Saturday, November 1, 2014

CÁC TRIỀU ĐẠI PHONG KIẾN & CỘNG SẢN TRUNG HOA LÀ KẺ THÙ TRUYỀN KIẾP DÂN TỘC TA (Nguyễn Vĩnh Long Hồ)

Posted on by

Chính trị được xây dựng trên tương quan lực lượng. Những tư tưởng không mùi vị chiến đấu, sợ chiến tranh, lẩn tránh ánh sáng của lưỡi lê đều không phải là những tư tưởng có khả năng điều khiển xã hội.
PROUDHON


LỊCH SỬ CÁC TRIỀU ĐẠI PHONG KIẾN TRUNG HOA ĐỐI VỚI VIỆT NAM.
Kể từ triều đại quan trọng đầu tiên được Bắc Kinh xác nhận là NHÀ THƯƠNG từ 1766 đến 1027 trước TL. Trong thời đại nầy, chế độ phong kiến được củng cố. Trung Hoa bị phân tán ra thành hơn 70 nước nhỏ. Nhà CHU xưng vương, các nước lớn được phong tước bá, các nước nhỏ được phong hầu. Triều đại nhà Chu được chia làm hai thời kỳ: TÂY CHU từ 1122 đến 771 trước TL. ĐÔNG CHU chia làm hai giai đoạn “XUÂN THU” & “CHIẾN QUỐC”.
Thời Chiến Quốc là thời kỳ nảy sinh những nhà tư tưởng lớn như Khổng Tử, Lão Tử, Mạnh Tử, Hàn Phi Tử…đã góp phần tạo dựng nền văn minh cổ Trung Hoa. Sau thời kỳ Chiến Quốc, TẦN THỦY HOÀNG lần đầu tiên thống nhất Trung Hoa.
Nhìn về phương NAM, AN DƯƠNG VƯƠNG khai sinh ra nước ÂU LẠC, nền móng của nước VIỆT NAM sau nầy. Vua lên ngôi hoàng đế, ra lệnh cho ĐỒ THƯ đem quân xâm chiếm đất đai của giống dân BÁCH VIỆT ở Quảng Đông và Quảng Tây. Vì cầu an, An Dương Vương xin thần phục nhà Tần. Tần Thủy Hoàng trị vì khoảng 40 năm thì chết. Trung Hoa lại lâm vào cảnh nội chiến Hán Sở tranh hùng. Bốn năm sau, Lưu Bang diệt được Hạng Võ, lập nên nhà Hán. Lúc đó, Triệu Đà đã chiếm được Âu Lạc và đổi tên nước là NAM VIỆT, vẫn thần phục nhà Hán. Nhà Triệu làm vua được một thế kỷ. Đến năm 111 trước TL, Hán Vũ Đế sai Lộ Bác Đức đem quân xâm lăng Việt Nam, quân nhà Triệu thua trận và Việt Nam bị Trung Hoa đô hộ gần một ngàn năm. Dưới ách thống trị của Trung Hoa, hầu hết những tên Thái thú Tàu đối với dân Việt đều tàn ác dã man. Ngoại trừ một số ít như Tích Quang và Nhâm Diên dùng sách lược “tầm ăn dâu” để đồng hóa Việt Tộc vô cùng thâm độc.
Trong một ngàn năm Bắc thuộc, Trung Hoa đã trải qua nhiều triều đại như: Hán, Tấn, Lương, Trần, Tùy, Đường…Thời đại nào, dân tộc Việt Nam cũng nổi lên chống ngoại xâm. Đầu tiên là hai bà TRƯNG, bà TRIỆU, LÝ NAM ĐẾ, TRIỆU QUANG PHỤC, MAI HẮC ĐẾ, PHÙNG HƯNG…nhưng tất cả đều thất bại, mãi cho đến năm 939, NGÔ QUYỀN đại thắng quân Nam Hán, mở đầu kỷ nguyên độc lập và tự chủ cho dân tộc Việt Nam.
