Sunday, June 17, 2012

Đời tị nạn - Tác giả: Kim Nguyên

|
Nail, một nghề của người Việt tị nạn

Mang thân tị nạn nổi trôi tới xứ người, lúc bắt đầu hội nhập, bất cứ ai ai có lẽ cũng gặp ít nhiều trở ngại khó khăn vì vấn đề bất đồng ngôn ngữ. Việc mưu sinh do đó cũng bị ảnh hưởng rất nhiều, muốn tìm một việc làm theo ý mình không phải là chuyện dễ, nghề chọn người chớ người không thể chọn nghề nhứt là những ai không có nghề nghiệp chuyên môn, họặc cho dù có tay nghề gì đi nữa mà không thông thạo tiếng nói cũng không dễ gì được nhận.
Vì vậy đa số đều lâm vào hòan cảnh như nhau, hễ  có việc thì cứ nhào vô làm, đụng đâu làm đó chẳng câu nệ ngại ngùng gì miễn sao có chút tiền dằn túi trước rồi muốn gì thì mới tính sau. Bởi vì sau những năm dài bị đọa đày bầm dập dưới chế độ cộng sản, người dân đã thấm đẩm tới tận cùng xương tủy cái “chân lý” bần cùng của chủ nghĩa xã hội “lao động là vinh quang” mà dân gian miền nam đã không ngần ngại chua chát  thêm vào câu “lang thang là chết đói” cho đủ ý hợp tình.
Thế nên khi tới được bến bờ tự do, tất cả mọi người từ sĩ nông công thương, thầy  hay thợ, chủ hay tớ, trí thức hay cùng đinh,  những tâm hồn lớn nhỏ gì cũng có thể ngồi chung một chiếc thuyền, cùng chung một mục đích như nhau là kiếm tiền. Ai càng có sức thì kiếm tiền càng dễ. Cứ nhào vô hảng xưởng cắm đầu cắm cổ làm hai shifts là nhanh chóng có tiền trong tay. Có làm  hàm mới có nhai và một khi có no ấm bản thân thì mới có tinh thần nghĩ đến nguyện vọng lý tưởng  đã từng vẽ vời xây mộng từ lúc vừa thóat khỏi gông xiềng đảng trị của cộng sản phi nhân độc tài.
Gia đình thầy giáo Phương gồm bốn người sau khi tới Úc được giáo hội bảo trợ về một vùng quê khỉ ho cò gáy chỉ có cây rừng và nông trại. Nơi đó, họ không tìm được việc làm nên đã dắt dìu  nhau trở lạiSydney. Lúc ban đầu họ tạm trú trong một căn nhà xưa cũ của giáo hội tin lành cho mướn ngay tại trung tâm city gầnHyde Park. Hai đứa trẻ, thằng em vợ và con thầy Phương thì được sắp xếp cho vào trường học ngay cho kịp tuổi. Thầy Phương cũng ghi tên xin vào một khóa intensive English for migrants and refugees ở NSW Uni để ôn lại vốn liếng tiếng Anh chuẩn bị đi làm. Còn cô Phương thì tạm thời ở nhà đưa rước con đi học.
Thời đầu thập niên 80, tiền thất nghiệp cho một couple mỗi fortnight chỉ có 200 dollars. Tiền thuê nhà hai tuần là hết 80, chỉ còn lại 120dollars cho bốn người tiêu xài ăn uống trả bills, chật vật gói ghém lắm mới đủ. Vì vậy khi gặp một bà Úc có đứa con học chung lớp với con gái của cô giới thiệu cho cái job làm bồi phòng trong một motel bảy tầng ở gần nhà, cô mừng húm xin đi làm ngay mà chẳng cần biết công việc nặng nhẹ ra sao. Tới chừng vô làm mới biết ngày tám tiếng phải dọn mười cái phòng giường đôi, mỗi phòng đều phải lau chùi, dọn dẹp, hút bụi, làm giường với số lương là 150dollars một tuần. Vốn ốm yếu mình hạc xác ve nặng chưa tới 40kg, ngày đầu đi làm về, cô nghe ê ẩm cả người, hôm sau ngồi dậy không muốn nổi nhưng vẫn phải cố gắng, tự nhủ rằng dần dần chắc sẽ quen thôi. Cô tính rồi đây khi ông xã cô cũng có việc làm thì tiền lương hai người cộng lại sẽ có thể dư được chút đỉnh phòng thân khi bệnh họan túng cùng. Nhưng chỉ được hai tuần thì cô thấy cái lưng mình như bị gãy, đau nhức rã rời,  nhắm không thể chịu đựng lâu hơn nữa được, cô đành xin nghỉ việc chờ cơ hội khác .

