập trường. Ông Dũng mới đây đã tuyên bố việc khai thác bô xít là "chủ trương lớn của đảng và nhà nước". Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải tái xác nhận sự ủng hộ của chính phủ, và nhiều cán bộ quan chức các tỉnh thành địa phương có mặt tại một hội nghị khai thác khoáng sản vừa qua để bảo vệ dự án này, lập luận rằng mặc dù có sự hiện diện của công nhân Trung Quốc, việc phát triển khu vực sẽ giúp ích cho các sắc dân thiểu số còn nghèo khổ đang sống trong khu vực.

Áp lực đối với Việt Nam để tiếp tục triển khai việc khai thác bô xít như đã dự định thì vô cùng to lớn, theo ông Carl A. Thayer, một chuyên gia về các vấn đề Việt Nam hiện đang giảng dạy tại Học viện Quốc phòng Úc Ðại Lợi ở Trường Đại học New South Wales. Việt Nam cần buôn bán với Trung Quốc, là nước có nền kinh tế đứng thứ ba trên thế giới, để tồn tại. Ông Thayer nhìn nhận rằng không có công ty nào ở Trung Quốc hoạt động một cách độc lập với nhà nước họ. Ông nói, "Nếu quý vị đi vào xa hơn, quý vị sẽ tìm thấy một sự liên hệ về quân sự hoặc an ninh nào đó. Nhưng một cuộc xâm lăng của Trung Quốc? Tôi không tin thế".

Năm ngoái, đầu tư nước ngoài vào Việt Nam bị sụt xuống một con số kỷ lục 11,5 tỷ. Trung Quốc trong năm qua có 73 dự án đầu tư vào Việt Nam với trị giá 334 triệu đôla. Nhưng trong tình hình kinh tế hiện đang suy thoái trên toàn cầu, đầu tư trực tiếp nước ngoài đã giảm xuống đến 70% trong ba tháng đầu năm 2009, so với cùng thời gian hồi năm ngoái.

Chế độ Hà Nội đang kêu gọi gia tăng đầu tư, và thậm chí còn vô vọng hơn mong chờ tiền bạc đổ vào từ bên ngoài khi mà hiện nay, nền kinh tế của họ đã bị san bằng. Việt Nam lại còn bị chồng chất một mức thâm thủng mậu dịch to lớn với Trung Quốc. Khi có thêm nhiều các công ty Trung Quốc từ bên kia biên giới đánh bạo bước vào Việt Nam, và đổ hàng triệu đô-la vào các dự án đầu tư mới, thì Hà Nôị không thể tự đưa ra tất cả các điều kiện. Hoặc họ không thể chỉ cứ đậy nút lại là xong. "Nhà nước Việt Nam cần phải thận trọng về cái mà họ mong muốn", theo ông Carl Thayer.

Martha Ann Overland. Time 16/4/09, Phan Lưu Quỳnh lược dịch
http://tiengnoitudodanchu.org/modules.php?name=News&file=article&sid=7363
http://www.time.com/time/world/artic...891668,00.html

Tổ Quốc Lâm Nguy! SOS! SOS! SOS!


Hỡi những người con yêu dấu của Tổ Quốc Việt Nam, các bạn ở đâu? Trên đất nước mình, từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mâu hay bôn ba ly tán nơi đất khách... Ðang lúc dầu sôi lửa bỏng, thế nước chênh vênh, ngoài biển tầu Trung Quốc đang rong ruổi trên vịnh Bắc Bộ và hải phận Việt Nam, trên đất liền khắp các tuyến biên giới phía Bắc đều bị giặc lấn chiếm!

Những ngày tháng qua, các tin xấu dồn dập đưa đến, giặc Tầu đã hiện diện ở khắp cả ba miền đất nước bằng nhiều đạo quân: Chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, di dân v.v... chúng đã chiếm cả vùng Tây Nguyên địa bàn sinh tử của cả ba nước Ðông Dương Việt, Miên, Lào.

Vấn đề khai thác Bauxite ở Tây Nguyên là chủ trương chiến lược lớn của Trung Quốc. Ðây là cả một quá trình được chuẩn bị từ trước, họ đã sẵn sàng bằng mọi giá chiếm Tây Nguyên. Ðại Hội X Ðảng CSVN, khi đó Bắc Kinh đã cử Giã Khánh Lâm - Ủy Viên BCT ÐCSTQ, sang Hà Nội chỉ đạo và sắp xếp nhân sự. Nhất quyết là phía VN phải cử Nguyễn Tấn Dũng lên vị trí Thủ Tướng. Họ Giã nói: “Ðó chính là nguyện vọng của TBT Hồ Cẩm Ðào đề nghị phía Việt Nam trong dịp ông thăm Việt Nam hồi tháng 11 năm 2005.”

Bầu người lãnh đạo đất nước không do dân mà theo nguyện vọng của ngoại bang thì còn gì là độc lập tự chủ?

Bắc Kinh đã dùng bọn Việt gian để che đậy âm mưu xâm chiếm nước ta.

Người Trung Quốc tiến xuống phía Nam lần này, dân tộc Việt Nam sẽ trở thành dân tộc thiểu số hoặc bị diệt chủng như dân Chiêm Thành!

Hơn một tỷ dân Tầu cần không gian sinh tồn, và để phát triển họ cuồng nhiệt đi tìm tài nguyên, Việt Nam là vùng đất lý tưởng nhất.

Bắc kinh có lợi thế là được những người lãnh đạo ÐCSVN mời gọi “hợp tác toàn diện”. Thứ nhất là di dân Tầu sang nước ta, từ giữa thập niên 90 theo chủ trương “xuất khẩu” 300 triệu dân Tầu ra nước ngoài của ÐCSTQ. Ðảng CSVN đã mở cửa hoan nghênh người Trung Quốc vàoViệt Nam, tự do làm ăn buôn bán, sở hữu tài sản, người Tầu được cả phía Bắc Kinh lẫn Hà Nội khuyến khích nâng đỡ, trong khi đó hàng triệu người Việt Nam bị đẩy ra nước ngoài một cách phũ phàng! Còn những người dân trong nước không được hưởng quyền lợi như người Trung Hoa. Tài sản đất đai không được pháp luật bảo đảm, ngược lại họ còn bị tước đoạt một cách hết sức trắng trợn lạnh lùng tàn nhẫn!

Chưa bao giờ lịch sử dân tộc đen tối bi đát như ngày hôm nay! Ai có thể ngờ rằng đất nước Việt Nam lại bị Bắc thuộc vào đầu thế kỷ 21. Trong một cuộc xâm lăng không tiếng súng nổ!

Dưới sự lãnh đạo của những “đỉnh cao trí tuệ”. Giặc xông vào nhà hàng triệu quân đội thiện chiến đã từng chiến đấu dũng cảm đẩy lùi quân thù ở khắp các tuyến biên giới phía Bắc 30 năm trước, hôm nay “án binh bất động”, còn các lực lượng công an trùng-trùng điệp-điệp thì làm nhiệm vụ bảo vệ an toàn cho giặc. Chúng lồng lộn lùng xục bắt bớ giam cầm các chiến sĩ yêu nước làm cho cuộc xâm lăng của Trung Quốc không gặp trở ngại nào.

Nhà văn Trần Vũ đã viết: “Chưa một đế quốc nào đi chiếm đất lân bang dễ dàng như đế quốc Trung Hoa đầu thế kỷ 21, vừa chiếm đất vừa khinh thị, vừa được Chế Mân ôm hôn thắm thiết”.

Kẻ xâm lăng trở thành người bạn tốt... Một sự tử tế bất ngờ của loài lang sói đang được đảng CSVN hết sức vuốt ve nâng niu bằng đủ mọi phương diện. Chúng dâng tất cả “rừng vàng biển bạc” của Tổ Quốc cho quan thầy. Bọn chúng rồi sẽ ra đi, nhưng hậu quả chúng để lại cho đất nước ta lại rơi vào vòng Bắc thuộc!

Hỡi đồng bào Việt Nam hãy lắng nghe lời hịch này:

“Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm quên ngủ ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ căm tức chưa được xả thịt, lột da nuốt gan uống máu quân thù.” (hịch tướng sĩ của Ðức Thánh Trần Hưng Ðạo.)

Ôi! Tháng ngày qua một viễn ảnh ảm đạm đáng sợ “mất nước”!!!

Không một tiếng súng nổ ngoài biên cương, không một tiếng động trước công luận quốc tế, trong một sự kiện hiển nhiên trần trụi. Người ta thoáng kinh ngạc, bởi Bộ Chính Trị cơ quan quyền lực cao nhất nước đã thỏa hiệp với Bắc Kinh hợp pháp hóa việc xâm lược, nên quốc tế không thể lên án phản đối kẻ xâm lăng.

Nhưng người ta có thể thấy một vẻ gì trầm uất ẩn hiện trong bầu trời Việt Nam năm tháng qua, với hàng trăm bản cáo trạng nẩy lửa, lên án ÐCSVN cấu kết với giặc, làm nội ứng cho giặc, bán nước, phủ kín trên các mạng và các blogs...

Lịch sử dân tộc Việt Nam trầm lắng ngấm đầy máu và nước mắt của nhiều thế hệ đã hy sinh vô bờ bến để bảo vệ gìn giữ từng tấc đất của Tổ Quốc, qua nhiều cuộc chiến tranh tàn khốc, hủy diệt của phương Bắc, và sự chống trả quyết liệt của tiền nhân ta suốt chiều dài lịch sử 4000 năm.

Ðất nước có lúc hưng thịnh, khi suy vong, nhưng chưa bao giờ tinh thần dân tộc tuột dốc thê thảm như ngày hôm nay! Chứng tỏ ÐCS có khả năng tàn phá sức sống dân tộc hơn bất kỳ loại giặc ngoại xâm nào.

Ai từng nghiên cứu lịch sử Việt Nam cũng có thể thấy một dân tộc tràn đầy sinh lực như dân tộc ta, chưa một đế quốc nào khuất phục được. Nhưng nó lại bị chính kẻ nội thù là đảng CSVN đánh quỵ. Từ thời Hồ Chí Minh, nỗi lo cơm áo, gạo tiền đã làm mất dần ý thức phản kháng của họ, bên cạnh đó là lực lượng công an mật vụ trùng trùng điệp điệp, chỉ dùng để theo dõi người dân như bóng với hình. Chúng rình rập từng bước đi, từng lời nói của dân, đưa đến tình trạng trên tám mươi triệu dân mà mỗi người đều trở lên cô đơn trơ trọi! Trước bầy sói công an do dân nuôi, đứng đầu điều khiển chúng là 15 Ủy Viên Bộ chính trị, tay sai của Bắc Kinh. Chúng sẵn sàng hy sinh dân tộc, hành động vì lợi ích của ngoại bang để giữ địa vị độc tôn.

Bọn chúng không thể hiểu sự nham hiểm độc ác của quan thầy. Với mưu đồ “qua cầu rút ván”, “bắt được thỏ rồi làm thịt chó săn”.

Các người hãy xem cái gương bọn Khờ Me Ðỏ và Pol-Pốt còn sờ sờ trước mặt. Chúng quên rằng âm mưu của Mao Trạch Ðông và Ban lãnh đạo Bắc Kinh là dùng bọn Khờ-Me Ðỏ (tức ÐCS) tận diệt dân tộc Cao Miên trong vòng 7 năm, sau đó làm thịt luôn bọn Khờ Me Ðỏ cho tuyệt chủng, rồi đưa 10 triệu dân Tầu sang, sau đó đánh chiếm Việt Nam từ hai phía với chính sách diệt chủng!

“Qua cầu rút ván”, “bắt được thỏ rồi, làm thịt chó săn.”

Mao Trạch Ðông chắc sẽ mãn nguyện với các mục tiêu mà ông nhắm tới trong việc dùng Ðảng CSVN làm công cụ hữu hiệu nhất để xâm lược Việt Nam. Ngay từ đầu cuộc cách mạng, họ Mao đã dùng Hồ chí Minh phất cao ngọn cờ quốc tế vô sản làm chiêu bài xâm lăng. Hôm nay, Hồ Cẩm Ðào kịch bản cũ lại diễn ra, Ðảng CSVN tiếp tục sự nghiệp Hồ chí Minh là cúc cung tận tụy phục vụ ngoại bang để giữ địa vị độc tôn quyền lực một cách u mê, ngu muội, dại dột, tự nguyện đưa cổ vào tròng để quan thầy ngày càng thắt chặt hơn. Bọn chúng không hiểu người Tầu trước sau vẫn là: “Qua cầu rút ván”, “bắt được thỏ rồi làm thịt chó săn”.

Stalin đã từng giết hàng trăm tướng soái, những công thần đã giúp ông làm nên sự nghiệp đế vương. Mao Trạch Ðông cũng đã từng làm thịt hàng loạt các tướng soái, các đồng chí người Hán đám công thần, còn bọn Mạnh, Dũng, Phú... là dân ngoại tộc sinh mạng bọn bay có nghĩa gì? khi mà người Tầu đã chiếm trọn được Việt Nam.

“Qua cầu rút ván”, “bắt được thỏ rồi làm thịt chó săn”

Từ Tông Thái Tổ, Mao Trạch Ðông đến Hồ Cẩm Ðào cùng một âm mưu, thế nhưng nó được thể hiện bằng phương pháp khác nhau mà mục đích giống nhau.

Gieo gió gặp bão, bọn Nông Ðức Mạnh, Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng sẽ tự chuốc lấy cái họa cho chính bản thân chúng và con cháu của chúng.

Chúng bay nhớ rằng: Làm tay sai cho thực dân Pháp lúc sa cơ thất thế còn có chỗ nương thân, còn làm tay sai cho giặc Tầu Cộng thì mồ mả cha ông chúng bay cũng không có chỗ để táng! Rồi theo dòng thời gian đến con cháu người Việt cũng không có chỗ về cố hương của họ, cũng chẳng thể về Hoa Lục!

Con người ai không yêu quê cha đất Tổ, song có thể không còn đất Tổ để mà yêu! Ðất Tổ một phần đã bị chiếm thành đất của người Trung Hoa, phần còn lại đang bị Hán hóa! Trước mắt là rừng núi Tây Nguyên đang bị bức tử, sinh thái Tây Nguyên bị tiêu diệt, các dân tộc thiểu số tiêu vong!

Chúng ta không thể khoanh tay thúc thủ, để mặc hiểm họa lù lù đến cho dân tộc, mang nỗi nhục thiên thu cho con cháu!

Chúng tôi kêu gọi tất cả mọi người có lương tri hãy bày tỏ sự phản kháng quyết liệt, không do dự, kể cả các tôn giáo. Ðứng về mặt đạo đức, tôn giáo không thể là kẻ bàng quang đứng ngoài cuộc. Nhất là về mặt bảo vệ Tổ Quốc, phải chung vai sát cánh với dân tộc. Vì sự tồn vong của đất nước là sự tồn vong của các tôn giáo. Do đó các tín đồ có bổn phận trách nhiệm, phải đặt quyền lợi danh dự tổ quốc lên hàng đầu, tham gia vào cuộc đấu tranh chống bọn bá quyền Trung Quốc. Một tấc đất bị giặc chiếm, một thước sông để mất là trách nhiệm chung của mỗi công dân Việt Nam. Một ngư dân bị giặc Tầu giết cũng là máu thịt đồng bào, nếu đất nước bị xâm lăng thì đất của Chùa, của nhà Thờ còn giữ được chăng?

Thưa quí vị lãnh đạo tinh thần các tôn giáo, đất nước đang ở khúc quanh hiểm nghèo nhất! Các nhà khoa học, các nhà trí thức, nhà văn, nhà báo, sử gia, sinh viên, các cựu quân nhân những người có ý thức dân tộc. Tất cả đều có duy nhất một mối lo trước họa xâm lăng của người Trung Quốc.

Vậy, chúng tôi khẩn cầu các ngài linh mục, tu sĩ, các chư tăng... hãy nhận lãnh trách nhiệm kêu gọi các tín đồ xuống đường cầu nguyện cho đất nước và tham gia vào các cuộc biểu tình chống Trung Quốc xâm lược. Ðây là nghĩa vụ thiêng liêng trước vấn đề sinh tử của tổ quốc không thể thoái thác, mong thay!

Tất cả tám mươi triệu đồng bào cùng hành động để bảo vệ đất nước. Hãy tỏ thái độ rõ ràng dứt khoát với nhóm lãnh đạo đảng CSVN, những kẻ đã quay lưng lại với dân tộc “rước voi về dày mả tổ” không thể tha thứ.

Chúng tôi kêu gọi các đoàn thể, các đảng phái, hãy phát động một cuộc tổng nổi dậy, vì sự sống còn của tổ quốc, tất cả hãy xuống đường!

Tổ Quốc Việt Nam muôn năm!
Tổ Quốc Việt Nam muôn năm!
Tổ Quốc Việt Nam muôn năm!

Trần Nhu

* Source:
http://www.vietvungvinh.com/Portal.a...0090421_02.htm

Đến Những Bạn Như Tôi

Hơn 34 năm về trước tôi là một đứa trẻ rất nhỏ. Sài Gòn còn đọng lại trong tôi qua hình ảnh của cha mẹ để lại. Tôi lớn lên trong lòng chế độ cộng sản, được giáo dục bởi chế độ, nhưng rồi trong tôi "thức tỉnh" những điều và cảm thấy mình may mắn được nhận ra. Cái quan tâm lớn nhất của tôi là làm thế nào để những thế hệ của tôi và nhỏ hơn được biết ra sự thật về cuộc chiến tranh hơn 30 năm về trước. Thời gian này được dịp để tôi có đôi lời tâm sự và nhắn gởi.

30/4 đen, 30/4 Quốc Hận. Ít nhất một lần khi nghe điều này tôi và các bạn đều nghĩ là gàn, thậm chí là " phản động ".Và rồi một ngày khi tôi phát hiện, mình cũng như bao thế hệ thanh niên khác đều bị lừa, những gì mà chúng ta tiếp nhận từ nền văn hoá cộng sản hoàn toàn trái ngược. Tôi tin vào những điều đó đơn giản chỉ là một cái nhìn qua cuộc sống thực tế và những gì mà đảng cộng sản đương thời đã và đang gây hại cho dân tộc Việt Nam.

Hôm nay, một 30/4 nữa lại về, chúng ta không ăn mừng một chiến thắng vẻ vang hay một ngày toàn thắng giành độc lập.Tôi và các bạn đang tiếp tay cho đảng cộng sản ăn mừng ngày 30/4 tang thương này một cách vô thức. Đây là một biến cố đau thương là vì ngày này chính là ngày Miền Nam Việt Nam chúng ta đã bị cướp bởi Cộng Sản Bắc Việt. Hai cuộc kháng chiến lớn chống Pháp-Mỹ mà chúng ta được nhồi nhét vào đầu thực chất là một âm mưu bành trướng thế lực của cộng sản đỏ. Đâu chỉ thế, ngày này đã khiến cho toàn dân tộc Việt Nam mất đất nước vào tay ngoại bang phương bắc mà tập đoàn cộng sản là chiếc cầu nối để rước voi về giày mả tổ.

Thật vậy, hãy thử nhìn lại, thảm cảnh ngày hôm nay, người dân chúng ta đâu chỉ ăn đồ Tàu, xài đồ Tàu mà các cô gái Việt Nam hôm nay trở thành những món hàng cho trai Tàu lựa chon. Hơn thế nữa, đất nước chúng ta đã bắt đầu xuất hiện những con đường mang tên Tàu. Cái tên Sài Gòn bị đảng cộng sản thay bằng tên thành phố Hồ Chí Minh. Tôi và các bạn vẫn còn có một ngày sẽ đòi trả lại hai chữ Sài Gòn vốn trở thành cái tên thân yêu và mãi mãi vĩnh cửu trong lòng tất cả .Thế nhưng nếu bị đổi là thành phố Mao Trạch Đông hay Ôn Gia Bảo...thì một chút cơ hội cho chúng ta cũng sẽ không còn. Sự tủi nhục và thảm cảnh này ai có tội? Người Việt Nam chăng? Không, họ chỉ có lỗi khi câm nín sống xuôi theo chiều gió chứ không có tội. Kẻ có tội chính là đầu sỏ Hồ Chí Minh- người mà chúng ta luôn bị bắt buộc phải tôn kính và học tập, là nhà cầm quyền cộng sản tàn ác mà ông ta đã đào tạo nên. Tôi và các bạn, sự im lặng của chúng ta bao năm qua là tiếp tay cho thế lực gian ác đó.

Trên thực tế, người dân dù ngu dốt, ít học và thiếu hiểu biết nhưng vẫn có thể nhận thức được rằng họ đang bị đối xử bất công, thậm chí nhà cầm quyền cộng sản đôi khi xem họ thua cả loài vật. Người dân chỉ có bổn phận nghe và làm theo chứ không được quyền nói, điều này tôi và các bạn đều được chứng kiến hàng ngày.Thế nhưng có căm phẫn, chửi rủa sự tàn bạo của chế độ này cũng không đưa đất nước thoát ra khỏi thảm cảnh hiện nay. Tự do thật sự không phải đòi mà có, nó cần phải được đánh đổi, đôi khi cả bằng máu.

Đất nước chúng ta thật sự đã mất kể từ ngày mất Miền Nam Việt Nam chứ không phải đến bây giờ mới thảng thốt kêu: “Sắp mất nước!" Lời nói vô hại, sự than vãn cũng không có ích lợi gì. Thế nhưng nếu như lời nói có thể tẩy não thế hệ như chúng ta và lớp trẻ mai sau vốn đã bị nền giáo dục cộng sản độc hại, có thể thức tỉnh để xiết chặt tay trong tay cùng nhau đập tan sự thống trị nhu nhược đối với ngoại bang và tàn bạo với dân tộc, để đòi lại quyền làm người cho bạn, cho tôi và cho tất cả những người dân Việt khốn khổ dưới ách thống trị của đảng cộng sản mấy mươi năm qua. Chúng ta chẳng phải đã từng học: "Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh". Đất nước hôm nay, đâu cần giặc phải đến bởi giặc vốn đã ở trong mái nhà của chúng ta từ lâu thì hà cớ gì chúng ta lại câm nín, đem những đồng tiền mồ hôi, thấm đượm nước mắt để vỗ béo cho những tên thái thú, những tên cộng nô vốn mang hình dạng người nhưng không khác gì bầy sói lang. Nói mất Hoàng Sa-Trường Sa, giới trẻ chúng ta đa phần vẫn bàng quang cho rằng "chuyện nhà nước". Nhà không có mái sao gọi là nhà? Đất nước không còn, mái ấm gia đình tất sẽ không còn.

Hãy thức tỉnh đi các bạn! Chúng ta là những con người thực, có tri giác và biết nhận thức thì đừng cam tâm sống trong thế giới ảo mà đảng cộng sản đã áp đặt tạo dựng. Im lặng chính là sự đồng thuận với tội ác. Một tiếng nói, một lời rỉ tai cho dù nhỏ bé nhưng với trăm ngàn tiếng nói ấy góp lại sẽ trở thành một cơn sóng lớn nhấn chìm tập đoàn đảng cộng sản bán nước cầu vinh trong một ngày không xa.

Thúy Nga
Việt Nam

>> nguồn

Tuesday, April 21, 2009

Dân Mình Vùng Lên

Nguyễn Tấn Dũng tên tội đồ dân tộc
Rước Voi về dầy mồ mã Tổ Tông
Trung Quốc đưa dân xâm nhập Việt Nam
Nhục đất nước thêm nghìn năm nô lệ !

Nguyễn Minh Triết làm nhục cho quốc thể
Tên đứng đầu bị áp lực họ Nông
Tổng Bí Thư đảng cộng bọn cuồng ngông
Dâng đất nước, cam tâm làm nô lệ !

Ôi ! Việt Nam quê hương ta ngạo nghễ
Nay còn đâu ! Nếu toàn thể cúi đầu
Hãy đứng lên ! Dù phải chịu máu rơi
Nam Trung Bắc dù thây phơi máu đổ !