Sau khi Việt Nam dành được độc lập hơn 50 năm. Lúc bấy giờ bên Trung Hoa, nhà Tống đã kế ngiệp nhà Đường, lại đem quân sang xâm lăng Việt Nam. Nhưng, quân Tống bị THẬP ĐẠO TƯỚNG QUÂN LÊ HOÀN đánh cho tan tác. Ít năm sau, Tể tướng Vương An Thạch lại xua quân đánh chiếm Việt Nam để rửa nhục. Nhưng, vua nhà LÝ đã cử tướng tài ba thao lược LÝ THƯỜNG KIỆT đem quân tấn công, đánh phủ đầu quân Tàu xâm lược trước và chiếm được Châu Khâm, Châu Liêm trước khi rút quân về.
Triều đại nhà Tống kéo dài được 300 năm thì quân KIM từ quan ngoại kéo vào đánh chiếm Bắc Trung Hoa. Triều đình nhà Tống rút về phía Nam lập ra nhà Nam Tống kéo dài 50 năm thì quân Mông Cổ vượt Vạn Lý Trường Thành kéo vào chiếm đóng toàn cõi Trung Nguyên. Lúc đó, THÀNH CÁT TƯ HÃN đã chinh phục được Cao Ly, cùng những tiểu quốc vùng Trung Á và đã hai lần kéo quân đánh phá các nước Âu Châu. Người Âu Châu khiếp sợ gọi họ Rợ Hung Nô. Nhưng, khi Hốt Tất Liệt sai con là Thoát Hoan ba lần đem quân đánh Việt Nam, nhưng cả ba lần đều đại bại.
Năm 1368, Chu Nguyên Chương, một ông sư hồi tục, hưng binh khởi nghĩa, đánh đuổi được quân Mông Cổ lập ra nhà Minh. Năm 1606, nhà Minh lấy cớ Hồ Quý Ly thoán đoạt ngôi vua, đem quân sang đánh Việt Nam. Hồ Quý Ly bị giết. Nhưng, dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của LÊ LỢI, nổi lên đánh đuổi được quân Minh và lập ra nhà LÊ.
Năm 1644, triều đại nhà Minh suy tàn, Lý Tự Thành nổi lên làm loạn, chiếm được Bắc Kinh. Vua Sùng Trinh thắt cổ tự tử. Tướng phòng thủ biên giới phía Bắc là Ngô Tam Quế mở cửa Sơn Hải quan cho quân Mãn Châu vào dẹp Lý Tự Thành và cai trị Trung Hoa. Khác với quân Mông Cổ dùng bạo lực để cai trị, quân Mãn Châu dùng người Hoa, giữ nguyên hệ thống hành chánh, duy trì nền văn hóa, tôn trọng Nho học. Họ mang quân chinh phục thêm Nội Mông, Thanh Hải, Tây Tạng. Lãnh thổ Trung Hoa hợp với đất Mãn Châu càng trở nên rộng lớn hơn.
Nhà Thanh cũng như những triều đại khác, lại đem quân sang xâm lăng Việt Nam thì bị vua QUANG TRUNG NGUYỄN HUỆ đánh tan tác. Triều đại nhà Thanh với những minh quân như Khang Hi, Càn Long đã đem lại sự ổn định và thịnh vượng cho Trung Hoa một thời gian dài.
Sự thịnh vượng đó làm tăng thêm tánh tự cao, tự đại và kiêu hãnh của chủ nghĩa Đại Hán, cái rốn của vũ trụ. Vì thế, khi thực dân Châu Âu tràn vào áp chế Trung Hoa, họ không thích ứng với sự đổi thay kịp thời như nước Nhật dưới thời vua Minh Trị Thiên Hoàng. Những cố gắng canh tân của vua Quang Tự chỉ kéo dài được 100 ngày thì Từ Hi Thái Hậu quản thúc, khiến Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vi phải trốn sang Nhật. Triều đại nhà Thanh chấm dứt năm 1912 khi vua Phổ Nghi thoái vị, nhường chức cho Viên Thế Khải. Trong suốt thời gian dài đó, Trung Hoa trong chiến tranh chống ngoại xâm rồi nội chiến, cuối cùng phe Cộng sản do Mao Trạch Đông lãnh đạo đuổi quân Tưởng ra Đài Loan, nhuộm đỏ toàn cõi Hoa Lục.
