Saturday, April 11, 2015

HẬN THÁNG TƯ

Lại tháng Tư rồi có phải không?
Tháng Tư??? Chưa nhắc đã đau lòng!!!
Tháng Tư! Hai chữ sôi niềm hận
Cơ nghiệp bao đời của núi sông...

Rơi trọn vào tay kẻ bạo cường
Nên giờ chìm đắm một quê hương
Nên tan nát cả hồn dân tộc
Đau xót, trời ơi.... Những máu xương!!!
Xương máu vì ai, hỡi Lạc Hồng
Đã cao như núi, thẳm như sông
Mà sao xương máu thành vô nghĩa???
Dân nước giờ đây lại khốn cùng?
Quốc hận, riêng vinh một số người
Tháng Tư, bạo chúa nhảy lên ngôi
Tháng Tư, đảng nắm quyền sinh sát
Để cả giang sơn phải ngậm ngùi!
Ta hãy cùng nhau khóc Tháng Tư
Khóc thương Tổ Quốc đã đau nhừ
Rồi lau nước mắt, ta vùng dậy
Đập nát xiềng gông, phá ngục tù
Kìa, lửa Tây Nguyên đã rực trời
Nguyệt Biều chuông gióng tiếng ngàn khơi
An Giang đuốc cháy, thân người gục
Bản Giốc, Nam Quan khóc nghẹn lời....
Hận Tháng Tư nào chửa trả xong
Nam Quan thêm nhức vết thương lòng
Tay dơ, nước rửa tay ta sạch
Rửa nước bằng gì cho nước trong??? *
Hỡi những con dân Việt quật cường
Đã cùng non nước gánh đau thương
Xin đem tim, óc, đem hùng khí
Rửa sạch oan hờn cho cố hương!
Chan Son Ngu

__________________
"Giữa sỏi đá vút vươn niềm hy vọng
Trong tro tàn dào dạt nhựa hồi sinh
Hận nội thù trên máu ruột Tiên Rồng
Căm giặc cộng BÁN non sông Hồng Lạc"
(YTKCPQ)

"Cộng sản còn thống trị trên quê hương - Ta còn phải đấu tranh"
Mỹ cam kết triển khai vũ khí hiện đại nhất tới châu Á
Thứ sáu, 2015-04-10 - Nguồn: VnExpress.net
Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ashton Carter hôm nay tuyên bố Washington sẽ triển khai những vũ khí tối tân ...
 
Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ashton Carter (trái) và người đồng cấp Hàn Quốc Han Min-koo hôm nay xuất hiện trong cuộc họp báo chung tại Seoul. Ảnh: AFP

"Những vũ khí mới nhất và tốt nhất của chúng tôi sẽ được triển khai tới khu vực", AFP dẫn lời ông Carter phát biểu tại Seoul trong khuôn khổ chuyến thăm Nhật Bản và Hàn Quốc, hai đồng minh quan trọng của Mỹ ở châu Á. Những khí tài quân sự mà ông đề cập bao gồm máy bay ném bom tàng hình đời mới, chiến đấu cơ tàng hình F-35, cùng các hệ thống chiến tranh điện tử cực kỳ tối tân.
Lãnh đạo Lầu Năm Góc cho hay cuộc hội đàm của ông với Bộ trưởng Quốc phòng Hàn Quốc Han Min-koo đã đi đến thống nhất được "một bản đánh giá thẳng thắn" về mối đe dọa mà chương trình vũ khí hạt nhân và tên lửa đạn đạo của Bình Nhưỡng gây ra đối với bán đảo Triều Tiên cũng như Mỹ.
"Vụ phóng tên lửa mới đây một lần nữa chứng minh rằng Triều Tiên chủ ý tiếp tục thực hiện những hành động khiêu khích", ông Carter nói trước các phóng viên.
Triều Tiên hôm 7/4 bắn hai quả tên lửa đất đối không ngoài khơi vùng biển phía tây nước này đúng vào thời điểm Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ đặt chân tới Nhật Bản. Ông Carter nhấn mạnh "hành động này chỉ như một lời nhắc nhở về căng thẳng trên bán đảo Triều Tiên" và cũng là lý do mà ông thực hiện chuyến công tác. "Nếu đó là một lời chào gửi đến tôi thì tôi rất lấy làm hãnh diện", ông nói với các nhà báo tại căn cứ không quân Yokota ở Nhật Bản, trước khi sang Hàn Quốc.
Trước đó 4 ngày, Triều Tiên cũng phóng 4 tên lửa tầm ngắn ra vùng biển phía tây nhằm thể hiện thái độ tức giận với cuộc tập trận thường niên Mỹ - Hàn mà Bình Nhưỡng lên án là bước tập dượt cho một cuộc xâm lược.
Nhấn mạnh rằng tư thế sẵn sàng và răn đe quân sự là rất cần thiết đối với bán đảo Triều Tiên, ông Carter cho hay Mỹ đang đầu tư những trang bị tiên tiến nhất dành riêng cho khu vực có môi trường an ninh đầy biến động này.
Dù vậy, Bộ trưởng Carter tiết lộ ông vẫn chưa thảo luận với các quan chức ở Seoul về vấn đề nhạy cảm là hệ thống phòng thủ tên lửa THAAD mà Washington muốn triển khai tại Hàn Quốc. Đây là một quyết định khó khăn đối với Seoul vì họ phải lựa chọn ưu tiên giữa Mỹ, đồng minh quân sự quan trọng nhất, với Trung Quốc và Nga, hai đối tác thương mại hàng đầu.
Bắc Kinh và Moscow trước đó cùng lên tiếng phản đối kế hoạch này, cảnh báo rằng nó sẽ gây ảnh hưởng tới hòa bình và ổn định trong khu vực.
 

Chiến đấu cơ tàng hình F-35, một trong những vũ khí tân tiến mà Mỹ đưa tới châu Á. Ảnh: Bloomberg
HỌA CỘNG SẢN & BÁN NƯỚC HẠI DÂN

Họa cộng sản... ai đều thấu rõ
Bới cáo Hồ đất tổ chia hai
Việt Nam biển rộng sông dài
Nhờ ai gây dựng láng lai công trình...

Phường bán nước đáng khinh > việt cộng
Theo Nga, Tàu quên giống quên nòi
Máu đồng bào sục sục sôi
Phong trào tố cộng đang đòi hỏi ta...
Đã theo cộng, ông cha đành bó
Đạo vợ chồng cũng nỡ ăn thua
Con người là máy thi đua
Gái trai cũng vậy, già nua chẳng chừa!
Vô tôn giáo, đánh lừa ai nổi
Vô gia đình, tội lỗi phải mang
Thương thay gấm vóc giang san
Vì tay việt cộng tan hoang cửa nhà...
**********
Giờ đây lúc sơn hà nguy biến
Lũ ngoại xâm vào chiếm nước ta
Giặc thù Trung cộng điêu ngoa
Dã tâm bá chủ nước nhà Việt Nam
Đảng cộng sản lòng tham lam quá
Dũng - Hùng - Sang - Trọng đã nhẫn tâm
Hại người chẳng chút phân vân
Buôn dân bán nước hiến dâng cơ đồ...
Đã khởi nguồn thời Hồ - Đồng trước
Chúng lập thành mưu chước xuẫn ngu
Vì đâu có mắt như mù
Thấy chăng Trung cộng âm mưu khôn cùng?
Đảng quên hết anh hùng lịch sử
Đã hiên ngang gìn giữ giống nòi
Rạng danh nước Việt bao đời
Giống dòng Âu Lạc chưa rời tổ tiên!
Riêng việt cộng bọn điên, cuồng tín
Lòng tham lam nhất định không thôi
Ôm quyền cố vị giữ ngôi
Cúi lòn Trung cộng đề ngồi được yên!
Nếu sợ giống Rồng Tiên mất gốc
Đừng chỉ buồn và khóc Việt Nam
Dậy mà đi... để dẹp tan
Chóp bu đảng cộng ngang tàn hại dân !
Chí quyết thắng sẽ dần diệt sạch
Dù khó khăn thử thách gian nan
Một lòng giữ lấy giang san
Đuổi xua quỷ dữ tan hàng hồi hương...
Tiến đi tới con đường chính nghĩa
Cộng qui hàng về phía quốc dân
Hòa bình an lạc muôn phần
Toàn dân tộc Việt ăn mừng vẻ vang !!!
Nhung Truong (
FB_Nhung Truong ) 
 *** Chú thích phần đầu bài thơ :
Bài học thuộc lòng còn ghi trong ký ức NT
*** Phần sau: thơ NT

__________________
"Giữa sỏi đá vút vươn niềm hy vọng
Trong tro tàn dào dạt nhựa hồi sinh
Hận nội thù trên máu ruột Tiên Rồng
Căm giặc cộng BÁN non sông Hồng Lạc"
(YTKCPQ)


"Cộng sản còn thống trị trên quê hương - Ta còn phải đấu tranh"
Nguyễn Phú Trọng đã đầu hàng Tập Cận Bình
Phạm Trần (Danlambao) - Tổng Bí thư đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng đã thất bại ngay trong ngày đầu trong chuyến thăm Trung Quốc từ 7 đến 10 tháng 4 khi ông phải chấp nhận mọi đòi hỏi ở Biển Đông của Chủ tịch Nhà nước- Tổng Bí thư đảng Cộng sản Trung Quốc Tập Cận Bình.

Đây là lần đầu tiên ông Trọng sang Bắc Kinh kể từ sau ngày Trung Quốc rút giàn khoan Hải Dương 981 do họ đặt vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam để tìm kiếm dầu từ 2/5 đến 15/7/2014.

Trái với chuyến sang Bắc Kinh lần thứ nhất từ 11 đến 15/10/2011, lần này ông Trọng còn đem theo 4 Ủy viên Bộ Chính trị và Phó Thủ tướng- Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh là những người có triển vọng được lên cấp trong Ban Chấp hành Trung ương đảng khóa XII, dự trù được bầu vào tháng 1/2016.

4 Ủy viên Bộ Chính trị gồm Đinh Thế Huynh, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương; Nguyễn Thị Kim Ngân, Phó Chủ tịch Quốc hội; Phùng Quang Thanh, Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Trần Đại Quang, Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Công an.

Có tin đồn đoán ông Trọng đem họ theo để giới thiệu với ông Tập Cận Bình như là nhóm lãnh đạo mới đồng thời cũng thông báo về quyết định của riêng ông tại Đại hội đảng XII. Có tin nói ông Trọng, 72 tuổi vào năm 2016 sẽ rút lui để nhường chỗ cho một Tổng Bí thư trẻ hơn.

Ông Trọng có làm như thế hay chỉ biết lắng nghe ông Tập Cận Bình thuyết giảng về hợp tác toàn diện, kể cả vấn đề Biển Đông, giữa hai đảng và hai nhà nước trong 2 giờ đồng hồ thì các bài tường thuật của báo chí đôi bên đã chứng minh như thế.

Trong thời gian có cuộc khủng hoảng giàn khoan HD 981, Bộ Chính trị 16 người do ông Trọng đứng đầu đã không ủng hộ ý kiến đòi Quốc Hội ra một Nghị quyết lên án hành động xâm phạm chủ quyền lãnh thổ Việt Nam của Trung Quốc.

Điều này dễ hiểu vì ông Trọng là người thân Trung Quốc, theo lời Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, nguyên Đại sứ CSVN tại Bắc Kinh.

Việc này cũng giải thích tại sao mà ông Tập Cận Bình và nhà nước Trung Quốc đã đón tiếp ông Nguyễn Phú Trọng như một Quốc trưởng tại Đại lễ đường Nhân dân ở thủ đô Bắc Kinh chiều 7/4 (2015).

Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) viết: “Đoàn môtô long trọng hộ tống xe của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tiến vào khuôn viên Đại lễ đường. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình cùng nhiều lãnh đạo Trung Quốc đã nồng nhiệt chào đón Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Đoàn.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình và Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng bước lên bục danh dự; quân nhạc cử quốc thiều Việt Nam và Trung Quốc. Lễ đón diễn ra trang trọng với 21 phát đại bác chào mừng.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình mời Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng duyệt đội danh dự và chứng kiến Đội danh dự diễu hành.”

Liệu cuộc đón tiếp linh đình này có làm cho ông Nguyễn Phú Trọng bị choáng ngợp để quên rằng khi Trung Quốc thi hành chỉ thị “bảo vệ chủ quyền biển” là quyền lợi cốt lõi của ông Tập Cận Bình thì Bắc Kinh đã khởi công biến các đá ngầm chiếm của Việt Nam ở Trường Sa tháng 3 năm 1988 thành các đảo nhân tạo trong khi Thế giới tập trung theo dõi diễn biến vụ Giàn khoan HD 981.