Tổng Nổi Dậy ! đúng, đây là thời điểm
Ngày toàn dân, toàn diện ta vùng lên
Đuổi Tàu ô ra khỏi cửa biên cương
Cùng dân tộc, dựng lại nền dân chủ . . .

Trần Bửu Hạnh
Ngày 20 tháng 4 năm 2009

Friday, April 17, 2009

Báo Nguy Dân Tộc - Nguyễn Quang

Toàn Dân nghe chăng ?
Sơn hà nguy biến!
Biên thuỳ rung chuyển!
Ba mặt cùng Nội địa Việt Nam đều đang bị xâm thực mỗi ngày!!

I.-Mặt trận nước rút của kẻ thù truyền kiếp

Bây giờ thì mọi mưu đồ tàm thực của Bắc triều đã tới hồi nước rút, các trận tuyến bao vây đã làm xong, chưa bao giờ Trung cộng tỏ ra trắng trợn và lỗ liệu như hiện nay, chỉ cần một ít thời gian nữa là chúng sẽ hoàn tất công trình bành trướng, biến Việt Nam trở thành một quận huyện của chúng!

1.- Ở mặt Bắc thì Trung cộng đã lấn chiếm được những cứ điểm quan trọng ở Cao - Bắc - Lạng,

2.- Ở miền Đông thì chúng đã lấn chiếm vùng biển từ Vịnh Bắc bộ xuống tới Hoàng Sa Trường Sa.


3.- Ở phiá Tây đã có xa lộ Trường Sơn được CSVN xây dựng giùm Trung Cộng nay còn vô dụng, còn đợi thời cơ hữu dụng chuyển quân, chúng đã án ngự các điểm cao chiến lược ở Cao nguyên Trung phần:trung tâm khai thác mỏ Bauxit ở Đăk Nông, Lâm Đồng...
Đây là gọng Kìm đang xiết cổ Tổ quốc Việt Nam.


4.- Quan trọng hơn cả là mọi cơ chế và mọi hoạt động của Việt Nam đều có tình báo của kẻ thù phương Bắc cài vào để kiểm soát và khống chế.

Về quân sự thì chúng đã gài những tay sai thân Trung cộng, nắm quyền chỉ huy.

Về kinh tế thì đổ tuôn các hàng hoá rẻ của Trung công để tiêu diệt các ngành tiểu công nghệ VN, tiếp theo những vụ ngày xưa như mua móng trâu bò, mèo chuột, rắn, ếch, nhái. . để phá môi trường, hoa màu, đem những thực phẩm tẩm ricin và formol sang để đầu độc.

Những vụ in bạc giả để lũng đoạn kinh tế. . ., không biết bao nhiêu hoạt động như thế ta không thể kể hết được!

Về Công nghiệp thì nay tụi Bắc Bộ phủ đã tìếp tay giúp cho Trung cộng trúng dấu thầu những công trình to lớn để đem đội quân x âm lược qua làm ăn, nằm vùng phục sẵn chờ cơ hội: Tĩnh vi dân, động vi binh

Nay chúng đem các máy lạc hậu không chỗ phế thải qua làm ăn, để tránh làm ô nhiễm môi trường của chúng.

Về Văn hoá nay Viêt Công lại cho thiết lập Viên Khổng học . Đây là mặt trận văn hoá mới, đem thứ văn hoá mà Trung Cộng đã la lên :” Khổng Khâu nghiết phẩn chi học: Đạo Khổng là cái học ăn cứt” ( cũng giống như việc tụi Công An Hà Nôi đã 6 , 7 lần đem phân ném vào nhà văn yêu nước Trần Khải Thanh Thủy ).

Thực ra đây là thứ văn hoá bạo động của du mục phương Bắc chuyên gây chiến tranh cướp bóc và bành trướng. Khổng học đây là thứ đã bị gác Thạch Cừ của nhà Hán cạo sửa xuyên tạc để phò chuyên chế, trước kia thì phò vua, nay thì phò đảng.

Việc lập Viện này chỉ là rước viện văn hoá bành trướng bạo động của phương Bắc mà thôi.

Còn văn hoá Việt là nền văn hoá “ Khoan Nhu “ phương Nam, biết lấy: “ Dân vi quý, xã tắc thứ chi, Quân vi khinh ( đảng cũng quá vi khinh )

Về Giáo dục thì đâu có biết chi đến yếu tố thành Nhân, nên cũng không thể thành Thân được, mà toàn sản ra toàn những loại hoa cỏ cứt lợn ( Cỏ cụ Hồ, hoa cứt lợnanh từ của Cụ Phan Khôi trong thời Nhân Văn Đất Mới ), nặng đầu óc nô lệ ,chuyên môn dẫm đạp lên nhau, lừa đảo nhau mà sống. Nay đem Khổng học mạo danh để xâm lăng văn hoá!

Về chính trị thì toàn là một phường Bán Nước buôn Dân, loại này rất giỏi về việc tiêu diệt những thành phần tinh hoa của Dân tộc,công việc này đã bắt đầu từ năm 1945, đến nay chúng vẫn còn tiếp tục tiêu diệt thành phần yêu nước trong phong trào Dân chủ Nhân quyền.

Về dân sự thì có vô số Công an được Trung cộng huấn luyện, để dạy cách kềm kẹp dân và tiêu diệt những phần tử yêu nước trong các phong trào dân chủ.

Về Tôn giáo chúng tạo ra được một thứ Tôn giáo phò Đảng và sống Đạo ngoài Đời, chỉ biết ca tụng hay im tiếng để được ăn trên ngồi trốc. Nhờ Tôn giáo có “ cái vỏ hoà bình “ này mà chúng rảnh tay gieo rắc Bá đạo mà hại dân bán nước.

Tuỷ sống Việt Nam đã bị rút hết, thử hỏi như vậy Việt Nam còn có chủ quyền không? Còn có thực lực không? Ai đã giúp Trung cộng thực hiện được những công trình cắt gân Achille dân Việt Nam như thế, công trình mà đã hàng ngàn năm nòi Hoa Hán không thực hiện được ?

Thưa:

Đảng CSVN đứng đầu là Hồ Chí Minh, nay là Nông Đức Mạnh, Nguyễn Minh Triết , Nguyễn Tấn Dũng.Chúng đã cam tâm làm con chó nhỏ, trung với đảng CS hiếu với Trung Cộng, nay đã bị xiết vòng Kim Cô rồi không thể cụi quậy gì được nữa!Chúng và bè lũ là những tên tội đồ kinh tởm của Dân tộc!

II.- Toàn hơn 80 triệu dân đâu rồi?

Trước hoàn cảnh như vậy,hơn 80 triệu đồng bào đã nghe gì và có thấy gì liên quan đến vấn đề:

Sơn Hà nguy biến!
Toàn Dân nghe chăng?


Chúng ta thử hỏi, thực sự “ Sơn hà có bị nguy biến không ? Hay đây là những lời quá đáng của mấy kẻ chống Cộng mù quáng cực đoan?

Không, trăm lần không, việc này ai cũng nghe cũng thấy và cũng biết. Vấn đề là Nghe Thấy và Biết để mà cùng nhau vươn lên vực dậy, hay chỉ cứ điềm nhiên bất động như không có chuyện gì!

Là con Rồng cháu Tiên của một đất nước gần 5000 năm văn hiến,chúng ta không thể ngồi thản nhiên nhìn toà nhà Việt Nam đang âm ỉ cháy hàng ngày hàng giờ được!Toàn dân là ai đây?

1.- Trước hết là Quân đội nhân dân. Quân đội là để giữ nước cho nhân dân.Nay Đất Nước đang vô cùng lâm nguy, các vị trong quân đội Nhân dân đang ngủ hay đang làm gì đây? Bảo vệ dân đang bị đảng CSVN ngu hoá và bần cùng hoá , hay bảo vệ đảng CSVN , để họ tiếp tục làm tay sai bán nước và hại dân?Xin các vị sửa lại cái tên cho thích hợp:

Hoặc là quân đội nhân dân thì phải cứu nước !

Hoặc là đổi tên thành “ Quân đội phò xâm lược “ để cho được chính danh.


2.- Về phía các Ngài lãnh đạo tinh thần trong và ngoài nước mới chỉ có một mình Hòa Thượng Thích Quảng Độ lên tiếng kêu gọi “ Toàn dân bất tuân dân sự trong tháng 5 “ thôi sao? Còn như tất cả đang bất động, chưa nghe và chưa thấy gì,mọi sự đều xem như đất nước ta đang yên hàn vô sự, hay chắc đang có chương trình gì to lớn hơn chăng?Giáo dân Hà Nội đã nhập cuộc đòi công Lý xã hội, đây là HÀNH ĐỘNG TUYỆT VỜI, tuy chỉ là việc nhỏ, nhưng có nội dung to lớn vô cùng, nếu trận tuyến còn được tiếp tục dài dài cho đến khi công lý xã hội tương đối được thực hiện bằng cách xoá đi những bất công triền miên do đảng CSVN gây ra đã 64 năm nay, thì họ là những người cứu nguy cho Đất Nước thực sự.

Nhưng đứng trước sự Nguy biến của sơn hà hiện nay thì việc đòi Công lý chưa khẩn thiết bằng, vì cứ dửng dưng để cho Nước mất là đánh mất thứ Công lý lớn lao hơn hết.

3.-Các Ngài Trí thức trong và ngoài nước mới chỉ còn có một số người trong các phong trào Dân Chủ cùng một số người chiến đấu trên mặt trận tư tưởng thôi sao?Còn vô số những vị khác nay đang ở đâu?Nếu cứ bất động, để mất Nước là người Trí thức chúng ta chỉ còn phần Trí mà đã đánh mất phần Thức rồi!

4.-Toàn dân cũng chỉ có những người dân oan khiếu kiện thôi sao?

Họ vẫn không đáng trách, là vì họ thấp cổ bé miệng, họ có nghe, có thấy, có biết chăng là do các nhà trí thức các nhà truyền thông tìm cách thông tin và giải thích cho họ mới mở mắt mở trí mở tai ra, còn họ đang bi vây khổn vì miếng cơm tấm áo.

Tuy nay tội lỗi tày trời của CSVN đã tỏ rõ, nhưng chưa có ai giải thích vấn đề rõ ràng cho họ, dẫn đạo họ trên đường bảo vệ và xây dựng Đất Nước, đó là trách nhiệm của các nhà lãnh đạo tinh thần và trí thức.

Trước tình trạng đất nước hiện nay, không có phù phép nào hữu hiệu, ngoài việc vận động được toàn dân vùng lên vực dậy!

Vì vậy mà trách nhiệm của các nhà lãnh đạo tinh thần và hàng ngũ trí thức rất là nặng nề và vô cùng quan trọng,. Trách nhiệm lịch sử đang đè nặng trên hai vai của quý vị. Quý vị không thể không Nghe, không Thấy, không Biết và không Làm gì được chăng ? Nếu tất cả quý vị không cùng đan tay với nhau mà chung Lòng chung Sức mà vùng lên thì tất sớm sẽ đưa tới sự Lâm nguy cho Đất Nước.

Những vị đứng đầu của các hàng Giáo phẩm các tôn giáo ở đâu, nhất là các vị ở hải ngoại, các ngài phải tìm cách liên kết với nhau, cũng như dùng uy tín của mình để giúp các trí thức ngồi lại với nhau, mà kết hợp lại thành đầu tàu để kéo các toa tàu quốc gia theo mà thoát hi ểm. Xin các Ngài tha thứ cho lời nói khó nghe này.

Đừng có ngồi yên để không biết làm gì, cứ bắt tay vào việc thì chuá Thánh Thần và Hồn thiêng Sông Núi sẽ hướng dẫn cho quý vị, các vị lãnh đạo tinh thần có thể giúp quy tụ một số trí thức nòng cốt lúc ban đầu, có làm việc chung mới có sáng kiến, mới gây dựng thực lực được. Vụ Giáo dân Thái Hà cầu nguyện, nhất là 8 giáo dân bị cáo là một ví dụ điển hình.

Đừng cậy ỷ vào ai nhiều được, trước khi nhờ cậy một ai, thì chính chúng ta phải có nội lực trước, nếu không thì lại sa vào vòng nô lệ khác.

Cầu xin Chúa, Thượng Đế, Trời Phật, Hồn thiêng sông núi soi sáng và ban ơn sức mạnh cho mỗi chúng ta!

Thật Không còn thì giờ để cho chúng ta chờ đợi viển vông nữa!

Trân trọng,

Nguyễn Quang

Nguồn: vietland
__________________
"Giữa sỏi đá vút vươn niềm hy vọng
Trong tro tàn dào dạt nhựa hồi sinh
Hận nội thù trên máu ruột Tiên Rồng
Căm giặc cộng (BÁN) non sông Hồng Lạc"
(YTKCPQ)

Wednesday, April 15, 2009

Trước Biến Cố Bauxite - Việt Dương



Cướp đất của dân, rồi dâng đất tổ tiên,
Ta cướp ta rồi Tàu cũng cướp…
Liệm xác Việt Nam dưới Mặt Trời Hồng.
Thái Hữu Tình


Mấy tháng nay việc nhà cầm quyền Việt Nam cho Trung Quốc vào khai thác bauxite ở Tây Nguyên đã dấy lên một làn sóng phản đối trên toàn quốc từ những đảng viên Cộng Sản lão thành, chuyên gia, trí thức tới dân chúng.

Nhân mùa tưởng niệm 30-4, chúng tôi xin ghi lại một số sự việc đang diễn ra về biến cố này để cùng nhau nhìn vào sự nguy vong của đất nước trước những việc làm của đảng Cộng Sản Việt Nam.

1. Những tiếng kêu

Trước hết là tướng Võ Nguyên Giáp, qua thư gửi thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, ngày 5-1-09, tướng Giáp cho biết là năm 1980, chính phủ đã có chương trình khai thác bauxite trong kế hoạch hợp tác với khối COMECON, nhưng đã phải bỏ vì sau khi khảo sát, các chuyên gia Liên Sô và khối COMECON đã khuyến nghị Việt Nam không nên khai thác bauxite trên Tây Nguyên do những tác hại sinh thái lâu dài, nghiêm trọng không thể khắc phục, chẳng những đối với dân cư tại chỗ mà còn cả với dân cư vùng đồng bằng miền Nam Trung Bộ. Ngoài việc tác hại sinh thái, tướng Giáp còn nói đến vấn đề an ninh quốc phòng và đã nêu lên một sự kiện là trong tháng 12-2008 đã có hàng trăm công nhân Trung Quốc đầu tiên có mặt trên công trường và dự kiến cao điểm sẽ lên tới vài nghìn tại mỗi dự án. Trong thư, tướng Giáp nhắc nhở: “Việc xác định chiến lược phát triển Tây Nguyên bền vững là vấn đề rất hệ trọng đối với cả nước về kinh tế, văn hóa và an ninh quốc phòng”, vì thế ông đề nghị: “Cho dừng triển khai các dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên”.

Sau tướng Giáp là tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, cựu chính ủy quân khu 4, cựu Đại Sứ Việt Nam tại Trung Quốc từ 1974 tới 1989, gửi thư ngỏ cho Bộ Chính Trị, Thủ Tướng và các Phó Thủ Tướng, phản đối việc cho Trung Quốc khai thác bauxite tại Tây Nguyên, trong thư ngoài vấn đề tàn phá môi trường, tướng Vĩnh nói về mối họa Trung Quốc:

“Trung Quốc xây dựng căn cứ hải quân hùng mạnh ở Tam Á, đảo Hải Nam, nói thẳng ra là không phải để chống kẻ thù xâm lược nào, mà là đe dọa Việt Nam và sẵn sàng chờ thời cơ thôn tính nốt Trường Sa của chúng ta, sau khi nhanh tay chiếm Hoàng Sa từ tay chính quyền Sài Gòn.

Nay lại để Trung Quốc khai thác bauxite ở Tây Nguyên thì sẽ có năm, bảy ngàn hoặc một vạn công nhân hay quân nhân Trung Quốc đến cư trú và hoạt động tại đây, sẽ hình thành một “thị trấn Trung Hoa”, một “căn cứ quân sự” trên địa bàn chiến lược vô cùng xung yếu của chúng ta”.


Sau khi dẫn chứng về việc Trung Quốc ngang ngược thiết lập huyện Tam Sa với ý thôn tính cả Hoàng Sa và Trường Sa, tướng Vĩnh nói với lãnh đạo đảng Cộng Sản là không thể cứ tiếp tục để cho Trung Quốc áp đặt, ép chúng ta làm theo ý họ mà phải đấu tranh để bảo vệ lợi ích chính đáng của tổ quốc.

Ngoài hai vị tướng, nhà văn quân đội Phạm Đình Trọng, trong bức thư dài gửi Thủ Tướng Chính Phủ, đã nói về tham vọng bành trướng lãnh thổ của Trung Quốc dọc theo lịch sử Việt Nam. Và dưới thời Cộng Sản Việt Nam từ 1954 tới nay ông Trọng đã ghi lại những miền đất Trung Quốc lấn chiếm như sau:

- Thác Bản Giốc: Năm 1976, hàng ngàn quân Trung Quốc đã tràn qua biên giới ngăn thành hàng rào che chắn cho thợ đổ bê tông cột mốc, chia cắt thác Bản Giốc làm đôi, chiếm nửa thác của ta, trước kia thác cách biên giới hơn 12 km, còn bây giờ phân giới, phần thác đã nằm phía bên Trung Quốc hơn phân nửa.

- Ải Nam Quan: Năm 1973, bộ đội Việt Nam đứng gác ở Mục Nam Quan, còn nay thì Hữu Nghị Quan và nhiều ngôi nhà xây từ thời Pháp đã ở trên đất Tàu, và đường biên giới đã lùi sâu vào đất ta đến năm, sáu trăm mét.

- Bản Sẻo Lủng: Năm 1992, quân Trung Quốc kéo đến bản Sẻo Lủng, mỏm cực bắc huyện Đồng Văn, Hà Giang, đốt phá nhà cửa dân ta, rồi tuyên bố đất Sẻo Lủng là lãnh thổ Trung Quốc. Ngoài mấy vùng có tên, Tàu đã chiếm nhiều cao điểm và những núi có giá trị chiến lược dọc biên giới.

- Còn đảo thì Tàu chiếm Hoàng Sa tháng 1-1974, và nhiều đảo ở Trường Sa năm 1988.

- Đến nay thì Trung Quốc đem công nhân vào khai thác bauxite ở Tây Nguyên.

Về bauxite, ông Trọng nói đến sự hiểm độc của Trung Quốc, khi cần tránh thảm họa môi trường do bauxite gây ra đã thực hiện chính sách xuất khẩu thảm họa môi trường để nhập khẩu nhôm thô và alumina từ những nước khác. Vì thế, cả lục địa Châu Phi đã trở thành bãi khai mỏ của Trung Hoa. Khi thấy trữ lượng bô xit ở Guinea không lớn, lại xa quá, nên Tàu đã chiếu cố Tây Nguyên Việt Nam. Và Tây Nguyên sẽ thành bãi khai mỏ bô-xít của Trung Hoa, thành cái chợ Trung Hoa.

Trong thư có đoạn: “Những diễn biến của những năm tháng lịch sử vừa qua lại cho chúng tôi thấy những người có trách nhiệm quản lý đất nước của nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam không những đã không giữ được trọn vẹn dải đất Viêt nam gấm vóc và thiêng liêng mà cả đến việc khai thác tài nguyên đất nước dường như cũng không vì lợi ích của đất nước Việt Nam, không vì nhân dân Việt Nam… Khai thác bô-xít Tây Nguyên là chủ trương lớn của đảng và nhà nước. Nhưng khai thác bô-xít Tây Nguyên cũng đặt ra những vấn đề lớn về độc lập dân tộc, về mục đích và hiệu quả sử dụng tài nguyên đất nước, về môi trường sống và không gian văn hóa của đất nước”.

Một tiếng kêu tiêu biểu khác thuộc giới chuyên gia là tiến sĩ Nguyễn Thành Sơn, Giám Đốc Công ty Năng Lượng Sông Hồng, một thành viên của Tập Đoàn Than và Khoáng Sản (Tập Đoàn đã chọn nhà thầu Trung Quốc). Có lẽ tiến sĩ Sơn là người lên tiếng sớm nhất và nhiều nhất về dự án Bauxite ngay từ khi nhà cầm quyền Việt Nam phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành bauxite nhôm và xác định lãnh vực này như một thế mạnh để phát triển năm 2007. Từ đó đến nay, với nhiều bài phân tích và trong những cuộc hội thảo về việc khai thác bauxite, ông đã đưa ra những luận chứng phản bác xác đáng về tính không khả thi của các dự án. Xin tóm tắt:

- Về chiến lược: Dự án khai thác bauxite là một sai lầm chiến lược, chứa đựng nhiều rủi ro không thể lường hết. Nhôm không phải là kim loại quý và chưa có quốc gia nào coi bauxite là khoáng sản chiến lược để dốc sức khai thác như Việt Nam.

- Về môi trường, sinh thái: Dự án sẽ làm cạn kiệt nguồn nước hiện đang còn thiếu để phát triển các loại cây công nghiệp. Sinh thái bị thay đổi, ảnh hương xấu đến miền Trung Nam Bộ, Campuchia, hạn hán sẽ kéo dài, lũ lụt sẽ xảy ra thường xuyên hơn.

- Về kỹ thuật: Dự án phải lưu giữ một khối lượng khổng lồ bùn đỏ, một loại chất thải cực kỳ độc hại, phải chôn lấp trên cao nguyên thành những núi bom bẩn. Tây Nguyên là thượng nguồn nhiều dòng sông lớn. Vì thế, nếu xẩy ra thiên tai lũ quét thì bom này sẽ gây nguy hại cho dân Tây Nguyên và cả dân miền Nam và Đông Nam Bộ.

- Về kinh tế: Dự án chiếm dụng quá nhiều đất, nhưng bauxite không có hiệu quả và không thể giúp phát triển bằng các dự án trồng các loại cây công nghệ như cao su, cà phê, chè và điều…

- Về an ninh: Việc chọn lựa nhà thầu Trung Quốc vào Tây Nguyên là một nguy cơ rất lớn đối với an ninh quốc phòng.

Từ những luận chứng trên, tiến sĩ Sơn đã đề ra kiến nghị 4 điểm:

Thứ nhất, đình chỉ các dự án khai thác và chế biến bô-xit qui mô lớn ở Tây Nguyên.

Thứ nhì, chỉ nên triển khai 1 dự án thử nghiệm.

Thứ ba, cần quan tâm và ưu tiên nước ngọt và có chính sách cho việc phát triển cây công nghiệp, đúng với tiềm năng của Tây Nguyên

và thứ tư, thành lập “Ủy Ban Quốc Gia Về Phát Triển Kinh Tế Tây Nguyên” trực thuộc chính phủ hoặc Quốc Hội để chỉ đạo toàn diện việc phát triển kinh tế, xã hội Tây Nguyên.

2. Sự im lặng

Dân lo sợ dự án khai thác bauxite và những tiếng kêu trên đây đã kết tinh được mối lo đó. Nhưng Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng đã họp báo xác định khai thác bauxite là chủ trương lớn của đảng và nhà nước, và ra lệnh cấm báo chí không được loan tin về bauxite.

Rồi ngày 17-3, Phó Thủ Tướng Hoàng Trung Hải đã ra thông báo yêu cầu Tập Đoàn Than và Khoáng Sản tiếp tục chỉ đạo chủ đầu tư triển khai các dự án bauxite nhôm ở Bảo Lâm, Lâm Đồng và Nhân Cơ, Đắc Nông.

Đó là trên mặt tin tức của nhà nước, còn trong thực tế qua tin tức và hình ảnh của dân chúng địa phương thì việc san mặt bằng xây dựng nhà máy tại Nhân Cơ và Bảo Lâm đã được tiến hành trước đó với những chiếc xe ủi đất cày ủi rừng Tây Nguyên đêm ngày và công nhân người Hoa đã xuất hiện hàng loạt ở Nhân Cơ và Bảo Lâm.

Thêm một chuyện đáng sợ khác là báo Tuổi Trẻ (27/3) cho biết các nhà thầu Trung Quốc đã thắng thầu nhiều công trình trọng điểm về điện, xi măng, hóa chất và họ đã đem vào Việt Nam hàng chục ngàn công nhân cùng thiết bị để thực hiện các dự án. Chẳng hạn, chỉ riêng công trình xây dựng nhà máy nhiệt điện ở Quảng Ninh đã sử dụng tới 2000 công nhân Trung Quốc.

Đó là những sự việc khó hiểu và đáng sợ, nhưng đảng và nhà nước im lặng thực hiện, không quan tâm đến những làn sóng dư luận phẫn nộ. Vì đối với đảng thì tất cả những tiếng kêu của dân hay của tướng Giáp, tướng Vĩnh, của chuyên gia Nguyễn Thành Sơn, của nhà văn Phạm Đình Trọng hay của nhiều nhân vật khác nữa thì cũng chỉ là những tiếng nói cá nhân.

Thảm kịch của Việt Nam là trước những biến cố trọng đại về hại dân, nguy nước như thế mà không thể có được những tiếng nói tập thể lớn.

Mười sáu ngàn tiến sĩ, hàng chục ngàn thạc sĩ, hàng triệu sinh viên, hàng ngàn nhà văn nhà báo, học giả, sử gia, hàng ngàn tướng tá của quân đội nhân dân anh hùng đang ở đâu? Sao không có vài ngàn người cùng kêu với tướng Giáp, tướng Vĩnh? Sao không có được vài trăm nhà văn, học giả cùng kêu với nhà văn Phạm Đình Trọng? Sao không có được vài trăm chuyên gia lên tiếng cùng với tiến sĩ Nguyễn Thành Sơn?

Từ đó, chúng ta hiểu tại sao đảng sổ toẹt những tiếng nói đơn lẻ, vì đảng không quan tâm đến môi trường sinh thái, đến hiệu quả kinh tế, đến sự sống chết của dân đen mà chỉ quan tâm đến một việc là dùng những dự án để có thể dễ dàng đem quân Tàu vào chiếm lĩnh Tây Nguyên, đem quân Tàu vào chiếm giữ những ngành kỹ nghệ quan trọng của đất nước.

3. Vinh quang của đảng

Từ nửa thế kỷ nay, dân Việt đã nằm lòng câu nhật tụng: "Đảng Cộng Sản Việt Nam Quang Vinh". Và đến mùa xuân thì đường phố rợp biểu ngữ đỏ với hàng chữ: "Mừng Đảng, Mừng Xuân, Mừng Đất Nước". Đảng là tối thượng, ở trên cả trời đất, nói chi nước. Dân Việt từ lâu đã hiểu như thế, nhưng đến nay, trước việc người Tàu lên Tây Nguyên khai thác bauxite, và công nhân Tàu tràn vào chiếm lĩnh những công trình kỹ nghệ trọng yếu trên khắp nước cùng với sự im lặng của dân Việt, chúng ta mới sợ hãi nhận chân thêm rằng: Đảng quang vinh là đảng có thể bắt dân nuốt sự tuyệt vọng trước những việc hại dân, nguy nước của đảng mà tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, trong thư cất tiếng kêu bảo đảng dừng tay cũng phải nói lên tâm trạng tuyệt vọng đó khi viết: “Đành rằng các đồng chí có quyền muốn làm gì cũng được, quyết định như thế nào cũng được, nhưng cũng nên quan tâm dư luận…”. Đành rằng và nhưng… Mấy lời đó nói lên sự nguy khốn của Việt Nam với chế độ độc đảng, độc quyền khi một nhóm người có thể tự định cái quyền muốn làm gì cũng được, quyết định thế nào cũng được trên vận mệnh của đất nước cùng số phận của 80 triệu con người. Khi nói Đành Rằng và Nhưng, chắc tướng Vĩnh đã hiểu hơn chúng ta là 15 ông của Bộ Chính Trị muốn làm gì, quyết định thế nào cũng được thì không thể có chữ “nhưng”, vì dân với dư luận có là cái gì trước quyền uy tuyệt đối của những ông vua Nông Đức Mạnh, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng, và Nguyễn Phú Trọng

Vì thế chúng ta hiểu thêm vinh quang của đảng là đảng có toàn quyền đem quân Tàu vào chiếm lĩnh Tây Nguyên, đem quân Tàu vào chiếm giữ những kỹ nghệ trọng yếu hay nói gọn hơn là Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản Việt Nam có toàn quyền bán nước vì lợi ích của tập đoàn lãnh đạo đảng Cộng Sản.

Dân Việt có thấy không? Đảng Cộng Sản đã tạo ra hai cuộc chiến tranh nhân danh giải phóng dân tộc, hy sinh mấy triệu người, xẻ dọc Trường Sơn, chiếm cho được miền Nam để cuối cùng đưa nước vào vòng lệ thuộc Tàu, dìm 80 triệu dân Việt vào kiếp nô lệ Tàu.

Trước tình thế đang diễn ra, chúng ta hiểu nếu không tạo được sự kết hợp quật khởi của toàn dân mà chỉ có những tiếng nói cá nhân thì mai đây tất cả sẽ chẳng còn gì khi quân Tàu đặt xong xiềng xích, gông cùm trên đất nước Việt Nam.

Sự im lặng khinh dân của đảng Cộng Sản nói lên quyền uy tuyệt đối của bạo quyền, còn chúng ta, những con dân Việt có thể tiếp tục cúi đầu nuốt hận, im lặng để nhìn cái chết của chúng ta cùng với cái chết của đất nước hay không?

Việt Dương


nhan0912@yahoo.com

Tuesday, April 14, 2009

Bài Hát Và Nhưng Hình Ảnh Về Thuyền Nhân

Saturday, April 11, 2009

Hà Nội nhượng một bước về vấn đề khai thác bauxite tại Tây Nguyên


Trong phiên khai mạc Hội thảo về vấn đề bauxite ở Tây Nguyên sáng nay, người ta chú ý đến việc nhân vật lão thành của quân đội Cộng sản Việt Nam là Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã gửi một bức thư thứ hai đến để phản đối việc này. Lá thơ gởi cho Phó Thủ tướng Cộng sản Việt Nam là Hoàng Trung Hải là nguời chủ tọa buổi hội thảo, và Võ Nguyên Giáp viết rằng đây là một vấn đề cực kỳ hệ trọng.

Vấn đề này trước đây họ Võ đã gửi một lá thơ đến Thủ tướng Cộng sản Việt Nam là Nguyễn Tấn Dũng nhưng nhân vật này đã không trả lời. Lá thơ kêu gọi trong cuộc hội thảo lần này, mong là các nhà khoa học, các nhà quản lý, các nhà hoạt động xã hội hãy thảo luận một cách khoa học, nghiêm túc, thẳng thắn để đề nghị với Đảng và Nhà nước là không nên khai thác việc này, vì sẽ gây hậu quả cực kỳ nghiêm trọng về môi trường, về xã hội, về an ninh quốc phòng cho Việt Nam trong những ngày tới. Đến chiều nay có tin cuối cùng Hà Nội đã nhượng bộ một bước trong vấn đề bauxite, khi kết luận hội thảo khoa học vào ngày hôm nay các lãnh tụ Cộng sản Việt Nam nói sẽ tạm thời ngưng dự án bauxite tại Nhân Cơ, nhưng ra lệnh tiếp tục khai thác thí điểm dự án tại Tân Rai và hứa hẹn sẽ điều chỉnh quy hoạch ngành bauxite và thẩm định lại hiệu quả kinh tế của các dự án này. Điều này cho thấy những áp lực từ phía người Việt tại hải ngoại và từ trong nước cũng đã tạo được một ít thành quả, nhưng cũng chứng minh rằng Thủ tướng Cộng sản Việt Nam là Nguyễn Tấn Dũng đã nhận lệnh của Trung cộng nên khó có thể rút lui khỏi dự án đã gặp sự phản đối mạnh mẽ của người dân khắp nơi.

Trước đó Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật gọi tắt là VUSTA cùng nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu, giới chuyên gia độc lập có mặt tại hội thảo. Với 11 báo cáo khoa học và 23 ý kiến thảo luận, các đại biểu đã cùng mổ xẻ hiệu quả kinh tế, tác động môi trường và văn hóa xã hội của các dự án bauxite Tây Nguyên. Phó Thủ tướng Cộng sản Việt Nam Hoàng Trung Hải thì cho rằng việc phát triển ngành công nghiệp khai thác bauxite, sản xuất alumina ở Việt Nam là đúng đắn và đã được ghi rõ trong văn kiện Đại hội Đảng lần thứ 10, tức là do Đảng chủ trương và nhà nước thi hành. Giải quyết những câu hỏi của các đại biểu nghi ngại hiệu quả kinh tế của các dự án, kể cả Trưởng ban Dự án Nhôm của Tổng công ty Khoáng sản Việt Nam chứng minh dự án Tân Rai và Nhân Cơ sẽ không hiệu quả, thì các lãnh tụ Hà Nội tuyên bố giao cho bộ Công Thương và các bộ ngành liên quan thẩm định lại những việc này, nhưng nói nhà nước sẽ có phương cách để giải quyết. Hà Nội cũng cho mời đại diện nhà thầu Chalco của Trung cộng thuyết trình về công nghệ cho hai dự án, và biện minh rằng đây chỉ là những dự án thí điểm để tìm hiểu thị trường. Trước những quan ngại của các nhà khoa học về việc mất rừng, chiếm đất và chất lượng công nghệ, Hà Nội nay hứa hẹn là sẽ tăng cường giám sát chặt chẽ và bảo đảm hiệu quả. Nói tóm lại, Hà Nội cho biết sẽ tiếp tục khai thác dự án thí điểm tại Tân Rai, nhưng sẽ tạm ngưng dự án tại Nhân Cơ trước những áp lực của người dân trong nước để nghiên cứu tiếp và hứa hẹn là sẽ tổng hợp và báo cáo lên Đảng và nhà nước trong những ngày tới.

Đến tận Đắc Nông để nhìn thấy cảnh khai thác Bauxite

Trong khi đó một nhóm phóng viên độc lập đã đến vùng Tây Nguyên để theo dõi tình hình, và phổ biến bản tường trình trên mạng lưới Internet. Bản báo cáo viêt rằng dọc theo quốc lộ 14, đâu đâu cũng thấy sự bừa bộn bởi nạn đào bới và san lấp. Hai bên đường, những lớp đất đá khô cằn vừa b? cày bật lên. Người ta đang làm một con đường rất lớn để phục vụ cho những đoàn xe vận tải rầm rộ chạy hối hả ngày đêm. Thiên nhiên đang bị những bàn tay thô bạo của con người tàn phá. Người dân ở đây cho biết tình hình Đắc Nông khá căng thẳng, đặc biệt tại xã Nhân Cơ nơi dự án bauxite đang được thi hành. Đi đến đâu cũng bắt gặp những ánh mắt tò mò dò xét, và nhận được nhiều lời cảnh báo từ những người dân địa phương. Cách quốc lộ 14 vài trăm thước có một công trường đèn điện sáng quắc với những ánh đèn xe tải qua lại nhộn nhịp. Nghe kể lại rằn, có lúc công trường hoạt động gấp rút cả ngày lẫn đêm. Ban ngày nơi đây hiện ra cả một vùng đất đỏ rộng lớn bị san bằng, trơ trụi và lạc lõng, bao quanh là ít mảng xanh còn xót lại. Chỉ còn vài ngày nữa, người ta sẽ khởi công xây dựng trên đó một nhà máy luyện Ocid Nhôm rất lớn, có thể hết năm nay sẽ đi vào hoạt động. Tại chợ Nhân Cơ huyện Đăk Rlấp, mặc dù là trung tâm thị xã, nhưng đời sống của người dân không có vẻ sung túc. Chi phí sinh hoạt cũng khá đắt đỏ so với thu nhập đầu người. Ở đây họ sống bằng nghề trồng tiêu, trồng cafe, không biết mai này, khi đất đai trồng trọt không còn, họ sẽ sống ra sao.

Theo lời tường thuật của người dân, công trường phía bên kia thuộc Công ty CP Alumin Nhân Cơ được tiến hành xây dựng đã 3 năm nay. Nhà cầm quyền địa phương đã giải tỏa hàng trăm nhà dân để lấy đất phục vụ cho dự án xây dựng nhà máy rộng 500 mẫu tây này. Rồi đây khi chính thức đi vào hoạt động, có lẽ cả vùng Nhân Cơ cũng như toàn tỉnh Đắc Nông này sẽ biến thành một đại công trường ngổn ngang và ô nhiễm. Một người dân chửi thề và nói cán bộ hứa xây nhà máy lớn cho dân có công ăn việc làm, rốt cuộc toàn cha con tụi nó làm với nhau. Nghe kể có thời gian nhà máy tuyển công nhân để đào tạo, bán ra trên 2000 hồ sơ, cuối cùng chỉ nhận khoảng 400 công nhân là chỗ thân quen được gửi gắm vào. Được biết, khá đông con cái cán bộ địa phương cũng được cử sang Trung Cộng đào tạo tay nghề bằng ngân sách nhà nước. Ngoài đường lâu lâu có vài tên chuyên gia Trung Cộng nghênh ngang đi qua, đưa đôi mắt xấc xược nhìn quanh. Con đường dẫn vào nhà máy vẫn chưa làm xong, còn ngổn ngang bừa bộn. Trước mắt là cả một vùng đất rộng đến 200 mẫu bị san phẳng, màu đất đỏ rực lên trong cái nắng chói chang, lạc lõng với khung cảnh Tây Nguyên đồi núi chập chùng. Sau lưng trụ sở Công ty Cổ Phần Alumin Nhân Cơ là khu nhà màu xanh dành cho người Hoa, có xe bus đưa rước hẳn hoi. Lâu lâu có những chiếc xe biển số xanh của nhà nước chở chuyên gia Trung Cộng chạy ngang qua, họ vênh váo bấm còi, phóng xe bạt mạng, miệng la lối giành đường bằng thứ tiếng nửa Tàu, nửa Việt tục tĩu.

Các chính đảng, hội đoàn ra tuyên cáo về vụ CSVN cho Trung Cộng khai thác quặng Bauxite tại Tây Nguyên

Cũng trong ngày hôm nay, tại miền nam California một số chính đảng đã cùng với một số hội đoàn cho phổ biến một bản tuyên cáo để phản đối việc nhà nước Cộng sản Việt Nam cho phép Trung cộng khai thác quặng Bauxite tại Tây Nguyên. Bản tuyên cáo viết rằng trong gần 5000 năm dựng nước và giữ nước, tổ tiên và ông cha ta đã hy sinh biết bao xương máu để giữ gìn độc lập và toàn vẹn la?nh thổ.
Từ khi đảng Cộng Sản Việt Nam cướp quyền, họ đã liên tiếp phạm biết bao nhiêu tôi ác đối với quốc gia dân tộc, kể cả dâng biển hiến đất cho Trung Cộng, mong được chúng che chở để bám giữ độc quyền cai trị, kể cả việc chấp nhận hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa thuộc về Trung Cộng, rồi nhường cho quan thày Bắc Kinh hàng ngàn cây số vuông, trong đó 2/3 thác Bản Dốc và Ải Nam Quan của Việt Nam nay thuộc về Trung Cộng.

Trong những ngày qua Trung cộng đã thành lập huyện Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam để cai quản hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, nhưng Cộng sản Việt Nam không những đã không dám phản ứng mạnh mẽ thích đáng, lại còn thẳng tay đàn áp thanh niên xuống đường chống đối việc cướp nước trắng trợn này. Gần đây đầu năm 2009, nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam lại phạm thêm một tội ác tầy trời nữa. Bất chấp dư luận của quần chúng và ý kiến của các nhà khoa học, chúng đã mời Trung Cộng vào khai thác mỏ Bauxite tại Tây Nguyên. Đây là một hành động vô cùng tai hại, vì sẽ làm ô nhiễm nguồn nước và làm khô cằn đất đai Tây Nguyên, tạo ra chất bùn đỏ độc hại, nguy hiểm đến sức khoẻ và hủy diệt môi trường sống kéo dài nhiều thế hệ, thải độc tố vào thượng nguồn hai sông Đồng Nai và Serepok là nguồn nước chính của khu vực Saigon và vùng phụ cận.

Tuyên cáo viết rằng sự hiện diện của hàng vạn công nhân, viên chức Trung Cộng tại Tây Nguyên chẳng khác gì rước kẻ thù truyền kiếp vào một địa bàn quân sự chiến lược trọng yếu, đe dọa đến an ninh quốc phòng của Việt Nam. Nay những chính đảng, cộng đồng, đoàn thể, nhân sĩ cùng đồng bào trong và ngoài nước ký tên dưới đây cực lực lên án nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam khiếp nhược làm tay sai cho Trung Cộng bán nước cầu vinh. Mạnh mẽ lên án hành động xâm lăng của Trung Cộng trước đồng bào trong và ngoài nước, trước công luận quốc tế, trước Liên Hiệp Quốc. Quyết liệt phủ nhận các hiệp ước mà nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam đã ký kết với bọn bá quyền Trung Cộng từ trước đến nay. Kêu gọi toàn dân hãy đứng lên đòi Cộng sản Việt Nam ngưng ngay việc cho Trung Cộng khai thác Bauxite tại Tây Nguyên. Có hành động thích đáng đối với sự xâm lăng của Trung Cộng tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đương quyền Cộng sản Việt Nam phải nộp hồ sơ cho Ủy Ban Phân Định Thềm Lục Địa Liên Hiệp Quốc trước ngày 13 tháng 5 để đòi hỏi quyền lợi thềm lục đ?a và các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Nếu không làm được việc này, thì đảng Cộng sản Việt Nam phải trao quyền lại cho nhân dân Việt Nam quyết định. Nay tổ quốc bị bọn bành trướng Trung Cộng xâm lược với sự cấu kết của tập đoàn tay sai Cộng sản Việt Nam, kêu gọi quân đội hãy rời bỏ đảng và trở về trong lòng dân tộc để cùng toàn dân chiến đấu bảo vệ tổ quốc. Nhiệt liệt ủng hộ lời kêu gọi Một Tháng Biểu Tình Tại Gia để chống lại việc lấy Vàng dân tộc đổi Nhôm nước ngoài của đại lão Hoà Thượng Thích Quảng Độ, và yêu cầu Liên Hiệp Quốc và các quốc gia trên thế giới yêu chuộng công lý và hoà bình lên tiếng ngăn chận những hành vi xâm lược của Trung Cộng đối với Việt Nam. Các tổ chức ký tên gồm Việt Nam Quốc Dân Đảng, Đại Việt Quốc Dân Đảng và rất nhiều tổ chức khác.





Nguồn: http://www.calitoday.com/news/view_article.html?article_id=624fc565a13977484400b33e1880ac22

Thursday, April 9, 2009

34 năm nhìn lại cuộc chiến chống cộng sản Việt Nam - Phạm Bá Hoa

1. Cuộc chiến sau cuộc chiến 1954-1975.

Việt Nam Cộng Hòa chúng ta bị quân cộng sản nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa gây chiến tranh từ năm 1954. Sau 21 năm với khoảng 10.000.000 thanh niên “sinh Bắc tử Nam”, họ đã chiếm Việt Nam Cộng Hòa chúng ta vào ngày 30 tháng 4 năm 1975 (con số này trích đoạn bà Lê Duẫn trả lời phỏng vấn của phóng viên Xuân Hồng đài BBC ngày 23/12/2008). Từ đó, chúng ta mất tự do! Mất tự do là mất tất cả trên quê hương Việt Nam!

Từ những đợt di tản đầu tiên (1975) đặt chân trên những xứ sở đón nhận chúng ta tị nạn cộng sản, lần lượt 20 năm kế tiếp (1976-1995) với làn sóng ào ạt vượt biên vượt biển và các chương trình đoàn tụ gia đình, HO, con lai, nhân đạo, đến nay (2009) ước tính Cộng Đồng chúng ta trên khắp thế giới vào khoảng 3.000.000 người mà đa số đã trở thành công dân bản xứ. Ngoài bổn phận với quê hương thứ hai, chúng ta còn bổn phận với quê hương Việt Nam cội nguồn. Đó là bổn phận góp phần dân chủ hóa chế độ trên quê hương Việt Nam để giành lại quyền làm người cho 86 triệu đồng bào. Đây là cuộc chiến có tính cách toàn diện, một cuộc chiến mà mọi sinh hoạt xã hội đều là “vũ khí” trong cuộc chiến này và “truyền thông và vận động chính trị tại các quê hương thứ hai ” là vũ khí quan trọng nhất.

Sau 34 năm (1975-2009) nhìn lại những gì Cộng Đồng chúng ta trên khắp thế giới có hay không có kết quả trong cuộc chiến tiếp tục chống CSVN. Tôi nói “tiếp tục chống cộng sản” vì sau khi bị cộng sản Việt Nam cai trị (1975) với chế độ độc tài, tôi quan niệm những hành động:
Không chấp nhận giao nhà cửa tài sản cho chúng để đi khu kinh tế mới là hành động chống cộng sản.
Vượt biên vượt biển để chạy trốn chế độ độc tài tàn bạo là hành động chống cộng sản.
Với những cách phản kháng quân đội và công an trong những trại tập trung (họ gọi là trại cải tạo) là hành động chống cộng sản.

Những người ra đi trong các chương trình “đoàn tụ gia đình, con lai, nhân đạo, H.O. là hành động chống cộng sản. Nói chung bất cứ những hành động nào thể hiện ý thức chính trị không chấp nhận chế độ độc tài cho dù hiểu theo nghĩa thụ động hay chủ động, đều là hành động chống cộng sản.

Tại hải ngoại, phương thức đấu tranh thông thường của Cộng Đồng chúng ta để phản đối hay ủng hộ một vấn đề nào đó, như mít tinh biểu tình, thư phản kháng, thư thỉnh nguyện, điện thoại, điện thư (fax), vi thư (e-mail), … . Đó là hành động bày tỏ ý thức chính trị chớ chưa phải làm chính trị như không ít người cho rằng “tôi không làm chính trị nên tôi không tham gia” như cái cớ để đứng bên ngoài, trong khi tự cho mình cái quyền phê phán người khác. Trong sinh hoạt Cộng Đồng, chúng ta đến với nhau là do tinh thần trách nhiệm, không một ai hưởng bất cứ một quyền lợi vật chất nào từ tổ chức mà người đó tham gia, trái lại thường bị những mẫu người nói trên chỉ trích lắm khi nặng lời. Một câu nói tưởng như đùa nhưng là kinh nghiệm thực tế với chút đắng cay: “Sinh hoạt Cộng Đồng mà không bị chửi là chưa có kinh nghiệm” Nghĩ cho cùng, câu ấy rất thực. Dĩ nhiên, với quyền tự do ngôn luận tại các quê hương thứ hai, mọi người đều có quyền khen hay chê những cá nhân khác, nhưng không phải vì vậy mà tự chà đạp liêm sỉ chính mình.