Trẻ nhỏ đi học đã yên phần
Người lớn tìm việc mới trần thân
Việc làm không thể chọn theo ý
Một năm đổi job bốn năm lần


Đời ai tị nạn chẳng long đong
 Cũng vì sinh kế phải cam lòng
Gặp gì làm nấy đâu quản ngại
  Ai người đồng cảnh mới cảm thông

Nhân một ngày chúa nhựt đi lễ nhà thờ ở Bondi, vợ chồng thầy Phương gặp hai gia đình người đồng hương qua trước mình hai năm hiện đang sinh sống làm việc ở vùng biển du lịch này. Thầy Phương nói thầy cũng đang tìm chỗ dọn vì giáo hội sắp lấy lại căn nhà đang cho thuê. Nghe vậy họ cho biết trong cái building họ ở còn một căn flat trống chưa ai mướn, họ rủ gia đình thầy về đó ở với họ cho có bạn với nhau. Lúc đó tứ cố vô thân, không có người mách nước chỉ bảo cho nên ai rủ ở đâu thì mướn ở đó chớ có biết vùng nào mắc rẻ, vùng nào thuận tiện dễ đi đứng và có nhiều hảng xưởng để kiếm việc làm. Dân tị nạn ở hostel ra đa số đều chọn vùng phía tây để lập nghiệp còn gia đình thầy Phương thì từ quê lên thành lớ ngớ lù khù nhè phía đông tòan là bãi biển du lịch mà “cắm dùi” thì  chỉ có nước đi làm tạp dịch mà thôi.
Nhưng thời may, khi dọn về Bondi beach, một bữa trưa khi cô Phương đi rước con tan học, một bà Úc làm việc xã hội trong nhà thờ Saint Patrick Bondi kêu cô lại trao cho mảnh giấy có ghi số điện thọai của một nhân viên Welfare ở Endeavour hostel, bảo cô về nói với thầy Phương liên lạc với người này vì họ đang cần thông dịch viên. Lúc ấy là lúc thầy đang quơ quào làm tạm cái job cleaning trong một câu lạc bộ ở city chờ thời vì sau khi mãn khóa học thầy chưa tìm được việc gì đúng với sở trường của mình.
Cũng xin nói thêm, trước khi vượt biên, thầy Phương có đi coi tử vi thì được ông thầy tử vi dặn bảo là phải đi về hướng nam lập nghiệp thì mới mong thành công, mới mong có cơ hội cầm lại cây viết,  bằng không sẽ cầm cây chổi suốt đời. Do đó, thầy đã chọn nước Úc, một lãnh thổ ở cực nam bán cầu (không còn nơi nào là cực nam  hơn nữa trên trái đất này) để định cư. Chắc có lẽ nhờ vậy mà giờ đây chính là thời điểm cây viết trở lại trong tay thầy. Sau khi phỏng vấn, thầy được nhận và đi làm ngay tuần sau. Thế rồi thầy bye bye cây chổi, bắt đầu làm việc văn phòng nine to five, có bàn viết điện thọai riêng, mỗi tuần lãnh lương chính phủ chắc cú. Rồi khỏang vài tháng sau, khi Bộ Di Trú ra thông báo tuyển người, thầy đã nộp đơn thi và may mắn trúng tuyển, từ đó chính thức trở thành công chức chính phủ liên bang vĩnh viễn. Đúng là có phần thì chẳng cần gì bôn ba.