Hình ảnh của báo chí Đài Loan (Want China Times, 02/09/2014) và Tây phương (Google Earth, DigitalGlobe, IHS Jane's Defense ngày 20 tháng 11 năm 2014) cho thấy quân đội và công nhân Trung Quốc đã làm việc ngày đêm để biến ít nhất 6 bãi đá ngầm Gạc Ma (Johnson South), Ga Ven (Gaven), Châu Viên (Cuarteron), Chữ Thập (Fiery Cross), Tư Nghĩa (Hughes), và Én Đất (Eldad) thành các đảo. Ngoài Én Đất, tất cả bãi đá trên đều được giới chức Trung Quốc ấn định "ngày sinh" cụ thể vào tháng 7. Duy nhất còn lại đá Xu Bi chưa bị biến thành đảo.

Trung Quốc cũng đang bồi đắp nhiều khu vực trong vùng tranh chấp với Phi Luật Tân ở hai bãi Macclesfield (Macclesfield Bank) và bãi cạn Scarborough hay đảo Hoàng Nham Scaborough mà Bắc Kinh gọi chung là Trung Sa quần đảo​.

Theo tài liệu của Bách khoa toàn thư (mở) thì: “Macclesfield là một bãi ngầm dạng rạn vòng hoàn toàn chìm dưới mặt nước biển Đông. Bãi ngầm này nằm cách quần đảo Hoàng Sa 75 hải lí (139 km) về phía đông, ở vào khoảng giữa của đường hàng hải từ bờ biển miền Trung Việt Nam đến phía bắc đảo Luzon của Philippines.

Tên gọi của bãi ngầm xuất phát từ sự kiện tàu Macclesfield của Anh khám phá ra bãi này vào năm 1701.

Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đều tuyên bố chủ quyền đối với bãi Macclesfield.”

Trong khi đó, bãi Scarborough (đảo Hoàng Nham) nằm cách bờ tây đảo lớn của Philippines 230 km và cách Trung Quốc hơn 800 km về phía bắc.

Trung Quốc đã kiến thiết đường bay, bến cảng và đồn binh trên các đảo nhân tạo mới ở Trường Sa. Trong số này có Gạc Ma nằm trên đường tiếp vận từ Việt Nam ra Trường Sa trong khi Chữ Thập chỉ cách cảng Cam Ranh và sân bay Đà Nẵng khoảng 400 cây số. Các máy bay Trung Quốc có thể uy hiếp hay tấn công quân Việt Nam ở Trường Sa dễ dàng hoặc đánh thẳng vào Việt Nam trong vài giờ vì đã dự trữ sẵn nhiên liệu tiếp tế trên các đảo nhân tạo này.

Thảo luận gì?

Như vậy đe dọa quân sự của Bắc Kinh đối với Việt Nam đã rõ ràng nhưng không thấy phóng viên của Thông tấn xã Việt Nam hay Đài Tiếng nói Việt Nam (Voice of Vietnam, VOV) tháp tùng ông Trọng nhắc đến khi tường thuật về nội dung cuộc thảo luận giữa hai Tổng Bí thư đảng Cộng sản Việt-Trung.

Báo chí Trung Quốc, tiêu biểu như Tân Hoa Xã (Xinhua) và Đài Phát thanh Quốc tế Trung Hoa (China International Radio, CRI) cũng không nói gì đến vấn đề đang gây chú ý không những cho Việt Nam hay các nước trong khu vực Đông Nam Á mà cho cả Thế giới.

Ông Tập Cận Bình không nói đến chuyện Trung Quốc tái tạo các bãi đá thành đảo để dành chủ quyền ở Biển Đông là điều tất nhiên, nhưng khi Tổng Bí thư đảng CSVN né tránh thì không thiếu gì người Việt Nam muốn biết mục đích ông sang Bắc Kinh để làm gì cho tốn tiền của dân?

Nếu ông Trọng đi Bắc Kinh chỉ để chứng kiến cấp thừa hành ký 7 văn bản thỏa thuận hợp tác giữa hai Đảng, Chính phủ và các bộ, ngành, cơ quan hai nước thì thật lãng phí.

Trong số các văn kiện đã ký đáng chú ý gồm:

- “Hiệp định về hợp tác dẫn độ giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa;”

- “Kế hoạch hợp tác giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc giai đoạn 2016-2020;”

- “Điều khoản Tham chiếu Nhóm công tác hợp tác tài chính tiền tệ giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc;”

- “Thỏa thuận về các vấn đề về thuế đối với Dự án thăm dò chung tài nguyên dầu khí tại vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc” giữa Bộ Tài chính nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Tài chính nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.”

Bản tin tiếng Việt của Đài Phát thanh Quốc tế Trung Hoa (CRI) viết về vấn đề xung đột ở Biển Đông: "Hai bên nhấn mạnh cần phải quý trọng và gìn giữ tình hữu nghị truyền thống Trung-Việt, thúc đẩy quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Trung Quốc-Việt Nam phát triển bền vững. Hai bên còn đồng ý cùng nhau nỗ lực, kiểm soát tốt các bất đồng trên biển, cùng giữ gìn hòa bình và ổn định trên Nam Hải…"

"…Tổng Bí thư Tập Cận Bình chỉ rõ, hai bên cần tuân thủ những nhận thức chung quan trọng đạt được giữa Lãnh đạo hai Đảng và hai nước, cùng nhau kiểm soát tốt các bất đồng trên biển, giữ gìn đại cục của quan hệ Trung-Việt và hòa bình, ổn định trên Nam Hải.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng bày tỏ tán thành và cho biết, hiện nay hai nước Việt Nam-Trung Quốc đều đang dốc sức cho sự nghiệp vĩ đại xây dựng Chủ nghĩa xã hội, đều kiên trì sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, đều đang thúc đẩy cải cách và đổi mới toàn diện, hơn lúc nào hết đều cần phải tăng cường hợp tác hữu nghị cùng có lợi, giải quyết thỏa đáng các bất đồng, cùng nhau tạo dựng môi trường hòa bình, ổn định và phát triển. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, Việt Nam coi trọng cao độ phát triển quan hệ hữu nghị bền vững và ổn định với Trung Quốc, đây là chính sách ưu tiên và lâu dài của Việt Nam, là sự lựa chọn chiến lược.”

Rõ ràng hai bên không nói gì đến những chuyện đã và đang xẩy ra tại vùng biển Trường Sa.

Theo tin của Việt Nam (TTXVN và VOV) thì: “Đối với vấn đề trên biển, (hai bên) nhấn mạnh tuân thủ nhận thức chung quan trọng đạt được giữa Lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước, nghiêm túc thực hiện “Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam-Trung Quốc;” sử dụng tốt cơ chế đàm phán cấp Chính phủ về biên giới lãnh thổ Việt Nam-Trung Quốc, kiên trì thông qua hiệp thương và đàm phán hữu nghị, tìm kiếm giải pháp cơ bản và lâu dài mà hai bên đều có thể chấp nhận được, tích cực nghiên cứu giải pháp mang tính quá độ không ảnh hưởng đến lập trường và chủ trương của mỗi bên, bao gồm tích cực nghiên cứu và bàn bạc về vấn đề hợp tác cùng phát triển. Cùng kiểm soát tốt bất đồng trên biển, thực hiện đầy đủ, có hiệu quả "Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông" (DOC) và sớm đạt được "Bộ quy tắc về ứng xử của các bên trên Biển Đông" (COC) trên cơ sở hiệp thương thống nhất, không có hành động làm phức tạp, mở rộng tranh chấp; xử lý kịp thời, thỏa đáng vấn đề nảy sinh, duy trì đại cục quan hệ Việt-Trung và hòa bình, ổn định ở Biển Đông. Hai bên nhấn mạnh xây dựng COC là một phần quan trọng để giải quyết vấn đề trên biển. Trung Quốc đang cùng ASEAN bàn bạc nhiều lần để xây dựng COC.

Hai bên nhất trí thúc đẩy hoạt động của Nhóm bàn bạc về hợp tác cùng phát triển trên biển, tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực ít nhạy cảm, vững bước thúc đẩy đàm phán phân định khu vực ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ, tích cực thúc đẩy hợp tác cùng phát triển tại vùng biển này, sớm khởi động khảo sát chung tại vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ trong năm 2015.”

Những chuyện này không có gì mới mà chỉ lập lại những điều hai bên Việt-Trung đã viết trong các văn bản họp giữa hai Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng và Lý Khắc Cường của Trung Quốc tại cuộc họp tại Milan, Italy ngày 16/10/2014, bên lề Hội nghị cấp cao ASEM-10 (The Asia–Europe Meeting, ASEM).

Và tại các cuộc họp giữa Ủy viên Quốc vụ viện Trung Quốc Dương Khiết Trì với Tổng Bí thư đảng Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh tại Hà Nội tháng 10/2014.

Cũng như trong chuyến đi làm việc hai ngày tại Trung Cộng từ 26 đến 27/08 (2014) của đặc phái viên Lê Hồng Anh, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư đã không đem chút thắng lợi nào về cho Việt Nam.

Cũng nên biết, chính Trung Quốc là nước đã gây ra cuộc khủng hoảng hiện nay ở Biển Đông khi họ tự vi phạm "Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông" (DOC) ký tại Nam Vang (Kampuchia) ngày 04 tháng 11 năm 2002 giữa Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) và Trung Hoa.

Và cũng chính Trung Quốc đã tìm mọi cách trì hoãn thương thuyết "Bộ quy tắc về ứng xử của các bên trên Biển Đông" (COC), trong đó có lý do chính là chỉ đồng ý đối thoại trực tiếp với các nước có tranh chấp biển đảo với Bắc Kinh, thay vì Quốc tế hóa hay nói chuyện Biển Đông với ASEAN như một khối.

Do đó, việc lập lại những chuyện “ai cũng biết rồi khổ lắm nói mãi” về hứa hẹn của Bắc Kinh đối với DOC và COC trong cuộc họp Nguyễn Phú Trọng-Tập Cận Bình chiều ngày 7/4/2015 chẳng qua chỉ nhằm kéo dài sự từ chối nói chuyện nghiêm chỉnh để giải quyết tranh chấp ở Biển Đông của phía Trung Hoa mà thôi.

Cam kết của ông Nguyễn Phú Trọng với ông Tập Cận Bình đồng ý “thúc đẩy đàm phán phân định khu vực ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ, tích cực thúc đẩy hợp tác cùng phát triển tại vùng biển này, sớm khởi động khảo sát chung tại vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ trong năm 2015” cũng toàn là chuyện hai nước đã thảo luận nhưng chưa dứt điểm trong suốt 2 năm qua.

Lý do vì Trung Quốc luôn luôn muốn phần hơn về mình và ép Việt Nam phải “vì đại cuộc quan hệ vừa là đồng chí vừa là anh em” và vì “phương châm 16 chữ vàng, tinh thần 4 tốt” (“láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai”“láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt" mà chấp nhận yêu cầu “gác tranh chấp để cùng khai thác” của Trung Quốc.

Lập trường “gác tranh chấp cùng khai thác”, đúng ra, theo lời của Lãnh tụ Đặng Tiểu Bình đưa ra năm 1979 là “biển của ta, hãy gác tranh chấp để cùng khai thác”.

Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Hoa, Chủ tịch nhà nước Tập Cận Bình cũng đã lập lại chủ trương này tại phiên họp ngày 30/11/2013 với Bộ Chính trị.


Ông ta nói: “Trung Quốc phải kiên trì phương châm "chủ quyền thuộc Trung Quốc, gác lại tranh chấp, cùng nhau khai thác" để thúc đẩy các hoạt động hợp tác hữu nghị cùng có lợi.” ( Báo Giáo dục Việt Nam, 01/08/2013)

Họ Tập đưa ra lập trường này sau khi ông và Thủ tướng Lý Khắc Cường (Li Keqiang) hoàn tất chuyến công du ngoại giao cổ võ thân thiện với một số nước quan trọng trong Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) gồm Nam Dương, Mã Lai Á, Miến Điện, Thái Lan và Việt Nam.