Nhìn lại chiều dài lịch sử hơn 3.000 năm của các triều đại phong kiến Trung Hoa đối với dân tộc Việt Nam. Lịch sử Việt Nam là lịch sử đấu tranh kiên cường, bất khuất đầy gian khổ nhưng hào hùng và vô cùng gian khổ. Trên thế giới từ cổ chí kim, hiếm có dân tộc nào như dân tộc Việt Nam bị Trung Hoa đô hộ cả ngàn năm mà kẻ thù không không Hán hóa được Việt tộc và cuối cùng dưới sự lãnh đạo của vị anh hùng dân tộc NGÔ QUYỀN, dân Việt đã vùng lên đánh bại quân xâm lược phương Bắc dành lại chủ quyền và nền độc lập – tự chủ. Nhờ vào những yếu tố nào mà mà tổ tiên chúng ta đã duy trì được bản sắc dân tộc, chống lại lại sự đồng hóa của kẻ thù phương Bắc?
Các triều đại phong kiến Trung Hoa lúc nào cũng vượt trội các nước láng giềng như Nhật Bản, Đại Hàn, Mông Cổ, Tây Tạng, Việt Nam…về lãnh thổ, dân số, văn hóa, khoa học kỷ thuật vào thời kỳ đó. Vì vậy, người Trung Hoa tự kiêu, tự mãn và tự đại tự phong cho mình như trung tâm của vũ trụ, gọi tên nước là Trung Hoa, triều đình là thiên triều, hoàng đế là thiên tử thừa mệnh trời để cai trị nước Tàu và chinh phục các nước lâng bang phải thần phục Trung Hoa và chủ nghĩa “Đại Hán” phát sinh từ đó.
Tuy vậy, các triều đại phong kiến Trung Hoa vẫn lo sợ các nước nhỏ đánh phá hoặc xâm lăng. Từ hơn 2 ngàn năm trước, mối sợ hãi giống “Rợ Hồ” khiến Tần Thủy Hoàng phải cho xây Vạn Lý Trường Thành dài hơn 3.000 km để bảo vệ vùng biên giới. Nhưng, trường thành nầy cũng không ngăn chận nổi quân Mông Cổ, quân Kim rồi quân Mãn Thanh đã tràn vào Trung nguyên, cai trị Trung Hoa, tổng cộng khoảng 500 năm. Riêng nhà Mãn Thanh mà người Trung Hoa đã miệt thị, gọi là “Rợ” với dân số chỉ có 5 triệu người đã thống trị Trung Hoa 268 năm từ năm 1644 – 1912 bằng bàn tay sắt máu.
Ngay vào thời nhà Tống bên Trung Hoa, phía Bắc bị quân Liêu uy hiếp, bắt cắt đất, nộp vàng lụa, phía Tây bị Tây Hạ tấn công. Còn phía Nam, vua LÝ THÁI TỔ đã cử danh tướng, anh hùng dân tộc LÝ THƯỜNG KIỆT, TÔN ĐẢN và công chúa NGÔ CẨM THI cầm quân sang đánh Châu Khâm, Châu Ung và Châu Liêm đập tan âm mưu xâm lăng nước Việt ta từ trong trứng nước. Và một trong những trận đánh lừng danh trong lịch sử chống ngoại xâm của Việt Tộc đó trận đánh tan quân nhà Tống trên sông Như Nguyệt vào năm 1076.
