NGÀY QUỐC HẬN LÀ NGÀY QUỐC HẬN - Trần Gia Phụng + Tháng Tư Tang Khó - Nguyễn Nhơn + NÚP BÓNG QUÂN ĐỘI TRONG THỦ ĐOẠN XÓA BỎ NGÀY QUỐC HẬN - Phan Đông Anh + ÂM MƯU BIẾN NGÀY QUỐC HẬN THÀNH NGÀY THUYỀN NHÂN? - Trần Gia Phụng


Biến cố 30-4-1975 là một sự kiện quan trọng trong lịch sử Việt Nam. Nhiều sách báo đã viết về biến cố nầy. Nhân sắp đến ngày 30-4, ở đây chỉ xin ôn lại diễn tiến trong ngày 30-4-1975 tại Sài Gòn.
1.- DIỄN TIẾN NGÀY 30-4-1975
Từ 26-4-1975, quân cộng sản bao vây Sài Gòn từ năm hướng: hướng bắc (Quân đoàn 1 CS), hướng tây bắc (QĐ 3 CS), hướng đông (QĐ 4 CS), hướng đông nam (QĐ 1 CS), hướng tây và tây nam (Đoàn 232 và SĐ 8 thuộc Quân khu 8 CS). Chiều 26-4, CS bắt đầu tấn công, đánh phá vòng đai phòng thủ bên ngoài, chiếm Long Thành, Trảng Bom, Nhơn Trạch, Bà Rịa, cắt đường số 4 từ Sài Gòn đi miền Tây.
Đối đầu với lực lượng lớn mạnh nầy, quân đội Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) bảo vệ thủ đô Sài Gòn chỉ gồm Quân đoàn III (hai sư đoàn 5 và 18), các chiến đoàn tập họp từ các sư đoàn của QĐ I và QĐ II di tản vào Sài Gòn, các lữ đoàn TQLC, Dù, các liên đoàn BĐQ, một số trung đoàn Pháo binh, Kỵ binh thiết giáp và Nghĩa quân, Địa phương quân. Các đơn vị nầy đều thiếu quân vì trước đó đã bị tấn công, phải di tản, đồng thời thiếu trang bị võ khí, đạn dược và thiếu nhiên liệu cần thiết.
Chiều 28-4, ngay sau khi cựu đại tướng Dương Văn Minh vừa nhận chức tổng thống, 5 chiếc A-37 trước đây của Không quân VNCH bị CS tịch thu, nay dưới sự hướng dân của Nguyễn Thành Trung, cựu trung úy phi công VNCH, vốn là đảng viên CS cài vào Không quân VNCH, bay đến thả bom sân bay Tân Sơn Nhứt. Tối hôm đó, CS tiếp tục pháo kích vào sân bay Tân Sơn Nhứt làm hỏng các phi đạo. Phi trường không thể sử dụng được, nên phải dùng trực thăng đề di tản.
Hôm sau 29-4, CS chiếm được các căn cứ Nước Trong, Long Bình, thành Tuy Hạ (quận Long Thành, tỉnh Biên Hòa), Đồng Dù (Củ Chi), Hậu Nghĩa. Sáng 30-4 quân CS bắt đầu tiến vào nội thành Sài Gòn. Trước sự đe dọa của CSVN, ảo vọng thương thuyết của Dương Văn Minh hoàn toàn tan vỡ. Cuối cùng, lúc 10G 24 phút sáng 30-4-1975, qua đài phát thanh Sài Gòn, Dương Văn Minh, với tư cách tổng thống tổng tư lệnh quân đội, nhận chức trước đó hai ngày, ra lệnh toàn thể quân đội VNCH ngưng chiến đấu, hạ khí giới. Sau đây là nguyên văn lời Dương Văn Minh:
Đường lối, chủ trương của chúng tôi là hòa giải và hòa hợp dân tộc để cứu sinh mạng đồng bào. Tôi tin tưởng sâu xa vào sự hòa giải giữa người Việt Nam để khỏi phí phạm xương máu của người Việt Nam. Vì lẽ đó, tôi yêu cầu tất cả các anh em chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa hãy bình tĩnh ngưng nổ súng và ở đâu thì ở đó. Chúng tôi cũng yêu cầu anh em chiến sĩ chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam ngưng nổ súng, vì chúng tôi ở đây đang chờ gặp chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam để cùng nhau thảo luận lễ bàn giao chính quyền trong vòng trật tự, tránh sự đổ máu vô ích cho đồng bào.” (Trần Đông Phong, Việt Nam Cộng Hòa, 10 ngày cuối cùng, Fountain Valley, CA: Nxb. Nam Việt, 2006, tr. 358)
Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, tổng tham mưu phó quân đội VNCH, thay mặt trung tướng Vĩnh Lộc, tổng tham mưu trưởng (vắng mặt), ra lệnh cho tất cả quân nhân các cấp phải nghiêm chỉnh thi hành lệnh của tổng thống Dương Văn Minh.