Chủ trương “hợp tác cùng phát triển” giữa Trung Cộng và Việt Nam trên các lĩnh vực kinh tế biên giới; giao thông đường bộ giữa hai nước; các dự án kinh tế có lợi cho Trung Cộng trong nội địa hai miền Nam và Bắc Việt Nam và hợp tác trên biển đã được hoàn tất trong chuyến thăm “vắn tắt” Việt Nam 2 ngày từ 13 đến 15/10/2013 của Thủ tướng Trung Cộng Lý Khắc Cường (Li Keqiang).

Ở giữa hay ra bên ngoài?

Như vậy, những gì được lập lại giữa ông Trọng và Tập Cận Bình về việc khai thác chung ở “vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ” là ở đâu nếu không phải là ở Biển Đông?

Vậy có gì khác với thỏa hiệp ký kết giữa Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Chủ tịch Nhà nước Trung Quốc Tập Cận Bình ngày 20/06/2013 tại Bắc Kinh?

Hồi đó một “thỏa hiệp mới được phía Việt Nam gọi là “gia hạn” và “sửa đổi” lần thứ 4 hợp tác giữa Tập đoàn Dầu khí Việt Nam và Tổng Công ty dầu khí ngoài khơi quốc gia Trung Quốc (China National Offshore Oil Corporation, CNOOC), thì diện tích tìm kiếm chung sẽ mở rộng từ 1541 cây số vuông lên thành 4076 cây số vuông. Và hiệu lực của Thỏa thuận Thăm dò Chung có hiệu lực đến hết năm 2016.”

Khi đó ông Đỗ Văn Hậu- Tổng Giám đốc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN) đã giải thích về nguồn gốc của thỏa thuận giữa hai nước như thế này: “Theo Quy định tại Điều 7 của Hiệp định Việt Nam- Trung Quốc về Phân định Lãnh hải, Vùng Đặc quyền Kinh tế và Thềm lục địa trong Vịnh Bắc Bộ (ký ngày 25/12/2000 và có hiệu lực từ ngày 20/6/2004), nếu có các mỏ dầu khí vắt ngang qua Đường Phân định, hai nước sẽ cùng nhau hợp tác khai thác chung.

Từ năm 2005, Tổng Công ty Dầu khí Quốc gia Việt Nam, nay là Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) và Tổng Công ty Dầu khí Ngoài khơi Quốc gia Trung Quốc (CNOOC) đã ký kết và thực hiện Thỏa thuận Khung về hợp tác dầu khí trong Khu vực Thỏa thuận Ngoài khơi trong Vịnh Bắc Bộ. Trên cơ sở kết quả thực hiện Thỏa thuận Khung, Thỏa thuận Thăm dò chung Việt Nam- Trung Quốc trong Khu vực xác định Ngoài khơi trong Vịnh Bắc Bộ được ký kết giữa Petrovietnam và CNOOC ngày 6/11/2006 và có hiệu lực từ ngày 2/1/2007, sau khi được Chính phủ hai nước phê chuẩn.”

Khi nói về “hợp tác cùng phát triển” ở vịnh Bắc Bộ dựa theo Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ hai nước ký ngày 25/11/2000 thì cũng có sự “khác biệt rất quan trọng” giữa Tuyên bố chung Hà Nội ngày 15/10/2013 và lời tuyên bố sau đó của Thủ tướng Trung Cộng Lý Khắc Cường.

Tuyên bố chung viết: “Hai bên nhất trí tăng cường chỉ đạo đối với các cơ chế đàm phán và tham vấn hiện có, gia tăng cường độ làm việc của Nhóm công tác vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ và Nhóm công tác cấp chuyên viên về hợp tác trong các lĩnh vực ít nhạy cảm trên biển. Trên nguyên tắc dễ trước khó sau, tuần tự tiệm tiến, vững bước thúc đẩy đàm phán phân định vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ, đồng thời tích cực thúc đẩy hợp tác cùng phát triển tại vùng biển này và trong năm nay khởi động khảo sát chung ở khu vực ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ để thực hiện nhiệm vụ đàm phán của Nhóm công tác về vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ. Nhanh chóng thực hiện các Dự án hợp tác trong các lĩnh vực ít nhạy cảm trên biển như Hợp tác nghiên cứu quản lý môi trường biển và hải đảo vùng Vịnh Bắc Bộ…”

Tuy nhiên sau đó ông Lý Khắc Cường được Tân Hoa Xã (Xinhua News Agency) của Bắc Kinh tường thuật trong bản tin tiếng Anh ngày 16/10/2013 viết rằng: “The cooperation of maritime exploration will be primarily focused on the Beibu Gulf, and later extended to further areas, Li said, adding that the bilateral drive is to tell the region and the world that the South China Sea has to be a peaceful and tranquil area.

Both China and Vietnam have the wisdom to properly handle their differences and prevent the South China Sea issue from disrupting the overall cooperation, Li said.”

(Tạm dịch: “Hợp tác trên biển sẽ tiên khởi tập trung vào khu vịnh Bắc Bộ, và SAU ĐÓ MỞ RỘNG QUA CÁC KHU VỰC KHÁC, theo lời ông Lý thì sự hợp tác song phương này nhằm chứng minh với các nước trong khu vực và thế giới thấy rằng vùng biển Nam Trung Quốc sẽ là khu vực hòa bình và an toàn. Trung Quốc và Việt Nam cùng có thiện chí giải quyết những khác biệt và ngăn chặn vấn đề biển Nam Trung Quốc làm phương hại đến sự hợp tác toàn diện của hai nước.”).

“Khu vực khác” mà Trung Cộng nhắm tới không phải là vùng biển Trường Sa của Việt Nam thì ở đâu?


Phải chăng đó là lý do các bản tin của báo chí Việt Nam đã xác nhận vấn đề Biển Đông vẫn còn gai góc cho cả hai nước Việt-Trung trong cuộc họp Nguyễn Phú Trọng-Tập Cận Bình?

TTXVN tường thuật từ Bắc Kinh chiếu 7/4 (2015): “Bên cạnh đó, hai Tổng Bí thư cũng cho rằng quan hệ hai nước cũng có giai đoạn khó khăn, hiện nay một số lĩnh vực hợp tác giữa hai nước chưa đi vào thực chất, hiệu quả chưa cao; trở ngại lớn nhất chính là sự tin cậy chính trị chưa cao, chủ yếu là do bất đồng trong cách ứng xử, giải quyết vấn đề trên Biển Đông, tác động tiêu cực đến tâm tư, tình cảm của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân.

Trong bối cảnh tình hình quốc tế, khu vực diễn biến phức tạp, cả hai nước đều đang đứng trước nhiều cơ hội to lớn nhưng thách thức cũng không nhỏ. Để tranh thủ được thời cơ, đối phó hiệu quả với thách thức, hơn bao giờ hết hai Đảng, hai nước cần tăng cường hợp tác hữu nghị, xử lý thỏa đáng bất đồng, cùng tạo dựng môi trường hòa bình, ổn định để tập trung hợp tác, phát triển đất nước vì lợi ích của nhân dân hai nước, của cộng đồng khu vực và quốc tế.”

Nhưng “tin cậy chính trị chưa cao” "bất đồng trong cách ứng xử, giải quyết vấn đề trên Biển Đông" giữa hai nước Việt-Trung là ở chỗ nào mà hai ông Trọng và Tập Cận Bình không muốn cho dân hai nước biết, hay đó là cách nói có ngụ ý trách móc, đỗ lỗi thất bại cho Việt Nam của riêng Tập Cận Bình?

Vì vậy mà bài viết tiếng Anh của Tân Hoa Xã (Xinhua) từ Bắc Kinh ngày 7/4 (2015) đã trích lời họ Tập nói rằng: “Xi said China and Vietnam are facing both new opportunities and challenges as the international situation is undergoing complex and profound changes He suggested the two parties, as well as the two countries, boost high-level interactions to find out new solutions to their problems and new ideas to advance the bilateral relationship in a sustained way.”

(Tạm dịch: "Chủ tịch Tập nói Trung Quốc và Việt Nam đang phải đồi phó với cơ hội cũng như thử thách trong khi tình hình quốc tế càng ngày càng phức tạp và thay đổi không ngừng. Do đó, ông đề nghị hai đảng cũng như hai nước phải tăng cường hợp tác để tìm ra giải pháp mới cho những vấn đề quan hệ hai nước, cũng như những sáng kiến mới để phát triển quan hệ song phương bền vững.”)

Nhưng đằng sau lời lẽ ngoại giao mềm mỏng này của họ Tập đã khiến ông Trọng có phản ứng ra sao?

TTXVN viết: “Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định phát triển ổn định, bền vững quan hệ hợp tác hữu nghị với Trung Quốc là chủ trương nhất quán, lâu dài và là ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam.”

Nhưng làm sao mà nhân dân Việt Nam có thể “phát triển ổn định, bền vững quan hệ hợp tác hữu nghị với Trung Quốc” khi Bắc Kinh không ngừng lấn chiếm biển đảo của Việt Nam ở Biển Đông và khống chế Việt Nam về mặt kinh tế, chính trị và ngoại giao?

Ấy thế mà ông Trọng vẫn có thể hồ hởi hợp ca với Tập Cận Bình: “Mối quan hệ láng giềng hữu nghị “vừa là đồng chí, vừa là anh em” do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Mao Trạch Đông cùng nhiều thế hệ lãnh đạo tiền bối hai nước dày công vun đắp là nhân tố quan trọng góp phần vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng của mỗi nước; là tài sản chung quý báu của hai Đảng và nhân dân hai nước, cần luôn được trân trọng, giữ gìn và không ngừng kế thừa, phát huy.”

Nếu là đồng chí, là anh em thì tại sao Bộ trưởng Ngoại giao Vương Nghị của Trung Quốc đã ngang ngược tuyên bố ngày 8/3 rằng: “Trung Quốc đang tiến hành xây dựng đảo nhân tạo cần thiết trong khu vực chủ quyền và điều này không gây ảnh hưởng đến ai. Chúng tôi không giống như một số quốc gia khác tiến hành xây dựng trái phép trong khu vực của người khác. Chúng tôi chỉ xây dựng đảo ngay trên sân nhà của chúng tôi”.

Vương Nghị đã nói như thế bên lề kỳ họp thường niên của Quốc hội ở Bắc Kinh để trả lời câu hỏi về việc Trung Hoa đang tái tạo 6 đá ngầm chiếm được của Việt Nam ở Trường Sa thành các đảo.

Thông cáo chung nói gì?

Lập luận nhuộm máu thực dân và bá quyền của Vương Nghị có khác với những lời nói mềm mỏng nhưng đầy ẩn ý của Tập Cận Bình với ông Nguyễn Phú Trọng không, hay phía Việt Nam, nạn nhân của người phương Bắc hàng nghìn năm, vẫn còn mơ hồ như đã viết trong Thông cáo chung Việt Nam-Trung Quốc, phổ biến ngày 8/4/2015, 2 ngày trước khi ông Nguyễn Phú Trọng kết thúc chuyến thăm?

Trong số 9 điểm có nội dung phấn khởi và tin tưởng như hai nước chưa hề có chuyện gì xẩy ra, những điểm sau đây đáng chú ý:

“Hai bên nhất trí cho rằng chuyến thăm đã thành công tốt đẹp, góp phần quan trọng thúc đẩy quan hệ Việt - Trung phát triển ổn định, lành mạnh vì lợi ích căn bản của nhân dân hai nước, đồng thời góp phần thúc đẩy hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển của khu vực và thế giới."

Có thành công “tốt đẹp” không khi mà ông Trọng phải đồng ý với những đỏi hỏi của Tập Cận Bình, bằng chứng như:

“Hai bên bày tỏ vui mừng trước những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của mỗi nước trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhấn mạnh kiên trì sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và con đường phát triển xã hội chủ nghĩa đặc trưng của mỗi nước là sự lựa chọn đúng đắn, phù hợp với lợi ích căn bản của nhân dân hai nước. Hai bên sẽ tiếp tục nỗ lực, học hỏi lẫn nhau, thúc đẩy sự nghiệp đổi mới của Việt Nam và sự nghiệp cải cách, mở cửa của Trung Quốc phát triển về phía trước, không ngừng tạo sức sống mới cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.”

Đây là một kết luận sai lầm và nguy hiểm cho quyền làm chủ đất nước của người dân Việt Nam, bởi vì lợi ích của Trung Hoa chưa hẳn sẽ đem lại phúc lợi cho nhân dân Việt Nam. Và khi đảng CSVN không dám để cho dân tự quyết về tương lai chính trị của mình vì ngày nào Trung Quốc còn duy trì Chủ nghĩa Xã hội Cộng sản thì Việt Nam vẫn còn phải kiên định với Mác-Lênin thì chậm tiến và tụt hậu sẽ tiếp tục chận đường tiến về phía trước của dân tộc.