Người Trung Hoa lo sợ lịch sử tái diễn, bị các nước nhỏ như Mông Cổ, Mãn Thanh thống trị. Họ chỉ cảm thấy an toàn là phải đi xâm chiếm, bắt buộc các nước nhỏ phải thần phục và sát nhập vào lãnh thổ Trung Hoa, chủ nghĩa bành trướng, bá quyền thành hình từ tâm trạng bất an đó. Từ Trung Nguyên, nước Tàu đã sát nhập Thanh Hải, Tân Cương, Nội Mông, Liêu Đông, Hắc Long Giang đã tăng gấp ba lần trong suốt 10 thế kỷ qua. Tham vọng bành trướng của các triều đại phong kiến Trung Hoa chỉ bị chận đứng tại phía Nam vì sự chống trả quyết liệt của VIỆT TỘC từ đời nầy sang đời khác để duy trì nền độc lập tự chủ bằng máu.
NHỮNG BÀI HỌC QUAN HỆ GIỮA TRUNG HOA VÀ VIỆT NAM:
Như đã kể trên, Trung Hoa tuy là một quốc gia rộng lớn, dân số đông đảo nhất thế giới với một nền văn minh cổ rực rở. Nhưng, không tránh những thăng trầm của lịch sử, có thời kỳ hưng thịnh và suy tàn như dòng thủy lên rồi rút xuống, không có triều đại vua chúa nào tồn tại vĩnh viễn, tất cả phải thay đổi. Trung Hoa ví như một người khổng lồ chân đất sét, to con lớn xác nhưng không mạnh, bằng chứng là Trung Hoa đã bị Mông Cổ và Mãn Thanh là những nước nhỏ thống trị hơn 5 thế kỷ. Người Trung Hoa không phải là một dân tộc thuần chủng như ta tưởng. Thực chất, người Trung Hoa đã lai giống với những dân tộc cai trị họ, đó dòng máu “RỢ” mà trước đó, họ đã miệt thị là “RỢ HỒ”, “RỢ HUNG NÔ”, “RỢ KIM” hay “RỢ MÔNG CỔ”… nên bản chất người Trung Hoa ngày nay rất dã man, tàn bạo đối với nước bị họ thống trị, bởi vì trong huyết thống của họ đã pha trộn dòng máu “RỢ” từ thời trung cổ.
Trong lịch sử thế giới, hiếm có dân tộc nào có tinh thần đấu tranh bất khuất chống ngoại xâm như dân tộc Việt Nam ta. Nhờ vào yếu tố nào mà Dân tộc Việt Nam vẫn duy trì được nòi giống Tiên Rồng, mặc dù đã chịu nhiều ảnh hưởng của Trung Hoa từ văn hóa, chánh trị, kinh tế sau 10 thế kỷ bị giặc Tàu đô hộ? Xin thưa, đó là tổ tiên ta biết giữ gìn và phát huy nền “VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỔ TRUYỀN DÂN TỘC” , tổ tiên chúng ta dùng nó như một cái khiên bảo vệ nòi giống; vì vậy, bất cứ thời đại nào cũng có anh hùng hào kiệt xuất hiện, quét sạch quân xâm lược phương Bắc ra khỏi bờ cỏi. Bằng chứng là vào thế kỷ 15, nhà Minh đem quân sang xâm lăng Việt Nam đã thi hành chánh sách thâm độc là tịch thu hết sách vở, tài liệu, bia đá, nhân tài của nước Đại Việt về Trung Hoa, có nghĩa là phải tiêu diệt nền “Văn Hóa Truyền Hóa Cổ Truyền” của Việt Tộc mới tính đến chuyện đồng hóa họ được.
Lịch sử Việt tộc là lịch sử đấu tranh trường kỳ gian khổ nhưng đầy hào hùng và dũng cảm. Cuộc đấu tranh bảo vệ đất nước chống kẻ thù phương Bắc để bảo vệ chủ quyền và nền độc lập dân tộc. Những tinh hoa Văn Hóa truyền thống cổ truyền và giá trị luân lý đạo đức. Tất cả được dựng thành truyện truyền bá trong nhân gian. Đó là loại văn hóa bất thành văn, được truyền khẩu từ đời sang đời khác để gìn giữ khí phách hào hùng của dân tộc. Kho tàng VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỔ TRUYỀN của dân tộc rất phong phú và đa dạng. Bên cạnh thần thoại Rồng Tiên, xin đơn cử 3 câu chuyện điển hình, được phổ biến nhất.