Vào thập niên 80, dưới trào thủ tướng Malcom Fraser, chính sách di trú rất rộng rãi nhân đạo, nhận dân tị nạn rất nhiều cho nên tuần nào cũng có một hai nhóm người tới định cư, thầy Phương do đó có cơ hội hướng dẫn phục vụ đồng bào mình nhiệt tình tối đa  và đồng thời mặc nhiên cũng góp phần trả ơn chính  phủ nước Úc đúng theo ý nguyện của thầy. Thời gian đó, chủ nhân hảng xưởng nào muốn tìm công nhân viên thì chỉ cần vào hostel là có đủ mọi tầng lớp thầy thợ cho họ chọn, khỏi đi lòng vòng cho mất công.
Có một kỷ niệm rất  vui cho đám dân ở hostel lúc đó mà  tới nay đã ba chục năm, thầy Phương vẫn còn nhớ rõ như in trong đầu. Đó là chuyện…đóng phim. Một cuốn phim mang tựa đề là “The Year Of  Living Dangerously” nói về cuộc đảo chánh ở Indonesia dưới thời tổng thống Sukarno, trong đó tài tử  Mel Gibson đóng vai một ký giả người Úc phải mạo hiểm tìm cách rời khỏi Indonesia vào giờ phút cuối vô cùng cấp bách lâm nguy. Ông đạo diễn phim này cần một số đông người làm bối cảnh chạy lọan (ba chục năm về trước con người chưa phát minh ra computer technology để đưa vào phim ảnh tạo người ảo thay cho người thật), nghĩ không tìm đâu cho bằng nhóm người tị nạn mới tới da còn rám nắng đen sạm giống hệt Indonesians cho nên ông ta vào hostel “tóm hết trọn ổ” gọn bân.
Có dịp kiếm tiền dễ dàng, thầy Phương kéo theo gia đình một người bạn bác sĩ và vợ con thầy đi đóng phim luôn. Thầy Phương và ông bạn bác sĩ, một luật sư và một anh  lực sĩ kiến càng đóng vai nhân vật cao cấp gì đó ngồi trong phòng họp với cà phê khói thuốc mịt mù. Cô Phương thì được hóa trang làm nữ tiếp viên hàng không mà không…làm gì hết, chỉ đứng làm cảnh lúc Mel Gibson chạy băng qua cổng sóat vé dzọt ra phi trường “chẩu”(nhưng Mel Gibson dzọt lẹ quá như sao xẹt, nên khi chiếu lại không thấy cô tiếp viên đâu cả). Còn lại bao nhiêu người khác thì chỉ cần giả bộ xô xát nhau chạy lọan, vợ chồng con cái gánh gồng bồng bế chạy qua chạy lại tạo cảnh hỗn lọan để  người ta quay phim là ăn tiền.
Đóng phim hai ngày week-end như thế, mỗi người có thể kiếm được một số tiền bằng đi làm một tuần. Vì vậy ai cũng hăng hái nhận… vai. Sáng sớm  xe bus vô hostel chở mọi người tới phim trường để nhóm make-up hóa trang, sơn đen đen một chút, rồi đứng lóng ngóng chơi chờ khi nào người ta bảo action thì bắt đầu act. Buổi trưa tòan thể diễn viên được bao ăn no nốc, lại còn có giờ tea, coffee nữa, khỏe thì thôi. Khỏe nhứt là khi vai chánh diễn không vừa ý đạo diễn, ông ta bảo “cut” là sẽ có màn quay lại, phải mất thêm thời giờ, là mọi người được dịp lãnh thêm tiền ngon ơ. Còn Mel Gibson  cứ mỗi lần bắt đầu lại là mỗi lần bị xịt nước lên áo, lên đầu cổ mặt mày gỉả đò như  đổ mồ hôi nhễ nhại ròng ròng vì Indonesia là xứ nóng. Thế mới biết nghề nào cũng phải đổ mồ hôi xót con mắt mới kiếm được đồng tiền, cái gì cũng có cái giá phải trả, càng cao danh vọng càng nhiều gian nan là vậy, mà đây  mới chỉ là một  tiểu xảo đó thôi.