Điểm sai lầm khác là khi Thông cáo chung đã đồng hóa quan niệm về láng giềng khi viết rằng: “Việt Nam và Trung Quốc là láng giềng quan trọng của nhau, nhất trí cho rằng hai nước có chế độ chính trị tương đồng, có con đường phát triển gần gũi, có tiền đồ vận mệnh tương quan, sự phát triển của nước này là cơ hội quan trọng cho nước kia… Hai bên nhấn mạnh, Việt Nam và Trung Quốc sẽ tiếp tục kiên trì nỗ lực thực hiện tốt phương châm “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và tinh thần “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”, luôn nắm vững phương hướng phát triển của quan hệ Việt - Trung, thúc đẩy quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt - Trung không ngừng phát triển lên phía trước…”

Để rồi ông Nguyễn Phú Trọng phải hứa: “Sớm ký "Hiệp định hợp tác bảo vệ và khai thác nguồn tài nguyên du lịch khu vực Thác Bản Giốc" và "Hiệp định về quy chế tàu thuyền tự do đi lại tại khu vực cửa sông Bắc Luân"; cùng duy trì bảo vệ sự ổn định và phát triển của khu vực biên giới. Phát huy tốt vai trò của Ủy ban hợp tác quản lý cửa khẩu biên giới đất liền Việt - Trung; tăng cường xây dựng và quản lý cơ sở hạ tầng cửa khẩu biên giới hai bên, nâng cao mức độ mở cửa hợp tác của các cửa khẩu biên giới hai nước. Tăng cường hợp tác giữa các tỉnh/khu biên giới hai bên, thúc đẩy cùng phát triển khu vực biên giới hai nước."

Những thỏa hiệp này được khai thác từ Hiệp ước về biên giới trên đất liền Việt - Trung ngày 30 tháng 12 năm 1999, cơ bản đã gây bất lợi mất đất, mất 2/3 thác Bản Giốc và Mục Nam Quan đã có trong sách sử Việt Nam hàng ngàn năm.

Những cam kết của ông Trọng chỉ xác nhận một lần nữa sự nhượng bộ không cưỡng lại được của Việt Nam Cộng sản trước áp lực của Tập Cận Bình.

Sau cùng nhưng quan trọng là vấn đề tranh chấp ở Biển Đông. Bản Thông cáo chung không nói lên được điều gì để ông Nguyễn Phú Trọng có thể bảo đảm rằng chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam ở Biển Đông đã được vẹn tòan và buộc Trung Quốc phải ngưng ngay việc lấn chiếm ở Trường Sa.

Nội dung phần này không có gì mới hơn những điều Tác giả bài này (Phạm Trần) đã trình bầy ở phần trên, ngoại trừ hai bên tiếp tục lập lại nhất trí làm những việc chỉ có lợi cho Trung Hoa: “Thúc đẩy hoạt động của Nhóm bàn bạc về hợp tác cùng phát triển trên biển, tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực ít nhạy cảm, vững bước thúc đẩy đàm phán phân định khu vực ngoài cửa vịnh Bắc Bộ, tích cực thúc đẩy hợp tác cùng phát triển tại vùng biển này, sớm khởi động khảo sát chung tại vùng biển ngoài cửa vịnh Bắc Bộ trong năm nay.”

Như vậy, nếu bảo chuyến đi Trung Hoa của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã “thành công tốt đẹp, góp phần quan trọng thúc đẩy quan hệ Việt - Trung phát triển ổn định, lành mạnh vì lợi ích căn bản của nhân dân hai nước” là hoàn toàn nói ngoa. -/-
(04/015)

Phạm Trần
danlambaovn.blogspot.com

Friday, April 10, 2015

NATO thử sức mạnh lực lượng phản ứng nhanh
09/04/2015 17:48 GMT+7
TTO - Ngày 9-4, NATO tuyên bố đang thử sức mạnh của lực lượng phản ứng nhanh mới thành lập bằng các cuộc tập trận tại CH Czech và Hà Lan.

Binh sĩ NATO tập trận ở Đông Âu - Ảnh: Reuters Theo AFP, đại úy Marek Marszalek thuộc Bộ chỉ huy chung của NATO ở Naples (Ý) cho biết 900 binh sĩ Đức và 200 binh sĩ Hà Lan đã được triển khai trong các cuộc tập trận tại Hà Lan. Khoảng 150 binh sĩ khác đang tập trận tại CH Czech.
Các cuộc tập trận được thực hiện để thử nghiệm sức mạnh của Lực lượng chung phản ứng nhanh (VJTF) do NATO thành lập hồi tháng 9-2014, với mục tiêu bảo vệ an toàn vành đai phía đông của NATO trước nguy cơ xung đột với Nga.
“Nhiệm vụ chính là kiểm tra tốc độ triển khai quân trong vòng vài chục giờ, thay vì vài chục ngày như trước đây - tướng Jiri Baloun thuộc quân đội CH Czech tuyên bố - Kịch bản xung đột được đặt ở vùng Baltic”.
Sau khi Nga sáp nhập bán đảo Crimea và xung đột bùng lên ở miền đông Ukraine, các nước Baltic và Đông Âu bày tỏ lo ngại nguy cơ an ninh. Căng thẳng đặc biệt leo thang tại vùng Baltic.
NATO sẽ tổ chức một cuộc tập trận tương tự ở Ba Lan vào tháng 6. Tổ chức này sẽ triển khai 25.000 binh sĩ tới Ý, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha để thực hiện thêm một cuộc thử nghiệm VJTF vào tháng 10 và 11.
NGUYỆT PHƯƠNG
http://www.thegioinguoiviet.net/showthread.php?t=33499 
Mỹ, các nước Baltic chuẩn bị quân lực đối phó Nga
Đăng Bởi Một Thế Giới - 13:58 09-04-2015
 Tên lửa hạt nhân Topol-12M của Nga đã được chuyển đến biên giới, sẵn sàng kích hoạt
Mỹ, các nước Baltic chuẩn bị quân lực đối phó Nga. Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ về kiểm soát vũ khí và an ninh quốc tế, bà Rose Gottemoeller, sẽ có chuyến thăm Ba Lan, Latvia, Litva và Estonia vào tuần tới, đây được xem là một phần trong chuyến công du châu Âu của bà.

Theo lịch trình, ngày 13.4, bà Gottemoeller sẽ đưa phái đoàn Mỹ đến hội đàm với Nhóm tư vấn hợp tác chiến lược Mỹ - Ba Lan ở Warsaw, đồng thời gặp gỡ người đồng cấp và các quan chức khác của Ba Lan.
Từ ngày 14-17.4, bà Gottemoeller sẽ đến Riga, Vilnius và Tallinn nhằm thảo luận với các quan chức Baltic về vấn đề an ninh khu vực và quốc tế, kiểm soát vũ khí và NATO. Ngày 17.4, bà sẽ đến căn cứ không quân Amari để thăm nhóm đặc nhiệm phòng không Baltic và gặp gỡ các quân nhân Mỹ.

Các nước Baltic ráo riết tăng cường phòng thủ
Trong khi Nga đe dọa dùng vũ khí hạt nhân chống lại Mỹ và các đồng minh nếu NATO đưa thêm quân vào khu vực Baltic, hoặc tìm cách đưa Crimea về với Ukraine, thì các nước Đông Âu thân phương tây đang ráo riết chuẩn bị phản ứng với các động thái của Nga.

Ba Lan đang đào tạo bác sĩ, luật gia, thợ mộc, kỹ sư và nhân lực thuộc nhiều ngành nghề khác đề phòng trường hợp Nga có động thái gây hấn. Ba Lan cho biết cuộc huấn luyện quân sự này là để tăng cường lòng yêu nước và tình đoàn kết của nhân dân.

Bộ trưởng Quốc phòng Ba Lan Tomasz Siemoniak gần đây đã kêu gọi nam nữ tuổi từ 18-50 chưa qua huấn luyện quân sự đăng ký tham dự khóa đào tạo. Tính đến nay đã có hơn 2.000 người đăng ký. Ba Lan có khoảng 38 triệu dân, với 100.000 lính chuyên nghiệp và 20.000 lính dự bị.

Hiện Lực lượng biên phòng Ba Lan đang lên kế hoạch xây dựng 6 tháp canh cao 50m vào tháng 6 để quan sát đường biên giới kéo dài 200km giáp Kaliningrad của Nga. Kaliningrad nằm gần biển Baltic, giữa Ba Lan và Litva. Tổng chi phí xây dựng 6 tháp canh này lên đến hơn 3,7 triệu euro và 75% con số này do EU tài trợ.

Litva cũng đang khôi phục lại huấn luyện nghĩa vụ quân sự, dạy cho công dân cách bảo vệ lãnh thổ trong trường hợp Nga có ý định tiến xa hơn vào châu Âu.

Chi tiêu quân sự của Litva cũng sẽ tăng từ 0,89% GDP năm 2014 lên 1,11%, tương đương 425 triệu euro năm 2015.

Trong khi đó, Latvia đang lên kế hoạch thuê hơn 250 lính biên phòng trong giai đoạn 5 năm, tiêu tốn khoảng 12 triệu euro. Hiện tại, Latvia đã có tổng cộng 2.400 lính biên phòng. Ngoài ra, chính phủ nước này cũng sẽ tổ chức đào tạo quân sự cho sinh viên các trường đại học trong năm tới.
Theo các quan chức Latvia, chính phủ dự định cải thiện công nghệ sinh trắc hộ chiếu, nâng cấp công nghệ thông tin cũng như tăng cường các hoạt động giám sát. Một trong những động thái tăng cường an ninh dễ thấy nhất của Latvia là tháng 10.2014, nước này đã mua xe tải nặng, xe địa hình bọc thép, thiết bị chống xe tăng từ Na Uy.

Về khoản chi tiêu quân sự, đất nước 2 triệu dân này dự định nghe theo đề xuất của NATO, tăng ngân sách quốc phòng từ 1% GDP năm 2015 lên 2% năm 2020.

Estonia cũng không khoanh tay đứng nhìn, từ lúc cuộc xung đột Nga- Ukraine nổ ra, Estonia đã bắt đầu tăng cường lực lượng dự bị của mình lên 15.000 người. Đất nước 1,3 triệu dân hiện có 3.000 lính chuyên nghiệp.

Ngày 9.3, Mỹ đã chuyển hơn 120 thiết bị quân sự hạng nặng gồm xe tăng M1A2 Abrams, xe bọc thép M2A3 Bradley, Scout Humvees và các trang thiết bị hỗ trợ đến cảng Riga, thủ đô Latvia nhằm hỗ trợ nước này trước các phản ứng của Nga.

Theo Tổng thư ký NATO, máy bay quân sự của Nga bay gần biên giới các nước khu vực Baltic đã bị chặn hơn 400 lần năm 2014.
Đầu tháng 3, NATO cũng đã thực hiện các cuộc tập trận quân sự ở Latvia bao gồm đào tạo quân lực tại chỗ, hỗ trợ hỏa lực gián tiếp, huấn luyện chiến thuật cho quân đội Latvia.

Hành động của Nga
Một tháng trước, tổng thống Litva Dalia Grybauskait cho biết Nga đã đưa tên lửa hạt nhân Iskander đến Kaliningrad, với tầm bắn đến tận Berlin (Đức).
Từ khi sáp nhập Crimea vào Nga hồi tháng 3.2014, Nga đã tăng cường các cuộc tập trận quân sự dọc biên giới Nga và các nước Baltic.
Tướng Adrian Bradshaw, phó chỉ huy lực lượng NATO ở châu Âu cho rằng những động thái này chứng minh Nga sẵn sàng tràn vào các nước Baltic.
Tháng 5.2014, Moscow cũng đã đình chỉ thỏa thuận 2001 với Vilnius. Thỏa thuận này sẽ cho phép Litva giám sát lực lượng Nga ở Kaliningrad, đổi lại Nga có quyền giám sát các căn cứ quân sự ở quốc gia thuộc khu vực Baltic này.

Khánh Nguyên (theo Sputnik News, Value Walk)

Wednesday, April 8, 2015

Giữ hay bỏ ngày quốc hận 30 tháng tư?