PHÙ ĐỔNG THIÊN VƯƠNG: Tiền nhân đã dựng một chân dung NGƯỜI HÙNG DÂN TỘC thành một thần tượng chói sáng, rực rở trong suốt chiều dài lịch sử chống ngoại xâm. Từ một cậu bé làng Phù Đổng có tầm vóc nhỏ bé trơ trơ, bỗng mang hình tượng người khổng lồ kỳ vỹ khi tổ quốc lâm nguy bị giặc Ân xâm phạm bờ cõi. Phải chăng tổ tiên ta muốn xây dựng hình tượng Phù Đổng Thiên Vương mang kích nhỏ bé như đất nước Việt ta vào thời đại đó, có thể đánh bại kẻ thù phương Bắc khổng lồ.
THẦN KIM QUI: Thần thoại nầy dựa vào sự thật của lịch sử dưới triều An Dương Vương khai sinh ra nước Âu Lạc. Đó một thông điệp nghiêm khắc của tiền nhân nhắc nhở dân tộc ta phải luôn luôn ĐỀ CAO CẢNH GIÁC kẻ nội thù, gián điệp, tay sai cho các thế lực thù địch. LOA THÀNH sụp đổ vỡ chỉ vì thiếu cảnh giác.
SƠN TINH – THỦY TINH: Sơn Tinh tượng trưng cho sức mạnh của quần chúng chống lại Thủy Tinh, kẻ tượng trưng cho sức mạnh của lũ lụt để dân tộc sinh tồn. Đó là thông điệp báo động khẩn cấp của tiền nhân…
ẢNH HƯỞNG CỦA NHO GIÁO: Cũng giống như nước Nhật, nhờ ảnh hưởng của Nho giáo về lòng trung quân, ái quốc làm tăng thêm dân tộc tính của người Việt Nam là lòng yêu nước vô bờ bến và nung nấu tinh thần độc lập dân tộc càng thêm mãnh liệt. Vì vậy, đối với Trung Hoa, Việt Nam là một khúc xương khó nuốt, ngăn chận sự bành trướng Hán tộc xuống vùng Đông Nam Á. Và sự quan hệ lâu đời giữa Việt Nam và Trung Hoa tồn tại cho đến thế kỷ thứ 19 vì bị các đế quốc Âu Châu dòm ngó.
LỊCH SỬ TRUNG HOA CẬN ĐẠI ĐỐI VỚI VIỆT NAM:
Năm 1840, lịch sử Trung Hoa nhìn nhận là mốc đánh dấu điểm bắt đầu Trung Hoa chuyển sang cận đại và đã trải qua 3 cuộc chiến tranh lớn trong khoảng một thế kỷ, bị liệt cường Âu Châu và Nhật Bản xâu xé thảm hại:
[1] Trong lúc Trung Hoa đang có chiến tranh, bận đối đầu với liên quân Anh, Pháp, Đức đánh vào Bắc Kinh hồi đầu thập kỷ 1860, thì tại Việt Nam, khi quân đội viễn chinh Pháp tiến đánh Bắc Hà vào năm 1882. Vua Dực Tông vẫn thiển cận, sai người sang cầu cứu nhà Thanh. Tuy rằng trong lúc đó nước Trung Hoa bát quốc liên quân đánh cho tơi tả, nhưng triều đình nhà Thanh vẫn không bỏ ý định xâm chiếm Việt Nam. Tổng Đốc Lưỡng Quảng Trương Thụ Thanh dâng mật sớ về triều nói rằng: “Nước An Nam và Trung Hoa tiếp giáp với nhau, mà thế lực nước Nam thật là suy hèn, không có thể tự chủ được nữa. Vậy ta nên mượn tiếng sang đánh giặc mà đóng giữ các tỉnh Thượng du” . Triều đình nhà Thanh nghe lời, sai đem quân sang giúp Việt Nam đánh nhau với Pháp. Nhưng, chỉ được 2 năm thì hai bên ký hòa ước, trong đó Trung Hoa chấp nhận rút quân và công nhận quyền bảo hộ của Pháp ở Việt Nam. Hòa ước nầy do Fournier và Lý Hồng Chương ký, phân định biên giới hai nước.
