TƯỞNG NIỆM QUỐC HẬN 1975 - 2014 - Chào Cờ VNCH - Đất Tổ Quê Cha Không Thể Mất

 
(1975 - 2014)




SỐNG

Sống tủi làm chi đứng chật trời?
Sống nhìn thế giới hổ chăng ai?
Sống làm nô lệ cho người khiến?
Sống chịu ngu si để chúng cười?
Sống tưởng công danh, không tưởng nước.
Sống lo phú quý chẳng lo đời,
Sống mà như thế đừng nên sống!
Sống tủi làm chi đứng chật trời?

CHẾT

"Chết mà vì nước, chết vì dân,
Chết đấng nam nhi trả nợ trần.
Chết buổi Đông Chu, hồn thất quốc,
Chết như Tây Hán lúc tam phân.
Chết như Hưng Đạo, hồn thành thánh,
Chết tựa Trưng Vương, phách hóa thần.
Chết cụ Tây Hồ danh chẳng chết,
Chết mà vì nước, chết vì dân."

(Sào Nam Phan Bội Châu)



Đất Tổ Quê Cha
Không Thể Mất






Vung bút thay gươm chém "cáo chồn" *
Kêu gọi toàn dân khắp Kinh** Thôn***
Đứng lên lật đổ phường vô lại
Gìn giữ Việt Nam mãi trường tồn

Đất Tổ, Quê Cha không thể mất
Một phân một tấc cũng không không
Con Hồng cháu Lạc
đồng chung một
Khí hùng Trưng, Triệu diệt lũ ngông. 
 
Việt Dương Nhân
* csVN ** Thành thị *** Nông thôn




 CHUNG MỘT Ý LÒNG
 
Gió chuyển lời đau, cất tiếng cao
Biển Đông dậy sóng, nổi ba đào
Đất của ông cha truyền hậu thế
Trơ mắt nhìn Tàu hiếp đáp sao?!


Cộng Sản cầm quyền lắm họa tai
Cởi tròng thoát ách của thằng Tây
Búa liềm Cộng Sản theo nhau tới
Địa ngục trần gian cõi thế nầy!!

Trời hại dân mình, sinh Chí Minh
Cờ sao réo quỷ dậy điêu linh
Đói nghèo, chết chóc, công an trị
Đảng sướng như tiên, khổ dân tình!

Bán đất buôn dân, một lũ tồi
Trị dân đảng chỉ giỏi ăn chơi
Gái đi làm đỉ trai đi đợ
Tiền bạc đảng gom, hoát miệng cười !

Giặc Tàu một lũ quân man rợ
Một láng giềng ích kỷ tham lam
Nhưng mà dân Việt kiên cường lắm
Đã rất nhiều phen phá dã tâm…

Lịch sử mấy ngàn năm giữ nước
Tổ tiên ta bất khuất kiên cường
Nguyên, Mông đã phải ôm đầu chạy
Đằng Giang đỏ máu giặc phơi xương…

Cộng khoe" kẻ thù nào cũng thắng"
Vậy mà câm họng trước lũ Tàu
Lưng khom sát đất tung hô bái
Đất biển dâng Tàu, nỗi nhục đau…

Oan hồn uổng tử biển phương Đông
Oán hận trời Nam quá ức lòng
Đâu thể để Tàu khinh dân Việt
Phá xiềng, đạp xích, xóa gai chông…

Bão nổi lên xé nát cờ sao
Diệt xong Việt Cộng, đánh thằng Tàu
Toàn dân đoàn kết cùng chung sức
Tổ quốc vươn mình vui biết bao


 Thứ Tư lúc 13:14 26.1.2013
********************

Giờ Đã Điểm...
Ngày Tàn Của Việt Cộng



Việt Cộng dám tác oai tác quái,
Dâng Bắc-triều cửa Ải-Nam-Quan
Hỡi ai, con nước Việt-Nam ?
Hãy đồng tay nắm, quyết tâm hướng về,

Cùng đồng bào cận kề bất khuất,
Diệt quân thù, dành đất Tổ-Tiên
Hồn thiêng-sông-núi ba miền,
Anh Hùng, Kẻ Sĩ nối liền năm Châu.

Giờ đã điểm chần chờ gì nữa,
Cùng toàn dân "Góp Lửa" đốt lên.
Dẹp tan bè lủ "chồn đen",
Phản dân, bán nước, đê hèn cầu vinh.

Giờ đã điểm, nhất tình, quyết chí,
Khắp trong-ngoài hào khí Rồng-Tiên
Vì Tổ Quốc, dẹp tình riêng,
Cùng nhau lật đổ bạo quyền độc-tôn.

Đem Việt Nam trường tồn Dân Chủ,
Dựng ba miền đầy đủ Quyền Người
Từ Nam-Trung-Bắc reo cười,
Không còn than khóc, như thời cộng nô.

Vầng dương sáng nhấp nhô quê Mẹ
Bóng u-minh diệt kẻ tham tàn
Lạc-Long hào khí hiên ngang
Anh Hùng dẹp loạn bao ngàn năm qua.

Giờ đã điểm, không còn xa lắm
Gọi đồng bào tay nắm ra sân
Cất tiếng hô, chớ ngại ngần :
Đả đảo Việt cộng vô thần,phi nhân.

Việt Dương Nhân

*


Giờ Thọ-Tử

Giờ nầy chánh-sách vẫn y-chang
Đã cướp thêm đàn-áp mọi đàng
Điểm phúc-đường âm-hồn réo gọi
Ngày tam-nương thọ-tử tiềm tàng
Tàn nhang đảng nhập-quan hồi thổ
Của mõ chùa chiêu-mộ quá giang
Việt -tộc nhận nhân-quyền phục-vị
Cộng tan dân-chủ khắp thôn làng

Tiểu Bảo


*

Ngọn bút thay gươm giáo 

Hỡi văn_nghệ_sĩ khắp gần xa
Hãy dùng ngọn bút viết lời ca
Thay cho gươm giáo diệt lũ Hán
Đang mộng xâm lăng non nước ta.

Việt Dương Nhân
(Với tất cả lòng thành hướng về Quê Mẹ VN 4/2009)


ĐÁP LỜI KÊU GỌI
 

Đất nước đang kề cận nạn tai
Bắc phương cậy thế mạnh ra oai
Toàn dân hợp sức chung tay lại
Đoàn kết một lòng vai sát vai
Bảo vệ non sông cùng gánh vác
Giữ gìn bờ cõi chẳng riêng ai
Tổ tiên xưa đã đẩy lui giặc
Chẳng lẽ cháu con lại bất tài ?!!
Naïve


*
 Đấng Anh Thư 

Kính tặng Nữ Sĩ Việt Dương Nhân

Nghĩ thương cho chị phận đàn bà
Tự thủa thiếu thời đã vắng cha
Nước mất, đành xuôi giòng viễn xứ
Tha hương, lòng luôn hướng quê nhà
Xả thân tranh đấu cho Dân Tộc
Dũng cảm quên mình bởi Quốc Gia
Bao nỗi gian nan không khuất phục
Tiếng thơm vang dội khắp sơn hà

Naïve


* * *
Làm Sao An Phận
"Thất Quốc sầu trôi theo vận nước,
Tha hương tủi nhục vướng nghiệp nhà."

(Lưu Vân)

Trong dạ tiệc nói cười ca hát,
Ngậm ngùi tìm giải thoát dân hiền
Dẫu rằng đang sống đất liền
Mà lòng thương nhớ triền miên dân mình.

Ðất tạm dung đầy tình nhân đạo
Cơm áo lành gạo trắng cá tươi
Tự-do Dân-chủ quyền-người.
Làm sao an phận vui cười được đây ?

Thương nhớ thương đọng đầy tâm não
Lòng căm thù "chồn-cáo" ác gian
Làm cho nòi giống tóc tang
Nỡ nào nhắm mắt chẳng màn việc chi.

Thuở ra đi môi chì mặt nám
Mấy mươi năm sống bám quê người
Ðất lành chim đậu ai ơi !
Nhưng lòng hãy nhớ khung trời quê hương,

Ðang xẩy ra đau thương tràn ngập
Từ Chúa Giáo đến Phật Pháp Tăng
Ðộc tài bạo lực hung hăng
Bỏ tù Linh Mục, đày hàng Chân Sư.

Tư Bản Ðỏ khư khư khống chế
Buộc dân lành phải nễ "Ðảng Ta*"
Bảo là; phải hát phải ca :
Những lời của "Ðảng" đặt ra đúng đời.

Thứ vô thần, chẳng Trời, Chúa, Phật
Cai trị dân theo lạc hậu xưa...
Trời ơi ! Ông hãy chuyển mưa
Sét lên đánh "Ðảng Ta" chừa thói ngu.

Từ Nam-Bắc mây mù sẽ biến
Ðến ngoài, trong thăng tiến phục hồi
Trăm năm duy vật đổi dời,
Duy Tâm mãi mãi sáng ngời chẳng phai.

Anh Hùng, tuổi trẻ chờ ai nữa ?
Mau đứng lên trị sửa ác quân.
Toàn dân chung sức họp cùng,
Dựng nền Dân-chủ khắp vùng Trời Nam.

Việt Dương Nhân
_________
(*) CSVN)
Ai Người Dân Việt


Hơn ba mươi năm, mắt lệ tràn
Nhìn dân tộc Việt vẫn lầm than
Bởi bầy «cáo đỏ» còn tác quái
Đày ải dân ta khổ ngút ngàn.

Xin gọi : trong, ngoài nước Việt Nam,
Cùng đứng lên quật khởi quyết tâm
Hàng hàng, lớp lớp đồng chung một,
Phất ngọn “Cờ Vàng*” dựng núi sông.

* * *

Tổ Tiên ta đã dày công
Ra tay dựng nước Việt Nam kiêu hùng
Bỗng đâu bè lủ điên khùng
Kéo về thống trị, não nùng dân ta.

Năm Châu, bốn bể gần xa
Ai người dân Việt đứng ra chung cùng
Đừng chủ bại, sống ung dung
Mà quên dân tộc khốn cùng khổ đau.

Vững lòng, trước cũng như sau,
Tinh thần Dân Chủ ta nào lãng quên.
Tự Do, bình đẳng giữ nền,
Quê Hương Quang Phục dưới trên thuận hòa.

Việt Dương Nhân
(*) Cờ vàng ba sọc đỏ


*
 Mẹ Việt Nam


Mẹ tôi là Mẹ Việt Nam
Ngàn năm ghi nhớ muôn đời kính yêu
Ngày nay tóc Mẹ bạc nhiều
Vì thương con cháu trăm chiều khổ đau


Đứa thì biền biệt tâm hao
Đứa thì nhứt quyết đi vào chiến khu
Mẹ đà chờ đợi mấy thu
Ngày qua tháng lại năm thu đã tàn


Mẹ tôi đau xót vô vàn
Núi xương sông máu ngập tràn quê hương
Dân lành đày đọa thảm thương
Biết bao thù hận vấn vương ngập lòng


Mẹ tôi là Mẹ Việt Nam
Thương con thương cháu thương nòi Rồng-Tiên
Nước non của Mẹ thiên nhiên
Mấy đời giòng giống trung kiên giữ bờ


Bổng đâu sóng gió bất ngờ
Làm cho quê Mẹ ngọn cờ rã tan
Mẹ đành nhận chịu gian nan
Chờ ngày quật khởi bình an quê nhà


Mẹ ơi ! Hỡi Mẹ Việt Nam
Đàn con của Mẹ sẽ về ngày mai
Đem nhiều hứa hẹn tương lai
Dựng non dựng nước chẳng ai sờn lòng


Không còn cho Mẹ đợi trông
Sẽ về với Mẹ bên dòng sông xưa.




Việt Dương Nhân
(Paris 15 ème, ngày 10-12-1979
Viết trong những ngày tranh đấu
cho quê hương Việt Nam nơi hải ngoại)

*

Quà Xuân Gởi Các Anh Phục Quốc

Hỡi anh Phục-Quốc quê nhà
Nơi đây em viết làm quà tặng anh
Xuân về đất khách buồn tanh
Gió đông lạnh lẻo lòng canh cánh sầu.

Ngày nào hứa hẹn bên cầu
Ra đi mãi nhớ chiếc cầu năm xưa
Các anh nào ngại nắng mưa
Đem thân cứu nước cho vừa lòng anh.

Con Rồng cháu Lạc rạng danh
Ngày nay anh quyết đấu tranh giữ bờ
Non-sông tổ-quốc ngọn cờ
Ra tay giết giặc nào chờ đợi ai.

Dù cho gian khổ chông gai
Nắng mưa chẳng ngại lòng trai chớ sờn
Toàn dân ngập nỗi căm hờn
Đồng tâm khải lại tiếng đờn năm xưa.

Việt Dương Nhân

(Viết trong những ngày tranh đấu cho quê hương Việt-Nam tại Paris 15ème, 1-02-1977. Đăng Tập San "Văn Tiến" (Belgique 1980) và "Tiếng Gọi Phục Quốc" (Paris 1978)



________________
"Giữa sỏi đá vút vươn niềm hy vọng
Trong tro tàn dào dạt nhựa hồi sinh
Hận nội thù trên máu ruột Tiên Rồng
Căm giặc cộng BÁN non sông Hồng Lạc"
(YTKCPQ)

"Cộng sản còn thống trị trên quê hương - Ta còn phải đấu tranh"

***

Kính mời xem  video Google ra mắt >> "Bốn Phương Chìm Nổi"
Việt Dương Nhân
Paris 25-10-1998



Bốn Phương Chìm Nổi  
Kính dâng Thầy Thích Minh T. 
 

Con biết thân con phận lạc loài
Cam đành chấp nhận số mà thôi
Bốn Phương Chìm Nổi như mây khói
Mặc tình giông gió cuốn đùa trôi.

Bốn Phương Chìm Nổi con nào dám,
Trách Trời hay tạo Hóa bất công.
Đời con như thuyền trong cơn sóng
Vùi dập tơi bời giữa biển Đông.

Bốn Phương Chìm Nổi lắm long đong
Nay còn chút tâm tình ước mong:
Sao cho tất cả đều được phước
Trải một kiếp người TÂM trắng trong.


(Paris 13ème , đêm đông 05-01-1994)
******
Chờ thêm chút nữa sẽ "bay" về nơi chôn nhau cắt rún !!!

 


***
________________________________________

VănNghệSĩ & QH_ViệtDươngNhân

Bấm xem thêm >> http://dactrung.net/phorum/tm.aspx?m=151649

Việt Dương Nhân
Ký Ức Vọng Về




vdn 2009

Nữ Nghệ Sĩ Quốc Hương (Paris)

Lần đầu tiên Quốc Hương đóng tuồng trên sân khấu là, ngày 11-06-1977 - tại rạp hát Maubert-Mutualité - quận 5 Paris, do chùa Khánh Anh tổ chức cho mùa Phật Đản 2521 - tuồng ''Tình Đời - Nghĩa Đạo'' do soạn giả Nhựt Thanh ...
(......)
Đêm Giao Thừa bước sang năm Đinh Tỵ 1976 -1977, QH và mấy đứa bạn du học ở Paris, rủ nhau đi xem Dũng Thanh Lâm & Kim Loan diễn trích đoạn vở tuồng.... ở rạp ''Bataclan'' Paris quận 11, do ông-bà Bầu Kim Chung tổ chức. QH đứng xớ rớ, miệng lúc nào cũng chờ chực sẵn một nụ cười với đồng hương... Vì QH được đi ra sớm hơn những người khác. QH đến chào Dũng Thanh Lâm (vì có quen biết DTL bên nhà) rồi làm quen soạn giả Trần Trung Quân, Nhựt Thanh (thầyTử Vi). Chúng tôi trò chuyện rất thân tình. Không lâu lắm, QH liền nói : Bây giờ anh-em chúng ta cùng một giòng họ (lưu vong), vậy mình kết nghĩa anh-em... NT và TTQ đông ý ngay, ba chúng tôi nắm tay và có tuyên thệ trước sân khấu...
Ăn Tết xong, lối mùng 2 mùng 3 gì đó ? NT mời tôi đến nhà, ăn bánh uống trà. Anh hỏi tôi biết ca vọng cổ không ? Anh đưa cho tôi bài Vọng Cổ do anh sáng tác. Tôi liền cất giọng lên ca ''đại'' cho anh nghe nguyên bài. Anh nghe được được - Thế là anh bàn việc dựng 1 tuồng cải Lương để hát cho chùa KA vào mùa Phật Đản 2521 (1977). Trong lúc đó chưa có một bóng Đào-Kép chuyên nghiệp nào có mặt ở Paris - Thầy đàn cũng không có luôn - Chỉ có Bác Michel-Mỹ đàn Tranh và Bác Tư-Lạc-Hồng đàn Vĩ cầm (Violon). Hai Bác ấy rất nhiệt tình. vài ngày sau đó, NT kéo tôi vào chùa KA để giới thiệu tôi với Thầy Thích Minh T.
Họp mấy Anh-Chị-Em trong chùa, coi ai có khiếu đóng kịch - hát cải lương... Thế rồi cũng có đầy đủ vai để tập tuồng ''Tình Đời Nghĩa Đạo''... - NT và Quốc Hương đóng vai chánh. Chèn ơi ! Mới hát cải Lương lần đầu tiên mà tôi được đóng vai chánh thật là thích. Không có khăn sạch dùng ''dẻ rách cũng đỡ lắm tay" - Rồi đến mỗi thứ Bảy và Chủ Nhật, chúng tôi bắt tay tập tuồng...
.....
Dòng đời trôi chảy, đến năm nay gần 28 năm qua - biết bao vật đổi, sao dời. Đã đóng kịch & hát cải lương bao nhiêu tuồng, thật sự tôi không nhớ hết nổi - Bây giờ soạn hình ảnh tới đâu là biết tới đó thôi...
Tự suy nghĩ đặt cho mình tên Quốc Hương (tức Tổ Quốc & Quê Hương)
Nhựt Thanh & Quốc Hương
Trong vở tuồng cải lương
''Tình Đời - Nghĩa Đạo''

Paris ngày 11 tháng 6 năm 1977


1968

VDN 1987

Quốc Hương 1977
Ảnh sinh nhật 50 năm cuộc đời (1946-1996)
2002

Việt Dương Nhân 2006

Quốc Hương 1976
2005
2005

 
Việt Dương Nhân 2006
QH_VDN 19.2.2006

2003

Những nghệ sĩ trong tuồng
''Mạnh Lệ Quân''

Bảo Sơn thực hiện - quay tại Paris & Thụy Sỹ

Từ trái sang phải : Ngọc Lưu, - Quốc Hương - Hà Mỹ Liên
Hoàng Minh Phương - Tài Lương - Mỹ Hòa - Minh Tâm
Chí Tâm - Kim Chi - Tuấn Thành - Hữu Phước



Việt Dương Nhân
Nguyễn Thị Bảy
Sanh 11 tháng 8 năm 1946
Tại Bình Chánh - Gia Định (Việt Nam)


Làm thơ, viết văn có những bút hiệu: Việt Quốc Hùng, Quốc Hương, Thanh Thiên Tâm, Nguyễn Chánh Nhựt, Song Bình, Dạ Nguyệt, Hỏa Phong Địa Thủy, T.C.H. Từ năm 1977 đến nay (2007) đã đăng nhiều báo Hải Ngoại : Tiếng Gọi Phục Quốc, Việt Nam Tự Do Hải Ngoại, Tiếng Dân, Nhân Bản, Y-Giới-Việt-Nam-Tự-Do, Ép Phê, Thông Luận, Á Châu, Đất Nước, Chống Cộng, Luân Lưu, Liên Lục Địa, Ngày Mới, Bản Tin Quân Nhân... (France), Văn Tiến (Belgique), Nguyệt San Nghệ Thuật, Nguyệt San Việt Nam... (Canada), Trắng Đen, Cỏ Thơm, Sóng Thần, Thế Kỷ 21, Thi Văn, Hồn Quê, Chí Linh, Đại Chúng, Con Ong Việt, Giao Mùa, Về Nguồn, Cánh Én, Thời Báo, Tự Do Dân Bản, Văn Hữu, Thời Luận, Đặc San Biển Đông, Trống Đồng, Mai, Việt Nam Nhựt Báo (Vietnamdailly) (U.S.A.). Nguyệt San Diễn Đàn Việt Nam - VN-Forum (Đức)... , Hương Xa (Na Uy) - Nhiều Diễn Đàn Điện Tử Âu & Mỹ... Góp mặt cùng với 27 nhà thơ Hải Ngoại trong "Tuyển Tập Thơ Mùa Tình Yêu Xuân 2000" Cỏ Thơm xuất bản, do Lưu Nguyễn Đạt và Nguyễn Thi-Ngọc-Dung chủ trương tại Virginia - U.S.A. Có thơ trong quyển "Esquisses de l’Âme" La Bibliothèque Internationale De Poésie 1999. Góp mặt cùng 31 nhà văn_thơ trong "Tuyển Tập Phụ Nữ Việt 2006". Góp mặt trong "Tuyển tập Thơ Văn Bến Trăng 2007" ...
Và rất say mê đóng kịch, hát cải lương tại Pháp. Lấy nghệ danh Quốc Hương.

Đã xuất bản và trình làng :

* Thi tập "BỐN PHƯƠNG CHÌM NỔI" tại PARIS 1998.
* Tập truyện "Gió Xoay Chiều" Xuất bản NGUYÊN VIỆT 2001.
* Tập truyện "Đàn Chim Việt" Xb Nguyên Việt Paris 2004.

Sắp ấn bản :

* Thi tập II "Cát Bụi"
* Thi tập III "Thoáng Qua"
* Truyện dài "Mai Ly"
* Tập truyện III "Bến Xưa".

Tâm niệm :

Mong muốn tất cả nhân loại đều yêu thương nhau. Lòng luôn luôn cầu nguyện cho một nền Hòa-Bình Thế-Giới.

Hiện cư ngụ :
Paris - France

vdnparis@yahoo.fr

***

Việt Dương Nhân, một hồn thơ ''nở hoa'' trên cát bụi


Hồ Trường An


Tôi quen Việt Dương Nhân từ năm 1977, khi tôi vừa định cư trên đất Pháp và bắt đầu trở lại nghề viết lách cho tới nay. Thuở đó cô say mê đeo đuổi theo nghệ thuật ca kịch cải lương. Cô lấy nghệ danh là Quốc Hương hợp cùng các nam nữ nghệ sĩ : Hữu Phước, Dũng Thanh Lâm, Minh Đức, Chí Tâm, Hương Lan, Phương Thanh, Mỹ Hòa, Kiều Lệ Mai, Hà Mỹ Liên, Kim chi, Lệ Hoa, Tài Lương, Minh Tâm, Hùng Tiến, Ngọc Lưu v.v... cùng những nhạc sĩ cổ nhạc : Michel Mỹ, Minh Thanh, Mai Thanh Hùng, Duy Đức v.v... thành một lực lượng hùng hậu.
Bạn bè trong giới văn nghệ thường gọi cô là Caroline, là Tuyết Hiver. Hiver là họ của chồng, còn cô họ Nguyễn, cô thuộc vào hàng thứ bảy trong gia đình.
Năm 1977, Việt Dương Nhân chỉ vào tam tuần. Cô không đẹp, nhưng dung nhan cô có nhiều nét thật đậm đà mà người Âu thường ưa chuộng: màu da sáng mịn và hồng hào chói lọi, lưỡng quyền hơi cao tạo cho gương mặt nét duyên dáng mặn mà, đôi môi đầy đặn và rõ nét, hai hàm răng khá đều đặn, nước men răng trắng bóng. Đáng kể là đôi mắt và giọng nói của cô. Đôi mắt có cái nhìn nung nấu và nồng nhiệt, làm người đối diện cô nghĩ rằng, người có đôi mắt ấy lúc nào cũng sẵn sàng lao tới lý tưởng, với ước vọng đam mê của mình. Giọng nói của cô khàn khàn và đặc sánh mật ong, tỏa ra cái âm vang dịu muốt như nhung mềm ở chót đuôi.
Thuở đó, Việt Dương Nhân ăn mặc giản dị, tóc chấm bờ vai, ít đeo nữ trang và cô tô son phấn thật gượng nhẹ, thật phơn phớt. Giữa tôi và cô quen biết thoáng qua.
Mới ra hải ngoại, tôi chưa cầm bút viết văn, hãy còn lận đận với nghề làm báo hơn viết báo. Cho nên công việc tôi rất phức tạp, rất rộn ràng. Còn Việt Dương Nhân thì say mê với nghệ thuật trình diễn. Nhà cô là nơi lui tới của các nghệ sĩ sân khấu, cô bung ra khỏi nếp sống thường nhật của gia đình để lao vào các cuộc lưu diễn thập phần hào hứng ở nhiều địa danh trên đất Pháp.
Mười sáu năm qua. Tôi đã bỏ nghề viết báo và bỏ nghề làm báo từ lâu. Tôi thiên cư về vùng Champagne cư ngụ.
Tôi hầu như lạc mất tin tức của Việt Dương Nhân. Vậy mà năm 1990, cô bắt liên lạc với tôi, gởi cho tôi bản thảo thi tập ‘’Tứ Hướng Thăng Trầm’’ nhờ tôi cho ý kiến. Tôi nói với cô ‘’Tứ Hướng Thăng Trầm’’ sao mà nghe nho quá. Cô hỏi tôi, lời rất chân thật : Bây giờ đổi tên gi ? Tôi nói : thì ‘’Bốn Phương Chìm Nổi’’. Cô kể lại cuộc đời trong mười mấy năm qua, biết bao là bất hạnh xẩy tới cho cô. Từ năm 1997, tôi và cô có nhiều dịp gặp nhau. Cô không già, răng cô vẫn đều như mười mấy năm về trước, có điều nước men răng phai bớt ánh sắc trân châu. Nhưng vóc mình cô vẫn thon gọn, vẫn mềm mại như cành lệ liễu, vẫn dẻo dai như nhánh thùy dương. Cặp mắt cô buồn quá đỗi, nụ cười cô lúc nào cũng man mác bâng khuâng.
‘’Tứ Hướng Thăng Trầm’’ được đổi lại là ‘’Bốn Phương Chìm Nổi’’ và được trình làng vào mùa thu năm 1998 (năm Mậu Dần).
Trước năm cô ra mắt sách, chúng tôi thường gặp nhau ở nhiều nơi dễ thông cảm nhau hơn, thân mật nhau hơn. Chúng tôi gặp nhau vào một buổi tối ở quán Cây Cau với các nhà báo Tin Tức, với học giả Võ Thu Tịnh, với họa sĩ Lê Tài Điển, với nhà thơ nữ Bích Xuân. Chúng tôi gặp nhau trong bữa ăn lễ Giáng Sinh tại quán Đào Viên với nhạc sĩ Xuân Vinh và ca sĩ Mỹ Hòa. Chúng tôi gặp nhau trong bữa tiệc đãi nhà văn nữ Trần Thị Nguyệt Hồng từ Việt Nam qua thăm. Hôm đó có Lê Tài Điển, có ông giám đốc nhà xuất bản An Tiêm, có nam ca sĩ Thanh Hùng, có cây sáo Đoàn Văn Linh, có nữ diễn ngâm Ngọc Xuân, có nhà nữ điêu khắc gia Đặng Vũ Anh Trần, và có nhà thơ nữ Bích Xuân.
Và trong hôm Việt Dương Nhân ra mắt sách, rất nhiều nhà văn nhà báo, các chính khách đến tham dự. Riêng các văn nghệ sĩ gồm có : học giả Võ Thu Tịnh, nhà báo Tô Vũ, chủ bút báo Nhân Bản Phạm Dương Đức Tùng, nhà báo Trần Trung Quân v.v... các nhà thơ: Hoàng Minh Tâm, Vân Hải, Xuân Nương, Bích Xuân, Hoàng Dương, Cao Xuân Tứ, Đỗ Bình, v.v...Nữ ca sĩ Ngọc Hải, đôi uyên ương nghệ sĩ Minh Đức, Kiều Lệ Mai, và danh đờn cổ nhạc Minh Thanh. Hôm đó tôi được ban tổ chức mời lên diễn đàn bày tỏ cảm nghĩ của mình. Tôi nói rất ít, nhưng cô rất hài lòng. Trước khi cầm máy vi âm, tôi tặng cô bảy bông hồng màu gạch non, bó hoa thì nhỏ, đóa hoa chỉ lớn bằng trái chanh làm tôi hơi áy náy, hơi bứt rứt khi nhìn bó hoa to mà một văn nghệ sĩ tặng cô trước đó. Hôm ra mắt sách, Việt Dương Nhân tha thướt trong chiếc áo dài tím đậm nổi những cụm hoa kim tuyến lóng lánh, khoác khăn san như cuộn sương mỏng ở ngoài.
Sau buổi ra mắt sách, Việt Dương Nhân còn gặp tôi trong hôm nhà thơ nữ Dư Thị Diễm Buồn từ Hoa Kỳ qua Paris trình làng thi tập ‘’Những Ngày Xưa Thân Ái’’ tại quán Cây Me. Hôm đó cô mặc Âu phục màu xanh lông chim anh vũ, khoác khăn sau, cô tô son màu hồng quế, đánh phấn màu hồng đào. Cô có dịp tâm sự với tôi nhiều hơn, mắt cô sáng ướt màn lệ mỏng. Cô uống rượu rất nhiều, hút thuốc liên miên. Đời cô buồn quá đỗi : Hôn nhân đổ vỡ. Bạn bè phản trắc. Một đứa con gái đang trong bệnh viện tâm thần. Đứa con trai yêu quý ở tận Hoa Kỳ. Người tình vì công việc làm ăn ở Lyon. Tối tối cô tìm cảnh quán khuya đèn muộn để uống rượu và tay châm điếu thuốc liên miên. Khi về tới nhà, cô loay hoay thao thức, có khi phải uống thuốc ngủ hoặc thuốc an thần.
Nhưng Việt Dương Nhân không già, không bệ rạc. Cô còn hai cái phao để nắm trong bể khổ chập chùng sóng cả nầy. Đó là niềm ngưỡng mộ ánh đạo vàng của đức Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni. Và kế đó là niềm yêu mến thi ca và công việc sáng tác của mình.
Song song với thi tập ‘’Bốn Phương Chìm Nổi’’, bản thảo thi tập ‘’Cát Bụi’’ được gởi tới cổ Nguyệt Đường của tôi vào 10 tháng 7 năm 1998. Cô nhờ tôi viết cho tập thơ hai của cô một cái Bạt.
‘’Cát Bụi’’ là một thi tập phản ảnh ít nhiều cuộc đời lẫn tâm sự của tác giả Việt Dương Nhân. Một tập thơ buồn, nhưng tác giả không thả nổi, không buông xuôi vào cái buồn chủ bại. Đâu đây vẫn còn lóe sáng ánh lửa tim yêu :


Anh nào thấu lòng này !
Phải chăng em đang say ?
Rượu cạn rồi mấy chai ?
Cháy bao nhiêu điếu thuốc ?
Mà nỗi sầu chưa nguôi !
Trái tim trói buộc rồi
Chỉ hình bóng anh thôi.

(Trích trong bài ''Ước Gì Có Anh")

Hoặc :

Một chàng Quân Tử giữa đời
Phun châu nhã ngọc tuyệt vời dìu đưa
Màn đêm giờ đã dần thưa
Bình minh ló dạng, nắng trưa lại về

''Tình Tri Kỷ''

Tác giả đã mất tình yêu, mất người chồng đã bao năm từng sống mặn nồng với cô. Nhưng định mệnh không dồn cô vào tuyệt lộ, cô còn tìm được một mối tình mới để nhìn cuộc đời bằng cặp mắt lạc quan. Đó là người đàn ông người Pháp rất ôn hòa, rất hào hiệp có thể làm bóng mát chở che cho cô.
Và Việt Dương Nhân vẫn còn tấm lòng yêu thương đối với Sài Gòn ngày cũ. Nơi đó dù là không phải nơi sinh quán của cô, nhưng là nơi cô từng sống hạnh phúc.
Đó là cõi thiên đường hạ giới mà cô luôn tâm niệm trở về :


Tim ta, em chẳng lu mờ
Sài Gòn thương nhớ, muôn đời mãi yêu
Ráng đợi ta nhé em yêu
Ngày về mình sẽ dặt dìu đường xưa.

''Yêu Mãi Sài Gòn''

Nhà thơ còn đã tìm thêm được lẽ sống khi chiêm ngưỡng ánh đạo vàng. Tôn giáo ở đây là điểm tựa tinh thần cho nhà thơ, một người đàn bà có trái tim mềm yếu và mẫn căm :


Ta đã chở thuyền sầu đầy ắp nập
Xác tâm nầy không còn chỗ nữa đâu
Lòng xoay chuyển, nguyện-cầu-an-nhân-thế
Dẹp sân si, tìm nhặt lấy Từ Bi

''Thuyền Sầu''

Lật từng trang giấy trong thi tập "Cát Bụi", các bạn đọc giả có thể tưởng tượng được chăng ở đầu thành phố Ivry-sur-Seine, giữa vùng xanh tươi có những cây bạch dương, cây ngô đồng, cây hạnh đào, cây nhược liễu, cây thanh tùng, và trong một căn lầu buồn bã có một người thiếu phụ ôm một mối sầu da diết. Nàng đi đi về về lủi thủi chiếc bóng. Có nhiều đêm nàng nhìn vầng trăng treo nghiêng trên ngọn soan đào, để mà nhớ quê hương, để mà sầu dĩ vãng. Nàng vừa nhâm nhi cốc rượu, vừa hút điếu thuốc này sang điếu thuốc khác để tìm ý thơ và vần thơ. Ngón tay mềm mại nàng gõ nhẹ trên máy vi toán, rồi sau đó những câu thơ hiện ra trên màn ảnh của máy, phản ảnh nguyên vẹn tâm trạng của nàng như dòng sông Seine trong vắt vào mùa xuân in bóng nguyên vẹn thành phố Ivry-sur-Seine. Thỉnh thoảng nàng đốt một nén nhang bạch đàn hoặc nén nhang trầm hương trên bàn Phật rồi chiêm ngưỡng nụ cười phản ảnh nguyên vẹn tâm Từ Bi của Đức Quán Thế Âm Bồ Tát, rồi mường tượng đến một cảnh giới giải thoát mọi trói buộc của phiền não mà trong kinh điển Phương Đẳng Đại Thừa thường nói tới. Đó là cuộc sống của nhà thơ nữ Việt Dương Nhân, cô bạn văn chương hào hiệp và sầu mộng của tôi.
Chúc cô ngoài tôn giáo, ngoài tấm lòng đùm bọc của người tình mới, sẽ tìm được ở nghệ thuật sáng tác thi ca một điểm tựa vững chắc của tinh thần.

Cổ Nguyệt Đường, chớm Xuân Kỷ Mão (1999)
Hồ Trường An

 Kính mời xem thêm : http://www.viet.no/forum/viewtopic.php?t=1227&postdays=0&postorder=asc&start=0

Đại Nhạc Hội Cải Lương
''Bông Hồng Cài Áo''
Quốc Hương & Đặc San ''Đời Ly Hương''
Tổ chức tại rạp hát Maubert Mutualilé

Paris 5ème

25 -10 -1987
 Bấm trên hình sẽ lớn ra

**********
Click >> thơ ::: TÂM :::





TÂM

Tâm bất dục, Tâm tươi, Tâm sáng,
Tâm dục tình như áng mây đen,
Tha Tâm ngăn chận đảo điên,
Bình Tâm thanh thản, an nhiên giữa đời.
(Ivry sur Seine, 1993)

Chổi Tâm

Chổi tâm quét dọn bao lần
Gió-đời-tám-ngọn sao còn đâu đây ?
Mắt nhìn tan hợp áng mây
Vô-thường, huyển hóa đêm ngày trôi qua

Có gì để dạ xót xa
Cho lòng giao động, lệ sa mi huyền
Bao năm học Đạo, Phật truyền
Thấm nhuần Bát-Nhã, đưa thuyền qua sông.
(Bạch-am, chiều đông 09-02-2003)

Mài Tâm

Thắm thoát trôi. Trôi mấy mươi năm.
Vẫn tay cầm bút viết âm thầm.
Văn chương chữ nghĩa không thông suốt.
Vậy mà mãi moi óc mài tâm ! ! !
(Chuyến đi thăm Trí Tâm - Los-Angeles, hotel Sofitel, chiều 20-09-1996)

Bình Tâm
Kính dâng Thầy Thích Minh T.

Bạch thầy con tỉnh mộng rồi
Mới hay là gió giữa đời bay nhanh
Cố quên những chuyện quẩn quanh
Giữ tâm Bình-Lặng cầu lành nơi-nơi.

Xả Tâm

Hạ bút...
Xả-tâm con viết gởi Thầy,
Thân con Tứ-Đại dạn dày gió sương.
Thăng-trầm xuôi ngược mười phương,
Ngày nay xin gởi khói hương nương nhờ.

Nhứt tâm con nguyện tôn thờ,
Như-Lai Tam-Bảo đợi chờ mãn viên.
Khổ đau tai nạn triền miên,
Đó là con bước vào miền nước TU...
(Tư gia T. Nga - Germany, Hamburg S.M., hè 15-08-1995)

Rửa Tâm

Nhứt nhứt, như như chùi rửa tâm,
Hằng ngày niệm niệm Quán-Thế-Âm.
Cho lòng không nổi cơn sóng gió,
Thân xác được êm lúc ‘’nghỉ nằm... !’’.
(Ivrys/Seine, mùa Vu-Lan 16-8-2000)

Hoa Tâm

Sáng nay bỗng thấy một cành Hoa
Từ xa ẩn hiện bay là đà
Cánh hoa màu trắng trong tinh khiết
Tạm gọi : ‘’Hoa Tâm’’ cõi Ta-bà...

Gươm Tâm

Bao lần nắm lưỡi Gươm Tâm
Chặt Anh tham dục, chặt Em tham tiền
Chặt bao tình ái cuồng điên
Chặt luôn những sợi ưu phiền đứt tan.
(Bạch-Am, 11 giờ 55 sáng 18-2-2000)

Tâm Nguyện

Nhục-vinh lên xuống bao lần
Áo thô, áo gấm cõi trần đã qua
Ngày nay ta hỏi cùng ta
Làm sao ở lại thiết tha với đời ?

Mong tất-cả cõi đời êm đẹp
Dẹp tình riêng, lòng tặng người-người
Có bao nhiêu tỷ trên đời
Bấy nhiêu Tâm-Nguyện cầu người bình-an...
(France, Ivry s/Seine, đêm 22-08-1990)

Bồ-Đề-Tâm

Tiếng chuông mõ vang vang đây đó
Hòa nắng vàng cây cỏ mừng vui
Xuân sang hoa lá xinh tươi
Động hồn thi sĩ, Tâm khơi Bồ Đề.

Hạ bút đề năm ba câu kệ
Mộng hồng trần nhân thế dứt mê
Cùng chia vui khổ vạn bề
Cuối đường chung cuộc cận kề Tòa Sen.

Giữa cảnh đời bao phen lận đận
Tìm nẻo tu lẫn tránh mây mù
Vầng Dương tan biến si, ngu
Tham-Sân là chốn ngục tù nhốt tâm.

(France, Villemomble, tư gia Hồng-Lộc, xuân 14-05-1999)
_____________________
:: Phủi Bụi Trừ Dơ ::



"Tâm Thức"
"Vạn vật trần gian chỉ Vô-Thường
Sang hèn, vinh nhục tợ như sương
Thênh thang một cõi không biên-xứ
Tâm trí đâu còn cảnh vấn vương

Vũ trụ bao la trước gió chiều
Đưa về tâm-thức buổi cô liu
Vô-biên tâm-thức không bờ bến
Lẳng lặng trời xanh một cánh diều

Bóng sắc hợp tan con bèo nổi
Cái thân tứ đại có còn chi
Nhứt tâm nhập định vô sở hữu
Chẳng có của ta một thứ gì.

Ráng chiều lấp lánh sắc y-vàng
Nước biếc theo dòng bọt vỡ tan
Chân bước vân-du trời chạng vạng
Mắt nhìn phong cảnh lối mênh mang.

Tham mê năm quẩn thời sanh tử
Chẳng nhiễm sáu căn tức Niết-Bàn
Giáo hóa tùy duyên nào chướng ngại
Niềm vui tự tại giữa trần gian...’’.


(Trích "Đạo Vàng Muôn Thuở - Đức Phật Thích Ca Đắc Đạo")

" TU LÀ GÌ ? "


" Tu, nghĩa là sửa mình. Tu là giữ gìn thân khẩu ý được thanh tịnh, để nhằm loại bỏ tam độc tham-sân-si, và những tánh hư nghiệp xấu mà từ vô thủy kiếp đến nay mình đã mắc phải. Tu là để tâm bình thường thoải mái, để hơi thở nhẹ nhàng luôn giữ chánh niệm không để chút lãng xao, cũng là để cho không ô nhiểm chút bụi trần nào...


Vui trong tham dục vui rồi khổ,
Khổ để tu hành, khổ quá vui,
Nếu biết có vui là có khổ,
Thà rằng đừng khổ cũng đừng vui,
Mong sao giữ tâm không vui khổ
Mới thoát ra ngoài lối khổ vui.
(... ...)
Ở đời sống đạo hãy tùy duyên
Tâm trí an vui chẳng lụy phiền
Ngoại cảnh sáu trần không dính mắc,
Nội tâm bát thức hãy điềm nhiên
Niệm tưởng khởi lên liền buông xả,
Chân tâm vắng lặng thấy bình yên,
Ấy là chân thật cho cuộc sống
Không bị lụy phiền cảnh đảo điên...’’.

(Trích "Bước Chân Xuất Thế")

---*---

" Tâm Xả "

"Qua sông đã tới được bờ
Bờ bên kia đó bây giờ là đây
Ngoảnh nhìn chốn cũ ô hay
Đâu là bờ ở bên này bên kia !"

(Thơ Nguyễn Thị Vinh)

Ngồi ngẩn ngơ đưa mắt nhìn ánh nắng đầu xuân qua song cửa, mà lòng buồn hiu hắt. Rồi đứng dậy nhìn lên bàn thờ Phật :


"Rũ sạch mùi trần cơn gió thoảng,
Trắng phau lòng đạo lúc trăng lên’’

Lảm nhảm mấy câu thơ Thiền của Dương Bá Trạc, lòng tự nhủ : "Mùi trần nặng quá, gió nào đủ mạnh để đưa qua sông nổi đây ? Còn ‘lòng đạo’ thì bị Vô-minh che khuất, bụi đời bám chặt... Biết bao giờ lau chùi cho ‘trắng phau’ ? Đôi khi chùi rửa sạch được vài ba phân, tưởng là giỏi lắm ! Rồi ỷ y, lơ đểnh bị nó đóng bám trở lại dầy năm, bảy tấc...".

Lòng mình vẫn thường cảnh giác, cố gắng ngăn chận là đừng để "tám-ngọn-gió-đời-làm-chao-động-ngọn-đèn-tâm". Bởi khi nghe những lời khen, chê, chỉ trích, tâng bốc... Bỗng sực nhớ đến bài thơ "Gươm Tâm":


"Bấy lâu nắm lưỡi Gươm-Tâm
Chặt Anh tham dục, chặt Em tham tiền
Chặt bao tình ái cuồng điên
Chặt luôn những sợi ưu phiền đứt tan..."

Vậy mà đôi khi, chính tai nghe, hoặc ai nói lại những chuyện buồn-vui, làm tâm hồn cũng bị chao đảo đôi chút. Nhưng rồi kịp chụp nắm bắt "cái tâm" lại. Bằng cách nghe ‘’Bát Nhã Tâm Kinh’’ và thụ trì quyển Kinh "Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật". Thường nghiền ngẩm quyển "Tứ Vô Lượng Tâm"; Từ, Bi, Hỷ có phần dễ thực hành hơn Xả. Sau đây, kính xin mạng phép chép lại gởi đến quý vị đoạn đầu và bài "Tâm Xả" :


"Sanh trong cảnh người thật hy hữu. Đời sống của chúng sanh quả là khốn khổ. Chớ để lỡ mất cơ hội này".
(Kinh Pháp Cú)


"Con người là một chúng sanh huyền-bí có nhiều tiềm-năng phi-thường.
Có hai năng lực trái ngược luôn luôn tiềm tàng ngủ ngầm trong mỗi người : một, hướng về cao thượng trong sạch, đặc tánh của các thánh nhân. Và một hướng về những điều tội lỗi, nhơ bẩn của kẻ sát nhân tàn bạo. Cả hai tiềm lực này đều có thể phát sanh bất ngờ với một sức mạnh vô cùng hùng hậu. Xuất xứ từ đâu ? Chúng ta không đặng rõ. Ta chỉ biết rằng nó luôn luôn nằm trong ta, nhiều hay ít, mạnh hay yếu, tùy trường hợp.
Trong guồng máy phức tạp của con người, có cái tâm vô cùng dũng mãnh. Tâm chứa đựng một kho tàng đức hạnh và một hầm tật xấu. Người biết vun bồi đức hạnh là một phước lành cho nhân loại. Kẻ bị tật xấu chi phối là một đại họa.
Những ai có chí hướng trở thành bậc vĩ nhân, cao thượng, và hữu ích, nhữnh ai muốn vượt lên đám đông quần chúng để phục vụ nhân loại bằng cách nêu gương lành trong sáng và ban bố những lời dạy hữu ích, những ai muốn tận dụng cơ hội quí báu được sanh làm người, đều hết sức gia công gội rửa những tật xấu còn lại và phát triển những đức hạnh đang ngủ ngầm trong tâm.
Khai thác hầm mỏ là một điều khó. Để tìm mỏ kim cương, mỏ dầu hay một nhiên liệu quí báu khác, con người phải tốn hao biết bao tiền của và công lao, phải trải qua biết bao hiểm nguy gian khổ, có khi phải nguy hiểm tánh mạng, để đào sâu vào lòng đất. Nhưng, để khai thác kho tàng vô giá đang ngủ ngầm bên trong con người, ta chỉ cần kiên trì cố gắng và nhẫn nại gia công. Mỗi người, dầu trai, dầu gái, sang hay hèn, đều có thể cố gắng và nhẫn nại để thâu thập sự nghiệp quí báu kia, vì đó không phải là một di sản do ông cha truyền lại.
Thế thường ta coi tật xấu của con người là thiên tánh ngẫu nhiên bộc phát. Âu cũng là một điều lạ !
Cũng lạ thay, tuy rằng đối chiếu với tật xấu có một đức tánh xác thực mà mỗi người đều có thể thọ hưởng, ta lại không coi đức tánh ấy là thông thường, phải có.
Sân hận (dosa) là một tật xấu có sức tàn phá vô cùng khốc liệt. Đối diện với lòng sân, tâm "Từ" (mettã) là một đức độ nhẹ nhàng êm dịu làm cho con người trở nên cao-thượng, tuyệt luân.
Hung bạo (himsã), một tật xấu khác đã gây biết bao tội ác và những điều tàn bạo trên thế gian. Tâm "Bi" (karunã) là vị thuốc có thể tiêu trừ bịnh hung bạo.
Ganh tỵ (issã) là chất độc cho cơ thể vừa là động lực thúc đẩy con người vào những sự nhơ bẩn và những tranh chấp hiểm nguy. Phương thuốc nhiệm mầu và công hiệu nhất để trị bịnh ganh tỵ là tâm "Hỷ" (muditã).
Bám víu vào những gì ưa thích và bất toại nguyện với những điều không vừa lòng làm cho tâm mất bình thản. Do sự phát triển tâm "Xả" (upekkhã) hai tệ đoan trên sẽ bị tiêu diệt dần dần.
(... ... ...)


''Tâm Xả''

Xả (Upekkhã) là đức tánh thứ tư trong Tứ-Vô-Lượng-Tâm, khó thực hành nhất mà cũng cần thiết nhất trong bốn đức tánh cao-thượng.
Phạn ngữ Upekkhã do hai căn nguyên ‘’upa’’ và ‘’ikkha’’. Upa là đúng đắn, chân chánh, vô tư. Ikkha là trông thấy, nhận định, suy luận. Vậy Upekkhã là trông thấy đúng đắn, nhận định chân chánh, hoặc suy luận vô tư, tức là không luyến ái cũng không ghét bỏ, không ưa thích cũng không bất mãn.
Xả (Upekkhã) ở đây không có nghĩa lạnh lùng lãnh đạm, không màng đến thế-sự cũng không phải cảm giác vô ký, không vui thích không phiền não.
Khinh rẻ, phỉ báng, nguyền rủa là thường tình. Hạng người trong sạch đạo đức thường bị chỉ trích và khiển trách. Giữa cơn giông tố của trường đời, người cao thượng luôn luôn giữ tâm bình thản.
Được, thua, thành, bại, ca tụng, khiển trách, hạnh phúc và phiền não là những việc thường xẩy ra trong đời làm xúc động con người. Được ca tụng thì vui thích, bị khiển trách thì buồn rầu là lẽ thường. Nhưng, giữa cuộc thăng trầm của thế sự, Đức Phật dạy ta, luôn luôn thản nhiên, hành tâm Xả, vững chắc như tảng đá to sừng sựng giữa trời.
Túc Sanh Truyện (Jãtaka) chép rằng :
"Trong hạnh phúc, trong phiền não, lúc thăng, lúc trầm, ta phải giữ tâm như đất.
Cũng như trên đất ta có thể vứt bất luận vật gì, dầu chua, dầu ngọt, dầu sạch, dầu dơ, đất vẫn thản nhiên, một mực trơ trơ. Đất không giận cũng không thương".

Đời sống của Đức Phật là một gương sáng về tâm Xả cho những ai còn luân chuyển trong vòng tam-giới (dục giới, sắc giới và vô sắc giới).
Chưa từng có vị giáo-chủ hoặc một nhân vật nào bị chỉ trích nghiêm-khắc, bị đả kích, sỉ-nhục hoặc bị lăng mạ nhiều như Đức Phật. Đức Phật lại cũng là người được tán dương, sùng bái và tôn kính nhất.
Ngày kia, trong khi Đức Phật đi trì-bình khất thực, có một đạo sĩ bà-la-môn ngạo-mạn kêu Ngài là người cùng đinh và đối xử với Ngài hết sức vô lễ, Ngài thản nhiên chịu đựng và ôn-hòa giải-thích cho đạo-sĩ thế nào là cùng đinh và vì sao chẳng nên khinh rẻ hạng người này. Vị đạo-sĩ lấy làm khâm phục.
Một lần khác có người thỉnh Đức Phật đến nhà trai tăng. Khi Đức Phật đến, chủ nhà lại dùng lời vô lễ, đối xử với Ngài một cách thậm tệ. Nhưng Đức Phật không tức giận, ôn-hòa hỏi chủ nhà :
- Nếu ông biết có khách đến nhà viếng ông, ông làm sao ?
- Tôi sẽ sửa soạn một bữa cơm để đãi khách.
- Tốt lắm,Đức Phật nói, nhưng nếu khách không đến thì sao ?
- Tôi sẽ cùng vợ con chia nhau bữa cơm.
- Tốt lắm, này bạn, hôm nay bạn mời Như-Lai đến nhà để đãi ăn. Bạn đã dọn lên cho Như-Lai những lời thô lỗ cộc cằn. Như-Lai không nhận. Vậy xin bạn hãy giữ lấy.
Lời nói này đã làm thay đổi hẳn thái độ của chủ nhà.
"Không nên trả thù. Khi bị nguyền rủa, mắng chửi, phải biết làm câm như cái mõ bễ. Được như vậy tức là đã đắc đạo quả Niết-Bàn, mặc dù trong thực tế chưa đắc".
Đó là những lời vàng ngọc mà Đức Phật khuyên ta nên ghi nhớ hằng ngày trong kiếp vô-thường biến đổi này.
Trong xứ nọ, có lần một mạng phụ phu-nhơn xúi giục một người say rượu đến nhục mạ Đức Phật thậm tệ đến đỗi Đại Đức Ananda không thể chịu được, yêu cầu Đức Phật sang qua xứ khác. Nhưng Đức Phật không đổi chỗ và cũng không hề xúc động.
Một người đàn bà khác giả có mang để vu oan Đức Phật giữa công chúng. Một phụ nữ khác nữa bị giết để vu cáo Đức Phật phạm tội sát nhân. Một người bà con và đệ tử của Đức Phật cũng manh tâm lăn đá từ trên đồi cao, quyết giết Ngài. Chí đến trong hàng đệ tử của Ngày cũng có người cho rằng Ngày thiên-vị, bất công. Một đàng khác bao nhiêu người đã tán dương công-đức và ca tụng Đức Phật. Bao nhiêu vua chúa đã khấu đầu lễ bái dưới chân Ngài.
Như đất, Đức Phật nhận tất cả với tâm Xả hoàn toàn.
Vững như voi, mạnh như hổ, ta không nên run sợ trước tiếng động. Miệng lằn lưỡi mối không làm cho ta xúc động. Như gió thổi ngang màn lưới mà không bị vướng trong lưới, tuy sống giữa chợ người, ta không nên luyến ái những lạc thú huyền ảo và vô thường của kiếp nhơn sinh. Như hoa sen, từ bùn dơ nước đục vượt lên trên bao nhiêu quyến rũ của thế gian, ta phải sống trong sạch, luôn luôn tinh khiết, yên tĩnh và an vui.
Người thù trực tiếp của Tâm Xả luyến ái (rãga) và kẻ thù gián tiếp của tâm Xả là sự lãnh đạm, thái độ lạnh lùng, xây lưng với thế sự.
Upekkhã lánh xa lòng tham ái và trạng thái bất mãn. Thái độ vô tư, thản nhiên, an tịnh là đặc tánh quan trọng của Tâm Xả. Người có Tâm Xả không thích thú trong vui sướng cũng không bực tức trong phiền não.
Người có Tâm Xả đối xử đồng đều, không thấy sự khác biệt giữa người tội lỗi và bậc thánh nhân.
Tâm Từ bao trùm mọi chúng sanh; tâm Bi, những chúng sanh đau khổ; tâm Hỷ, những chúng sanh hạnh phúc; Tâm Xả bao trùm việc tốt và xấu, những điều khả-ái và những điều khả-ố, thích thú và nghịch lòng.


*

Những ai chú nguyện trở thành thánh nhân trong chính kiếp này, có thể hằng ngày phát triển và trau dồi bốn đức tánh cao thượng trên, luôn luôn tiềm tàng bên trong mọi người.
Đức Phật kêu gọi :
Này chư Tỳ-Khưu, thí dụ như toàn thể vùng đất mênh mông này trở thành nước, và người kia bỏ xuống nước một cái ách, trên ách có một lỗ. Rồi có một cơn gió thổi, đẩy trôi cái ách từ Đông sang Tây, một ngọn gió nữa đẩy cái ách từ Bắc xuống Nam, và một ngọn khác nữa từ Nam lên Bắc. Và cứ như thế, cái ách triền miên trôi dạt trên mặt nước. Trong khi ấy có một con rùa mù, mỗi năm trồi lên mặt nước một lần. Như vậy, có thể nào con rùa mù, sau một lần trong năm, trồi lên mặt nước và thọc đầu ngay cái lỗ duy nhứt của ách không ?
Bạch hóa Đức Thế-Tôn, quả thật con rùa mù khó làm như vậy.
Này chư Tỳ-Khưu, cùng thế ấy, sanh vào cảnh người cũng khó như vậy. Cùng thế ấy, Giáo Pháp (Dhamma) và Giới Luật (Vinaya) mà một đấng Như-Lai tuyên bố khó có thể truyền bá trong thế gian.
Nhưng nay, này chu Tỳ-Khưu, quả thật vậy, trạng thái làm người đã đạt thành đạt, một đấng Như-Lai đã phát hiện trên thế gian. Giáo Pháp và Giới Luật mà Đức Như-Lai tuyên bố đã được truyền bá trong thế gian.
Vậy này, chư Tỳ-Khưu, các con phải kiên trì tinh tấn để chứng ngộ : "Đây là đau khổ, đây là nguyên nhân của đau khổ, đây là sự chấm dứt đau khổ, đây là con đường dẫn đến sự chấm dứt đau khổ’’.

(Trích chương 42 quyển ‘’Đức Phật và Phật Pháp’’)
Mùa Phật Đản 2547 và Vu Lan Báo Hiếu (2003)
 
_________
Vườn Tĩnh Lặng


"... Tâm có khả năng "thụ" tối ưu, khi giống như một tấm gương được lau sạch bóng, do đó phản ảnh được toàn bộ hiện thực chung quanh một cách tối đa, khi tâm trống rỗng, tịch lặng tối đa thì nó sẽ trở thành Đại Viên Cảnh Trí, tấm gương siêu khổng lồ ôm trọn cả vũ trụ trong lòng nó..."
("Tâm Linh" Tinh Tiến - TSVTVN tr. 164)

Vườn tĩnh lặng dịu êm trăng sáng
Cõi tâm trong hiện áng mây xanh
Tay liền phóng bút bay nhanh
Nhặt lời, kết chữ thả quanh địa cầu.
Vườn tĩnh lặng đêm thâu thanh vắng
Chẳng buồn vui, hồn lắng, tâm yên
Sóng đời xô dạt triền miên
Vững tâm lèo lái, đưa thuyền sang sông.
Vườn tĩnh lặng sáng trong ánh Nguyệt
Soi cảnh đời mặt thật nổi lên
Nhặt thâu tất cả làm nền
Cất xây đền Phật, ngồi bên Liên-Đài.
Vườn tĩnh lặng đêm ngày trống rỗng
Như gương trong, không bóng, chẳng hình
"Sắc-không, không-sắc" tự mình
Tùy duyên hóa-độ, tử-sinh lẽ thường.
Nếu đã bước vào vườn tĩnh lặng!
Bận lòng chi đêm vắn, ngày dài
Tâm cầu nhân thế thẳng ngay
Sợ ai, ai sợ ? Hòa-hài dưới trên.
Vườn tĩnh lặng mông mênh tinh khiết
Ngưới với Người phải biết nhún nhường
Ác-lành đều rải tình thương
Dìu nhau chung bước về phương Phật-Đà.

Diệu Thi_việt dương nhân

_______________
:: Phủi Bụi Trừ Dơ ::


***
Thơ Việt Dương Nhân
Tôn Vinh ''Thơ''

Mến gởi đến những tâm hồn đồng điệu

Thơ là tiếng "kêu tụ" lòng người,
Nói lên những lúc lệ sầu rơi.
Thơ là vị thuốc thần an ủi,
Ve vuốt hồn ta lúc chán đời !

*
Thơ là nhật - nguyệt "Thường" soi
Cõi lòng chất đọng sự đời của ta.
Thơ là tiếng nói xót xa,
Nấc lên tự đáy lòng đà nát đau.

Thơ là bất luận giàu nghèo,
Đói no không bận, thoáng vèo bay qua.
Thơ là tay "phóng bút" ra,
Dệt vần thơ nhỏ thiết tha tặng đời.

Thơ là nhặt chữ, kết lời,
Vẽ tranh, đan thảm gởi người dấu yêu.
Thơ là cảnh đẹp những chiều…
Mây hồng, nắng tỏa mỹ miều hoàng hôn.

Thơ là tán tụng, vinh tôn :
Hiền nhân, những bậc "Anh Hùng" thế gian.
Thơ là dịu ngọt "Chàng, Nàng",
Dìu nhau qua đoạn lầm than khốn cùng.

Thơ là ngọn chổi tâm hồn,
Quét đau thương sạch cõi lòng của ta.
Thơ là "Thuyền" rộng bao la,
Đưa dùm những kẻ muốn qua biển sầu. 

Thơ là muôn sắc, vạn màu,
Hiện trăm ngàn ảnh, ẩn bao nhiêu hình ?
Thơ là khối đọng chân tình,
Từ sâu thăm thẳm lòng mình vụt lên.

Thơ là liều thuốc thần-tiên,
Cứu người thoát cảnh ưu phiền khổ đau.
Tạ ơn "Thơ" biết là bao,
Đã lau dòng lệ tuôn trào bấy lâu.


Gió Đa Tình
Thương gởi đến những tâm hồn nghệ sĩ


Đã trót mang một tâm hồn nghệ sĩ,
Gió đa tình, lãng mạn có nghĩa gì
Bầu trời yêu, ôi! sao mà tuyệt mỹ,
Ở đâu đâu cũng huyền diệu mê ly.

Mấy đêm nay giấc ngủ thường mộng mị
Bóng một người đang ngự trị trong tim
Bỗng đang vui sao hồn đứng lặng im
Rồi hờn giỗi nghe tình yêu chết lịm.

Chuyện yêu đương ai nào dám đi tìm
Sao lại đến để hồn ta đổi tím
Cứ thẫn thờ quờ quạng kiếm vòng tay
Cho khỏi trống những đêm dài cô quạnh.

Người là ai, đốt lửa tình bạo mạnh ?
Làm hồn ta sờ sợ chuyện không lành
Vì trải qua ngang trái thuở ngày xanh
Còn tê tái nơi cõi lòng chưa lắng

Vẫn cám ơn người đến trong đêm vắng
Hiện bóng lên và nói cười văng vẳng
Sưởi lòng nầy qua cơn lạnh giá băng
Dệt mấy vần thơ trao tặng đến người...

Ta đa tình, lãng mạn xin đừng cười
Hồn nghệ sĩ trái tim mãi còn tươi
Mơ huyền thoại, nhìn tranh trên Tiên giới
Mộng phù du mà lại thấy tuyệt vời...
 
(Ivry s/Seine, nửa đêm 26-06-1998)

Tình Ngang Trái
(Khuyên Em)

Bốn giờ khuya, mà em chưa đi ngủ
Dưới đèn mờ ngồi ủ rũ chờ ai ?
Mà mắt em đôi dòng lệ chảy dài
Phải chăng "cơn điên tình" vừa trở lại ?

Làm hồn em quằn quại suốt đêm nay
Yêu làm chi chẳng có một ngày mai
Tình ngang trái. Em ơi ! Tình ngang trái !
Yêu một chiều, một hướng, khổ lắm thay !

Chị hiểu lòng em đang buồn tê tái
Chuyện đam mê là chuốc lấy đắng cay
Chị khuyên em hãy xóa bỏ đi ngay
Dầu đau khổ ngày qua ngày cũng lặn...!!

VDN


Bài Thơ Không Tựa

Một chiều đông, vứt bỏ đời cát bụi
Tưởng hết rồi những tủi nhục đắng cay
Tưởng hết rồi những sầu khổ trần ai
Bao năm tháng, tưởng tro tàn, lửa nguội.

Bước đường trần mấy ai ngờ may rủi
Sợi dây sầu vướng mắc giữa đường đi
Chiều hôm nao, dòng lệ ướm bờ mi
Bao kẻ hẹn bỏ mình ta chờ đợi!

Buồn não nuột không còn chi nghĩ ngợi
Vội ra đường, lê gót bước lang thang
Nghe gió lòng thổi lạnh buốt tâm can
Hồn trĩu nặng, mắt nhìn xa diệu vợi.

Ghé một nơi chẳng ai chờ, ai đợi
Mượn rượu đào để sưởi ấm hồn ta
Bỗng gặp người quen, Anh bước ngang qua
Lòng vui nhộn như được quà, được kẹo

Anh ghé vào, kể chuyện đời chồng chéo
Chén đầy vơi, cười nghiêng ngả quên đời...

vdn
(Bên bờ sông Seine, tiểu-gia-trang, 16 giờ 05, chiều hè 04-07-2002)



Men Tình 
  Chiều hè giọt nắng buông lơi
Nghe tim rung động bên Người vừa quen
Rượu chưa cạn chén, say mèm
Cơn tình đang bốc hơi men nồng nàn

Ngất ngây điệu nhạc, cung đàn,
Tim yêu rạo rực ngập tràn thế gian
Thôi rồi, khúc hát tình tan !
Ðưa ai vào cõi mênh mang ái tình.

Kia kìa ánh mắt lung linh
Ngàn sao, trăng sáng chỉ mình đôi ta
Mộng mơ tơ vướng Ngân-Hà
Vĩnh-hằng trong cõi trăng-hoa tuyệt vời.

vdn
(Ngoại ô Paris, chiều hè 2003 - tư gia nữ sĩ Hoàng Minh Tâm)


***
(13) 1
  Tên truyện Tác giả Xem
Đàn Chim Việt (16 tập)  - View: 624 Việt Dương Nhân Tập Truyện ngắn
Gió Xoay Chiều (15 tập)  - View: 724 Việt Dương Nhân Tập Truyện ngắn
Bến Xưa   - View: 404 Việt Dương Nhân Truyện Ngắn
Mai Ly (21 tập)  - View: 606 Việt Dương Nhân Truyện Dài
Niềm Tin   - View: 363 Việt Dương Nhân Truyện Ngắn
Mai ly ( tập 2 ) (8 tập)  - View: 518 Việt Dương Nhân Truyện Dài
Đêm Thu Năm Nào   - View: 335 Việt Dương Nhân Truyện Ngắn
Kẻ Bạc Tình   - View: 627 Việt Dương Nhân Truyện Ngắn
Đưa Người Qua Sông   - View: 354 Việt Dương Nhân Truyện Ngắn
Em Mãi Yêu Anh   - View: 1354 Việt Dương Nhân Truyện Ngắn
Mai Ly III (6 tập)  - View: 494 Việt Dương Nhân Truyện Dài
Tia Nắng Hoàng Hôn   - View: 334 Việt Dương Nhân Truyện Ngắn
Kiếp bơ vơ   - View: 449 Việt Dương Nhân Truyện Ngắn