Bằng Phong Đặng Văn Âu (Danlambao) - Một người bạn trẻ hỏi tôi: “Gần bốn mươi năm đã trôi qua, chúng ta nên giữ hay nên bỏ Ngày Quốc Hận 30 Tháng Tư?”. Tôi trả lời lập tức, không một chút do dự: “Phải giữ Ngày Quốc Hận để cứu nước. Phải Hận mới có đấu tranh”. Dưới đây là giải thích của tôi với người bạn trẻ.

Chữ Hận có hai nghĩa: Nghĩa thứ nhất, hận là thù hận, là căm hận, là oán hận; nghĩa thứ hai là ân hận, là hối hận. Trong cả hai nghĩa ấy, chúng ta phải xem Ngày 30 Tháng Tư là Ngày Quốc Hận. Bởi vì ngày ấy là Ngày Đại Tang cho cả dân tộc Việt Nam, dù ở phe thắng hay ở phe bại”.

Cựu Thủ tướng Võ văn Kiệt nói: “Ngày 30 Tháng Tư có một triệu người vui, đồng thời cũng có một triệu người buồn”. Ý ông Kiệt là kẻ thắng trận thì vui, kẻ bại trận thì buồn”.

Tôi nói chính xác hơn: “Ngày 30 Tháng Tư là ngày bọn bán nước, buôn dân thì vui; người yêu nước, thương dân – dù thắng hay thua – đều buồn”.

Sau ngày 30 Tháng Tư, người cộng sản gọi là ngày chiến thắng hay ngày thống nhất Đất Nước. Nhưng ngày đó lại là dịp để một người yêu nước ở phía thắng trận như bà Dương Thu Hương có cơ hội nhìn thấy một chế độ man rợ nhờ xảo quyệt, dối trá, lừa đảo, tàn bạo mà chiến thắng một nền văn minh. Bà Dương Thu Hương đã ngồi xuống vệ đường và ôm mặt khóc. Trong dòng nước mắt ấy chan hòa nỗi oán hận bọn lãnh đạo đánh lừa mình và ân hận vì đã xem đồng bào Miền Nam là ngụy, là kẻ thù cần tiêu diệt. Nếu những tướng lãnh cộng sản trong cuộc xâm lăng Miền Nam có lòng yêu nước, có nhận thức sớm sủa như nhà văn Dương Thu Hương thì đã quay trở lại Miền Bắc để tiêu diệt bọn đầu nậu bán nước buôn dân ở Bắc Bộ Phủ rồi.

Chúng ta đang được đọc những bài viết của những chiến binh cộng sản từ cấp Tướng có lương tri và lòng yêu nước trở xuống, từng hy sinh xương máu để mong Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc, càng ngày càng công khai bày tỏ nỗi oán hận bọn lãnh đạo dùng chiêu bài chống ngoại xâm, nhưng thực chất là dâng hiến Đất Nước cho Trung Cộng. Những bài văn, bài thơ “Tạ Tội với Miền Nam” từ những người trót đi theo con đường cộng sản cũng đủ chứng tỏ họ ân hận. Nhà thơ Bùi Minh Quốc đã dành cả cuộc đời của mình cho “lý tưởng cộng sản”, vượt Trường Sơn để “Chống Mỹ Cứu Nước”, rồi cuối cùng uất hận than: “Quay mặt vào đâu cũng phải ghìm cơn mửa/ Cả một thời đểu cáng đã lên ngôi”. Ông Bùi Minh Quốc không còn ôm niềm hãnh diện xưa khi nói đến hai chữ “Đảng Ta”, nên bây giờ ông gọi là “Đảng Nó”. Nếu tất cả những ai đã rủi chiến đấu dưới lá cờ cộng sản mà biết ăn năn, hối hận, oán hờn như ông Bùi Minh Quốc thì chắc chắn cái đảng cộng sản phải tiêu vong.

Còn người ở phía thua trận mà có lương tri và có tinh thần trách nhiệm đối với nước (nước Việt Nam Cộng Hòa) thì phải ân hận, sám hối. Dù ở địa vị lớn hay bé, dù nhiều dù ít, chính mình đã không hết lòng hết sức chống lại cái chủ nghĩa man rợ để nước bị rơi vào tay bọn vô đạo. Nếu là người lãnh đạo chính trị thì phải hối hận vì đã không đoàn kết với nhau để chiến thắng quân xâm lược. Nếu là người lãnh đạo tôn giáo từng đấu tranh (!) để gây nên bất ổn ở hậu phương nhằm lật đổ nền Cộng Hòa ở Miền Nam càng phải ân hận hơn ai hết. Ân hận để sám hối, để chấm dứt trò buôn thần bán thánh làm nhơ nhớp tôn giáo. Nếu là người trí thức mơ hồ về chủ nghĩa cộng sản bất nhân thì phải hối hận về sự ngu dốt của mình đã một thời nằm vùng tiếp tay cho cộng sản. Sau Tháng Tư năm 1975, nếu kẻ nào đã trót dùng danh nghĩa kháng chiến phục quốc mà “treo đầu heo, bán thịt chó” (chữ của nhà văn Dương Thu Hương) làm ô danh chính nghĩa chống Cộng thì cũng nên biết ân hận để công khai thú tội trước đồng bào. Chỉ có ân hận, sám hối mới mong xóa được tội lỗi.

Hồ Chí Minh lưu manh, dùng chiêu bài “Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc” để đánh lừa người yêu nước. Khi tất cả vào tròng rồi, hắn đã dựng lên bộ máy cai trị “chuyên chính vô sản” để đưa bọn vô học lên ngôi. Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện cả một đời phục vụ cộng sản, cuối cùng đã than: “Vô sản không đáng sợ bằng vô học”. Đúng thế! Bọn vô học chắc chắn không có tầm nhìn xa, lại tự hào được ngồi trên đầu thiên hạ, nên coi dân như thú vật: “Cho nói mới được nói; cho ăn mới được ăn; cho sống mới được sống; bắt chết thì phải chết”. Hậu quả: Hèn với giặc, ác với dân. Đất Nước tiêu vong!

Đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN) không phải là đảng chính trị dùng sự độc tài như Lý Quang Diệu ở Tân Gia Ba, như Tưởng Giới Thạch ở Đài Loan, như Phác Chính Hy ở Nam Hàn, để dần dần đưa đất nước đến dân chủ. Đảng CSVN là một đảng cướp tệ hại hơn cả Thực dân ở bất cứ thời đại nào. Không những chúng ngang nhiên cướp công lao giành độc lập của toàn dân, cướp tài sản của đồng bào, bóc lột công nông tận xương tủy, dâng đất đai của tổ tiên cho kẻ thù truyền khiếp, chúng còn biến nền đạo đức truyền thống của dân tộc trở nên suy đồi trong chủ trương con đấu tố cha, vợ đấu tố chồng, anh chị em đấu tố lẫn nhau. Tất cả những góp ý, kiến nghị với lời lẽ chân tình, tha thiết của tầng lớp trí thức, của lão thành cách mạng “dâng lên” Đảng, bị chúng xem như giấy lộn, đều bí ném vào sọt rác.

Một bọn cầm quyền cương quyết nhắm mắt nhắm mũi đưa đất nước tiến lên “Xã hội chủ nghĩa”, mặc dù nhân loại đã đào thải, mặc dù chúng chẳng biết hình thù “Xã hội chủ nghĩa” là cái quái gì. Chúng trắng trợn làm tay sai cho bọn bành trướng phương Bắc để giữ địa vị độc tôn. Hễ ai đòi độc lập, đòi tự do là chúng ra lệnh côn đồ đánh đập, bỏ tù. Nòi giống Việt đang bị “Hán hóa” là điều quá rõ ràng.

Câu hỏi đặt ra cho chúng ta là: “Liệu người Việt Nam có chấp nhận nòi giống mình bị tận diệt hay quyết tâm bảo tồn nòi giống?”.

Nếu ai chấp nhận nòi giống mình bị tận diệt thì cứ việc “chăn gối” với bọn cầm quyền cộng sản.

Nếu ai muốn bảo tồn nòi giống thì hãy xem bọn cầm quyền cộng sản hiện nay là kẻ thù số một. Cuộc đấu tranh này là cuộc đấu tranh triệt để, quyết liệt một mất một còn; chứ không thể tương nhượng. Bởi vì bọn cầm quyền này không phải là người Việt Nam. Bọn cầm quyền này còn độc ác, tàn bạo, dã man hơn cả bọn “Hồi Giáo quá khích IS”. Cuộc chiến đấu chống lại bọn “Quỷ Đỏ Vô Thần Cộng Sản” là cuộc chiến đấu thần thánh. Cho nên trước đây tôi đã kêu gọi Thánh Chiến mà nhà báo Bùi Tín cáo buộc tôi mắc bệnh tâm thần, là một thằng điên.

Bạn hỏi tôi rằng nhân dân ta đã bị cộng sản tước hết khí giới thì ấy gì để đấu tranh bạo lực một mất một còn ư? Xin thưa: Hãy lấy nhục thân để làm vũ khí.

Người có tín ngưỡng mãnh liệt vào tôn giáo của mình thì đâu còn tiếc tấm thân? Người Phật tử nếu chết thì được về cõi trung ấm, về Niết bàn. Con Chiên Thiên Chúa nếu chết thì được về Thiên đàng để hưởng nhan Đức Chúa Trời. Ngay cả người thờ Đạo Ông Bà nếu chết thì được về với Tổ Tiên còn hơn sống lây lất với Quỷ? Đó là cái chết vinh hơn sống nhục! Hãy tùy tâm mà chọn lựa!

Không lẽ 87 triệu con người cam chịu để cho 3 triệu con quỷ biến mình thành thú vật? Hiện đang có 90 ngàn công nhân xuống đường rồi đó. Tất cả các trang mạng, những đài phát thanh dân chủ còn chờ gì nữa mà không thổi bùng ngọn lửa căm hờn “Tự Do Hay là chết” để thúc đẩy toàn dân đứng lên?

Hỡi những nhà trí thức! Hỡi những “cách mạng lão thành”! Hỡi những Chiến sĩ anh hùng!

Chỉ có bọn thương nữ mới “bất tri vong quốc hận” mà cứ mải mê với khúc “Hậu Đình Hoa”. Còn nòi giống Lạc Hồng của Bách Việt đang dần dần bị xóa sổ (tệ hơn cả mất nước), quý vị có biết hay chăng? Xin hãy biến nỗi Thù Hận này thành hành động để tiêu diệt loài Quỷ Đỏ trước khi quá muộn! Xin quý vị hãy cùng nhau viết ra lời hiệu triệu quốc dân phải liều mình bước vào Cửa Tử để Sinh Tồn.

Ngày Ba Mươi Tháng Tư là Ngày Rửa Hận để xóa sổ chế độ bạo tàn.

Đó là nghĩa vụ thiêng liêng của người yêu Dân Tộc!

Đó là nghĩa vụ thiêng liêng của người yêu Tổ Quốc!

Ngày 5 Tháng Tư, năm 2015.

Bằng Phong Đặng Văn Âu
danlambaovn.blogspot.com

 
 

Tuesday, April 7, 2015

Nga lên kế hoạch chống “đòn tấn công nhanh toàn cầu” của Mỹ

Đăng Bởi Một Thế Giới - 19:05 06-04-2015

Một hệ thống phòng thủ tên lửa của Nga.

Bước đi chủ động của Nga trong việc thúc đẩy khả năng phòng không và phát triển các tên lửa, nhằm mục đích chống lại mối đe dọa tiềm ẩn từ “đòn tấn công nhanh toàn cầu” (Prompt Global Strike) của Mỹ trong điều kiện nhất định là có thể thực hiện, Phó chỉ huy lực lượng Phòng vệ không gian Nga cho biết.




Các mối đe dọa tiềm ẩn từ “đòn tấn công nhanh toàn cầu” của Mỹ là một trong những thách thức hàng đầu đối với Lực lượng Phòng vệ không gian Nga, Thiếu tướng Kirill Makarov nói với một đài phát thanh nước này.
Để chống lại mối đe dọa, một hệ thống phòng không với các tên lửa hiệu quả là một trong những ưu tiên hàng đầu của Nga, kể từ khi PGS được Mỹ phát triển với mục đích tấn công các mục tiêu trên thế giới bằng vũ khí thông thường nhưng đạt độ chính xác cao trong khoảng thời gian chưa đến 1 giờ, ông Makarov cho biết.
“Điều đó chính xác là nhằm chống lại kế hoạch của Mỹ bằng cách xây dựng hệ thống phòng không mạnh mẽ và phát triển các loại tên lửa hiệu quả,” ông Makarov nói, và nhấn mạnh các nhà lãnh đạo quân sự và chính trị tại Moscow cho rằng việc này là đặc biệt quan trọng.
PGS của Washington có cấu trúc chung tương tự với một “bộ 3 hạt nhân”, bao gồm khả năng tấn công bằng vũ khí thông thường từ đất liền hoặc biển sử dụng tên lửa đạn đạo liên lục địa hay tên lửa hành trình. Đặc biệt là khả năng tiêu diệt các mục tiêu từ trên không bằng tên lửa siêu thanh hay vô hiệu hóa các căn cứ ngoài ngoài không gian.
Bộ Quốc phòng Nga ước lượng đến năm 2020, Mỹ sẽ có hơn 8.000 tên lửa hành trình và khoảng 6.000 trong số đó được trang bị đầu đạn hạt nhân. Ông Makarov nói rằng, với tốc độ phát triển như hiện tại chắc chắn các tên lửa của Mỹ có thể tấn công vươn tới nhiều mục tiêu trên lãnh thổ của Liên bang Nga.
Học thuyết quân sự của Nga được thông qua vào năm ngoái, nhấn mạnh quân đội nước này chỉ được sử dụng như một biện pháp phòng thủ. Tuy nhiên, Moscow coi PGS và hoạt động tăng cường sự hiện diện của quân đội NATO ngay sát biên giới là một mối đe dọa an ninh chính. Do đó, Nga nhiều khả năng sẽ điều chỉnh chính sách phát triển của quân đội cho phù hợp với tình hình, đặc biệt là tạo ra đối trọng với PGS.
Hiện tại, Nga đang phát triển một hệ thống phòng thủ tên lửa đất đối không lưu động S-500, có khả năng đánh chặn các mục tiêu siêu âm. Hệ thống này vẫn đang trong giai đoạn phát triển, nhưng sau khi hoàn thành nó sẽ trở thành “sát nhân” đối với tên lửa đạn đạo có khả năng đổi hướng linh hoạt, Thiếu tướng Makarov cung cấp.
Ngoài ra, Nga cũng đã tiến hành thử nghiệm thành công các tên lửa dẫn đường tầm xa thế hệ mới cho hệ thống phòng không S-400.
Hàn Giang ( theo RT )
Nga tố Mỹ âm mưu gây bạo loạn tại Crimea

Đăng Bởi Một Thế Giới - 05:11 07-04-2015

Người Tatar từng ra mặt chống đối Nga.

Moscow đã lên tiếng tố cáo Mỹ “mượn tay” người Tatar để chống lại dân tộc Nga trên bán đảo Crimea. Chính phủ Washington đang thực hiện các kế hoạch nhằm kích động người Tatar nổi dậy và chống lại chính quyền khu vực, một quan chức Nga cho biết.


Mỹ sử dụng việc đóng cửa tạm thời kênh truyền hình của người Tatar tại Crimea-ATR như một cái cớ để kích động người Tatar nổi dậy chống lại dân tộc Nga trên bán đảo. Chính phủ Washington muốn các dân tộc khác hiểu lầm về cách quản lý của Nga và cho rằng Moscow đã cấm kênh truyền hình ATR tiếp tục hoạt động.
Konstantin Kosachev, Người đứng đầu Hội đồng Liên bang Nga chuyên phụ trách các vấn để quốc tế cho biết, khó khăn trong quá trình cấp giấy phép hoạt động mới cho kênh truyền hình ATR không phải là mối quan tâm của Washington.
“Lý do thực sự đằng sau chính là việc Mỹ cố gắng gây phẫn nộ trong cộng đồng người Tatar. Và thuyết phục cả thế giới tin rằng mọi thứ đang diễn ra tại Crimea dưới sự quản lý của Nga đều tồi tệ hơn so với trước đây,” ông Kosachev nói.
Ông còn khẳng định rằng Bộ Ngoại giao Nga cũng nhận thấy, Mỹ đã đóng cửa và cấm một loạt các phương tiện truyền thông nói tiếng Nga chịu ảnh hưởng của Washington, bao gồm các đài phát thanh hay truyền hình của chính phủ Kiev và các nước vùng Baltic. Từ đó cáo buộc Moscow vi phạm nguyên tắc tự do tại các khu vực vừa sáp nhập vào lãnh thổ.
Báo chí địa phương đưa tin, Moscow cho rằng cáo buộc của Mỹ đối với việc kênh truyền hình của người Tatar ngừng hoạt động có liên quan đến chính quyền sở tại là vô căn cứ. Các nhà chức trách Nga đã thực hiện một số biện pháp cụ thể để bảo vệ lợi ích của người Tatar trong khu vực ngay sau khi Crimea sáp nhập với Nga. Đồng thời, Tổng thống Putin cũng ký một nghị định phục hồi vai trò chính trị cho các quan chức người Tatar, và hiện tại những người này đều có mặt trong bộ máy chính quyền trên bán đảo.
“Những biện pháp và nhiều bước tiến hành khác sẽ giúp Moscow nhanh chóng giải quyết căng thẳng giữa người Tatar với dân tộc Nga tại Crimea một cách hiệu quả. Từ đó, hạn chế xung đột giữa các dân tộc trên bán đảo dưới sự kích động của nước ngoài, tạo nên tình trạng hỗn loạn trong khu vực. Điều đó sẽ ảnh hưởng đến uy tín của Nga trước các phương tiện truyền thông thế giới,” Kosachev nhận định.
Ngược lại, trong khi Moscow dành nhiều sự quan tâm và quyền lợi cho các dân tộc thiểu số trên bán đảo Crimea, chính phủ các nước phương Tây vẫn liên tục áp đặt nhiều biện pháp trừng phạt lên toàn thể người dân trong khu vực. Thay vì chỉ áp dụng đối với các quan chức địa phương hay chính quyền Moscow.
“Áp đặt một cuộc bao vây, cắt điện, nước uống, thức ăn và vật tư; làm gián đoạn công việc của các tổ chức tài chính, thông tin liên lạc, tất cả điều này trông giống một cuộc trả thù tầm thường nhằm vào người dân Crimea hơn là nỗ lực ổn định khu vực. Nhưng qua đó lại chứng tỏ rằng người Crimea đã đúng với lựa chọn sáp nhập vào Nga,” một tờ báo dẫn lời Kosachev.
Hàn Giang (theo RIA

http://www.thegioinguoiviet.net/showthread.php?t=33468 
NGÀY QUỐC HẬN MUÔN ĐỜI LÀ QUỐC HẬN
( thơ Ngô Minh Hằng )

Ngày Quốc Hận phải là ngày Quốc Hận
Không tự do mà cũng chẳng thuyền nhân!
Tự do gì khi chín chục triệu dân
Bị đàn áp, bị tù đày, bị giết?!

Bị đảng xem như con giun, cái kiến
Bắt Dốt, bắt Mù, bắt Điếc, bắt Câm
Khi đảng lạy Tàu, cắt đất quỳ dâng
Dân phản đối, đảng vu là phản động...

Cánh cửa nhà tù thét, to mở rộng
Và người tù không án vẫn chung thân
Đảng cấm vợ con, cha mẹ, xa gần...
Đến thăm viếng. Tự do àh??? Gian lận!!!

Ngày Quốc hận thì gọi là Quốc hận
Sao lại lập lờ ngày của thuyền nhân?
Ba Mươi Tháng Tư nếu lũ vô thần
Không cướp miền Nam, thuyền nào ra biển???

Cướp miền Nam, đảng gây thêm oan nghiệt
Thu đất, đoạt nhà, vơ vét, quan liêu
Máu thịt dân lành, gia sản tan tiêu...
Nên mới có thuyền nhân sau cuộc chiến

Cướp nước rồi, nếu đừng tù, ngưng giết
Đừng trả thù người tàn ác, bất lương
Bắt tay nhau cùng dựng lại quê hương
Thì đã chẳng có tên " NGÀY QUỐC HẬN! "

Bất nhân thế, sao hèn, không dám nhận
Là tháng Tư, loài quỷ đỏ dã man
Tàn bạo, gian hùng, bức tử miền Nam
Gieo tang tóc, xô dân vào ngục tối

Sao muốn đổi tên? Sợ mà chối tội ?
Hay gian ngoa, điên đảo bịp lừa người???
Bịp cách nào, tay vẫn máu dân tươi !
Vì tội ác vẫn còn kia, chất ngất

Ngày Quốc Hận thì gọi là Quốc Hận
Nghe rõ chưa hỡi kẻ thiếu tim người!
Món bịp bây giờ đã ế, đã ôi...
NGÀY QUỐC HẬN MUÔN ĐỜI LÀ QUỐC HẬN !

Biển Đông 2015: Nhân Sự Kiện Hoa Kỳ, Nhật Bản, Úc, Ấn Độ, Phi Luật Tân… Nhập Cuộc Và Biển Đông Đang Được Quốc Tế Hóa, Nhắc Lại Gợi Ý Về Một Số Công Tác Cần Phải Làm

2014 APR 11 BIỂN ĐÔNG300VTT ZFEB 8 BIỂN ĐÔNG
Xin được thưa ngay là vấn đề này đã từng được người viết nêu ra sau khi vụ Hội Địa Lý Quốc Gia (National Geographic Society) của người Mỹ ghi chú không đúng về quần đảo Hoàng Sa đã tạm thời được giải quyết vói sự đồng ý sửa lại của tổ chức này.  Đây là một thành công quan trọng mà người Việt Nam nói chung đã đạt nhờ sự lên tiếng và tranh đấu của các giáo sư, học giả, các cơ quan hay tổ chức nghiên cứu chuyên môn và của những người Việt yêu nước bình thường cả trong lẫn ngoài nước. Có điều đây mới chỉ là bước mở đầu vì National Geogaphic Society không phải là cơ quan hay nhà xuất bản duy nhất sản xuất và phát hành bản đồ ở Hoa Kỳ và trên thế giới.  Còn rất nhiều cơ quan và nhà xuất bản khác cũng làm những công việc tương tự. Việc làm sáng tỏ và tranh đấu để có sự điều chỉnh cho đúng sự thực do đó cần phải được tiếp nối. Trong bài này người viết xin được lập lại hai gợi ý cần phải làm vào lúc này: 
Thứ nhất là người Việt ở khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là ở các nước lớn như Pháp, Anh, Úc, Nhật, Đức, Gia Nã Đại và các nước Bắc Âu… cần phải duyệt lại tất cả những tài liệu đã được phổ biến liên hệ tới không riêng Quần Đảo Hoàng Sa mà luôn cả Quần Đảo Trường Sa và nếu cần, phải vận động để điều chỉnh.
Thứ hai là phải xét lại danh xưng South China Sea (Biển Nam Trung Hoa) hay Mer de Chine (Biển Trung Hoa) hay Mer de Chine Méridionale và đổi thành Southeast Asia Sea hay Mer de l’Asie du Sud-Est(Biển Đông Nam Á).  
Cả hai gợi ý này đều có những lý do riêng và đều có thể thực hiện được nếu mọi người Việt Nam nhất là các nhà cầm quyền ở trong nước  đều muốn làm vì chúng ta đang ở vào những vị thế và thời điểm vô cùng thuận lợi, có thể làm được. Tôi xin được trình bày với những chi tiết như sau:
Thứ nhất: Thường xuyên duyệt xét lại tất cả những bản đồ đã được quốc tế ấn hành hay phổ biến trên mạng
Lý do của việc làm này là bản đồ có thể được phổ biến dưới nhiều hình thức khác nhau: trên mạng, in rời từng bản để treo tường hay in trong sách hay thành tập gọi là atlas dưới nhiều khổ lớn nhỏ, dầy mỏng khác nhau, có tỷ lệ khác nhau, từ đó chi tiết được trình bày hay ghi chú khác nhau, đồng thời cũng có thể là những cầu đồ (globes). Gợi ý để mọi người cùng làm ở đây là người Việt ở khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là ở các nước lớn như Mỹ, Pháp, Anh, Úc, Nhật, Đức và các nước Bắc Âu… cần phải duyệt lại tất cả những tài liệu đã được phổ biến này và nếu cần, có thể vận động để điều chỉnh.  Hoa Kỳ là một trường hợp điển hình.  Chúng ta thử bắt đầu một bằng quốc gia có nhiều liên hệ với Việt Nam này.  Điều nên nhớ là công việc duyệt xét này, vói một kiến thức không cần thật cao về các ngôn ngữ liên hệ, ai cũng có thể làm được, nhất là các thanh thiếu niên thuộc thế hệ trẻ ở các học đường, chưa nói tới các người làm ở các thư viện.
Ở Hoa Kỳ, ngoài National Geographic, còn có những nhà xuất bản khác không kém quen thuộc đối với học giới nói chung, các nhà địa lý học hay các thày dạy sử địa nói riêng, như Hammond, Rand McNally, DK, Oxford University Press, Merriam-Webster, Random House, Smithsonian, Harper Collins…Các tài liệu này vì được ấn hành bằng tiếng Anh nên cùng lúc được xuất bản và phổ biến ở các nước nói tiếng Anh như Gia Nã Đại, Úc, Anh…Các bản đồ của các nhà xuất bản này phần lớn dùng các tên Paracel hay Spratly, những tên quốc tế, rồi đã hoặc là để trống (Oxford Atlas of the World, 2005; Oxford New Concise World Atlas, 2009; Random House Compact World Atlas, 2006; Smithsonian Handy World Atlas, 2004) hoặc đề sovereignty disputed hay disputed – chủ quyển tranh chấp hay tranh chấp ( Hammond World Atlas,2009; Hammond Concise World Atlas,(?); DK World Atlas, Digital  Mapping for the 21th Century, 2007, DK Concise Atlas of the World, 2007) hoặc đề là claimed by (đòi chủ quyền bởi) rồi kể tên các quốc gia (Rand Mcnally, Answer Atlas , the Geography Resource for Students, 2006). Riêng cuốn Merriam-Webster’s Geographic Dictionary, 2007,  vì là từ điển nên ngoài tên quốc tế lại ghi thêm các tên Xi-sha Qndao (Trung Hoa), Quần Đảo Hoàng Sa (Việt Nam) và Hi-ra-ta gun-tô (Nhật Bản) trước khi ghi các chi tiết khác. National Geographic có lẽ là một trường hợp cá biệt.  Các bản đồ in của hội này cũng đã ghi chú y như họ đã ghi chú trên mạng (National Geographic Family Reference Atlas of the World, 2010; National Geographic Visual of the World Atlas,2009; National Geographic  Collegiate Atlas of the World (?). Cần để ý là trong thời gian chiến tranh Việt Nam, ngay từ những ngày đầu, National Geographic Society đã  chú ý rất nhiều đến cuộc chiến đấu chống Cộng của người Việt. Họ đã viết và đã phổ biến rất nhiều bài về đề tài này một cách có cảm tình với phía ngưòi Việt Quốc Gia.  Vậy tại sao với tư cách là một hội khoa học họ lại thay đổi thái độ một cách vội vã, thiếu vô tư và thiếu thận trọng so với những nhà xuất bản khác nặng về kinh doanh thương mại hơn như vậy?  Qua sự kiện này câu hỏi được đặt ra người ta có thể tin tưởng vào tinh thần khoa học, vô vị lợi của người Mỹ đến mực nào?  Một câu hỏi khác: Còn ở Việt Nam thì sao?
Việt Nam (miền Bắc) cũng dùng các danh xưng Tây Sa (Xisha) và Nam Sa (Nansha) của Trung Quốc trên các bản đồ của mình
Trở về với Việt Nam, việc dùng các danh xưng Tây Sa và Nam Sa, gốc của người Tàu, thay vì Hoàng Sa và Trường Sa trong tiếng Việt, không phải là không có.  Sự kiện này sở dĩ đã xảy ra có thể là do sự dễ dãi, dẫn xuất từ tính thế nào xong thôi của người Việt. Nó cũng có thể là do sự cẩu thả của người làm sách hay vẽ bản đồ nhưng nó cũng có thể do chủ trương của người cầm quyền đương thời liên hệ tới quốc tế chủ nghĩa và nhu cầu của tình thế và của chiến tranh thể hiện qua văn thư của Thủ Tướng Chính Phủ Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Phạm Văn Đồng gửi cho đồng chí của ông là Tổng Lý Quốc Vụ Viện Nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa Chu Ân Lai, ngày 14 tháng 9 năm 1958 và cách giải thích của những người có trách nhiệm ở miền Bắc đương thời. Có điều giải thích ra sao cũng vậy.  Bút sa là gà phải chết! Khi những tranh chấp xảy ra, người Tàu đã dùng những tài liệu do chính người Việt tạo ra mà họ có được trong tay này làm chứng cớ để biện minh cho chủ quyền của họ ở các quần đảo hai bên đang tranh chấp. Bài viết nhan đề “Xisha and Nansha Islands belong to China”  (Tây Sa và Nam Sa thuộc Trung Quốc) đăng trên tờ Beijing Review, cơ quan ngôn luậnchính thức của chính quyền Cộng Sản Bắc Kinh bằng Anh ngữ, số 21, ra ngày 25 tháng 5 năm 1979 cho người ta thấy điều đó. Bài này không ghi tên tác giả mà chỉ ghi là một bài bình luận của ký giả Tân Hoa Xã, có lẽ để tránh không bị coi là chính thức, nhưng ai cũng biết Tân Hoa Xã là cơ quan thông tấn chính thức của nhà nước Trung Hoa Cộng Sản. Trong bài bình luận này, ngoài những lập luận và chứng cớ bằng ngôn từ, tác giả đã viện dẫn tới các bản đồ chính thức của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà (miền Bắc) ấn hành trước năm 1975. Các bản đồ này đã gọi các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bằng tên Trung Hoa đọc theo tiếng Việt là Tây Sa và Nam Sa của chúng kèm theo những ghi chú chứng tỏ các quần đảo này là thuộc Trung Hoa. Tác giả bài báo đã nêu lên một số trường hợp làm thí dụ:
Thí dụ thứ nhất:  Bản đồ thế giới vẽ và ấn hành bởi Cục Địa Đồ (?) của Bộ Tổng Tham Mưu Quân Đội Nhân Dân Việt Nam năm 1960 đã ghi rõ bằng tiếng Việt “Quần Đảo Tây Sa (Trung Hoa)” và “Quần Đảo Nam Sa (Trung Hoa)”.  Nguyên bản tiếng Anh để chữ China (Trung Hoa) trong ngoặc đơn rồi tất cả trong ngoặc kép “ the Xisha Islands (China)”, “the Nansha Islands (China)” thành người viết bài này (PCD) không rõ chữ China này là ghi đúng như trên bản đồ của Việt Nam hay do tác giả  bài viết trên tờ Beijing Review thêm vô.
Thí dụ thứ hai:  Những bản đồ Việt Nam xuất bản bởi Cục Địa Đồ vào tháng 5 năm 1964 và những bản đồ thế giới ấn hành tháng 5 năm 1972 cùng những bản đồ chính trị thế giới do Cục Đo Đạc và Bản Đồ Quốc Gia(?) ấn hành tháng 3 năm 1974 ghi các quần đảo này bằng tên Trung hoa viết bằng tiếng Việt Nam. Không bao giờ các quần đảo này được ghi bằng tên tiếng Việt là “Quần Đảo Hoàng Sa” và “Quần Đảo Trường Sa” như sau này, theo tác giả bài báo.
Thí dụ thứ ba:  Một bài học về Trung Quốc dành cho lớp 9 trong một cuốn sách giáo khoa về địa lý do Nhà Xuất Bản Giáo Dục Hà Nội ấn hành năm 1974 có câu “Vòng cung hợp bởi các quần đảo Nam Sa và Tây Sa, đảo Hải Nam, Đài Loan, Quần Đảo Bành Hồ… tạo thành một bức “trường thành” che chở cho Trung Hoa Lục Địa.” Có nhiều diễn tả tương tự đã được thấy trong các sách giáo khoa của Việt Nam.  Xin độc giả  lưu ý tới hai chữ “trường thành” ngay từ năm 1974 này đã được dùng thay vì mãi đến năm 2015 mới được vị đô đốc tư lệnh Hạm Đội 7 của Mỹ nhắc tới.
Thí dụ thứ tư, Kinh độ phía đông của Việt Nam: Ngày 15 tháng 5 năm 1975, non một tháng sau ngày quân đội Việt Nam (Cộng Sản) tiến chiếm sáu đảo của Quần Đảo Trường Sa, tờ Quân Đội Nhân Dân cho đăng một bản đồ Việt Nam bao gồm cả Quần Đảo Trường Sa và khẳng định là địa điểm cực đông của lãnh thổ Việt Nam nằm ở 109 độ 29 phút Đông. Điều này (theo bài báo) chứng tỏ Việt Nam đã chiếm đóng lãnh thổ của Trung Quốc. Mặt khác, một tài liệu nhan đề Địa Lý Thiên Nhiên Việt Nam và Các Vùng Thiên Nhiên của Lãnh Thổ Việt Nam (?) do Nhà Xuất Bản Giáo Dục Việt Nam và Nhà Xuất Bản Khoa Học và Kỹ Thuật Việt Nam ấn hành năm 1970 lại xác định điểm cực đông của lãnh thổ Việt Nam nằm ở 109 độ 21 phút Đông thay vì 109 độ 29 phút Đông, chênh nhau 8 phút. Tác giả bài báo cho rằng dù có tăng thêm 8 phút cho lãnh thổ Việt Nam, Nam Sa vẫn không thuộc Việt Nam vì Nam Sa nằm ở 109 độ 30 phút đông của lãnh thổ Việt Nam (cũng theo bài báo).