[2] Chiến tranh giữa Trung Quốc và Nhật Bản vào năm Giáp Ngọ năm 1894.
[3] Chiến tranh Trung Quốc và Nga ở vùng Đông Bắc vào năm 1906.
Người Âu Châu đã miệt thị, khinh khi dân tộc Trung Hoa bằng những lời lẽ trịch thượng, chà đạp nhân phẩm Hán tộc như: “Trên thế giới nơi nào có giống chuột là có người Tàu” . Vì sống ở những nơi thiếu điều kiện vệ sinh tối thiểu, nên họ mắc một chứng bệnh ngoài da mà người ta gọi là “ghẻ Tàu” . Trong thời gian bị Nhật Bản đô hộ, người Tàu được coi như ngang hàng với…chó. Tại các công viên dành cho các gia đình quan chức người Nhật đều có treo bảng cấm: “NO DOGS AND CHINESE ALLOWED”” họ mướn người Ấn Độ canh gác. Đó là một thực tế, không thể phủ nhận.
Một biến cố đầy bi thảm thứ hai là cuộc “THẢM SÁT NAM KINH” (Nanking Massacre) hay còn gọi là “CUỘC HIẾP DÂM Ở NAKING” (The rape of Nanking). Chỉ trong khoảng thời gian 6 tuần lễ, kể từ ngày 9 tháng 12 năm 1937, sau khi quân đội Thiên Hoàng đánh chiếm được Nam Kinh, có trên 300.000 người Tàu bị giết tập thể. Họ bị trói thúc ké và biến thành những hình nhân sống để quân đội Nhật thực tập cách đâm lưỡi lê và có khoảng từ 20 đến 80.000 phụ nữ Tàu bị họ hiếp dâm tập thể. Ngày nay, nó đã trở thành “HỘI CHỨNG NAM KINH” vẫn còn là một nỗi ám ảnh kinh hoàng của bọn Trung Nam Hải.
oOo
Trước đây, Trung Cộng đã ký 4 thỏa ước về quyền khai thác những vùng Exclusive Economic Zone (vùng đặc quyền kinh tế): một với Nhật, một với Nam Hàn và hai với Việt Nam để khai thác tài nguyên trên biển cả như khoáng sản, dầu hỏa, hải sản…EEZ là vùng biển 200 hải lý là khoảng cách đo từ bờ ra. Theo tài liệu Japan Focus viết: “Ngư nghiệp và khả năng cung cấp có giới hạn của đại dương là địa bàn tạo ra những tiến bộ quan trọng trong việc cộng tác giữa những thế lực trong vùng, nhưng cũng tạo ra nhiều va chạm và khó khăn trong việc điều hành ngư nghiệp trong thời điểm việc đánh bắt cá giảm sút lớn lao.” Và những thỏa ước nầy gồm có ba vấn đề quan trọng:
• Các nước tôn trọng quyền ngư nghiệp của những nước khác.
• Đặt ra những nguyên tắc cho phép ngư thuyền của nước nầy vào EEZ của nước kia để đánh bắt hải sản.
• Tạo ra một quy chế quản lý cho nguồn hải sản chung của Thái Bình Dương.
Mỗi thỏa ước tạo ra một Joint Fishery Committee (Ủy ban hỗn hợp ngư nghiệp) có trách nhiệm:
• Nghiên cứu tình trạng ngư nghiệp.
• Tham khảo với nhau về ngư nghiệp, về số lượng hải sản mỗi nước được phép đánh bắt.
• Khuyến cáo việc cho phép các ngư thuyền đánh bắt trong vùng EEZ của nước khác phải xin “license” và phải tuân theo luật biển của nước chủ nhà. Trong trường hợp ngư thuyền nước nào phạm luật, nước chủ vùng biển đó có thể bắt giữ ngư thuyền.
