Chính sách Tự-Thuộc-địa (Auto-colonization) của cộng sản
Khi tôi viết bài về Hội chứng hậu thuộc địa, tôi nghĩ rằng người đọc chưa chia xẻ hết được những hậu quả khôn lường của chế độ hậu thuộc địa.
Đó là cái gia tài để lại quá nặng nề sau khi chuyển giao quyền hành
từ đế quốc thuộc địa vào tay các lãnh đạo mới không có được một chút
chuẩn bị. Nhiều cuộc tranh chấp nội bộ đã xảy ra tại nhiều nước hậu
thuộc địa đi đến tranh giành, thanh toán, cướp chính quyền để nhẩy lên
lãnh đạo. Nhiều thành phần sắc tộc, bộ lạc lớn trở thành ly khai và tách
ra khỏi nước lớn, tạo dựng ra nước mới.
Nhất là tại các nước Phi Châu, nhiều nhà nhân bản, nhiều tổ chức quốc
tế liên quan đến quyền con người kêu gọi dân Phi Châu thức tỉnh. Họ kêu
gọi dân Phi Châu hãy tự thức tỉnh (Réveille-toi) nắm lấy số phận của họ
vào trong tay của họ để lật đổ những tên “thực dân bản xứ” còn bóc lột,
còn tàn bạo hơn chính tên thuộc địa chính gốc.
Danh từ auto-colonization (tự thực dân chính mình) ra đời từ những hoàn cảnh hậu thuộc địa này.
Những tên bạo chúa mới này phần đông tự phong cho mình là tổng thống
muôn đời (Président à vie) sử dụng cùng một cách thức bóc lột thời thuộc
địa, chi tiêu một các sang trọng cực kỳ phi lý. Như xây dựng lại Tòa
Thánh Vatican một cách vô cùng xa hoa, lãng phí trong khi đó dân chúng
lân cận đói không có mà ăn.
Những bọn thực dân hậu thuộc địa thu vén mọi tài sản về cho mình. Họ
cũng sử dụng cùng một thứ ngôn ngữ giả trá ngăn chặn mọi quyền tự do tư
tưởng của con người hoặc ngăn cấm mọi hình thức dân chủ như thành lập
đảng phái chính trị, v.v…
Khi cộng sản miền Bắc tiếp thu Hà Nội năm 1954 thì chỉ là một hình
thức đổi chủ ở mức độ tàn bạo bạo hơn, siết chặt hơn. Thực dân bóc lột
một thì cộng sản bóc lột 2, bần cùng hóa tất cả mọi người.
Từ bộ máy chính quyền, tổ chức quân đội, bộ máy công an, guồng máy
đảng viên đảng cộng sản trở thành những tên thực dân cai trị tự thuộc
địa chính đất nước mình. Những tên công an phường đến quận trở thành
những trương tuần kiểu mới. Bí thư xã, bí thư quận trở thành những tên
lý trưởng, chánh tổng thời Hậu thuộc địa. Dưới thời thực dân Pháp, ít ra
còn có được một Chí Phèo, còn có được một Bá Kiến, một Thị Nở. Dưới một
chính quyền Tự Thực Dân thì một Chí Phèo cũng không có đất để chửi, để
sống.
Toàn dân miền Bắc chịu thiệt thòi sau 1954 và sau này toàn dân miền
Nam sau 1975. Cả nước từ nay ăn phải bả cộng sản, ăn phải quả lừa. Người
dân chỉ có cái quyền được hoan hô, được vỗ tay. Học sinh được học tập
vỗ tay từ nhỏ ở trường. Lớn lên, nếu làm dân biểu thì biết vỗ tay ở Quốc
Hội.
Có lần tôi đặt vấn đề với Lý Chánh Trung, cựu dân biểu Cộng sản thì
ông cho rằng vỗ tay “dân chủ” hơn vì không cần dấu diếm gì cả. Sự chỉ có
một đảng duy nhất như đảng cộng sản thì cũng không khác gì lưỡng đảng
của Mỹ cả. Tuy lưỡng đảng, nhưng cuối cùng phe nào chiếm đa số ghế thì
cũng kể như chỉ còn một đảng!
Theo Bùi Tín, Đào Duy Tùng có lần đi dự Đại hội Đảng Cộng sản Romania
ở Bucharest đã phải đứng lên ngồi xuống 94 lần để hoan hô và vỗ tay về
bài diễn văn của tổng bí thư Ceauşescu. Ở Việt Nam, hơn 700 tờ báo nói
cùng một “thứ tiếng”, tiếng nói của đảng thì cũng vậy.
Hệ thống cai trị của bọn tự thực dân làm dân chúng mụ mẫm người ra.
Mọi người tự bịt mồm như trường hợp TT. Thích Trí Quang, hơn 30 năm tịnh
khẩu. Khi nghe Nguyễn Văn Linh tuyên bố như thế này thì kể như đạo Phật
không còn là đạo Phật nữa. Nguyễn Văn Linh mở đầu bằng câu nổi tiếng
chết người sau đây, “Nếu quý Hòa thượng cho phép, tôi xin được gọi đạo
Phật của chúng ta, và nếu quý, hòa thượng không ngần ngại, tôi cũng có
thể gọi Đảng của chúng ta.”
(Trích: Hồ sơ Phật Giáo thống nhất, Đỗ Trung Hiếu, trang 61, Tin, Paris, 1994.)
Kể từ đó Phật giáo trở thành thành viên của Đảng.
Nếu không tự bịt mồm được thì bất đắc dĩ để công an bịt mồm hộ như
Nguyễn Mạnh Tường, như tướng Trần Văn Trà, như nhóm Nhân Văn Giai phẩm
hoặc nhóm những người kháng chiến cũ hoặc như trường hợp linh mục Nguyễn
Văn Lý.
Tôi có dịp được xem lại những bảng vẽ tuyên truyền của tờ Việt Nam
Độc Lập thì thấy những gì gán ghép cho thực dân Pháp có thể cũng là
những điều chính quyền hiện tại đang hành xử đối với dân chúng. Thực dân
bóp cổ dân nghèo, chiếm đất đai, cộng sản cũng làm tương tự và làm hơn
thế nữa.
Còn lại, mọi chức vụ béo bở đều dành cho bọn “con ông cháu cha” của
bọn Tự-Thực -Dân. Điều này có lẽ hãy để ông Bùi Tín có đủ tư cách người
trong cuộc nói lên:
“Vợ hai Lê Duẩn làm đến Ủy viên Thường vụ tỉnh An Giang kiêm thêm Phó
Tổng biên tập báo Sài Gòn Giải Phóng mặc dầu không có tay nghề làm báo.
Các con Lê Duẩn như Thành, như Hồng đều được đi học ở Liên Xô cũng như
Võ Diên, con trai Võ Nguyên Giáp. Hai con rể của Lê Duẩn, tên Hồ Ngọc
Đại và Lê Bá Tôn cũng đều tốt nghiệp ở Đức và ởTiêp. Vợ của bộ trưởng
ngoại giao là bà Tư là Vụ trưởng Bộ Nội vụ kiêm thêm Vụ trưởng vụ Kế
Hoạch. Vợ của Thứ trưởng bộ Văn Hóa cũng làm Thứ Trưởng bộ Công Nghiệp
nhẹ nắm trong tay toàn bộ ngành dệt của cả nước. Đó cũng là trường hợp
của bà Thanh, vợ của Tố Hữu lên đến chức Phó Ban tuyên Huấn Trung Ương
đảng, ngang cấp với một Thứ trưởng.
Cũng là trường hợp của bà Trần Thị Tích, vợ của Tổng Biên Tập báo
Nhân Dân Hoàng Tùng, đang phụ trách ban nữ công của tờ báo, nhảy lên
chức Trưởng Ban Nội Chính của báo Đảng. Khi về hưu lên đến bậc 7 (ngang
với thứ trưởng).
Bùi Tín còn liệt kê giám đốc bệnh viện không biết gì về y tế, trưởng
phòng ngân hàng không biết gì về tài chánh, Giám đốc sở giáo dục không
hề là một giáo viên.
Có khác gì các nước Hậu thuộc địa có tổng thống suốt đời! Ở Việt Nam
tự-thuộc-địa cũng có Đại biểu Quốc Hội suốt đời, chủ tịch nước suốt đời,
thủ tướng suốt đời, tổng bí thư suốt đời trở thành những việc tất
nhiên. (Chắc là có ý nói hưởng bổng lộc suốt đời).
(…) Cho đến khi cả bị sai lầm, khuyết điểm rõ ràng thì cũng vẫn cứ bị đá lên, nghĩa là đưa lên một vị trí cao hơn!
Ông Bùi Tín đã đưa ra một số trường hợp bị “đá lên” như trường hợp
Trường Chinh, Ông Nguyễn Sỹ Đồng bị truy tố là diệt các làng Thiên Chúa
giáo ở Quảng Bình được đổi tên là Đồng Sĩ Nguyên trở thành Tư lệnh đường
mòn Hồ Chí Minh, rồi Phó thủ tướng. Người chỉ huy chiến trận ở Cam Bốt
nay làm Chủ Tịch nước. Ông Đặng Thi, người có trách nhiệm về Cải cách
ruộng đất ở Liên Khu 4 như tra tấn người thì nay được làm Bộ trưởng phụ
trách hợp tác, với Lào và Cam Bốt.
Hồ ViếtThắng, chủ chốt trong vụ Cải cách ruộng đất trở thành Bí thư
Ủy Ban Kế Hoạch nhà nước. Sau 1975, ông là người gạt bỏ các nhân viên
“ngụy” trong cơ quan điện toán chỉ vì họ do Mỹ đào tạo, hoặc là người
công giáo hoặc người di cư.
(Trích Mặt Thật, Bùi Tin, tóm tắt các trang 284-290.)
Những điều ông Bùi Tín viết ra là sự thật. Nhưng điều ông viết ra từ
năm 1994, nếu so sánh với sự thật bây giờ của 2011 thì nó còn có ý nghĩa
gì không?
Chính Sách Bên Lề
Chính sách bên lề đúng ra là để chỉ thị những thành phần xã hội kém
may mắn như cô nhi, quả phụ, những kẻ tật nguyền trong một xã hội yếu
kém về tổ chức xã hội. Họ bị vứt ra bên lề, sống vất vưởng không nơi
nương tựa như những kẻ đầu đường xó chợ.
Cũng được coi là những kẻ sống bên lề, các sắc dân thiểu số, các bộ
lạc sống xa xôi, hẻo lánh trong rừng. Đã bao nhiêu chế độ đi qua, đổi
chủ, họ vẫn là những thành phần không được khai hóa sống triền miên với
mê tín, dị đoan.
Nhưng trong một xã hội toàn trị như trong xã hội cộng sản thì tất cả
những ai đi ngược lại Đảng và Nhà nước sẽ bị thanh trừng, loại trừ, tù
tội, cải tạo và được coi là những kẻ bị sống bên lề suốt đời.
Đó là trường hợp những Nguyễn Hữu Đang, Nguyễn Mạnh Tường, Phan Khôi,
Trần Dần, Trần Xuân Bách, Kim Ngọc, Nguyễn Hộ, Nguyễn Văn Trấn, Phạm
Quế Dương và trăm người khác. Đó cũng là những sĩ quan và công chức
Saigon trước 1975, những binh lính “ngụy”, những thương phế binh, những
cô nhi quả phụ và vợ con các người đi học tập.
Tất cả đều là những công dân bậc hai. Những thành phần bị loại bỏ, sống bên lề của đời sống xã hội.
Và nói cho cùng ngoài 3 triệu đảng viên cộng sản và số công an cảnh
sát, quân đội và một số thành phần dân chúng sống bám vào hệ thống quyền
lực ấy, sống chết với cơ chế ấy như lời Nguyễn Văn Linh tuyên bố: Lịch
sử Việt Nam đã giao phó cho Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo cuộc cách
mạng, trước kia là thế, hiện nay là thế và mãi mãi về sau vẫn mãi mãi là
thế.
Họ Không muốn thay đổi và cũng không muốn nghe ý kiến của bất cứ ai.
Vì thế cơn bão Đông Âu đã không giúp thay đổi gì ở Việt Nam như nhiều người kỳ vọng.
Cuộc Cách mạng Hoa Lài hiện nay xem ra còn xa mới thổi đến Việt Nam.
Vì thế, tất cả những kiến nghị của người trong nước từ xưa tới nay và
nay thư kiến nghị của trí thức hải ngoại đều là thừa.
Tất cả thành phần dân chúng đều là thứ dân đen trong cỗ máy nghiền
của nhà nước và trở thành những con người bị tha hóa trên chính quê
hương của mình. Họ trở thành những người khách lạ, những kẻ vô thừa nhận
trong trong chính sách bên lề của người cộng sản.
Gớm thay cho chủ nghĩa cộng sản với chính sách bên lề. Chính sách này
là một thứ tội ác không tha thứ được. Vì nó loại trừ tất cả những quyền
lợi chính đáng cũng như cơ may làm người. Vì nó mà biết bao nhiêu người
đã dở sống, dở chết kéo dài thân phận đến không một ai dám nhìn nhận.
Nó cách ly những người ấy ra khỏi đồng loại.
Chính sách Tự-Thuộc-địa (Auto-colonization) của cộng sản
Khi tôi viết bài về Hội chứng hậu thuộc địa, tôi nghĩ rằng người đọc chưa chia xẻ hết được những hậu quả khôn lường của chế độ hậu thuộc địa.
Đó là cái gia tài để lại quá nặng nề sau khi chuyển giao quyền hành
từ đế quốc thuộc địa vào tay các lãnh đạo mới không có được một chút
chuẩn bị. Nhiều cuộc tranh chấp nội bộ đã xảy ra tại nhiều nước hậu
thuộc địa đi đến tranh giành, thanh toán, cướp chính quyền để nhẩy lên
lãnh đạo. Nhiều thành phần sắc tộc, bộ lạc lớn trở thành ly khai và tách
ra khỏi nước lớn, tạo dựng ra nước mới.
Nhất là tại các nước Phi Châu, nhiều nhà nhân bản, nhiều tổ chức quốc
tế liên quan đến quyền con người kêu gọi dân Phi Châu thức tỉnh. Họ kêu
gọi dân Phi Châu hãy tự thức tỉnh (Réveille-toi) nắm lấy số phận của họ
vào trong tay của họ để lật đổ những tên “thực dân bản xứ” còn bóc lột,
còn tàn bạo hơn chính tên thuộc địa chính gốc.
Danh từ auto-colonization (tự thực dân chính mình) ra đời từ những hoàn cảnh hậu thuộc địa này.
Những tên bạo chúa mới này phần đông tự phong cho mình là tổng thống
muôn đời (Président à vie) sử dụng cùng một cách thức bóc lột thời thuộc
địa, chi tiêu một các sang trọng cực kỳ phi lý. Như xây dựng lại Tòa
Thánh Vatican một cách vô cùng xa hoa, lãng phí trong khi đó dân chúng
lân cận đói không có mà ăn.
Những bọn thực dân hậu thuộc địa thu vén mọi tài sản về cho mình. Họ
cũng sử dụng cùng một thứ ngôn ngữ giả trá ngăn chặn mọi quyền tự do tư
tưởng của con người hoặc ngăn cấm mọi hình thức dân chủ như thành lập
đảng phái chính trị, v.v…
Khi cộng sản miền Bắc tiếp thu Hà Nội năm 1954 thì chỉ là một hình
thức đổi chủ ở mức độ tàn bạo bạo hơn, siết chặt hơn. Thực dân bóc lột
một thì cộng sản bóc lột 2, bần cùng hóa tất cả mọi người.
Từ bộ máy chính quyền, tổ chức quân đội, bộ máy công an, guồng máy
đảng viên đảng cộng sản trở thành những tên thực dân cai trị tự thuộc
địa chính đất nước mình. Những tên công an phường đến quận trở thành
những trương tuần kiểu mới. Bí thư xã, bí thư quận trở thành những tên
lý trưởng, chánh tổng thời Hậu thuộc địa. Dưới thời thực dân Pháp, ít ra
còn có được một Chí Phèo, còn có được một Bá Kiến, một Thị Nở. Dưới một
chính quyền Tự Thực Dân thì một Chí Phèo cũng không có đất để chửi, để
sống.
Toàn dân miền Bắc chịu thiệt thòi sau 1954 và sau này toàn dân miền
Nam sau 1975. Cả nước từ nay ăn phải bả cộng sản, ăn phải quả lừa. Người
dân chỉ có cái quyền được hoan hô, được vỗ tay. Học sinh được học tập
vỗ tay từ nhỏ ở trường. Lớn lên, nếu làm dân biểu thì biết vỗ tay ở Quốc
Hội.
Có lần tôi đặt vấn đề với Lý Chánh Trung, cựu dân biểu Cộng sản thì
ông cho rằng vỗ tay “dân chủ” hơn vì không cần dấu diếm gì cả. Sự chỉ có
một đảng duy nhất như đảng cộng sản thì cũng không khác gì lưỡng đảng
của Mỹ cả. Tuy lưỡng đảng, nhưng cuối cùng phe nào chiếm đa số ghế thì
cũng kể như chỉ còn một đảng!
Theo Bùi Tín, Đào Duy Tùng có lần đi dự Đại hội Đảng Cộng sản Romania
ở Bucharest đã phải đứng lên ngồi xuống 94 lần để hoan hô và vỗ tay về
bài diễn văn của tổng bí thư Ceauşescu. Ở Việt Nam, hơn 700 tờ báo nói
cùng một “thứ tiếng”, tiếng nói của đảng thì cũng vậy.
Hệ thống cai trị của bọn tự thực dân làm dân chúng mụ mẫm người ra.
Mọi người tự bịt mồm như trường hợp TT. Thích Trí Quang, hơn 30 năm tịnh
khẩu. Khi nghe Nguyễn Văn Linh tuyên bố như thế này thì kể như đạo Phật
không còn là đạo Phật nữa. Nguyễn Văn Linh mở đầu bằng câu nổi tiếng
chết người sau đây, “Nếu quý Hòa thượng cho phép, tôi xin được gọi đạo
Phật của chúng ta, và nếu quý, hòa thượng không ngần ngại, tôi cũng có
thể gọi Đảng của chúng ta.”
(Trích: Hồ sơ Phật Giáo thống nhất, Đỗ Trung Hiếu, trang 61, Tin, Paris, 1994.)
Kể từ đó Phật giáo trở thành thành viên của Đảng.
Nếu không tự bịt mồm được thì bất đắc dĩ để công an bịt mồm hộ như
Nguyễn Mạnh Tường, như tướng Trần Văn Trà, như nhóm Nhân Văn Giai phẩm
hoặc nhóm những người kháng chiến cũ hoặc như trường hợp linh mục Nguyễn
Văn Lý.
Tôi có dịp được xem lại những bảng vẽ tuyên truyền của tờ Việt Nam
Độc Lập thì thấy những gì gán ghép cho thực dân Pháp có thể cũng là
những điều chính quyền hiện tại đang hành xử đối với dân chúng. Thực dân
bóp cổ dân nghèo, chiếm đất đai, cộng sản cũng làm tương tự và làm hơn
thế nữa.
Còn lại, mọi chức vụ béo bở đều dành cho bọn “con ông cháu cha” của
bọn Tự-Thực -Dân. Điều này có lẽ hãy để ông Bùi Tín có đủ tư cách người
trong cuộc nói lên:
“Vợ hai Lê Duẩn làm đến Ủy viên Thường vụ tỉnh An Giang kiêm thêm Phó
Tổng biên tập báo Sài Gòn Giải Phóng mặc dầu không có tay nghề làm báo.
Các con Lê Duẩn như Thành, như Hồng đều được đi học ở Liên Xô cũng như
Võ Diên, con trai Võ Nguyên Giáp. Hai con rể của Lê Duẩn, tên Hồ Ngọc
Đại và Lê Bá Tôn cũng đều tốt nghiệp ở Đức và ởTiêp. Vợ của bộ trưởng
ngoại giao là bà Tư là Vụ trưởng Bộ Nội vụ kiêm thêm Vụ trưởng vụ Kế
Hoạch. Vợ của Thứ trưởng bộ Văn Hóa cũng làm Thứ Trưởng bộ Công Nghiệp
nhẹ nắm trong tay toàn bộ ngành dệt của cả nước. Đó cũng là trường hợp
của bà Thanh, vợ của Tố Hữu lên đến chức Phó Ban tuyên Huấn Trung Ương
đảng, ngang cấp với một Thứ trưởng.
Cũng là trường hợp của bà Trần Thị Tích, vợ của Tổng Biên Tập báo
Nhân Dân Hoàng Tùng, đang phụ trách ban nữ công của tờ báo, nhảy lên
chức Trưởng Ban Nội Chính của báo Đảng. Khi về hưu lên đến bậc 7 (ngang
với thứ trưởng).
Bùi Tín còn liệt kê giám đốc bệnh viện không biết gì về y tế, trưởng
phòng ngân hàng không biết gì về tài chánh, Giám đốc sở giáo dục không
hề là một giáo viên.
Có khác gì các nước Hậu thuộc địa có tổng thống suốt đời! Ở Việt Nam
tự-thuộc-địa cũng có Đại biểu Quốc Hội suốt đời, chủ tịch nước suốt đời,
thủ tướng suốt đời, tổng bí thư suốt đời trở thành những việc tất
nhiên. (Chắc là có ý nói hưởng bổng lộc suốt đời).
(…) Cho đến khi cả bị sai lầm, khuyết điểm rõ ràng thì cũng vẫn cứ bị đá lên, nghĩa là đưa lên một vị trí cao hơn!
Ông Bùi Tín đã đưa ra một số trường hợp bị “đá lên” như trường hợp
Trường Chinh, Ông Nguyễn Sỹ Đồng bị truy tố là diệt các làng Thiên Chúa
giáo ở Quảng Bình được đổi tên là Đồng Sĩ Nguyên trở thành Tư lệnh đường
mòn Hồ Chí Minh, rồi Phó thủ tướng. Người chỉ huy chiến trận ở Cam Bốt
nay làm Chủ Tịch nước. Ông Đặng Thi, người có trách nhiệm về Cải cách
ruộng đất ở Liên Khu 4 như tra tấn người thì nay được làm Bộ trưởng phụ
trách hợp tác, với Lào và Cam Bốt.
Hồ ViếtThắng, chủ chốt trong vụ Cải cách ruộng đất trở thành Bí thư
Ủy Ban Kế Hoạch nhà nước. Sau 1975, ông là người gạt bỏ các nhân viên
“ngụy” trong cơ quan điện toán chỉ vì họ do Mỹ đào tạo, hoặc là người
công giáo hoặc người di cư.
(Trích Mặt Thật, Bùi Tin, tóm tắt các trang 284-290.)
Những điều ông Bùi Tín viết ra là sự thật. Nhưng điều ông viết ra từ
năm 1994, nếu so sánh với sự thật bây giờ của 2011 thì nó còn có ý nghĩa
gì không?
Chính Sách Bên Lề
Chính sách bên lề đúng ra là để chỉ thị những thành phần xã hội kém
may mắn như cô nhi, quả phụ, những kẻ tật nguyền trong một xã hội yếu
kém về tổ chức xã hội. Họ bị vứt ra bên lề, sống vất vưởng không nơi
nương tựa như những kẻ đầu đường xó chợ.
Cũng được coi là những kẻ sống bên lề, các sắc dân thiểu số, các bộ
lạc sống xa xôi, hẻo lánh trong rừng. Đã bao nhiêu chế độ đi qua, đổi
chủ, họ vẫn là những thành phần không được khai hóa sống triền miên với
mê tín, dị đoan.
Nhưng trong một xã hội toàn trị như trong xã hội cộng sản thì tất cả
những ai đi ngược lại Đảng và Nhà nước sẽ bị thanh trừng, loại trừ, tù
tội, cải tạo và được coi là những kẻ bị sống bên lề suốt đời.
Đó là trường hợp những Nguyễn Hữu Đang, Nguyễn Mạnh Tường, Phan Khôi,
Trần Dần, Trần Xuân Bách, Kim Ngọc, Nguyễn Hộ, Nguyễn Văn Trấn, Phạm
Quế Dương và trăm người khác. Đó cũng là những sĩ quan và công chức
Saigon trước 1975, những binh lính “ngụy”, những thương phế binh, những
cô nhi quả phụ và vợ con các người đi học tập.
Tất cả đều là những công dân bậc hai. Những thành phần bị loại bỏ, sống bên lề của đời sống xã hội.
Và nói cho cùng ngoài 3 triệu đảng viên cộng sản và số công an cảnh
sát, quân đội và một số thành phần dân chúng sống bám vào hệ thống quyền
lực ấy, sống chết với cơ chế ấy như lời Nguyễn Văn Linh tuyên bố: Lịch
sử Việt Nam đã giao phó cho Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo cuộc cách
mạng, trước kia là thế, hiện nay là thế và mãi mãi về sau vẫn mãi mãi là
thế.
Họ Không muốn thay đổi và cũng không muốn nghe ý kiến của bất cứ ai.
Vì thế cơn bão Đông Âu đã không giúp thay đổi gì ở Việt Nam như nhiều người kỳ vọng.
Cuộc Cách mạng Hoa Lài hiện nay xem ra còn xa mới thổi đến Việt Nam.
Vì thế, tất cả những kiến nghị của người trong nước từ xưa tới nay và
nay thư kiến nghị của trí thức hải ngoại đều là thừa.
Tất cả thành phần dân chúng đều là thứ dân đen trong cỗ máy nghiền
của nhà nước và trở thành những con người bị tha hóa trên chính quê
hương của mình. Họ trở thành những người khách lạ, những kẻ vô thừa nhận
trong trong chính sách bên lề của người cộng sản.
Gớm thay cho chủ nghĩa cộng sản với chính sách bên lề. Chính sách này
là một thứ tội ác không tha thứ được. Vì nó loại trừ tất cả những quyền
lợi chính đáng cũng như cơ may làm người. Vì nó mà biết bao nhiêu người
đã dở sống, dở chết kéo dài thân phận đến không một ai dám nhìn nhận.
Nó cách ly những người ấy ra khỏi đồng loại!
THEO DÒNG SỰ KIỆN:

No comments:
Post a Comment