Thầy Phương có được cái job làm công chức như vậy là coi như ăn chắc suốt đời cho tới ngày về hưu không cần nhọc công kiếm tìm gì hơn nữa. Chỉ có cô Phương là hơi vất vả vì chẳng có nghề ngỗng gì chuyên môn. Sau khi học một khóa tiếng Anh, cô theo người bạn ở cùng building đi làm kitchen hand trong một nhà dòng nữ tu, một retreat house dành cho du khách thập phương tới trọ. Mỗi ngày chỉ làm part time sáu tiếng với công việc   rửa rau xắt thịt lau chìu bếp núc tương đối thích hợp với cô. Duy chỉ có một điều khiến cô không mấy vui là nếu xong việc nhà bếp trước giờ, bà sister người Philippine hay bảo cô đi clean up các phòng ngủ trên lầu hoặc nhà nguyện kế bên. Job của cô là kitchen hand chớ đâu phải cleaner, người bạn làm chief cook  sau khi nấu xong có thể ngồi ung dung đọc báo chờ tới giờ về còn cô sao lại phải làm thêm việc khác.
Tuy nhận thấy sự bất công đó nhưng cô tự an ủi rằng sông có khúc người có lúc, sống ở đời phải biết lấy chữ “nhẫn” làm đầu, chấp nhận hòan cảnh hiện tại chờ thời cơ. Những lúc ấy thì cô lôi cái máy hút bụi vào nhà nguyện nhấn nút để đó cho máy nổ kêu rền trời còn cô thì nép vào một góc nhà thờ cầu nguyện, tìm ở đấng thiêng liêng một sự xoa dịu ủi an. Dẫu sao cô cũng cảm tạ ơn trên vô cùng đã che chở dìu dắt gia đình cô tới được đất nước thanh bình tự do  để làm lại cuộc đời sau những tháng năm dài tối tăm vô vọng dưới tai ách cộng sản. Gia đình cô đã may mắn hơn rất nhiều người. Chồng cô vừa đặt chân lên xứ người chưa quen hơi bén đất đã bất ngờ nhận được một việc làm tốt đẹp hợp ý như một hồng ân của Chúa  thì chút nhọc nhằn này của cô  có đáng gì đâu phải thở than phàn nàn. Cô phải biết nhận lãnh cho mình để Chúa còn có cơ hội chứng tỏ sự công bằng của Chúa đối với mọi người. Nếu cả hai vợ chồng đều được ưu đãi hết thì hóa ra Chúa bất công hay sao.
“Con dâng Chúa đôi tay này từng vất vả làm cho tê tái
Con dâng Chúa đôi bờ vai, gánh gồng nặng trĩu bao ngày    
Con dâng Chúa đôi chân này vì tìm hạnh phúc miệt mài.
Vì ngày mai, con lo hôm nay
Vì  tương lai, con lo hiện tại
Bởi trời đất mãi luôn vần xoay và cuộc sống bon chen từng ngày…”(Thánh ca Con dâng Chúa của linh mục Nguyễn Mộng Hùynh)           

Mỗi xế trưa, cứ ba giờ là cô xong việc ra về. Trên đường tới trạm xe bus, cô phải đi ngang qua một dãy nhà nguy nga và những căn chung cư sang trọng đắt tiền (địa thế vùng Point Piper ở trên cao nên nhà nào cũng có cái view nhìn ra biển thấy  vịnh Double bay, Rose bay với thuyền bè, yatch, canoe  tư nhân đậu tấp nập và xa hơn nữa là Opera house cùng Harbour Bridge tráng lệ huy hòang, hai kỳ quan đặc thù của nước Úc). Một bữa cũng đi về như mọi bữa, hôm nay cô bỗng thấy một ông Úc khỏang trên năm mươi đang đứng sẵn trước cửa, chờ cô vừa đi tới thì lên tiếng chào và hỏi cô phải là người Việt Nam không. Cô cũng chào đáp lễ và nói yes, I am. Ông ta nói ông ta thích đồ ăn Việt Nam lắm, hổm rày đón cô để hỏi cô có chịu ghé vào nhà ông ta làm chút housework và nấu ăn cho ông ta không. Ông ta mời vô coi nhà chỉ bếp núc, nhà giặt, phòng ngủ. Ông ta tự giới thiệu tên là Bill là chủ một real estate ở Double bay. Con gái ông đã lớn có chồng ở riêng, nhà chỉ có ông và cô girl friend trẻ. Ông nói muốn nhờ cô hằng ngày ghé lại hai tiếng đồng hồ coi có chỗ nào cần dọn thì dọn rồi nấu giùm một hai món ăn cho hai người, mỗi giờ trả cô 5dollars (thời đó, lương căn bản công nhân một giờ là 5 đồng).
Cô thấy công việc như vậy là “trúng tủ” nghề nội trợ của nàng, lại sẵn tiện đường, tiện giờ giấc mà kiếm thêm được chút tiền nên rất mừng nhận  ngay. Thế là ông Bill đưa chìa khóa cho cô, (làm như trên mặt cô có viết chữ ngay lành hay sao không biết, và  hồi thời đó con người ta còn lương thiện dễ tin tưởng nhau quá, không như về sau này khi di dân và người tị nạn tứ xứ ồ ạt tràn ngập vào nước Úc, đem cái xảo quyệt gian manh giang hồ tứ chiếng truyền lại cho người Úc thì lần hồi dân tình nhiểm thói mánh mung xỏ lá, không còn biết được lòng người ai giả ai chân) rồi nói rằng ngày mai tôi sẽ mua sẵn vài món, cô muốn nấu sao cũng được, luôn tiện nấu cho tôi 2 cups brown rice. Cô ra về mà nghe thích thú trong bụng. Điều kiện của ông Bill sao mà quá dễ, muốn nấu sao thì nấu, chưa từng nghe chủ nào mà mướn người dễ như vậy. Nhà cô có mấy người mà mỗi người còn một ý, phải chìu như chìu vong, đàng này ông chủ lại để cô tự quyết định theo ý cô. Ở đợ kiểu này là “cha” người ta rồi còn muốn gì hơn nữa.
Trưa hôm sau cô ghé lại mở cửa vào dọn dẹp, thấy trên bếp có để sẵn hai dĩa thịt trừu  và hai bó English spinach, Sau khi thay drap giường, quăng đồ vào máy giặt, cô bắt đầu nấu ăn. Cô ớn nhứt là mùi thịt trừu nhưng mà không nấu thì không được. Thấy có miếng gừng trong cái rổ hành tỏi, cô nảy ý làm món thịt lamb xào gừng để khử bớt cái mùi mỡ trừu hăng hắc nghe muốn nhợn. Cô gọt miếng gừng xắt chỉ và xắt nhỏ mấy lát thịt trừu rồi xào như xào mặn, cho muối cho đường vào mặn mặn ngọt ngọt, thử cái nước thấy cũng ngon ngon. Còn hai bó cải, cô rửa sạch cắt khúc, phi tỏi cho thơm, bỏ cải vào đảo sơ qua nêm nếm, xúc ra dĩa còn xanh um xanh ngắt trông rất ngon mắt.  Khỏang 5 giờ chiều thì ông Bill về tới, cô nói ông ta ăn thử miếng thịt xào gừng coi sao. Thử xong ông ta kêu lên “delicious, so yummy!”. Thuận tay, ông ta bóc luôn miếng cải bỏ vô miệng vừa nhai vừa khen lấy khen để khiến cô vui mừng nhẹ nhõm vì thấy người ta hài lòng về mình. Ông ta còn nói chiều mai sẽ bảo Jeannie (tên bồ nhí của ông ta) tới thưởng thức Vietnamese food mới được.
Gặp người chủ dễ tính, cô làm việc rất thỏai mái vui vẻ. Có ngày ông Bill mua một bọc minced beef để đó, cô không biết làm gì thành ra đem quết nhuyển chế món bò viên. Tuy không đúng tiêu chuẩn bò viên hảo hạng vì không đủ gia vị nhưng đối với họ thì exellent, nói chung món nào cô chế ra, Bill và Jeannie cũng ưng ý. Đôi khi ông ta không biết mua thứ gì, chờ cô tới  tính coi muốn làm món gì mới chở đi mua. Ông Bill khóai khẩu đồ ViệtNamtới nỗi muốn khoe với bạn bè nên có lần ông mở party mời  ba chục người tới dự vào một tối weekend. Dĩ nhiên ông phải order thêm những thức ăn khác ngòai món lamb xào gừng, spinach  stir fry, cá chiên sauce cà, gà sả ớt do cô nấu. Hôm đó nấu nướng dọn dẹp xong đã hơn 10 giờ đêm, khi cô xách giỏ ra cửa định về thì mọi người đều cám ơn cô và cô bồ nhí Jeannie đã xung phong chở cô ra trạm xe bus bằng chiếc xe sport hiệu Alfa Romeo màu đỏ thắm mới cáo chỉ của ông bồ “trâu già” mua  tặng. Cách đối xử tử tế tốt bụng của người chủ này làm cô cảm thấy rất an ủi và bớt đi  mặc cảm mình là kẻ tôi đòi. Có lẽ do nguồn gốc của người Úc là tội phạm và di dân tứ xứ, trải qua bao đời gian truân khó nhọc tạo dựng mới làm nên cơ ngơi tài sản, do đó họ dễ thông cảm, không đặt nặng vấn đề giai cấp  hoặc kỳ thị những kẻ chân ướt chân ráo trắng tay mới bắt đầu khởi sự như cô.
Nhưng may thay, cái số làm osin của cô chỉ kéo dài ba tháng thì cô nhận được một việc làm full time khác nhàn hạ hơn trong một family business do hai ông bà ngườiHungarylàm chủ. Đó là một thương nghiệp chuyên cung cấp lenses (không biết tiếng Việt nói sao) cho các phòng thí nghiệm. Ngày tám tiếng công việc của cô là cắt những mảnh lenses theo order. Cùng làm với cô là một chị người ViệtNamvào trước cô một năm. Lúc đầu người chị em này có vẻ kỳ thị ra mặt, không nhìn cô đến nửa mắt, mặt mày khó đăm đăm như bà cô bên chồng chẳng có lấy một nụ cười Welcome người mới khiến cô cảm thấy rất bẽ bàng. Lạ chưa! Úc không kỳ thị mình mà người mình với người mình lại kỳ thị nhau, Việt Nam gặp Việt Nam mà “dội ngược” không muốn nhìn, có lẽ vì người Việt đã lừng  danh là xấu xa xấu xí.
Theo lời bà chủ, chị miễn cưởng chỉ dẫn cô những việc phải làm bằng một giọng khô khan cộc lốc rồi trở về chỗ ngồi cắm cúi tiếp tục công việc của chị.  Suốt buổi, chị chẳng hề đếm xỉa gì tới cô mãi cho đến giờ lunch chị mới cho biết một điều lệ là chị  không nghỉ nửa giờ ăn trưa để chiều về sớm nghĩa là chị  tan việc lúc ba giờ. Còn cô nếu ăn trưa thì ở lại làm tới ba giờ rưởi. Cô vừa làm vừa ấm ức buồn trong bụng không hiểu chị ta muốn thị oai gì mà cứ giữ thái độ lãnh đạm xa cách như vậy. Có lẽ chị đang âm thầm quan sát, đánh giá cô coi có xứng đáng làm bạn với chị  hay không. Thôi kệ, ai biểu mình là ma mới, chị ta muốn kênh kiệu thì mình cứ giả điên coi chị ta kênh được tới chừng nào. Mà thôi tị hiềm chấp nhứt làm gì, chị ta không nói thì mình nói trước vậy. “phải biết mở cửa lòng mình trước thì mới mong mở đặng lòng kẻ khác” (Pasquier Quesnel), thử xem cái tảng băng này rồi đây có chảy ra được chút thiện cảm nào cho mình không. Cô bèn nói “vậy thì ngày mai tui cũng không ăn trưa, làm luôn một lèo rồi về sớm như chị. Chị tính vậy hay quá, công việc này đâu có nặng nhọc gì mà cần phải nghỉ ngơi, vả lại giờ morning tea mình ăn vài cái bánh thì cũng dư sức làm luôn tới về. Chị nói với bà boss giùm tui đi nghe, chị nói mới “linh” .
Sau hai ngày 16 tiếng làm việc chung, người chị em bắt đầu mở miệng “phỏng vấn” cô vài câu  dọ dẫm đại khái như quê quán ở đâu,  tới hồi nào, sao biết chỗ này mà xin việc vv… Cô nói “tui đâu biết chỗ này mà xin, bà boss vô hostel tìm người làm, ông xã tui làm việc ở đó nên giới thiệu tui với bả và bả nhận”. Vậy rồi qua tuần sau hai đứa bỗng dưng trở thành bạn ngon lành ngọt sớt như mía lùi, chừng đó mới biết té ra là hai đứa bằng tuổi nhau, cùng là hai con rồng như nhau, cùng có tên chữ lót là “Tố” giống nhau. Chị là cô giáo ở ViệtNam. Còn cô tuy không đi dạy học ngày nào nhưng  tất cả những đứa học trò của ông xã cô đều gọi cô là “sư mẫu”. Bên nửa cân, người tám lượng, hèn chi mà đứa nào cũng có chút bẩm sinh… cao ngạo, tưởng là mình ở chót vót trên chín từng mây nên kỳ thị người dưới thế. Nhưng mỗi đứa thể hiện “khí phách” của mình một cách khác nhau. Người thì hịnh hỡm khinh thường đối phương ra mặt, kẻ thì giả điên tảng lờ nín thở qua sông, lấy nhu chế cương để chinh phục  cho được “con ma đầu” ó đâm này. Rốt cuộc thì hai đưa hỉ hả cười xòa với nhau.
Bây giờ cô không hỏi thì chị cũng kể tuốt luốt hết mọi chuyện, chuyện bản thân, chuyện gia đình, anh chị em, bạn bè như đã từng thân thiết với cô đâu từ hồi đời kiếp nào rồi vậy. Hôm nào ông bà chủ có việc phải ra ngòai là chị tha hồ “gossip” về chuyện của hai ông bà từ thuở mới di dân tới Úc, nói cho hả hê bỏ lúc phải giả bộ làm màu làm chảnh câm như hến đến nỗi bà chủ thấy lạ phải lên tiếng hỏi “Are you both from the same country, the same language?”. Và bây giờ thì chị đã mau mắn gật đầu vui vẻ nói “Yes, we are” để rồi sau đó chính chị đã đề nghị cho hai ông xã quen biết kết bạn  với nhau để chia sẻ nâng đỡ nhau trong cuộc sống tha hương nơi xứ người. Thế mới biết tâm lý chung của con người là rất sợ bị bỏ rơi cô lập, ai cũng sợ phải  làm một Robinson lẻ loi một mình trên hoang đảo, mãi mãi sống cách biệt xã hội, quần thể bạn bè nhứt là trong cùng một hòan cảnh lưu vong tị nạn như nhau.
Đời tị nạn là như thế đó, có biết bao nhiêu chuyện ly kỳ  hào hứng lẫn chua chát đắng cay mà tất cả chúng ta đều phải trải qua lúc mới bắt đầu. Trước khi có được một mái nhà để an cư thì có lẽ mọi người ai cũng đã từng lâm cảnh ba chìm bảy nổi chín cái long đong vì nhu cầu sinh kế, cái ăn cái mặc và tương lai con cái. Người xưa có câu “an cư lạc nghiệp” nhưng đối với những kẻ vong quốc  tị nạn như chúng ta thì có lẽ phải lạc nghiệp trước rồi mới có khả năng mua nhà sắm cửa để an cư cho hết khỏang đời còn lại. Và một khi đã  an cư rồi, chúng ta sẽ không còn là khách trọ nữa mà mặc nhiên đã thành chủ nhà, xứ sở này sẽ là quê hương thứ hai của chúng ta, là nơi chôn nhau cắt rún của thế hệ con cháu tiếp nối về sau. Xin được ghi lại nơi đây lời cảm kích tri ân những quốc gia đã mở rộng vòng tay nhân ái cưu mang những con người tị nạn khốn khổ lạc lòai.

© Kim Nguyên (Người Phương Nam)
© Đàn Chim Việt

No comments: