Saturday, December 24, 2011

TÊN LÍNH CHÌ CANH GÁC BIỂN ĐÔNG

Bài viết “Đồng hành quân sự với Hoa Kỳ là mệnh lệnh của thời đại”, của Luật sư, Tiến sỹ Cù Huy Hà Vũ, người bị chính quyền Việt Nam bắt bỏ tù 7 năm qua phiên tòa sơ thẩm 05/11/2010 và phúc thẩm 04/04/2011, vì tội danh  chống phá nhà nước XHCN VN với tang chứng ban đầu là hai bao cao su đã qua sử dụng, như là một lời tiên tri cho những hành vi xâm phạm chủ quyền của Việt Nam trên biển ngày càng leo thang của Trung Quốc.
Sau những hành vi “Hải tặc” đối với ngư dân Việt Nam, các tàu Hải Giám của TQ đã ngang nhiên cắt cáp tàu Bình Minh 02 khi thăm dò dầu khí tại lô 148 thuộc thềm lục địa của Việt Nam 26/05. Tiếp đó 09/06/2011, dưới sự yểm trợ của tàu Ngư Chính TQ số hiệu 311 và 303, tàu cá TQ số hiệu 6266 đã cắt cáp thăm dò, khảo sát thu nổ địa chấn 3D của tàu Viking do Tập đoàn Dầu khí quốc gia VN thuê để thăm dò khảo sát tại lô số 136/03(tọa độ 6 độ 47’5 Bắc và 109 độ 17,5′ Đông, thuộc thềm lục địa Việt Nam).
Đáp trả lại những hành động côn đồ trên của TQ, người phát ngôn của Bộ Ngoại Giao VN Nguyễn Phương Nga đã lên tiếng một cách yếu ớt và Chính Phủ Việt Nam đã ra sức trấn áp, sỉ nhục, bắt người trái pháp luật những người biểu tình, thể hiện lòng yêu nước và chống những hành động bạo ngược của Trung Quốc.
Với những luận điệu biện bạch mà mọi ngươi đều biết rõ qua những lời khuyên nhủ của tay Trưởng Công an QI Trần Đức Tài với người biểu tình vào dịp biểu tình chống TQ 2007 hay của tên Hiệu trưởng trường Đại học Công Nghiệp TPHCM được điều động ra khuyên ngăn những người biểu tình trẻ tuổi vào 07/2011 tại Sài Gòn: ” Đấu tranh, nhưng không được làm ảnh hưởng đến tình hữu nghị giữa hai nước VN-TQ, không được ảnh hưởng đến ngoại giao. Mọi việc đã có nhà nước lo…”
Giọng điệu đó được gặp lại qua phát biểu của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng trong phiên chất vấn tại kỳ họp Quốc Hội khóa XXII vừa qua với chủ trương: “Kiên quyết đòi lại lãnh thổ bằng biện pháp “Hòa bình” ???”
Không một ai có thể hiểu được những hành động “quái dị” của Chính Phủ Việt Nam trong tình thế hiện tại.
Sự “quái dị” đã trở nên “lập dị” khi liên tiếp xuất hiện Quốc kỳ của TQ với 6 ngôi sao. Một lần tại Hội chợ Ẩm thực được tổ chức tại Vũng Tàu 20/07/2010 tại gian hàng của TQ, một lần trên phông nền của buổi phát hình chương trình thời sự, tin tức buổi tối trên VTV1 14/10/2011 và gần đây nhất là trong buổi tiếp đón Phó Chủ tịch nước TQ Tập Cẩn Bình 21/12/2011.
Với sự kiểm duyệt và kiểm soát gắt gao của An ninh Văn hóa Tư tưởng, với kinh nghiệm từng trải của bộ phận Lễ tân của Bộ Ngoại Giao thì không thể biện hộ bằng lý do “Sơ xuất kỹ thuật”. Ngay từ khâu in ấn cũng sẽ đã bị phát hiện chứ không phải đến lúc phát vào tay các cháu bé làm dàn chào tiếp đón Tập Cẩn Bình và được thu vào ống kính của các phóng viên trong, ngoài nước.
Sự kiện này khiến người dân Việt Nam không thể không nghĩ đến những lời ‘nhai lại” của Lenin từ trong đống rác thải của nhân loại: “CNXH có nền Dân chủ triệu lần hơn Dân chủ Tư sản…” trên báo QĐND, không lâu trước cuộc viếng thăm VN của đồng chí Tập Cẩn Bình của bà Phó Chủ Tịch nước Nguyễn Thị Doan hay phát biểu “nhai lại” lời của Hồ Chí Minh của Chủ Tịch nước chém gió Nguyễn Minh Triết trong chuyến thăm Cuba 2009: “Việt Nam, Cuba như trời đất sinh ra. Một anh ở phía Đông, một anh ở phía Tây, canh giữ cho Hòa Bình thế giới. Khi Cuba thức thì Việt Nam ngủ, khi Việt Nam thức thì Cuba nghỉ…”
Phải chăng việc xuất hiện lá cờ TQ với 6 ngôi sao là một tín hiệu thỏa thuận ngầm giữa hai Chính Phủ VN và TQ: Chính Phủ VN đã sẳn sàng hy sinh lợi ích Dân Tộc, quyền lợi quốc gia, cam tâm làm một thằng lính gác cho TQ trên biển Đông, sẳn sàng đánh bọn Tư Bản đến người Việt Nam cuối cùng để bảo đảm lợi ích cốt lõi trên Biển Đông cho thằng đồng chí bạn “4 tốt, 16 chử vàng” một khi tranh chấp trên Biển Đông không giải quyết được bằng đàm phán.
Qủa thật, lúc đó không có căn cứ hậu cần quân sự nào tốt hơn cho Trung quốc, ngoài Việt nam.
Liên minh quân sự giữa Mỹ và các nước trong khu vực hãy cảnh giác với tên “lính chì” Việt Nam “của Trung Quốc” trong ván cờ Biển Đông.
Non sông dể đổi
Bản chất khó dời.
Bản chất của cộng sản VN
Muôn đời vẫn thế.
Chúng sẵn sàng từ chối
“Mệnh lệnh của thời đại”
“Mệnh lệnh của Dân Tộc”
 chỉ cốt giữ
“Còn Đảng còn mình”.
Noel 2011
Phạm Thị Oanh Yến

Tin nóng : Cả chục ngàn người biểu tình ở Moscow

Cập nhật: 11:02 GMT - thứ bảy, 24 tháng 12, 2011

Nga chuẩn bị cuộc xuống đường lớn
Những người biểu tình ở Nga lồng ảnh ông Putin với một "bao cao su" nhằm đáp lại chỉ trích của ông này với họ.
Hàng chục ngàn người tập trung tại trung tâm Moscow để phản đối cuộc bầu cử Quốc hội bị cáo buộc gian lận.
Một biển người biểu tình đi dọc theo đại lộ Sakharov Avenue, chỉ cách Kremlin một vài dặm, trong nhiệt độ dưới không.
Các cuộc biểu tình, tuần hành đang diễn ra trên khắp nước Nga, với cuộc biểu tình lớn đầu tiên nổ ra ở thành phố viễn đông Vladivostok.
Tại thủ đô Moscow, các nhà tổ chức hy vọng khoảng 50.000 người sẽ tập hợp để nghe các bài phát biểu của nhiều nhân vật đối lập.
Tổng thống Dmitry Medvedev đã công bố cải cách chính trị trong tuần này, nhưng nhiều người biểu tình nói rằng điều đó là không đủ.
Họ đang đòi tổ chức lại cuộc bỏ phiếu vừa qua mà trong đó đảng của Thủ tướng Vladimir Putin đã “giành thắng lợi.”
An ninh được thắt chặt trong toàn thành phố, với 40 xe bus trở đầy cảnh sát chống bạo động được xếp hàng dọc theo hướng đại lộ, theo truyền thông Nga.
‘Bầu cử tự do '
Biểu tình chống Putin ở Nga
Một người biểu tình mang áp phích có hình ông Putin đằng sau song sắt nhà tù.
Tại Moscow, người biểu tình cầm trong tay các trái bóng bay màu trắng và biểu ngữ với khẩu hiệu "Ủng hộ bầu cử tự do" khi các cuộc biểu tình khai mạc.
Đây là một phong trào quần chúng rộng lớn của Moskva, phóng viên BBC Daniel Sandford đưa tin tại thủ đô Nga cho hay.
Cuộc biểu tình tại Moscow hôm thứ Bảy – được phép của chính quyền - được tổ chức bởi một liên minh các lực lượng đối lập.
Khoảng 47.000 người tuyên bố trên Facebook rằng họ tham dự, và khoảng 10.000 người khác nói rằng họ có thể tham gia các cuộc biểu tình.
Trong số những người tham dự sự kiện này là blogger nổi tiếng chống Kremlin, Alexei Navalny, ông có mặt sau khi được thả tự do khỏi nhà tù do đã tham gia một cuộc biểu tình ở Moscow ngày 10 tháng Mười Hai.
Dự kiến trong số 22 diễn giả đăng đàn ở Moscow ​​sẽ bao gồm nhà thách thức và đối kháng với Putin, ông Mikhail Prokhorov và cựu lãnh đạo Liên Xô Mikhail Gorbachev.
Ngoài các chính trị gia, còn có các nhân vật khác như nhạc sĩ Yuri Shevchuk, diễn thuyết thông qua kết nối video, nhà văn chinh thám Boris Akunin, nhà vận động Urals chống ma-túy Yevgeny Roizman và nhà châm biếm Viktor Shenderovich.
'Hủy bỏ kết quả'
Biểu tình chống Putin
Những người biểu tình cáo buộc ông Putin và đảng của ông đã lừa dối và gian lận để giành chiến thắng trong cuộc bầu cử.
Các nhà tổ chức cho biết khoảng 50.000 người đã tập hợp vào ngày 10 tháng Mười Hai, trong một cuộc biểu tình chống chính phủ lớn nhất kể từ khi Liên Xô sụp đổ vào năm 1991.
Phe đối lập, được khuyến khích bởi thành công đó, đang buộc điện Kremlin vào thế bị động.
Hôm thứ Năm, ông Medvedev đã đề xuất tổ chức bầu cử trực tiếp bởi các thống đốc vùng và đơn giản hóa các thủ tục đăng ký hoạt động với các đảng phái chính trị, thế nhưng những người biểu tình nói rằng cacs nhượng bộ không đi đủ xa, theo phóng viên BBC Steve Rosenberg tại Moscow.
Tuy nhiên, một trong những vấn đề chính của phe đối lập là không có nhà lãnh đạo duy nhất có thể đoàn kết toàn bộ, phóng viên của chúng tôi cho biết thêm.
Theo kết quả chính thức của cuộc bầu cử Duma Quốc gia Nga, đảng Nước Nga Thống nhất đang cầm quyền bị tụt phiếu từ 64% xuống còn 49%, mặc dù đảng này vẫn dễ dàng "đứng đầu."
Nhưng có một dư luận và quan điểm, được trao đổi rộng rãi trên các video quay từ điện thoại di động và trên các trang mạng xã hội, rằng đã có gian lận bầu cử quy mô lớn và rằng đảng của ông Putin đã lừa dối để giành chiến thắng.
Điện Kremlin bác bỏ cáo buộc này.
Tại Vladivostok, những người biểu tình mang các áp phích kêu gọi ông Putin phải được đưa ra xét xử và nghị sỹ cấp vùng Artyom Samsonov nói các kết quả bầu cử cần phải bị hủy bỏ.

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/world/2011/12/111224_russia_new_mass_rally.shtml

Hội Đồng Dân Quyền Nga đề nghị tổ chức bầu cử lại

RFA 24.12.2011
Trong đề nghị gửi Tổng Thống Dmitry Medvedev, Hội Đồng Dân Quyền Nga viết rằng phần lớn dân chúng không tin tưởng kết quả cuộc bầu chọn quốc hội mà chính phủ cho thực hiện hôm mùng 4 tháng này.
Hằng chục ngàn người tại Matxcova xuống đường phản đối kết quả bầu cử
Hằng chục ngàn người tại Matxcova xuống đường phản đối kết quả bầu cử. AFP
Đề nghị cũng ghi rõ là dân chúng Nga đều nhìn thấy sự ủng hộ dành cho Đảng Nước Nga Đoàn Kết của Thủ Tướng Vladimir Putin đang sút giảm rất nhanh, và họ không tin là đảng này chiếm được đa số ở quốc hội như kết quả đã thông báo.
Giải pháp được hội đồng đề nghị là hủy bỏ kết quả, tổ chức bầu cử lại và bãi nhiệm viên giám đốc văn phòng đặc trách bầu cử quốc gia.
Hội Đồng được Tổng Thống Medvedev thành lập với mục đích cố vấn cho Điện Kremlin về những vấn đề liên quan tới quyền lợi của dân chúng và xã hội. Các đề nghị này không mang tính pháp lý, nhưng sẽ là áp lực với chính phủ.
Vẫn chưa rõ Tổng Thống Nga có thực hiện các đề nghị được đưa ra hay không.
Trong khi đó, từ sáng hôm nay, các vụ biểu tình phản đối kết quả bầu cử đã bắt đầu ở nhiều nơi, từ vài trăm người ở Siberia, ở thành phố Vladivostok ở vùng Viễn Đông, cho tới vài chục ngàn người tụ tập tại thủ đô Maxcơva.
Ban tổ chức cuộc biểu tình ở Maxcơva cho biết ngay sau khi lời kêu gọi được phổ biến trên facebook, có hơn 50,000 người hứa sẽ tham dự cuộc biểu tình kéo dài suốt ngày hôm nay, cho dù trước đó cảnh sát đã bắt giữ hàng trăm người.
Những cuộc biểu tình được thực hiện ngay sau khi chính phủ công bố kết quả bầu cử. Hầu hết người tham dự là những người trẻ, không chấp nhận kết quả, gọi đó là cuộc bầu cử được sắp sẵn, và đòi hỏi chính phủ Nga phải tôn trọng lá phiếu của người dân.

e-mail

Dostoyevski trong một thế giới duy ác

Trần Mạnh Hảo gửi RFA từ Sài Gòn

2011-12-23
Mùa Noel 2011, viết nhân kỷ niệm 190 năm ngày sinh của đại văn hào Nga Fyodor Mikhaylovich Dostoyevski: 11-11-1821 và 120 năm ngày mất của ông : 9-2-1881
Source livre de poche
Kiệt tác “ Anh em nhà Karamazov” và đại văn hào Nga Fyodor Mikhaylovich Dostoyevski
“ Vòm trời đó nào phải ai cho mượn
Nào phải ai cho mượn để che đầu”

( Thơ T.M.H.)