Tàu Nhật, Nam Hàn và Trung Cộng thường xuyên cho tàu hải quân tuần tiểu trên vùng EEZ của nước mình. Họ được quyền lên ngư thuyền ngoại quốc để kiểm soát giới hạn số hải sản được đánh bắt. Điều cần nói ở đây là tàu hải quân Trung Cộng thường tránh né, chưa bao giờ dám va chạm, đừng nói đến việc dám nổ súng vào những ngư thuyền của Nhật và Nam Hàn vì “Hội chứng NAM KINH” vẫn còn là một nỗi ám ảnh khủng khiếp đối với Trung Cộng.
Nhưng, đối với các nước nhược tiểu như Việt Nam hoặc Philippines thì các ngư dân thường bị các tàu tuần tiểu Trung Cộng hành sử như bọn cướp biển Somalia hung hăng, tàn bạo, dã man. Họ đã bị lính Trung Cộng đánh đập một cách man rợ, phá hoại tài sản và cướp đi tất cả hải sản của ngư dân Việt Nam đã đánh bắt được trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Mặc dù trước đây, quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc lãnh thổ của VNCH bị Trung Cộng cưỡng chiếm sau trận hải chiến Hoàng Sa xảy ra vào ngày 19/ 1/ 1974 với Hải quân VNCH.
Sau đây là những trường hợp điển hình vừa xảy ra trong năm 2014 tại Biển Đông:
(1) Ngày 26/5/2014, lúc 16 giờ. Trong số 10 ngư dân trên tàu ĐNa 90152-TS bị tàu TC đâm chìm trong lúc đang đánh bắt bắt cá cách giàn khoan Hải Dương-981, khoảng 17 hải lý thì bị 4 tàu TC tấn công. Thấy nguy hiểm, thuyền trưởng Đặng Văn Nhâm quay đầu và tăng tốc chạy, nhưng chạy được một đoạn thì thấy phía trước có 3 tàu TC cản đường. Lúc đó, có một tàu TC mang số hiệu 11209 vượt lên và đâm trực diện, hất mũi tàu ĐNa 90152-TS tung lên cao, tàu bị gãy bánh lái. Khi tàu chúng tôi vừa lấy lại thăng bằng thì tàu TC 11209 tiếp tục đâm vào mạn trái gãy be khiến tàu nghiêng rồi lật úp…
(2) Ngày 7/5/2014, tàu cá của Quãng Ngãi số hiệu QNg 96416-TS cùng 16 ngư dân đã bị tàu TC mang số hiệu 1241 bắn đạn lửa, dùng vòi rồng phun nước, quăng chai lọ sang tàu của họ, rồi dùng câu liêm cắt đứt dây và hệ thống liên lạc định vị. Sau đó, thêm một tàu ngư chính TC khác (không rõ số hiệu) đâm thẳng vào tàu cá QNg 96416 TS làm tàu vỡ mạn bên phải và toàn bộ kính cabin hỏng nhiều thiết bị và tài sản trên tàu. Thiệt hại ước tính gần 1 tỷ đồng.
(3) Ngày 16/5/2014, tàu cá Quảng Ngãi mang số hiệu QNg 90205-TS trong khi đang hoạt động nghề cá tại khu vực gần đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa của VN, đã bị tàu ngư chính TC mang số hiệu 306 chạy đến tấn công, đó là tàu sắt loại lớn lao vào đâm chìm tàu cá QNg 90205-TS.
(4) Ngày 3/7/2014, nhóm ngư dân thuộc xã Phổ Thạnh, huyện Đức Phổ cùng tàu cá QNg 94912-TS bị tàu hải quân TC bắt giữ khi đang hoạt động ở quần đảo Hoàng Sa và giải về Hoa Lục lúc 8 giờ sáng. Đây là diễn tiến mới nhất kể từ tháng 5/2014 khi bọn Bắc Kinh đã ngang ngược đưa giàn khoan HD-981 vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam chiếu theo Công Ước LHQ về Luật Biển 1982.
(5) Tính ra từ đầu năm tới nay, có đến 20 vụ tàu cá của tỉnh Quảng Ngãi bị tàu Trung Cộng ngăn cản, bắn phá khi đang hành nghề ở gần quần đảo Hoàng Sa. Theo các ngư dân hiện hành nghề ở vùng biển Hoàng Sa cho biết, TC hiện có khoảng 25 – 30 tàu gồm nhiều lực lượng như kiểm ngư, tuần tra, hải giám đang ráo riết hoạt động thường xuyên uy hiếp, tấn công các tàu cá của ngư dân Việt Nam.
Ngoài việc ngang ngược cố hữu, bọn lãnh đạo Bắc Kinh còn thể hiện bản chất của bọn Tàu khựa là nhẫn tâm và vô nhân đạo cùng với hành vi bắn giết ngư dân Việt Nam một cách tàn bạo và độc ác. Tàu chiến của HQ Trung Cộng được trang bị đầy đủ hỏa lực và thản nhiên bắn thẳng xối xả vào các tàu đánh cá của ngư dân VN không một tấc sắt để tự vệ. Rõ ràng, hải quân TC đã lộ chân tướng ngang ngược côn đồ, bất chấp lẽ phải, coi thường các nước láng giềng nhược tiểu để thực hiện chủ nghĩa bành trướng, bá quyền ở Biển Đông. Hải quân TC là hiện thân của bọn cướp biển SOMALIA BIỂN ĐÔNG sống ngoài vòng luật pháp Quốc Tế.
Đánh giá hành động côn đồ, hung hăn, hiếu chiến cái gọi là QĐND Trung Cộng, nói theo ngôn từ của Dương Tử: “Thân dê mà đội lốt cọp, thấy cỏ thì thích, thấy chó sói thì run, quên mất bộ da khoác ngoài là lốt cọp” . Chủ nghĩa Đại Hán chỉ dùng để bắt nạn, hù dọa, ức hiếp các nước nhược tiểu như Việt Nam và Philippines và run sợ đến khiếp nhược trước Nhật Bản kẻ thù mạnh hơn mình thì chủ nghĩa Đại Hán đã trở thành thứ chủ nghĩa: “TIỂU nà má HÁN” .
KẾT LUẬN:
Tờ báo Le Monde nhận định thì Trung Cộng là một chế độ “hiếu chiến” đối với các nước láng giềng và bạo ngược với người dân trong nước. Dưới tấm hình tàu Trung Cộng dùng vòi rồng tấn công tàu cảnh sát biển VN, báo nầy nhận định: “Vụ va chạm nghiêm trọng trong ngày 07/5/2014 trong vùng quần đảo tranh chấp, một lần nữa làm tăng thêm căng thẳng tại khu vực bất ổn, nơi mà thái độ hung hăng của TC làm các nước láng giềng lo ngại” .
Thông tín viên Bruno Philippes tại ĐNÁ kể lại sự việc một tuần sau khi giàn khoan HD-981 được Bắc Kinh ngang ngược bố trí trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, các tàu TC dùng vòi rồng tấn công tàu cảnh sát biển của VN và không ngần ngại đâm thẳng vào vỏ tàu của đối phương gây thương tích cho 6 thuyền viên người Việt.
Thượng nghị sỹ John McCain cho biết: “Không còn nghi ngờ gì nữa, Bắc Kinh phải chịu hoàn toàn trách nhiệm vì hành động nỗ lực đơn phương nhằm thay đổi hiện trạng. Các hành động của TC hoàn toàn không dựa vào “Luật pháp quốc tế” . Giàn khoan HD-981 của TC hoạt động ngay trong vùng đặc quyền kinh tế & thềm lục địa của Việt Nam, nơi đã được Luật pháp Quốc tế phân định” . Washington gọi việc TC ngang ngược, lắp đặt giàn khoan dầu khí ở vùng biển thuộc đặc quyền kinh tế & thềm lục địa của Việt Nam là “sự khiêu khích trắng trợn và hành vi nguy hiểm”

NGUYỄN VĨNH LONG HỒ

No comments: