Monday, July 27, 2009

Rã ngũ: mối lo tâm phúc của Hà Nội

• Sau khi lộ rõ chân tướng bán nước cho Trung Cộng (TC), guồng máy thống trị Cộng sản Việt Nam (CSVN) đang bị đẩy vào thế tứ bề thọ địch, đối mặt với vực thẳm tiêu vong!

• Giữa lúc đã hoàn toàn mất thế nhân dân, mối âu lo lớn nhất của 15 nhân vật cầm đầu Đảng CSVN là sự rã ngũ toàn diện trong cơ cấu đảng và nhà nước.

• Trước cao trào bỏ đảng vì đảng bán nước cho TC, người ta chờ đợi một cuộc bạo loạn sẽ bùng nổ trong nội bộ đảng và guồng máy cầm quyền CSVN.

• Để đối phó với tình huống tuyệt vọng ấy, đoàn lũ xung kích của Hà Nội đã và đang mưu toan những gì trong các cộng đồng Việt tị nạn ở hải ngoại?

***

I. CSVN: Thủ phạm bán nước

Cho đến hôm nay, chuyện cộng sản Việt Nam bán đất, dâng biển cho Bắc Kinh, rước kẻ thù truyền kiếp vào cướp nước, hà hiếp dân ta đã trở thành chuyện hiển nhiên, giữa ban ngày.

• Những tay đầu sỏ ở Bắc Bộ Phủ cam tâm cúi đầu để cho Trung Cộng công khai tuyên bố sáp nhập quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa vốn của Việt Nam vào quận Tam Sa của chúng. Từ lâu Bắc Kinh đưa ra họa đồ hình lưỡi bò, liếm sát bờ biển Việt Nam, bất chấp mọi qui luật quốc tế về thềm lục địa. Cho mãi tới vài năm vừa qua, người ta mới biết là ngay từ năm 1958, tính theo thời gian là 51 năm về trước, Phạm Văn Đồng với tư cách thủ tường CSVN đã theo lệnh Hồ Chí Minh viết công hàm nhìn nhận chủ quyền quần đảo này là của Bắc Kinh! Câu hỏi khẩn cấp được đặt ra: liệu còn có những cam kết mật nào khác mà Hà Nội đã ký với kẻ thù khiến họ phải cúi đầu, cam tâm làm tôi mọi như hiện nay?

• Hà Nội nín thinh không phản ứng khi Bắc Kinh ngang nhiên hạ lệnh cấm ngư phủ Việt Nam đánh cá trong suốt mùa cá năm 2009. Một số ngư thuyền Việt Nam bị tàu Trung Cộng húc vỡ khiến ngư dân kẻ tử thương, người bị bắt, người may mắn thoát nạn nhờ các bạn chài cứu vớt. Cho đến nay vẫn còn một số ngư dân bị Bắc Kinh giam giữ. Hệ quả là hàng ngàn đồng bào chuyên sống bằng nghề đánh cá cùng với cả chục ngàn thân nhân gia đình họ lâm cảnh cùng quẫn, túng đói vì không thể ra khơi thả lưới.

• Vừa âm thầm vừa công khai, từ nhiều năm qua, từng bước một, CSVN đã ký kết những hợp đồng rước người Tàu vào cạo sạch hàng trăm, hàng ngàn mẫu rừng ở Cao Nguyên Trung Phần (Tây Nguyên) để khai thác mỏ Bôxít, bất chấp những nguy cơ trầm trọng tới sinh thái, môi trường, văn hóa, kinh tế, nhất là mối họa tâm phúc liên quan tới vấn đề an ninh quốc gia.

• Sau khi muối mặt mặc nhiên để cho Trung Cộng phân định biên giới khiến cho nhiều ngàn cây số vuông lãnh thổ bị mất vào tay người Tàu, trong đó Ải Nam Quan bị đẩy lùi sâu vào đất thù nhiều cây số, thác Bản Giốc bị mất một phần quan trọng, cho đến hôm nay Hà Nội vẫn chưa dám công bố cho người dân thấy bản đồ vừa được cắm mốc phân ranh biên giới Hoa-Việt ra sao, khiến cho dư luận càng thêm công phẫn, hoài nghi.

Và mối hoài nghi này đã trở thành sự thật khi Dương Danh Dy, một nhà ngoại giao kỳ cựu từng giữ chức vụ đại sứ của CSVN tại Bắc Kinh, lên tiếng trong cuộc phỏng vấn của Mặc Lâm phái viên đài Á Châu Tự Do hôm 02 tháng 7 vừa qua.

Khi Mặc Lâm nêu câu hỏi là phải chăng vì Trung cộng đã chi viện quá nhiều cho Việt Nam trong cuộc chiến tương tàn trước đây nên Hà Nội đã tỏ ra mềm yếu khi đàm phán về vấn đề biên giới giữa hai nước, Dương Danh Dy đã lên tiếng đỡ đòn là “Bây giờ cũng không thể kết tội ai được bởi vì nó là chuyện lịch sử rồi”. Ngay sau đó, họ Dương lại công khai thú nhận:

“Chúng ta có một số điều hứa. Tôi biết rất rõ những điều hứa này của ta. Ta có những điều hứa trong vấn đề Biển Đông. Cái hứa của chúng ta lúc đó thì có những nguyên nhân là do chúng ta bênh Trung Quốc, có những nguyên nhân do chúng ta dốt, chúng ta không hiểu gì cả.

“Tôi xin nói thật, tôi đã từng đi điều tra biên giới trên bộ nhiều lần và tôi thấy có những cái đúng là sự ngây ngô khờ dại, có những cái do lúc bấy giờ người ta giúp mình với mục đích là đưa hàng hoá sang nhanh chẳng hạn.

“Như tôi nói làm một con đường đi qua lãnh thổ của Trung Quốc thì là phải qua đèo cao, thế thì đi vòng chân đồi mở rộng sang chỗ đường bằng phẳng đi vòng trên đất nước Việt Nam thì đường ô-tô dễ đi. Lúc không có chuyện thì không sao, nhưng bây giờ anh nói đường của tôi ở đâu thì đất của tôi ở đấy. Thế là mình mất toi mấy chục hecta trở lên. Làm thế nào được! Đấy, lúc đó là trong hoàn cảnh thời chiến. Người ta giúp mình, mình chẳng bao giờ nghĩ tới chuyện đó, có thể là không nghĩ ra, có thể là dốt, vân vân. Bây giờ muốn trách cứ thế nào thì cũng phải chịu thôi.”

Trước hết cần phải chính danh: từ “chúng ta” mà họ Dương dùng ở đây chỉ giới hạn vào thiểu số những tay gộc trong bộ máy đảng và nhà nước CSVN của đương sự mà thôi.

Người nghe và người đọc bài phỏng vấn Dương Danh Dy của Mặc Lâm không khỏi bật cười cay đắng khi họ Dương khơi khơi cho rằng chuyện nhường đất cho Trung Cộng không thể kết tội ai được vì nó đã là chuyện lịch sử rồi!

Chuyện lịch sừ, theo Dương Danh Dy bao gồm “những điều hứa” với quan thày TC của những tay cầm đầu ở Hà Nội mà ông ta biết (biết nhưng không dám hay không tiện nói ra là hứa những gì). Vẫn theo viên cựu đại sứ CSVN bên cạnh nhà cầm quyền Bắc Kinh này thì nguyên nhân dẫn tới những lời húa ấy là vì “chúng ta (CSVN) bênh Trung Quốc, có những nguyên nhân do chúng ta dốt, chúng ta không hiểu gì cả.”

Dù Dương Danh Dy cố gắng biện hộ cách nào thì chúng ta (những người Việt Nam yêu nước, yêu tự do) cũng cám ơn ông. Nhờ ông, mối hoài nghi lâu nay của người dân ở trong cũng như ngoài nước đã được giải tỏa ít nhiều.

Như thế, một phần căn nguyên đưa tới chuyện Trung cộng lấn đất ở biên giới đã được bạch hóa: vì nhu cầu chuyển vận cơ giới, vũ khí, đạn dược và nhu yếu phẩm do Bắc Kinh viện trợ cho CSVN trong cuộc chiến xâm lăng VNCH trước tháng tư năm 75 nên Hà Nội đã để cho họ mở đường lưu thông sâu trong nội địa Việt Nam (sâu bao nhiêu cây số và kéo dài bao nhiêu cây số dọc biên giới cho đến nay chưa ai biết). Và kết cuộc như lời thú nhận của Dương Danh Dy:

“Lúc không có chuyện thì không sao, nhưng bây giờ anh nói đường của tôi ở đâu thì đất của tôi ở đấy. Thế là mình mất toi mấy chục hecta trở lên!” (chú thích của người viết: “anh” ở đây là Ông Anh Quan Thày Vĩ Đại Bắc Kinh và “của tôi” là của các Chú Ba).

II. CSVN bên bờ vực thẳm

Có thể nói trong hơn ba thập niên thống trị toàn đất nước, chưa bao giờ Hà Nội bị đặt vào thế yếu như hiện nay. Chúng đang ở vào tình trạng tiến thoái lưỡng nan, tứ bề thọ địch. Vì phong trào đấu tranh cho tự do, dân chủ ngày một dâng cao. Vì chân tướng bán đất, dâng biển cho kẻ thù truyền kiếp là Trung cộng đã hoàn toàn lộ rõ. Vì con số những người bỏ đảng, công khai chống lại chế độ ngày càng nhiều.

Từ giai đoạn đối kháng cá nhân hoặc từng nhóm nhỏ, cuộc đấu tranh cho tự do, dân chủ, cho nhân quyền, nhân phẩm Việt Nam đã chuyển vào thế quần chúng. Sau những năm bị bạo quyền khống chế bằng vũ khí của kẻ mạnh, trước hiểm họa mất nước, người dân Việt Nam đã vượt khỏi nỗi sợ hãi thâm căn cố đế để dám mạnh dạn đứng lên đòi quyền sống, quyền tự do của những con người có nhân phẩm. Những cuộc xuống đường của Dân Oan, những cuộc biểu tình chống Trung cộng của thanh niên, sinh viên, nhưng đợt cầu nguyện đòi đất, đòi nhân quyền, nhân phẩm và công lý với sự tham dự của cả chục ngàn giáo dân công giáo ở tòa Khâm sứ cũ, ở Thái Hà, Hà Nội và nhiều nơi trong hơn một năm qua là những dấu chỉ cụ thể.

Thái độ khiếp nhược, tùng phục của guồng máy cầm quyền CSVN đối với những hành vi ngang ngược, kẻ cả của Bắc Kinh xuyên qua chủ trương lấn chiếm lãnh hải, lãnh thổ, đòi hỏi bãi bỏ Visa (chiếu khán) để đưa dân đói vào cướp công ăn việc làm của người dân Việt Nam khiến hàng trăm ngàn bà con ta phải bán sức lao động ở Đài Loan, ở Mã Lai, Đại Hàn v.v… nhất là sự kiện chúng công khai lập làng Tàu ở Lạng Sơn, Thanh Hóa, Đà nẳng, Tây Nguyên, xua cả trăm công nhân vây đánh bà con VN ở Thanh Hóa … là những giọt nước cuối cùng trước sức chịu đựng của đồng bào.

Cùng với cao trào quần chúng đứng lên đòi quyền sống, quyền tự do, dân chủ, trong đó có quyền tự do báo chí, quyền tự do tôn giáo, giới trí thức bao gồm những luật gia bắt đầu nhập cuộc. Dù nhà cầm quyền đã dùng bạo lực để bắt giam các luật sư Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân với mục tiêu “rung cây nhát khỉ”, nhưng vẫn không cản được tinh thần dũng cảm của các luật sư khác. Sự kiện luật sư Lê Trần Luật công khai đứng ra bào chữa cho 8 giáo dân Thái Hà cùng các nhà đấu tranh cho dân chủ khác, bất chấp những đòn thù của nhà nước (văn phòng Luật Sư Pháp Quyền của ông bị cưỡng bách đóng cửa, riêng cá nhân ông bị các lực lượng công an nhà nước đe dọa xách nhiễu trăm bề) là một bằng chứng. Trong khi ấy, do sự thôi thúc của tinh thần tôn trọng công lý và sự thật, luật sư Lê Công Định trong mấy năm gần đây cũng đã công bố nhiều văn kiện, bài viết để yểm trợ cho cao trào đấu tranh cho tự do, dân chủ. Nếu cần nói thêm, người ta không thể không nói tới trường hợp luật gia Cù Huy Hà Vũ đâm đơn kiện đích danh đương kim thủ tướng Vc Nguyễn Tấn Dũng và khi bị nhà cầm quyền bác khước và tung tin xuyên tác thiện ý của ông, ông vẫn kiên trì theo đuổi vụ kiện được coi là “kiện củ khoai” này.

Việc nhà cầm quyền Hà Nội vừa xuống tay bắt giữ khẩn cấp luật sư Lê Công Định, cáo buộc ông tội tuyên truyền chống phá nhà nước, đồng thời bắt bớ một số người trẻ liên hệ, và thượng tuần tháng 7 lại ra lệnh bắt cựu Trung tá Trần Anh Kim cùng với nhà đấu tranh cho dân chủ trẻ tuổi Nguyễn Tiến Trung là một tín hiệu cụ thể khác cho thấy nỗi sợ hãi của họ trước tình trạng lây lan của làn sóng công phẫn trong giới trí thức, bao gồm những cựu cán bộ, đảng viên hiện nay. Điều cần ghi nhận là hầu hết các luật sư Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Lê Trần Luật, Lê Công Định, thạc sĩ cựu du sinh viên Nguyễn Tiến Trung đều là những trí thực trẻ trưởng thành trong chế độ cộng sản. Riêng cựu Trung tá Trần Anh Kim còn là một chiến binh xuất sắc từng được đảng và nhà nước ban thưởng nhiều huân chương trong thời chiến và cũng là người chứng khi Trung cộng mở cuộc xâm lăng VN năm 1979 nói là để “dạy cho Hà Nội một bài học.”

Trong tình huống ấy, sự xuất hiện trong tập thể người Việt tị nạn ở hải ngoại tác phẩm Hồi Ký Của Một Thằng Hèn của cựu đảng viên Tô Hải và DVD Sự Thật Về Hồ Chí Minh do Phong Trào Đòi Trả Lại Tên Sàigòn chủ xướng là những mũi nhọn thọc sâu vào vết thương vốn đã trầm trọng của guồng máy cầm quyền Hà Nội.

http://siteground124.com/~anhduong/index.php?option=com_content&task=view&id=4367&Itemid=1
Trần Phong Vũ


.

Tuesday, July 21, 2009

Lễ Vinh Danh Dân Biểu Huber Võ

Chiều hôm qua Chủ nhật, ngày 12 tháng 07 năm 2009, vào lúc 6 giờ đã có khoảng 1,000.00 đồng bào đồng hương tập trung về tại Nhà hàng Ocean Palace trên đường Bellaire,

Cộng đồng người Việt Quốc Gia tại Houston và vùng phụ cận phối hợp với các Hội đoàn, các Cộng đồng của các Thành phố Austin, Arlington, Dallas, Sanantonio của Tiểu bang Texas đã họp lại để làm lễ vinh danh Dân biểu Tiểu bang Ông Huber Võ vì đã có công dự thảo nghị quyết HCR258 và trong cuối tháng 6 vừa qua ông đã vận động Hạ viện Tiểu bang, sau đó là Thượng viện thông qua Nghị quyết này, và đồng thời đã chuyển qua Thống đốc Tiểu bang Rick Perry ký thành Luật.

Mở đầu chương trình là Lễ Chào Quốc Kỳ Mỹ - Việt. Ông Lưu Qúy Tùng Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Trường Bộ Binh Thủ Đức điều hợp chương trình khi Toán Quốc Kỳ do các Cựu SVSQ Trường Bộ Binh Thủ Đức tiến vào vị trí hành lễ.

Sau phần Chào cờ và phút tưởng niệm các Quân, Dân, Cán Ch1nh Việt Nam Cộng Hòa đã bỏ mình vì lý tưởng tự do cũng như đã chết trong các trại tù của cộng sản và trên đường vượt biên, vượt biển tìm tự do là phần mời Dân biểu Huber Võ lên trao Nghị quyết Cờ Vàng cho các Đại diện Cộng đồng của năm thành phố là Austin, Arlington, Dallas, Sanantonio và Houston.

Tiếp nối chương trình là phần văn nghệ với các nhạc phẩm Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa.

Sau đó là phần tặng hoa đến Dân biểu Ông Huber Võ do đại diện các Cộng đồng của năm thành phố, và một nữ sinh viên thế hệ thứ hai đã lên phát biểu ghi ơn các bậc cha anh những người đi trước luôn giữ vững niềm tin son sắt và luôn nêu cao ngọn cờ chính nghĩa là lá cờ Vàng Tự do, đồng thời cô cũng không quên tri ơn đến Ông Dân biểu Huber Võ đã có công vận đông trong Quốc hội Tiểu bang để biến nghị quyết HCR258 thành hiện thực.

Liên tục chương trình là phần phát biểu của Hòa Thượng Thích Huyền Việt, Tổng Vụ Trưởng Tổng vụ Thanh niên Văn phòng 2 Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải ngoại. Trong phần phát biểu này Hòa Thượng đã mời ông Huber Võ lên sân khấu và Hòa thượng đã tri ân cha mạ của Ông Dân biểu Huber Võ đã sinh ra và dưỡng nuôi được một người con nay đã làm nên lịch sử. Chính ngày hôm nay ngày 12 tháng 7 năm 2009,tại nơi đây một người Mỹ gốc Việt đã làm nên lịch sử khi vận động Quốc Hội Tiểu bang trong một thời gian ngắn kỷ lục đã thông qua nghị quyết HCR258 để vĩnh viễn lá cờ đỏ của tập đoàn mafia Việt cộng không cón có cơ hội tung bay trên bầu trời Tiểu bang Texas này.

Sau đó Bà Lương y Lê Thị Thu Cúc, môt người bà, một người mẹ, một người chị luôn sát cánh với công việc của Cộng đồng, bà cũng là vợ lính sang Hoa kỳ theo diện HO, bà phát biểu với những lời lẽ thật cảm động vinh danh Dân biểu Huber Võ và tặng hoa đến ông.

Sau cùng là Cư sĩ Trần Hiến, là người cũng hay sát cánh với cộng đồng cũng như với Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất phát biểu cảm tưởng.

Trong không khí tươi vui như ngày hội lớn. Trong khi trên sân khấu, trong những phần trao Nghị Quyết Cờ Vàng hay tặng hoa cho Ông Dân biểu Huber Võ thì ở phía dưới đồng bào, đồng hương tay cầm lá cò Vàng thân yêu vẫy lên với những tiếng hoan hô vang dội cả hội trường.

Buổi lễ chấm dứt vào lúc 8 giờ tối cùng ngày trong niềm hân hoan chung của Người Việt Quốc Gia tỵ nạn cộng sản tại TP Houston và các thành phố bạn thuộc Tiểu bang Texas.

bienchet ghi nhận và tường trình.
.

Sunday, July 19, 2009

Còn Cờ Đỏ Sao Vàng Thì Không Bao Giờ Có Độc Lập Tự Do Hạnh Phúc


SV Lê Trung Thành, Cập Nhựt 2009/07/19

Bài nói chuyện

Sinh viên Lê Trung Thành, ngoài 20 tuổi, người đã bay qua Thái Lan trước đây để chống ngọn đuốc Olympic 2008. Mặc dù sinh ra và lớn lên trong nước, bị nhồi sọ nhưng tuổi trẻ ngày nay với internet đã không còn "ngu" như tôi ngày trước. Đọc bài này mới thấy rằng các em bây giờ đã hiểu hết.

Đài Loan 13/03/2009

- Viết cho “bác” ở dưới địa ngục để báo cho “bác” biết dù tôi đã bị Đảng của “bác” nhồi sọ suốt 2 chục năm nhưng đầu óc vẫn còn tỉnh táo.
- Viết cho dì của tôi đang vất vả kiếm kế sinh nhai nuôi đàn con nhỏ.
- Viết cho dượng của tôi đang ngày đêm canh giữ trên hòn đảo Trường Sa “còn sót lại”.
- Viết cho anh chị tôi đang hăng hái dấn thân “vì sự nghiệp dân giàu nước mạnh xã hội công bằng văn minh”.
- Viết cho bạn tôi tốt nghiệp đại học loại khá, thất nghiệp, đóng tiền nhà thì hết tiền ăn, muốn ăn thì hết đóng tiền nhà.
- Cũng viết cho bạn tôi, con một gia đình quan chức giàu có nhưng đang sống mất phương hướng trong xã hội lộn ngược này.
- Và viết cho thằng em tội nghiệp của tôi đang ngồi trên ghế nhà trường, miệng đọc ê a, mặt mày ngơ ngác.
...

Ngày mùng 02/09/1945, Hồ Chí Minh tuyên bố “độc lập” để rồi hàng năm vào cái ngày tối tăm đó đất nước mình dẫu đói nghèo vẫn phải oằn mình tổ chức “quốc khánh” rình rang tốn không biết bao nhiêu là tiền của, phô diễn cờ hoa rợp trời, quan chức đua nhau đọc diễn văn với các bữa tiệc xa xỉ vô tội vạ, cùng lúc đó thì hàng triệu người khác đang còng lưng trên những cánh đồng cằn cỗi với cái bụng đói meo, tất cả chỉ với một mục đích ca ngợi sự vẽ vang của Đảng đã lãnh đạo nhân dân đánh đuổi thực dân Pháp dành “độc lập” cho dân tộc.

Nhưng giờ đây nhân loại đã bước vào kỹ nguyên tin học với tốc độ truyền tải thông tin vô cùng khủng khiếp mà chắc chắn ông Hồ không thể nào tưởng tượng nỗi, người Việt Nam giờ có thể dễ dàng tiếp cận hơn với nhiều “thông tin ngoài luồng”, nhiều anh chị mặt đỏ bừng bừng khi vô tình đi lạc vào một “website phản động” nào đó, một người bạn cũ còn kín đáo gởi tin nhắn vào blog của tôi với nội dung như sau: “lâu rồi mới vô đọc blog của mi, phản động quá, tau không có đủ can đảm để đọc hết bài nữa, lo học đi mi, việc nước đã có nhà nước lo ”. Và nhiều lần tôi đã cố giải thích cho bạn tôi hiểu rằng thực ra sau mùng 02/09/1945 nước ta không hề có độc lập, đó chỉ đơn giản là việc thay thế Chủ Nghĩa Thực Dân bằng Chủ Nghĩa Cộng Sản, mà chính ông Hồ là tay sai và lá cờ đỏ sao vàng mà ông ta mang về ngang nhiên bay trên bầu trời nước ta từ đó. Bài học năm xưa, lợi dụng người dân ít học ông Hồ đã khéo léo che đậy Chủ nghĩa Cộng Sản bằng cách kích động lòng yêu nước, bao nhiêu triệu người đã bỏ lại tuổi thanh xuân trong cuộc chiến “chống Mỹ cứu nước”, chữ “cứu nước” là chữ linh thiêng nhất của Dân Tộc chúng ta vì nó gắn liền với suốt chiều dài lịch sử của Dân Tộc. Vì hai chữ đó người Việt Nam sẵn sàng hy sinh tất cả.


Nhưng than ôi, tất cả đã bị lừa và ngày hôm nay vẫn tiếp tục bị lừa. Dân tộc ta đâu thiếu người tài, Phan Bội Châu, Nguyễn Thái Học, Lý Đông A, Huỳnh Phú sổ ... nhưng chỉ có Hồ Chí Minh là người gặp thời, thời của quỷ, chính xác là thời “quỷ đỏ” lộng hành, với tham vọng nhuộm đỏ cả địa cầu. Chúng ta hãy tưởng tượng xem nếu như ngày hôm nay khắp hoàn vũ này nước nào cũng bị áp bức bởi Chủ Nghĩa Cộng Sản thì sẽ ra sao ? Xin thưa tất cả hơn 6 tỷ người sẽ sống trong “ thế giới đại đồng”, lúc đó kinh đô ánh sáng Paris sẽ tăm tối như Bắc Hàn, và người dân New York cũng sẽ chèo thuyền đánh cá trên phố giống như Hà Nội của chúng ta. Tất cả sẽ bình đẳng, ai sinh ra cũng đói khổ như nhau, ai cũng mất nhân quyền như nhau, cũng được Đảng nhồi sọ như nhau, sẽ không còn ai ganh tỵ ai, tất cả sẽ không còn đấu tranh, cứ như thế sinh ra làm nô lệ, không chết vì già thì cũng chết vì kiệt sức. Đó là viễn cảnh một trái đất màu hồng của máu và nước mắt.

Chính vì hiểu được hiểm hoạ đó nên nước Mỹ với vai trò là một siêu cường có trách nhiệm phải đi tiên phong lãnh đạo các nước khác trong việc chặn đứng sự bành trướng của khối Cộng Sản trên thế giới, thế nên việc “ngụy Hồ” kêu gọi “chống Mỹ cứu nước” trên thực chất phải được hiểu đúng đắn là chống Mỹ cứu Chủ Nghĩa Cộng Sản. Chỉ có người dân quê thật thà chất phác là mù quáng tin theo những khẩu hiệu ngụy tạo đó, và có lẽ nếu tôi sinh ra dưới xã hội miền Bắc vào thời đó tôi cũng sẽ yêu nước mù quáng, sẽ cầm súng đi đánh Mỹ, sẽ nuôi giấu cán bộ, sẽ liều chết trong các cuộc xung phong, và nếu không bỏ mạng thì sẽ may mắn được sống cuộc sống ‘hoà bình” với tay cụt, chân cụt, đang ngồi chờ khách bơm xe ở dọc đường, hay về nhà đi cày với mảnh ruộng bé hơn hồi còn chiến tranh, vì hoà bình rồi thì người ta biến nó thành sân gôn hay các khu rì sọt (Resort)để “sánh vai với các cường quốc năm châu”, rồi đời sống quá khổ, quá oan ức tôi cũng sẽ đi khiếu kiện như bao người khác, tôi sẽ kêu “thủ tướng ơi cứu dân”, “quốc hội ơi cứu dân”, đến một lúc kêu hoài chúng nó không nghe thì có khi với bản tính ngông cuồng cộng với việc hết đường sống, tôi lại đánh bom cảm tử cũng nên ... Chính vì thế nên tôi muốn nói rằng nếu không có lá cờ đỏ của ông Hồ mang về thì sẽ không có quá nhiều bi kịch trên đất nước như ngày hôm nay. Tất nhiên lịch sử không bao giờ nói nếu.

Và ngày 30/04/1975, là ngày mà triệu người vui, triệu người buồn, nhưng triệu người vui kia thì cũng mếu máo không lâu sau đó. Từ đây nửa nước Việt Nam tự do đã chìm vào biết bao nhiêu khổ đau mà kể cho hết. Vết thương lịch sử này ngoài trách nhiệm của người Việt, cũng không thể không nhắc đến việc Mỹ đã phản bội đồng minh, vì cục diện chính trị lúc đó và vì chiến lược lâu dài, Mỹ đã để cho màu đỏ của máu loang lổ trên khắp miền Nam sau khi ký kết hiệp định Paris 1973, hiển nhiên Mỹ không thể thả nổi cho khối Cộng Sản bành trướng sang đến Mỹ nhưng ở một chừng mực nào đó vì lợi ích của nước Mỹ được cân nhắc kỹ càng thì Mỹ sẳn sàng thoả hiệp với Cộng Sản cho dù thoả hiệp đó sẽ giết chết hàng triệu người hay cả một dân tộc khác. Gần đây nhất trong bộ phim “Việt Nam Việt Nam“ của đạo diễn John Ford được công bố sau 37 năm bị giấu kín, thượng nghị sĩ Ronald Reagan đã thừa nhận ".. chấm dứt chiến tranh không đơn thuần là chỉ rút quân về nhà là xong. Vì lẽ, cái giá phải trả cho loại hoà bình đó là ngàn năm tăm tối cho các thệ hệ sinh tại Viêt Nam về sau". Mỹ đã thua Cộng Sản trên chiến trường Việt Nam, nhưng trên chiến trường thế giới thì Mỹ đang thắng sau khi một loạt khối Cộng Sản Đông Âu và Nga Xô xụp đổ, đến trong tương lai gần thì Trung Cộng, Bắc Hàn và Việt Cộng cũng sẽ chịu chung số phận với ông tổ của chúng mà thôi.

Biết chắc chắn là Cộng Sản phải đến hồi suy vong nhưng cái hậu quả của nó để lại sau 34 năm hà hiếp dân tộc mới ghê gớm thay, biết bao nhiêu năm nữa mới phục hồi được môi trường sống đang bị phá hoại, bao nhiêu năm nữa mới cải thiện được nòi giống đang ngày một bệnh hoạn, và bao nhiêu năm nữa mới làm sáng lại đạo đức nhân phẩm của người Việt khi ngày một băng hoại. Tôi cảm thấy tiếc nuối vô cùng, tiếc cho cơ hội được sống tự do hạnh phúc của người Việt đã vỡ tan tành, tiếc cho những ai chưa từng và đã từng được “ghé bến sài gòn, là nơi du khách dập dồn từ 5 châu tới viếng thăm thủ đô, dòng sông chen chúc tàu đò, ngựa xe buôn bán hẹn hò, người dân no ấm sống đời tự do”, tự do thì đã mất,tiếc nuối cũng đã muộn, mong sao con cháu thế hệ sau sẽ khắc cốt ghi tâm bài học của một nước nhược tiểu phải gánh chịu.

Sau mùng 02/09/1945, ông Hồ đã đưa đất nước vào con đường khánh kiệt với những cuộc chết chóc triền miên chỉ vì ích kỷ thủ đắc riêng cho cái bản ngã đầy ắp tính man rợ của Quốc Tế Cộng Sản. Ở thời chiến thì người dân chết theo kiểu của thời chiến, nay thời bình thì chết theo kiểu thời bình, ví như giết “cường hào ác bá” trong cuộc cải cách ruộng đất, thảm sát hàng ngàn người dân vô tội ở Huế trong trận Mậu Thân, hay trên đại lộ kinh hoàng Việt Cộng đã hả hê mở một bửa tiệc thịt người khi nả đại pháo 130 ly và hoả tiễn 122 ly vào người dân Quảng Trị đang rồng rắn kéo nhau dài hàng chục kilômét vào Huế để lánh nạn Cộng Sản, còn giờ đây thì người dân mất đất mất ruộng đói mà chết, ra đường sập hố ga hay xe đụng mà chết, ăn uống ngộ độc mà chết, đi làm giấy tờ bị hành lên hành xuống tức mà chết ... & ... rất nhiều kiểu chết và cứ ở đâu có Cộng Sản thì ở đó có phi lý, có bất công, có mùi tanh của máu, có xú uế của xác người nên người ta còn gọi cờ đỏ sao vàng với một cái tên dễ nhớ khác : Cờ Máu.

Ngày hôm nay vui mừng lắm khi ngày càng có nhiều người trẻ yêu nước chống Cộng quyết liệt, nhiều người không chống Cộng nhưng cũng yêu nước quyết liệt, nhưng tất cả nên là những người chịu khó tìm hiểu lịch sử trước đã.




Hãy nhìn xem cả thế giới đều rùng mình khi nghe nhắc đến Chủ Nghĩa Cộng Sản, và Quốc Tế Cộng Sản bị toà án thế giới lên án với tội ác chống lại hoà bình thế giới, tội ác chiến tranh, và tội ác chống lại con người. Những năm gần đây người Tàu Tự Do đã ra mắt tác phẩm Cửu Bình (9 bài bình luận về Đảng Cộng sản Tàu), tác phẩm đã phơi bày những tội ác những cuộc giết người man rợ mà Trung Cộng đã gây ra và vạch trần bản chất lưu manh tà giáo, phản con người, phản vũ trụ của Chủ Nghĩa Cộng Sản, người đọc sẽ không khỏi kinh hoàng và thương cảm cho dân tộc Trung Hoa luôn vổ ngực xưng hùng xưng bá giờ đây thê thảm đến như vậy, thật là khủng khiếp khi nhận được con số thống kê của thời báo Đại Kỷ Nguyên từ ngày 03/12/2004 cho tới nay 13/03/2009 chỉ vỏn vẹn 4 năm 3 tháng mà đã đã có 51.193.607 người ký tên ủng hộ việc dẹp bỏ Đảng Cộng Sản, tính ra trung bình một ngày gần 10 ngàn người thức tỉnh, điều đó như như báo trước cái chết của Chủ Nghĩa Cộng Sản trên đất nước Tàu chỉ còn là vấn đề thời gian. Còn ở Nga từ sau năm 1991 đã thay lá cờ búa liềm bằng lá cờ ba sọc trắng xanh đỏ có từ thời Nga Hoàng, những tượng đài Lênin đã bị tháo bỏ, viện Lênin nay đã đổi tên là Medical Biological Technologies, và nước Nga đã có kế hoạch sẽ mai táng cái xác ướp Lênin vào năm 2010, trong khi ở Việt nam thì trẻ con cứ thắc mắc rằng “ ông Lênin ở nước Nga, sao ông lại đứng vườn hoa nước mình ...”, tất cả các lĩnh vực nghệ thuật, hội hoạ, văn thơ, phim ảnh, âm nhạc ... “trăm hoa đua nở” thoả sức vạch trần tội ác Cộng Sản cho người dân được biết, người ta cũng đã đưa tội ác của chủ nghĩa cộng sản vào chương trình giáo dục học đường và rất nhiều lần trong những tiết học các em bé đã phản đối kịch liệt vì cho rằng làm sao mà con người có thể đối xử với nhau còn tệ hơn cầm thú như thế được ?! Thầy giáo chỉ biết nhăn mặt mỉm cười, đã qua rồi các em yêu mến ! qua rồi “thời đại của những lời nói dối tuyệt vời”.

Tôi nêu lên những điều này vì muốn nói rằng xã hội Việt Nam rồi cũng sẽ phải trãi qua những giai đoạn y như thế, lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ chắc chắn sẽ lại tung bay ngạo nghễ trên quê hương Việt Nam, quốc ca sẽ không còn “xây xác quân thù”, lăng Hồ Chí Minh sẽ bị phá bỏ, tiền Việt Nam sẽ phải có hình hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo ... tất cả 64 tỉnh thành mỗi tỉnh sẽ có một viện bảo tàng tội ác Cộng Sản, cả Dân Tộc sẽ bừng tỉnh, cả Dân tộc sẽ xót xa đau đớn chen lẫn hạnh phúc trước quá nhiều sự thật sẽ được phơi bày, tất cả sẽ phải tiếp tục đấu tranh lâu dài và gam go trước là để lập lại trật tự xã hội, sau là để hoàn thiện dần dần nền dân chủ mà những nước láng giềng như Thái Lan, Singapore, Đài Loan, Nam Hàn, Nhật Bản đã bỏ quá xa rồi. Càng nhìn lại lịch sử rồi đối chứng với hiện tại thì tôi lại càng căm phẫn tột cùng, khi gần 40 ngàn người Việt Nam đã hi sinh dưới lá cờ đỏ sao vàng trong cuộc chiến biên giới với Trung Cộng vào những năm 1979, để rồi hôm nay vì quy phục quan thầy Bắc Kinh mà những hy sinh mất mát đau thương đó trở thành đề tài cấm kỵ trên tất cả các phương tiện truyền thông trong nước, học sinh thì không được học, sử gia thì không được đào sâu phân tích, nhà văn nhà thơ thì không được tự do xuất bản, ngay đến cả những người đồng đội anh dũng năm xưa, giờ đây cũng chỉ dám “đặt vòng hoa trong tâm tưởng”. Trong khi đó lại có đến 40 nghĩa trang “Đời đời nhớ ơn các liệt sỹ TC” trên đất nước Việt Nam. Tác phẩm Ma Chiến Hữu của nhà văn Tàu Mạc Ngôn viết về cuộc chiến biên giới 1979, được phát hành trong nước với lời giới thiệu của nhà xuất bản như ca tụng về chủ nghĩa anh hùng của những người lính TC đã xâm lược giết hại người dân Việt Nam. Và gần đây với “Vụ án Bôxít ” Trung Cộng đã âm thầm hủy diệt môi trường sống của người Việt đồng thời ngang nhiên đưa hàng ngàn công nhân chiếm đóng Tây Nguyên và những công nhân đó sẳn sàng cấm súng bất kỳ lúc nào, và tôi dám chắc rằng một ngày rất gần đây thôi chúng ta sẽ được nghe phát ngôn bộ ngoại giao Việt Cộng Lê Dũng hùng hồn lên tiếng “ Việt Nam có đầy đủ cơ sở pháp lý và bằng chứng lịch sử về chủ quyền của mình đối với "Tây Nguyên”, rồi cũng giống như Hoàng Sa Trường Sa, Vịnh Bắc Bộ, Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc mà thôi, việc của báo chí thì cứ lu loa khẳng định chủ quyền, còn việc mất đất mất biển là chuyện quốc gia đại sự nên chỉ một mình Đảng biết Đảng giải quyết.

Nói như thế để thấy rõ bản chất vong nô của Việt Cộng và bản tính bá quyền lưu manh của Trung Cộng, dù chúng nó thân thiết với nhau hay chúng nó quay sang đánh nhau thì chỉ có nước mình nhiễm độc, nước mình mất, dân mình khổ, dân mình chết thôi, chứ nhà nó vẫn to, xe nó vẫn sang, trương mục ngân hàng vẫn kếch xù từ sức lao động của nhân dân, và dù bè lũ chính trị bộ có chạy theo Tàu hay theo Mỹ đi nữa nhưng chắc chắn rằng không có tên nào theo Dân Tộc mình, đối với chúng là nước Tàu hay nước Việt Nam có khác gì nhau, Tố Hữu đã báo trước rồi mà : “bên kia biên giới là nhà, bên đây biên giới cũng là quê hương”.

Tôi biết nói những điều này với những người đã bị Đảng nhồi sọ quá lâu sẽ bị họ đấu tố là việt gian phản động, họ sẽ dùng những lý lẽ như nhờ ơn “bác” ơn Đảng mà mới có ngày hôm nay độc lập tự do hạnh phúc, nhưng việc tôi sinh ra và lớn lên dưới lá cờ đỏ sao vàng không có nghĩa là nhờ lá cờ đó mà tôi được sống được học tập ... mà đúng ra vì “nó” mà tôi phải mất đi rất nhiều thứ vốn dĩ là quyền cơ bản của một con người. Nói dễ hiểu cũng giống như việc người ta nuôi nhốt những con chim từ lúc nó lọt lòng, khi lớn lên nó sẽ quanh quẩn với cái lồng, sống với “tư tưởng ăn ỉa có người dọn” trong khuôn khổ của cái lồng, được quyền tự do hót nhưng thường thì khi từ nhỏ người ta sẽ dạy cho nó hót những câu “đúng đắn và lặp đi lặp lại ” đại loại như “líu lo líu lo, Vì Tổ Quốc Xã Hội Chủ Nghĩa - vì lý tưởng của bác Hồ vĩ đại - sẵn sàng” hay “ huýt, huýt, vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng văn minh” ... những chú chim hót hay này sẽ được người ta cho hưởng những đặc quyền đặc lợi, thức ăn ngon, chổ ở đẹp ... Còn tất nhiên biện pháp tốt nhất dành cho những con chim suốt ngày gào thét “két két, tự do, dân chủ, nhân quyền ” điếc tai thì sẽ bị đưa vào những “chuồng cải tạo ” với những tội danh rất lạ tai như “Phản động” “thế lực thù địch” “chống phá nhà nước XHCN” “âm mưu diễn biến hoà bình” ... và cải tạo đến chừng nào chịu hót đúng bài thì thôi, còn không thể cải tạo thì tìm mọi cách loại bỏ khỏi đời sống của loài chim. Cũng vì hoàn cảnh sống trong lồng tù túng cứt cơm lẫn lộn như thế, nên khi nghe thấy những chú chim khác hót ca kể về đời sống văn minh của loài chim tự do, nhiều chú chim trong lồng rất hoang mang không biết có thật mình đã bị đánh lừa suốt quãng đời qua không ? dù sao may mắn thay cho nòi giống của loài chim vẫn còn nhiều những con chim đại bàng khao khát tự do, phá cũi xé lồng oai hùng tung cánh tìm về với bầu trời xanh lơ. Này bạn tôi ơi ! đất nước mình có độc lập không khi đất nước bị lèo lái bởi những thái thú của Tàu Cộng, tự do là gì khi đến lòng yêu nước cũng bị tước đoạt, và hạnh phúc ở đâu khi hàng chục triệu người trên đất nước mình vật lộn kiếm ngày 2 bữa ăn không nỗi.

Khi nhìn thấy các mẹ các chị cầm cờ đỏ ảnh “bác” đi khiếu kiện, thấy sinh viên học sinh yêu nước mang cờ đỏ đi biểu tình chống Tàu Cộng, thấy các anh lính gìn giữ tổ quốc nơi biên ải xa xôi hay trên các vùng hải đảo mang theo lá cờ đỏ sao vàng, tôi đã thốt lên, các anh ơi ! các chị ơi ! các mẹ ơi ! Còn cờ đỏ sao vàng thì không bao giờ có độc lập tự do hạnh phúc.

Lê Trung Thành.
Sinh viên du học ngành kiến trúc
(Congdongnguoiviethaingoai)

________
Nguồn: VL

Saturday, July 18, 2009

Những Tội Ác của HồChíMinh & đcsVN

Cải Cách Ruộng Đất (của Võ Trường Sơn)
Chân Dung "bác" Hồ (của Kiều Phong)
Sự Thật Về Hồ Chí Minh (video - PT Quốc Dân Đòi Trả Tên Sài Gòn)
Trại Kiên Giam (audio - Nguyễn Chí Thiệp)
Thép Đen (audio - Đặng Chí Bình)
Biến cố Mậu Thân 1968
Người Lính Việt Nam Cộng Hòa
Bán nguyệt san Tự Do Ngôn Luận
Cơ Sở Quê Mẹ
Radio Việt Ngữ
Tủ sách Tiếng Quê Hương
Mạng Lưới Dũng Lạc

Bản tin Việt Nam SBTN
Bản Tin Từ Huế
Blog của GS Nguyễn Văn Canh
Blog của TS Mai Thanh Truyết
Blog của LS Nguyễn Hữu Thống
Blog của NV Trần Phong Vũ
.

Tù Cải Tạo:
Tội ác chống nhân loại của Cộng sản Viet Nam
Đỗ Ngọc Uyển

Sau khi chiếm được chính quyền tại Miền Bắc Việt Nam vào năm 1954, Hồ Chí Minh đã bê nguyên cái mô hình "hoc tập cải tạo" của Mao Trạch Đông từ Trung Cộng vào Miền Bắc Việt Nam. Đây là một kế hoạch nằm trong chính sách giết người có chủ đích, có tính toán dưới cái chiêu bài giả hiệu là "cải tạo" những người chống đối chủ nghĩa xã hội để trở thành công dân của nước xã hội chủ nghĩa. Với kế hoạch "cải tạo giết người" này, Hồ Chí Minh đã giết và thủ tiêu 850,000 người dân Miền Bắc trong những cái gọi là "trại học tập cải tạo."
Sau ngày 30-4-1975, lũ Việt gian cộng sản cũng tiếp tục kế hoạch giết người này, và chúng đã giết và thủ tiêu 165,000 quân, cán, chính VNCH và những người quốc gia trong 150 "trại cải tạo" của chúng trên toàn lãnh thổ Việt Nam.
"Học Tập Cải Tạo"
Bắt Đầu tại Miền Bắc Việt Nam
Để xây dựng xã hội chủ nghĩa tại Miền Bắc Việt Nam, Hồ Chí Minh đã tiêu diệt tất cả những thành phần chống đối bằng những kế hoạch khủng bố sắt máu như: Rèn Cán Chỉnh Quân, Cải Tạo Công Thương Nghiệp, Cải Cách Ruộng Đất, và đàn áp những phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, Trăm Hoa Đua Nở…

Số nạn nhân của những vụ khủng bố này không ai biết là bao nhiêu, nhưng có thể ước tính là trên một triệu người, bởi vì chỉ riêng vụ gọi là Cải Cách Ruộng Đất đã có 700,000 nạn nhân. Nói chung, cho tới đầu năm 1960 toàn thể xã hội Miền Bắc đã bị "cào bằng," không còn giai cấp (social class). Các giai cấp trí, phú, địa, hào đã bị đào tận gốc, trốc tận rễ. Không ai có quyền tư hữu và mọi người đều nghèo khổ, đói rách như nhau. Mỗi năm, mỗi người được phát 2 thước vải thô Nam Định chỉ có thể may được một cái quần hay một cái áo, và hàng tháng được phát 15kg gạo, 200gr đường…

Chưa hết, với chủ trương tuyệt diệt những thành phần chống đối, Hồ Chí Minh đã chỉ thị cho cái quốc hội bù nhìn "ban hành" một nghị quyết về "học tập cải tạo." Đây là một mẻ lưới "vĩ đại" cuối cùng nhằm vét hết những thành phần có thể gây cản trở cho công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa của y. Các trại "cải tạo" của Hồ Chí Minh được rập theo đúng khuôn mẫu các trại "lao cải" (laogai hay laojiao) của Mao Trạch Đông. . .

Theo lệnh của Hồ, quốc hội cộng sản đã "ban hành" một Nghị Quyết (Resolution) về "học tập cải tạo" mang số 49-NQTVQH ngày 20-6-1961. Căn cứ vào nghị quyết này, hội đồng chính phủ đã "đẻ" ra cái Thông Tư (General Circular) số 121-CP ngày 8-9-1961 để áp dụng trong toàn nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà. Những nạn nhân bị chi phối bởi cái nghị quyết trên gồm những thành phần sau đây:
1. Tất cả những gián điệp nguy hiểm, những biệt động;
tất cả những quân nhân và viên chức hành chánh
của chính quyền quốc gia trước đây.
2. Tất cả những nhân vật nòng cốt của các tổ chức
và đảng phái đối lập.
3. Tất cả những thành phần ngoan cố thuộc giai cấp
bóc lột và những kẻ chống phá cách mạng.
4. Tất cả những kẻ chống phá cách mạng đã bị tù và
hết hạn tù nhưng không chịu cải tạo.
Bốn thành phần trên đây đều có một đặc điểm chung mà
cộng sản gọi là "những thành phần ngoan cố, chống phá cách Mạng." (obstinate counter-revolutiona ry elements). Thời gian "cải tạo" được ấn định là 3 năm, nhưng sau 3 năm mà chưa "tiến bộ" thì "cải tạo" thêm 3 năm nữa và cứ như thế tiếp tục tăng thêm 3 năm nữa… cho đến khi nào "học tập tốt, cải tạo tốt" thì về, thực tế là vô thời hạn.

Ngoài Hồ Chí Minh và những tên đồng đảng ra, không ai biết được số nạn nhân bị đưa đi "cải tạo" là bao nhiêu; nhưng có thể ước tính là nhiều triệu người, căn cứ vào con số nạn nhân chết trong các "trại cải tạo" là 850,000 người do Tổ Chức Tưởng Niệm Nạn Nhân Cộng Sản (The Victims of Communism Memorial Foundation) đưa ra: (…When Ho Chi Minh sent 850,000 Vietnamese to their graves in reeducation camps ...)
"Học Tập Cải Tạo" tại Miền Nam Việt Nam
Cộng sản ước tính rằng tại Miền Nam có 1,300,000 người đã tham gia vào chính quyền Quốc Gia và Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, và mỗi gia đình có 5 người; như vậy là có 6,500,000 người có nợ máu với chúng. Những người nào phục vụ trong quân đội hay trong chính quyền thì phải đi "cải tạo" và những thành phần còn lại trong gia đình thì phải đi những "khu kinh tế mới;" cũng là một cách đưa đi đầy ải tại những vùng rừng núi xa xôi, hẻo lánh. Đây là một kế hoạch "tắm máu trắng" đã được nghiên cứu và tính toán rất kỹ của của tập đoàn Việt gian cộng sản.
Một tháng sau khi xâm chiếm được Miền Nam, lũ bán nước cộng sản áp dụng Nghị Quyết số 49-NQTVQH ngày 20-6-1961 và Thông Tư số 121-CP ngày 8-9-1961 của chúng để đưa một triệu quân, cán, chính VNCH và những người quốc gia chống cộng đi "học tập cải tạo," thưc chất là đưa đi tù để trả thù (revenge). Đây là cung cách hành xử man rợ của thời trung cổ. Và bằng lối hành xử dã man, rừng rú này, cộng sản đã phạm 5 trong số 11 Tội Ác chống Nhân Loại [1] (Crimes against Humanity) theo luật pháp quốc tế được dự liệu tại Điều 7 của Đạo Luật Rome (Article 7 of The Rome Statute) như sau:
Tội ác thứ 1 - Tội cầm tù hay tước đoạt tự do thân thể một cách nghiêm trọng, vi phạm những điều luật căn bản của luật pháp quốc tế (Imprisonment or other severe deprivation of physical liberty in violation of fundamental rules of international law)
Những người bị cộng sản cầm tù (imprisonment) sau ngày 30-4-1975 là những người bị cộng sản trả thù vì lý do chống cộng tức lý do chính trị. Cộng sản không thể mang những người này - công dân của một một quốc gia độc lập đã bị Việt gian cộng sản, tay sai của Quốc Tế 3, xâm chiếm bằng vũ lực (aggression) một cách phi pháp - ra toà án để kết tội.

Cộng sản nguỵ biện một cách láo xược rằng những người này là những tội phạm chiến tranh (war criminals) theo điều 3 của đạo luật về tội chống phá cách mạng ban hành ngày 30-9-1967 của chúng (article 3 of the 30 October 1967 law on counter-revolutiona ry crimes) và rằng nếu mang ra tòa án xét xử thì những người này có thể bị kết án từ 20 năm tù đến chung thân hay tử hình; nhưng vì chính sách "khoan hồng" và sự "chiếu cố" của đảng nên những người này được đưa đi "học tập cải tạo" thay vì đưa ra toà án xét xử. Đây là một sự nguỵ biện trơ trẽn và lếu láo.

Luật rừng rú của đảng cộng sản không có một chút gì gọi là công lý của thời đại văn minh mà chỉ là một công cụ man rợ của thời trung cổ để khủng bố người dân Miền Bắc dưới sự thống trị của chúng, và không thể mang ra áp dụng cho công dân của một quốc gia văn minh như VNCH được.
Tóm lại, giam cầm người không chính thức kết án, không xét xử (imprisonment without formal charge or trial) là vi phạm nhân quyền và là Tội Ác chống Loài Người.
Tội ác thứ 2 - Tội tra tấn, hành hạ (Torture)
Đối với cộng sản, các quân, cán, chính Việt Nam Cộng Hoà và những người quốc gia chống cộng là kẻ thù không đội trời chung của chúng. Do đó, một khi đã sa cơ rơi vào tay chúng là dịp để chúng trả thù bằng tra tấn và hành hạ. Mục đích trả thù của chúng là nhằm tiêu diệt hết khả năng chống cự của cả thể chất lẫn tinh thần của người tù. Sau đây là vài đòn thù tiêu biểu:

a. Hành hạ bằng cách bỏ đói

- Đây là một đòn thù thâm độc nhằm tiêu diệt ý chí của người tù về lâu về dài. Người tù bị đói triền miên, không còn nghĩ đến chuyện gì khác ngoài miếng ăn. Quanh năm suốt tháng không một bữa được ăn no; càng ăn càng đói và đói cho tới khi chết. Ngay cả trong giấc ngủ cũng chỉ mơ đến miếng ăn. Bát cơm và miếng thịt là một ước mơ xa vời.

Trên nguyên tắc, mỗi người tù được cấp mỗi tháng 12kg gạo. Nhưng thực tế, người tù chỉ được cấp ngô, khoai, sắn, bo bo… tương đương với 12kg gạo mà chúng gọi là "quy ra gạo." Ngô, khoai, sắn và bo bo mà chúng cho tù ăn là những thứ được cất giữ lâu ngày trong những kho ẩm thấp, bị mục nát, hư hỏng và đầy sâu bọ. Với số lượng và phẩm chất lương thực như thế, tính ra chỉ cung cấp đươc khoảng từ 600 đến 800 calories một ngày, không đủ để sống cầm hơi, lại phải làm công việc khổ sai nặng nhọc cho nên đã có rất nhiều tù nhân chết vì đói, vì suy dinh dưỡng.

Sau đây là một ví dụ: vào cuối năm 1978, tại trại 2 thuộc liên trại 1 Hoàng Liên Sơn có một anh bạn tù vì "lao động" nặng nhọc và suy dinh dưỡng đang nằm chờ chết. Anh em bạn tù thấy vậy bèn hỏi xem anh ta có muốn nhắn gì về cho vợ con hay người thân không? Anh bạn tù sắp chết nói rằng anh ta chỉ muốn được ăn no một bữa khoai mì luộc! Nghe vậy, có một anh tù, vì thương bạn, đã mạo hiểm chui qua hàng rào, đào trộm vài củ khoai mì do chính tù trồng, mang về luộc, rồi mang lên cho bạn thì anh bạn đã chết.

Thỉnh thoảng tù cũng được cho ăn cơm nhưng lại độn hai phần sắn hay khoai với một phần gạo, và mỗi bữa ăn, mỗi người được phân phát một chén nhỏ với nước muối. Đến mùa "thu hoạch" ngô và khoai mì do tù trồng, anh em tù cũng được cấp phát ngô và khoai mì luộc.

Mỗi bữa ăn được phân phát hai cái bắp ngô, chỉ đếm được chừng 1000 hạt, và khoai mì thì được cấp phát hai khúc, mỗi khúc ngắn độ một gang tay. Còn thịt thì chỉ được cấp phát vào những dịp đặc biệt như ngày tết Nguyên Đán, ngày lễ độc lập của chúng, ngày sinh nhật "Bác"của chúng; mỗi phần ăn được khoảng 100gr thịt heo hay thịt trâu.
Bỏ đói tù là một thủ đoạn tra tấn/hành hạ (torture) đê tiện, có tính toán của cộng sản. Ngoài việc huỷ diệt ý chí của người tù, sự bỏ đói còn nhằm huỷ hoại thể chất của người tù để không còn sức đề kháng chống lại bệnh tật. Do đó, đã có rất nhiều anh em mắc những chứng bệnh do suy dinh dưỡng như lao phổi, kiệt sức, phù thũng, kiết lỵ, ghẻ lở…, và có rất nhiều cái chết rất đau lòng chỉ vì đói, vì suy dinh dưỡng, vì thiếu thuốc men và không được chữa trị…

b. Hành hạ thể xác

- Cộng sản vẽ ra khẩu hiệu "lao động là vinh quang." Chúng bắt người tù phải làm công việc khổ sai nặng nhọc như cuồc đất, đào đất, làm đường, đào ao, chặt cây, đốn gỗ, cưa xẻ, làm gạch…Người tù đã thiếu ăn, kiệt sức; chúng lại đặt ra những chỉ tiêu cao để người tù không thể đạt được, và chúng kiếm cớ để hành hạ thể xác:
• Cắt tiêu chuẩn lương thực từ 12kg xuống còn 9kg và nhốt vào conex, khoá chặt. Người tù bị nhốt như vậy có khi hàng tháng. Với sức nóng mùa Hè và khí lạnh mùa Đông không thể chịu đựng nổi, người tù bị chết vì sức nóng và chết vì rét.
• Cắt tiêu chuẩn lương thực xuống còn 9kg; nhốt trong sà lim; hai chân bị cùm siết chặt đến chảy máu; da thịt bị nhiễm trùng, lở loét; người tù bị nhốt như vậy trong nhiều tháng trời và khi được thả ra chỉ còn da bọc xương, đi không nổi phải bò.
• Chúng cột người tù vào một cây cột và bắt người tù phải đứng thẳng hoặc nằm hay ngồi cả tuần lễ có khi lâu hơn.
• Chúng trói người tù theo kiểu cánh bướm "butterfly style or contorted position" bằng cách bắt một cánh tay bắt chéo qua vai và cánh tay kia bắt qua sau lưng và cột chặt hai ngón tay cái với nhau.
Chúng cột người tù trong tư thế bị trói như vậy vào một cái cột và bắt đứng trong nhiều tiếng đồng hồ. Người tù chịu không nổi, bị ngất xỉu.
Trên đây chỉ là vài cách hành hạ (torture) thể xác tiêu biểu. Cộng sản còn nhiêu kiểu hành hạ độc ác khác như nhốt người tù vào chuồng cọp hay bỏ xuống những giếng nước khô cạn, bỏ hoang lâu ngày, đầy những ổ rắn rết…

c. Tra tấn tinh thần

- Mục đích của cộng sản là làm cho tinh thần người tù luôn luôn bị căng thẳng để gây tổn thương trầm trọng cho sức khoẻ thể chất và tinh thần (causing serious injury to physical and mental health) bằng hai phương pháp sau đây:
- Nhồi sọ chính trị (Political indoctrination) - Để mở đầu kế hoạch "cải tạo," cộng sản bắt người tù phải học 9 bài chính trị. Mỗi bài phải học từ một tuần lễ đến 10 ngày gồm: lên lớp, thảo luận trong tổ, trong đội… Cuối mỗi bài học, người tù phải viết một bản gọi là "thâu hoạch" để nộp cho chúng.

Nội dung những bài học gọi là chính trị này chỉ là những bài tuyên truyền rẻ tiền như: Mỹ là tên đầu sỏ đế quốc, là con bạch tuộc có hai vòi: một vòi hút máu nhân dân Mỹ và một vòi hút máu nhân dân nước ngoài. Ta đánh Mỹ cũng là giải phóng cho nhân dân Mỹ thoát khỏi sự bóc lột của đế quốc Mỹ. Đế quốc Mỹ là con hổ giấy. Mỹ giầu nhưng không mạnh.

Ta nghèo nhưng ta mạnh. Dưới sự lãnh đạo của đảng quang vinh, ta đã đánh thắng tên đế quốc sừng sỏ nhất thời đại. Nguỵ quân, nguỵ quyền là tay sai của đế quốc Mỹ, có nợ máu với nhân dân và là tội phạm chiến tranh…Bài học cuối cùng là bài "lao động là vinh quang" để chuẩn bị bắt người tù làm những việc khổ sai nặng nhọc.
Những bài tuyên truyền rẻ tiền và ấu trĩ trên đây chỉ có thể áp dụng cho người dân bị bưng bít và thiếu học ở Miền Bắc đã bị cộng sản u mê hoá chứ không có tác dụng gì đối với những người đã sống dưới chính thể tự do tại Miền Nam. Tuy nhiên, cái không khí khủng bố của trại tù đã làm cho một số anh em hoang mang và căng thẳng tinh thần. Do đó, đã có một số người tự sát và trốn trại. Những người trốn trại chẳng may bị bắt lại đã bị chúng mang ra toà án nhân dân của chúng kết tội và bắn chết ngay tại chỗ. Đây là đòn khủng bố tinh thần phủ đầu của cộng sản theo kiểu "sát nhất nhân, vạn nhân cụ."
- Tự phê (Confession) - Tiếp theo phần "học tập chính trị" là phần "tự phê." Người tù phải viết một bản tiểu sử kể từ khi còn nhỏ cho tới khi vào tù; phải kê khai thành phần giai cấp của dòng họ từ ba đời trước cho đến con cháu sau này; phải kê khai những việc làm trong quá khứ và phải kết tội những việc làm đó là gian ác cũng như phải tự kết tội mình có nợ máu với nhân dân.

Người phát thư cũng bị kết tội là đã chuyển thư tín giúp cho bộ máy kìm kẹp của nguỵ quân, nguỵ quyền. Các vị tuyên uý trong quân đội bị kết tội là đã nâng cao tinh thần chiến đấu của nguỵ quân. Các bác sĩ quân y thì bị kết tội là đã chữa trị cho các thương, bệnh binh để mau chóng phục hồi sức chiến đấu của nguỵ quân…

Tóm lại, tất cả nguỵ quân, nguỵ quyền đều là những thành phần ác ôn, có nợ máu với nhân dân và phải thành khẩn khai báo những tội ác cũng như phải thành khẩn lao động sản xuất để sớm được đảng cứu xét cho về đứng "trong lòng dân tộc." Trong suốt thòi gian bị tù, người tù phải liên tiếp viết những bản tự phê; phải moi óc tìm và "phịa" ra những "tội ác" để tự gán và kết tội mình, và nếu bản viết lần sau thiếu vài "tội ác" so với bản viết lần trước, anh sẽ bị kết tội là vẫn còn ngoan cố và thời gian học tập sẽ còn lâu dài.
"Tự phê" một đòn tra tấn tinh thần rất ác ôn. Nó làm cho người tù bị căng thẳng tinh thần triền miên kể cả trong giấc ngủ và đã có một số anh em gần như phát điên, la hét, nói năng lảm nhảm và có người đã tự vẫn…

Tội ác thứ 3 - Tội giết người (Murder)

Những anh em trốn trại bị bắt lại đã bị cộng sản mang ra xử tại toà án nhân dân của chúng và bị bắn chết ngay tại chỗ. Đây là tội ác giết người (murder) bởi vì trên danh nghĩa cũng như theo pháp lý thì những người này chỉ là những người đi học tập. Và khi một người đi học tập mà trốn trại học tập là chuyện rất thường tình, không có tội lỗi gì đối với pháp luật. Nhưng đối với bọn vô nhân tính cộng sản thì không thể nói chuyện lý lẽ với chúng được.

Vào một ngày cuối năm 1975, tại trại giam Suối Máu, Biên Hoà, chúng mang hai anh sĩ quan cấp uý trốn trại bị bắt lại ra xử tại toà án nhân dân rừng rú của chúng được thiết lập ngay trong trại giam. Trước khi mang ra xử, chúng đã tra tấn hai anh này đến mềm người, rũ rượi, xụi lơ, không còn biết gì nữa.

Ngồi trên ghế xử, tên "chánh án" cùng ba tên đồng đảng giết người mặt sắt đen sì, răng đen mã tấu, dép râu, nón cối, ngập ngọng giọng Bắc Kỳ 75 đọc xong "bản án giết người" đã viết sẵn và ngay lập tức chúng mang hai anh ra bắn chết cạnh hai cái hố đã đào sẵn. Buổi trưa hôm đó bầu trời Biên Hoà có nắng đẹp, nhưng khi tiếng súng giết người nổ vang lên, mây đen bỗng kéo đến phủ tối cả bầu trời và đổ xuống những hạt mưa nặng hạt. Tất cả anh em trong trại giam lặng lẽ cúi đầu tiễn đưa hai đồng đội sa cơ, thất thế.
Ngoài cách giết người rừng rú trên đây, cộng sản còn chủ tâm giết người bằng nhiều cách khác như cho ăn đói và bắt làm khổ sai nặng nhọc để chết dần chết mòn; để cho chết bệnh, không cung cấp thuốc men, không chữa trị; bắt làm những việc nguy hiểm chết người như gỡ mìn bằng tay không…

Tôi ác thứ 4 - Tội bắt làm nô lệ (Enslavement)

Người tù phải sản xuất lương thực như trồng sắn, trồng ngô, trồng khoai, trồng rau…để tự nuôi mình; ngoài ra, còn phải sản xuất hàng hoá, sản phẩm để bán ra ngoài thị trường. Tại các trại tù trong vùng rừng núi Hoàng Liên Sơn, người tù phải đốn gỗ, cưa xẻ, chặt giang, chặt nứa, chặt vầu… để trại tù mang đi bán.

Tai trại tù Hà Sơn Bình có những đội cưa xẻ, đội mộc, đội gạch để sản xuất bàn, ghế, giường, tủ và gạch để bán. Tại trại tù Z30D, Hàm Tân, người tù phải trồng mía, sản xuất đường; mỗi tháng bán hàng tấn đường ra ngoài thị trường… Cộng sản bắt người tù phải làm công việc như người nô lệ thời trung cổ khi phe thắng trận bắt người bên phe thua trận phải làm nô lệ lao động (slave labour) thay vì mang đi giết. Đây là sự vi phạm nhân quyền một cách man rợ của thời trung cổ và là một Tội Ác chống Loài Người.

Tội ác thứ 5- Tội thủ tiêu mất tích người
(Enforced disappearance of persons)

Theo các tài liệu nghiên cứu có giá trị hàn lâm tại Hoa Kỳ và Âu Châu thì số nạn nhân chết trong các "trại cải tạo" là 165,000 người. Hiện nay, ngoài cộng sản ra, không ai biết nơi chôn cất các nạn nhân này. Suốt 33 năm nay, chúng không cho thân nhân cải táng để mang hài cốt về quê quán.

Đây là đòn thù vô nhân đạo đối với những nạn nhân đã nằm xuống, và là hành vi độc ác (inhumane act) gây đau khổ tinh thần triền miên, suốt đời cho thân nhân các nạn nhân. Chỉ có một số rất ít, không đáng kể, thân nhân các nạn nhân đã chạy chọt, tìm được cách cải táng người thân của họ; còn tuyệt đại đa số 165,000 người tù chính trị được coi như đã bị thủ tiêu mất tích. Đây là chủ tâm trả thù dã man của cộng sản và là một Tội Ác chống Nhân Loại.
Mới đây nhất, trong cuộc họp với tổng thống George W. Bush tai Bạch Cung ngày 24-6-2008, Việt cộng Nguyễn Tấn Dũng hứa sẽ tiếp tục tìm kiếm và trao cho Hoa Kỳ hài cốt những quân nhân Mỹ mất tích (MIA) trong cuộc chiến VN. Trong khi đó quân cộng sản giết người đang chôn giấu để thủ tiêu mất tích hài cốt của 165,000 quân, cán, chính VNCH và những người quốc gia đã bị chúng sát hại, sau ngày 30-4-1975, trong 150 "trại tù cải tạo" của chúng trên toàn cõi VN. Điều này chứng tỏ rằng lũ Việt gian cộng sản tiếp tục nuôi dưỡng hận thù đối với người Việt quốc gia, ngay cả đối với những người đã nằm xuống, trong khi miệng chúng luôn luôn hô hào hoà hợp hoà giải. "Đừng nghe những gì cộng sản nói; hãy nhìn kỹ những gì chúng làm."
Ngoài 5 tội ác chống loài người kể trên, vào năm 1980, cộng sản đã có kế hoạch đưa gia đình những người tù từ Miền Nam để cùng với những thân nhân của họ đang bị tù tại Miền Bắc đi "định cư" tại những "khu kinh tế mới" ở Miền Bắc mà thí điểm đầu tiên là khu Thanh Phong/Thanh Cầm, một khu rừng thiêng nước độc tại Miền Bắc, nơi đang có những "trại cải tạo."

Ý đồ của âm mưu thâm hiểm này là đưa đi đầy chung thân, khổ sai, biệt xứ để giết dần, giết mòn tất cả những người tù cùng với gia đình họ. Đây là một kế hoạch diệt chủng (genocide) được nghiên cứu và tính toán rất kỹ của tập đoàn Việt gian cộng sản. Nhưng trời bất dung gian, chúng không thực hiện được âm mưu diệt chủng này vì cục diện thế giới thay đổi dẫn đến sự phá sản của chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới, và chúng đã phải thả những nạn nhân của chúng ra để họ đi định cư tại Hoa Kỳ với tư cách là những người tỵ nạn chính trị (political refugees).
Cái nghị quyết số 49-NQTVQH ngày 20-6-1961 của tên đại Việt gian bán nước Hồ Chí Minh - cho tới ngày hôm nay vẫn còn hiệu lực - là một dụng cụ đàn áp thâm hiểm nhất để chống lại nhân quyền (the most repressive tool against human rights). Suốt nửa thế kỷ vừa qua, bằng cái nghị quyết phản động này, lũ bán nước cộng sản đã và đang tiếp tục đưa hàng triệu, triệu người Việt Nam đi "học tập cải tạo" mà không qua một thủ tục pháp lý nào cả. Với 5 Tội Ác chống Nhân Loại (Crimes against Humanity) như đã trình bày trên đây, bọn Việt gian cộng sản phải bị mang ra xét xử tại Toà Án Hình Sự Quốc Tế [2] (International Criminal Court).

Số Nạn Nhân Bị Giam Cầm,
Số Nạn Nhân Chết và Số "Trại Tù Cải Tạo"

Theo sự ước tính của các tài liệu nghiên cứu có tính hàn lâm tại Hoa Kỳ và Âu Châu đã được phổ biến "…According to the published academic studies in the United States and Europe…" thì số nạn nhân và số các "trại tù cải tạo" được ước tính như sau:
• 1 triệu nạn nhân đã bị giam giữ không bị chính thức kết tội hay xét xử (without formal charge or trial).
• 165,000 nạn nhân chết tại các "trại tù cải tạo."
• Có ít nhất 150 "trại tù cải tạo" sau khi Sàigòn sụp đổ.

Thời Gian "Cải tao"
Có những nạn nhân đã bị giam giữ tới 17 năm, và theo Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ thì đại đa số nạn nhân bị giam giữ từ 3 tới 10 năm, và tính trung bình mỗi người phải trải qua 5 trại giam. "…according to the U.S. Department of State, most term ranging from three to 10 years…" Nếu lấy con số trung bình là 7 năm tù cho mỗi người thì số năm tù của một triệu nạn nhân là 7 triệu năm. Đây là một tội ác lịch sử không tiền khoáng hậu của bọn Việt gian cộng sản; vượt xa cả tội ác một ngàn năm của bọn giặc Tầu và một trăm năm bon giặc Tây cộng lại.

Món Nợ của Hoa Kỳ Đối Với Đồng Minh.

Chính phủ Hoa Kỳ công nhận những người bị giam cầm (imprisonment) này là những ngưòi tù chính trị, và đã điều đình với phỉ quyền cộng sản để cho những người này được thả ra để cùng với gia đình đi đinh cư tỵ nạn tại Mỹ ưu tiên theo Chương Trình Ra Đi Có Trật Tự (Orderly Departure Program) đối với những người bị giam cầm từ 3 năm trở lên. "…The U.S. government considers reeducation detainees to be political prisoners. In 1989 the Reagan administration entered into an agreement with the Vietnamese government, pursuant to which Vietnam would free all former AVN soldiers and officials held in reeducation camps and allow them to immigrate to the United States… that gives priority to those who spent at least three years in reeducation…"
Hoa Kỳ coi việc đưa những người tù chính trị này sang định cư tỵ nạn tại Mỹ là để trả một món nợ quốc gia đối với đồng minh trong thời chiến. Những người này đã bị giam cầm vì đã cộng tác mật thiết với Hoa Kỳ trong cuộc chiến. "…

Resettling this group will be a step toward closing out this nation's debt to its Indochina wartime allies. "These people have been detained because of their closed association with us during the war," said Robert Funseth, the senior deputy assistance secretary of state for refugee affairs who spent most of this decade negotiating their resettlement…"
Phải nói môt cách chính xác rằng những người tù chính trị Việt Nam đi định cư tỵ nạn tại Mỹ theo một chương trình ra đi đặc biệt (a special program) nằm trong khuôn khổ của Chương Trình Ra Đi Có Trật Tự (Orderly Departure Program) chứ không phải theo chương trình HO (Humanitarian Operation) tưởng tượng nào cả. Cái gọi là chương trình HO chỉ là sự suy diễn từ các con số thứ tự của các danh sách những người tù chính trị đã được cộng sản trao cho Hoa Kỳ để phỏng vấn đi tỵ nạn tại Mỹ theo thứ tự: H.01, H.02…. H.10, H.11, H.12…
Cộng sản và tay sai có thể lợi dụng cái danh xưng "HO" không Chính không Thực và Lập Lờ này cho những âm mưu đen tối của chúng. Chúng có thể tuyên truyền lếu láo rằng: "Không những đảng đã tha chết cho bọn tội phạm chiến tranh này, mà còn tổ chức cả một "Chiến Dịch Nhân Đạo/HO" để cho đi định cư tại ngoại quốc. Ra đến ngoại quốc đã không biết ơn lại còn đi đấu tranh, biểu tình chống lại đảng…" Sự kiện tù chính trị là một sự kiện có tính chính trị và lịch sử; phải xử dụng Danh cho Chính. Không thể Lộng Giả Thành Chân cái nguỵ danh "HO" để xuyên tạc sự thật lịch.
Học tập cải tạo" là một nguỵ danh để che đậy 5 Tội Ác chống Loài Người (Crimes against Humanity) được dự liệu tại Điều 7 của Đạo Luật Rome (Article 7 of The Rome Statute) của bè lũ Việt gian cộng sản đối với quân, dân, cán, chính VNCH đã bị chúng giam cầm (imprisonment) một cách phi pháp sau ngày 30-4-1975.

Đây cũng là một tội ác có tính lịch sử của lũ Việt gian cộng sản. Cái nguỵ danh "tù cải tạo/HO" phải được Chính Danh là: Tù Nhân Chính Trị và Nạn Nhân của Tội Ác chống Loài Người của Hồ Chí Minh và bè lũ cộng sản.

Cũng cần phải nói thêm rằng khi dùng cái danh từ "cải tạo" của cộng sản là mắc mưu chúng bởi vì chúng tuyên bố lếu láo rằng vì các anh có "nợ máu" với nhân dân nên các anh phải đi "cải tạo," và khi tự gọi mình là "tù cải tạo" tức là tự nhận mình có tội. Cũng như khi tự gọi mình là một "HO"- một cái nguỵ danh đã bị lộng giả thành chân để chỉ một người "tù cải tạo" - là tự từ bỏ cái căn cước người tù chính trị của mình. Cho nên, Chính Danh là vấn đề rất quan trọng cả về chính trị và lịch sử. Dùng Nguỵ Danh để che đậy và bóp méo một sự kiện lịch sử là tội đại gian và có tội đối với lịch sử.
Đỗ Ngọc Uyển
Tháng 10 năm 2008
Sanjose, California
_______________
Tài liệu tham khảo:
-http://en.wikipedia .org/wiki/ Reeducation_ camp-http://www.ofc. berkeley. edu/~sdenney/ Vietnam-Reeducat ion-Camps- 1982-ttp://www.victimsof communism. org/history_ communism. php-http://untreaty. un.org/cod/ icc/STATUTE/ 99_corr/cstatute .htm (Rome Statute of International Criminal Court)
-http://www.optional journal.com/ best/?id= 110010372" (The Wall Street Journal, Monday, July 23, 2007 – Best of The Web Today by James Tananto)
http://query. nytimes.com/ gst/fullpage. html?res= 953D7103DF936A25 753C1A96F948260&sec= &spon=…(The New York Times, October 15, 1989
- THE NATION; The Next Wave From Vietnam: A new Disability by Seth Mydans)
- U.S Department of State – Fact sheet - Bureau of Population, Refugee and Migration – Washington DC – January 16, 2004
Chú thích
[1] 11 tội ác chống nhân loại được dự liệu trong Điều 7 của Đạo Luật Rome gồm có: 1- Murder; 2- Extermination ; 3- Enslavement; 4- Deportation or forcible transfer of population; 5- Imprisonment or other severe deprivation of physical liberty in violation of fundamental rules of international law; 6- Torture; 7- Rape, sexual slavery, enforced prostitution, forced pregnancy, enforced sterilization or other form of sexual violence of comparable gravity; 8- Persecution against any identifiable group or collectivity on political, racial, national, ethnic, cultural, religious, gender as defined in paragraph 3, or other grounds that are universally recognized as impermissible under international law in connection with any crime within the jurisdiction of the court; 9- Enforced disappearance of persons; 10- The crime of apartheid; 11- Other inhumane acts of a similar character causing great suffering, or serious injury to body or to mental or physical health;
[2] Toà Án Hình Sự Quốc Tế (International Criminal Court) là toà án độc lập và thường trực được thành lập theo Đạo Luật Rome (The Rome Statute) để điều tra và xét xử 4 loại tội ác sau đây: 1- Crimes against humanity (Tội ác chống nhân loại); 2- The crime of genocide (Tội ác diệt chủng); 3- Crimes of war (Tội ác chiến tranh); 4- Crimes of aggression (tội ác xâm lược).
____________ _____http://www.phamvanban.com/



.

Thursday, July 16, 2009

Phim "Sự Thật Về Hồ Chí Minh"

Xin Quý Vị vào xem và phổ biến rộng

>> Phim "Sự Thật Về Hồ Chí Minh"

Mặt Thật Hồ Chí Minh Từ ngày CSVN thống nhất toàn bộ đất nước VN hiện nay chúng dần dần hiện nguyên hình là một con hồ ly đầy ma mị và xảo quyệt, soán đoạt toàn bộ quyền tự quyết về chính trị hay quyền lợi dân chủ tối thượng của toàn dân tộc VN chúng ta là bộ máy chính quyền và hiến pháp VN.
Tất cả nội dung của hiến pháp và luật VN hiện tại hoàn toàn ưu tiên phục vụ cho quyền lợi ích kỷ của tập đoàn đảng trị CSVN . Tức nhiên từ cái hậu quả mất quyền dân chủ cũng đưa đến sự mất mát quyền lợi kinh tế hay quyền lợi xã hội cho quần chúng nhân dân lao động nói theo thuật ngữ đương thời trong nước là quyền lợi của giai cấp công nhân và nông dân bị cướp mất hoàn toàn.Trong quá trình cai trị độc đoán dựa trên cái lý thuyết xảo trá như chuyên chính vô sản và những thứ rác rưởi từ những khẩu hiệu vô sản hóa giai cấp lãnh đạo Đảng và Nhà nước" vân vân .
Chuyện này ai cũng gớm tởm và cho vào sọt rác lịch sử đã lâu rồi.

>> nguồn

Wednesday, July 15, 2009

Video Sự Thật Về Hồ Chí Minh



WESTMINSTER (NV) - Buổi chiếu ra mắt đầu tiên bộ phim “Sự Thật về Hồ Chí Minh” đã diễn ra vào lúc 11 giờ trưa Thứ Bảy, 11 Tháng Bảy tại nhà hàng Paracel, 15583 Brookhurst St., Westminster, CA 92683 với sự có mặt của hơn 500 đồng hương Việt Nam. Ðây là buổi giới thiệu đầu tiên nằm trong kế hoạch 38 buổi ra mắt và giới thiệu về bộ phim trên của Phong Trào Quốc Dân Ðòi Trả Tên Sài Gòn đối với đồng bào người Việt hải ngoại ở khắp mọi nơi. Linh Muc Nguyễn Hửu Lễ chính thức cho phép phát tán rộng rãi trên mạng. Mục đích của việc ra đời cuốn phim là nhằm “tẩy trừ huyền thoại giả trá Hồ Chí Minh để lấy lại tên gọi cho thành phố Sài Gòn.”









































* Source: http://www.vietland.net/main/showthread.php?t=7798

Monday, July 13, 2009

NAY ANH, MAI TÔI


Sau khi người dân Tây Tạng nổi lên biểu tình chống đối Trung Cộng một cách dữ dội rồi cũng bị dẹp yên. Đến nay thì công an Trung Cộng đang tiến hành truy nã những kẻ chủ mưu, đồng lõa và tham gia cuộc biểu tình nói trên. Mặt khác, Trung Cộng cũng đang tiến hành những sự trừng phạt về kinh tế tài chánh đối với người Tây Tạng. Điều này thì ai cũng biết, một khi xâm lăng nước khác việc đầu tiên và kéo dài vô tận là thu hoạch quyền lợi vật chất. Và cũng như một định luật bất di bất dịch là nạn kỳ thị chủng tộc không sao tránh khỏi, để rồi đến lúc người bị trị chịu không nổi lại nổi lên chống đối, và bổn cũ soạn lại… và nếu không có một phép lạ, một luồng gió mới, một biến cố quốc tế nào đó v.v… thì dân bị trị hoặc sẽ biến mất, hoặc chỉ còn là một thiểu số, ngậm đắng nuốt cay, sống trong tủi nhục, vất vưởng như những ma hời.

Vừa dẹp tạm yên Tây Tạng thì Tân Cương nổi lên. Mới bùng phát nhưng cuộc nổi dậy này đã có rất nhiều máu đổ và tuy cũng chỉ vì dân bị trị chịu không nổi sự hà sắc, áp chế của kẻ cai trị, nhưng cuộc nổi dậy ở Tân Cương mang một màu sắc đặc biệt, đặc thù, hứa hẹn một cuộc đấu tranh lớn lao và còn loang ra nhiều nơi. Sự việc nghiêm trọng cho đến nỗi Hồ Cẩm Đào phải bỏ dở cuộc họp G8 để về giải quyết. Không khéo từ cái xảy này sẽ nẩy cái ung nhiều nơi ở Tân Cương và tràn lan ra hải ngoại. Đây là hậu quả của chính sách “Hán hóa” tức là chính sách đồng hóa các dân tộc khác của người Hán. Hồ Cẩm Đào sẽ làm gì?

Chuyện 2 người Uighur (Duy Ngô Nhĩ) bị chết và 120 người bị thương trong một cuộc ẩu đả vì kỳ thị đã làm bùng nổ những cuộc bạo loạn lớn lao giữa người Hán và người Duy Ngô Nhĩ là một chuyện rất thường xảy ra một khi 2 sắc tộc sống chung vì một bên bị chèn ép. Và khi sự việc xảy ra, lực lượng an ninh Trung Cộng dĩ nhiên là binh người Hán và đổ lỗi cho người Uighur. Người Hán ỷ có “viện binh” đã tấn công đối phương, hai bên lại xung trận, người chết, người bị thương là nguyên nhân cho những cuộc tấn công mới.

Nhà cầm quyền Trung Cộng cho rằng trong 156 người chết thì người Hán chiếm đa số, nhưng người Uighur thì cho rằng người của họ bị thiệt mạng nhiều hơn. Lời loan báo của “nhà cầm quyền” khác nào đổ dầu vào lửa để người Hán hăng máu hơn. Ngày 5.7.2009, khoảng 10 ngàn người Hán đã dùng đủ loại vũ khí thô sơ tìm cách tấn công các khu vực của người Uighur cư ngụ để trả thù, nhưng lực lượng an ninh đã ngăn chận và ban hành lệnh giới nghiêm. Phía nhà cầm quyền Trung Cộng cho rằng sở dĩ có cuộc nổi loạn là do bên ngoài xúi dục và chủ mưu là tổ chức “Ðại Hội thế giới người Uighur”.

Ngoài nguyên nhân kỳ thị chủng tộc ra, các tài nguyên Tân Cương bị người Hán khai thác, chiếm đoạt, do đó, người Hán ngày càng giàu có trong khi đó người Uighur ngày càng nghèo. Với đầu óc “thực dân”, người Hán cho rằng nhờ họ mà xứ sở của người Uighur mới được mở mang, trong khi dân tộc Uighur biết rằng đất nước mình đang bị tước đoạt tài nguyên. Do đó, chưa biết cuộc bạo loạn này sẽ đi về đâu.

Chưa hết, người Hán vốn có óc kiêu ngạo cho mình là “rốn của vũ trụ” còn tứ phương thiên hạ đều là mọi rợ: Nam Man, Tây Rợ, Bắc Hồ, Ðông tặc. Họ đến đâu thì áp đặt văn hóa tôn giáo của họ đến đó. Năm ngôi sao chầu quanh một ngôi sao lớn trên lá cờ Trung Cộng chính là biểu tượng cho 5 sắc tộc đã bị họ đồng hóa.

Nguyên nhân nguy hiểm nhất có thể đưa đến xung đột lớn, lan ra các nước khác là tôn giáo. Người Uighur theo đạo Hồi, trong khi đại đa số người Hán theo đạo Phật hoặc đạo Nho (Ông Bà). Những lúc gần đây Hồi Giáo bị nghi ngờ có liên hệ với khủng bố, Trung Cộng cứ “phết” cho họ liên hệ với quân khủng bố để tiện việc đàn áp vô tội vạ. Do đó, nếu một ngày nào mà thế giới Hồi Giáo đứng lên đấu tranh với Trung Cộng để binh vực đồng đạo Hồi của họ, nhất là người Uighur phát xuất từ Thổ Nhỉ Kỳ thì ngoài tình đồng đạo ra, họ còn liên hệ huyết thống với Thổ. Cũng vì vậy mà Hồ Cẩm Ðào nghe tin có bạo loạn xảy ra là lập tức bỏ cuộc họp G8 để về giải quyết. Nhưng đây là một cái gân gà cho họ Hồ, vì nếu cuộc nổi loạn xảy ra giữa dân với nhà cầm quyền còn dễ giải quyết chứ xung đột giữa 2 sắc tộc bị trị và cai trị thì rất phức tạp. Với tình thế như hiện nay, chắc chắn Trung Cộng sẽ đi đến chỗ đàn áp tàn bạo, dù phải làm một Thiên An Môn thứ 2 tại Tân Cương.

Hình ảnh người Uighur hôm nay cũng là hình ảnh Việt Nam ngày mai, một tương lai gần, rất gần. Ngoài ý chí đồng hóa láng ghiềng một cách mạnh mẽ, gần như là bẩm sinh, Trung Cộng hiện có những lợi điểm như sau đây để dễ bề đồng hóa Việt Nam: - Bộ máy cai trị Việt Nam do đàn em của Trung Cộng điều khiển. Cả Bộ Chính Trị Việt Cộng đều là đầy tớ Trung Cộng, lại có những tin tức cho biết tên thì bị Trung Cộng dùng đòn mỹ nhân kế, như Lê Khả Phiêu mấy năm trước, tên thì bị mua chuộc cả trăm triệu Mỹ kim như Nguyễn Tấn Dũng, v.v… Trung Cộng còn có trăm phương ngàn kế để siết dây thòng lọng vào cổ Bộ Chính Trị Việt Cộng. Vì vậy mà chỉ trong vòng 20 năm kể từ sau năm 1979 Trung Cộng đã đạt được những “thắng lợi vĩ đại” như:

- chiếm được một số lãnh thổ phía Bắc của Việt Nam mà những cái mốc như Ải Nam Quan, Thác Bản Dốc, Suối Phi Khanh v.v… đều mất vào tay Trung Cộng.

- lãnh hải thì Trung Cộng coi như làm chủ, và để chứng tỏ chủ quyền đó một cách ngang ngược, bất chấp các luật lệ quốc tế, đã ra lệnh cấm ngư dân Việt Nam đánh cá trên biển Việt Nam.

- chiếm lĩnh cao điểm quân sự quan trọng là Cao Nguyên Trung Phần bằng cách khai thác bâuxít, một thứ quặng gây tổn hại cho môi trường sống, đến nỗi chính Trung Cộng cũng phải đóng những mỏ bâuxít của chúng ở bên Tàu. Ðây là một nhát chém ngang lưng Việt Nam và cả Ðông Dương. Về phần Việt Nam thì bị Trung Cộng cắt đôi từ Cao Nguyên xuống biển Nha Trang, Cao Nguyên cũng là điểm “Ba Biên Giới Việt Miên Lào”, chiếm Cao Nguyên Trung Cộng cũng khống chế được Cao Miên và Lào, hay nói rõ hơn “ai chiếm được Trường Sơn là làm chủ Ðông Dương”.

- Những tin tức chính xác cho biết hiện nay Trung Cộng đã đưa dân của chúng qua tràn lan trên quê hương Việt Nam, thậm chí chúng còn lập những làng riêng cho dân Tàu, và dĩ nhiên cái gọi là “chính quyền Việt Nam” không dám héo lánh đến.

- kế từ ngày Việt Cộng đầu phục Trung Cộng, nhờ Trung Cộng che chở thì hàng hóa Trung Cộng nhập lậu vào Việt Nam một cách vô tội vạ, thậm chí hàng tỉ tỉ đồng bạc Việt Nam giả được in ở Trung Cộng cũng được Trung Cộng đưa vào Việt Nam. Người ta ước lượng từ đầu thập niên 80 cho đến nay, Việt Nam đã góp phần rất lớn nuôi tỉnh Vân Nam của Trung Cộng. Chưa kể các tài nguyên khác như lúa gạo hiện nay đều nằm trong tay người Tàu.

- tinh thần nô lệ của Việt Cộng đê hèn cho đến nỗi một người Việt Nam bị dân Tàu đánh chết ngay tại thủ đô Hà Nội mà chỉ bị xử có 5 năm tù ở. Nhưng không ai tin là bản án được thi hành.

Cái tai hại nhất hiện nay là Việt Cộng giả vờ “đi với Mỹ” khiến cho Trung Cộng lấy cớ đó làm eo làm xách. Mỗi lần có tên chóp bu Việt Cộng nào qua Hoa Kỳ là một lần Trung Cộng mè nheo y như bà vợ lớn ghen với ông chồng, thế là những gì bàn thảo, ký kết với Hoa Kỳ đều phải báo cáo cho Trung Cộng, sau đó là phải “đến bù cho cân xứng với Hoa Kỳ”. Việt Nam đã nát lại càng nát hơn.

Một ngày nào Việt Nam bị Hán hóa, tôi đoan chắc người Hán sẽ đối xử với người Việt khắc nghiệt hơn đối với bất cứ sắc tộc nào khác. Vì kinh nghiệm lịch sử đã dạy cho Trung Cộng bài học người Việt Nam có “năng khiếu” chống ngoại xâm số một. Lúc đó, cái năng khiếu này lại được người Việt Nam áp dụng để chống lại người Hán. Thảm cảnh sẽ xảy ra và dân Việt sẽ hoặc bị tiêu diệt, hoặc bị đày đọa còn hơn thú vật.

Với tình trạng này, mỗi người dân Việt Nam trong và ngoài nước nghĩ gì, làm gì?

Các tôn giáo đều bị Việt Cộng lũng đoạn, phá hoại, 2 tôn giáo Cao Ðài và Hòa Hảo gần như bị tiêu diệt. Phật giáo thì đã có tay sai Việt Cộng lập ra Phật Giáo Quốc Doanh. Công Giáo tuy nhờ có tổ chức chặt chẽ, nhờ có quốc tế biết đến, nhưng cũng bị Việt Cộng chui lòn, len lỏi vào, tổ chức những nhóm linh mục quốc doanh, chẳng những phá đạo mà còn o ép các giám mục nhắm mắt trước những tai ách, bất công Việt Cộng ngày đêm gieo rắc trên Quê Hương Việt Nam. Tuy vậy, về mặt tôn giáo, nếu Công Giáo đứng lên làm phận sự “Sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc” chắc chắn sẽ là một lực lượng đáng kể, không phải để lật đổ chế độ mà để làm “một giáo dân tốt cũng là một công dân tốt” như lời Ðức Bênêditô 16 vừa nói. Có kẻ đã xuyên tạc lời Ðức Giáo Hoàng nói và cho rằng Ngài chỉ thị Công giáo Việt Nam hợp tác với Việt Cộng. Muốn làm gì có ích cho xã hội, cho đất nước và cho Giáo Hội, Hội Ðồng Giám Mục cần phải liên kết chặt chẽ hơn, không chỉ là năng gặp nhau hơn như lời Ðức Cha Khảm đã nói, mà còn phải tương trợ nhau mỗi khi có vấn nạn. Ví dụ như khi giáo xứ Thái Hà bị đàn áp, tất cả các địa phận, các giáo xứ đều đứng lên cầu nguyện. Một linh mục bị bắt bớ vì những lời nói thật, Ðức Giám Mục bề trên trực tiếp phải can đảm can thiệp và xin các Giám Mục khác cùng giúp đỡ. Nếu được như vậy, chắc chắn Việt Nam sẽ có một tương lai tươi sáng hơn. Nạn con gái phải bán ra hải ngoại làm nô lệ tình dục, nạn cả mấy chục thiếu nữ phải trần truồng để cho Ðại Hàn, Ðài Loan chọn như chọn tôm cá ngoài chợ sẽ giảm bớt, nạn mãi dâm tràn lan sẽ “hạ thấp khí thế”. Giám Mục, linh mục có bổn phận can thiệp vào những tệ nạn đó.

Các giới trí thức ngày nay đã có một số ý thức trách nhiệm, đã đứng lên đấu tranh cho Việt Nam dân chủ tự do, nhưng còn quá ít, mới đếm được trên đầu ngón tay. Dân tộc đang cần sự đóng góp của trí thức. Giới truyền thông lại càng có nhiệm vụ nặng nề hơn, nhưng nếu giới này ý thức được trách nhiệm và hành động thì chắc chắn Nước nhà sẽ được giải thoát khỏi tay Cộng Sản nhanh nhất. Muốn thực hiện được sứ mạng truyền thông, những người cầm bút rất cần sự “đồng loạt”. Một tờ báo bị đóng cửa, tất cả các báo “tự ý đình bản” thì sẽ không có tờ nào bị đóng cửa, một ký giả vì nói sự thật mà bị bắt, bị “thu giấy phép” thì tất cả ký giả “trả thẻ hành nghề”.

Ðại tướng VC Võ Nguyên Giáp đã mấy lần can thiệp vào việc làm của Bộ Chính Trị, nhưng bị Nguyễn Tấn Dũng, Nông Ðức Mạnh coi thường, không đếm xỉa đến, vì sao? Vì đàn em của Võ Nguyên Giáp không hưởng ứng, làm sao Nguyễn Tấn Dũng coi trọng lời nói của ông Ðại Tướng. Ðại tướng Giáp đã thấy nguy cơ của đất nước, đã thấy nạn diệt vong Việt Nam gần kề nên dù gần đất xa trời, ông cũng cố nói lên tiếng nói, tại sao các tướng khác im lặng? Xương máu của thuộc cấp quí vị đổ ra quá nhiều, với mục đích phụng sự quốc gia, không ngờ lại là công cụ của Việt Cộng, của Cộng Sản, các tướng tá sống đến hôm nay phải có bổn phận trân quý sự hy sinh của thuộc cấp, của đồng đội. Hãy cùng nói lên tiếng nói chung, hợp cùng tướng Giáp ngăn cản Bộ Chính Trị bán nước.

Việt Nam đã đến lúc cận kề nạn diệt vong, những ai là con dân Việt phải đứng lên lật đổ chế độ lệ thuộc Trung Cộng, cứu nguy đất nước.

Trông cái gương Tây Tạng năm ngoái, bây giờ đến cái gương Tân Cương, nhìn thẳng vào những sự lũng đoạn đất nước qua bàn tay Trung Cộng. Ai là người Việt Nam hãy nên nghĩ đến câu: Nay Anh, Mai Tôi và cùng hy sinh quyền lợi riêng tư đứng lên cứu nước.

Lê Văn Ấn
___
MGP


.

Monday, July 6, 2009

Sự Hình Thành Của Một Siêu Cường



Những Kinh Nghiệm Tích Lũy của Hoa Kỳ...

Nhân Lễ Độc Lập Hoa Kỳ, chúng ta có thể vừa xem pháo bông vừa suy ngẫm về sự lớn mạnh của một đế quốc toàn cầu, một trường hợp chưa từng xảy ra trong lịch sử nhân loại...
Từ khi tuyên bố độc lập vào năm 1776 thì kể cả Barack Obama hiện nay, Hoa Kỳ đã có 43 người lên làm 44 đời Tổng thống (ông Grover Cleveland đã là Tổng thống thứ 22 rồi 24, trong các năm 1885-1889 và 1893-1897). Nhìn lại Việt Nam thì vào thời lập quốc đó của Mỹ, nước ta có nội chiến và hai nhà Trịnh Nguyễn đều lụn bại trước phong trào Tây Sơn. Rồi khi Cleveland lên làm Tổng thống năm 1885, nước ta đã mất chủ quyền vào tay thực dân Pháp. Ngày nay, Việt Nam vẫn là một xứ lạc hậu, không có dân chủ và cũng chẳng được độc lập, dưới sự lãnh đạo của một chế độ đạo tặc.
Vào thời độc lập, hơn hai triệu 400 ngàn dân tại 13 khu vực thuộc địa ban đầu của Mỹ ở vùng Đông Bắc đã tuyên bố độc lập với Đế quốc Anh. Sau khi có độc lập và bành trướng về hướng Tây để vươn tới Thái bình dương, Hoa Kỳ ngày nay có dân số là 330 triệu người với tổng sản lượng kinh tế giàu nhất thế giới và có mặt hoặc có thể can thiệp trên toàn thế giới. Nhìn gần hơn, nước Mỹ đã đoạt ngôi vị bá chủ của Đế quốc Anh từ đầu thế kỷ 20 và sau khi Liên bang Xô viết tan rã thì Mỹ đã thành đệ nhất siêu cường toàn cầu. Thực tế là một Đế chế Toàn cầu đã thay thế vai trò của Đế quốc Anh trong những thế kỷ trước.
Những yếu tố gì đã dẫn tới một sự trưởng thành lớn lao như vậy?
***
Nếu có phải trả lời thật ngắn gọn thì yếu tố quan trọng nhất là ký ức tập thể xuất phát từ lòng yêu nước chứ không phải yêu mình!
Dù có thể tranh đấu gay gắt để lên cầm quyền, các thế hệ lãnh đạo nối tiếp của Hoa Kỳ đều biết gạn lọc và bảo vệ thành quả của chính quyền đi trước chứ không đòi xoá bỏ tất cả để rồi mỗi thế hệ cứ phải đi lại từ đầu mà không còn kiến thức hay kinh nghiệm gì của chính quyền trước đó vì mọi việc đúng sai trước đó đều bị thủ tiêu hoặc xuyên tạc, là chuyện ta thường thấy tại Việt Nam từ thời Tây Sơn đến ngày nay. Không, từ đời Hồ Quý Ly đến đời Hồ Chí Minh và con cháu ngày nay tại Ba Đình.
So với nhiều - có lẽ với tất cả các - quốc gia khác trên thế giới, Hoa Kỳ có một lãnh thổ lý tưởng để trở thành siêu cường. Xứ này được bảo vệ bởi hai đại dương lớn nhất địa cầu và lại tiếp giáp với hai nước láng giềng rất yếu nên trước tiên không bị bài toán ngoại xâm mà nhiều xứ khác đã gặp trong lịch sử. Hoa Kỳ có thể được coi như một hải đảo trong ý nghĩa đó... và là một hải đảo vĩ đại với diện tích lên tới gần 10 triệu cây số vuông.
Bên trong, xứ này có các con sông lớn, như Mississippi, Missouri, Ohio, Red và Tennessee, lại dễ thông thương với nhau chứ không hoàn toàn biệt lập như Hoàng hà với Dương tử của Tầu hay sông Hồng với Mêkong của Việt Nam. Vùng châu thổ của bốn con sông này có điều kiện địa dư và khí hậu thuận lợi cho canh tác và giao thông mà tất cả lại nằm trong một khu vực rộng lớn được... mua lại từ Đế quốc Pháp với giá rất bèo! Khu vực gọi là Louisiana Purchase này trải rộng trên 14 tiểu bang, từ biên giới với Canada ở phía Bắc xuống tới Vịnh Mexico ở phía Nam và bao gồm cả hải cảng chiến lược là New Orleans.
Hoa Kỳ có "định mệnh siêu cường" kể từ vụ mua bán đó vào năm 1804, để trăm năm sau sẽ thay thế Đế quốc Anh.
Trên một lãnh thổ phì nhiêu và bát ngát như vậy, lớp di dân sau thời độc lập cứ việc Tây tiến. Họ là thế hệ tiên phong, họ đi trước rồi nhà nước đi sau: họ đẻ ra chính quyền, chứ không chờ "lịch vua ban", hay quy định của nhà nước về cách sinh hoạt trên vùng đất mới.
Trong suốt tiến trình phát triển ấy, ngần ấy thế hệ lãnh đạo đã nối tiếp nhau củng cố và phát triển tiềm năng siêu cường của quốc gia.
Khởi đầu là từ kinh nghiệm của "mẫu quốc" là Đế quốc Anh.
Thời ấy, nước Anh là một hải đảo và có trình độ kỹ thuật cao nhất trong lãnh vực then chốt nhất của các nước là chuyển vận trên hải dương (y như khoa học hàng không và không gian ngày nay). Nhờ vậy, Anh được bảo vệ và bành trướng ra ngoài, ra toàn cầu, trở thành một Đế quốc hải dương, khác với các nước kia là chỉ có thể là một đại cường lục địa - như Đức, Nga hay Trung Quốc.
Từ kinh nghiệm của Anh, bản năng sinh tồn và phát triển của Hoa Kỳ - của nhiều thế hệ lãnh đạo từ thời lập quốc - là phải có lãnh thổ thật sâu để chống lại các đợt tấn công từ ngoài biển Đông vào. Vì vậy, trung tâm sinh lực của quốc gia được chuyển dần vào trong lục địa theo đà Tây tiến. Hạm đội của siêu cường Anh khi đó có muốn giành lại thuộc địa cũ thì cũng không nổi.
Sau khi đã lùi - hay tiến - đủ sâu về hướng Tây, bản năng sinh tồn và phát triển của các thế hệ lãnh đạo Hoa Kỳ là phải có sức phòng vệ trên cả lục địa Bắc Mỹ.
Bản năng ấy mới khiến họ chụp lấy cơ hội mua đất của Pháp như vừa nói ở trên để có một lãnh thổ liền lạc vuông vức. Nhìn lại như vậy thì định mệnh siêu cường của Mỹ có một lần bị đe dọa là trong cuộc chiến với Mexico. Nếu cuộc nổi dậy và ly khai của Texas trước sức mạnh quân sự của Tướng Santa Ana mà không thành, hoặc nếu Santa Ana chiếm được New Orleans để khóa đường ra biển của các tiểu bang Trung Tây, nước Mỹ đã không có cơ hội sát nhập Texas và bảo vệ cửa khẩu New Orleans cho các tiểu bang nội địa thông thương ra biển. Nghĩa là Hoa Kỳ đã bị một đại cường miền Nam dí dao vào bụng và chặn mất yếu hầu đi xuống Vịnh Mexico.
Bước ngoặt đó vào giữa thế kỷ 19, từ 1836 đến 1845, đã quyết định tư thế của nước Mỹ trên cả khu vực Bắc Mỹ.
Sau khi hoàn toàn làm chủ lục địa, Hoa Kỳ tiếp tục... Tây tiến trên Thái bình dương và với việc chiếm được Hawaii, nước Mỹ đã kiểm soát được biển Thái bình từ năm 1898, rồi trở thành đại cường... Á Châu. Tại hướng Đông, trên Đại tây dương, Hoa Kỳ đóng chốt được ngoài biển sau khi chiếm được Puerto Rico - và cả Cuba - từ tay Đế quốc Tây Ban Nha. Thế chiến II còn tạo cơ hội cho Mỹ.. tiếp thu một chuỗi căn cứ hải quân của Đế quốc Anh khi đó đã tàn lụi...
Vì vậy, trong thế kỷ 20, Hoa Kỳ trở thành cường quốc hải dương, có mặt trên cả hai đại dương lớn nhất, và có mặt trên thế mạnh. Mà chưa hết!
Sau Thế chiến II - cách đây có hai thế hệ và 12 đời tổng thống, từ Franklin D. Roosevelt tới George W. Bush - Hoa Kỳ còn tiến xa hơn nữa để kiểm soát các căn cử hải quân ngoài biển và liên kết với một chuỗi các quốc gia bán đảo hay hải đảo: từ Nam Hàn, Đài Loan, Nhật Bản, Phi Luật Tân, Singapore tới Úc Đại Lợi và Tân Tây Lan tại Á Châu cho đến mẫu quốc và đối thủ ngày xưa là Anh quốc rồi Na Uy, Đan Mạch tại Âu Châu. Nhờ sức mạnh hải quân và một chiến lược liên hoàn toàn cầu như vậy, Hoa Kỳ trở thành đệ nhất siêu cường hải dương.
Bất cứ một biến cố nào trên thế giới, như thiên tai, động đất, sóng thần hay hải tặc, đều thấy có sự quan sát và can thiệp rất nhanh của Mỹ, nếu chuyện ấy liên hệ đến quyền lợi của quốc gia hay từ tâm của dân Mỹ! Trong lịch sử nhân loại, chưa một đế quốc nào lại có khả năng vươn xa như thể, và đi rất xa dưới con mắt theo dõi của hệ thống kiểm báo trên không gian.
Nếu nhìn lại từ thời độc lập thì ngần ấy thế hệ lãnh đạo có thể tranh cãi lung tung về chiến lược này nọ ở bên trong, chứ về đối ngoại, cả 44 đời tổng thống đều tiếp tục và bành trướng con đường củng cố và phát triển đó: làm chủ lục địa bên trong và triển khai sức mạnh ra ngoài. Eisenhower không khác Truman hay Roosevelt, Kennedy không khác Eisenhower, Nixon không khác Kennedy, và.... Obama không khác Bush!
***
Nhưng Hoa Kỳ còn biết... điểm huyệt thiên hạ!
Mục tiêu muôn thuở của Mỹ không chỉ có tính cách phòng thủ, dù là phòng thủ tích cực trong thế bành trướng. Siêu cường này còn quyết liệt hơn ở một thực tế ít ai nói ra mà dường như lãnh đạo nào cũng thực hiện sau khi nắm quyền. Đó là cố gắng tiết kiệm xương máu, vận dụng xứ khác để làm cho không quốc gia nào có thể kiểm soát được một lãnh thổ quá lớn hầu sau này thách đố vị trí siêu cường của Mỹ!
Nhân lễ độc lập của Mỹ, ta hãy nghiệm lại mà xem..
Trong cả hai cuộc Thế chiến, Hoa Kỳ rất ngần ngại tham chiến tại Âu Châu - và quả nhiên là bị tổn thất nặng trong Thế chiến II - nhưng sau đó đã xé đôi đối thủ là nước Đức. Qua thời Chiến tranh lạnh thì Mỹ be bờ ngăn chặn Liên bang Xô viết trở thành siêu cường độc bá, bằng một chuỗi liên kết với Tây Âu, thậm chí với cả Liên bang Nam Tư ngay trong khối Xô viết. Bên kia Thái bình dương thì Mỹ ủng hộ Đài Loan chống Mao, và khắng khít hợp tác với đối thủ cũ là Nhật Bản. Khi Liên Xô quá mạnh thì Hoa Kỳ lại hy sinh cả Đài Loan - và Việt Nam! - để liên kết với Trung Quốc hầu bao vây và đánh gục Đế quốc Xô viết mà không mất một viên đạn.
Tại lục địa Nam Á, Hoa Kỳ cũng hợp tác với Pakistan để khống chế Ấn Độ và ngăn chặn liên minh giữa Ấn với Liên Xô. Khi Liên Xô sa lầy tại A Phú Hãn sau năm 1979, thì Hoa Kỳ của một tổng thống rất lý tưởng là Jimmy Carter lại ma quái yểm trợ các lực lượng Hồi giáo chống Hồng quân Nga. Cũng thế, Hoa Kỳ thời Tổng thống dễ thương là Ronald Reagan lại nhảy vào cuộc chiến tám năm giữa Iran với Iraq và ngầm yểm trợ kẻ thù cũ là Iran để làm suy yếu chế độ Saddam Hussein...
Và ngày nay, trong cuộc chiến chống khủng bố Hồi giáo thì tùy tình hình, nước Mỹ thời Bush 43 đã gõ trên cả hai phím Sunni và Shia, khi xúi bên này khi chặn bên kia. Mục đích sau cùng vẫn là để không một hệ phái nào có thể lãnh đạo toàn khối Hồi giáo, "từ Maroc tới Malaysia", như Giáo chủ Rurollah Khomeini của hệ phái Shia tại Iran hay trùm khủng bố Osama bin Laden theo hệ phái Sunni đã mơ ước! Vì không nhìn vào cả chiều dài lịch sử, dư luận Mỹ cứ vội sốt ruột về chuyện Iraq và mạt sát ông Bush như một kẻ ngang bướng dại dột. Ông ta dọn cỗ cho Obama như việc đôn quân và hợp tác với phe Sunni tại Iraq để rồi nay sẽ rút.
Nhưng "rút mà không ra" - như người viết đã nhiều lần đề cập tới từ mấy năm trước. Hoa Kỳ sẽ còn khống chế Iraq khá lâu - với binh lính không làm bia đỡ đạn trong thành phố mà trấn giữ các căn cứ ngoài sa mạc. Để canh chừng Iran theo hệ phái Shia và bảo vệ quyền lợi Mỹ trên toàn khu vực Trung Đông.
Cũng thế, khi Liên bang Nga trổi dậy và đòi lại ảnh hưởng mà Liên Xô đã từng có thì Hoa Kỳ thời Obama sẽ lại tìm ra thế liên kết từ hướng Nam với Turkey lên tới hướng Bắc với Ba Lan và ba nước Cộng hoà Baltic. Nói theo chuyện Chiến quốc bên Tầu thời xưa thì đấy là thế "hợp tung" trên cái trục Nam Bắc để ngăn hặn "cường Tần" đời nay là Liên bang Nga của Putin.
Ngẫm như vậy, người kế nhiệm Obama sẽ có ngày nhìn vào Trung Quốc.... Có khi là ai đó đã nhìn rồi, mà họ nhìn được vì chuyện "ký ức" đã nói ở trên.
***
Nước Mỹ là siêu cường vì biết tích lũy kinh nghiệm.
Cho dù bất cứ ai lãnh đạo và muốn thi hành chánh sách thiên tả hay hữu khuynh về nội trị, bộ máy an ninh chiến lược của Mỹ vẫn vận hành bình thường, như một chiếc đồng hồ tự động. Và nước Mỹ lại còn có can đảm kỳ lạ là đòi công khai hóa mọi chuyện để người dân, truyền thông, và các học giả có quyền tham khảo và phê phán.
Nhờ sự vận hành thường trực của bộ máy về an ninh - trong các bộ, cơ quan nay trong quân đội - để theo dõi, dự đoán và thiết kế ra mọi loại kịch bản quốc tế, có khi chỉ để trong ổ kéo hay trong một lò trí tuệ, Hoa Kỳ có một kho ký ức rất dày. Mà ký ức đó lại có tính chất tích cực: khả dụng nếu lãnh đạo muốn.
Mọi chính quyền nối tiếp đều có một trách nhiệm thiêng liêng và pháp định, đó là "bàn giao". Trong bàn giao, không hề có chuyện giấu diếm để phục kích hoặc gài bẫy chính quyền kế nhiệm hầu chứng tỏ sự sáng suốt của chính quyền tiền nhiệm. Chính quyền Bush đã và phải trình bày hết những chuyện tuyệt mật liên quan đến an ninh và quyền lợi của Mỹ, với cả lời cảnh giác về những mối nguy hay điểm nóng cần quan tâm ngay từ giây phút cầm quyền đầu tiên của Chính quyền Obama. Không thể có chuyện quăng vỏ chuối trên thềm nhà cho người đi sau ngả vỡ mặt!
Các quốc gia khác, kể cả đại cường Xô viết hay cường quốc mới nổi như Trung Quốc lại không thể có thể thức bàn giao như vậy vì đặc tính độc tài và vì quyền lực quá lớn của mật vụ!
Từ thời độc lập của Hoa Kỳ, tinh thần bàn giao ấy qua 44 đời tổng thống cho phép chuyển giao kinh nghiệm từ thế hệ này qua thế hệ khác để người sau khai triển chiến lược kế tiếp.
Ngoài tinh thần bàn giao trách nhiệm và kiến thức cứ tưởng như rất tầm thường mà vô cùng quan trọng, Hoa Kỳ không có hiện tượng... đốt sách và chôn học trò. Nghĩa là không thủ tiêu kiến thức của người đi trước. Đã vậy, luật lệ Hoa Kỳ còn quy định quyền đòi hỏi giải mật rất nhiều tài liệu hay thông tin của thế hệ đi trước. Mà tổng thống nào thì cũng gom các tài liệu riêng trong thời kỳ lãnh đạo của mình vào một viện bảo tàng hay một thư khố. Ai muốn tham khảo thì có thể tìm đến kho ký ức chung đó. Một Tổng thống bị đàn hặc và phải từ chức như Richard Nixon mà sau này vẫn được kính trọng chính là nhờ kho ký ức đó: người ta hiểu ra tầm nhìn và học được rất nhiều kinh nghiệm của ông.
Nghĩa là quy luật "công khai hóa" mọi chuyện giúp người sau hiểu được vì sao và trong hoàn cảnh nào người đi trước lại sai lầm hoặc đã lấy quyết định như vậy.
Vụ tranh luận về màn "trấn nước tù nhân" là một điển hình nóng bỏng giúp Chính quyền Obama hiểu được bài toán của Chính quyền Bush và dù đồng ý hay không thì cũng biết vì sao ông Bush lại làm như vậy. Không chỉ chính quyền Obama mà người dân Mỹ cũng biết, nên có thể suy xét và phê bình cách hành xử của Bush trước đó, và của Obama sau này.
Không là một ngẫu nhiên nếu Hoa Kỳ trở thành siêu cường toàn cầu, khiến mặt trời không bao giờ lặn trên các chiến hạm của Mỹ. Lý do chính là sự thật không bao giờ tắt trong ký ức chung của các thế hệ lãnh đạo Hoa Kỳ. Họ đáng kính trọng ở tinh thần yêu nước hơn là yêu mình.
***
Trông người lại ngẫm đến ta... qua một chuyện giả định mà không có...
Năm 1975, sau khi chiến thắng miền Nam và chấm dứt mấy chục năm tương tàn, nếu lãnh đạo Hà Nội hành xử khác trong hoàn cảnh... chao ôi bi hài, gọi là độc lập, thì tình hình Việt Nam ngày nay đã khác. Sau khi tiếp thu mà chẳng cần bàn giao, nếu Hà Nội chú ý đến ký ức tập thể của miền Nam thì đã gặp gỡ những người có trách nhiệm trong Nam với tinh thần thực sự là dân tộc trên hết. Khi ấy, họ đã học được kinh nghiệm quản trị kinh tế và xã hội, lẫn kinh nghiệm giao tiếp với Hoa Kỳ, hay cả kinh nghiệm đối ngoại - với cả Trung Quốc.
Khi ấy, chưa chắc đã có cuộc chiến Hoa-Việt năm 1979 và chắc chắn là không có sự lụn bại ngày nay trước thế lực Bắc Kinh.
Hà Nội có tập trung những người ở trong phe chiến bại thật. Nhưng để "cải tạo" họ mà thực chất là để tự ca tụng! Lãnh đạo mê muội ấy đầy ải người dân trong Nam rồi tịch thu sách báo, giam cầm trí thức để rơi vào chân không.... Họ thủ tiêu ký ức và bần thần - rồi nói phét - trước các vấn đề vượt quá khả năng hiểu biết và ứng xử. Họ gây ra khủng hoảng, đổ thêm xương máu của thanh niên cho chiến tranh và mất mấy thập niên học cách xoay trở với những bài toán mới.
Ngày nay, cách xoay trở mà trên dưới đều thuộc là ăn cắp. Và cách tồn tại mà lãnh đạo đang áp dụng là bán nước.
Đâm ra, Lễ Độc Lập của Mỹ cũng là dịp ta suy nghiệm về thực tế nô lệ của Việt Nam!

NGUYỄN XUÂN NGHĨA

Thursday, July 2, 2009

Các hiểm họa từ thượng nguồn sông Cửu Long



Các hiểm họa từ thượng nguồn sông Cửu Long đang đổ xuống có khả năng từ từ dìm Cà Mau và duyên hải Nam Việt xuống biển, ép nước mặn lấn dần vào sâu trong châu thổ sông Cửu Long, và ngăn chặn tôm cá đi đi về về sinh sản tại hạ nguồn. Ô nhiễm từ kỹ nghệ quặng mỏ Vân Nam sẽ theo dòng nước đổ xuống, những hồ chứa nước, đập thủy điện khổng lồ và khai thác quặng mỏ ở thượng nguồn sẽ còn là những mối hiểm họa ghê gớm, có khả năng gây sóng thần tràn ngập lưu vực và gây tê liệt vựa lúa Việt Nam nếu việc quản lý có sự tắc trách vô tình hoạc cố ý. Việc gia tăng sử dụng than đá và phát triển kỹ nghệ luyện kim trên Vân Nam sẽ tăng độ ô nhiễm không khí; ô nhiễm này sẽ lan rộng và tỏa xuống Bắc Việt theo gió mùa không ngăn cản được.

Sông Mekong từ Tây Tạng chảy qua sáu nước, do đó vừa là phương tiện giao thoa của nhiều nguồn văn hóa ngôn ngữ, có thể mang lại tình hữu nghị và cũng là mối tranh chấp quyền lợi. Mekong là mạch máu chính và cũng là dòng sữa mẹ cưu mang hàng chục triêụ ngư dân và nông dân, có các nền văn minh lâu đời đa dạng, là nơi ẩn trú và sinh tồn của hàng chục ngàn giống loài, trăm ngàn thảo vật rất hiếm qúy. Mekong vẫn còn là nơi tiếp tục cống hiến những phát hiện mới góp phần làm phong phú cho kho tàng sinh học của nhân loại [1].

Tương lai của lưu vực sông Mekong, và vì thế nhất là của Việt Nam tại cuối nguồn, sẽ lệ thuộc nặng nề vào chính sách phát triển của các nước thượng nguồn nhất là Trung Quốc. Hiện nay Trung Quốc với 1,3 tỉ dân số đang mắc vào nạn hạn hán và sa mạc hóa trầm trọng lan rộng trên lành địa của họ. Sông Songhua, hằng mang nước về cho dân cư Hoa Bắc nay đã khô cạn. Nửa tỉ người sống từ Mông Cổ đến Tân Giang (Xinjiang) đang mất dần nước dùng; có đến 400 trong số 668 thành phố đang thiếu nước sinh hoạt. Chỉ cách Bắc Kinh 70 cây số, đã có những trận bão cuốn cát vàng (hoàng thổ) từ sa mạc Mông Cổ Gobi thổi về bao phủ cả thành phố và làng mạc; có những đụn cát nổi lên cao đến 100 mét tiến về hướng kinh đô với vận tốc 5 mét mỗi năm. Tại Hà Bắc một đoạn của Vạn Lý Trường Thành bỗng nhiên ngoi lên từ đáy hồ cạn Phan Gia Khẩu (Pan Jiakou) [2].

World Bank dự dự đoán rằng hai phần ba sản xuất nông nghiệp của cả Trung Quốc là nằm ở Hoa Bắc lại là nơi không đủ nước dùng, đến năm 2050 thu hoạch ngũ cốc sẽ giảm mất 7% [3]. Trung Quốc đã bơm nước từ Hoàng Hà lên cứu Hoa Bắc, hậu quả việc này là 226 ngày trong năm 1997 nước Hoàng Hà không còn chảy được tới biển. Trung Quốc đang lập kế hoạch chuyển 45-60 tỉ mét khối nuớc từ Dương Tử từ phía Nam lên lưu vực Hoàng Hà. Dự án vĩ đại này tốn khoảng US$30 tỉ [4], hơn cả đập Tam Giáp; mà Tam Giáp vốn là một công trình
xây cất lớn bậc nhất của nhân loại. Trung Quốc đã để dân số tăng quá nhanh, chăn nuôi quá sức chịu đựng của đất đai, và khai thác rừng quá sức phục hồi của tạo hóa [2]. Sau 50 năm, Hoa Bắc đã rơi vào thảm trạng bi đát, đến nỗi châu thổ Hoàng Hà -cái nôi của nền văn minh Trung Quốc- đã bị hy sinh.

Bây giờ, không thể tránh được nữa, Mekong với tiềm năng 71 triệu kW [5] tuy ở phương Nam nay đã thành mục tiêu khai thác chiến lược của Trung Quốc. Liệu Trung Quốc có quan tâm gì về hạ nguồn để tránh cho sông Mekong khỏi rơi vào cùng số phận với sông Hoàng Hà hay không? Liệu biển hồ Tonle Sap, Ðồng Tháp Mười và châu thổ sông Mekong có tránh khỏi phải đón nhận các chất thải kỹ nghệ độc hại như cyanide, arsenic, acid vốn có từ các quặng mỏ từ
Vân Nam chảy về hủy hoại hệ sinh thái của họ hay không? Phù sa có còn đủ để bồi đắp cho duyên hải Cà Mâu và đem dinh dưỡng giữ cho thủy hệ biển Ðông được tồn tại hay không?

Hiện nay việc khai thác tiềm năng thủy điện và chứa giữ nước từ Lạn Thương giang (Lancang) thượng nguồn Mekong, tại Vân Nam đã được tiến hành đại quy mô và với tầm vóc kỷ lục thế giới. Họ đã thực hiện xong các đập thủy điện lớn ngang dòng chính như Mãn Loan (Manwan) 1500 MW và Ðại Chiếu Sơn (Dashaohan) 1350 MW [6]. Bốn nước Trung Quốc, Thái, Miến, Lào đã thỏa thuận sẽ phá các cù lao đảo, vét lòng sông và mở rộng ghềnh thác cho tàu bè trọng tải 500 tấn có thể đi từ hải cảng Simao xuống tận Chiang Khong/Chang Sean, Thái Lan [7] [8]. Trung Quốc sắp khai dựng thêm đập Hiếu Loan (Xiaowan) 4200 MW, cao gần 300 m, cao bằng các toà nhà chọc trời 100 tầng [9]. Họ còn các dự án lớn khác nữa như Nuozhadu (5500MW), Mengsong và Gongguoqiao [14]. Như thế họ sẽ tận dụng hết các tiềm năng Lạn Thương giang trên Vân Nam để phục vụ việc khai thác quặng mỏ nói trên. Lào cũng không kém nỗ lực, họ đã chận ngang hầu hết những sông nhánh của Mekong như Nam Ngum, Nam Thuen, Nam Leuk, Houay Ho trên lành thổ họ. Họ vừa phá rừng lấy gỗ, làm hồ giữ nước, làm điện bán cho kỹ nghệ Thái [10] . Lào lại đang dự định cho công ty Oxiana của Úc vào khai mỏ vàng và đồng tại
Sepon; và Lào đã cấp 40 giấy phép khai mỏ khác đang chờ vốn đầu tư vào khai thác [11] [12]. Thái Lan cũng đã thực hiện xong đập Pak Mun, và có tham vọng hàng năm sẽ chuyển 8 tỉ mét khối nước sông Mekong khỏi dòng chính để biến sa mạc Ðông Bắc Thái thành vùng canh tác mới.

Từ kinh nghiệm 50 năm qua của nhân loại về thủy điện trên các dòng dông quốc tế như Danube, Colorado, Columbia, Nile, Missisippi, Hoàng Hà, Dương Tử thì những công trình thủy điện tuy đã giúp phát triển tiện nghi, đem lại ánh sáng, dẫn thủy nhập điền, và nâng cao đời sống hàng trăm triệu người nhưng cũng có khả năng tác hại nặng nề trên nguồn thực phẩm và kế sinh nhai của hàng chục triệu người khác. Chúng thay đổi hoàn toàn chế độ thủy vận
trên toàn lưu vực, và gây nguy hiểm ghê gớm cho hệ sinh thái hạ nguồn [13].

Tại Côn Minh, Vân Nam, hồ Điền Trì (Dianchi), lớn hàng thứ sáu của TQ, đã bị ô nhiễm nặng nề vì nước thải từ các nhà máy luyện kim, nông nghiệp và sinh hoạt dân cư. Theo tường trình tháng 4, 2000 của Sứ Quán Hoa Kỳ tại Bắc Kinh: TQ đã tốn trên US$2 tỉ để làm sạch, nhưng theo WB ô nhiễm vẫn không thuyên giảm vì vẫn TQ không kiểm soát hết được các nguồn chảy. Tại Dali cũng thế, Nhĩ Hải (Erhai), nơi khởi thủy của truyền thống dạy chim cormorant bắt cá

-hồ lớn thứ bảy của TQ- với dung tích 3 tỉ mét khối do 120 con sông ô nhiễm đổ vào. Hồ này không bị tù hãm như hồ Điền Trì nhờ chảy ra sông Xier, và Xier lại chảy ngay vào sông Mekong để đổ xuống hạ nguồn mà ra biển.

Các hồ nước lớn chặn hết khả năng chuyển tải phù sa, ngăn trở cá không lội ngược về nguồn sinh sản dần dần đi đến tuyệt chủng, phá mất đi diện tích lớn rừng già, nơi trú ngụ của hoang thú. Việc điều hòa lưu lượng sông làm giảm ngay diện tích vùng lụt nước theo muà (seasonally flooded area), vốn nhờ vào đó mà hàng năm tôm cá sinh sản và dân cư tìm được thực phẩm. Ðồng bằng hạ nguồn sẽ thiếu hụt phù sa để bón ruộng, thiếu dinh dưỡng nuôi phiêu sinh vật và thu hoạch hải sản sẽ sa sút. Duyên hải thiếu đất bồi và sóng biển sẽ ăn vào thềm lục địa. Nước mặn sẽ lấn sâu hon vào đất liền và việc canh tác trên châu thổ sẽ không còn thực hiện tốt lành được. Những nghiên cứu khoa học về các hậu quả kinh nghiệm này ngày càng hiện rõ và phổ quát.

Ở hạ lưu Mekong, trên 10 triệu dân nghèo hai nước Cam Bốt và Việt Nam vẫn phải sống nhờ vào phù sa và thủy sản của dòng sông này, chúng ta cần phải tự hỏi mình rằng: Sẽ phải hứng chịu những ảnh hưởng gì trước những biến đổi to lớn đang dồn dập trên thượng nguồn như thế?

Lịch sử cho thấy môí căng thẳng giữa các quốc gia nằm chung lưu vực những dòng sông lớn thường bùng nổ thành các cuộc tranh chấp lớn trên thế giới: Giữa Ai Cập và Sudan-Ethiopia trên sông Nile; Israel và Jordan trên sông Jordan vùng Ðịa Trung Hải; giữa Turkey và Syria-Irak trên sông Euphrates vùng vịnh Persian, giữa India và Bangladesh trên sông Ganges, giữa
Parkistan và India trên sông Indus [4].

Vấn đề khai thác các dòng sông lớn là vấn đề còn nan giải giữa nhiều dân tộc, Mekong và nhân loại không thể ngừng lại trước trở ngại và để lịch sử tái diễn như vậy mà phải tìm phương cách giữ hoà bình, giảm thiểu tai hại và chia sẻ phúc lợi công bình cho toàn lưu vực. Hội Ðồng Liên Hiệp Quốc (UN) đã bỏ ra 20 năm để soạn thảo ra bộ một luật thông qua vào tháng 5 năm
1997: "United Nations Law of the Nongaginational Uses of International Watercourses" cho cả thế giới trong đó có ba nước bỏ phiếu chống là Burundi, Turkey và Trung Quốc [4]. Gần hơn nữa, World Bank và International Union Conservation Network (IUCN) đã thành lập và tài trợ cho World Commission on Dams (WCD) thực hiện một công trình nghiên cứu để tìm giải
pháp chung. Sau bốn năm, những chuyên gia khoa học kỹ thuật và chính khách nổi danh trên khắp thế giới do WCD quy tụ đã hoàn thành bản tường trình và đưa ra những khuyến cáo được UNEP, ADB và nhiều nước đón nhận như kim chỉ nam cho tương lai khai thác thủy điện.
Việt Nam cũng như tất cả các nước Mekong đều trong nằm tình trạng thiếu thốn năng lượng gay go không khác Trung Quốc hay Thái Lan; nên việc phát triển tiềm năng thủy và điện Mekong vì nhu cầu phúc lợi không thể tránh nhưng cần phải vô cùng nghiêm túc. Việt Nam và Cam Bốt là các nước cuối nguồn, sẽ phải gánh chịu hầu hết mọi thiệt thòi do khai thác thượng nguồn gây ra, nếu các nước thượng nguồn không nghiên cứu tác động cho toàn lưu vực, không thực nhiện những biện pháp an toàn cho hạ nguồn.

Tây Tạng và cả sáu chính phủ Mekong từ đâu nguồn đến cuối nguồn phải ngồi chung lại trên một bàn họp nhìn nhận nhau là những thành viên cốt yếu cùng chung sống trong một lưu vực lớn, sẽ cùng nhau phát triển tài nguyên dòng sông này trên căn bản bền vững và công bằng cho toàn lưu vực. Mekong sẽ không thể mang hiểm họa mà phải là dòng sữa mật ngọt ngào cho cả 100 triệu dân cư trong lưu vực.

Hợp tác cả sáu nước lại sẽ tạo nền hòa bình thịnh vượng trong vùng và gìn giữ kho tàng thiên nhiên lâu bền cho đời sau. Ngày nay Mekong tương đối vẫn còn trinh nguyên khi các dòng sông lớn khác trên toàn cầu đều đã bị khai thác hủy hoại nặng. Các dân tộc lưu vực Mekong có một sứ mạng và cơ hội giữ lại cho loài người một kho tàng sinh thái to tát cho mình và cho cả nhân loại.

Kỹ Sư Phạm Phan Long
Nguồn :
kimchivuong@hotmail.com

Chiến dịch “Hãy cứu sông Mekong”: Mekong đang bị bức tử !

Sơ đồ các vị trí sẽ xây đập thủy điện ở Thái Lan, Lào, Campuchia - Ảnh: SMC
Nằm ở cuối dòng sông Mekong, VN sẽ hứng chịu nhiều nguy cơ lớn nếu 11 con đập thủy điện trên dòng sông này tại Thái Lan, Lào, Campuchia được xây dựng.

Cứu lấy sông Mekong

Sông Mekong đang bị đe dọa. Đó là thông điệp đầu tiên mà Liên minh cứu trợ sông Mekong (Save the Mekong Coalition - SMC) đưa ra để nói về việc chính phủ các nước Thái Lan, Lào, Campuchia lên kế hoạch xây dựng 11 đập thủy điện trên dòng chảy chính của con sông chảy xuyên Đông Nam Á này.

Trong số này, 7 điểm dự tính xây đập thủy điện là ở Lào, 2 ở biên giới Thái-Lào và 2 ở Campuchia. Và nếu sông Mekong bị chặn, nó sẽ ảnh hưởng đến sự di cư của các loài thủy sinh vật, tác động đến dòng chảy tự nhiên và đặt hàng triệu người sống phụ thuộc vào sông Mekong vào tình thế nguy cấp về lương thực và thu nhập. Bà Premrudee Daorung, đồng Giám đốc Quỹ Phục hồi sinh thái đặt tại Bangkok, cho phóng viên Báo Thanh Niên hay các dự án thủy điện trên chưa được xây dựng nhưng một số dự án đã bắt đầu quá trình tìm thị trường.

Sông Mekong cung cấp một lượng thủy sản nước ngọt thuộc loại lớn, nuôi sống khoảng 60 triệu người, theo số liệu của SMC. Sản lượng thủy sản ở khu vực này đem lại khoảng 3 tỉ USD/năm. Sông Mekong còn sở hữu sự đa dạng thủy sinh học lớn thứ 2 trên thế giới, sau sông Amazon ở Nam Mỹ. Trong đó có 2 loài trong diện bị đe dọa và có nguy cơ tuyệt chủng là cá tra dầu khổng lồ và cá heo nước ngọt Irrawady.
Chưa kể khi lượng nước từ thượng nguồn đổ về hạn chế thì nước biển từ ngoài sẽ xâm thực vào, cộng với việc nước biển dâng cao do tình trạng Trái đất ấm dần lên sẽ làm đất ở ĐBSCL bị ngập mặn

Tiến sĩ Ngô Xuân Quảng, quyền Trưởng phòng Công nghệ & Quản lý môi trường thuộc Viện Sinh học Nhiệt đới VN

Cũng theo bà Premrudee, nguy cơ đầu tiên mà sông Mekong có thể hứng chịu nếu dòng chảy chính bị chặn đó là sự di cư của các loài thủy sinh vật. Cụ thể, tại biển hồ Tonle Sap ở Campuchia, 70% thủy sinh vật thường di cư ngược dòng Mekong lên hướng Lào và ngược lại. Và nếu dòng Mekong bị chặn, sự di cư của các loài thủy sinh vật bị ảnh hưởng, kéo theo tác động đến cuộc sống của hàng triệu người sống phụ thuộc vào dòng sông này. Tại khu vực hạ Lào và Campuchia, có 5 vị trí mà người ta dự định xây dựng đập thủy điện. Theo bản đồ của SMC, nhiều đập nước ở vùng thượng lưu sông Mekong bên phía Trung Quốc đã, đang và sắp được xây dựng. Tuy nhiên, chiến dịch kêu gọi lần này chỉ thấy gói gọn trong các nước trong khu vực Đông Nam Á.

Từ tháng 3.2009, một chiến dịch đã được SMC khởi xướng bằng cách thu thập hàng ngàn chữ ký trên các bưu thiếp mang thông điệp cứu sông Mekong. Tính đến nay, 16.380 chữ ký đã được thu thập, trong đó có 4.015 chữ ký trên mạng. Các nước trong khu vực sông Mekong chảy qua (bao gồm Trung Quốc, Myanmar, Lào, Thái Lan, Campuchia và VN) thu thập được 11.757 chữ ký. Tất cả những chữ ký này sẽ được gửi đến chính phủ các nước Thái Lan, Lào, Campuchia và VN như một kiến nghị thư kêu gọi hãy để dòng Mekong được chảy tự do vì cuộc sống hôm nay và mai sau. Từng ấy chữ ký tuy chưa nhiều, nhưng theo bà Premrudee, đó là bước khởi đầu để bảo vệ con sông.

VN bị ảnh hưởng

Đoạn cuối của dòng Mekong chảy qua đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) ở VN trước khi chia làm 9 nhánh đổ ra biển. Không có một dự án đập thủy điện nào tại khu vực này nhưng VN cũng sẽ gặp nhiều nguy cơ nếu dòng Mekong bị chặn.

Có mặt tại buổi lễ phát động chiến dịch “Hãy cứu sông Mekong” tại Bangkok hôm 18.6, Tiến sĩ Ngô Xuân Quảng, quyền Trưởng phòng Công nghệ & Quản lý môi trường thuộc Viện Sinh học nhiệt đới VN, trao đổi kỹ hơn với phóng viên Thanh Niên về vấn đề này.

Ông Quảng nói nguy cơ mà VN gặp phải là rất lớn vì nước ta ở cuối dòng của sông Mekong, gần như sẽ chịu tất cả mọi tác động từ thượng nguồn. ĐBSCL trù phú được như hiện nay, với sản lượng lớn về gạo và thủy sản, là nhờ vào dòng sông này. Nếu dòng sông bị ngăn đập thì hạn chế đầu tiên là nước. Thứ nhất, phù sa cung cấp hằng năm cho ĐBSCL sẽ giảm. Đất ruộng cũng sẽ bị axít hóa nếu thiếu nước rửa phèn. Lượng cá từ thượng nguồn đổ về cũng sẽ ít đi, ảnh hưởng đến bà con sinh sống bằng nghề đánh bắt thủy sản, buộc họ phải chuyển nghề.

“Đó là chưa kể khi lượng nước từ thượng nguồn đổ về hạn chế thì nước biển từ ngoài sẽ xâm thực vào, cộng với việc nước biển dâng cao do tình trạng Trái đất ấm dần lên sẽ làm đất ở ĐBSCL bị ngập mặn”, ông Quảng giải thích.

Các tác động tiềm ẩn của việc chặn dòng sông Mekong cũng có thể kể đến như việc làm biến đổi dòng chảy, phá vỡ hệ sinh thái và làm sụt lún, xói lở ven bờ, đáy sông bị tụt xuống cũng khiến các mạch nước ngầm bị đẩy xuống sâu hơn. Nguồn nước cung cấp cho cư dân khi đó sẽ thiếu, theo ông Quảng.

Tuy nhiên, ở VN, chiến dịch cứu sông Mekong có vẻ như chưa được tuyên truyền sâu rộng. Nếu như ở Campuchia có 2.673 người tham gia ký tên kêu gọi bảo vệ dòng Mekong, ở Lào là 611 và ở Thái Lan là 7.756 thì ở VN chỉ có 337 chữ ký (trong đó trên mạng là 97 chữ ký). Tác động của việc ngăn dòng chảy sông Mekong, thiết nghĩ, cần được sự quan tâm sâu rộng hơn nữa.

Cá heo sông Mekong sắp tuyệt chủng

Quỹ Bảo tồn thiên nhiên thế giới (WWF) vừa cho hay loài cá heo nước ngọt Irrawaddy ở sông Mekong có nguy cơ sắp tuyệt chủng khi số lượng cá thể loài này chỉ còn từ 64 đến 76, theo AFP. Nguyên nhân dẫn đến mối nguy này được cho là các chất độc được thải trên sông. Trong hơn 50 cá thể chết từ năm 2003, người ta đã tìm thấy dư lượng thuốc trừ sâu, thủy ngân và các chất ô nhiễm khác trong cơ thể chúng. WWF cũng tin rằng mức độ thủy ngân cao được tìm thấy trong cơ thể những con cá heo chết có thể xuất phát từ các hoạt động đào vàng. Cá heo Irrawaddy sinh sống tập trung ở khu vực sông Mekong đoạn giữa Lào và Campuchia

Việt Phương (tường thuật từ Bangkok)
20/06/2009 0:22
Nguồn :
hinh@hinhtran.com

Wednesday, July 1, 2009

Những chương bi thảm

Như chúng tôi từng đã nói, trong cuộc chiến Việt Nam, sự “đồng minh” giữa đảng CSVN và đảng CSTQ cũng như sự “đồng minh” giữa VNCH và Hoa Kỳ đều mang nhiều chương bi thảm. Những chương bi thảm trong quan hệ Việt - Trung đã được mô tả khá rõ nét trong tập “Sự Thật Về Quan Hệ Việt Nam - Trung Quốc Trong 30 Năm Qua” do Bộ Ngoại Giao Hà Hội xuất bản năm 1979. Trái lại, những chương bi thảm trong quan hệ Việt – Mỹ chỉ được giải mã dần qua thời gian.

Mới đây, hôm 23.6.2009, Văn Khố Quốc Gia (National Archives) Hoa Kỳ đã công bố những cuốn băng ghi âm dài hơn 150 giờ về các cuộc đối thoại của cựu Tổng thống Nixon, trong đó ông chỉ trích giới truyền thông và Quốc hội Hoa Kỳ đã hủy hoại những nỗ lực cứu vãn cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Đặc biệt, để ép buộc Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu phải ký vào hiệp định ngưng chiến do Mỹ và Hà Nội soạn thảo, ông nói nếu ông Thiệu không chịu ký, ông sẵn sàng "cắt đầu y nếu cần thiết" (cut off his head if necessary). Ông đã yêu cầu Ngoại Trưởng Kissinger nói với Tổng Thống Thiệu rằng Quốc Hội Mỹ sẽ cắt viện trợ nếu Sài Gòn không đồng ý với kết quả hòa đàm.

Thật ra, đây chỉ là phần thứ hai của bộ tài liệu nói về kế hoạch tiến tới chấm dứt chiến tranh Việt Nam của Hoa Kỳ. Phần thứ nhất đã được Văn Khố An Ninh Quốc Gia (National Security Archive) của Hoa Kỳ công bố ngày 26.5.2006 gồm 2.100 bản văn (memoranda) dài 28.000 trang mang tên “The Kissinger Transcripts: A Verbatim Record of U.S. Diplomacy, 1969-1977” (Bản chép lời của Kissinger: Một hồ sơ đúng nguyên văn của ngành Ngoại Giao Hoa Kỳ, 1969 – 1977). Tài liệu này đã được chúng tôi tóm lược và phân tích trong bài “Chuyện hồ sơ Kissinger” phổ biến ngày 16.6.2006.

Những chương bi thảm về quan hệ Việt – Mỹ không phải mới khởi sự từ khi Mỹ muốn chấm dứt chiến tranh Việt Nam mà khởi sự từ khi Mỹ quyết định nhảy vào Đông Dương thay Pháp, nhất là kể từ thời kỳ Tổng Thống Kennedy trở đi. Vụ Tổng Thống Nixon đòi “cắt đầu” Tổng Thống Thiệu cũng chỉ là một sự tái diễn những gì đã xẩy ra trước đó. Phải nhìn lại những diễn biến lịch sử này chúng ta mới có thể rút ra được những bài học lịch sử.

BỘ THUỘC ĐỊA VÀ TOÀN QUYỀN ĐÔNG DƯƠNG

Ngày xưa, người Pháp đến đô hộ miền Nam và “bảo hộ” miền Bắc và Miền Trung Việt Nam đều có ký hiệp ước với Triều Đình Huế. Đến năm 1887, Pháp kết hợp Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ và Cao Miên lại thành Liên Bang Đông Dương (Union Indochinoise) do một Toàn Quyền Đông Dương (Gouverneur Général de l’Indochine) ở Hà Nội cai trị và đặt dưới quyền của Bộ Thuộc Địa (Minstère des Colonies).

Tuy chính phủ Mỹ không hề ký với các chính phủ Việt Nam một hiệp ước nào về quyền “đô hộ” hay “bảo hộ” như chính phủ Pháp trước đây, nhưng Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã tự động biến thành Bộ Thuộc Địa để áp đặt mọi chính sách và đường lối của Hoa Kỳ lên trên miền Nam và một vài Đại Sứ Mỹ tại Sài Gòn đã tự coi mình như Toàn Quyền Đông Dương hay Cao Ủy Mỹ tại Đông Dương, thường được người Việt gọi là “Quan Thái Thú”. Trạm CIA (CIA Station) tại Tòa Đại Sứ Mỹ ở Sài Gòn đã hoạt động gióng hệt Sở Mật Thám hay Sở Liêm Phóng Đông Dương (Service de Sureté Généralle de l’Indochine) của Pháp ngày xưa! Các Lãnh Sự Mỹ ở tỉnh cũng đóng vai trò của các Công Sứ Pháp.

Dưới thới Tổng Thống Eisenhower, ông Elbridge Durbrow khi làm Đại Sứ Mỹ tại VNCH (1957 – 1960), đã tự coi mình là Toàn Quyền Đông Dương, buộc Tổng Thống Ngô Đình Diệm phải thi hành các chỉ đạo của ông mới được nhận viện trợ. Nhưng Washington không đồng ý với nhiều chủ trương và cách thức hành động của ông, nên ông chưa làm gì được thì đến cuối năm 1960 ông đã bị thay thế vì có liên hệ đến cuộc đảo chánh ngày 11.11.1960.

Đến thời Tổng Thống Kennedy, Averell W. Harriman, đã trở thành một con người có thế lực nhất ở Washington vì được Tổng Thống Kennedy tin cậy nhất, mặc dầu ông ta chỉ là Phụ Tá Ngoại Giao về Đông Nam Á Sự Vụ và sau đó trở thành Thứ Trưởng Ngoại Giao đặc trách về Chính Trị Sự Vụ. Ông nghiễn nhiên trở thành Bộ Trưởng Bộ Thuộc Điạ khi Tổng Thống Kennedy quyết định “trung lập hóa” Lào để giải quyết cuộc chiến Việt Nam và giao cho ông thi hành quyết định này. Khi giải pháp “trung lập hóa” Lào bị thất bại thê thảm, ông quyết định lật đổ ông Diệm và đề nghị Tổng Thống Kennedy đưa ông Henry Cabot Lodge đến Sài Gòn làm Toàn Quyền Đông Dương để thực hiện chủ trương này.

Sau khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị giết, miền Nam gần như không còn chủ quyền nữa.

Sau đây là những sự kiện chính có thể giúp chúng ta hiểu rõ chính sách của Hoa Kỳ trong cuộc chiến Việt Nam hơn.

BỘ TRƯỞNG THUỘC ĐỊA HARRIMAN

Trước khi nhận chức Tổng Thống, ngày 19.1.1961 ông Kennedy đã họp với Tổng Thống Eisenhower để nghe trình bày vấn đề Đông Dương. Tổng Thông Eisenhower nói rằng Lào là mấu chốt của toàn bộ khu vực Đông Nam Á. Nếu Lào sụp đổ, cả khu vực sẽ sụp đổ. Nhưng sau khi nhận chức Tỗng Thống, ông Kennedy đã hành động theo cảm tính. Ông nói ông không muốn là kẻ thừa kế chính sách Đông Nam Á của Tổng Thống Eisenhower. Ông thích một giải pháp ngoại giao hơn là quân sự. Ông ra lệnh cho Harriman tìm cách “trung lập hoá” Lào bằng mọi giá với sự tin tưởng rằng sau khi Lào trở thành trung lập, Cộng Sản Bắc Việt sẽ không còn đường xâm nhập miền Nam nữa!

Ngày 16.5.1961 Hội Nghị Quốc Tế Giải Quyết Vấn Đề Lào được tổ chức tại Genève.

1.- Cãi lộn với ông Ngô Đình Nhu

Tháng 7 năm 1961, hoàng tử nước Moroco là Moulay Hassan lên ngôi kế vị cha, được gọi là Hoàng Đế Hassan II. Nhân dịp này, Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã cử ông Ngô Đình Nhu, Cố Vấn Chính Trị của Tổng Thống, đại diện chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đi dự lễ đăng quang này với mục đích tạo cơ hội cho ông ghé Genève thảo luận với ông Harriman về vấn đề trung lập Lào. Ông Nhu đã ghé qua Pháp rồi cũng Giáo sư Bửu Hội đến Rabat dự lễ. Sau đó ông trở lại Pháp rồi cùng ông Cao Xuân Vỹ và người con gái là cô Ngô Đình Lệ Thủy đền Genève gặp Harriman đang tham dự hội nghị trung lập Lào tại đây.

Ông Cao Xuân Vỹ tường thuật lại rằng, theo chương trình, ông Harriman chỉ chịu tiếp ông Nhu trong vòng nửa tiếng. Ông Vỹ và cô Ngô Đình Lệ Thủy không được tham dự. Nhưng cuộc nói chuyện đã kéo dài đến 3 tiếng đồng hồ. Khi Harriman tiển ông Nhu đi ra cửa phòng, ông thấy mặt hại người đều hầm hầm. Sau đó, ông Nhu có than phiền với ông Vỹ: “Thằng cha này chẳng hiểu gì hết!”. Ông Vỹ hiểu rằng Harriman không chịu bỏ chủ trương trung lập hóa Lào. Trong buổi ăn tối, ông Nhu đã tiết lộ hai điểm rất quan trọng nói lên sự ngạo mạn của Harriman:

Điểm thứ nhất: Harriman cho rằng Việt Nam chưa bằng California, thế mà người Mỹ còn mua California được, miền Nam Việt Nam không nghĩa lý gì!

Điểm thứ hai: Harriman khẳng định rằng vấn đề Lào là vấn đề riêng giữa chính phủ Mỹ và chính phủ Lào, vấn đề này không liên hệ gì đến VNCH. Chính phủ VNCH cứ lo vấn đề Việt Nam đi, đừng can thiếp vào vấn đề Lào.

Ông Nhu trả lời rằng vấn đề Lào liên quan đến sự tồn vong của Miền Nam Việt Nam nên chính phủ Miền Nam phải quan tâm, nhưng Harriman gạt đi.

2.- Đe doạ Tổng Thống Diệm

Vì có sự bất đồng giữa Harriman và ông Ngô Đình Nhu, ông Diệm đã rút phái đoàn VNCH khỏi hội nghị Genève. Trung tuần tháng 9 năm 1961, Harriman phải đích thân đến Sài Gòn để thảo luận với các viên chức Hoa Kỳ và chính phủ Ngô Đình Diệm về giải pháp trung lập hoá Lào. Một cuộc họp đã diễn ra ngày 20.9.1961 tại một căn phòng nhỏ tại Dinh Gia Long. Ông Diệm trình bày qua một thông dịch viên. Ông giải thích cho Harriman một cách thẳng thắn tại sao ông không tin tưởng Cộng Sản sẽ thi hành hiệp ước sau khi đã ký. Tuy nhiên, Harriman đã không thèm nghe và nhắm mắt lại. Ông xem ra đang ngủ. Ông Diệm chú ý đến thái độ này và hơi bực mình, nhưng vẫn tiếp tục độc thoại.

Đại Sứ Nolting ngồi gần Harriman trên một cái sofa, nhận thấy rằng ông ta đang trải qua một giấc mơ dài và mệt mỏi. Ông cố gắng làm cho ông ta chú ý. Cuối cùng, Harriman gắt gỏng:

“Thưa Tổng Thống, tôi có “cảm nghiệm tường tận” (fingertips feeling) rằng Liên Sô sẽ thi hành các thỏa ước này và làm cho những người khác tuân theo thỏa ước đó. Tôi không thể đưa ra cho ngài bất cứ bảo đảo nào, nhưng có một điều rõ ràng là: nếu ngài không ký hiệp ước này, ngài sẽ mất hết viện trợ. Ngài phải chọn.”

Sau đó, Harriman trở lại Genève.

Ngày 22.6.1962, chính phủ liên hiệp Lào được thành lập gồm 3 chính đảng: trung lập 7 ghế, phe Phoumi 4 ghế, phe Pathet Lào 4 ghế và 4 ghế dành cho những người không thuộc đảng phái nào. Đây là chính phủ liên hiệp thứ hai của Lào.

Ngày 23.7.1962, Hiệp Ước Hòa Bình tại Lào đã được ký kết. Có 14 quốc gia đứng ra bảo đảm sự trung lập của Lào. Các cố vấn quân sự của Hoa Kỳ được lệnh rút ra khỏi Lào. Nhưng sau đó, 7.000 quân của CSBV chẳng những không rút lui mà còn tăng cường thêm. Họ đã xử dụng một cách tự do con đường Tây Trường Sơn trên đất Lào để xâm nhập vào miền Nam, Mỹ phải can thiệp trở lại.

3.- Quyết định lật đổ ông Diệm

Ông Frederick Nolting, cựu Đại Sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Cộng Hòa, ghi rõ trong cuốn “From Trust to Tragedy” như sau:

“Âm mưu “trung lập hóa” Lào của ông ta (Harriman) là một sự thất bại thê thảm, và sự thù nghịch ngày càng gia tăng của ông với Tổng Thống Ngô Đình Diệm và gia đình của ông ta, trở thành một yếu tố chủ yếu trong việc lật đổ ông Diệm. Tuy nhiên, thanh thế và ảnh hưởng của Harriman ở Washington lớn đến nổi trở thành quyết định trong các hành động cốt yếu mà chính phủ chúng ta đã thực hiện trong năm 1963.”

4.- Nhìn vào việc người

Trong cuốn hồi ký mang tên “The memoirs of Richard Nixon”, Tổng Tống Nixon có kể lại rằng khi đến Pakistan, ông gặp lại người bạn cũ là Tổng Tống Ayub Khan. Tổng Thống Khan đã nói một cách đau buồn về việc hạ sát Tổng Tống Ngô Đình Diệm:

“Tôi không thể nói – lẽ ra các ông đừng bao giờ ủng hộ ông Diệm ngay từ đầu. Nhưng các ông đã ủng hộ ông ta trong một thời gian dài và mọi người ở Á Châu đều biết điều đó. Dù họ có tán thành hay không tán thành điều đó, họ biết điều đó. Rồi đột nhiên các ông ngừng ủng hộ ông ta – và ông Diệm đã bị giết.” Ông ta lắc đầu và kết luận: “Việc hạ sát ông Diệm có ba ý nghĩa đối với các nhà lãnh đạo Á Châu: làm một người bạn với Hoa Kỳ là nguy hiểm; trung lập phải trả cái giá của nó; và đôi khi làm kẻ thù (của Hoa Kỳ) lại tốt hơn! Lòng tin cậy như một sợi chỉ mong manh và một khi nó đã đứt, rất khó mà nối lại.”

Mặc dầu biết như vận, sau này ông Nixon cũng làm gióng hệt chính phủ Kennedy.

5.- Kennedy quay ngược lại và bị giết

Sau khi lật đổ và giết ông Diệm, Tổng Thống Kennedy không còn tin tưởng vào cuộc chiến thắng tại miền Nam Việt Nam. Trong cuộc họp báo ngày 14.11.1963, Tổng Thống hỏi: “Bạn có chào thua tại miền Nam Việt Nam không?” Rồi ông tự trả lời câu hỏi của chính mình: “Chương trình quan trọng nhất, dĩ nhiên là cho nền an ninh của chúng ta, nhưng tôi không muốn Hoa Kỳ đưa quân tác chiến sang đó.” Sau đó ông nói: “Giờ đây mục tiêu của chúng ta là đưa quân nhân Hoa Kỳ về nước, cho phép Việt Nam tự duy trì lấy nước mình như là một quốc gia độc lập.”

Trong khi đó, các thế lực tư bản đứng đàng sau đang làm mọi cách để mở rộng chiến tranh và đổ quân vào Việt Nam. Vì thế, Tổng Thống Kennedy đã bị giết ngày 23.11.1963 tại Dallas.

BỘ TRƯỞNG THUỘC ĐỊA KISSINGER

1.- Những lời tiên đoán

Chúng tôi xin nhắc lại, trong công điện gởi cho Bộ Ngoại Giao lúc 2 giờ chiều ngày 7.9.1963, Đại Sứ Cabot Lodge có kể lại lời ông Ngô Đình Nhu đã nói với ông như sau:

“Tôi báo động về những gì sẽ xẩy ra trong Quân Lực. Nếu tôi ra đi, Quân Lực sẽ nắm chính quyền. Bọn cóc nhái của CIA và USIS này sẽ phá hoại nỗ lực chiến tranh.”

(I am alarmed by what's going on in the Armed Forces. If I leave, the Armed Forces will take over the government. 'Ces grenouillards' (which I translate as "these schemers" or 'these contrivers') of the CIA and USIS will sabotage the war effort.)

Trong công điện gởi Bộ Ngoại Giao lúc 6 giờ 39 phút chiều 29.10.1963, Đại Sừ Lodge trình rằng chiều 25.10.1963, ông Trần Trung Dung, cựu Phụ Tá Bộ Trưởng Quốc Phòng, đã nói với viên chức CIA rằng ông được biết các tướng lãnh dự định làm đảo chánh trong vòng 10 ngày. Theo ông biết, các tướng lãnh không tiếp xúc với các nhà lãnh đạo dân sự. Ông ta bày tỏ một vài sự quan tâm về khả năng và ý định của các Tướng Lãnh. “Ông ta coi đa số các Tướng Lãnh không gì khác lơn là các trung sĩ được Pháp huấn luyện trong quân phục Tướng Lãnh” (He consider majority of Generals no more than French trained sergeants in Generals’ uniforms)... Theo ông ta, các Tướng Lãnh thiếu kinh nghiệm chính trị cần thiết để điều hành chính phủ.

Những lời tiên đoán này đã trở thành hiện thực. Trong tác phẩm “President Kennedy, Profile of Power”, sử gia Richard Reeves đã ghi lại tình trạng tại miền Nam sau khi chế độ Ngô Đình Diệm sụp đổ và các tướng lãnh Việt Nam lên nằm chính quyền như sau:

“Người Mỹ, vì các mục tiêu thực tế, đã cai quản đất nước. Các tướng lãnh Việt Nam cười trước các máy quay phim, nhưng lo lắng và chờ đợi tiền và chỉ thị từ Washington, thủ đô mới của miền Nam Việt Nam. Họ chờ đợi những mệnh lệnh mà ông Diệm từ chối, sẵn sàng bắt đầu công việc thắng cuộc chiến!”

Một số tướng lãnh miền Nam đã tự nguyện làm lính Khố Xanh (Gardes Indigènes) hay lính Khố Đỏ (Tirailleurs) cho Mỹ. Sự mất chủ quyền lên đến cao điểm khi người Mỹ đưa hai nhân viên CIA của họ là Tướng Nguyễn Văn Thiệu và Tướng Trần Thiện Khiêm lên năm chính quyền và cho nhân viên CIA thứ ba là Tướng Đặng Văn Quang ở cạnh Tổng Thống Thiệu để theo dõi. Tướng này trở thành chuyên viên “kinh tài” cho Tổng Thống Thiệu. Từ đó, người Mỹ đã tự quyết định lấy số phận của miền Nam Việt Nam.

2.- “Việt Nam hoá” chiến tranh

Vì không tìm thấy được thắng lợi một cách dễ dàng và nhanh chóng sau khi giết ông Diệm và đổ quân vào Việt Nam như người Mỹ tưởng, kể từ đầu năm 1968, Hoa Kỳ bắt đầu cố gằng làm tiêu hao lực lượng của Cộng quân và “Việt Nam hoá” chiến tranh để rút lui. Việc Hà Nội lập kế hoạch tấn công Tết Mậu Thân là một cơ hội tốt để Hoa Kỳ làm tiêu hao lực lượng của địch.

Các tài liệu cho thấy cả chính phủ VNCH lẫn Hoa Kỳ đã nhận được khá nhiều tin tức về Việt Cộng sẽ tấn công vào dịp Tết Mậu Thân. Cơ quan tình báo Hoa Kỳ biết rất rõ Hà Nội sẽ chiếm thành phố Huế và dùng nơi đây làm thủ đô của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, nên Mỹ đã tương kế tựu kế, lập kế hoạch để tiêu diệt toàn bộ lực lượng này.

Trước Tết khoảng hai tuần, quân đội Hoa Kỳ đã ra lệnh cho Sư Đoàn 1 Không Kỵ di chuyển từ An Khê, Bình Định, ra Vùng I Chiến Thuật, được nói là để tiếp viện cho mặt trận Khe Sanh, nhưng khi ra tới Huế, sư đoàn này được lệnh dừng lại và đóng ở Phú Bài, phía đông nam thành phố Huế. Sư Đoàn Dù của VNCH cũng được Hoa Kỳ yêu cầu tăng viện cho Vùng I một Chiến Đoàn. Vì thế, trước Tết, Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn Dù đã gởi ra Vùng I Tiểu Đoàn 2 và Tiểu Đoàn 9. Đến mồng 2 Tết gởi thêm Tiểu Đoàn 7. Ba tiểu đoàn này đã mai phục ở vùng Sịa để chờ tấn công vào thành phố Huế. Nhờ vậy, khoảng 7.500 Cộng quân chiếm thành phố Huế đã bị tiêu diệt hơn phân nữa.

Trong khi đó, Tổng Thống Thiệu cũng được báo tin khá đầy đủ về Việt Cộng sẽ tấn công vào dịp Tết Mậu Thân, nhưng ông không tin chuyện đó có thể xẩy ra, nên ông không ra lệnh ứng chiến và đã đi Mỹ Tho ăn Tết ở quê vợ!

Sau trận Mậu Thân, tháng 5 năm 1970, Hoa Kỳ phối hợp với Quân Lực VNCH mở các cuộc hành quân qua Cam-bốt phá hủy hậu cần rất lớn của Sư Đoàn 7 của Cộng quân nằm cách biên giới Việt – Miên khoảng 5 cây số, tịch thu nhiều vũ khí và 300 xe cộ các loại. Nhưng khi mở cuộc hành quân Lam Sơn 719 qua Lào vào tháng 2/1971, cho Sư Đoàn Dù tiến chiếm mật khu 604 của Cộng quân nằm gần thành phố Tchépone của Lào, dụ 5 sư doàn Cộng quân đang lảng vảng trong vùng này nhập cuộc để tiêu diệt thì bị thất bại nặng vì Tổng Thống Thiệu bất thần nhảy vào phá vỡ kế hoạch hành quân, làm Quân Lực Mỹ và VNCH bị tổn thương rất nặng. Washington điên lên.

3.- Quyết định bỏ miền Nam

Qua cuộc hành quân nói trên. Người Mỹ nhận ra rằng “các trung sĩ được Pháp huấn luyện trong quân phục Tướng Lãnh” không đủ khả năng tiếp tục điều khiển cuộc chiến sau khi Mỹ rút, cho dù được viện trợ tối đa. Vì thế, Tổng Thống Nixon đã quyết định bỏ miền Nam và phái Bộ Trưởng Thuộc Địa Kissiger qua Trung Quốc thương lượng để giao miền Nam cho Trung quốc.

Vào tháng 8 năm 2004, nhân kỷ niệm 30 năm ngày Tổng Thống Nixon từ chức (9.8.1974 đến 9.8.2004) Miller Center of Public Affairs thuộc Đại Học Virgina đã cho công bố băng ghi âm các cuộc nói chuyện giữa Nixon và Kissinger. Tài liệu này cho biết mặc dầu đang mở cuộc oanh tạc Bắc Việt trong suốt mùa xuân và mùa hè 1972, Tổng Thống Nixon kết luận rằng Hoa Kỳ ủng hộ việc “Nam Việt Nam có thể không bao giờ còn tồn tại dù bất cứ cách nào.” (South Vietnam probably can never even survive anyway).

Tổng Thống Nixon đã hỏi Kissinger rằng “chúng ta có thể có một chính sách ngoại giao sống còn (a viable foreign policy) nếu một năm kể từ bây giờ hay hai năm kể từ bây giờ, Bắc Việt thôn tính Nam Việt Nam? Đó thật là vấn đề.”

Kissinger trả lời: “Nếu một hay hai năm kể từ bây giờ, Bắc Việt thôn tính Nam Việt Nam, chúng ta có thể có một chính sách ngoại giao sống còn nếu coi điều đó như là kết quả của sự bất tài của người Nam Việt Nam (if it's the result of South Vietnamese incompetence. )

Trái lại, trong cuộc nói chuyện với Thủ Tướng Chu Ân Lai ngày 20/6/1972 tại Bắc Kinh, khi Chu Ân Lai nói Trung quốc sẽ không nói chuyện với Hoa Kỳ chừng nào Hoa Kỳ chưa lật đổ chế độ Tưởng Giới Thạch ở Đài Loan, Kissinger trả lời:

“Chúng tôi đã không làm việc đó dù rất trân trọng quan hệ giữa hai nước chúng ta. Then chốt quan hệ giữa chúng ta là để mọi sự diễn biến một cách hòa bình, chứ không phải là hành động thiếu danh dự. Nếu chúng tôi có thể phản bội một đồng minh này thì chúng tôi cũng có thể phản bội các đồng minh khác, và còn ai tin chúng tôi nữa?”

Như vậy, trong cách nhìn và lý luận của Kissinger, Hoa Kỳ có thể bỏ miền Nam vì đó là “là kết quả của sự bất tài của người Nam Việt Nam”, còn Hoa Kỳ không thể bỏ Đài Loan được.

4.- Áp lực VNCH ký Hiệp Định Paris

Một cuộc hòa đàm để chấm dứt chiến tranh Việt Nam đã được tổ chức tại Paris kể từ năm 1968. Trong cuốn “Viet-Nam, Pourquoi les Etats-Unis ont-ils perdu la guerre” (Việt Nam, Tại sao Hoa Kỳ đã thất trận), ông Nguyễn Phú Đức, Cố Vấn Đặc Biệt của Tổng Thống Thiệu về Đối Ngoại, đã viết:

“Cuối cuộc họp, khi chúng tôi ở một mình với nhau, Kissinger muốn biết cảm nghĩ của tôi về bản dự thảo Hiệp Định, tôi nói với ông về lập trường của Chính Phủ Việt Nam trên hai vấn đề chính - rút quân lực của Bắc Việt, và không có chính phủ liên hiệp tại Nam Việt Nam - vẫn không thay đổi. Ông ta lưu ý tôi đó là những vấn đề nghiêm trọng. Tôi cách nghĩa cho ông ta rằng đó là vấn đề sinh tử của Nam Việt Nam... Tôi thẫm định rằng Hiệp Định này, với những từ ngữ của nó hiện tại, sẽ đưa đến sự sụp đổ của Nam Việt Nam.” (trang 361)

Ngày 18.10.1972 Kissinger đã bay đến Saigon để làm áp lực buộc Tổng Thống Thiệu phải đồng ý nội dung bản dự thảo nầy, với hy vọng sẽ mang bản dự thảo đó ra Hà Nội ngày 24.10.1972 để Thủ Tướng Phạm Văn Đồng ký tắt vào. Nhưng Kissinger đã thất bại. Chỉ trong một thời gian ngắn, phía Việt Nam Cộng Hòa đã phát hiện ra đến 23 điểm cần phải điều chỉnh. Kissinger chỉ đồng ý điều chỉnh 16 điểm không quan trọng mà thôi. Số còn lại phải để nguyên. Cuộc đối thoại trở nên gay cấn về hai điểm then chốt là việc chấp nhận cho quân đội Bắc Việt ở lại miền Nam Việt Nam và việc thành lập một Hội Đồng Hòa Giải Hòa Hợp giống như một chính phủ liên hiệp. VNCH coi đây là một cách bán đứng miền Nam Việt Nam cho Hà Nội nên cương quyết chống lại.

Thất bại với VNCH, Tổng Thống Nixon và Kissinger quay lại làm áp lực với Hà Nội. Kissinger đưa ra một bản dự thảo mới, yêu cầu Hà Hội tái thảo luận, nhưng Hà Nội từ chối. Tổng Thống Nixon liền gởi cho Hà Nội một thông điệp nói rằng nếu Hà Nội không chấp nhận thảo luận một cách nghiêm chỉnh thì sau 72 tiếng đồng hồ nữa Hoa Kỳ sẽ ném bom trở lại từ vĩ tuyến 20 trở lên. Ngày 18.2.1972, khi thời hạn này chấm dứt, hàng loạt B.52 đã bay đến ném bom xuống các căn cứ quân sự ở Hãi Phòng và Hà Nội. Đây là những khu vực chưa hề là mục tiêu đánh phá từ trước.

Cùng lúc đó, Tướng Haig được cử đến Saigon với sứ mạng vừa hứa hẹn vừa đe dọa. Trong thông điệp trao cho Tổng Thống Thiệu ngày 14.11.1972, Tổng Thống Nixon có cam kết:

“Tôi tuyệt đối cam đoan với Ngài rằng nếu Hà Nội không tuân theo những điều kiện của Hiệp Định nầy thì tôi cương quyết sẽ có hành động trả đủa mau lẹ và ác liệt.”

Nhưng Tướng Haig cũng không quên lặp lại lời đe dọa của Washington rằng nếu Tổng Thống Thiệu không chấp nhận bản dự thảo hiệp định mới, Hoa Kỳ sẽ cắt hết việt trợ và ký một hiệp định riêng với Bắc Việt.

Tổng Thống Thiệu thừa biết Bắc Việt cố giữ lại điều khoản không rút quân để khi Hoa Kỳ rút hết, họ sẽ mở cuộc tấn công trở lại, nhưng bị ám ảnh bởi cái chết của Tổng Thống Ngô Đình Diệm khi Mỹ muốn đem quân vào, Tổng Thống Thiệu đã tự trấn an bằng những lời cam kết của Tổng Thống Nixon mà Tướng Haig mới chuyển đến, kèm thêm một số quân dụng được tiếp tế khẩn cấp qua chương trình Enhance và Enhance Plus, đã ra lệnh cho ký kết bản Hiệp Định Paris ngày 27.1.1973, một bản hiệp định mà ông thấy có quá nhiều điểm thất lợi.

KHÔNG CẦN BIẾT ĐỒNG MINH VÀ ĐỊCH

Sau khi buộc VNCH ký Hiệp Định Paris xong, ngày 29.6.1973 Hạ Viện Hoa Kỳ biểu quyết dự luật cấm các hoạt động quân sự của Hoa Kỳ trên toàn lãnh thổ Đông Nam Á. Dự luật nầy đã được lưỡng Viện thông qua ngày 21.9.1973. Đến ngày 12.10.1973, lưỡng Viện Hoa Kỳ lại thông qua dự luật hạn chế quyền của Tổng Thống trong việc đưa quân đội Hoa Kỳ ra ngoại quốc. Đến đây, VNCH phải hiểu ngay rằng Quân Đội Mỹ sẽ không trở lại Đông Dương nữa và VNCH phải tìm một giải pháp khác để sinh tồn. Nhưng điều đáng tiếc là Tổng Thống Thiệu đã không hiểu như thế!

Tổng Thống Thiệu có tướng mạo khá phương phi, nhưng lại có cái đầu đặc, biết rất ít về chính trị lẫn quân sự, thường hành động theo cảm tính và sự độc đoán của mình, KHÔNG CẦN BIẾT ĐỒNG MINH VÀ ĐỊCH ĐANG LÀM GÌ. Ông đúng là một “trung sĩ được Pháp huấn luyện trong quân phục Tướng Lãnh” như ông Trần Trung Dung đã nói với Đại Sứ Cabot Lodge.

Mỗi lần xẩy ra biến cố gì, ông đều có bảo cấp dưới nghiên cứu và đề nghị giải pháp, nhưng sau khi liếc qua phúc trình của cấp dưới, ông xếp vào đống hồ sơ rồi hành động theo những cảm nghĩ nông cạn của mình.

Người Việt chống cộng thường nhắc đi nhắc lại một câu nói của Tổng Thống Thiệu: "Đừng nghe những gì Công Sản nói, mà hãy nhìn kỹ những gì Cộng Sản làm". Tuy dạy người khác như vậy, nhưng ông không bao giờ chịu “nhìn kỹ những gì Cộng Sản làm”.

Sau khi ký Hiệp Định Paris, trong khi Hà Nội quyết định làm lại con đường 14, gọi là con đường Đông Trường Sơn, để đưa quân vào Phứóc Long và Bình Long rồi đánh thẳng xuống Sài Gòn năm 1976, bỏ qua các tỉnh miền Trung, Tổng Thống Thiệu lại hô hào “cải tổ hành chánh” để được lòng dân và thắng Cộng Sản! Ông bắt các công chức cao cấp đi dự một khoá huấn luyện ở Vũng Tàu và đưa Hoàng Đức Nhã xuống giảng về luân lý giáo khoa thư lớp đồng ấu! Tôi nhờ khi bước lên diễn đàn, Hoàng Đức Nhã đã đưa tay chỉ lên trời và nói: “Tôi đi guốc trong bụng tên Võ Nguyên Giáp!”

Chẳng những không quan tâm đến các khuyến cáo của cơ quan DAO, Tổng Thống Thiệu còn quyết định bỏ Phước Long “để xem Mỹ nó làm gì”, tức xem Hoa Kỳ có “hành động trả đủa mau lẹ và ác liệt” như Tổng Thống Nixon đã hứa không!

Khi viện trợ quân sự bị cắt dần, Tổng Thống Thiệu không nghĩ phải tìm một giải pháp chính trị mà cho rằng Mỹ cho 2 tỷ, ta giữ cả miền Nam. Mỹ rút xuống còn 700 triệu, ta chỉ giữ một phần lãnh thổ thôi. Ông làm như miền Nam là của Mỹ, ông chỉ là người làm công hay lính đánh thuê. Ông cho mời Chuẩn Tướng Ted Sarong, một chuyên viên du kích chiến của Úc, hợp tác với Tướng Đặng Văn Quang, một tay chuyên đi làm tiền, lập kế hoạch bỏ Vùng I và Vùng II và thiết lập một phòng tuyến mới từ Tây Ninh đến Nha Trang, gọi là kế hoạch “Đầu Bé Đít To”, để giữ phần đất còn lại! Kế hoạch này đã bị phê phán nặng nề, nhưng ông vẫn cho thi hành, làm mất miền Nam nhanh chóng.

LẤY THÚNG ÚP VOI

Mặc dầu các tài liệu bí mật về chiến tranh Việt Nam đã được Hoa Kỳ cho tiết lộ gần hết, một số người Việt chống Cộng vẫn chủ trương đừng nhắc đến những chuyện bi thảm này và chỉ nên nói đến những thất bại của Cộng Sản. Họ muốn lấy thúng úp voi, mặc dầu không thể làm được.

Điều quan trọng không phải là “lấy thúng úp voi”. Điều quan trọng là phải rút kinh nghiệm lịch sử để tìm ra một hướng đi mới giải phóng dân tộc.

Lữ Giang

(Ngày 30.6.2009)