Qua những thí dụ kể trên, người ta thấy lập luận của phía Trung Hoa có những điều bất ổn.  Ba thí dụ đầu căn cứ vào những tài liệu được ấn hành từ trước năm 1975, khi Việt Nam còn bị chia đôi và có xuất xứ từ miền Bắc Việt Nam trong khi các Quần Đảo Hoàng Sa và Trường Sa theo Hiệp Định Genève mà Trung Quốc có tham dự và đóng vai trò tích cực, là do miền Nam quản trị. Lập luận của Trung Quốc trong trường hợp này không có giá trị vì nó cũng giống như lập luận của họ đối với văn thư Phạm Văn Đồng gửi cho Châu Ân Lai.  Nói cách khác, những gì miền Bắc làm đối với Hoàng Sa và Trường Sa là không có giá trị pháp lý căn cứ vào Hiệp Định Genève. Có điều khi đặt vấn đề này người ta lại phải đặt lại toàn bộ vấn đề Việt Nam từ biến cố 30 tháng Tư năm 1975 vì Miền Bắc là phía thắng trận nên những gì Miền Bắc làm là hợp pháp.  Một câu hỏi khác liên hệ trực tiếp với bài này cần được nêu lên là tại sao các nhà làm sách và làm bản đồ ở miền Bắc thời trước năm 1975 lại dùng những danh xưng của người Tàu thay vì các danh xưng của người Việt để gọi hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa? Câu trả lời có thể là vì thời gian đó là thời gian Việt Nam và Trung Hoa là hai nước Cộng Sản “anh em”, em không giữ được thì đưa cho anh thay vì để người ngoài chiếm mất, đồng thời đó cũng là thời gian chiến tranh, Cộng Sản Việt Nam cần sự giúp đỡ của Cộng Sản Trung Quốc và vai trò của Trung Quốc nói chung và của các cố vấn Trung Quốc nói riêng rất mạnh, không ai có thể chống lại. Do đó, việc dùng ngôn từ của Trung Quốc hay việc chép nguyên văn từ các tài liệu do các cố vấn Trung Quốc đưa cho ở đây cũng chỉ là một điều bình thường giống hệt như trong các cuộc chỉnh huấn trong quân đội hay cải cách ruộng đất và việc dùng danh xưng Quân Đội Nhân Dân thay thế cho danh xưng Vệ Quốc Đoàn mang nặng tinh thần quốc gia chủ nghĩa. Khó ai có thể ngờ Trung Quốc trước sau như một khiến cho những gì các nhà làm bản đồ hay sách giáo khoa về địa lý ở miền Bắc đã làm ở thời đó sau này đã gây ra bất lợi cho cả đất nước Việt Nam.  Tưởng ta cũng nên để ý là về vấn đề kinh độ, 109 độ 21 hay 29 phút chỉ là của Việt Nam lục địa tức phần chính của Việt Nam mà thôi. Các Quần Đảo Hoàng Sa và Trường Sa không được trình bày trong tài liệu được viện dẫn. Ngoài ra người ta cũng phải để ý hơn nữa là tháng 5 năm 1975 miền Bắc mới chiếm được miền Nam và tự coi là có trách nhiệm trên toàn thể lãnh thổ của miền Nam trong đó có Hoàng Sa và Trường Sa. Thời gian quá ngắn nên những tài liệu tờ Quân Đội Nhân Dân dùng cho bài viết của họ vẫn là tài liệu cũ của miền Bắc. Họ chưa có đủ thì giờ để cập nhật hóa những gì phải làm.
Tên South China Sea hay Mer de Chine hay Mer de Chine Méridionale cần phải được thay thế bằng Southeast Asia Sea hay Mer de l’Asie du Sud-Est hay Mer du Sud-Est Asiatique hay Biển Đông Nam Á.
Đây là một vấn đề lẽ ra phải được nêu lên từ lâu nhưng hầu như ít ai để ý đến hoặc chưa có dịp.  Người viết đã thử làm hồi cuối thập niên 1980 của thế kỷ trước  bằng các gửi thư cho các bộ ngoại giao của các nước Đông Nam Á, nhưng như mọi người có thể đoán được, với tư cách cá nhân vô danh, nhỏ bé, thư chắc chắn đã được nằm trong sọt rác.  Sau này một tổ chức lớn hơn, Nguyễn Thái Học Foundation cũng đã làm nhưng cũng chưa đạt được ý muốn.  Một thời điểm đầu tiên rất tốt đã xảy ra trong năm 2010, một thời điểm có thể coi là ngàn năm một thuở vì Việt Nam vào năm 2010 là chủ tịch luân phiên của Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á (ASEAN), đồng thời trong tháng 4 năm đó cuộc họp thượng đỉnh của Hiệp Hội đã diễn ra ở Hà Nội. Với tư cách chủ nhà và ở cương vị chủ tịch, nhà nước Cộng Sản Việt Nam có thể đưa ra đề nghị để hội nghị cứu xét và thông qua.  Rất tiếc là nhà nước này Cộng Sản Việt Nam đã bỏ lỡ cơ hội này.  Tuy nhiên thời điểm hiện tại cũng không đến nỗi là đã quá muộn.  Lý do là vì hiện tại Quốc Tế nói chung, trong đó có Nhật Bản, có Úc, có Ấn Độ…, không phải chỉ riêng Hoa Kỳ, đã chú ý nhiều hơn tới nguy cơ Biển Đông và đã có những hành động cụ thể.  Một vận động mới cần phải được khởi động.
Có nhiều lý do phải đổi tên:
Thứ nhất: Tên South China Sea (Biển Nam Trung Hoa) trong tiếng Anh và tên Mer de Chine (Biển Trung Hoa) hay Mer de Chine Méridionale trong tiếng Pháp không thích hợp với thực tại địa lý nói chung của biển này. Chúng đã được đặt ra và được chấp nhận từ nhiều thế kỷ trước, khi người Âu Châu mới tới vùng này. Lúc đó họ đã biết hay đã quen với Trung Quốc nhiều hơn là với các xứ Đông Nam Á đương thời, trong khi trên thực tế biển này ba mặt phía nam, phía tây, phía đông được vây quanh bởi các nước Đông Nam Á, chỉ một phần phía bắc là tiếp giáp với Trung Quốc. Khi một danh xưng do người ngoài đặt cho và không hợp lý với thực tại địa phương, người ta cần phải đổi đi cho hợp lý hơn thay vì để nguyên một cách thụ động và cứ thế mà dùng từ đó gây ra những hiểu lầm lẽ ra có thể tránh được. Nên để ý là Indonesia xưa kia bị gọi là Nam Dương quần đảo. Sau khi độc lập nước này đã được đổi tên là Indonesia hay In-đô-nê-xia.
Thứ hai: Biển này nằm ở giữa các quốc gia Đông Nam Á, trong tương lai, với đà phát triển trên nhiều mặt của Hiệp Hội ASEAN, sẽ là một cái hồ, một thứ Địa Trung Hải của toàn vùng. Nó sẽ giúp cho mọi sự tiếp xúc, trao đổi và hợp tác, nói chung, từ kinh tế, tài chánh, thương mại đến văn hóa, giáo dục… được dễ dàng vì giao thông bằng đường thủy luôn luôn dễ dàng với những số lượng lớn hơn gấp bội so với đường bộ hayđường hàng không nếu người ta biết tổ chức và khai thác. Tên South China Sea hay Mer de Chine hay Mer de Chine Méridionale không nói lên được tầm quan trọng này, chưa kể tới những ýnghĩatiềm ẩn có thể bị khai thác của hai chữ China hay Chine trong hai danh xưng này.
Thứ ba: Đổi tên từ South China Sea (Biển Nam Trung Hoa) hay Mer de Chine  (Biển Trung Hoa)hay Mer de Chine Méridionale (Biển Nam Trung Hoa) thành Biển Đông Nam Á không có nghĩa là ta từ bỏ danh xưng Biển Đông hay Đông Hải của Việt Nam vì Biển Đông hay Đông Hải là những tên riêng của người Việt để dùng trong nội bộ mình. Các nước khác chắc chắn cũng có những tên riêng của để gọi biển này của họ, điển hình là Phi Luật Tân. Vì là của riêng người ta vẫn có thể tiếp tục dùng những danh xưng này như những danh xưng truyền thống với những ý nghĩa vừa đúng với vị trí của biển này đối với người dân địa phương, vừa tình cảm của chúng.  Southeast Asia Sea hay Mer de l’Asie du Sud-Est sẽ chỉ là những danh xưng quốc tế thích hợp hơn để dùng trên các văn kiện hay trong các buổi họp quốc tế, trên các địa đồ thế giới và cho các nước không nằm trong vùng. 
Thứ tư: Dùng danh xưng Biển Đông Nam Á hay Southeast Asia Sea hay Mer de l’Asie du Sud-Est hay Mer du Sud-Est Asiatique sẽ giúp cho các học giả, các nhà ngoại giao, các chính khách Việt Nam, mỗi khi phải tiếp xúc với thế giới bên ngoài, tránh được sự khó chịu khi phải dùng những tên vừa không do mình đặt ra vừa không đúng với thực tại địa lý mà còn hàm chứa ảnh hưỏng và sức mạnh quá lớn của Trung Quốc. Không những thế chúng còn mang các quốc gia Đông Nam Á lại gần với nhau hơn, đồng thời có thể tạo ra cho người dân của các quốc gia này một ý thức mới, ý thức thuộc về một khối người có nhiều điểm tương đồng, có những quyền lợi chung cần được khai thác với nhau trong hòa bình và cùng nhau bảo vệ nhất là trong phạm vi môi trường thiên nhiên vào lúc Trung Quốc đang nỗ lực kỹ nghệ hóa các tỉnh đông nam của họ hay xa hơn nữa trước tham vọng bành trướng nhằm làm bá chủ thế giới của nước này.
Kết luận: Với những lý do trên đây, và còn nhiều lý do khác nữa mà người viết, trong một bài báo ngắn gọn hay vì nhất thời tế nhị, không thể kể ra hết, việc thay thế các danh xưng South China Sea trong tiếng Anh và Mer de Chine hay Mer de Chine Méridionale trong tiếng Pháp bằng danh xưng Southeast Asia Sea hay Mer de l ‘Asie du Sud-Est  hay Mer du Sud-Est Asiatique là một việc làm cần thiết và thích hợp cho sự phát triển nhanh chóng và mỗi ngày mỗi thêm vững mạnh của Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á (ASEAN) như người ta đã và đang thấy.  Nó nói lên sự bình đẳng và ý chí kết hợp của các nước trong vùng.  Ngưòi ta có thể không thích ý kiến quốc tế hóa các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vì nó liên hệ tới chủ quyền về lãnh thổ và lãnh hải của riêng từng nước, nhưng người ta có thể chấp nhận, nếu không nói là hoan nghênh việc làm này như một cái tên thuần túy và đơn giản.  Các quốc gia Đông Nam Á đã có một tổ chức chung; đã đến lúc các quốc gia này phải có một cái gì cụ thể chung. Một vùng biển chung mang danh Biển Đông Nam Á ít ra qua danh xưng của nó là biểu tượng cho cái gì chung đó vậy. Trở về với Việt Nam. Như đã nói ở trên, năm 2010 Việt Nam đã bỏ lỡ một cơ hội có thể nói ngàn năm một thuở.  Tuy nhiên lỡ không phải là quá trễ.  Với sự nhập cuộc mỗi ngày một mạnh hơn, mỗi ngày một sâu hơn của Hoa Kỳ, Nhật Bản, Phi Luật Tân, Úc và luôn cả Ấn Độ… trong một thế giới đang đổi mới, một cuộc vận  động mạnh hơn cần được khởi động trở lại.  Nên nhớ là chúng ta đang ở Thế Kỷ 21 chứ không còn ở Thế Kỷ 20 nữa.      
Vì chủ đề của bài này là Trường Sa và Hoàng Sa nên người viết thấy cần phải nêu lên một gợi ý khác để các nhà cầm quyền Cộng Sản ở trong nước hiện tại chứng tỏ sự ghi nhận công ơn của các chiến sĩ, bất kể là từ miền Nam hay miền Bắc trước kia, đã hy sinh bảo vệ lãnh thổ nước nhà. Gợi ý đó là: Hãy dùng tên của họ để đặt cho những chiếm hạm mới mà Việt Nam mới đặt mua hay mới tự đóng để bảo vệ vùng biển của đất nước. Sự đặt tên này cũng gống như sự dựng tượng đài kỷ niệm chắc chắn sẽ được mọi người hoan nghênh kể cả các chiến sĩ hải quân của nước Việt Nam hiện tại vì trong khi chiến đấu chống hải quân Trung Cộng ở Trận Chiến Hoàng Sa hay Trường Sa họ chỉ hướng tới một mục tiêu duy nhất là bảo vệ lãnh thổ của tổ quốc Việt Nam hay đồng bào của họ trước sự xâm lăng của ngoại bang.  Trong hoàn cảnh đó họ không còn là người của miền Nam hay của miền Bắc nữa mà là của chung của cả dân tộc hay hơn thế nữa họ là những anh hùng chung của cả dân tộc của thế kỷ hai mươi.  Riêng Hạm Trưởng Ngụy Văn Thà, ông người hạm trưởng đầu tiên của Hải Quân Việt Nam đã quyết dịnh ở lại, chết theo tàu trong cuộc chiến bảo vệ lãnh thổ và lãnh hải phía đông của tổ quốc mình trước một kẻ thù truyền kiếp, đông và mạnh hơn gấp bội.  Lê Văn Tám là một nhân vật hoàn toàn ngụy tạo trong Chiến Tranh Đông Dương Lần Thứ Nhất là điều bây giờ ai cũng biết, nhưng tên của nhân vật ngụy tạo này vẫn được giữ làm tên các trường học, tên đường, tên công viên. Tại sao ngưòi ta vẫn lờ đi không nói tới Ngụy Văn Thà và các chiến hữu bất kể Nam, Bắc của ông, những nhân vật lịch sử có thật, đặc biệt là vào lúc mà Hoàng Sa và Trường Sa là đề tài nóng bỏng của thời cuộc?  Nhưng dù công nhận hay không, những ai còn tin vào sự linh thiêng của các anh hùng liệt sĩ của dân tộc, vẫn thường dành một phút trong các buổi lễ để tưởng niệm và tri ân, hẳn phải nghĩ rằng từ trên nền trời cao bao la, xanh thẳm của Biển Đông, Ngụy Văn Thà và các chiến hữu của ông vẫn luôn luôn theo dõi và phù trợ cho các hậu duệ của ông trong sứ mạng thiêng liêng bảo vệ lãnh thổ và lãnh hải phía đông của chung của cả dân tộc và che chở cho những đồng bào của ông vẫn ngày ngày kiếm sống trong những vùng biển từ xưa vẫn là của dân tộc mình.  Tất nhiên là khi làm công việc này, nhà nước Cộng Sản Việt  Nam hãy làm cho 64 liệt sĩ đã hy sinh trong Trận Chiến Trường Sa ngày 14 tháng 3 năm 1988 của mình trước.  Điều mà cho đến tận năm 2015 này họ vẫn chưa làm được hay chỉ cho làm một cách rụt rè.
Có điều vinh danh hay không vinh danh đối với các chiến sĩ này chắc chắn chẳng có gì là quan trọng so với sứ mạng vô cùng lớn lao và cao cả là bảo vệ đất nước, bảo vệ đồng bào của họ.
Phạm Cao Dương
Nhân dịp Hội Nghị Quốc Tế về Biển Đông họp tại Manila cuối tháng 3 năm 2015