Trong những năm gần đây có dư luận cho rằng: “Mấy chục năm nay các anh đấu tranh gì mà chẳng thằng cộng sản nào rụng cái lông chân, vậy mà các anh cứ nhắm mắt đấu tranh cho mất thì giờ vô ích”. Riêng bản thân tôi khi đến dự đại hội của Hội Thủ Đức Houston kỷ niệm 25 năm thành lập vào cuối tháng 12 năm 2008, ngay lối vào cửa nhà hàng Ocean Palace tôi gặp người bạn “thích nói nhưng không thích làm”. Trong khi bắt tay nhau, anh ấy “phang” tôi một câu: “Già rồi sao không nghỉ cho khỏe, dính líu hội hè chi cho mệt. Tôi mới từ Việt Nam về lại Mỹ, cộng sản nó giàu nó mạnh lắm, 50 năm nữa mấy anh chẳng làm gì nó được đâu”. Nói xong, anh ấy ra xe với dáng “hiên ngang” như thể vừa dạy tôi bài học. Vâng, tôi vừa học bài học, nhưng là “bài học để tránh anh ấy chớ không phải bài học để làm theo anh ấy”. Tôi nghĩ, quí vị đã và đang tham gia sinh hoạt Cộng Đồng, thể nào cũng có lần nghe những câu đại loại vừa châm biếm vừa chê bai như vậy! Xin quí vị hãy kiên nhẫn nếu quí vị tin rằng “con đường” quí vị đã chọn và đang đi là đúng.

Tôi có nét nhìn khác với anh bạn vừa “dạy tôi bài học” nói trên, anh ấy thuộc mẫu người thích “xênh xang áo gấm về làng hưởng thụ trên sự đau khổ của người con gái Việt Nam”, và càng khác những ai cho rằng cuộc đấu tranh của Cộng Đồng chúng ta không làm rụng sợi lông chân nào của cộng sản. Xin hiểu rằng, mục đích cuối cùng trong cuộc đấu tranh của chúng ta là góp phần triệt tiêu chế độ độc tài giành lại quyền làm người cho dân tộc, và vá lại mảnh giang sơn đã bị CSVN xé lởm chởm trên đầu (biên giới phía Bắc), nham nhở một bên vai (vịnh Bắc Việt), và loang lỗ một phần bên hông phải (Biển Đông)!

2. Chúng ta có đạt được gì không? Vậy, 34 năm qua Cộng Đồng chúng ta có đạt được gì không? Xin trả lời ngay là CÓ, và đây là những gì đạt được:


a. Được sống tại các quốc gia tự do.

Trong số khoảng 3..000.000 người Việt chúng ta tại hải ngoại, có thành phần cựu quân nhân sau hơn 20 năm chiến đấu bảo vệ tổ quốc với những trận chiến vang danh trên thế giới và vô số trận chiến âm thầm đơn lẻ trên khắp miền đất nước, thành phần tù chính trị bị quân cộng sản giam giữ đọa đày trong hơn 200 trại tập trung từ 1975 đến 1992, thành phần gia đình cựu quân nhân viên chức cán bộ, và các thành phần kinh tế tài chánh bị áp bức trong xã hội chẳng khác tình cảnh “lưu vong ngay trên quê hương Việt Nam”, nay được sống tại các quốc gia mà nền dân chủ pháp trị được nhà cầm quyền và người dân tôn trọng. Đây chính là điều đạt được lớn nhất, và là hạnh phúc lớn nhất của Cộng Đồng chúng ta tị nạn cộng sản. Từ căn bản đó, chúng ta đạt được những lãnh vực khác.

b. Được học hỏi tổ chức & quản trị xã hội.

Sống trên các quê hương thứ hai, chúng ta học hỏi nhiều về tổ chức và quản trị xã hội. Thêm nữa, chúng ta có nhiều cơ hội du lịch đó đây trên thế gới, nhờ đó mà kiến thức tổng quát được trang bị thêm phần phong phú, tầm nhìn được trải rộng trên các sinh hoạt quốc gia, nhất là hiểu biết những nền văn hoá khác nhau. Nhờ vậy mà chúng ta hình thành khái niệm căn bản về tổ chức và quản trị một xã hội cho quê hương Việt Nam ngày mai, khả dĩ dung hợp hài hòa giữa nếp sống văn hoá Việt Nam với nền khoa học kỹ thuật tân tiến trong bối cảnh một thế giới phát triển.

c. Được một Cộng Đồng hải ngoại.

Theo tác giả Đỗ Tăng Bí với bài “Nghiên Cứu Dòng Nhập Cư Vào Hoa Kỳ” và tác giả Hồng Châu với bài “Sự Phân Tán & Tập Trung Của Người Việt Tại Hoa Kỳ”, người Việt Nam tại Hoa Kỳ từ trước cho đến năm 1950 -cách nay 59 năm- vào khoảng 500 người. Con số đó đến năm 1970, tăng lên khoảng 5.000 người. Từ đó đến năm 1974, Việt Nam chúng ta trên đất Mỹ gộp chung vào khoảng 20.000 người, sống rải rác các tiểu bang miền Đông Bắc và miền Tây Hoa Kỳ. Lúc bấy giờ cũng chưa hình thành tổ chức Cộng Đồng. Mãi đến đợt di tản cuối tháng 4 đầu tháng 5 năm 1975 khoảng 150.000. Theo tài liệu của Cao Ủy Tị Nạn/Liên Hiệp Quốc, thành phần vượt biên vượt biển từ năm 1976 đến 1995 có 839.200 người nhập cư khoảng 94 quốc gia trên thế giới, mà Hoa Kỳ là quốc gia tiếp nhận nhiều nhất. Theo tài liệu của US Census Bureau năm 2000, Cộng Đồng Việt Nam là 1.122.528 người, qui tụ trong 293.621 gia cư với số nhân khẩu từ 3 người trở lên (chiếm 80.5% trong tổng số). Cũng theo US Census Bureau, đến 1/6/2008 Cộng Đồng Việt Nam tại Hoa Kỳ khoảng 1.500.000 người. Sau những năm ổn định cuộc sống từ khi nhập cư, lần lượt những tổ chức Hội Đoàn và Cộng Đồng được thành lập theo nhu cầu sinh hoạt chung để hỗ trợ lẫn nhau. Đây là “cái được mà tôi xếp vào loại quan trọng bậc nhất”.
Bởi từ nét nhìn lạc quan khi nhìn vào tổ chức Cộng Đồng tại Orange County, các thành phố San Jose, Houston, Dallas-Fort Worth, ..v..v.. , mỗi nơi nhu thể một quốc gia thu nhỏ tại hải ngoại. Đứng đầu là tổ chức Cộng Đồng điều hợp sinh hoạt chung gồm: Các Hội đoàn đồng hương cấp tỉnh , Hội đoàn quân đội với màu áo các quân binh chủng. Hội đoàn văn hoá, Hội đoàn khoa học kỹ thuật, Hội đoàn ngành nghề chuyên môn, Hội đoàn trường hay liên trường trung học, đại học, các tổ chức bảo tàng lịch sử, các cơ sở giảng dạy Việt ngữ, ..v..v... Bên cạnh đó còn có các tổ chức tôn giáo: Phật Giáo, Thiên Chúa, Tin Lành, Cao Đài, Hòa Hảo, với các cơ sở thờ phượng. Và Cộng Đồng Việt Nam tị nạn cộng sản ngày càng lớn mạnh:

(1) Với khối nhân lực quí giá.

Một phần thế hệ chúng ta trong cuộc chiến 1954-1975, và liên tục những thế hệ sau chúng ta được đào tạo trong những nền giáo dục tân tiến trên thế giới, với số lượng học sinh sinh viên “du học tại chỗ” không một quốc gia nào sánh được. Tuổi trẻ hải ngoại trong Cộng Đồng Việt Nam tị nạn cộng sản đã hình thành khối tài nguyên nhân lực quí giá, sẽ là lực lượng nòng cốt cùng với tuổi trẻ trong nước, thúc đẩy quê hương Việt Nam phát triển theo hình tượng chiếc phản lực cơ thương mại vừa cất cánh khỏi đường băng vươn mình lên bầu trời xanh thẳm khi cộng sản độc tài sụp đổ.

Khối nhân lực quí giá này là sự mơ ước của CSVN qua đoạn ngắn dưới đây trong bài “Cộng Đồng Việt Nam Ở Nước Ngoài, Khơi Dậy Nguồn Lực Chất Xám” ngày 11/08/2005 của Thứ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Phú Bình: “Trong số gần 3.000.000 người Việt Nam sinh sống định cư ở nước ngoài, ước tính có khoảng 300.000 người được đào tạo ở trình độ đại học và công nhân kỹ thuật cao, có kiến thức cập nhật về văn hoá, về khoa học, công nghệ, về quản lý kinh tế. Trong đó có nhiều người đạt vị trí quan trọng trong các viện nghiên cứu, trường đại học, bệnh viện, công ty kinh doanh của các nước, và các tổ chức quốc tế. Tiềm lực khoa học và công nghệ của các thế hệ người Việt Nam ở nước ngoài không ngừng phát triển. Trong đó, một thế hệ trí thức mới người nước ngoài gốc Việt đang hình thành và phát triển, nhất là ở các nước Bắc Mỹ, Tây Âu, và Châu Đại Dương. Đội ngũ này tập trung ở nhiều lãnh vực khoa học chuyên ngành và kinh tế như tin học, viễn thông, điện tử, vật liệu mới, chế tạo máy, điều khiển học, sinh học, quản lý kinh tế, ngân hàng, chứng khoán, ..v..v.. Theo ước tính, chỉ số học vấn đại học và trên đại học của người Việt Nam tại các nước công nghiệp phát triển gần ở mức trung bình của người dân sở tại. Thế hệ trẻ này đang trở thành một thành phần quan trọng của công tác vận động nhằm động viên khuyến khích sự hợp tác, đóng góp của họ vào công cuộc xây dựng quê hương đất nước. Thế mạnh của đội ngũ trí thức người Việt Nam ở nước ngoài là được đào luyện, tiếp cận môi trường khoa học công nghệ tiên tiến, và nắm bắt được phương pháp quản lý kinh tế vĩ mô và chuyên ngành. Họ có khả năng phát kiến sáng tạo, có năng lực tổng hợp thông tin, tư vấn, và tạo dựng mối quan hệ với các cơ sở khoa học, cơ sở kinh tế ở nước sở tại. Từ trước đến nay, đội ngũ trí thức kiều bào vẫn được các cơ quan chức năng trong nước đánh giá là thế mạnh của người Việt ở nước ngoài, là một nguồn lực có thể góp phần tích cực cho sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước”.

Trong những năm gần đây có dư luận cho rằng “tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại về xây dựng quê hương chỉ là giấc mơ không thể có”. Tôi xin phép thưa rằng, tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại chịu ảnh hưởng văn hoá tại các quốc gia bản xứ nhất là Hoa Kỳ, điều này đúng, nhưng không phải vì vậy mà xem thường ý thức trách nhiệm của tuổi trẻ đối với quê hương Việt Nam cội nguồn. Tôi có nhiều dịp tiếp xúc với tuổi trẻ khi tham gia “Ban Phát Thưởng Học Sinh Giỏi” (lớp 5 đến lớp 12) tại Houston từ năm học 1998-1999 đến 2003-2004. Sau khi các cháu vào đại học, hằng năm các cháu đều đến tham gia Ban Phát Thưởng và các cháu không từ chối bất cứ công tác nào nhờ đến. Đúng là tuổi trẻ thừa nhận trong những năm tiểu học trung học, con cháu chúng ta tự nghĩ mình là người Mỹ (tôi nghĩ những nơi khác cũng vậy). Nhưng từ lớp 11 lớp 12, sau đó vào đại học, tuổi trẻ bắt đầu tham gia sinh hoạt văn hoá xã hội, những sinh hoạt này cũng là cách mà nhà trường giúp sinh viên trang bị ý thức trách nhiệm cộng đồng trong hành trang vào đời. Qua tiếp xúc với sinh viên nhiều chủng tộc khác nhau trong công tác cũng như trong sinh hoạt học đường, những va chạm giữa những nền văn hoá khác nhau, chính là cơ hội giúp tuổi trẻ nhận ra mình vẫn là người Việt Nam dù quốc tịch bản xứ, vì nhìn lại từ vóc dáng màu da tóc tai mặt mũi đến ánh mắt nụ cười của mình không phải người bản xứ. Từ đó, tuổi trẻ Việt Nam tìm về quê hương cội nguồn.

Cũng trong những năm gần đây, với phương tiện truyền thông vừa nhanh chóng vừa chính xác -đài truyền hình SBTN và Hồn Việt là một phương tiện- cung ứng những bài viết, những hội luận, cùng với những hình ảnh cho thấy tuổi trẻ nhập cuộc trong các sinh hoạt văn hoá xã hội cũng như trong sinh hoạt bày tỏ ý thức chính trị ngày càng đông trên các quê hương thứ hai, chứng tỏ khả năng và tinh thần trách nhiệm của tuổi trẻ hải ngoại. Với vị trí ông bà cha mẹ, xin quí vị cố gắng giúp các con các cháu nói chung là tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại học hỏi văn hoá Việt Nam, ngoài những giải thích hướng dẫn bằng lời, nếu được, nên đưa tuổi trẻ đến với các lễ hội văn hoá như Tết Nguyên Đán, trung thu, picnic, mà các Hội Đoàn tổ chức. Nếu tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại không hiểu chút gì về quê hương Việt Nam cội nguồn, tôi nghĩ, một phần trách nhiệm thuộc về thế hệ chúng ta. Và xin quí vị thật lòng tin tưởng con cháu chúng ta, những thế hệ tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại đối với quê hương Việt Nam cội nguồn tự do dân chủ và nhân quyền.

(2) Với kinh nghiệm vận động chính trị.

Tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại nhất là tại Hoa Kỳ, Germany, Canada, Australia, ..v..v.., đã góp mặt trong các cơ quan Lập Pháp, Hành Pháp, Tư Pháp, trong các trường đại học, trong các tổ chức khoa học kỹ thuật cũng như trong các tổ chức chính trị bản xứ, và đã góp phần vào các thành tựu quan trọng. Tiến sĩ Philipp Roesler Bộ Trưởng Kinh Tế tiểu bang Niedersachsen, Germany. Cô Eve Mary Thái Thị Lạc, đắc cử Dân Biểu Canada năm 2007. Tại Hoa Kỳ, có Dân Biểu liên bang Cao Quang Ánh, Dân Biểu tiểu bang Trần Thái Văn và Hubert Võ. Tuổi trẻ đã có mặt trong Cơ Quan Quản Trị Hàng Không & Không Gian (NASA), đặc biệt là khoa học gia Nguyễn Xuân Vinh, và ít nhất có một phi hành gia Eugene Trịnh Hữu Châu. Trong NASA còn có nhiều chuyên gia gốc Việt Nam, như: Ông Bà Hữu Trịnh -tiến sĩ kỹ thuật- và Diệp Trịnh -tiến sĩ hóa học- cùng làm việc trong cơ quan này, tiến sĩ Nguyễn Mạnh Tiến, tiến sĩ Jonathan Lee Điền Lê, tiến sĩ Bruce Vũ Thanh, tiến sĩ Bùi Trí Trọng, tiến sĩ Nguyễn Quang Việt, tiến sĩ Đinh Bá Tiến, và nhiều nhiều nữa. Trong ngành vũ khí, đặc biệt nữ khoa gia Dương Nguyệt Ánh nổi danh trong giới quân sự quốc tế về vũ khí. Tiến sĩ hóa lý sinh Võ Đình Tuấn, Viện Trưởng Viện Fitzpatrick/Đại học Duke, được Creator Synectics chọn là 1 trong 100 thiên tài thế giới. Tiến sĩ Huỳnh Mỹ Hằng là một trong 24 người nhận giải MacArthur Fellowship năm 2007 được gọi là “Genius Grants” (giải Thiên Tài) về các ngành khoa học, xã hội, nhân văn, nghệ thuật. ..v..v.. Trong quân đội Hoa Kỳ, nhiều sĩ quan giữ những chức vụ quan trọng như: Hạm trưởng hàng không mẫu hạm, Hạm trưởng tàu ngầm, Hạm Trưởng khu trục hạm, Tư lệnh Sư Đoàn và Lữ Đoàn Thủy Quân Lục Chiến, phi công phản lực cơ chiến đấu Elizabeth Phạm, ..v..v... Nhìn chung, khối tài nguyên quí giá này tiếp tục được bổ sung trong dài lâu.

Khối cử tri chúng ta tại các quê hương thứ hai ngày càng nhân lên, tùy thời gian không gian hoàn cảnh, lá phiếu chúng ta có ảnh hưởng vào chính trường, tuy chưa hoàn toàn như ý muốn nhưng chắc rằng sẽ trở thành nhân tố quan trọng trong chính trường. Thêm nữa, trong những năm gần đây, những giới chức gốc Việt trong cơ quan chánh quyền và các lãnh vực kinh doanh thương mãi, có khả năng trong vận động chính trị ủng hộ Cộng Đồng chúng ta về quyền lợi của Cộng Đồng, và ảnh hưởng phần nào trong chính sách đối với CSVN, nhất là tại cơ quan Lập Pháp từ trung ương xuống đến tiểu bang và thành phố. Nhìn chung, quyền lợi và cái “thế chính trị” của Cộng Đồng từng bước sẽ được bảo đảm hơn, và từ vị trí công dân các quê hương thứ hai giúp cho cuộc đấu tranh của chúng ta sẽ hiệu quả hơn.

(3) Với khối tài chánh quan trọng.

Từ những bàn tay trắng khi chạy trốn khỏi chế độ độc tài tàn bạo trên quê hương, ngày nay khả năng kinh tế tài chánh của Cộng Đồng Việt Nam tị nạn tại hải ngoại ngày càng lớn mạnh thể hiện bởi:

Khối mỹ kim do bà con gởi về Việt Nam giúp thân nhân hằng năm như sau: Năm 1991; 35 triệu. Năm 1995; 285 triệu. Năm 2000; 1 tỷ 700 triệu. Năm 2002; 2 tỷ 100 triệu. Năm 2004; 3 tỷ mỹ kim. Năm 2007; 7 tỷ 800 triệu. Những con số trên đây là của từng năm chớ không phải gộp lại của các năm trước. Theo tài liệu thì khoảng 70% lượng tiền trên đây chuyển qua hệ thống ngân hàng, tỷ lệ này có khuynh hướng ngày càng giảm, trong khi lượng tiền chuyển về Việt Nam qua các công ty có khuynh hướng ngày càng tăng.

Với lại còn một khối lượng mỹ kim khác do khoảng 250.000 đến 300.000 người hằng năm mang theo khi về Việt Nam thăm thân nhân. Nếu tạm chấp nhận trung bình mỗi người về Việt Nam chi tiêu 300 mỹ kim, thì con số đó sẽ là 90 triệu mỹ kim. Nhìn chung qua những con số mà tôi có được từng năm kể từ năm 1991 đến cuối năm 2007, thì lượng tiền mà bà con trong Cộng Đồng tị nạn tại hải ngoại gởi về Việt Nam lên đến 25 tỷ 431 triệu mỹ kim.

Sự lớn mạnh về kinh tế của riêng Cộng Đồng Việt Nam tị nạn tại Hoa Kỳ theo thống kê năm 2000 như sau: Về cơ sở kinh doanh sản xuất và dịch vụ do người Việt Nam làm chủ: Năm 1982, trên toàn liên bang có 4.989 cơ sở với doanh thu hằng năm là 215 triệu mỹ kim. Năm 1987, Việt Nam làm chủ 25.671 cơ sở với doanh thu hằng năm là 1 tỷ 361 triệu mỹ kim. Năm 2000, Việt Nam làm chủ 97.784 cơ sở với doanh thu 6 tỷ 768 triệu mỹ kim. Và cũng tiêu biểu sự lớn mạnh của Cộng Đồng tị nạn tại Hoa Kỳ, theo thống kê năm 2000 lợi tức của 293.621 gia đình có 3 người trở lên vào khoảng 18.641.000.000 (18 tỷ 641 triệu) mỹ kim, bao gồm: (1) 27.4% hay là 89.452 gia đình có lợi tức dưới 25.000 mỹ kim. Nếu chấp nhận trung bình 20.000 mỹ kim, thì 89.452 gia đình có lợi tức chung là 1 tỷ 789 triệu. (2) 27.2% hay là 79.864 gia đình có lợi tức từ 25.000 đến dưới 50.000 MK. Nếu chấp nhận trung bình 35.000 mỹ kim, thì 79.864 gia đình có lợi tức chung là 2 tỷ 795 triệu. (3) 31.3% hay là 91.903 gia đình có lợi tức từ 50.000 đến dưới 100.000 MK. Nếu chấp nhận trung bình 75.000 MK, thì 91.903 gia đình có lợi tức chung là 6 tỷ 892 triệu.. (4) 12.3% hay là 36.115 gia đình có lợi tức từ 100.000 đến dưới 200.000 MK. Nếu chấp nhận trung bình 150.000 MK, thì 36.115 gia đình có lợi tức chung là 5 tỷ 417 triệu. (5) 1.8% hay là 5.825 gia đình có lợi tức từ 200.000 MK trở lên. Nếu chấp nhận trung bình 300.000 MK, thì 5.825 gia đình có lợi tức chung là 1 tỷ 747 triệu.

Trên đây chỉ ước tính 80.5% trong tổng số 1.122.528 người sống trong 293.621 đơn vị gia cư từ 3 người trở lên, như vậy còn lại 19.5% hay là 218.892 người sống trong chung cư hoặc trong những căn phòng hay thuê phòng trong những nhà riêng, tạm gọi là “tiểu gia cư” một người hay hai người. Nếu sử dụng lợi tức tối thiểu “đầu người hằng năm” ngang bằng số trợ cấp an sinh xã hội của chánh phủ liên bang tính tròn 6,000 mỹ kim, chúng ta có lợi tức chung của 218.892 người là 1 tỷ 313 triệu mỹ kim. Một cách tổng quát, nếu chúng ta gộp chung lợi tức của gần 300 ngàn gia đình (18 tỷ 641 triệu), và lợi tức của những người sống riêng lẽ hoặc trong gia đình 2 người (1 tỷ 313 triệu), thì lợi tức của Cộng Đồng Việt Nam chúng ta tại Hoa Kỳ trong năm 2000 vào khoảng 20 tỷ mỹ kim (tính theo số tròn). Từ con số này, ước tính một cách tổng quát về tổng lợi tức của Cộng Đồng Việt Nam Tị Nạn tại Hải Ngoại trong năm 2008 có thể lên đến hơn 30 tỷ mỹ kim. Khối tài chánh tuy chưa phải lớn lao so với các Cộng Đồng Trung Hoa, Do Thái, Ấn Độ, hay Phi Luật Tân, nhưng so với nhu cầu trong nước, chúng ta có khả năng đóng góp quan trọng vào mục tiêu phát triển quốc gia sau khi cộng sản độc tài sụp đổ.

(4) Với trận chiến dựng lại quốc kỳ.

Tại Hoa Kỳ, bắt đầu ngày 19/2/2003 với thành phố Westminster (California) , từ đó đến ngày 15/3/2009, đã được 112 cơ quan hành chánh ban hành văn kiện công nhận quốc kỳ Việt Nam nền vàng ba sọc đỏ là biểu tượng tự do của Cộng Đồng chúng ta, gồm: 15 tiểu bang + 7 Quận Hạt (Counties) + 90 Thành Phố. (Danh sách các tiểu bang theo mẫu tự: California, Colorado, Florida, Georgia, Louisiana, Michigan, Minnesota, New Jersey, Nebraska, Ohio, Oklahoma, Oregon, Texas, Utah, và Virginia. Riêng tiểu bang Louisiana và Ohio công nhận bằng Luật. Cộng Đồng chúng ta còn non trẻ so với các cộng đồng bạn dài lâu trên đất Mỹ, nhưng đặc biệt là Cộng Đồng chúng ta có quốc kỳ riêng sử dụng thích hợp trong từng trường hợp. Trên thế giới, hầu như chưa có trường hợp chế độ nào sụp đổ mà quốc kỳ đó vẫn tồn tại trên các quê hương thứ hai như trường hợp Cộng Đồng chúng ta.

(5) Với bia và đài tưởng niệm.

Song song với nỗ lực vận động cho “Trận Chiến Dựng Lại Quốc Kỳ”, đến đầu năm 2009, Cộng Đồng chúng ta khắp nơi đã đặt Bia Tưởng Niệm và dựng Đài Tưởng Niệm Chiến Sĩ, Tưởng Niệm Thuyền Nhân, sau đây:

Australia, tại các thành phố Fairfield (NSW), Perth (West Australia), Melbourne và Dandenong (Victoria), Brisbane (Queensland) , và Adelaide (S. Australia).
Bỉ, tại thành phố Liège.

Canada, tại thủ đô Otttawa và thành phố Montréal.

Germany, tại thành phố Hamburg và Troisdorf.

Hoa Kỳ, tại các thành phố Westminster (California) , Houston (Texas), West Valley (Utah), Saint Cloud (Minnesota), Honolulu (Hawaii), Fayetteville (North Carolina).

Indonesia, trênđảo Galang.

Malaysia, trên đảo Bidon.

Và Thụy Sĩ, tại Genève.

(6) Với hỗ trợ lực lượng dân chủ trong nước.

Từ bản chất độc tài tàn bạo, những chính sách cai trị của CSVN tạo cho mọi người trong xã hội xã hội chủ nghĩa thường xuyên sống trong nỗi sợ hãi để phục tùng họ, nhưng sự lớn mạnh của Cộng Đồng chúng ta về các mặt kể cả những hình thức chống đối CSVN đến mức lãnh đạo cao cấp nhất của họ cũng không dám đối mặt với Cộng Đồng, đã góp phần quan trọng cho lực lượng dân chủ trong nước từng bước hình thành, và thật sự có ý nghĩa khi lực lượng này chánh thức tuyên bố thành lập tại Hà Nội và Sài Gòn ngày 8 tháng 4 năm 2006, gọi tắt là “Khối 8406”.

Đồng hành với “Khối 8406” là “Khối Dân Oan” cũng đứng lên từ các địa phương bị lãnh đạo của họ sử dụng mọi hình thức gian trá trấn lột cướp đoạt đất đai vườn ruộng, đã từng đoàn từng đoàn kéo đến các cơ quan ở Sài Gòn và Hà Nội vì bị cấp tỉnh cấp thành phố trấn áp. Nhưng rồi các cơ quan cao cấp ở Sài Gòn và Hà Nội giải quyết bằng cách giao cho Công An lùa, đẩy, và khiêng dân oan lên từng đoàn xe đưa về các địa phương sau khi bắt những người mà họ cho là “cầm đầu chống đối”. Không có gì phải ngạc nhiên cách hành sử của lãnh đạo CSVN, vì tất cả họ trong một hệ thống tham nhũng từ trên “đỉnh cao trí tuệ” len vào mọi ngóc ngách sinh hoạt xã hội xuống đến tận cùng hàng hàng lớp lớp “viên chức đầy tớ” của dân.

Chưa hết, CSVN gần như thẳng tay đàn áp bắt giam, bỏ tù, quản chề các vị lãnh đạo và tín đồ của Phật Giáo Thống Nhất, Thiên Chúa, Tin Lành, Cao Đài, Hòa Hảo. Tuy các giáo hội không cùng lúc cùng nơi cũng không cùng phương cách phản kháng, nhưng sức phản kháng CSVN mạnh mẽ không kém gì nhau.

Với thế mạnh của Cộng Đồng đối với CSVN, chúng ta đã và đang hỗ trợ lực lượng dân chủ trong nước bằng những cách khác nhau: (1) Chuyển các tin tức quốc nội và quốc tế về Việt Nam cho lực lượng dân chủ, các cá nhân, cho các lãnh đạo CSVN trong đảng, nhà nước, quân đội, công an, nhất là những tin liên quan đến tội ác của CSVN trên quê hương, vì truyền thông trong nước bị cấm loan các loại tin mà CSVN gọi là “phương hại đến ổn định xã hội” hoặc loại tin “gây mất đoàn kết nội bộ”. (2) Ủng hộ lực lượng dân chủ, ủng hộ các giáo hội ngoài quốc doanh, ủng hộ dân oan, và ủng hộ bất cứ ai kể cả đảng viên cộng sản, có lời nói hay hành động phản kháng CSVN trong mọi hành động đàn áp các công dân thực hiện những quyền mà Hiến Pháp (CSVN) qui định. (3) Vận động Liên Hiệp Châu Âu, Hoa Kỳ, Canada, Australia, ..v..v.., lên án CSVN vi phạm nhân quyền kể cả buôn bán thanh niên nam nữ ra ngoại quốc làm nô lệ dưới dạng “môi giới lao động”, vi phạm Hiến Pháp của chính họ. (4) Và các cách ủng hộ khác.

3. Sự thất bại của lãnh đạo CSVN.

Nhớ lại, từ sau ngày 30/4/1975, người dân Việt Nam Cộng Hòa cũ bị khủng bố đàn áp bằng mọi cách khác nhau đến mức không thể sống nổi, nên tự động lần lượt rồi ào ạt vượt lên cái chết đi tìm tự do bằng vượt biên vượt biển, lúc ấy CSVN gọi chúng ta là bọn ngụy quân ngụy quyền, bọn phản quốc vong quốc, bọn đĩ điếm, bọn lưu manh rác rưởi xã hội, ..v..v.. Nghĩa là CSVN dùng bất chữ nghĩa nào tồi tệ hơn hết trong ngôn ngữ hàng tôm hàng cá để chửi rủa nhục mạ chúng ta.. Từ giữa thập niên 80 khi lãnh đạo CSVN thấy Cộng Đồng chúng ta tạo dựng được những cơ sở kinh doanh thương mại, có tiền gởi về giúp thân nhân bạn bè bằng hữu trên quê hương. Lúc ấy CSVN tìm cách khai thác nguồn tài chánh từ Cộng Đồng Tị Nạn Hải Ngoại nên hạ giọng gọi chúng ta là Việt kiều yêu nước. Kế tiếp, CSVN nâng công tác Kiều Vận lên thành chính sách và trực thuộc trung ương với hai tổ chức: (2) Ủy Ban Về Người Việt Nam Ở Nước Ngoài do Thứ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Đình Bin làm Chủ Nhiệm, nhắm vào Cộng Đồng Tị Nạn chúng ta. (2) Và Ủy Ban Vận Động Thành Lập Hội Liên Lạc Người Việt Nam Ở Nước Ngoài do tiến sĩ Nguyễn Văn Đạo, Giám Đốc trường đại học tổng hợp Hà Nội làm Trưởng Ban, nhắm vào thân nhân của Cộng Đồng Tị Nạn đang sống trên quê hương, để áp lực chúng ta. Cùng lúc, CSVN lại hạ giọng thêm nữa để gọi chúng ta là “khúc ruột ly hương ngàn dặm”. Nhưng chính sách đó vẫn thất bại.

Theo thời gian, CSVN thấy Cộng Đồng chúng ta ngày càng lớn mạnh các mặt, đồng thời với những hoạt động chính trị chống chế độ độc tài của họ ngày càng phát triển, một lần nữa họ nâng chính sách Kiều Vận lên hàng quốc sách với Nghị Quyết 36 ngày 26/3/2004, qui định một chính sách toàn diện nhắm vào Cộng Đồng Việt Nam Tị Nạn tại hải ngoại mà họ gọi là những người Việt Nam ở nước ngoài. Quốc sách này được hỗ trợ tài chánh do “Quỹ Hỗ Trợ & Vận Động Người Việt Nam Ở Nước Ngoài” thành lập trước đó một năm (ngày 25/4/2003) tại Bộ Ngoại Giao ở Hà Nội. Vậy là CSVN chánh thức mở “mặt trận chính qui”, vừa đánh vào Cộng Đồng chúng ta trên toàn thế giới mà mục tiêu chính là Cộng Đồng tại Hoa Kỳ, vừa tìm mọi phương cách lôi cuốn những cá nhân trong Cộng Đồng chúng ta mang tiền và kỹ thuật về Việt Nam kinh doanh giúp họ giàu sang và tồn tại. Lúc này nhóm “đỉnh cao trí tuệ” lại hạ giọng thấp xuống nữa để gọi chúng ta là “bộ phận không thể tách rời cộng đồng dân tộc”.

Nghị Quyết 36 chẳng khác một lệnh tổng tấn công Cộng Đồng chúng ta với 3 điểm căn bản sau đây:

Người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời, và là nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là nhân tố quan trọng góp phần tăng cường quan hệ hợp tác hữu nghị giữa nước ta với các nước.

Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị và của toàn dân. Các tổ chức đảng, nhà nước, và các đoàn thể nhân dân, các ngành các cấp từ trung ương đến địa phương, ở trong nước và ngoài nước, và toàn dân ta cần coi đây là một nhiệm vụ quan trọng nhằm phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, cần mang tính đồng bộ, kết hợp việc xây dựng cơ chế chính sách với công tác vận động, kết hợp các hoạt động trong nước với các hoạt động ở ngoài nước, và phải được tiến hành thông qua nhiều loại hình hoạt động và biện pháp phù hợp với các đối tượng và địa bàn khác nhau, trên cơ sở tự nguyện và không trái pháp luật, phong tục, tập quán của nước sở tại. Từ 3 điểm đó, nội dung NQ 36 vạch ra 7 mục tiêu tấn công Cộng Đồng chúng ta, và 2 mục tiêu sau cùng ra lệnh cho đảng, tình báo, ngoại giao, công an, quân đội, tới toàn dân thi hành. Nhưng thật ra CSVN không dám xuất hiện mà họ dùng đồng tiền, cũng có thể có cả nquyền lợi ảo về chính trị, để thúc đẫy những tên tay sai của họ trong Cộng Đồng chúng ta thực hiện.

Đúng. Trong những năm gần đây, một số tổ chức trong Cộng Đồng đã xảy ra những xáo trộn dẫn đến một số Hội Đoàn thành hai tổ chức. Điều dễ nhận ra là bàn tay của những tên tay sai CSVN và đồng tiến cũng từ CSVN, cộng với đám tuyên truyền xám Công An CSVN tung hỏa mù trên hệ thống thông tin toàn cầu (NET) nhắm vào những cá nhân những tổ chức chống cộng quyết liệt, dẫn đến trường hợp một số cá nhân và tổ chức chống cộng sản chống lại cá nhân và tổ chức chống cộng sản.

Cũng đúng. Đúng là CSVN vẫn thất bại. Tuy Cộng Đồng chúng ta tùy nơi tùy hoàn cảnh có tình trạng nêu trên, nhưng rõ ràng là lãnh đạo trong “nhóm đỉnh cao trí tuệ” CSVN mỗi khi đặt chân đến Hoa Kỳ, đến Australia, đến Pháp, đến Đức, họ không thấy cờ máu nào của họ mà chỉ thấy rừng cờ vàng giữa rừng người với biểu ngữ phản đối họ vi phạm nhân quyền, nên rất sợ đối mặt với Cộng Đồng chúng ta. Điển hình tại Hoa Kỳ:

- Ngày 22/6/2007, Nguyễn Minh Triết, Chủ Tịch nước Việt Nam cộng sản khi vào dinh Tổng Thống Hoa Kỳ, chẳng những không có đội quân danh dự, không một phát súng chào mừng, cũng không một âm thanh quân nhạc chào đón, chỉ được viên chức tòa Bạch Ốc lặng lẽ hướng dẫn vào cửa sau để gặp Tổng Thống Bush, vì công viên phía trước tràn ngập bởi bà con trong Cộng Đồng chúng ta từ các tiểu bang đổ về đây với rừng cờ vàng và rừng biểu ngữ phản đối CSVN vi phạm nhân quyền. Ông ta không dám đối mặt với Cộng Đồng chúng ta nên chịu nhục vào cửa hậu. Ngày hôm sau (23/6/2007), ông Triết cùng đoàn tùy tùng đến khách sạn Saint Regis Resort ở thành phố Dana Point, nhưng xe chở ông Triết không dám cắm cờ CSVN theo nghi thức ngoại giao, vì sợ rừng người tị nạn cộng sản “dàn chào” trước khách sạn biết ông ngồi trong xe đó mà phản ứng mạnh hơn.

- Ngày 22/6/2008, Nguyễn Tấn Dũng, Thủ Tướng đảng CSVN đến Hoa Kỳ nhưng không dám xuống phi trường quốc tế vì Cộng Đồng chúng ta đã chuẩn bị “dàn chào” phản đối, mà đáp phi trường quân sự chỉ có nhóm người từ tòa đại sứ của họ đón. Ngày 26/6/2008, khi đến Houston dự hội thảo với nhóm doanh gia Hoa Kỳ trong khách sạn “The Westin Oaks” trên đường Westheimer, không thể vào cửa chánh vì Cộng Đồng chúng ta dày đặc với rừng cờ vàng và biểu ngữ phản đối, đoàn xe phải vòng qua đường S. Post Oaks vào khách sạn.

Ngang qua hai đảng viên lãnh đạo trong Bộ Chính Trị nói trên đã chứng tỏ sự thất bại của lãnh đạo CSVN dù Nghị Quyết 36 do những tên tay sai len lõi đánh phá Cộng Đồng chúng ta. Rõ ràng là cấp lãnh đạo cao nhất của nhà nước VNCS đã không dám đối mặt với Cộng Đồng chúng ta thì làm gì khống chế được chúng ta.

4. Kết luận.

Với tội ác trong 10 năm gần đây của lãnh đạo VNCS không thể phủ nhận:
Năm 1999, bán 789 cây số vuông trên bộ cho THCS từ nợ vũ khí đạn dược xâm lăng VNCH.

Năm 2000, bán 11.362 cây số vuông trong vịnh Bắc Việt cho THCS với giá 2 tỷ mỹ kim.
Đầu tháng 12/2007, thỏa hiệp cho THCS sáp nhập quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa vào quận Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam.

Ngày 9 & 16/12/2007 tại Sài Gòn và Hà Nội, học sinh sinh viên mít tinh biểu tình phản đối THCS chiếm hai quần đảo nói trên của Việt Nam, bị hung thần Công An ngăn chận đe dọa.
Ngay trước ngày 14/9/2008, các thành phần xã hội phẫn uất hành động của THCS cũng như phản ứng nhẹ nhàng của VNCS, chuẩn bị mít tinh trước tòa đại sứ THCS ở Hà Nội phản đối THCS trưng dẫn văn kiện của Thủ Tướng Phạm Văn Đồng gởi THCS vào ngày này 50 năm trước, lại bị đám “hung thần” Công An tại Hà Nội cũng như tại các địa phương thẳng tay ngăn chận bắt giữ những ai mà họ nghi sẽ tham gia mít tinh biểu tình.
Tháng 12/2008, do thỏa hiệp trước, THCS đưa hằng ngàn công nhân và lực lượng bảo vệ an ninh đến Dak Nong khai thác quặng bauxite, gây tác hại môi trường khu vực rộng lớn trên Cao Nguyên miền Trung, đã gây phẫn uất trong giới tướng lãnh về hưu cũng như tại chức ngang qua các thư gởi đến các cấp lãnh đạo của họ trong Bộ Chính Trị.
Theo tờ Tuổi Trẻ ngày 27/3/2009 tại Hà Nội, ký giả Cam Văn Kình với bài “Hằng vạn công nhân Trung Hoa đã vào Việt Nam”, dẫn lời ông Trần Ngọc Hùng, Chủ Tịch Tổng Hội Xây Dựng Việt Nam, thực tế hiện nay hầu hết các cuộc đấu thầu thực hiện các dự án lớn về điện, xi măng, hóa chất, đều vào tay nhà thầu Trung Hoa vì họ được chánh phủ họ nâng đỡ nhiều mặt nên giá thầu giảm. Nhà thầu Trung Hoa đưa sang Việt Nam hằng mấy ngàn công nhân với các loại máy móc và thực phẩm mà họ không mua bất cứ thứ gì Việt Nam có. Ngoài tai hại về môi trường và kinh tế, liệu rồi đây sẽ có những làng mạc của Trung Hoa ngay bên trong lãnh thổ Việt Nam, và phải chăng đây là chiến lược cài người của lãnh đạo CSTH, rồi theo vết dầu loang tiến đến đồng hóa dân tộc Việt Nam vào Trung Hoa mà không tốn một viên đạn, không tốn một mạng người, cũng chẳng nhỏ một giọt mồ hôi, chỉ cần họ nhép miệng ra lệnh cho lãnh đạo CSVN thi hành, và nhón tay ký vào thỏa ước hợp pháp hóa là xong?

Dù thế nào đi nữa, chỉ riêng 7 tội ác trên đây đang gây phẫn uất trong các thành phần xã hội, người dân “lương cũng như giáo”, sinh viên học sinh, lực lượng đấu tranh dân chủ trong nước, thành phần đảng viên về hưu và cả tại chức, qua những cách khác nhau đã cho thấy người dân không còn sợ hãi đảng với nhà nước như trước kia nữa. Thoạt nghe có chút tàn nhẫn, nhưng thật sự khi lãnh đạo CSVN càng lún sâu vào tội ác với dân với nước, nhất là càng lệ thuộc vào CSTH, chế độ độc tài này càng sớm đến ngày sụp đổ vì khi nỗi phẫn uât đến tột cùng chính là lúc người dân đứng dậy lật đổ chúng. Không loại trừ một thành phần quân đội cộng sản sẽ cùng hàng ngũ với người dân, vì lãnh đạo của họ lệ thuộc cộng sản Trung Hoa đến mức cắt đất xén biểncho CSTH mà họ là thành phần có trách nhiệm bảo vệ.

Vì vậy, Cộng Đồng chúng ta hãy nhiệt tình hơn nữa trong nỗ lực chống CSVN và những tên tay sai của chúng ngay trong Cộng Đồng, cùng lúc tiếp tục hỗ trợ các lực lượng dân chủ trong nước và hỗ trợ tinh thần dân oan khiếu nại giành lại tài sản của họ bị các lãnh đạo địa phương cướp đoạt. Đặc biệt liên tục chuyển những tin về tội ác của CSVN nhất là tình trạng lệ thuộc CSTH về trong nước gồm các thành phần trong xã hội, và những tin tức thế giới liên quan đến Việt Nam vi phạm nhân quyền, giúp các thành phần này hiểu được những sự thật mà truyền thông của CSVN che giấu. Đây là cách góp phần quan trọng vào công cuộc lật đổ chế độ độc tài toàn trị CSVN, vì lịch sử đã chứng minh người dân không được sử dụng lá phiếu với đầy đủ quyền chính trị của mình để chuyển hóa chế độ này, vì lãnh đạo CSVN không có người nào tử tế cả. Trong khi bối cảnh chính trị quốc tế ngày nay, không một chế độ độc tài nào lường trước được những đột biến đối với họ, điển hình rõ nhất là các quốc gia cộng sản đàn anh lớn và đàn anh nhỏ của CSVN vào đầu những năm 90 là Liên Bang Sô Viết sụp đổ, khối Đông Âu Ba Lan, Tiệp Khắc, Rumani, Hungary sụp đổ, bức tường Bá Linh sụp đổ, ..v..v... Và chế độ cộng sản tan rã do chính đồng bào của họ với hỗ trợ của thế giới tự do.

Tôi nghĩ, mỗi người chúng ta tùy khả năng, hoàn cảnh, thời gian, không gian, đều có thể tham gia vào cuộc chiến này, như: Tham gia sinh hoạt trong tổ chức Cộng Đồng, sinh hoạt Hội Đoàn nào đó hay tổ chức đấu tranh, nhẹ nhàng và thuận tiện hơn hết là giúp các cháu nói tiếng Việt, giải thích cho con cháu biết về quê hương Việt Nam, một cách tồng quát về lịch sử Việt Nam, nguyên nhân ông bà cha mẹ các cháu có mặt tại hải ngoại, giúp các cháu tham gia lễ hội Việt Nam để các cháu có cơ hội nhìn thấy, nhận biết một hình ảnh văn hoá Việt, cùng lúc làm quen với các bạn trang lứa. Nếu được, khuyến khích các cháu tham gia sinh hoạt Hướng Đạo, sinh hoạt trong tổ chức tôn giáo dành cho tuổi trẻ. Xa chút nữa, khuyến khích các cháu tham gia sinh hoạt trong tổ chức sinh viên khi các cháu vào đại học dù chỉ sinh hoạt trong phạm vi văn hoá xã hội. Vì tất cả đều là góp phần vào cuộc chiến chống cộng sản Việt Nam độc tài.

Tôi nghĩ, chúng ta có đủ lý lẽ để vững tin vào mục đích cùng hướng đi, để tiếp tục phát triển cuộc đấu tranh của Cộng Đồng chúng ta hơn nữa, đó là cách hỗ trợ mạnh mẽ lực lượng dân chủ trong nước góp phần quan trọng vào sự sụp đổ của cộng sản Việt Nam độc tài toàn trị, khi mà sự phẫn uất của người dân đến mức tột cùng, đó là lúc mục tiêu góp phần dân chủ hóa chế độ chính trị trên quê hương Việt Nam của Cộng Đồng chúng ta đạt được, rồi cùng nhau vá lại quê hương gấm vóc đã bị lãnh đạo CSVN “xé rách lởm chởm!”

Houston, tháng 4 năm 2009
Phạm Bá Hoa
_________
Nguồn : MGP

Wednesday, April 8, 2009

CHIẾN LƯỢC BIỂN ĐÔNG CỦA HOA KỲ-TRUNG QUỐC-VIỆT NAM

Khối Cộng Sản Đông Âu và Nga Sô tan rã năm 1991 đã khiến Hoa Kỳ thay đổi chiến lược toàn cầu: Tái phối trí lực lượng quân sự tùy theo “national interest” đáp ứng nhu cầu chiến lược sau thời Chiến Tranh Lạnh là duy trì “nền trật tự thế giới mới” (new world order). Từ đó, Hoa Kỳ trở thành siêu cường duy nhất (đơn cực, unilateral superpower); tuy nhiên, hình thái chiến tranh thay đổi từ qui ước, trực tiếp đối đầu bằng quân sự nay chuyển sang “lùng và diệt” các nhóm khủng bố và quốc gia chứa chấp, huấn luyện khủng bố. Thêm vào đó, chiến lược “be bờ” (containment) của Hoa Kỳ nhằm “ngăn chận Cộng Sản bành trướng” trước kia nay “khai triển” (enlargement) thành “dân-chủ-hoá toàn cầu.” Chiến lược này giúp Hoa Kỳ tùy tiện trải rộng thế lực bằng cách bung lực lượng ra vừa truy diệt các nhóm khủng bố vừa tạo ảnh hưởng tại khắp nơi trên thế giới. HK đã liên kết chặt chẽ với Ấn Độ, Nhật Bản, Úc Châu đến hiện diện tại những vùng trước kia họ chưa có ảnh hưởng như Afghanistan, Pakistan ở Trung Á.

Hành động quân sự đôi khi cũng gây thiệt hại cho người dân vô tội nên HK đã gặp những chống đối từ một số quốc gia độc tài, quân chủ chuyên chế vì muốn bảo vệ quyền lực và nội trị của mình. Mặt khác, một số cường quốc không muốn bị lép vế, đã gây trở ngại cho Hoa Kỳ khi tìm đủ cách giới hạn hoạt động nhằm quân bình lực quá mạnh của Hoa Kỳ nhằm tạo một thế giới “đa cực, multipolars.” Điển hình là Pháp, Đức, Nga ở Âu Châu; Trung Quốc ở Á Châu; Iran ở Trung Đông, v.v. mà dù HK có hảo ý đến đâu, họ cũng tìm cách chế ngự _ họ khó chấp nhận một thế giới đơn cực (unilateral) làm chủ bởi siêu cường Hoa Kỳ có hay không mang ý đồ độc chiếm thế giới “aggressive unilateralism” [1]. Ví dụ, trong thập niên 1990s, lo ngại HK và khối NATO dùng quân sự can thiệp vào nội bộ các nước trong vùng Balkans và thắt chặt liên minh, mở rộng tầm ảnh hưởng tại Á Châu, TQ và Nga Sô đã đồng ý hợp tác chiến lược song phương (strategic cooperative partnership) vào năm 1996. Từ đó, hai nước này ngày càng phát triển mối liên hệ và hợp tác chặt chẽ hơn để chế ngự Hoa Kỳ. Năm 2000, TC và Nga Sô lên tiếng phản đối HK dự định thiết lập Hệ Thống Lá Chắn Hỏa Tiễn (missile defense system) và bãi bỏ Hiệp Ước Cấm Hỏa Tiễn Liên Lục Địa (Anti Ballistic Mislles Treaty) [2]. Năm 1999, hai nước ký Hiệp Ước Giao Hảo và Hợp Tác (Treaty of Good-Neighborliness and Friendly Cooperation). Năm 2005, TQ và Nga Sô đã tổ chức cùng thao diễn quân đội một cách qui mô gồm 10,000 không, hải và lục quân với quân cụ, vũ khí tham dự. Một phân tích gia chiến lược cho hay: “Liên hệ an ninh tốt hơn với Nga Sô sẽ giúp TQ quân bình thế lực với ảnh hưởng Hoa Kỳ trong vùng” [3]. Tuy nhiên, khi Nga Sô còn đang tìm cách phục hồi kinh tế và thế đứng và Trung Quốc vẫn còn kém xa Hoa Kỳ về mọi mặt thì họ cố tránh xung đột, đối đầu quân sự trực tiếp với Hoa Kỳ.

Nói chung, TQ cố gắng quân bình thế lực với Hoa Kỳ qua nỗ lực song phương và vận dụng ngoại giao trên trường quốc tế; một mặt xử dụng lợi nhuận kinh tế để thẩm nhập và chi phối các nước họ nhắm đến; mặt khác, dùng các phương thức mềm mỏng ngoại giao kéo bè cánh (formation) chống Hoa Kỳ. TQ thiết lập liên hệ sâu đậm với Khối Liên Âu (EU, European Union) đặc biệt với Pháp, Anh và Đức [4] và thường mở những hội nghị thượng đỉnh với Liên Âu và cả hai đang trở nên đối tác kinh tế thương mãi lớn nhất của nhau. Về hải quân, TQ cũng đã hợp tác thao dượt tìm kiếm và cấp cứu ngoài biển và trong tương lai sẽ trao đổi quân sự nhiều hơn với chiến hạm của Pháp và Anh. Mối liên hệ tốt đẹp này khiến Liên Âu quyết định tháo gỡ cấm vận vũ khí áp đặt lên TQ kể từ sau biến cố Thiên An Môn tháng 6 năm 1989 sẽ giúp TQ mua vũ khí tối tân nhất cho quân đội của họ. Các nhà phân tích Hoa Kỳ tin rằng: “TQ và Liên Âu đang tìm cách chế ngự sức mạnh và vị thế Hoa Kỳ, hoặc qua việc tạo nên một thế giới đa cực (multipolars) hay qua một thế lực gồm nhiều cường quốc” [5].

Ngoài việc hợp tác với các tổ chức lớn như EU, ASEAN và SCO (Shanghai Cooperation Organization), TQ cũng chú trọng vào chủ điểm thứ hai là trực tiếp thảo luận trong liên hệ song phương với Hoa Kỳ. TQ chọn cách hợp tác xây dựng chiến lược (contructive strategic partnership) với HK dưới thời Tổng Thống Bill Clinton năm 1997 thay vì theo đuổi chính sách đối kháng như một số tướng lãnh quân đội diều hâu đề nghị. Trong tư thế yếu, TQ cũng đạt được một thỏa thuận tương đối tốt nhất với siêu cường HK [6]. Với sự đồng thuận của các doanh thương Mỹ tìm thị trường khổng lồ tại Hoa lục, HK đã ban qui chế “tối huệ quốc” cho TQ mặc dù biến cố Thiên An Môn xảy ra năm 1989. Năm 2000, HK nới rộng bình thường hóa giao thương với TQ (PNTR, permanent normal trade relation) lót đường đưa TQ trở thành hội viên của WTO (World Trade Organization) khiến nền kinh tế TQ càng phát triển nhanh nhất thế giới trong suốt thập niên 1990s qua thập niên 2000s.

Phạm Văn Thanh
Tiếp theo trang dưới

CHIẾN LƯỢC BIỂN ĐÔNG CỦA HOA KỲ


Hoa Kỳ biết rằng TQ cần gây dựng thực lực quân sự hỗ trợ bởi nền kinh tế bền vững nên TQ đã nỗ lực tìm liên minh và hâụ thuẫn chính trị trên trường quốc tế qua chính sách ngoại giao khôn khéo. Nhưng HK cũng nhận thức rằng một khi TQ trở nên hùng cường, thịnh vượng, họ sẽ từ bỏ “thế thủ” mà thực hiện tham vọng bá chủ Á Châu che dấu từ lâu. TQ sẽ chuyển sang chiến lược tấn công bằng cách bành trướng về mọi lãnh vực chính trị, kinh tế và quân sự để thiết lập ảnh hưởng tại Á Châu và trên thế giới [7]. Tất nhiên, TQ sẽ xử dụng vũ lực để giải quyết những tranh chấp hay tiến chiếm những cứ điểm trọng yếu nhằm bảo vệ cho quyền lực của họ và chuẩn bị đối đầu với HK trong tương lai.

Giá trị Biển Đông đối với HK ra sao?

Sự quan trọng của biển Đông đối với Hoa Kỳ chính là hải đạo huyết mạch vận chuyển không những cho các tàu dầu và thương thuyền từ Trung Đông, Ấn Độ Dương và Đông Nam Á tới Nhật Bản, Đại Hàn và Trung Quốc qua eo biển Malacca. Hơn nữa, HK còn dùng biển Đông như điểm chuyển vận và vùng hoạt động cho Hải Quân, Không Quân HK nối liền các căn cứ quân sự của họ ở Á Châu, Ấn Độ Dương và Vùng Vịnh Ba Tư. Hoa Kỳ cần duy trì sự tự do và an toàn cho hành lang chiến lược quan yếu gồm hải đạo, đường hàng không và liên lạc giữa các vùng quân sự này. Hơn nữa, HK cũng cần bảo vệ cương vị siêu cường và bảo đảm an ninh cho các đồng minh của mình tại Á Châu, nên Hoa Kỳ sẽ xử dụng sức mạnh Hải Quân và Không Quân tầm xa để thực hiện mục tiêu chiến lược của mình trong thế kỷ 21. Với sức mạnh của Hải và Không Quân hiện nay, trong vòng một thời gian ngắn, Hoa Kỳ có thể phá hủy hoặc làm tê liệt hai bàn đạp Trường Sa và Hoàng Sa trong trục Tam Á-Hoàng Sa-Trường Sa của TQ một cách tương đối dễ dàng! Vì thế, quyền lợi sinh tử của Mỹ không nằm trực tiếp trong vùng Biển Đông! Tuy nhiên, tại Á Châu, TQ ngày càng mạnh, dù bề ngoài tỏ ra ôn hòa và tuyên bố việc tân trang quân đội chỉ nhắm mục tiêu phòng thủ nhưng tham vọng bá chủ Á Châu của TQ tỏ rõ khi tích cực tranh chấp vùng biển Đông. Vì thế, Robert Ross, một chiến lược gia Ngũ Giác Đài đã nói: “Nếu HK cho TQ cơ hội hất cẳng mình ra khỏi Á Châu, TQ sẽ nắm lấy. HK không nên ảo tưởng rằng TQ sẽ giữ nguyên vị khi thế lực của họ tăng thêm” [8].

Chiến lược Biển Đông của HK thế nào?

HK áp dụng hai chiến lược “ngăn chặn” (containment) và “kèm giữ” (engagement). Trong chiến lược “kèm giữ,” HK sẽ dẫn dụ TQ giao tiếp bình thường hợp với lối hành xử của thế giới tiến bộ và giúp TQ dân-chủ-hóa đất nước qua các quan hệ chặt chẽ trong nhiều lãnh vực khác nhau. Mục tiêu lâu dài là giúp TQ trở thành một quốc gia tự do, dân chủ và thịnh vượng để TQ có thể tự túc, tự cường và liên hệ thuận thảo với thế giới mà không đe dọa các nước dân chủ khác. Trái lại, với chiến lược “ngăn chận” HK sẽ tìm cách ngăn trở TQ bành trướng quân sự qua việc làm chậm độ phát triển kinh tế và trì trệ chương trình hiện-đại-hóa quân đội. Cả hai chiến lược của HK đều có độ rủi ro và trở lực vì chiến lược “kèm giữ” có cơ nguy tạo nên một nước TQ hùng mạnh nuôi nhiều tham vọng; trong khi đó, chiến lược “ngăn chận” cũng khó thể thực hiện thành công [9]. Bởi lẽ, khó thuyết phục dân chúng HK đổ tài sản lớn lao ra để ngăn chận TQ bây giờ vì nguy cơ của TQ chưa lộ ra rõ ràng. Hơn nữa, vì tiềm năng quân sự của Hoa Kỳ vượt trội hơn bất cứ cường quốc nào trên thê giới hiện nay đến ít nhất là hơn một thập kỷ; do đó, chính sách và chiến lược lớn đối đầu với TQ của HK hiện nay trên thực tế kết hợp cả hai chiến lược nhằm hướng dẫn TQ trở thành một “cường quốc có trách nhiệm” (responsible stakeholder”); đồng thời, HK tăng cường thế liên minh của mình và tái phối trí quân lực để tăng hiệu năng quân sự và giảm thiểu sự thiệt hại khi chiến tranh xảy ra [10]. Đây là lý do HK đã thắt chặt hợp tác an ninh với Nhật Bản, Ấn Độ và tăng sức mạnh quân sự tại Trung Á và Á Châu - Thái Bình Dương. Với tiềm lực vượt trội đó, Hoa Kỳ có thể áp dụng chiến thuật “chờ xem” (wait and see) ý định và khả năng thật sự của TQ tiến triển ra sao để đối phó một cách thích hợp theo từng giai đoạn. Đây chính là ý định của HK hiện nay; cho nên ta sẽ không ngạc nhiên khi thấy HK có thể áp dụng “chiến tranh kinh tế” nhằm triệt tiêu hoặc giảm thiểu độ phát triển kinh tế của TQ hoặc nếu nhận thấy TQ sắp trở thành một siêu cường Á Châu có hành động trực tiếp đồi đầu với mình, HK sẽ thay đổi chiến lược để đáp ứng với tình thế mới.

Vì chú trọng vào việc xây dựng “trật tự thế giới mới trong thế chiến lược toàn cầu,” HK muốn giữ vị thế trung hòa về vấn đề tranh chấp giữa các quốc gia trong vùng biển Đông, nên khuyến cáo các nước liên hệ tìm một giải pháp hòa bình lâu dài đặt căn bản trên Luật Quốc Tế về Biển như Hội Nghị LHQ Về Luật Biển (UN Convention on the Law of the Sea). Mục tiêu chính của Hoa Kỳ trong vùng Biển Đông chỉ nhằm duy trì sự an toàn và tự do di chuyển trong hải phận quốc tế; đặc biệt, cho hải đạo huyết mạch vận chuyển của các tàu dầu, chiến hạm và thương thuyền từ Trung Đông và Ân Độ Dương qua eo biển Malacca tới Á Châu. Bất cứ một cuộc xung đột nào xảy ra trong vùng Biển Đông mà có thể đe dọa đến hành lang quân sự chiến lược này hoặc sự an ninh và quyền lợi kinh tế của Hoa Kỳ hay Nhật Bản sẽ được coi như xáo trộn đủ để HK đơn phương quyết định can thiệp. Vì thế, Hoa Kỳ có thể vĩnh viễn đứng ngoài vòng tranh chấp, nhưng cũng có thể nhảy vào vòng tranh chấp bất kỳ lúc nào tùy theo áp lực bên ngoài trên quyền lợi của họ trong vùng [11]. Điều này hoàn toàn tùy thuộc vào tình trạng thông thương của thủy đạo qua eo biển Malacca hoặc cách ứng xử của Trung Cộng, và do đó, người Việt Nam không nên trông chờ Hoa Kỳ “cứu nguy” khi có xung đột với TQ. Vì vậy, qua những hoạt động từ khi rút lui khỏi Việt Nam năm 1973 đến nay, chúng ta nhận thấy Hoa Kỳ, bề ngoài, hình như chỉ chú trọng đến chiến lược toàn cầu của họ mà thiếu một chiến lược rõ rệt cho Vùng Biển Đông. Tuy nhiên, từ năm 2000, Hoa Kỳ đã chú ý nhiều đến sự gia tăng ngân sách quốc phòng nhằm phát triển và hiện đại hóa quân lực Trung Quốc, đặc biệt về Hải Quân. Các hoạt động của Hạm Đội Nam Hải tại Căn Cứ Hải Quân Tam Á đang trở thành mối lo ngại không những cho các quốc gia ASEAN trong vùng Biển Đông mà còn cho cả Hoa Kỳ khi càng ngày TQ càng tỏ ra hung hăng và nguy hiểm cho nền hoà bình thế giới.
Phạm Văn Thanh

CHIẾN LƯỢC BIỂN ĐÔNG CỦA TRUNG QUỐC



TQ áp dụng chính sách “hợp tác” (partnership) với quốc gia khác bằng cách tôn trọng văn hóa, ý thức hệ và interests khác biệt và tìm cách thuyết phục họ giúp TQ hóa giải những vấn đề mâu thuẫn hoặc tranh chấp. Việc này giúp TQ kéo thêm đồng minh, giúp nước hợp tác được thêm lợi nhuận kinh tế khi liên hệ song phương với TQ làm giảm ảnh hưởng mà tránh đụng độ trực tiếp với Hoa Kỳ. Với tư cách thành viên thường trực Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, năm 1999, TQ hợp tác với Nga Sô bỏ phiếu chống lại quyết định LHQ cho HK dẫn lực lượng LHQ can thiệp vào Kosovo. Năm 2003, TQ hợp với Nga Sô, Pháp và Đức phủ quyết LHQ cho phép HK đưa quân vào Iraq và TQ cũng phủ quyết đề nghị phong tỏa Bắc Hàn về vũ khí nguyên tử của HK [12]. Tại Trung Á, khi Hoa Kỳ đem quân vào lật đổ chế độ Taliban tại Afghanistan và đóng đồn tại đây thì TQ và Nga Sô cảm thấy bị đe dọa sườn phía Tây [13]. TQ mời Nga Sô và mấy nước Trung Á như Kazakhstan, Kyrgyzstan, Tajikistan và Uzbekistan lập nên Shanghai Cooperation Organization (SCO) vào năm 2001 để đánh “3 ác quỷ” là sự phân rẽ, khủng bố và tôn giáo cực đoan. Chính SCO và các nước Trung Á này đã giúp tăng ảnh hưởng của TQ, bảo đảm nguồn tiếp tế năng lượng và ngăn chận những hoạt động chia rẽ trong vùng Hồi Giáo tỉnh Xinjiang của TQ và nhất là không để Hoa Kỳ tự do khống chế mọi hoạt động trong vùng hay trên thế giới [14]. Năm 2002, Chù Tịch Giang Trạch Dân (Jiang Zemin) khi thăm Iran đã công khai chống đối việc đóng quân Hoa Kỳ tại vùng Trung Á [29] và mời Iran gia nhập SCO. Trong cuộc họp thượng đỉnh vào tháng 7 năm 2005, SCO đã tuyên bố đòi HK đưa ra dự trình rút quân khỏi lãnh thổ các nước thành viên SCO [15].

Đối với Đài Loan, TQ đã áp dụng chiến thuật ôn hòa “chậm mà chắc” từng bước thay đổi mối liên hệ thân tình với Đài Loan qua ngoại giao và giao thương. Trong khi đó, TQ vẫn phô trương sức mạnh quân sự tại eo biển Đài Loan (Taiwan Strait) như một đe dọa để “vừa dọa đánh vừa đàm” và họ đã thành công đáng kể trong việc thay đổi dần tư duy và chủ trương “đòi độc lập” của đảo quốc này. Đối với quốc tế, TQ có thể thuyết phục và tái khẳng định với hầu hết các quốc gia về ý thức “một nước Trung Hoa” (one-China) bất-khả-phân và tạo Đài Loan như một kẻ gây sự bất cứ khi nào tình trạng căng thẳng lại xảy ra giữa TQ và Đài Loan về eo biển Taiwan Straits [16]. Về vấn đề nguyên tử của Bắc Hàn, TQ cũng đóng một vai trò quan trọng khi bắt ép Bắc Hàn tham dự cuộc thương thuyết đa phương với HK nhằm giải giới vũ khí nguyên tử của BH để giảm thiểu cơ nguy một cuộc chiến toàn diện xảy ra tại biên giới TQ. Tháng 9 năm 2005, 6 thành viên trong cuộc thương thuyết đạt được quyết định chung; trong đó, BH đồng ý chấm dứt chương trình nguyên tử đổi lại bằng những quyền lợi về kinh tế, an ninh và năng lượng.

Như ta nhận thấy, TQ biết mình chưa phải là địch thủ của siêu cường HK, nên tạm thời dùng chiến lược “câu giờ” tránh đụng độ mà dồn nỗ lực phát triển kinh tế, hiện-đại-hóa quân đội; trong khi vẫn kéo vây cánh với các quốc gia khác nhằm chế ngự siêu cường Hoa Kỳ. Nghĩa là, TQ đang áp dụng chiến lược mà Đặng Tiểu Bình (Deng Xiaoping) gọi là: “vặn đèn xuống và chúng ta làm giàu trong bóng mờ” (“dim our lights and thrive in the shadow”), dịch rõ nghĩa hơn là “dấu khả năng của chúng ta và chờ thời” (“hide our capabilities and bide our time”) [17]. Trên thực tế, TQ đã tạo cho mình thế đứng khá vững và uy tín khá thuận lợi trên trường quốc tế với việc liên minh với Nga Sô, nguồn cung cấp 85% vũ khí hiện đại, với Iran, Venezuela nguồn cung cấp dầu hỏa dài hạn. Do đó, TQ tuy nuôi nhiều tham vọng nhưng tỏ ra rất dè dặt trong hành động đối với HK; dĩ nhiên, họ chẳng ngại ngùng chèn ép các nước nhược tiểu như VN để chiếm đoạt lãnh thổ, lãnh hải và tài nguyên của ta khi họ có thể làm được.

Giá trị Biển Đông đối với TQ ra sao?

Biển Đông được TQ coi như là một “ao nhà” một vùng biển có giá trị chiến lược về quân sự, kinh tế và năng lượng. TQ tuyên bố chủ quyền của họ trên hơn 75% diện tích biển Đông. TC đã chiếm toàn bộ Quần Đảo Hoàng Sa từ tay VNCH năm 1974. Năm 1988 đến nay, TQ chiếm thêm 8 đảo và bãi đá ngầm của VN và Đá Vành Khăn (Mischief Reef) của Philippines và đang lăm le chiếm đoạt toàn bộ Trường Sa, thiết lập trục Tam Á- Hoàng Sa-Trường Sa không những kiểm soát toàn vùng biển Đông, làm căn cứ bàn đạp tiến đến các quốc gia quanh vùng mà còn kiểm soát trung tâm khai thác dầu khí trong vùng biển Đông nữa. Trên bình diện quốc tế, các nhà chiến lược thế giới đều hiểu rằng hải trình chuyên chở dầu qua eo biển Malacca ( Strait of Malacca ) rất quan yếu và ngày càng trở nên một vùng căng thẳng. Mỗi năm, hơn 50,000 tàu chuyên chở dầu từ Trung Đông qua eo biển này để chuyển đến các quốc gia trên vòng đai Thái Bình Dương ( Pacific Rim ). Theo US Energy Information Administration, nếu eo biển Malacca bị phong tỏa tại khoảng giữa Singapore và Indonesia sẽ gây cho gần nửa số tàu dầu của thế giới phải thay đổi hải trình và đe dọa giòng cung cấp dầu hơn 15 triệu barrels mỗi ngày [18]. Do đó, sự hiện diện của Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ rất cần thiết cho vùng Biển Đông nhằm duy trì an ninh, giòng cung cấp dầu hỏa và giúp kinh tế tăng trưởng cho các quốc gia trong vùng và Vòng Đai Thái Bình Dương. Nhiều nhà chiến lược Trung Quốc tin rằng nếu Đệ Thất Hạm Đội HK kiểm soát Biển Đông hoặc phong tỏa eo biển Malacca thì sẽ gây nên vấn đề lớn cho Trung Quốc, không những đe dọa khả năng chiến đấu vì thiếu nhiên liệu mà còn phá hỏng chiến lược trở thành bá chủ Á Châu của họ. Thế nên, thật dễ hiểu, Trung Quốc đang lăm le chiếm đoạt và kiểm soát toàn vùng biển Đông phong phú tài nguyên dầu hỏa này vì thuận tiện mọi bề cho nhu cầu quân sự và năng lượng của họ. Chiếm dụng vùng dầu khí nằm ngay sát lục địa, không phải di chuyển qua eo biển yết hầu Malacca còn gì tốt hơn cho TQ?

Chiến lược Biển Ðông của Trung Quốc thế nào?

Tập trung vào 5 lãnh vực sau :

Thứ 1: Phát Triển Hạm Ðội Nam Hải Để Dùng Sức Mạnh Trấn Át Biển Đông


Năm 2000, TC đã hoàn tất xây dựng một căn cứ Hải Quân tối tân tại Tam Á (Sanya) tọa lạc ở mỏm cực Nam đảo Hải Nam . Tam Á là căn cứ hải quân thứ nhì của Trung Quốc cho tàu ngầm nguyên tử và là điểm xuất phát của Hạm Ðội Nam Hải có khả năng đối đầu với Hải Quân Hoa Kỳ và các quốc gia ASEAN trong vùng. Hiện nay (2009) hạm đội này bao gồm 2 hải đội tiềm thủy đĩnh, 2 hải đội khu trục hạm và nhiều hộ tống hạm với tổng số lên đến 50 tàu chiến. Theo các nguồn tin tình báo, Hạm Đội Nam Hải là hạm đội có nhiều tàu chiến nhất và được trang bị các chiến hạm hiện đại như loại khu trục hạm Kình Ngư 311 và tàu ngầm nguyên tử loại 094 đầu tiên của Hải Quân Trung Quốc. Hơn nữa, tất cả lực lượng thủy quân lục chiến và phần lớn tàu đổ bộ của Trung Quốc trực thuộc hạm đội này; có nghĩa là TQ dự trù nhu cầu lớn nhất cho lực lượng đổ bộ chính là vùng Biển Đông, giáp với đất liền Việt Nam và các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có quân đội Việt Nam đồn trú. Năm 2005, TC đã mua chiến đấu cơ Sukhoi Su-33 của Nga để trang bị trên hàng không mẫu hạm Variag, 67 ngàn tấn mua lại của Ukraine (có thể chở được 18 Su-33 hay 25 Mig 29) cho nhu cầu huấn luyện và tăng cường kế hoạch “tiến ra đại dương” của Hải Quân. Tam Á sẽ trở thành căn cứ tiền phương nối trục Tam Á-Hoàng Sa-Trường Sa của Hạm Đội Nam Hải nhằm kiểm soát toàn vùng biển Đông.

Thứ 2: Kiểm Soát Toàn Vùng Biển Đông - Bảo Vệ Yếu Huyệt Malacca

Tăng trưởng kinh tế tại Trung Quốc đã dẫn đến chương trình hiện-đại-hóa quân đội, đồng thời gia tăng các nhu cầu về tài nguyên, lương thực, và thể diện quốc gia. Trung Quốc thành lập nhiều căn cứ hải quân để triển dương sức mạnh, từ bờ phía Nam của Miến Điện, đến đá Vành Khăn tại Trường Sa, rồi Đảo Phú Lâm (Woody Island) tại Hoàng Sa, và Tam Á tại Hải Nam. Hiện nay, Trung Quốc ngày càng phụ thuộc vào nguồn năng lượng nhập cảng, khoảng 75% số lượng dầu nhập cảng của Trung Quốc là từ những vùng chính trị bất ổn ở Trung Đông và Phi Châu. Họ phải vận chuyển bằng tàu thủy đến Trung Quốc qua nhiều hải trình xa xôi, mà hải trình huyết mạch qua eo biển Malacca có thể bị cắt đứt trong một cuộc khủng hoảng nào đó. Hồ Cẩm Đào nhiều lần nhắc tới mối quan tâm chiến lược của Trung Quốc đối với Biển Đông liên quan tới an ninh năng lượng chuyện vận qua "yếu huyệt Malacca.”

Thứ 3: Áp Đặt Chủ Quyền Bằng Sức Mạnh Quân Sự

Trung Quốc hiện đang dùng sức mạnh quân sự để áp đặt chủ quyền lãnh thổ của mình trong toàn vùng Biển Đông trên các đối phương trong khu vực bằng chiến thuật “cả vú lấp miệng em” để vừa đánh trống vừa ăn cướp” phân bua với thế giới. Sự chênh lệch về sức mạnh kinh tế và quân sự, kèm theo các phản ứng rất chừng mực và đơn lẻ, từ các đối thủ ASEAN như Việt Nam, Phillipine hay Malaysia đã khiến Trung Quốc “tự tung tự tác” bất chấp luật pháp quốc tế, tùy tiện vẽ lại bản đồ có lưỡi Rồng bao gọn toàn vùng Biển Đông. TQ đã bắn giết dằn mặt ngư dân các nước láng giềng cũng như áp lực các công ty dầu khí quốc tế phải rút khỏi Biển Đông nhằm phô trương sức mạnh cùng khả năng bảo vệ chủ quyền “áp đặt” của họ.

Thứ 4: Âm Thầm Xé Lẻ Và Triệt Tiêu Đối Kháng

Trung Quốc đang xử dụng chiến thuật “lấy thịt đè người” để lấn áp Việt Nam và các nước ASEAN. Thái độ và hành động nói trên của Trung Quốc đã gây thiệt hại cho kinh tế và đe doạ nền độc lập và sự vẹn toàn lãnh thổ của Việt Nam . Thái độ và hành động ngang ngược đó chỉ dựa vào sức mạnh quân sự mà lại không dựa trên một cơ sở pháp lý nào của luật biển quốc tế và nguy hiểm hơn nữa, TQ đang thực hiện giấc mộng bá quyền, khi nhu khi cương từng bước theo lối “tầm ăn dâu” chiếm đoạt Biển Đông. Đầu tiên, TQ đã mở những cuộc tấn công quân sự quy mô nhỏ để lấn chiếm dần lãnh thổ và lãnh hải trong vùng Biển Đông như chiếm Hoàng Sa năm 1974, một số đảo thuộc Trường Sa của Việt Nam vào năm 1988; hoặc đoạt Mischief Reef từ tay Philippine năm 1995. TQ cũng loại dần đối kháng từ các nước thuộc khối ASEAN liên hệ đến cuộc tranh chấp biển Đông bằng kinh tế và ngoại giao như tăng viện trợ, hợp tác kinh tế, tha nợ, v.v. Tuy nhiên, TQ khôn hơn, không cần xử dụng quân sự để bị mang tiếng là kẻ hiếu chiến mà dùng quyền lợi dẫn dụ với chiêu bài “hợp tác song phương” áp dụng “diễn biến hòa bình” để từng bước lấy được Biển Đông. Đây chính là lý do TQ kêu gọi “hợp tác khai thác Biển Đông” với Phi Luật Tân năm 1999 rồi với tay sai CSVN năm 2008 qua dự án 29 tỉ Mỹ kim; từ đó, Bắc Kinh mới có thể xé lẻ từng nước, gây nghi kỵ mất tình đoàn kết giữa các nước ASEAN để thủ lợi.

Thứ 5: Độc Quyền Thăm Dò và Khai Thác Dầu Khí Trong Vùng Biển Đông.

Đối với chính phủ Trung Quốc, thì chính sách năng lượng đã trở thành một bộ phận của chính sách đối ngoại. Hiện nay khoảng một nửa lượng dầu và khí đốt cần dùng của Trung Quốc phải lệ thuộc vào các nguồn cung cấp ở nước ngoài. Vì lý do bảo toàn năng lượng, Trung Quốc đã đặt ưu tiên cao cho việc dự trữ càng nhiều dầu hỏa và khí đốt mà họ có thể lấy được trong phạm vi lãnh thổ trên đất liền, các vùng biển ngoài khơi, hoặc càng gần nội địa càng tốt, bao gồm cả Nga Sô và miền Trung Á. Thế nên, bằng mọi cách, kể cả cấm nhập thị trường Hoa Lục, TQ sẽ không để các hãng dầu ngoại quốc dò tìm hoặc khai thác dầu trong vùng biển Đông. Năm 1994, Trung Quốc phản đối hợp đồng dầu khí giữa Việt Nam và ExxonMobil ở vùng Thanh Long với lý do vùng này thuộc Quần Đảo Trường Sa. Năm 2007, Trung Quốc gây áp lực buộc British Petrolium ngưng hoạt động trong dự án dầu khí có vốn đầu tư 2 tỉ $ US với Việt Nam ở hai vùng Mộc Tinh, Hải Thạch. Các vùng Thanh Long, Mộc Tinh, Hải Thạch nằm trong bồn trũng Nam Côn Sơn [19]. Việc áp lực 3 công ty BP của Anh, ONGC của Ấn Ðộ và ExxonMobil của Hoa Kỳ trong thời gian vừa qua đã nói lên ý định độc chiếm biển Đông của TQ.
Phạm Văn Thanh

CHIẾN LƯỢC BIỂN ĐÔNG CỦA VIỆT NAM

Có lẽ giải pháp cho những người Việt Nam yêu nước nằm trong các bài học ngàn đời của lịch sử: Trung Quốc là nước lớn nằm sát nách Việt Nam luôn nhòm ngó và muốn sát nhập nước ta vào lãnh thổ của họ. Khi Việt Nam hùng cường thì TQ hoà hoãn, khi VN suy yếu thì TC không ngần ngại thôn tính nước ta và TQ đã từng chiếm đoạt lãnh thổ và đô hộ Việt Nam gần 1000 năm.

Giá trị Biển Đông đối với Việt Nam ra sao?

Biển Đông là vùng biển chiến lược của VN, không những là vùng chứa nguồn lợi hải sản, dầu khí mà còn là vùng đệm cho an ninh quốc phòng về mặt phía Đông. Do đó, muốn bảo vệ Biển Đông, VN phải có một hải lực hùng hậu và hệ thống phòng thủ mà tầm ngắn nhất cũng phải là vòng cung phía Đông của trục Hoàng Sa-Trường Sa xuống đến Nam Côn Sơn. Mặt phía Tây của VN là hai nước yếu Lào và Cam Bốt, muốn tăng khả năng phòng thủ, VN phải liên kết với hai nước Đông Dương này; nếu không, TQ sẽ chẳng bỏ qua cơ hội chuyển một lộ quân xuống trấn dọc theo biên giới giữa ba nước Việt-Miên-Lào để vửa lợi dụng vùng biên giới làm căn cứ hậu cần an toàn, bao vây VN, hoặc từ đó, dễ dàng thọc nhưng mũi dùi đánh vào bất cứ cạnh sườn nào của nước ta rồi rút hoặc cắt nước ta thành nhiều đoạn nếu chiến tranh giữa TQ-VN xảy ra.

VN có căn bản pháp lý vững vàng về chủ quyền trên các hải đảo và thềm lục địa

Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam mà theo luật quốc tế do Hội Nghị Liên Hiệp Quốc 1982 Về Biển quy định rõ rệt là những tài nguyên và hải sản "thuộc quốc gia ngay bên cạnh thềm lục địa đó." Trong khi Việt Nam trưng ra đủ chứng từ và tài liệu thuyết phục về quyền sở hữu trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thì Trung Quốc chỉ dựa vào một tấm bản đồ do họ tự vẽ lại để đòi tất cả Biển Đông thuộc về nước họ bất chấp luật Biển và đề nghị thương lượng tay đôi với các quốc gia nhỏ bé ở Đông Nam Á để dễ bắt nạt.

Quyền lợi về dầu lửa ở Biển Đông. Những hòn đảo nhỏ không có giá trị nhiều nhưng vì có thể tàng trữ lượng dầu lửa lớn lao, giúp đất nước phồn vinh; cho nên, VN phải bảo vệ quyền lợi đó. Trữ lượng dầu hỏa nằm ở trong không những thềm lục địa mà còn ở vùng biển trên thềm lục địa gọi là vùng kinh tế đặc quyền, từ bờ lục địa ra đến 200 hải lý. Trước năm 1975, các hãng dầu ngoại quốc thăm dò tiềm năng dầu khí cho biết rằng ngoài khơi Việt Nam , nhiều nhất là vùng Trường Sa có trữ lượng dầu và khí đốt rất lớn. Cuộc thăm dò bởi Viện Nghiên Cứu Địa Dư Của Các Nước Ngoài của Nga Sô năm 1995 ước lượng có khoảng 6 tỉ barrel dầu trong đó có 70% là khí đốt trong vùng Trường Sa. Trong khi đó, TQ tuyên bố, biển Đông là “Vịnh Ba Tư thứ nhì” (the second Persian Gulf ” và một số nhà chuyên môn của họ đã quả quyết rằng biển Đông có thể chứa đến 210 tỉ barrels dầu hỏa và hơi đốt [20].

Chiến lược hiện nay của CSVN thế nào?

Đối phó với cường quốc nhiều tham vọng phía Bắc, trên thực tế, vì VN quá yếu về cả quân sự, lẫn kinh tế, không dựa vào Nga Sô được nữa thì chỉ còn hai đường: dựa vào HK để cương quyết chống TQ thì phải thay đổi thể chế hoặc đi với TQ thì phải chịu phục tùng họ để bám quyền. Trong nước thì Đảng CSVN bị đaị khối dân tộc bất mãn chống đối, bên ngoài thì bị áp lực quốc tế, nên tập đoàn lãnh đạo CSVN tìm đủ cách kéo dài thời gian bám quyền bất kể đến quyền lợi quốc gia và sự tồn vong của dân Việt. Áp lực của Tây Phương thì CSVN chẳng sợ bao nhiêu vì còn có TQ chống lưng đàng sau. Thế nên, Đảng CSVN luôn chọn cách “đu giây” với cà TQ và HK để “nín thở qua sông” hưởng lợi; nhưng khổ nỗi, chính áp lực của TQ trên VN mới là nỗi lo triền miên của tập đoàn lãnh đạo. Vì HK thì ở xa mà TQ lại ở ngay bên cạnh, nên chúng ta thấy rằng VN do vì nhu nhược và vì cô độc nên hiện nay tỏ ra quy phục TQ để hầu được yên thân, nắm quyền càng lâu càng tôt. Do đó, trên mặt nổi, chúng ta nhận thấy chiến lược của VN có thể tóm gọn như sau:

1. Đu giây với TQ và HK chứ không thật tâm ngả về bên nào

Tập đoàn lãnh đạo CSVN không tin TQ nhưng sợ bị TQ thôn tính thì “mất cả chì lẫn chài” nên “bắt cá hai tay” nhằm hưởng lợi từ cả TQ và HK. Mặt khác, VN chỉ muốn lợi dụng HK và Tây Phương để tránh bị tẩy chay, mất nguồn đầu tư vào VN, mất lợi nhuận riêng của họ và quan trọng hơn, để làm đối trọng với TQ và họ ở giữa yên thân hơn, làm “ngư ông hưởng lợi.” Nhưng chắc chắn là VN không thể qua mặt được TQ và cả HK; nên chi, cả 2 nước này cũng chỉ đãi bôi, giao thương với VN để cùng có lợi và “play games” với nhau mà thôi. Nghĩa là, TQ đã nắm được thóp VN nên điều khiển con rối VN dễ dàng theo ý họ. TQ cho phép VN đi với HK một phần để lấy lợi nhuận mà họ cũng được hưởng lây, một phần để mở “van an toàn” cho dân bớt chống đối Nhà Nước CSVN, phần nữa TQ làm bộ hiếu hòa, thân hữu để chứng tỏ VN còn tự chủ dưới mắt người dân sẽ giúp CSVN tồn tại hầu tiếp tục làm tay sai cho TQ.

2. Tránh Đụng Độ và Chịu Lép Vế Với TQ Để Tồn Tại

Vì quá yếu, VN cảm thấy khó thể đương cự nổi TQ khi họ ra tay chiếm đoạt nước ta nên đành nhắm mắt đưa chân, cố tránh đụng độ trực tiếp về quân sự, để giảm thiểu thiệt hại, mất mát, hi sinh nhiều hơn. CSVN biết rằng HK không nuôi dã tâm chiếm đoạt VN; nhưng ngược lại, nguy cơ VN bị TQ nuốt gọn rất cao. Vì vậy, thế đu giây của CSVN đành nghiêng hơn 60% về TQ để an thân, làm giàu nương theo lời chỉ đạo của TQ, đàn áp dân Việt để củng cố địa vị, bám quyền hưởng thụ càng lâu càng tôt. Đây là lý do mà TQ ngày càng lấn lướt và chiếm đoạt lãnh hải, lãnh thổ và uy hiếp nước ta về mọi mặt từ quân sự, chính trị đến văn hoá, kinh tế. Thế nên, mặc dù HK có thật lòng muốn giúp đỡ VN chăng nữa mà với thái độ “khiếp nhược” đó thì khi gặp nạn, bị TQ xâm lăng chẳng hạn, VN cũng đừng mong HK sẽ tận tình can thiệp, yểm trợ hoặc nhập cuộc đánh TQ giùm họ khi hai nước chưa tạo được mối liên minh quân sự để có thể tin cậy nhau.

3. Dựa Vào TQ, Bám Quyền Bằng Bạo Lực

Về mặt công luận quốc tế, Trung Quốc tích cực tuyên truyền cho chủ quyền của họ ở Biển Đông, mặc dù VN có chính nghĩa và vững vàng về mặt pháp lý, nhưng Việt Nam và các nước ASEAN tranh chấp ở Biển Đông không được quốc tế ủng hộ nhiều vì thiếu đoàn kết và yếu nỗ lực ngoại vận. VN sợ cứng rắn quá với TQ thì sẽ gẫy nên chấp nhận chính sách “chịu bẻ cong để không bị gẫy” chẳng dám phản kháng để tồn tại dưới áp lực TQ. Vì vậy, riêng Đảng CSVN thì họ chẳng sợ áp lực quốc tế bao nhiêu mà cũng chẳng ngại bị dân chúng lật đổ vì có TQ chống lưng và hệ thống công an bảo vệ. Tuy nhiên, với một cộng đồng hải ngoại đoàn kết, gây dựng được thực lực, tạo được uy tín đối với quốc tế và yểm trợ hữu hiệu cho quốc nội thì một cuộc cách mạng phế bỏ chế độ CSVN có cơ thành tựu.

Chiến lược hiện nay của CSVN có hữu hiệu, hoá giải được nguy cơ và tham vọng của TQ hay không? Chắc chắn là KHÔNG! Nó chỉ giúp tập đoàn lãnh đạo CSVN bám quyền mà thôi mà nguy hai cho cơ đồ VN khôn lường; vì rằng, càng ngày VN càng bị suy yếu, càng bị lệ thuộc nhiều hơn vào TQ về mọi mặt thì TQ sẽ chiếm VN chỉ là vấn đề thời gian, nếu toàn dân Việt chưa nhận thức được nguy cơ mất nước này...

Chiến lược thích hợp mà VN nên áp dụng để bảo vệ đất nước thế nào?

Thứ 1: Việt Nam Phải Có Tự Do, Dân Chủ Để Tạo Tình Đoàn Kết Dân tộc

Nếu các nhà lãnh đạo Việt Nam thật sự “yêu nước, thương dân” thì có thể áp dụng chính chiến lược của TQ “che dấu khả năng của mình và chờ thời” để dùng “gậy ông đập lưng ông;” bên trong thì âm thầm xây dựng nội lực, thuận lòng dân, hợp mệnh Trời và bên ngoài thì theo đuổi chính sách đối ngoại mềm mỏng, sáng suốt, đặt quyền lợi đất nước trên hết. Nghĩa là ổn định xã hội bằng chính sách an dân hợp vương đạo, phát triển kinh tế để có đủ phương tiện hiện-đại-hoá quân lực, khôn khéo trên trường ngoại giao để tạo thế và lực thật sự của dân tộc nhờ vào lòng dân, sức người và sự yểm trợ của quốc tế.

Chúng ta dễ dàng nhận thấy lý do thất bại của quân Nguyên trong kế hoạch dùng hải, lục quân xâm lăng Việt Nam vào cuối thế kỷ 13. Lúc bấy giờ, mặc dù quân Nguyên đã chiếm toàn Châu Á, cộng với nửa Châu Âu, nhưng đánh Việt Nam thì thất bại cả 3 lần vì nhà Trần phát huy tinh thần Diên Hồng để vận dụng được sức mạnh dân tộc một lòng chống giặc. Như vậy, chỉ một chính quyền thật sự “của dân, do dân, vì dân” và được lòng dân trong và ngoài nước mới có thể huy động đại-đoàn-kết dân tộc và tạo điều kiện xây dựng cho dân giầu, nước mạnh, đủ khả năng tự túc tự cường và bảo vệ đất nước mà thôi.

Thứ 2: Việt Nam Phải Xây Dựng Khả Năng Quốc Phòng

Trong nhiều năm qua, chính quyền Hà Nội đã duy trì quân đội theo mục tiêu chính trị để bảo vệ chế độ thay vì có khả năng bảo vệ đất nước. Việt Nam nên chú trọng vào những kế hoạch bảo vệ lãnh thổ và lãnh hải một cách thực tế thích hợp với nhu cầu và khả năng quốc phòng. Việc phát triển quân đội mà Hải Quân Việt Nam tương lai, trước tiên, nên chú trọng vào xây dựng một hạm đội gồm nhiều chiến hạm hiện đại hạng nhẹ, hỏa lực mạnh, vận tốc nhanh, dễ xoay sở. Chống lại cuộc tấn công từ ngoài biển Đông vào thì HQVN nên tập trung vào các lãnh vực phòng thủ nhiều lớp: phòng thủ cận duyên, phòng thủ viễn duyên và phòng thủ chiến lược .

Hiện nay, các quốc gia đồng minh trong vùng từ Nhật Bản, Ðại Hàn, Ðài Loan, không nhiều thì ít, đều phát triển quốc gia của mình với sự bảo vệ của Hoa Kỳ. Để tạo thế gián chỉ (deterence) nhằm giảm thiểu rủi ro xung đột quân sự với Trung Quốc, Việt Nam cần tạo thực lực và có liên minh quân sự tốt đẹp với Hoa Kỳ và các nước ASEAN. Trong tương lai gần, viễn tượng thành lập các Hải Đoàn Đặc Nhiệm gồm Hàng Không Mẫu Hạm với các chiến hạm của Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ấn Độ, Úc Đại Lợi, Tân Tây Lan tuần tiễu biển Đông chung với Việt Nam và ASEAN đặt căn cứ tại Cam Ranh là điều thực tế trước hành động bá quyền của TQ.

Trung Quốc chỉ dám bắt nạt những nước nhỏ yếu với cấp lãnh đạo nhu nhược mà thôi. Trong cuộc tranh chấp ở Biển Đông Trung Hoa (East China Sea) với Nhật Bản, Trung Quốc đơn phương tiến hành thăm dò, khai thác dầu trên vùng biển tranh chấp bất chấp sự phản đối quyết liệt của Nhật. Từ tháng 8, 2003, chính phủ Trung Quốc đã ký các thỏa thuận khai thác với các công ty dầu khí Trung Quốc và nước ngoài như Royal Dutch Shell và Unocal với trị giá lên tới nhiều tỉ Mỹ kim. Nhật lên tiếng phản đối viện cớ rằng hoạt động khai thác này sẽ hút cạn nguồn dầu khí nằm sâu trong lòng biển thuộc về hải phận của Nhật. Trung Quốc bỏ ngoài tai phản ứng của đối phương và thường xuyên đưa tàu chiến và tàu ngầm tới vùng biển này để dằn mặt Hải Quân Nhật Bản. Trước hành động lấn át của Trung Quốc, Nhật đã quyết định đưa tàu thăm dò tới vùng biển tranh chấp vào tháng 7, 2004 để chuẩn bị thăm dò và khai thác cho phần mình. Đương nhiên, Trung Quốc quyết liệt phản đối và coi hoạt động này là vi phạm chủ quyền. Tuy nhiên, các phản ứng chỉ dừng lại ở mức ngoại giao và kinh tế. Căng thẳng lên cao độ từ khoảng cuối 2003 - đầu 2004, tới mức chiến tranh tưởng như đã cận kề [22]. Khi cả hai bên tỏ thái độ sẵn sàng đối đầu, nếu không muốn chiến tranh thì lối thoát duy nhất chỉ có thể là hợp tác khai thác. Sau nhiều vòng đàm phán, tới tháng 6, 2008, Nhật Bản và Trung Quốc đã đạt được thỏa thuận khai thác chung. Các khu vực khai thác chung đều nằm trên vùng giáp ranh giữa hải giới của hai nước, nhưng theo quan điểm của Nhật chứ không phải theo quan điểm của Trung Quốc (bản đồ). Rõ ràng là trong thỏa thuận này, đường ranh giới do Trung Quốc vẽ không có chút giá trị nào. Nhật Bản có thể phải nhượng bộ ít nhiều đứng từ lập trường của họ (thí dụ về quy tắc phân chia trong hợp tác khai thác) nhưng lập trường của họ về ranh giới trên biển Đông Trung Hoa đã được giữ vững .

Thứ 3: Việt Nam Cần Dựa Thế Liên Minh Quân Sự Để Đối Trọng Với TQ

Năm 1994, Trung Quốc khoán cho hãng Creston Energy Corporation của Hoa Kỳ thăm dò các lô khoan dầu Tư Chính 133, 134, 135 thuộc khu vực Huangan Bay . Những lời tuyên bố cứng rắn của Việt Nam nhằm bảo vệ chủ quyền dựa vào căn bản pháp lý kèm theo các hành động cương quyết đã khiến TQ phần nào chùn bước. Tuy nhiên, vì nhu cầu nhiên liệu và cậy vào sức mạnh, TQ sẽ chẳng dễ gì bỏ qua mà đang tìm mọi cách chiếm đoạt hoặc thủ lợi. Các nước thuộc khối ASEAN phải nhận thức được rằng sự an ninh của mỗi nước thành viện cũng như sự an ninh trong toàn vùng chỉ tốt hơn nếu mọi nước trong vùng Đông Nam Á cùng tham gia ASEAN và đoàn kết với nhau chống lại tham vọng bành trướng và ý đồ muốn nuốt gọn Biển Đông của TQ [21]. Điều này chưa xảy ra; nhưng trên thực tế, TQ đã thành công trong mục tiêu xé lẻ các nước ASEAN liên hệ đến tranh chấp trong biển Động. Thí dụ như Phillipine đã dễ dàng bị mua đứt để đồng ý ký thỏa thuận hợp tác song phương với Trung Quốc năm 1999 trong khi bỏ mặc Việt Nam sang một bên. Sau đó, vào cuối năm 2008, VN xé lẻ hợp tác với TQ ký hợp đồng 29 tỉ $ US cho TQ thăm dò và khai thác dầu khí, áp lực các công ty dầu khí của Anh, HK, Ấn Độ phải rút lui.

Thứ 4: Đưa Vấn Đề Biển Đông Ra LHQ để Giải Quyết:

Tận dụng phương tiện truyền thông và đường lối ngoại giao, VN nên vận động sự quan tâm và ủng hộ của dư luận quốc tế cho một giải pháp công bằng và hoà bình cho các tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông. Vấn đề chủ quyền lãnh thổ và lãnh hải của các nước liên hệ trong vùng Biển Đông phải được đưa ra LHQ giải quyết càng sớm càng tốt cho VN. Đương nhiên, TQ sẽ bất-hợp-tác hoặc ngăn cản và với tư thế mạnh của TQ hiện nay, LHQ cũng vô hiệu. Trong thỏa thuận hợp tác khai thác dầu khí giữa Nhật Bản và Trung Quốc, hai bên đã cùng viện dẫn Công Ứơc Quốc Tế về Luật Biển, trong khi Nhật Bản cho rằng phải xử dụng đường trung tuyến làm ranh giới thì Trung Quốc muốn dùng giới hạn thềm lục địa của nước này làm ranh giới [23].

Cách giải thích của TQ hay của Nhật Bản đều đã có tiền lệ, vì thế tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc cũng đặt trên cơ sở vững vàng. Tuy nhiên, trong cuộc tranh chấp ở Biển Đông, TQ hoàn toàn tự tiện tuyên bố chủ quyền với bản đồ chủ quyền gồm đường viền “lưỡi Rồng” bao phủ gần trọn Biển Đông mà không có cơ sở pháp lý gì chứng thực. Bất kể đến Công Ứơc Geneva về Thềm Lục Địa 1958 và Công Ứơc Quốc Tế về Luật Biển 1982, Trung Quốc vẫn không sửa lại bản đồ xác định chủ quyền của họ và ý đồ bá chủ biển Đông ngày càng lộ rõ. Dù thế nào, VN cũng phải cương quyết bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ, khẳng định rõ ràng chủ quyền trên vùng lãnh thổ và lãnh hải trong vùng Biển Đông gồm cả vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trước ngày 13 tháng 5 năm 2009. VN có lẽ sẽ đệ trình tài liệu xác định chủ quyền và thềm lục địa lên Liên Hiệp Quốc vào phút cuối để giảm thiểu phản ứng phẫn nộ của TQ. Nếu vì điều này mà gây nên tranh tụng với TQ, VN phải chủ động tạo nên một “case tố cáo TQ vi phạm chủ quyền, chiếm đoạt lãnh thổ lãnh hải của VN” thì đó là một điều tốt, và VN nên liên tục tố cáo để giữ vấn đề tranh chấp này sôi sục và trong vòng xử lý của LHQ.

Phạm Văn Thanh

(Xin xem tiếp Phần III: Biển Đông Nổi Sóng?)

Monday, April 6, 2009

BÁO SINH VIÊN YÊU NƯỚC- TIẾNG NÓI TỪ TRÁI TIM

Tuy mới ra đời mới 3 số báo nhưng Báo Sinh viên yêu nước đã phản ánh những tâm tư nguyện vọng không chỉ trong giới sinh viên học sinh trong và ngoài nước nhưng còn thay mặt cả đa số dân chúng là những người yêu nước, yêu tự do dân chủ,căm ghét độc tài.Báo sinh viên yêu nước đã thay mặt nói lên những tiếng nói đau thương uất hận mà chúng tôi, quý vị không thể hoặc không dám nói.

Thật vậy, chỉ mới phát hành có ba số nhưng báo Sinh Viên Yêu nước thật sự đã gây lên tiếng vang lớn đối với cộng đồng Việt Nam Quốc Nội và Hải Ngoại.Báo đã làm nức lòng người dân trong nước, là nguồn động viên khích lệ người Việt Quốc nội trong phong trào đấu tranh đòi tự do, dân chủ.


Đối với cộng đồng người Việt Quốc Gia, báo Sinh Viên Yêu Nước cũng đem lại những chia xẻ về nỗi đau mất nước mà họ phải chịu 34 năm qua.Báo Sinh Viên Yêu nước chính là chiếc cầu nối cùng chia xẻ giữa người dân trong nước đang chịu cảnh mất tự do và người dân ngoài nước sống cuộc sống ly hương dù tự do nhưng cụng đau đáu cho một tương lai quay về quang phục quê hương.


Những cộng tác viên, biên tập viên của báo Sinh Viên Yêu Nước là những sinh viên sinh sống và học tập ở các nước, và thậm chí có nhiều sinh viên học tập ngay chính quê hương thân yêu.Những sinh viên dù bị nhồi nhét những tư tưởng Cộng Sản, những lý luận máC Lê nin và tư tưng Hồ Chí Minh, nhưng xuất phát từ lòng yêu nước, yêu tự do dân chủ nhân quyền , họ đã bí mật tham gia dấn thân vào công cuộc đấu tranh .Những ngòi bút, ý kiến của họ trên mặt báo là xuất phát từ trái tim.Mong sao báo Sinh ViênYêu Nước sẽ mãi mãi trường tồn, là người bạn sát cánh với những người yêu chuộng nền dân chủ.


Sài Gòn ngày 6/4/2009
THÁI DƯƠNG

Viết cho các bạn Việt Nam đói nghèo, thất thế

(Nếu được, kính nhờ quý vị chuyển cho bạn bè trong nước)

Các bạn Việt Nam đói nghèo, thất thế ở trong nước thân mến,
cc: Báo Sinh Viên Yêu Nước

Cách đây vài hôm tôi có dịp nói chuyện với một người bạn trong nước. Người bạn này nhận chân ra được sự gian tham của nhà cầm quyền CSVN là chướng ngại lớn nhất cho sự tiến bộ, công bằng của VN. Tư bản đỏ thì giàu sụ, bạn thì khố rách áo ôm. Người bạn tôi trách tôi và trách những người Việt hải ngoại như tôi là chỉ biết nói bằng cái miệng, nếu ngon tại sao không về nước mà chống Cộng.

Thưa các bạn,

Tôi cười khì. Sống là để mưu cầu hạnh phúc. Cơm áo, nhà cửa, tự do và an toàn là những căn bản của hạnh phúc, thiếu nó là bất hạnh ngay. Dĩ nhiên là hạnh phúc còn bao gồm nhiều thứ khác nhưng chẳng phải vậy ư? Các bạn đang chịu bất hạnh vì nhà cửa dột nát, cơm áo không đủ ấm no, quyền tự do không có, ấm ớ chỉ trích nhà cầm quyền là bị đàn áp, bắt giam, tức không có sự an toàn. Tôi đã có đủ. Khi tôi có đủ những thứ này rồi thì tôi bắt đầu nghĩ cho người khác, mà đầu tiên là cho đồng bào của tôi, tức là các bạn.

Nhưng ủa, thưa các bạn, tại sao tôi phải bỏ những căn bản hạnh phúc này, lao đầu về chỗ thiếu an toàn, mất tự do, để hy sinh cho các bạn? Kẻ đang thiếu thốn, nghèo đói, bị chèn ép, chịu đựng sự bất công là các bạn. Kẻ đang sống trong cái xã hội mục ruỗng, thối nát, mạnh ai nấy vơ vét, mạnh ai nấy rút ruột của công, xây cầu thì cầu sập, gái thì bán thân cho ngoại nhân, trai thì bán sức làm lao nô, là các bạn. Đứng lên giành lại quyền làm chủ, lật đổ cái phỉ quyền thối nát kia, để mưu cầu một cuộc sống bình đẳng, dân chủ, tự do và ấm no hay không là chuyện mà các bạn đóng vai chánh, tôi chỉ xin một vai phụ. Các bạn không làm thì các bạn suốt đời khom lưng cho đám tư bản đỏ và con ông cháu cha đè đầu cỡi cổ.

Thưa các bạn,

Nói xấu thì tôi không xấu, bởi vì tôi nào có hại ai, tôi vẫn chống đám cầm quyền VC đang đì các bạn, tôi vẫn làm điều mà một số người Việt tị nạn đã lãng quên. Nhưng nói tốt đến mức thánh thiện thì tôi cũng chẳng được như vậy, vì tôi không xả thân về VN để tranh đấu cho quyền lợi của các bạn. Ai đấu tranh thì tôi ủng hộ, về tinh thần, về tiếng nói và về tài chánh. Bằng nếu các bạn không đấu tranh thì chuyện các bạn nghèo, các bạn bị hiếp đáp, các bạn sống trong một quốc gia lạc hậu, tôi đành phó mặc. Chuyện đấu tranh là chuyện của các bạn. Tôi ghét bất công, tôi chửi bất công. Tôi ghét VC gian tham, tôi chửi VC. Tôi còn có bổn phận trả lại món nợ ân tình cho quốc gia mà tôi đang ở, cho xã hội đã ra tay cứu vớt tôi. Tôi đã là công dân của quốc gia này, nơi mà tôi được đối xử bình đẳng, nơi tôi có phần làm chủ, không cần hối lộ, móc ngoặc, khúm núm với bất cứ ai.

Các bạn có ba con đường chọn lựa, một là chạy ra hải ngoại như tôi, hai là đấu tranh cho bản thân các bạn, ba là suốt đời theo làm tôi tớ cho cái đám gian tham. Bạn chọn con đường thứ nhất, hôm nào gặp nhau trên mảnh đất tự do này chúng ta sẽ nhậu một bữa đã đời. Bạn chọn con đường thứ nhì thì tôi hoan hô và ủng hộ hết mình, còn chọn con đường thứ ba thì tôi cũng chẳng biết làm sao, đành để cho các bạn bị đè đầu, cỡi cổ.
Một người Việt hải ngoại (không đại diện cho ai hết),

Nguyễn văn Hoàng
(Hoàng Nguyên, hoang4eb@gmail.com )

Khi nào Tầu tấn công Việt Nam ?

Mỹ và Việt Nam nắm bắt tay tình nghĩa đậm đà hơn Tầu. vì chờ thời cơ Việt Nam và Tầu có mâu thuẫn đột biến nhỏ thì Tầu sẽ:

1 / Trên đường bộ phía bắc: dùng lực lượng bộ binh đông áp đảo 600km biên giới đổ bộ sang, thọc sâu vào các tỉnh phía bắc, dàn hàng ngang chiếm cứ toàn bộ phía bắc rút kinh nghiệm chiến thuật 1979.


2 / Đường bộ phía tây: tổ chức lực lượng ngay trong lòng Việt Nam với trang phục dân sự vũ khí hiện đại nhỏ gọn, từ Tây nguyên thọc sâu ép ra biển.


3 / Mũi phía nam: từ Trường Sa ở vào chiếm 6 tỉnh đồng bằng Nam bộ, thọc chéo ra miền Trung, tạt trái sang campuachia.

4 / Mũi phía đông: từ Hoàng Sa đánh, ép toàn bộ các tỉnh miền Trung, hoà nhập với mũi phía tây, dồn ngược lên Thanh Hóa, Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình, Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng.

Nếu thất bại: Mạnh, Triết, Dũng, Trọng rút sang Vân Nam đi Bắc Kinh. Vì cứu con trai, Dũng có thể tìm đường quay hoặc lộn sang Mỹ .


dothuan@sbcglobal.net


Saturday, April 4, 2009

Khi nào thì hết sợ ?


Gần đây trên mạng Internet liên tục xuất hiện các bài viết đề cập đến thời gian đã qua, hay còn gọi là thời kỳ đã qua. Mặc dù không đưa ra những mốc thời gian cụ thể, xong ai cũng hiểu rằng thời kỳ đó bắt đầu từ 1954 ở miền Bắc và 1975 ở miền Nam.

Một nét đặc trưng và bao trùm lên trên tất cả mọi người dân Việt Nam trong thời gian đó là: Nỗi sợ và Cái hèn.

Chính nỗi sợ làm cho chúng ta hèn. Vậy chúng ta sợ cái gì? Một điều chắc như đinh đóng cột là chúng ta sợ Cộng Sản. Với chính sách chuyên chế vô sản, với các cuộc cách mạng văn hóa tư tưởng, cải cách ruộng đất,… và đặc biệt là chủ trương “Bóp lấy dạ dày nhân dân” đã làm cho dân tộc Việt Nam từ một dân tộc anh hùng trở thành một dân tộc sợ hãi và hèn nhát.

Nhân dân sợ

Khi nhìn lại hơn một triệu người dân Miền Bắc di cư vào Nam sau năm 1954. Nhìn lại tình cảnh hỗn độn, dân chúng đua nhau tháo chạy khỏi Miền Nam năm 1975 và thời gian sau đó ai trong chúng ta cũng có thể hình dung ra nổi sợ hãi người cộng sản như thế nào. Không sợ làm sao được khi mẹ tôi nấu cơm độn khoai không đủ 40% khoai liền bị lập biên bản. Ba tôi phải đem hai cái bình điện (Ắc-qui) đục ra để làm chậu trồng rau, vì sợ rằng có bình điện tức là nhà giàu, là tư sản, là có tội, là nợ máu nhân dân.

Giang hồ sợ

Có một lần khi chứng kiến hai băng đảng giang hồ đang giáp mặt nhau chuẩn bị tỉ thí trong một quán nhậu ở thành phố Nha Trang. Đôi bên đang dàn trận với khí thế hừng hực, đột nhiên một trong những người cầm đầu của một bên rút trong túi ra cái thẻ màu đỏ, đập xuống bàn kèm theo mấy câu chửi thề. Ngay lập tức băng giang hồ bên kia biết rằng mình đụng phải “thứ dữ” nên nhanh chóng rút lui, mặt xanh như đít nhái!

Trí thức sợ

Trí thức là thành phần ưu tú của dân tộc, ấy vậy mà cũng sợ, cũng hèn. Để diễn đạt nỗi sợ của trí thức, xin mượn mấy câu thơ dưới đây của nhà thơ Bùi minh Quốc:

Bao nghẹn uất Nguyệt Nga xé trời kêu chẳng thấu
Giữa chợ đời biệt dạng Lục Vân Tiên
Hảo hớn bận giang hồ quán nhậu
Thi nhau bốc phét để quên hèn.”

Lãnh đạo tôn giáo sợ

Ở Việt Nam có hai tôn giáo lớn. Đứng đầu là Phật Giáo với hơn 80% dân số theo Phật giáo. Chỉ thấy một số ít thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất của Hòa thượng Thích Quảng Độ có thể gọi là không biết sợ. Tôn giáo lớn thứ hai là Công Giáo. Cũng vì sợ mà bao năm trời đã chấp nhận im hơi lặng tiếng mặc cho xã hội đảo điên, mặc cho luân thường đạo lý trở nên bèo dạt mây trôi.

Chính quyền sợ

Kể cũng lạ, mọi thành phần dân tộc đều sợ công sản, vậy chính quyền cộng sản thì sợ ai nữa. Nói zậy nhưng không phải zậy, đây mới chính là thành phần sợ nhiều nhất, sợ lâu nhất và hèn hơn ai hết. Cái sợ thứ nhất là: Cộng sản bé sợ cộng sản lớn. Cụ thể là hết sợ Liên Xô bây giờ đến sợ Tàu. Phái Bắc nhượng đất, phía đông nhường biển, rồi bây giờ dâng cả Tây nguyên luôn cho êm. Chưa hết, vừa rồi căng thẳng giữa các nước trên biển đông, trong khi Phi, người Mã khẳng khái tuyên bố chủ quyền của họ (dù chưa chắc là của họ) thì người ta lại thấy các bác trong bộ chính trị lục đục "đi tàu"! Cái sợ thứ hai của người cộng sản là họ sợ chính họ. Này nhé: Một Võ nguyên Giáp đang nắm binh quyền trong tay mà phải lui về làm “Kế hoạch sinh đẻ”. Một Võ Văn Kiệt khi bênh hoạn không dám nằm ở bệnh viện nhà nước mà phải nằm bệnh viện "đế quốc". Một Lê khả Phiêu, tin vào Đức Phật, thờ Đức Phật mà sợ không dám công khai xác nhận niềm tin của mình.

Khi nào thì hết sợ ?

Trong suốt một thời gian dài mà cả dân tộc đều sợ thì có một số ít các nhà yêu nước với đủ các thành phần, điển hình như: Trí thức có: Hà sĩ Phu, Nguyễn thanh Giang,… . Phía tôn giáo có Cố Giám mục Nguyễn Kim Điền, Linh mục Nguyễn văn Lý, Hòa thượng Thích Quảng Độ,… . Phía những người cộng sản có Hoàng minh Chính, Trần Độ,… họ đã vượt qua cái sợ để nói lên tiếng nói của lương tâm, của Công lý và Sự thật.

Từ những hạt giống đó đến năm 2006 thì lần đầu tiên tại Việt Nam xuất hiện một bản tuyên ngôn về Nhân quyền. Khởi đầu chỉ với vài người "không biết sợ", sau vài tháng thì con số người "không biết sợ" đã lên đến vài ngàn người. Sau đó giới trí thức trẻ bắt đầu "hết sợ" mà điển hình là các gương mặt như Lê thị công Nhân, Nguyễn Văn Đài, Lê Quốc Quân, Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Vũ Bình, Nguyễn Tiến Trung,…

Đến cuối năm 2008 thì lãnh đạo Tôn giáo bắt đầu "không còn sợ nữa" mà điển hình là Đức Tổng Giám mục Giuse Ngô Quang Kiệt và Hội đồng Giám mục Việt Nam đã lên tiếng bênh vực cho Công lý và Hòa Bình. Hưởng ứng cho phong trào đấu tranh vì Công lý và Hòa Bình đó là giáo dân Việt Nam trong và ngoài nước. Tiêu biểu cho thành phần "phó thường dân hết biết sợ" này là Giáo dân giáo xứ Thái Hà. Với những gì được thể hiện qua quá trình đấu tranh và đặc biệt là qua hai phiên tòa vừa qua, chúng ta có thể khẳng định rằng: Nổi sợ hải đã qua đi và tiếng của Công lý, của sự thật đã xuất hiện trong người dân Việt Nam.

Vậy khi nào thi người cộng sản hết sợ và hết hèn? Khi nào thi người cộng sản khẳng khái tuyên bố họ không còn tin vào chủ thuyết Mác-Lê nữa? Khi nào thì họ đồng hành cùng dân tộc, khẳng khái bảo vệ biên cương, bảo vệ Tổ quốc mà cha ông ta để lại? Những câu hỏi này xin dành cho những nhà lãnh đạo cộng sản.

Một ngày cuối tháng 3 năm 2009
Trương Văn Phú

http://giaoxuthaiha.org/Web/ContentDetail.aspx?distid=2006

Thursday, April 2, 2009

Nhớ Tháng Tư Đen

Mùng 10 tháng 3 âl sắp tới Giỗ thứ 59 của Ba tui. Năm nay nhằm ngày 4 tháng 4 dl.
Hễ tới tháng Tư là tui buồn lắm.


Nhớ Tháng Tư Đen

Nhớ tháng tư đen lại đến rồi
Miền Nam đất Việt của tôi ơi
Tự do công lý không còn nữa
Cả nước chìm trong sắt máu thôi

Nhớ tháng tư đen lại đến rồi
Làm sao quên được ngày ba mươi
Cộng nô hỉ hả reo cờ đỏ
Đỏ cháy con tim, đỏ chết người

Nhớ tháng tư đen lại đến rồi
Miền Nam Cộng phỉ cưỡng lên ngôi
Cho dân Miền Bắc tràn hoen lệ
Hăm mốt năm trường đỏ mắt trôi

Vì dân Miền Bắc khổ nhiều rồi
Nó cỡi trên đầu trên cổ thôi
Cờ đỏ đến đâu chết đến đó
Sao vàng sao chổi quét tàn hơi

Vì dân Miền Bắc hiểu nhiều rồi
Cộng Đảng hồng chuyên sắt máu thôi
Cả Mẹ cả Cha còn tố khổ
Cả con cả vợ, đổi trèo ngôi

Nó nói lo dân lo nước à
Miệng mồm Cộng Đảng thật chua ngoa
Nó la leo lẻo, lòa thiên hạ
Xiềng xích ngục tù chật ních a

Dân đen mê ngủ nên gà mờ
Khi tỉnh ra rồi, con cóc khô
Nó lấp cửa hang, nó bịt miệng
Thiên đường cộng sản, đừng nằm mơ

Miền Bắc trông chờ những ước mong
Miền Nam phạt Bắc diệt cuồng vong
Cho dân Miền Bắc ngoi đầu dậy
Cùng với Miền Nam sưởi ấm lòng

Vậy mà ước vọng đành tiêu vong
Vận nước điêu linh cuốn xoáy dòng
Cuốn tiếp Miền Nam trôi nghiệt ngã
Thế thì cả nước phải long đong

Vậy mà thế giới vẫn ba hoa
Phản chiến, hùa theo giải phóng ma
Quỷ đỏ cười khì, rung chễm chệ
Lọt tròng, vùng vẫy thoát sao ra

Vậy mà quốc tế xụi tai lơ
Giả điếc giả câm giả ỡm ờ
Hiệp định Paris thua giấy rách
Chính em chính trị quá ngây thơ

Uỷ Ban đình chiến với đình tranh
Hòa hợp sa lông đắp chiếu mành
Hòa giải ngu ngơ trùm chiếu rách
Bó tay, cho Cộng Sản tung hoành

Khởi lệnh ùn ùn tổng tấn công
Miền Nam hết thở, chống tay không
Một giàn ký kết, câm như hến
Bài học muôn đời, đừng ngóng trông

Làm sao thoát khỏi tháng tư đen
Không trước thì sau gió trước đèn
Chút lửa lập lòe dầu cạn sạch
Lóe lên rồi tắt ngúm đêm đen

Mỗi năm, lại nhớ tháng tư đen
Trùng hợp ba mươi, phải tối tăm
Đom đóm đêm đen, nên cả nước
Ngập chìm thống khổ, sống hờn căm

Mỗi năm, lại nhớ tháng tư đen
Trùng hợp ba mươi, không có đèn
Trăng lặn, sao mờ, thêm tối mịt
Toàn dân nước Việt làm sao quên

Tháng Tư, đâu phải chỉ Miền Nam
Miền Bắc trầm kha đã thiết ngàm
Hiệp định Genève đà siết họng
Paris thêm nữa, biết sao cam

Hăm mốt năm, xương máu Bắc Nam
Đổ sông đổ biển, mộng tiêu tan
Âm linh tử sĩ mờ sương khói
Tức tưởi hồn đau ngập suối vàng

Hăm mốt năm, dân chúng Bắc Nam
Hiền Lương Bến Hải sóng lăn tăn
Không nhòa máu lệ hai bờ nước
Thêm tháng tư đen, chấm dấu than !

Dấu than lịch sử nhớ nghe em
Nghe chị, nghe anh, đừng có quên
Cho đến khi nào, lật sử mới
Việt Nam mới hết những hoang tàn

Cái tháng tư đen, nhớ rõ ràng
Hễ ai, là máu đỏ da vàng
Hễ ai, là cháu con Hồng Lạc
Còn dính trong người chút Việt Nam

Không phải một năm, hay chục năm
Hai mươi, hay đã ba mươi năm
Cho dù đến bốn, năm mươi nữa
Trang sử lật qua, mới hết ngàm

Lúc đó, người dân cả nước mình
Nhòa trong mắt lệ, khóc quang vinh
Nắm tay thắm thiết, chan tình tự
Vì quá oan khiên, khổ cực hình

Lúc đó, người dân cả nước mình
Mới nghe tiếng nói của chân tình
Mới cười chan chứa trong ánh mắt
Vì quá tai ương, phải lặng thinh

Lúc đó, người dân cả nước ta
Trong ngoài trổi khúc khải hoàn ca
Bài ca thắm thiết tình dân tộc
Tổ quốc Việt Nam đã thái hòa

Lúc đó, người dân cả nước ta
Bài ca thống nhất mới hùng ca
Diễu hành trên khắp non sông Việt
Dân tộc Việt Nam đã thái hòa

Thế thì, dấu mốc tháng tư đen
Đừng đổ cho ai, quá cũ mèm
Dù đỏ, dù đen, hay xám xịt
Chụp tai, chụp mũ, chỉ kèm nhem

Thế thì, dấu mốc tháng tư đen
Dân tộc Việt Nam phải thắp đèn
Thắp đến khi nào trời sáng lại
Việt Nam sông núi tỏa hồn thiêng.

Viết cho 30 tháng 4 năm 2009
ThấuTâmCan
ST