Cuốn sách cuối cùng đại văn hào Nga  L.Tolstoi đọc trước lúc bỏ nhà ra đi vào đêm 28-10-1910 rồi chết tại nhà ga xe lửa Astapovo ngày 20-11-1910 là kiệt tác “ Anh em nhà Karamazov” của một đại văn hào Nga khác : Dostoyevski. Trên bàn làm việc của vị bá tước nhà văn này ở điền trang Yasnaya Poliana tỉnh Tula cuốn sách vĩ đại của Dos vẫn còn mở ra bằng một thanh kẹp sách ở chương Dos viết về “Viên Đại pháp quan tôn giáo” trong câu chuyện của nhân vật Ivan Karamazov kể cho em trai mình là Aliosha Karamazov…
Thông điệp của Dostoyevski

Người ta đã lý giải nhiều về những nguyên nhân khiến L.Tolstoi bỏ nhà ra đi tìm một nơi yên tĩnh và nghèo khó để chết : nào là để thoát khỏi bà vợ đã từng sống 48 năm với ít nhiều thiên đường và rất nhiều địa ngục. Nào là L. Tolstoi luốn ám ảnh về cái chết, muốn chết như một con thú hoang trốn chạy loài người. Nào là chuyện Tolstoi bị Nga hoàng cấm các cuốn sách của ông, chuyện ông bị giáo hội Chính thống Nga rút phép thông công vì ông dám viết công khai chống lại giáo lý, lại quảng bá cho đạo Phật …

Nhưng còn một nguyên nhân tuy có thể là nhỏ, như giọt nước làm tràn ly mà các nhà “Tolstoi học” chưa hề nhắc tới là chuyện những ám ảnh khủng khiếp của kiệt tác “ Anh em nhà Karamazov” của Dostoyevski đã góp phần đẩy cụ già Lép bỏ trốn vợ con ra đi tìm cái chết ở một nơi vô định vào tuổi 82 ?

Suốt 29 năm, từ ngày Dostoyevski về nước Chúa ( 1881), cũng là năm kiệt tác “ Anh em nhà Karamazov” được in ra trọn vẹn lần đầu, L.Tolstoi đã mua cuốn sách này của Dos. Tolstoi coi cuốn sách này là một cuốn sách vĩ đại, lật từng trang nặng như giấy in làm bằng đá; đến nỗi ông phải đánh vật với nó, khóc cười, rùng rợn, căm ghét, nguyền rủa rồi lại ca tụng nó hết lời. Hình như trong cuốn sách khác thường này của Dos, Lép kinh hoàng nhận ra nó vừa là qủy, vừa là thánh, thậm chí là hình ảnh của Đức Chúa Jesus bị đem ra đóng đinh một lần nữa trên nước Nga tràn ngập quân dữ của ông. Suốt 29 năm trời, đại văn hào thế giới Lep này chưa đọc hết cuốn sách được ông coi là dài và rộng hơn cả nước Nga của đại văn hào Dos, kẻ lớn hơn ông bảy tuổi, chết trước ông 29 năm.

Cho nên, trước lúc vĩnh biệt ngôi điền trang và gia đình đi tìm một nơi hoang dã để chết, thay vì đọc Kinh Thánh, L. Tolstoi đã đọc “Anh em nhà Karamazov”; để rồi ông - một người báng bổ giáo lý Thiên Chúa giáo nhưng vẫn xưng mình là tín hữu Ki-tô giáo - thoát khỏi cái thế giới duy ác của các ngài Đại Pháp quan chuyên khoác áo duy thiện để dọa đưa Chúa Jesus lên giàn hỏa của tòa dị giáo, nơi ông ta đang ngồi canh giữ thế giới đã được nô lệ hóa của riêng mình, nếu Chúa không biết điều mà “ cút” khỏi thế giới đã được an bài cho các quan cai trị…

“ Anh em nhà Karamazov” đã thôi miên ngay cả L.Tostoi, khiến suốt 29 năm ông rất mê nó mà vẫn chưa đọc hết kiệt tác này. Cuốn sách ấy, ghê gớm thay, cho đến hôm nay vẫn còn thôi miên cả thế giới, một cuốn sách vĩ đại nhất, khó đọc nhất, ác nhất, thiện nhất, ma mãnh và thánh thần nhất.

Lev- Tolstoi
Lev Tolstoi và tác phẩm Chiến Tranh và Hòa Bình. Source livredepoche
Đến nỗi, đầu thế kỷ thứ XX, một nhà văn Nga là A. Remizov đã ca ngợi tác giả của nó hết mức : “ Dostoyevski đó là nước Nga. Không có Dostoyevski không có nước Nga”. Chúng tôi xin thêm : Dostoyevski & L.Tolstoi chính là nước Nga. Đỉnh núi lớn L.Tolstoi nếu đứng một mình, nước Nga sẽ đổ. May thay, bên cạnh đỉnh cao “Chiến tranh & Hòa bình”, nước Nga đã được cân bằng bởi một đỉnh núi ngược khác, ấy là vực sâu tinh thần thăm thẳm “Anh em nhà Karamazov”

Hình như chính Viên đại pháp quan tôn giáo trong tác phẩm của Dos vừa nhảy ra truy bắt Lép; hay là ông chợt nhìn thấy gương mặt của Viên đại pháp quan tôn giáo trong gương mặt bà vợ gốc Đức của mình : Sophie Behrs nên phải trốn nhà trong đêm tối ? Xin hãy đọc một phân đoạn ngắn nhưng là một công án lớn bậc nhất thế giới mà Dos thông báo với nhân loại qua miệng nhân vật Ivan Karamazov kể cho em trai Aliosha Karamazov, có đoạn là sự đối thoại của hai nhân vật này xưng với nhau bằng “tôi” với “chú”như sau :

“Chuyện tôi kể diễn ra ở thành Xevin Tây Ban Nha, vào thời pháp đình tôn giáo ghê rợn nhất, khi mà để làm sáng danh Chúa Trời, hàng ngày những giàn lửa thiêu rực cháy trong nước:
Quân tà đạo không còn thoát được.

Giàn lửa thiêu ngùn ngụt căm hờn…

…Vốn lòng lành vô cùng, một lần nữa Chúa đi qua giữa dân chúng, hình dạng Chúa vẫn như mười lăm thế kỷ trước khi Ngài sống giữa mọi người trong ba năm ròng. Ngài giáng lâm đến "các phố phường rực lửa" của đô thành phía Nam ấy. Ở đó chỉ mới hôm trước, trong "giàn lửa huy hoàng", trước mặt đức vua, triều thần, các hiệp sĩ, các giáo chủ và các mệnh phụ kiều diễm nhất trong triều, trước đông đảo dân chúng thành Xevin, theo lệnh của giáo chủ Đại Pháp quan, người ta đã thiêu luôn một lúc ngót trăm kẻ di giáo.
Chúa xuất hiện một cách lặng lẽ, không để ai nhận thấy, nhưng kỳ lạ thay, mọi người đều nhận ra Chúa. Đấy có thể là một trong những đoạn hay nhất của bản trường ca, nói về việc tại sao người ta nhận ra Chúa. Một sức mạnh không thể cưỡng lại được khiến dân chúng ùa đến với Chúa, vây quanh Chúa mỗi lúc một đông thêm, đi theo Chúa. Chúa im lặng đi qua giữa họ, miệng mỉm cười hiền từ, thương cảm vô hạn….Dân chúng khóc và hôn mặt đất nơi Chúa bước chân lên. Trẻ em tung hoa trước mặt Chúa, hát và reo hò:
'Hoxama!".…
"Đấy là Ngài, chính là Ngài, một người nhắc đi nhắc lại, - hẳn phải là Ngài, chỉ có thể là Ngài". Chúa dừng lại trên sân nhà thờ Xevin giữa lúc người ta khóc lóc khiêng vào đó một cỗ quan tài trẻ em màu trắng mở nắp: nằm trong quan tài là một bé gái bảy tuổi, con gái duy nhất của một người quyền quý ở tha phương. Xác đứa bé phủ đầy hoa. "Ngài sẽ làm con bà sống lại" đám đông reo lên với bà mẹ đang khóc lóc. Một linh mục của nhà thờ đang đi về phía cỗ quan tài cau mày nhìn, dáng vẻ băn khoăn. Nhưng bà mẹ của đứa bé đã khóc gào lên. Bà sụp xuống chân Chúa: "Nếu Ngài là Chúa thì xin hãy làm cho con tôi sống lại!" - bà ta giang hai tay cầu Chúa, kêu lên.
Đám đưa tang dừng lại, đặt cỗ quan tài dưới chân Chúa. Chúa nhìn đầy vẻ thương xót, và một lần nữa Chúa khẽ thốt lên: "Ta-lia kumi!" - "bé em hãy trở dậy" - Cô bé ngồi dậy trong quan tài, mỉm cười, mắt mở to ngạc nhiên nhìn xung quanh. Hai tay em cầm bó hoa hồng mà em vẫn ôm ở trong quan tài.
Dân chúng nhốn nháo, la hò, nức nở, đúng lúc ấy giáo chủ Đại Pháp quan đột nhiên đi qua quảng trường trước nhà thờ. Đấy là một ông già ngót chín mươi tuổi, thân hình cao, lưng thẳng, mặt khô quắt, mắt hõm sâu nhưng vẫn sáng quắc. Ồ, ông không mặc bộ đạo phục giáo chủ lộng lẫy mà hôm qua ông còn mặc khi ra trước dân chúng trong cuộc hoả thiêu những kẻ thù của đạo La Mã, không, lúc ấy ông chỉ mặc chiếc áo thụng cũ thô kệch của mình. Theo sau ông, cách một khoảng khá xa, là những người giúp việc mặt mày cau có những nô lệ và đội "thánh binh".
Ông dừng lại trước đám đông và quan sát từ xa. Ông nhìn thấy hết. Ông nhìn thấy cỗ quan tài được đặt dưới chân Ngài, rồi con bé sống lại, và mặt ông sa sầm. Ông cau đôi lông mày sâu róm trắng bạc, ánh mắt ông lóe lên hung tợn. Ông trỏ ngón tay ra lệnh cho bọn vệ binh bắt Ngài. Uy quyền của ông rất lớn, dân chúng đã quen thần phục, ngoan ngoãn và run sợ tuân lệnh ông, đám đông lập tức dãn ra trước bọn vệ binh, và bọn này, trong bầu không khí im ắng như trong nhà mồ, túm lấy Ngài giải đi.
Tức khắc, nghìn người như một, đám đông nhất loạt rập đầu sát đất trước vị Đại Pháp quan, ông ta lẳng lặng ban phước cho dân chúng và đi ngang qua chỗ họ. Vệ binh giải phạm nhân vào một ngục thất chật hẹp, tối tăm, có vòm cuốn trong toà nhà cổ của Pháp đình thánh tín và nhốt ở đó. Một ngày qua đi, rồi đêm đến, một đêm nóng bức ngột ngạt của Xevin. Không khí nồng "hương nguyệt quế và hương chanh". Trong bóng tối sâu thăm thẳm, cửa sắt nhà ngục bỗng mở ra, và đích thân lão Đại Pháp quan cầm cây đèn chậm rãi đi vào.
Fyodor Mikhaylovich Dostoyevsky 1821-1881. Wikipedia
Fyodor Mikhaylovich Dostoyevsky 1821-1881. Wikipedia
Ông ta đến một mình, cửa tức thời đóng lại sau lưng ông ta. Ông ta dừng lại một lúc lâu, chừng một vài phút, nhìn chằm chằm vào mặt Ngài. Cuối cùng ông ta nhẹ nhàng đến gần, đặt cây đèn xuống bàn, nói với Ngài: "Ông đấy ư? Ông ư?" - Nhưng không đợi trả lời, ông ta nói thêm luôn, - Đừng trả lời, cứ im lặng. Với lại, ông có thể nói gì được kia chứ? Tôi thừa biết ông sẽ nói gì. Ông không có quyền thêm một lời nào vào những gì ông đã nói trước kia. Tại sao ông xuống đây làm phiền chúng tôi? Ông đến là phiền cho chúng tôi, điều đó thì chính ông cũng biết.
Nhưng ông có biết ngày mai sẽ thế nào không? Tôi không biết ông là ai và không muốn biết có phải ông thật không hay chỉ là cái vẻ bên ngoài giống như ông, nhưng ngày mai tôi sẽ kết án ông và thiêu ông trên giàn lửa như một kẻ tà giáo độc ác nhất, và dân chúng hôm nay hôn chân ông thì ngày mai tôi chỉ vẫy tay một cái là họ đổ xô đến hất thêm than vào giàn lửa thiêu ông, ông có biết thế không? Ờ, có lẽ ông biết" - ông ta trầm ngâm nói thêm, mặt không lúc nào rời khỏi người bị bắt giam…”

….
“…Chúng tôi làm như thế có phải lẽ không, Chúa nói đi. Lẽ nào chúng tôi không yêu nhân loại khi chúng tôi khiêm nhường nhận ra chỗ yếu kém của họ, trìu mến giảm nhẹ gánh nặng cho họ và cho phép bản chất yếu đuối của họ phạm tội, miễn là được chúng tôi cho phép? Vậy bây giờ Chúa đến gây phiền toái cho chúng tôi làm gì? Sao Chúa lẳng lặng nhìn tôi một cách thấm thía bằng cặp mắt hiền từ như vậy? Cứ nổi giận đi, tôi không mong muốn tình yêu của Chúa, vì chính tôi không yêu Chúa. Cần gì tôi phải giấu giếm Chúa? Hay tôi không biết tôi đang nói với ai? Những gì tôi muốn nói với Chúa, Chúa biết hết rồi, tôi đọc thấy trong mắt Chúa. Tôi phải giấu Chúa điều bí nhiệm của chúng tôi chăng? Có lẽ Chúa muốn nghe điều đó từ miệng tôi nói ra chăng, vậy thì hãy nghe đây: chúng tôi không theo Chúa, mà theo hắn ( tức qủy), đó là điều bí nhiệm của chúng tôi! Đã từ lâu chúng tôi không theo Chúa, mà theo hắn, đã tám thế kỷ nay.

Đúng tám thế kỷ trước, chúng tôi đã nhận lấy của hắn cái mà Chúa đã phẫn nộ gạt bỏ, món quà cuối cùng mà hắn đã dâng Chúa khi trỏ cho Chúa tất cả các vương quốc trần gian: chúng tôi đã nhận của hắn La Mã và thanh gươm của Xezar …Tôi nắm giữ điều bí mật và vì hạnh phúc của họ, chúng tôi sẽ cám dỗ họ bằng phần thưởng vĩnh cửu trên trời. Chỉ vì nếu có cái gì ở thế giới bên kia thì tất nhiên không phải là dành cho những người như họ…
….
…Nên biết rằng tôi không sợ Chúa đâu. Nên biết rằng tôi đã từng ở trong sa mạc, tôi đã từng sống bằng châu chấu và rễ cây, tôi đã từng cảm tạ cái tự do mà Chúa đã xuống ơn cho loài người: tôi sẵn sàng xung vào số người được Chúa lựa chọn, những người đầy uy quyền và mạnh mẽ, vì nóng lòng muốn "bổ sung cho đủ số" Nhưng tôi đã tỉnh ngộ và không muốn phục vụ một công việc điên rồ. Tôi đã quay trở lại và nhập với những người đã sửa chữa sự nghiệp của Chúa. Tôi lìa bỏ những người kiêu hãnh và trở lại với những người khiêm nhường vì hạnh phúc, của những người khiêm nhường ấy. Điều tôi nói với Chúa bây giờ sẽ thành sự thật, vương quốc của chúng tôi sẽ được dựng nên. Tôi nhắc lại, ngày mai Chúa sẽ thấy chúng tôi chỉ vẫy tay một cái là đàn cừu ngoan ngoan ấy sẽ đâm bổ đến hất thêm than hồng vào đống lửa thiêu Chúa, tôi sẽ thiêu Chúa vì Chúa đã đến gây phiền rầy cho chúng tôi. Bởi vì nếu có người nào đáng lên giàn hoả thiêu hơn ai hết thì đó là Chúa. Ngày mai tôi sẽ thiêu Chúa…


Viên pháp quan của anh không tin Chúa Trời, tất cả bí mật của ông ta chỉ có thế thôi!

Cho dù là thế đi nữa! Rốt cuộc chú đã đoán ra…

Tôi muốn kết thúc nó như sau: viên pháp quan tôn giáo im tiếng một lát, chờ xem kẻ bị giam trả lời ra sao. Sự im lặng của Chúa thật nặng nề đối với ông ta. Ông ta thấy người này vẫn lắng lặng nghe ông ta với vẻ hết sức thấm thía, và xem ra không muốn bác bỏ gì hết. Ông già muốn Chúa nói với ông ta điều gì, dù là cay đắng, đáng sợ. Nhưng Chúa bỗng lẳng lặng đến gần ông già và dịu dàng hôn lên cặp môi tái nhợt của ông lão chín mươi. Đấy là tất cả câu trả lời. Ông già rùng mình. Khóe môi ông rung động. Ông ta mở cửa, nói với Chúa: "Chúa đi đi và đừng đến nữa… đừng bao giờ đến nữa… đừng bao giờ, đừng bao giờ". Ông ta thả cho Chúa đi vào "những phố phường tăm tối của đô thành". Người bị giam ra đi…”

( lược trích chương 5  “ Anh em nhà Karamazov” do Phạm Mạnh Hùng dịch)

Hơn 120 năm từ khi “ Anh em nhà Karamazov” ra đời, có hàng trăm học giả viết hàng trăm bài luận văn bình phẩm đoạn “ Viên đại pháp quan tôn giáo” về ý nghĩa thần học, triết học, văn học, sử học, chính trị học, luật học, mỹ học…, tranh luận ác liệt về các ý nghĩa tương phản trong hình tượng văn học bất hủ và vĩ đại này. Đến nỗi, S. Freud đã gọi đoạn trường ca “ Viên đại pháp quan tôn giáo” trên là áng văn hay nhất thế giới từ xưa đến nay. Có lẽ, chính hứng khởi từ trường ca này, A. Einstein đã ca tụng Dostoyevski hết lời, rằng : “ Dos đã cho tôi nhiều hơn bất cứ nhà tư tưởng nào của nhân loại”. Có lẽ, chính vì hứng khởi từ trường ca này, F. Nietzsche đã viết như sau trong đoạn “Người điên” trích trong kiệt tác văn học-triết học của ông  : “ Zarathustra đã nói như thế” rằng :

“Chúa đã chết. Chúa vẫn chết. Và chúng ta đã giết Ngài. Làm thế nào để tự an ủi chính chúng ta, những kẻ sát nhân của tất cả những kẻ sát nhân? Kẻ linh thiêng và hùng cường nhất mà thế giới hãy còn công nhận đã chảy máu đến chết dưới những lưỡi dao của chúng ta: ai sẽ lau đi vết máu này đây? Có thứ nước nào để ta tẩy rửa chính mình không? Chúng ta còn có thể bày ra lễ hội sám hối nào, những trò chơi linh thánh nào nữa đây? Liệu sự vĩ đại của hành động này có quá vĩ đại đối với chúng ta chăng? Liệu chúng ta có nên không trở thành chúa chỉ để tỏ ra xứng đáng với việc đó?”

Nietzsche từng coi kiệt tác “ Anh em nhà Karamazov” là cuốn sách gối đầu giường, là kinh thánh mới của ông, nên ông đã thấm nhuần tư tưởng Dos trong lời nói nổi tiếng trên của mình, khiến nhiều người hiểu nhầm rằng ông nguyền rủa Thượng đế. Không, cả Dos và Nietzsche đều tôn vinh Thượng Đế bằng cách làm ra vẻ báng bổ Ngài, theo kiểu Huệ Năng tôn vinh Đức Phật.

Trong lời tựa cho tác phẩm “ Anh em nhà Karamazov”, dịch giả, nhà văn Phạm Mạnh Hùng, có đoạn viết : “Trong bản trường ca “ Viên đại pháp quan”, Dostoyevski lên án gay gắt đạo Thiên Chúa mà ông căm ghét và đả kích quan niệm chủ nghĩa xã hội trại lính ( Dostoyevski coi quan niệm này là chung cho mọi học thuyết về xã hội chủ nghĩa)”

Người ta cần phải học phương pháp bóc vỏ hành trong khi đọc sách Dos. Cái vỏ bên ngoài hình như đoạn văn trên Dos lên án giáo hội Thiên Chúa giáo lợi dụng Chúa Jesus để mê hoặc giáo dân, để làm chiêu bài nô lệ hóa con chiên ? Nhưng càng đọc, càng tiếp nhận Dos ở nhiều chiều kích khác nhau, mới thấy “nói vậy không phải là vậy”, rằng thực ra đây là đoạn Dos ca ngợi Chúa Jesus nhất.

Viên đại pháp quan tôn giáo ngồi ra lệnh thiêu sống hàng nghìn con người ngoại đạo hay báng đạo, vẫn nhân danh Chúa, nhân danh điều răn cấm giết người của Chúa để giết người không gớm tay, chính là ông ta ( quan giáo hội) đang gián tiếp muốn giết Chúa, hỏa thiêu Chúa một lần nữa. Ki-tô chính là Cái Đẹp, là Chân Thiện Mỹ, là mục đích cao cả của Thiên Chúa Giáo, là Chân Lý bỗng biến thành phương tiện cai trị, thàng công cụ hóa tước đoạt tự do các tín hữu. Viên đại pháp quan tôn giáo kia chỉ là một biểu tượng cho mọi kẻ thống trị trong các thời đại của loài người.

Bọn thống trị ấy hầu như đều nhân danh một mục đích cao cả nào đó, ví như mục đích giải phóng, mục đích mang lại tự do, hạnh phúc, mang lại thế giới đại đồng cho con người để lừa đảo con người, để làm bình phong, làm phương cách nô dịch hóa con người, bầy đàn hóa con người. Chúng, bọn thống trị mang tinh thần Viên đại pháp quan kia nhân danh Chúa để giết Chúa, nhân danh Cái Đẹp để xóa bỏ chân thiện mỹ, nhân danh tự do để cầm tù con người, nhân danh Chân lý để diệt Chân lý là thông điệp Dostoyevski cảnh báo dân tộc Nga và thế giới không chỉ trong “Anh em nhà Karamazov” mà trong hầu hết trong các tác phẩm khác của ông.

Trong đoạn văn trên còn câu chuyện Viên đại pháp quan nói với Chúa rằng, Chúa đã sai lầm khi không đổi tự do tuyệt đối của mình lấy phép thuật của qủy Sa-tăng khi quỷ muốn đổi tự do của Chúa lấy bí mật phép lạ biến đá thành bánh mì, vì dân chúng chỉ cần bánh mì, không cần tự do. Ấy là việc Kinh Thánh chép khi Jesus vào hoang mạc, ăn chay 40 ngày đêm, qủy hiện ra thứ thách Ngài ba điều : nếu là Chúa thật sao ông không biến đá thành bánh mỳ ăn cho đỡ đói ? Nếu là Chúa thật sao ông không nhảy từ đền thờ xuống cho các thiên thần đỡ lấy ? Nếu ông quỳ lạy ta, ta sẽ ban cả thế gian này cho ông cai trị ? Viên đại pháp quan chê chúa dại dột, không hành động theo lời qủy xúi. Rằng vì cái lợi, vì bánh mì, vì quyền lực, con người khác Chúa sẵn sàng đổi tự do tuyệt đối để lấy các thứ lợi lộc do qủy đề xuất kia. Rằng Viên đại pháp quan thích theo qủy sướng hơn theo Chúa để có quyền lực trên thế gian, hơn là sự bất tử trên nước trời. Mục đích tối thượng của Viên đại pháp quan và kẻ thống trị các xã hội trần gian cần là bánh mỳ, là quyền lực chứ không phải chân lý. Chân lý, cái đẹp chỉ là bánh vẽ bọn thống trị đưa ra để dụ dỗ con người; rằng ta hứa cho nhân dân tự do, thì ngược lại, nhất định các người sẽ nhận được nhà tù; rằng ta hứa cho các người thiên đường đại đồng trên trái đất, nhất định nhân dân chỉ có thể nhận được từ tay kẻ thống trị xảo ngôn địa ngục mà thôi…

Không chỉ dịch giả Phạm Mạnh Hùng nhận thấy Dos căm ghét đạo Thiên Chúa giáo mà rất nhiều người đọc Dos theo kiểu mặt phẳng cũng có quan điểm trên; trong khi từng trang sách của Dos chỉ mượn mặt phẳng giấy để trưng ra không gian muôn chiều các ý nghĩa sâu sắc tột cùng của một triết gia dùng xúc cảm trái tim gửi thông điệp tới nhân loại: “ Cái đẹp ( theo ý nghĩa rốt ráo là Chúa Jesus) sẽ cứu vớt thế giới”.

Hãy xem, Dos viết gì về tín ngưỡng Ki-tô giáo của mình : “Tôi tin rằng không có gì đẹp hơn, sâu sắc hơn, đáng mến hơn, thông minh hơn, dũng cảm hơn và toàn bích hơn Đức Chúa Ki-tô…Giả sử có ai chứng minh được cho tôi rằng Ki-tô ở ngoài chân lý và quả thực chân lý ở ngoài Ki-tô, thì tôi vẫn muốn ở lại với Ki-tô, chứ không với chân lý”. Dos còn tuyên bố nhiều lần xác tín niềm tin tuyệt đối vào Thiên Chúa của ông. Những năm tháng bị tù, bị biệt giam trong hầm tù tử hình, bị đi đày, bị làm lính thú tại Xibia, Dos luôn mang theo vật bất li thân là cuốn Kinh Thánh Tân Ước.Trước ngày chết ba tháng, Dos còn viết những dòng này trong nhật ký : “ Bọn vô lại chế diễu tôi tin một cách cổ hủ và vô học vào Thượng Đế…”. Lúc lâm chung, Dos nhờ người vợ tuyệt vời của ông là Anna Grigorievna Snitkina đọc cho ông đoạn Kinh Thánh ngẫu hứng nào bà mở ra. Đoạn, Dos trút hơi thở cuối cùng trong lời Kinh Thánh.

Niềm tin vào Chúa Ki-tô của Dos và các nhân vật của ông là một hành trình thương khó, khổ ải vô bờ, tự mình đóng đanh tâm hồn mình lên cây thánh giá của hoài nghi, của suy tư triết học, của sự cật vấn, truy nguyên rất khó chịu của bộ óc còn nguyên vẹn sự tò mò con trẻ trước các tín điều về Chúa Ba Ngôi, về việc hiến tế thân mình cho Cái Đẹp tuyệt đối, tha thứ tuyệt đối, hi sinh tuyệt đối của Jesus lấy máu mình làm chứng sự vĩnh hằng…
Trước Ki-tô, cũng như loài người, Dos và các nhân vật của ông hầu như đều được sinh ra và lớn lên trong tội lỗi, trong vô minh, trong dục vọng thấp hèn, trong sự giãy giụa muốn thoát khỏi Thượng Đế để tha hồ làm ác nơi thế giới này đang bị quỷ ám.

Trước khi giác ngộ về CÁI ĐẸP của Chúa sẽ cứu vãn thế giới, Dostoyevski từng đã có thời trai trẻ sống thác loạn trong cờ bạc, rượu chè, trai giái, từng hoài nghi về Thiên Chúa, từng khát vọng làm cách mạng thay đổi thế giới bằng bạo lực. Sau tác phẩm đầu tay thành công : “Những kẻ bần hàn” được Belinski tiên đoán Dos sẽ là nhà văn Nga vĩ đại nhất. Nhưng rồi Dos rời bỏ nhóm Belinski vì bất đồng nghệ thuật . Dos tham gia nhóm Petrashevsky theo trường phái xã hội chủ nghĩa không tưởng của nhà triết học Pháp Fourier ( 1772-1837), dùng bạo lực để lật đổ chế độ Nga hoàng.

Nhóm cách mạng này của Dos chủ trương, sau khi lật đổ chế độ quân chủ, sẽ xây dựng một xã hội chủ nghĩa không còn sở hữu cá nhân, chỉ có sở hữu nhà nước, nhân dân sẽ ở chung, ăn chung, làm chung, tiến đến xã hội làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu, đưa con người trở lại thời kỳ cộng sản nguyên thủy khi chưa xuất hiện văn minh tư hữu. Nhóm này theo học thuyết của Fourier ( cùng với Saint Simon, Robert Owen) chủ trương thành lập các công xã cho sản xuất nông nghiệp & công nghiệp ( phalansteries), xóa bỏ văn minh tư hữu, xây dựng văn minh công hữu, xóa bỏ sở hữu cá nhân; rằng mọi tai họa của xã hội đều do chế độ tư hữu gây ra, chỉ cần xóa bỏ nó là có một thế giới tự do, bác ái, công bằng, đại đồng, thiên đường trên mặt đất sẽ được thiết lập trên toàn thế giới trong vòng ba mươi năm đến năm mươi năm theo tính toán của Fourier, Leroux, Cabet…Sau này, K. Marx, F.Engels coi Fourier và các đồng chí của ông là thủy tổ của chủ nghĩa cộng sản, đặt cơ sở lý luận cho học thuyết của Marx & Engels.

Năm 1847, Dos tham gia tổ chức bí mật xã hội chủ nghĩa này, chủ trương dùng vũ lực lật đổ Nga hoàng, sau đó mới xây dựng chế độ công xã toàn Nga và toàn thế giới. Nhưng năm 1849, nhóm cách mạng Petrashevsky chưa kịp manh động thì bị bắt. Mười sáu người trong nhóm bị kết án tử hình, bị giam trong hầm tối của pháo đài Petropavlovskaya suốt 09 tháng. Ngày 16-11-1849 Dostoyevski và 15 người trong nhóm bị tử hình trên trường bắn của pháo đài. Trước khi 16 nhà cách mạng bị bắn, linh mục Chính thống giáo đến đọc kinh cầu hồn cho họ, cho phép họ được làm dấu thánh và đọc kinh cầu Chúa lần cuối cùng.

Khi những viên đạn súng trường Nga nổ vang trường bắn, Dos kêu tên Chúa lần cuối cùng, theo phản xạ, ông gục xuống nhận lãnh cái chết vì tội dùng vũ lực toan lật đổ chính quyền. Nhưng phép lạ đã xảy ra, sau loạt đạn giết chết các tử tù, kỳ lạ thay, ông thấy mình không chết, không đau đớn gì cả và ông nghi rằng mình đã chết hẳn về thân xác, chỉ còn linh hồn mình phục sinh giúp mình nhận thức về sự sống vĩnh hằng của linh hồn đang đến nước Chúa. Nhưng không, Dos nhận ra không phải ông đang tồn tại trong cõi linh hồn, mà thân xác ông chưa chết, không chết. Hay là ông đã phục sinh sau khi chết để đến tòa Phán xét chung. Cũng chính lúc ấy, tiếng loa của trường bắn ra lệnh của Nga hoàng ân xá tội chết cho 16 tử tù, giảm án xuống thành tù khổ sai 10 năm. Khi được cởi trói và tháo bỏ băng bịt mặt, Dos mới biết Nga hoàng chỉ thử thách 16 nhà cách mạng mà thôi, bằng cách tổ chức một cuộc tử hình giả. Chỉ sau khi gần như được sống lại trong sự ân xá nhân đạo của Nga hoàng, Dos đã nhận ra bạo lực cách mạng không thể nào giải quyết được những mâu thuẫn trong thế giới này. Chỉ có bằng tình thương yêu của Thiên Chúa mới cải tạo được thế giới và con người mà thôi.

Suốt những năm tháng bị giam cầm trong nhà hầm chờ án tử hình, bị đày tại Xibia trong nhà tù Omsk suốt bốn năm trời, bị trưng dụng làm lính thú ở Kazakhstan…Dos luôn mang cuốn Kinh Thánh bên mình. Ra tù, thoát đời lính thú, năm 1860 Dos về lại kinh đô Sankt Peterburg, làm người tự do, không hề bị quản thúc hay theo dõi, được hoàn toàn tự do sáng tác, được tự do sang du lịch châu Âu, được cùng với người anh trai thành lập tờ báo tư để thông báo về sự nhận thức lại của Dos, từ bỏ bạo lực cách mạng manh động, từ bỏ chủ thuyết xã hội chủ nghĩa hoang tưởng rất ấu trĩ và phản khoa học của Fourier, lấy chủ nghĩa nhân văn Thiên Chúa giáo Chính thống để mang lại tự do, bác ái, công bằng cho tất cả mọi người làm thiên hướng cho ngòi bút.

(còn tiếp phần cuối)

Dostoyevski trong một thế giới duy ác (phần 2)

Trần Mạnh Hảo gửi RFA từ Sài Gòn
2011-12-23
Mùa Noel 2011, viết nhân kỷ niệm 190 năm ngày sinh của đại văn hào Nga Fyodor Mikhaylovich Dostoyevski: 11-11-1821 và 120 năm ngày mất của ông : 9-2-1881
Source livre de poche
Tác phẩm“ Crime et Châtiment” (tội ác và trừng phạt) và đại văn hào Nga Fyodor Mikhaylovich Dostoyevski
Dostoyevski trong một thế giới duy ác (phần cuối)


Năm 1864, Dos công bố tiểu thuyết “Bút ký từ nhà hầm” nhằm phê phán quyết liệt trào lưu hư vô chủ nghĩa và trào lưu xã hội chủ nghĩa đang thịnh hành ở Nga và châu Âu. Dos chế diễu xã hội công xã của Fourier bằng cách đưa ra ba cấu túc xã hội theo kiểu “ tổ kiến”, theo kiểu “ chuồng gà” , theo kiểu “ lâu  đài pha lê”…Một xã hội bị tước đoạt sở hữu cá nhân cũng là một xã hội tước đoạt tự do của con người. Chúa Ki-tô chịu xuống thế và tử nạn trên cây thánh giá nhằm giải phóng con người khỏi chế độ nô lệ, mang lại tự do, hạnh phúc cho con người. Mô hình xã hội công xã “ tổ kiến”, “chuồng gà”, “ nhà pha lê” là mô hình cầm tù hóa, nhà hầm hóa con người, tước đoạt tự do và mọi cái riêng tư của con người, đưa con người trở thành chế độ bầy đàn của loài thú là tội ác không thể tha thứ.

“Bút ký từ nhà hầm” là tiểu thuyết chính luận của Dostoyevski nhằm tranh luận với nhà văn, nhà cách mạng dân túy, cách mạng xã hội chủ nghĩa Chernyshevski ( 1828-1889). Chernyshevski kêu gọi nông dân Nga dùng rìu để chặt đổ chế độ Nga hoàng rồi toàn dân tiến lên xã hội công xã nhân dân : ăn chung, ở chung, làm chung, hưởng hạnh phúc chung. Tiểu thuyết “Làm gì ?” của Chernyshevski gửi từ trong tù ra in và phát hành rộng rãi, như một quả bom cách mạng khuynh tả kích động dân Nga nổi dậy “ đấu tranh giai cấp” , mặc dù năm 1861, chế độ nông nô ở Nga đã bị hủy bỏ ( mới hay chế độ tự do báo chí, tự do xuất bản, tự do ngôn luận của chế độ Nga hoàng quá tuyệt vời). Karl Marx từng hết lời ca ngợi Chernyshevski : “ Ông là một học giả Nga vĩ đại, một nhà phê bình bậc thầy đã triệt để phê phán sự phá sản của kinh tế học tư sản”.  Tiểu thuyết “ Làm gì” của Chernyshevski xây dựng hàng loạt nhân vật và hình ảnh về xã hội tương lai của Nga, một xã hội xã hội chủ nghĩa tuyệt vời hoàn hảo, không còn giai cấp, mọi người tự nhiên trở nên thánh thiện vì không còn hình thức tư hữu, cả xã hội như lâu đài pha lê trong suốt, mọi người đều nhìn nhìn thấy nhau cười nói múa hát vui tươi phấn khởi như hoa mùa xuân.
V. Lenin đã nhiệt liệt hoan nghênh cuốn “ Làm gì”, gọi Chernyshevski là người thầy của cách mạng Nga. Đến nỗi Lenin đã mượn tiêu đề của Chernyshevski viết một luận cương cách mạng vô sản nổi tiếng “ Làm gì ?”

“Bút ký từ nhà hầm” của Dostoyevski viết nhằm mục đích phản bác, chế diễu quan điểm xã hội chủ nghĩa ảo tưởng và phản nhân tính của Chernyshevski, có ý ví “ lâu đài pha lê- xã hội chủ nghĩa” của Chernyshevski là ngôi nhà hầm, tức một nhà tù thực sự . Dos gọi mô hình xã hội chủ nghĩa công xã kia là “ còn đáng ghét, khủng khiếp hơn nhà tù khổ sai”. Qua tiểu thuyết này, chúng ta thấy thiên tài của Dos đã tiên tri rất chính xác, đã báo trước về cái nhà tù khổ sai có tên xã hội lâu đài pha lê, xã hội chủ nghĩa trại lính, xã hội chủ nghĩa bầy đàn man rợ đã tước đoạt tự do của con người sẽ xảy ra sau này ở nước Nga suốt 74 năm sau ngày Dos chết ( 1917-1991)

Hầu hết các nhân vật trong nhiều cuốn tiểu thuyết của Dostoyevski theo “ ý thức hệ ác”, theo thuyết duy ác đều là những nhà trí thức, những con người muốn nhảy ra cứu đời, cứu thế, trang bị cho mình một hệ tư tưởng thiên tả, thiên ác, coi cái ác là phương cách duy nhất cải tạo thế giới, đưa con người đến thế giới đại đồng. Thậm chí, những nhân vật này đôi lúc cũng lên “cơn động kinh yêu thương con người”, dùng thuyết siêu nhân để biện hộ cho mình : rằng mục đích tốt đẹp cho phép ta dùng bất kể phương pháp, dù giết hàng trăm triệu người để xã hội tiến tới đại đồng thì vẫn cứ là tốt đẹp, là cao cả. Quan niệm nguy hiểm nhất của các phái hệ ác, các hệ tư tưởng của các nhân vật theo thuyết siêu nhân, dùng “ Cái ác sẽ cứu vãn thế giới” nơi các tiểu thuyết của Dostoyevski là chúng núp dưới bóng đen của thuyết vô thần; rằng khi không có Thượng đế, khi Thượng đế đã cút khỏi thế giới thì ta muốn làm gì thì làm, muốn giết ai thì giết, chẳng lo bị trừng phạt. Rằng, không có thượng đế, các đồng chí vô thần chúng ta hoàn toàn tự do, tuyệt đối tự do làm ác,nhưng phát ngôn thì mới thánh thiện làm sao. Các nhân vật duy ác của Dos phải nói là đông như quân Nguyên, chúng vứt bỏ ám ảnh thượng đế để tìm tự do tuyệt đối mà thực thi học thuyết duy ác vô luân của chúng.

Những nhân vật bị Dostoyevski lôi ra từ “dưới nhà hầm” tội ác, trưng ra cho thế giới thấy nhân diện của chúng muốn dùng “ cái ác cứu thế giới” kinh tởm xiết bao, đốn mạt và vô luân xiết bao. Những nhà ác học này muốn dùng phương pháp địa ngục để xây dựng một thiên đường đường dưới thế. Đấy mới chính là thông điệp sâu sắc nhất, nhân văn nhất, Ki-tô nhất của Dostoyevski . Thiên tài tiểu thuyết này đã thông báo trước hàng ba, bốn chục năm với thế giới về đại họa của nhân loại mà thực tế lịch sử bi thảm của thế kỷ XX đã chứng minh những lời tiên tri, những hồi chuông báo động của Dos là hoàn toàn chính xác. Rằng các qủy vương của “lâu đài pha lê” đã đến để địa ngục hóa thế giới bằng thứ thiên đường phi cá nhân, phi sở hữu nồng nặc mùi thú dữ.

“ Lũ người qủy ám” của Dostoyevski ( tiêu đề này lấy từ Kinh thánh) là một tiểu thuyết tôn vinh cái đẹp, tôn vinh tự do, tôn vinh công bằng bác ái, phản bác lại học thuyết duy ác của những kẻ siêu nhân cho mình có quyền giải phóng con người bằng cách giết người, xóa bỏ các tầng lớp người khác không cùng với con người trong quan niệm của học thuyết duy ác. Dostoyevski, một tín đồ trung thành theo chân Chúa, dùng học thuyết Duy -Thiện để đáp lại học thuyết duy ác của các tín đồ Fourier, Chernyshevski… Các nhân vật siêu nhân, những nhà cách mạng hoành tráng trong “ Lũ
Đại văn hào Nga Fyodor Mikhaylovich Dostoyevski: 1821-1881
Đại văn hào Nga Fyodor Mikhaylovich Dostoyevski: 1821-1881
người qủy ám” như Piotr Verkhovenski và Sihigaliov từng tuyên bố : “Xuất phát từ tự do vô giới hạn, chúng tôi chủ trương đi đến một nền độc tài vô giới hạn”. Nhân vật trong “ Lũ người qủy ám” diễn thuyết về cái đẹp đồng nhất với cái cao cả, đồng nhất với chân lý Ki-tô trước một đám người hầu như đã bị qủy ám, thờ ơ, vô cảm đang lừ lừ trôi theo dòng cuồng lưu ngầm của cái ác, như sau : “Không có người Anh nhân loại vẫn sống được, không có người Đức cũng thế, không có người Nga sống được quá đi chứ, không có khoa học cũng được, không có bánh mỳ cũng được, chỉ không có CÁI ĐẸP là không sống được, bởi vì sẽ không còn gì trên đời để làm nữa. Toàn bộ bí mật là ở đây, toàn bộ lịch sử ở đây”…” Toàn bộ quy luật của sự tồn tại nhân loại chỉ là để sao cho con người luôn luôn có một cái gì lớn lao vô hạn để tôn thờ. Nếu bị tước đoạt cái lớn lao vô hạn này, con người sẽ không còn muốn sống và sẽ chết trong tuyệt vọng”…

Thông qua bề mặt của đề tái tội ác, qua cái thế giới bị qủy thôi miên làm xã hội con người đánh mất nhân tính, đánh mất tình thương yêu, Dostoyevski muốn phục sinh lại tự do cho con người, với một thông điệp luôn luôn mới, luôn luôn cần thiết cho mọi thời đại : tự do quý hơn bánh mỳ, tự do quý hơn hạnh phúc, tự do đồng nhất với nhân tính. Tiểu thuyết “ Chàng ngốc” của Dostoyevski viết về con người trí thức theo chủ thuyết duy thiện Mưskhin (Myshkin) vốn được Chúa tạo nên từ bùn đất của cái đẹp, như Sa mạc trong Kinh Thánh xứ Canaan sinh ra những chùm nho ngon ngọt đến nỗi hai người khiêng nặng. Mưskhin hiện thân của cái đẹp, của sự ngây thơ trong trắng. Mưskhin cả tin, thương người hơn bản thân mình, muốn thế giới hoàn mỹ bằng tình yêu mến. Anh dù học hành nhiều, tri thức hơn người nhưng anh ngốc, anh khờ trước một thế giới dối trá, lừa đảo. Anh đi một mình và rủ người tình Natasia Philippovna theo con đường của Chúa đến Golgotha làm cuộc cách mạng dễ thương của cái đẹp. Nhưng khát vọng đẹp, khát vọng cao cả, khát vọng chân lý của đôi trai tài giái sắc này bị cái ác trần thế vùi dập. “Chàng ngốc “ chính là thông điệp của Dostoyevski về việc cái đẹp đã , đang và sẽ còn bị cái ác đánh bại, cái đẹp đã bị đóng đinh trên câu rút như Ki-tô xưa. Làm sao, làm gì để phục sinh cái đẹp, như Chúa đã phục sinh  ?

Nhân vật Raskolnikov nơi kiệt tác “ Tội ác và trừng phạt” của Dostoyevski dường như dùng để nhà văn trả lời thao thức ấy. Dos đưa ra một lý giải thiên khải : khi nào kẻ ác còn khả năng sám hối, Cái Đẹp nhất định sẽ phục sinh. Raskolnikov là một nhân vật trí thức, đọc rất nhiều sách, muốn nhảy ra lập lại trật tự cho thế giới lộn tùng phèo này bằng học thuyết siêu nhân. Anh ta đi đến một kết luận mang đầy vẻ triết học : muốn cứu thế giới phải giết người. Anh ta cũng đưa ra một triết thuyết khác làm cơ sở cho thuyết duy ác sẽ cứu thế giới của mình là cần phải xua đuổi kẻ rách việc, kẻ rình mò tâm hồn anh ta suốt ngày đêm, kẻ canh giữ thế giới như cú vọ canh tổ ra khỏi tâm hồn anh ta và tâm hồn nhân loại là Chúa Jesus. Bởi anh ta biết mang Jesus trong mình, có Jesus bên cạnh, anh ta không được tự do tuyệt đối, không được tự do giết hết kẻ nghèo hèn trên đời để có một nhân loại khác hung ác hơn vì cái ác chính là cái mạnh. Raskolnikov đã giết người một cách có ý thức, giết người một cách triết học, giết người có định hướng xã hội chủ nghĩa. Bằng hệ tư tưởng ác, Raskolnikov đã trở thành một nhà ác học nổi tiếng nhất trong toàn bộ các nhân vật ác của văn học thế giới, một cái ác có chủ nghĩa, chủ thuyết, một cái ác mà nếu đem qủy Satăng so với anh ta, qủy vương kia mới chỉ là hội viên hội từ thiện mà thôi.

Nhưng Dostoyevski là một nhà văn nhân đạo chủ nghĩa lớn nhất thế giời đã không để tên Cain mới này xuống địa ngục của cái ác, khi hắn đã đi hết chặng đường của chủ nghĩa ác và phải vào tù. Chúa Trời, hay chính là tinh thần nhân đạo cao cả của Dostoyevski đã sai một nhân vật nữ thánh thiện xuống tận đáy của vũng lầy tội ác mà gieo vào linh hồn rắn độc Raskolnikov một tia sáng của hi vọng phục sinh : ấy là sự tự sám hối. Nhân vật nữ thánh thiện ấy có tên là Sonia Manmeladova đã đến, bằng tình yêu cải tử hoàn sinh cho tâm hồn Raskolnikov, khiến hắn còn cơ hội làm người và tự sám hối ăn năn suốt cả cuộc đời mình. Chính Raskolnikov đã bị cái ác dày vò cả đời, đấy chính là đòn trừng phạt ghê gớm hơn lửa địa ngục mà hắn phải nhận lấy để rửa hết tội lỗi trần gian.

Thông điệp vĩ đại của Dostoyevski nằm ở đây : hỡi cái ác, hởi kẻ ác, hỡi chủ nghĩa ác, hỡi chế độ ác, hỡi xã hội ác, các người sẽ vẫn còn có cơ hội hoàn lương nếu các người còn biết sám hối, biết ăn năn tội lỗi mà quay đầu trở lại với chân thiện mỹ. Đấy phải chăng là tinh thần nhân đạo cao cả nhất của Chúa Ki-tô thổi vào ngòi bút thiên sứ Dostoyevski ?

Sau thành công vang dội thế giới của kiệt tác “ Tội ác và trừng phạt”, Dostoyevski đã được Chúa ban cho một nàng thánh nữ khác, không phải là thánh nữ Sonia hư cấu đến cứu linh hồn Raskolnikov, mà là một thánh nữ trần gian rất thật tên là Anna Grigorievna Snitkina mới vừa 20 tuổi. Trong cơn bĩ cực nhất của cuộc đời, Dostoyevski vào những năm 1865, 1866, 1867 hầu như đã bị con quái vật cờ bạc nuốt sống. Cùng vời đam mê cờ bạc đến gần như mất trí, là đam mê trác táng rượu chè, trai giái sa đọa, làm Dos khánh kiệt đến nỗi có thể chết đói.
 
Nhưng Chúa đã phái nữ thiên thần Anna Skitkina đến cứu ông trong một cuộc kiếm tìm người thư ký đánh máy. Sau này, Anna thành vợ hiền của Dostoyevski, vừa làm vợ vừa làm người giúp việc, người quản lý tác phẩm và tiền bạc, người sinh cho ông mấy đứa con dễ thương, người đóng vai trò bảo mẫu cho chú bé con của Chúa Trời là Dostoyevski với bộ râu dài của các thầy tu Chính thống giáo, lúc nào cũng đăm chiêu trong bộ áo choàng thùng thình như đang cùng ba môn đệ chờ Chúa Jesus cầu nguyện toát mồ hôi máu vì sợ hãi quân dữ sẽ tới bắt bằng nụ hôn Juda trong vườn Gietsimani xưa.

Trước người vợ cuối cùng Anna - một người vợ vĩ đại - Dos đã từng kết hôn với với người đàn bà đã từng có một đời chồng và có con riêng là Maria Dmitrieva Isaeva do ông quen từ nơi đi đầy tại vùng tây Xiberi. Trong đêm tân hôn với người đàn bà tuy đẹp mà hơi bị rỗ hoa này, trong phút động phòng hoa chúc, Dostoyevski đã xúc động đến nỗi lên cơn động kinh, miệng xùi bọt mép như bong bóng xà phòng, giãy đành đạch như con trạch trong rổ, khiến vị hôn thê kinh hãi khóc như mưa gió than rằng : Chúa ơi, sao Ngài lại chơi xỏ con đến thế, Chúa lại ban cho con một con cua râu dài này làm chồng, khiến nó xùi bọt mép ra như dân Do Thái xưa ăn phải bả của Pharaông. Lạy Chúa tôi, sau một tuần lấy nhầm phải con cua xùi bọt mép vì động kinh làm chồng, con mới biết mình may mắn lấy được một chàng trai còn tân, một chàng trai chưa từng biết mùi đàn bà…Maria dù sao cũng phải tạ ơn Chúa đã ban cho nàng một thày tu trinh tiết làm chồng đang nằm kia run lẩy bẩy sau phút hoan lạc ái ân. Nhưng đời sống vợ chồng của Dostoyevski không hạnh phúc vì vợ hay ghen, vì ông không có nhiều tiền khiến hai người phải vay nợ để khỏi chết đói.

Sau khi người vợ chết vì bệnh lao phổi, Dostoyevski tự do theo qủy dâm dục chui vào giải phóng các nhà thổ sau những cơn rượu chè cờ bạc be bét. Ông cặp bồ với một cô gái có học, chịu chơi, có thể gây ba bốn trận bão trên giường trong một ngày, đẹp một cách lõa thể, có cặp bồng đảo khiếu khích cả thày tu tên là Apollinari Suslova. Cuộc tình ăn chơi hưởng lạc xảy ra sau những canh bạc này của Dos không bền, cô gái phóng đãng kia cuối cùng đã chia tay ông, đẩy nhà văn xuống các trang giấy trắng mà đem sức tàn dùng ngòi bút đào huyệt giấy để chôn mình : “ Bút đào huyệt giấy mà chôn mình dần” ( thơ TMH)

Chính người vợ do Chúa sai đến là Anna Snitkina kém Dos 25 tuổi đã cứu ông thoát chết khỏi các huyệt giấy đêm đêm ông mòn mỏi đào kiếm chữ để lấy tiền trả nợ món vay trước từ các ông chủ xuất  bản ki bo như sâu đo kia. Cũng chính nhờ sự phục vụ chồng vô điều kiện của bà, mà Dos có thời gian, có hứng khởi thực hiện thiên mệnh cao cả nhất đời mình là viết nên đại kiệt tác như một nước Nga thu nhỏ, một thế giới thu nhỏ có tên là “ Anh em nhà Karamazov”

Dos có ngẫu hứng sáng tác rất đặc biệt là hát lên, đọc lên, diễn lên các lời mới của cuốn tiểu thuyết để bà vợ Anna ghi chép lại. Ông có một giọng nói rất truyền cảm, rất Nga, âm vang ấm áp như giọng các thánh tu rừng xưa đứng một mình trên núi giảng lời Chúa cho chim muông suối rừng nghe . Có lần Dostoyevski đọc bài thơ “ Nhà tiên tri” của đại thi hào Puskin khiến cho một bà qúy tộc sướng quá, xúc động quá mà ngất đi, tí chết.

Dos mặc bộ áo choàng thày tu thùng thình, lưng thắt dây gai, đeo tượng thánh giá Chúa trễ xuống ngực toòng teng, có khi tay cầm cuốn Kinh Thánh bé, có khi không, rồi ông đi lại nhập đồng đọc to từng lời cho bà vợ thư ký đi theo ghi từng con chữ, hòa tan bản thân mình mà đóng vở kịch độc diễn, lúc là  Fiodor Karamazov cha, lúc là người con trưởng Dmitri Karamazov, lúc Dos lại là người con thứ Ivan Karamazov, lúc Dos hóa thành người con rơi, nửa kẻ hầu nửa con trong nhà là Smerdiakov, lúc Dos hóa thành người con thiên sứ trong nhà Aliosa…Bằng hình thức viết văn diễn kịch nhập đồng, một mình Dos đóng vai cả thế giới, đóng vai thiện vai ác, rồi trộn thiện vào ác, trộn qủy sứ vào thiên thần thành món cocktail của Chúa, với những nhân vật bi kịch  muôn mặt con người, với vô vàn chiều kích đôi khi trái ngược nhau. Nhiều khi sự độc diễn của ông nhanh kinh khủng, khiến bà vợ thư ký chép mỏi tay, chữ trên giấy dù chạy như ngựa không đuổi kịp cái thế giới tiểu thuyết đang diễn ra với tốc độ thiên sứ của kịch sĩ thiên tài diễn kịch trên mặt phẳng giấy là Dostoyevski.

Mỗi lần viết xong một trường đoạn của “ Anh em nhà Karamazov” Dos ngã vật xuống giường, đôi khi co giật động kinh, đôi khi phờ người như xác chết, lại đôi khi mắt sáng rỡ, hân hoan như vừa được thánh Pier rước lên thiên đường…Đôi khi như bị qủy ám, ông làm dấu đọc kinh rất lâu, rồi suy niệm nhờ Chúa dẫn đát ông hoàn tất con đường thương khó của các nhân vật trong cuốn tiểu thuyết cuối cùng. Hình như Chúa bảo ông : hôm nay ngươi nên tha tôi tớ gái của ta là Anna để nó cho con bú, để nó dọn dẹp căn nhà như đống rác của nguơi, để nó nấu món bò hầm Nga la tư cho ngươi khỏi chết đói, mà đi hết con đường vác đỡ thánh giá cho ta. Thế là Dos lại ngồi một mình, cắm mặt xuống trang giấy, thả cho ngòi bút phi nước đại, tứa ra một thứ máu xanh gọi là chữ, trước bình mực tổ bố như pháo đài từng cầm tù ông thu nhỏ, để những sợi râu dài Chính thống giáo quét lên trang giấy, như bọn râu dê này muốn trói nghiến lấy từng chữ ông vừa viết, quyết không cho chúng bỏ chạy như người Nga bỏ chạy khi quân Thổ xông đến…

Sau huyền thoại Cain giết em trai mình trong kinh Cựu ước mà dân gian có thành ngữ “Anh em nhà Cain”, đến lượt mình, Dostoyevski đã cống hiến cho nhân loại một huyền thoại khác :” Anh em nhà Karamazov”, nâng cao hơn tội ác mà Cain con ông Adam & Eva đã giết em trai ruột mình, bằng tội ác con giết cha.
Chính là đứa con rơi Smerdiakov đã ra tay giết cha ruột của mình, theo cái triết lý của người anh trí thức, nhà tư tưởng Ivan Karamazov : Chúa đi vắng rồi, Chúa trốn khỏi trần gian rồi, không có Chúa mày mới có tự do tuyệt đối, mày muốn làm gì thì làm, giết người ư, vô tư, cứ giết đi, nếu mày thích. Mấy anh em nhà Karamazov, trừ vị con của Chúa đi lạc vào gia đình Karamazov là Aliosa Karamazov, tất cả đều gốc có đạo, đều chịu phép rửa tội ở nhà thờ; nhưng tất cả, cả Fiodor cha và ba người con kia, đều muốn tìm một góc khuất vô thần của thế giới để cư trú, để che mắt Chúa và để tự do tuyệt đối muốn hãm hiếp, muốn giết người xin tùy thích.

Fiodor Karamazov cha, do cơn dục vọng của qủy sứ mà sinh ra, sợ Chúa hơn sợ cọp, nhưng liên tục tìm những căn hầm trú ẩn đào sâu như hang chuột, như huyệt mộ trong tâm hồn tội lỗi của mình để trú ngụ, hòng thoát khỏi sự canh chừng của Chúa để dâm ô trụy lạc thỏa thích, để hãm hiếp cả một cô gái tật nguyền mà sinh ra quái thai nửa người nửa ngợm Smerdiakov. Và quỷ vương đã đến làm mối cho hai cha con Fiodor và Dmitri chơi chung một con qủy cái đánh son môi với bộ ngực to ngang núi Sọ, vừa liếc mắt đưa tình vừa  phun mật ngọt dâm dục lên nhà Karamazov như rồng phun mưa. Sự loạn luân thống trị gia đình Karamzov, như từng thống trị thành Sodome bị Chúa hủy diệt vì loạn luân, vì tội lỗi ngút trời xưa trong Kinh Thánh.

Triết gia vô thần, nhà tư tưởng Ivan Karamazov đã nổi loạn chống lại trật tự an bài của Chúa đã cung cấp cho Smerdiacov vũ khí để biện minh, châm mồi lửa anh hùng rơm khao khát sự trả thù, tiêm chất ma túy tham lam để hắn giết chết cha mình mà cướp của.  Sau cái chết của người cha Feodor dâm ô trụy lạc, tham lam bủn xỉn, nghiệp ngập bê tha, kẻ nô lệ của dục vọng thấp hèn, kẻ trốn Chúa để hành lạc với tình nhân của con trai Dmitri Karamazov, khiến Dmitri bị đi tù oan…

Hình như sau cái chết của người cha, Dostoyevski đã cho cái ác tận cùng trong gia đình này cơ hội tỉnh ngộ là chút lương tâm còn sót lại lên tiếng sám hối.Dmitri biết mình bị bắt vì oan, bị vu cho tội giết cha mà y vẫn cúi đầu nhận thay cho các em mình. Đầy là dấu hiệu của cái ác thức tỉnh. Dos đã thay mặt Chúa Ki-tô mà cứu gia đình Karamazov bằng cách cho tên giết cha Smerdiacov hối hận quá mức, dày vò quá mức mà thắt cổ chết theo đường của Juda bán Chúa. Cả Ivan, cả Dmitri, cả Aliosa con út dù là thiên thần đức hạnh bay nhảy trong khu vườn đầy rắn rết nhà Kamarazov, cũng đều bị dày vò, đều hối hận vì tất cả cùng là can phạm giết cha.

Và lạ thay, người đọc kiệt tác này dường như cũng biến thành một nhân vật của cuốn sách, cũng hối hận vì cảm thấy mình đã góp phần gián tiếp gây ra vụ giết cha của anh em nhà Karamazov. Nhân loại sau Dos tuồng như dân tộc nào, nước nào, chế độ nào cũng là xã hội của những gia đình anh em nhà Karamazov. Thông điệp của Cái đẹp sẽ cứu thế giới ở chỗ nơi tột cùng của cái ác, nơi đáy hỏa ngục của nhà Karamazov, Dos đã để ngỏ một tia hi vọng là sự sám hối giúp con người có cơ quay lại với chân thiện mỹ, với đức tin vào tự do công bằng bác ác mà Ki-tô đã dùng dùng máu của mình để ký khế ước mới với nhân loại ( Tân Ước).

Buồn thay cho những anh em nhà Karamazov của dân tộc Việt Nam ta hôm nay, nơi cái ác, cái xấu, cái dối trá đang thống trị mà kẻ cai trị hình như không còn khả năng sám hối, không còn khả năng xấu hổ, không còn khả năng hướng thiện trong hội chứng nói dối muôn năm, muôn năm nói dối. Dostoyevski, đức thánh nhân của chủ nghĩa hiện thực nhân đạo ơi, Ngài hãy giúp nền văn học của chúng tôi, nền chính trị của nước chúng tôi một que diêm hi vọng mang tên khả năng sám hối nơi bóng đêm trường cửu đang bao phủ trái tim kẻ vô thần, từng ra tay đập phá đình chùa, nhà thờ, miếu mạo …còn có cơ hội tỉnh ngộ.

Nhân mùa giáng sinh, đọc lại  kiệt tác “ Anh em nhà Karamazov” của ngòi bút thiên sứ Dostoyevski, người mà chính ra phải được giáo hội Chính Thống giáo Nga phong thánh, nghe đâu đây lời thiên thần hát mừng Chúa ra đời bằng tiếng nói thầm vang vang trong gió : hỡi con người, hãy nhận lấy tự do và mặc vào mình như áo giáp của cái đẹp mà mang công bằng bác ái đến cho anh em các người. Hỡi người, người lấy quyền gì để đàn áp anh em ngươi, để tước quyền tự do dân chủ của dân chúng đất nước người, để bắt người yêu nước vào tù, để cướp đất nhà Chúa…? Hỡi tự do, hãy thổi lên cơn gió của Chúa Trời để giải thoát anh em ta khỏi mọi sự áp bức, thoát khỏi mọi nhà tù trá hình đang núp trong những xảo ngôn mật ngọt rắn rết.

Ơn Chúa, gấp kiệt tác của thiên tài Dostoyevski, người từng bị cấm nhắc đến, bị đốt sách suốt 74 năm trên đất nước của Ngài, vang vang đâu đây lời văn hào Nga từng được giải Nobel  Alexander Solzhenitsyn đọc trong buổi nhận giải thưởng Templeton vì những đóng góp của ông cho sự thăng tiến tôn giáo trên toàn thế giới năm 1983, rằng : “ Chính con người quên lãng Thượng Đế nên đại thảm kịch nước Nga đã xảy ra” .,.

Sài Gòn ngày 17-12-2011

T.M.H.

"HƯ VÔ" - ĐÔNG HẢI

HƯ VÔ
 
1- Đêm phủ lâu rồi...đã sáng chưa,
Phong ba mù mịt cuốn trong mưa.
Bên bờ vực thẳm cheo leo ấy,
Hoen ố một thời sách sử xưa! 
 
2- Ngăn cách ngàn trùng tựa giấc mơ,
Nỗi lòng ai kết đẹp như thơ.
Bên trời dĩ vãng mênh mang gợi,
Lối cũ, quê xưa bỗng nhạt mờ.
 
3- Nỗi nhớ dạt dào dãy lúa xanh,
Hương quê nhè nhẹ thoảng qua mành.
Bàng hoàng chợt tỉnh trăng vừa tỏ,
Để thấy sương khuya đẫm lá cành.
                  
4- Xuân vắng lâu rồi hỡi nhạn ơi,
Muộn phiền hoài bão vẫn chưa phơi.
Buông lơi mơ ước nhân sinh vậy,
Gẫm cái hư vô, gẫm mệnh trời.
 
5- Độc ẩm đêm này để biết cay,
Rượu nào chưa uống đã như say.
Bên đời kỷ niệm vương mang mãi,
Năm tháng theo cùng cánh hạc bay.
 
6- Năm tháng theo cùng cánh hạc bay,
Tìm đâu tuổi ngọc mất không hay.
Mộng xanh phai mãi trong mây loãng,
Tóc bạc thưa dần trước gió lay.
Bão tố vẫn về cho biển động,
Thủy chung còn đọng để thơ say.
Đường đời vốn dĩ khôn bằng phẳng,
Chỉ ngắm nhìn thôi chẳng giải bày,
 
7- Chỉ ngắm nhìn thôi chẳng giải bày,
Để lòng thanh thản với hôm nay.
Vần thơ cứ dệt khi chưa cạn,
Men rượu không nồng lúc đã say.
Khóm trúc vừa tàn mưa lại đến,
Hàng dương chửa lặng gió còn lay.
Tha nhân tự cổ hề đa dạng,
Ai cảm ráng chiều mây trắng bay.
 
8- Ai cảm ráng chiều mây trắng bay,
Bởi sầu thiên cổ phủ tương lai.
Mệnh trời đã đặt, câu thành bại,
Phận số còn mang, chữ rủi may.
Nỗi nhớ u hoài trong ánh mắt,
Niềm thương ôm ấp ở vòng tay.
Mình về ngắm đoá hoa sen tự,
Để gẫm cho đời sự đúng sai.
 
9- Để gẫm cho đời sự đúng sai,
Trăm năm cõi ấy vốn không dài.
Đêm thu hoa lá rơi rơi rụng,
Bên cửa trăng sao lấp lánh cài.
Nhớ áng thơ xưa mình vẫn cảm,
Quên bầu rượu cũ họ đang say.
Ngoài hiên ánh nguyệt thanh thanh tỏa,
Soi xuống mặt hồ một hoá hai.
 
Trầm Thy Trang 3/98
ĐÔNG HẢI  

********

TRẦM THY TRANG.
 
Ngàn vàng không kết mối tri âm,
Bởi mến ngũ cung, chuộng áng trầm.
Mặc khách có duyên xin đáo lại,
Chung trà lữ thứ tải chân tâm.
 
TRẦM THY + ĐÔNG HẢI - Úc

 ***
Mời quý vị ghé thăm
Trang chủ: tramthytrang.com 
Trang văn [ngắn gọn]: ĐÔNG HẢI: Tâm Tư Người Viễn Xứ. Nguyên bản: CẦU TRE LẮC LẺO 
 
 
 
*********
 
Nếu nhân loại đã chạy nạn Cộng Sản từ năm 1917; thì nhân loại cũng đã chạy nạn quân phiệt - độc tài - từ trước đó, cho đến bây giờ và mãi về sau nữa... Mọi chế độ phi nhân, phi nghĩa...[mọi lý tưởng, chủ nghĩa...] đều có giai đoạn. Dân tộc là trường tồn. Họ sẽ phải trả lại cho dân tộc những gì thuộc về dân tộc…[trích tiểu thuyết CẦU TRE LẮC LẺO  ] 
Mời quý vị đọc qua đường dẫn: ĐÔNG HẢI: Tâm Tư Người Viễn Xứ.   [trang 1]
Trân trọng.

 
*********
ĐÔNG HẢI
TRƯỜNG CA - LỜI RU CỦA MẸ
(đề cập sơ lược đến lịch sử dân tộc; khởi từ thời
Hồng Bàng cho đến nhà hậu Lê với vua Lê Lợi...)***
Ngày xưa không mấy xa xưa
Ngày tôi chưa lớn cũng chưa biết buồn
Chẳng buồn chiều hạ mưa tuôn
Chỉ riêng đôi mắt mẹ buồn sang thu
Ngày xưa đông đến sương mù
Hết đông vui nhộn mỗi mùa xuân qua
Giãi dầu giông bão nắng mưa
Đong đưa chiếc võng năm xưa mỗi chiều
Mẹ ru trong gió hiu hiu
Lời ru trong cõi tiêu điều gian nan
Giọng ru trong tiếng võ vàng
Hôm nay như vẫn ẩn tàng trong tôi
Ru tôi từ thuở nằm nôi
Đến khi khôn lớn thành người Việt Nam
Việt Nam- Mẹ bảo Việt Nam
Việt Nam Bách Việt họ hàng chi tông
Bách Việt con cháu Thần Nông
Cùng trong một giống Tiên Rồng mà ra
Bách Việt trăm họ một nhà
Thời xưa Âu Việt sau là Quảng Tây
Dương Việt ắt đất Giang Tây
Ngày xưa U Việt sau này Triết Giang
Quảng Đông: Đông Việt rõ ràng
Mân Việt: Phúc Kiến nối giang san nhà
Lạc Việt tức bắc Việt ta
Việt Thường: Thanh-Nghệ-Tĩnh là hôm nay
Năm mươi thế kỷ cách nay
Dần dà đất nước về tay người Tàu
Mẹ ru trong tiếng thương đau
Mẹ thương Bách Việt mất nhau phũ phàng
- Việt Nam; mẹ bảo Việt Nam
Việt Nam sau gọi Văn Lang, Hồng Bàng
Văn Lang với họ Hồng Bàng
Hồng Bàng dựng nước Văn Lang: Vua Hùng
Văn Lang mười tám đời Hùng
Một thời con Lạc cháu Hồng hoan ca
Một thời non nước thái hòa
Văn minh, văn hóa khởi đà từ đây
Yêu thương, đùm bọc, xum vầy
Yêu thương như việc: Giây, cây, cau, trầu
Ẩn trong sự tích trầu cau
Sau thành tục lệ ăn trầu nhuộm răng
Con ơi có nhớ hay chăng
Cũng trong huyền sử Văn Lang, vua Hùng
Ta còn sự tích bánh chưng
Mặt trời, trái đất: Bánh chưng, bánh dày
Lưu truyền cho đến hôm nay
Khúc quanh lịch sử sau ngay thời này
Tổ tiên Bách Việt loay hoay
Loay hoay đoàn kết để xoay cuộc thời
Thế là Âu Lạc ra đời
Hùng Vương hết nghiệp đến thời Thục lên (*)
(*) Văn Lang nhà Thục và vua An Dương Vương 257-207 trước Tây lịch (ttl). Đóng đô ở đất Phúc Yên (Phong Khê) Cổ Loa được dựng để yên sơn hà
Vì Tần xâm chiếm nước ta
Tần không thắng được chúng đà lui binh
Bách Việt tái thống nhất mình
Triệu Đà dựng nghiệp dấy binh ngập trời
Thế là Nam Việt ra đời
Một trời, một đất, một thời mênh mông
Quảng Tây, bắc Việt, Quảng Đông
Tuy chưa đủ đất cha ông giống nòi
Nhưng là nước Việt hẳn hòi
Đến khi Tần phải vào thời cáo chung
Lưu Bang, Hạng Võ tranh hùng
Lưu Bang thắng Hạng vẫy vùng bắc phương
Nam Việt với Triệu Vũ Vương
Khởi suy từ buổi Vũ Vương băng hà
Hán xua quân đánh nước ta
Nước ta tể tướng Lữ Gia kiên cường
Nhưng không chống nổi bạo cường
Vua, tôi bị giết quê hương thuộc Tàu (*) 
(*) Văn Lang nhà Triệu 207-111 ttl
Thời kỳ bắc thuộc lần thứ nhất từ năm 111-39 ttl 
Con ơi khởi sự thương đau
Ngàn năm bắc thuộc khởi đầu từ đây
Hơn trăm năm trước lịch Tây
Đau thương, oan nghiệt đắng cay cho mình
Cái thằng Tô Định yêu tinh
Nó làm Thái thú đất mình gian tham
Gian tham, ác độc, bạo tàn
Thế nên Thi Sách mưu toan dựng cờ
Nhưng ông chẳng đặng thời cơ
Bị giặc bắt giết, mưu cơ không thành
Vợ ông: Trưng Trắc xuân xanh
Cùng em, Trưng Nhị dấy thành động binh
Tô Định thất vía hoảng kinh
Nó cùng bè lũ yêu tinh tan tành
Hai Bà cứu nước công thành
Đóng đô ở đất kinh thành Mê Linh (*)
(*) Hai bà Trưng: 40-43 stl. Hai Bà ở tại ngôi được gần hai năm. 
Một năm đất nước yên bình
Nào ngờ Đông Hán xua binh đánh mình
Mã Viện là tướng cầm binh
Nó bao vây đất Mê Linh đánh bà
Thế cô, lực cạn quân ta
Hai Bà thua trận, nước nhà tan hoang
Trầm mình khi đến Hát Giang
Trưng Vương liệt nữ danh vang một trời
Hò ơi con hỡi, con ơi
Thế là non nước tái hồi gian nan (*) 
(*) Thời kỳ Bắc thuộc lần thứ hai: 43-544 stl Dân ta xuống biển lên ngàn
Để tìm châu báu bạc vàng mà dâng
Dâng cho cái lũ ma quân
Để thằng Mã Viện về dâng Hán triều
Con ơi non nước tiêu điều
Suốt hai thế kỷ Hán triều trị ta
Chúng mưu diệt chủng dân ta(*)
(*)Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt.

Chúng mưu đồng hoá nước ta với Tàu
Trầm luân, tang tóc, bể dâu
Tiếng than dân Việt niềm đau của mình
Nhưng mưu chúng dệt chửa thành
Hán triều tan rã; tưởng lành cho ta
Cục diện Tam quốc bày ra
Đông Ngô, Thục, Nguỵ chia ba nước Tàu
Dân ta thống khổ thương đau
Máu xương tang tóc bể dâu trội phần
Đông Ngô nối tiếp Hán, Tần
Giữ nguyên chánh sách nô dân nước mình
Nữ hùng họ Triệu tên Trinh
Cùng anh: Quốc Việt dấy binh phạt Tàu
Cỡi voi xuất trận đi đầu
Đánh cho bọn chúng về Tàu mấy phen
Nhưng Ngô vẫn giữ mộng hèn
Truyền cho Lục Dận, một tên bạo tàn
Binh đông, tướng dữ dẫn sang
Nhuỵ Kiều nữ tướng hiên ngang vẫy vùng
Quyết là giữ lấy non sông
Nhưng không chống nổi thế công giặc thù
Hờn này mang đến thiên thu
Bà hy sinh bởi quân thù Đông Ngô(*) 
(*) Cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu: 248 stl Con ơi một mảnh cơ đồ
Bao nhiêu thế kỷ tựa hồ diệt vong
Mẹ tri mối hận quốc vong
Người mình giống Việt long đong bởi Tàu
Đến thời Nam-Bắc bên Tàu
Nước ta vẫn cảnh thương đau tủi hờn
Có người họ Lý tên Bôn (*) 
(*) Lý Bôn khởi nghĩa năm 541. Chấm dứt thời kỳ Bắc thuộc lần thứ hai.
Nước ta được tự chủ từ năm 544-602 stl 
Anh hùng đứng dậy rửa hờn quê hương
Đánh tan lũ giặc nhà Lương
Dẹp yên Lâm Ấp biên cương thu hồi
Vạn Xuân: Tên nước một thời
Minh quân Nam Đế, vua, tôi một lòng
An dân thái quốc những mong
Xây chùa dựng điện nối công nhân hiền
Kiên cường nối nghiệp tổ tiên
Giang sơn một mối, Rồng Tiên một nhà
Một năm thịnh trị hoan ca
Một năm tự chủ, vua ta, quan mình
Những đâu khói lửa đao binh
Giặc thù phương bắc tướng, binh dẫn vào
Chúng gieo máu lửa thương đau
Vua, tôi nước Vạn lao đao bởi thù
Sáu năm mai phục chiến khu
Việt Vương họ Triệu rửa thù quê hương (*)
(*) Năm 544, Lý Nam Đế lên ngôi, chưa đầy một năm thì giặc nhà Lương
lại sang đánh. Ông thua nhiều trận, sắp mất nước. Ông giao binh cho
tả tướng quân Triệu Quang Phục. Lý Nam Đế mất; Triệu Quang Phục đánh bại
quân địch và lên ngôi vua. Cháu của Lý Nam Đế là Lý Phật Tử không phục.
Nội chiến xảy ra.
 Vẫn thời đất bắc nhà Lương
Loạn ly đến mất nghiệp vương đế Tàu
Nhà Trần nối tiếp theo sau
Vạn Xuân thoát cảnh quan Tàu, dân ta
Nhưng là nội chiến xảy ra
Việt Vương thua trận, khởi đà quốc suy (*) 
(*) Lý Phật Tử đầu hàng nhà Tuỳ. Mở đầu cho thời kỳ
Bắc thuộc lần thứ ba: 602-938 stl 
Phật Tử họ Lý trị vì
Nước ta bị mất bởi vì vua suy
Bỉ cực tái diễn bởi Tuỳ
Mười lăm năm hậu Tuỳ suy đến Đường
Suốt ba thế kỷ đau thương
Suốt ba thế kỷ đoạn trường dân Nam
Đường cai trị nước An Nam
Ác ôn, quỷ quyệt gian tham khôn cùng
Con ơi đất nước khốn cùng
Bao nhiêu nghĩa sĩ, anh hùng đứng lên
Đánh tan lũ giặc mấy phen
Như Mai Hắc Đế vùng lên diệt Tàu 
(722 stl) Thằng Quang Sở Khách về Tàu
Nước ta lại được ít lâu an bình
Đường say giấc mộng nam chinh
Sai Dương Tư Húc kéo binh phạt mình
Cùng Quang Sở Khách điều binh
Đường-Ngu; ngu thật với mình với ta
Con ơi xã tắc sơn hà
Vua ta bại trận, nước ta thuộc Tàu
Thuộc Tàu: Ôi! Lại thuộc Tàu
Nước mình mảnh đất thương đau dặm trường
Đến năm Đai Lịch nhà Đường
Có người hảo hớn can cường vùng lên
Phùng Hưng tên gọi thương quen (*) 
(*)Bố Cái Đại Vương791 stlÔng cho lũ phỉ teng beng về Tàu
Thái lai non nước đồng bào
Yên vui xum họp cùng nhau một nhà
Một lòng kiến quốc bảo gia
Phùng Hưng một đấng quả là minh quân
Chăn dân với cả lòng nhân
Đại Vương Bố Cái minh quân băng hà
Phùng An nối nghiệp vua cha
Nhưng không giữ nổi sơn hà An Nam
Đường cho quân đến dụ hàng
Phùng An nhu nhược đầu hàng Triệu Xương
Con ơi tái cảnh đau thương
Con ơi có xót quê hương của mình
Một dân tộc với tử sinh
Một ngàn năm với chiến chinh chống thù
Hiểm nguy nhất vẫn Đường-Ngu
Chúng dùng văn hóa xây tù nước Nam
Chúng nuôi mộng huỷ An Nam
Chúng nuôi mộng biến người Nam thành Tàu
Nhưng rồi chẳng đặng vào đâu
Suốt bao thế kỷ vẫn Tàu vẫn ta
Cuối Đường loạn lạc xảy ra
Nguy ra cho giặc, may ra cho mình
Khúc Thừa Dụ dấy nghiệp binh (906-907)
Đánh cho lũ phỉ hoảng kinh tời bời
Tử, Sinh, yểu, thọ tại trời
Một năm Thừa Dụ tại ngôi trị vì
Nhưng là sao sáng một vì
Khai thời tự trị, tôn ty tự mình
Khúc Hạo nối nghiệp cha mình (907-917)
Giữ yên bờ cõi, dân tình an cư
Minh quân Khúc Hạo nhân từ
Ở thời đất bắc họ Chu diệt Đường
Lập ra giòng dõi hậu Lương
Vẫn nuôi mộng chiếm quê hương Lạc Hồng
Ngàn đời mộng chúng chẳng xong
Ngàn năm đô hộ đã xong một thời
Con ơi hùng sử một thời
Con ơi bi sử một trời đau thương
Ngàn năm lũ giặc nhiễu nhương
Chỉ còn Lạc Việt, Việt Thường có nhau
Nước ta Bách Việt là đâu
Đất mình vẫn trải ở Tàu hôm nay
Bao nhiêu thế kỷ cách nay
Nhưng mà vẫn mới như ngày hôm qua
Vẫn ghi trong dạ dân ta
Vẫn chờ ngày nổi phong ba lôi đình
Để đòi lại đất của mình
Để thôi nhược tiểu như mình hôm nay
Thế thời vận nước chẳng may
Quảng Châu, vùng đất trên tay Lương triều
Lưu Nham phản lại Lương triều
Chiếm vùng đất ấy lập triều đình riêng
Lập ra Nam Hán một miền
Lũ này là mối oan khiên cho mình
Lý Tiến với Lương Khắc Trinh
Hai thằng chiếm giữ Tống Bình nước ta
Hán triều bắt giữ vua ta
Tướng Dương Diên Nghệ quả là trung quân (931-937)
Ông nuôi chí với ba quân
Vùng lên một trận đuổi quân hung tàn
Nối trang lịch sử vẻ vang
Vua quan nhà Hán như tan cả hồn
Cho quân tiếp viện rửa hờn
Tướng giặc: Trần Bảo xác chôn quê mình
Hán triều thất vía hoảng kinh
Nước ta lại được thái bình dân an
Nhưng Kiều Công Tiễn phản thần
Giết Dương Diên Nghệ vương quân đoạt quyền
Kiều là tuỳ tướng đương quyền
Rể Dương Diên Nghệ: Ngô Quyền dấy quân (938) Dấy quân diệt kẻ phản thần
Kiều liền xin Hán cho quân đến nhà
Ngô Quyền đoán biết phong ba
Giết Kiều để chiếm Đại La kinh thành
Rồi mau đối phó chiến tranh
Chiến tranh chống Hán, chiến tranh giữ nhà
Quyết tâm nối chí nhạc gia
Quyết tâm bảo vệ san hà nước Nam
Hoằng Thao dẫn thuỷ binh sang
Còn vua cha trấn ở đàng Hải Môn (Quảng Đông)
Sẵn sàng tiếp ứng cho con
Hoằng Thao theo vịnh Hạ Long đánh vào
Ngô Quyền dụ chúng đuổi vào
Đến khi nước rút ào ào tấn công
Hoằng Thao tháo chạy trên sông
Tàu thuyền thủng đắm bởi chông bịt đồng
Máu thù nhuộm đỏ dòng sông
Xác thù chìm nổi khắp sông Bạch Đằng
Hoằng Thao chết trận Bạch Đằng
Vua Nam Hán khóc để rằng lui quân
Ngô Quyền đại thắng Hán quân (*) 
(*) Ngô Quyền đại thắng Hán quân năm 938 đã thật sự chấm dứt
một ngàn năm đô hộ của giặc phương bắc. Mở thời tự chủ cho dân tộc. 
Mở thời tự chủ cho dân tộc nhà
Xưng vương đóng ở Cổ Loa
Năm năm đất nước thái hòa yên vui
Ngô vương vắn số qua đời
Tam Kha em vợ; cướp ngôi cháu mình
Khai thời nội chiến đao binh
Hăm hai năm lẻ điêu linh nước nhà
Mười hai quân sứ một nhà
Mười hai quân sứ trong nhà nước Nam
Tổ tiên phò trợ nước Nam
Ông Đinh Bộ Lĩnh dẹp tan quần hùng
Chỉ trong mấy tháng vẫy vùng
Sơn hà thống nhất trùng phùng quê hương
Đinh Bộ Lĩnh: Vạn Thắng Vương (968-980) 
Nước Đại Cồ Việt; quân vương Tiên Hoàng
Hoa Lư là đất cưu mang
Hoa Lư cũng đất Tiên Hoàng đóng đô
Giữ yên non nước cơ đồ
Mười hai năm hậu cơ đồ Đinh tan
Tướng quân thập đạo Lê Hoàn
Lên ngôi để giữ giang san nước nhà
Nhà Tiền Lê được mở ra 
(nhà tiền Lê 980-1009) Đại Hành hoàng đế quả là xứng danh
Bình Chiêm, phá Tống công thành
Chi Lăng chiến thắng vang danh một thời
Hăm bốn năm ở tại ngôi
Sơn hà xã tắc một thời an khang
Khởi suy từ lúc vua băng
Các hoàng, thái tử lăng xăng tranh giành
Lê Long Đỉnh giết vua anh
Phá tan sự nghiệp thanh danh Lê triều
Thế là hậu Lý lập triều (1010-1225)
Một triều bền vững với nhiều minh quân
Sống thời tự chủ quân, thần
Tống kiêng, Xiêm nể, Chiêm thần phục ta
Thánh Tông vua Lý băng hà
Nhân Tông bảy tuổi thay cha nối giòng
Bên Tàu thời Tống Thần Tông
Với Vương An Thạch nghênh ngông bạo tàn
Mưu toan thôn tính nước Nam
Vua ta biết được mưu toan của Tàu
Sai hai tướng giỏi phạt Tàu
Thường Kiệt, Tôn Đản: Hai đầu xuất binh
Tôn Đản thống lãnh bộ binh
Lý Thường Kiệt dẫn thuỷ binh tiến vào
Đánh Tàu ngay tại đất Tàu (1075)
Đánh cho chúng hết mưu cầu nhiễu nhương
Ta tiên hạ thủ vi cường
Biết mình, biết địch, biết nương thiên thời
Vua quan nhà Tống tơi bời
Vừa cay, vừa thẹn với người với ta
Năm sau chúng tiến binh qua
Tống, Chiêm, Chân Lạp kết ba đánh mình
Hai năm vây bủa nước mình
Cuối cùng chúng phải điều đình rút quân
Bởi Lý Thường Kiệt đại thần
Với thơ khích lệ dân, quân một lòng
Bốn câu thơ dậy bể đông
Nức lòng chiến sĩ, nức lòng dân Nam
“Nước Nam là của vua Nam
Sách trời đã định rõ ràng chẳng sai
Quân xâm lăng trái ý trời
Một phen thảm hại tời bời một phen” (*)
(*) Bàng Bá Lân dịch Quả như tiếng sấm vang lên
Bài thơ như triệu mũi tên chống thù
Lưu truyền cho đến thiên thu
Sáng ngời chính ngha chống thù cứu quê
Thế rồi hậu Lý suy hề
Nhà Trần dựng nghiệp ta hề vẻ vang (*) 
(*) Nhà Trần 1225-1400. Nhà Trần thắng quân Mông cổ ba lần
Lần thứ nhất:1257. Lần thứ hai: 1285. Lần thứ ba: 1288 
Năm châu cũng phải ngỡ ngàng
Bởi dân nước Việt ba lần thắng Mông
Lần đầu với Trần Thái Tông
Rồi sau liên tiếp Nhân Tông hai lần
Khởi nghiệp Mông: Thiết Mộc Chân
Vượt qua Vạn lý trường thành; Trung Hoa
Vua quan nhà Tống xuýt xoa
Đông Âu, trung Á cũng đà hàng Mông
Vương quân các nước rúng lòng
Giặc Mông như trận cuồng phong được đà
Thành Cát Tư Hãn băng hà
Cháu Hốt Tất Liệt; con A Loa Đài
Chia nhau đánh chiếm khắp nơi
Một nửa thế giới như rơi cả hồn
Trung Hoa; nhà Tống phải vong
Triều Tiên, Tây Tạng cũng trong cảnh tình
Ba Lan, Hung phải mở thành
Nga La Tư cũng dâng thành cho Mông
Hẳn là một trận cuồng phong
Thế mà Mông phải hết ngông bởi mình
Ba lần tiến đánh nước mình
Ba lần đại bại tan tành thảm thương
Trần Quốc Tuấn: Hưng Đạo Vương
Vân Đồn, Tây Kết, Chương Dương, Bạch Đằng
Hàm Tử, Vạn Kiếp lừng danh
Xác thù như núi xứng danh Lạc Hồng
Toa Đô chết giữa binh đông
Thoát Hoan phải rúc ống đồng mà đi
Phàn Tiếp với Ô Mã Nhi
Bị ta bắt sống trong khi rút về
Sài Thung chột mắt chạy về
Mông-Nguyên phải bỏ mộng hề chiếm ta
Một lòng “sát Thát” quân ta
Diên Hồng hội nghị quả là trứ danh
Đại Vương Hưng Đạo xứng danh
Anh Hùng dân tộc lưu danh muôn đời
Hưng vong cũng tại bởi trời
Nhà Trần hết nghiệp đến thời suy vi
Tiếm ngôi bởi Hồ Quý Ly (1400-1407) Non sông tái cảnh lâm ly đoạn trường
Nhà Minh được dịp nhiễu nhương
Nối mưu thôn tính quê hương của mình
Mượn danh đánh tiếng phò Trần
Mộc Thạnh, Trương Phụ tướng quân Minh Tàu
Dẫn binh hai ngả tiến vào
Con ơi đất nước rơi vào tay Minh (1414-1427)
Mười ba năm thuộc nhà Minh
Sơn hà xã tắc điêu linh tủi hờn
Địa linh nhân kiệt Lam Sơn
Phất cờ khởi nghĩa rửa hờn quê hương 
Ông Lê Lợi: Bình Định Vương(*) (*) Cuộc khởi nghĩa 10 năm của Lê Lợi 1418-1427 Đã chấm dứt thời đô hộ của giặc Minh
và lập ra nhà hậu Lê: 1428- 1527.
 
Đại thần Nguyễn Trãi phò vương đuổi thù
Chí Linh dưỡng địa chiến khu
Chi Lăng, Tuỵ Động ngàn thu lẫy lừng
Mười năm khởi nghĩa oai hùng
Liễu Thăng bị giết, Vương Thông đầu hàng
Mộc Thạnh bao bận chạy làng
Nước Nam linh địa ngổn ngang xác thù
Lê Lai gương sáng ngàn thu
Bình Ngô Đại Cáo; chứng từ vẻ vang
Hậu Lê dựng nghiệp hiên ngang
Với Lê Thái Tổ nối trang sử hùng 

Nối thời tự chủ non sông
Nối giòng hào kiệt, nối công anh hùng…
 
 ***

(*) Trích từ cuốn tiểu thuyết "Cầu Tre Lắc Lẻo".
Mời quý vị đọc Cầu Tre Lắc Lẻo [ngắn gọn] qua đường dẫn:ĐÔNG HẢI: Tâm Tư Người Viễn Xứ.
* Hoặc đọc nguyên bản qua đường dẫn: CẦU TRE LẮC LẺO 
Trân trọng.
********
 
DIỄN ĐÀN DÂN TỘC DienDanDanToc@yahoogroups.com  chuyển tải thông tin đa chiều.
DIỄN ĐÀN DÂN TỘC không phân biệt những dị biệt trong mọi lãnh vực...

Trân trọng mời quý vị tham gia.