Lúc 11G 30 phút ngày 30-4-1975, xe tăng của Đại đội 4, Lữ đoàn Thiết giáp 203 CS tiến vào dinh Độc Lập. Lúc đó, một số cán bộ Trung đoàn 66 thuộc Sư đoàn 304 CS, do đại úy trung đoàn phó Phạm Xuân Thệ dẫn đầu, đến phòng họp dinh Độc Lập, nơi có mặt tổng thống Dương Văn Minh và nội các của thủ tướng Vũ Văn Mẫu. Đại úy Thệ đã nói thẳng với Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫu rằng các ông bị bắt làm tù, phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện và không có gì bàn giao cả. Sau đó, quân CS áp tải Dương Văn Minh tới đài Phát thanh để đọc lời tuyên bố đầu hàng. Tại đài phát thanh, các sĩ quan CS soạn tại chỗ lời đầu hàng, và buộc cựu đại tướng Dương Văn Minh phải đọc như sau:
Tôi, đại tướng Dương Văn Minh, tổng thống chính quyền Sài Gòn, kêu gọi quân đội Việt Nam Cộng Hòa hạ vũ khí, đầu hàng vô điều kiện quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam. Tôi tuyên bố chính quyền Sài Gòn, từ trung ương đến địa phương phải giải tán hoàn toàn, giao toàn chính quyền từ trung ương đến địa phương lại cho chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam.” (google.com.vn) (vào chữ Dương Văn Minh, tìm 30-4.)
Trước áp lực của họng súng quân thù, cựu đại tướng Dương Văn Minh đành phải đọc bản văn do CS soạn sẵn, “kêu gọi quân đội Việt Nam Cộng Hòa hạ vũ khí, đầu hàng vô điều kiện quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam.” Quân đội VNCH liền ngưng chiến đấu, tự nhiên rã ngủ, trong khi còn nhiều đơn vị vẫn muốn tiếp tục chống cộng, nhất là Quân đoàn IV vẫn còn nguyên vẹn, chưa thất trận. Việt Nam Cộng Hòa hoàn toàn sụp đổ.
2.- NGÀY QUỐC HẬN
Thông thường, người ta tản cư hay di tản khi chiến tranh bùng nổ. Người ta bỏ chạy để tránh lửa đạn. Đàng nầy, chiến tranh chấm dứt ngày 30-4-1975, lửa đạn không còn, mà người ta bỏ chạy, chạy xa thật xa, nghĩa là người ta sợ cái gì còn hơn lửa đạn.
Ngay khi CS chiếm Sài Gòn, khoảng 150,000 người Việt bỏ ra nước ngoài, trong đó khoảng 140,000 đến Hoa Kỳ và khoảng 10,000 đến các nước khác. (Nguồn: UNHCR, The State of the World's Refugees - Fifty Years of Humanitarian Actions, ch. 4, tr. 81.) Cộng sản Việt Nam tố cáo những người di tản là tay sai đế quốc Mỹ. Theo luận điệu nầy, trưa ngày 30-4-1975, Trịnh Công Sơn lên đài phát thanh Sài Gòn phát biểu rằng: “Những kẻ ra đi chúng ta xem như là đã phản bội đất nước.” (Trích nguyên văn: http://ngoclinhvugia.wordpress.com/). Viên nhạc sĩ nầy còn hát bài “Nối vòng tay lớn”, nhưng dân chúng không chấp nhận vòng tay lớn của CS, tiếp tục ra đi dù bị kết tội “phản quốc”.
Sau ngày 30-4-1975, càng ngày càng có nhiều người kiếm cách ra nước ngoài, dầu phải hy sinh chính mạng sống của mình, tạo thành phong trào vượt biên. Theo thống kê của Cao ủy Tỵ nạn Liên Hiệp Quốc đưa ra năm 2000, từ ngày 30-4-1975 cho đến cuối năm 1995, tổng số người di tản và vượt biên đến được các trại tỵ nạn là 989,100 (gần một triệu) kể cả đường biển lẫn đường bộ. Người ta phỏng chừng có khoảng từ 400,000 đến 500,000 thuyền nhân bỏ mình trên biển cả hay bị hải tặc bắt giết. Ngoài ra, phải kể thêm số người rời Việt Nam qua các hải đảo nhưng không đậu thanh lọc và bị đuổi về nước. Nếu kể thêm chương trình ODP (Orderly Departure Program) và chương trình HO do chính phủ Hoa Kỳ tài trợ, đưa vài trăm ngàn người nữa ra nước ngoài bằng đường chính thức, thì tổng cộng tất cả các số liệu trên đây, sau khi CS chiếm miền Nam Việt Nam, trên 1,500,000 người Việt đã bỏ nước ra đi.
Đây chỉ là những người có điều kiện ra đi. Còn biết bao nhiêu người muốn ra đi mà không đi được. Nghệ sĩ TrầnVăn Trạch đã từng nói một câu bất hủ: "Ở Việt Nam hiện nay, cây cột đèn cũng muốn ra đi.
Trước khi quân cộng sản vào Sài Gòn, nhiều chức quyền cao cấp VNCH đã di tản ra nước ngoài. Trong số các chức quyền ở lại, có phó tổng thống rồi tổng thống Trần Văn Hương. Ngày 28-4-1975, trước khi bàn giao chức vụ tổng thống cho Dương Văn Minh, đại sứ Pháp ở Sài Gòn cho người đến mời tổng thống Hương di tản. Ông Hương trả lời: “Nếu trời hại, nước tôi mất, tôi xin thề là tôi sẽ ở lại đây và mất theo nước mình.” Sau khi Trần Văn Hương giao quyền tổng thống cho Dương Văn Minh tối 28-4, thì hôm sau, ngày 29-4 đích thân đại sứ Hoa Kỳ là Graham Martin đến gặp Trần Văn Hương và mời ông ra đi. Trần Văn Hương trả lời như sau: “Thưa ông đại sứ, tôi biết tình trạng hiện nay rất là nguy hiểm. Đã đến đỗi như vậy, Hoa Kỳ cũng có một phần trách nhiệm trong đó. Nay ông đại sứ đến mời tôi ly hương, tôi rất cảm ơn ông đại sứ. Nhưng tôi đã suy nghĩ kỹ và dứt khoát ở lại với nước tôi. Tôi cũng dư biết rằng cộng sản vào được Sài Gòn, bao nhiêu đau khổ, nhục nhã sẽ trút xuống đầu dân chúng miền Nam. Tôi là người lãnh đạo hàng đầu của họ, tôi tình nguyện ở lại để chia sẻ với họ một phần nào niềm đau khổ tủi nhục, nỗi thống khổ của người dân mất nước. Cảm ơn ông đại sứ đã đến viếng tôi.” Sau khi nghe Trần Văn Hương trả lời, Martin nhìn trân trân vào ông Hương, rồi ra đi mà chẳng bắt tay từ biệt. (Trần Đông Phong, sđd. tt. 352-355.)
Trần Văn Hương thấy trước và nói rất đúng: “Tôi cũng dư biết rằng cộng sản vào được Sài Gòn, bao nhiêu đau khổ, nhục nhã sẽ trút xuống đầu dân chúng miền Nam.” Nước mất là mất tất cả. Mất tất cả các quyền tự do dân chủ, cả tôn giáo, văn hóa, mất tài sản, nhà cửa, đất đai, ruộng vườn, có người mất luôn cả thân nhân nữa. Trước ngày 30-4-1975, dầu chưa hoàn thiện, dầu bị giới hạn vì chiến tranh, chế độ Cộng hòa vẫn là chế độ tự do, dân chủ, tôn trọng dân quyền và nhân quyền.
Khi mới chiếm được miền Nam, cộng sản bắt ngay sĩ quan, công chức, cán bộ của VNCH còn lại trong nước giam giữ dài hạn, không tuyên án trên các vùng rừng thiêng nước độc. Số lượng sĩ quan, công chức và cán bộ VNCH bị bỏ tù khoảng hơn 1,000,000 người tại trên 150 trại giam; theo đó, khoảng 500,000 được thả về trong 3 tháng đầu, 200,000 bị giam từ 2 đến 4 năm, 250,000 bị giam ít nhất 5 năm, và năm 1983 (tức sau 8 năm) còn khoảng 60,000 người bị giữ lại. (Spencer C. Tucker, Encyclopedia of the Vietnam War, a Political, Social, and Military History, Volume Two, Santa Barbara, California, 1998, tr. 602.) Số liệu nầy theo dư luận chung, còn thấp hơn so với số lượng người và số năm bị thực giam. Ngoài ra, trong số trên 1,000,000 người bị tù sau năm 1975, theo những cuộc nghiên cứu ở Hoa Kỳ và Âu Châu, có khoảng 165,000 nạn nhân đã từ trần trong các trại tù "cải tạo". (Anh Do & Hieu Tran Phan, “Millions of lives changed forever with Saigon's fall”, nhật báo Orange County Register, số ngày Chủ Nhật, 29-4-2001, phụ trang đặc biệt về ngày 30-4, tt. 2-3.) Sau khi bắt giam hàng triệu công chức quân nhân trên toàn cõi miền Nam Việt Nam, cộng sản trấn áp dân chúng miền Nam bằng nhiều phương thức khác nhau:
Thực hiện chế độ hộ khẩu, ai ở đâu ở yên đó, không được di chuyển, không có quyền tự do đi lại. Muốn đi lại phải xin giấy phép khó khăn. Về kinh tế, cộng sản đổi tiền nhiều lần một cách tàn bạo. (Đổi lần đầu ngày 22-9-1975, 500 đồng VNCH lấy 1 đồng mới. Đổi lần thứ hai ngày 3-5-1978 và lần thứ ba ngày 14-9-1985.) Cộng sản tổ chức đánh tư sản mại bản, tư sản dân tộc, tư sản nhỏ (tiểu tư sản), lục soát nhà cửa, tịch thu vàng thật, rồi lập biên bản là “kim loại có màu vàng”, để đổi vàng giả.
Cộng sản cướp nhà cửa, buộc những người khá giả phải hiến đất, hiến nhà để khỏi bị tù. Tại thành phố, CS đưa vào quốc doanh tất cả những xí nghiệp, cơ sở kinh doanh do CS quản lý. Tại nông thôn, CS quốc hữu hóa toàn thể đất đai, ruộng vườn; nông dân phải vào hợp tác xã, làm việc chấm công để lãnh lúa, dân chúng gọi là “lúa điểm” tức “liếm đũa”. Cộng sản buộc dân chúng phải đi kinh tế mới, sống trên những vùng khô cằn, nghèo khổ. Cộng sản thi hành chính sách ngăn sông cấm chợ, để CS độc quyền lưu thông và phân phối hàng hóa. Tất cả chính sách của CS nhắm làm cho dân chúng nghèo khổ cho CS dễ cai trị.
Chính sách cai trị của CS sau năm 1975 đưa Việt Nam đến bờ vực thẳm, nguy hại cho chính CS. Trước tình hình đó, CS mở phong trào đổi mới từ năm 1985. Cộng sản đổi mới để tự cứu mình chứ không phải để cứu dân tộc Việt Nam. Từ đó, Việt Nam thay đổi dần dần, nhất là từ khi Việt Nam gia nhập WTO vào đầu 2007. Tuy nhiên dầu đổi mới về kinh tế nhưng cộng sản vẫn duy trì độc quyền chính trị, lo sợ "diễn biến hòa bình", định hướng kinh tế xã hội chủ nghĩa, không cho tự do báo chí, bóp nghẹt tự do dân chủ, không tôn trọng dân quyền và nhân quyền. Cho đến nay, ở trong nước chưa có một tờ báo tư nhân, chưa có một tổ chức hay đoàn thể chính trị nào đứng ngoài quốc doanh.
Như thế, ngày CS vào Sài Gòn, chấm dứt chế độ VNCH, là một biến cố lịch sử có tầm vóc lớn lao, làm thay đổi dòng sinh mệnh dân tộc, ảnh hưởng lâu dài cho đến ngày nay. Ngày 30-4 cũng là ngày mở đầu thảm họa chẳng những cho dân chúng miền Nam mà cho cả toàn dân Việt Nam khi chế độ cộng sản càng ngày càng bạo tàn, tham nhũng và nhất là lộ rõ bộ mặt tay sai Trung cộng, dâng đất, nhượng biển, quy lụy Bắc Kinh để duy trì quyền lực. Vì vậy dân chúng gọi ngày nầy là ngày Quốc hận. Hai chữ Quốc hận do dân chúng tự động đặt tên cho ngày 30-4 và truyền khẩu với nhau thành danh xưng chính thức, chứ không có một chính phủ, hay một đoàn thể chính trị nào đặt ra. “Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ.”
3.- NGÀY QUỐC HẬN LÀ NGÀY QUỐC HẬN
Những người vượt biên được gọi chung là thuyền nhân. Thuyền nhân là từ ngữ được dịch từ chữ “boat people” trong tiếng Anh, xuất hiện từ cuối thập niên 70 để chỉ những người Việt bỏ nước ra đi sau khi cộng sản cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam.
Người Việt vốn ràng buộc với đất đai, ruộng vườn, chỉ ra đi trong hoàn cảnh bất đắc dĩ mà thôi Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, số lượng người Việt bỏ nước ra đi lên đến hàng triệu người. Đặc điểm nổi bật của phong trào thuyền nhân là tất cả những người vượt biên đều tự nguyện ra đi, tự mình muốn ra đi, hoàn toàn tự phát ra đi theo từng gia đình, từng nhóm nhỏ. Không có một đảng phái, một thế lực chính trị hay một nước ngoài nào can thiệp hay tổ chức cho thuyền nhân ra đi. Có khi, nhà cầm quyền CS lợi dụng lòng khao khát ra đi tìm tự do của dân chúng để bán bãi, hay tổ chức vượt biên bán chính thức nhằm lấy vàng. Dầu ra đi trong kế hoạch mà CS gọi là “bán chính thức”, người ra đi vẫn là những người tự nguyện muốn rời bỏ Việt Nam để tránh nạn độc tài cộng sản.
Như thế, vượt biên hay thuyền nhân là một phong trào của vài triệu người, kéo dài trong nhiều năm và nhiều địa điểm khác nhau. Phong trào nầy là hậu quả của ngày Quốc hận 30-4. Ngày 30-4 là ngày đánh dấu sự thành công của chế độ độc tài toàn trị, gây tang thương cho dân tộc Việt Nam. Nỗi đau nầy càng ngày càng nhân lên khi CSVN càng ngày càng đàn áp phong trào dân chủ quốc nội. Chỉ vì lòng yêu nước, người Việt biểu tình phản đối Trung Quốc xâm lược mà cũng bị CSVN bắt giam thì trên thế giới, chuyện nầy chỉ xảy ra ở Việt Nam.
Hai sự kiện ngày Quốc hận 30-4 và Phong trào thuyền nhân hoàn toàn khác nhau và không thể lẫn lộn nhau. Ngày 30-4 là ngày kỷ niệm Quốc hận của toàn dân. Phong trào thuyền nhân ban đầu chỉ khoảng 1,500,000 người. Nếu ngày nay, dân số thuyền nhân phát triển lên khoảng 3,000,000, thì ở trong nước, dân số tăng lên mấy chục triệu người.
Vì vậy, để kỷ niệm phong trào vượt biên, ngày 28-4-2009, toàn thể Hạ viện Hoa Kỳ đã thông qua nghị quyết số 342 do dân biểu liên bang Hoa Kỳ gốc Việt Nam là Cao Quang Ánh đề xướng, ấn định ngày 2-5-2009 là “Ngày Vinh Danh Người Tỵ Nạn Việt Nam” tại Hoa Kỳ (tức thuyền nhân Việt cộng them những người ra đi theo chương trình ODP và HO). Sau đó, ngày 12-8-2009, Hội đồng thành phố Westminster, (thuộc Orange County, tiểu bang California) thông qua nghị quyết số 4257, ấn định ngày Thứ Bảy cuối cùng của mỗi tháng Tư hằng năm là “Ngày Thuyền Nhân Việt Nam”. Westminster là thành phố có Tượng đài Chiến sĩ Việt Mỹ, khánh thành ngày27-4-2003, và từ đó là nơi diễn ra lễ Kỷ niệm ngày Quốc hận hàng năm của Cộng đồng Người Việt Tỵ nạn CS.
Cả hai nghị quyết trên đây đều chọn một ngày khác với ngày 30-4 để kỷ niệm phong trào thuyền nhân, nhằm tránh làm mất ý nghĩa quan trọng của ngày Quốc hận 30-4. Chỉ có cộng sản và những người làm tay sai cho CS mới cố tình vận động chuyển đổi ngày Quốc hận 30-4 thành ngày Thuyền nhân, nhằm làm giảm nhẹ tội lỗi của cộng sản Việt Nam trước lịch sử, trong khi tội lỗi của cộng sản đối với dân tộc Việt Nam không thể xóa bỏ được.
Mưu toan nầy hoàn toàn thất bại vì Cộng đồng Người Việt Hải ngoại quyết liệt phản đối, chỉ vì một lý do đơn giản, thật đơn giản: NGÀY QUỐC HẬN LÀ NGÀY QUỐC HẬN, không thể nào khác hơn được và không có chữ nào đúng hơn được.
TRẦN GIA PHỤNG
(Toronto, 01-02-2012)
 


 ********

Thái-Dương Thành, APR-01-12
Bắt đầu của Tháng 4 đen
Xin cùng khơi hận đứng lên diệt thù.
NP
QUỐC-HẬN LÀ QUỐC HẬN
NGẢY QUỐC HẬN 30 THÁNG 4.
Đi vào lịch-sử tạc thiên thu.
Hoa-Kỳ phản bạn đem buôn bạn.
Việt-Cộng căm thù được trả thù.
Thằng nọ ma sai đòi xóa hở ?
Con kia quỷ dạy tạo quên ư ?
Còn khuya ! Nghị-Quyết 36,
Hà-Nội chỉ lừa những lũ ngu.
TDT, APR-01-12
Ngô-Phủ
NGÀY QUỐC-HẬN

              30 tháng 4, 75.
Là Ngày Quốc-Hận Việt-Nam Cộng-Hòa.
                          /_
     Cần nhắc dẫu quần ma Cộng-phỉ.
     Lũ vong nòi đều bị thiêu tan,
          Rụi luôn cờ đỏ sao vàng,
Và Dân-Chủ đã huy-hoàng âu-ca.
     Cần nhắc để dân ta ý-thức,
     Tránh dã-man, bạo-lực, cường quyền,
          Bán tình, bán nghĩa thề nguyền,
Vô-lương, tán tận, thói quen Hoa-Kỳ.
     Cần nhắc để khắc ghi tội ác,
     Lũ mượn danh Karl marx, Lénin,
          Mỵ đời, lừa gạt chúng-sinh,
Mưu đồ phú-quý, hiển-vinh tập đoàn.
     Cần nhắc để cháu con sáng mắt,
     Từ khi bầy loạn tặc lên ngai,
          Biên-cương, lãnh-hải, đất-đai,
Chúng dần cống hiến quan thầy Tàu-Ô.
     Cần nhắc để tiền-đồ thế-hệ,
     Cháu Triệu, Trưng, hậu-duệ Ngô-Vương,
          Cháu ngài Hưng-Đạo, Quang-Trung,
Cháu ngài Lê-Lợi chẳng dung giặc Tàu. 
     Cần nhắc để cùng nhau kính cẩn,
     Tưởng-niệm công bao vạn vong linh,
          Hiến thân vì nước hy-sinh,
Như vì yêu chuộng thanh-bình vượt biên.
                           /_
          Đã xưng con cháu Rồng-Tiên,
Còn kia Cộng-Sản, đứng lên diệt thù.

TDT, APR-01-12
Ngô-Phủ

==============================
Phương-châm :
Chí phò : Diệt Cộng-Sản Hà-Nội.
Tâm trợ : Gìn Văn-Chương Việt-Nam.
Ngô-Phủ
==============================

 ngophu72@cox.net

 ******

Tháng Tư Tang Khó

Tháng tư buồn, nhớ quê nhà Miền Nam yếu dấu. Nhớ về Làng Bưng Cầu, nơi chôn nhau, cắt rốn, Thủ Dầu Một, Bình Dương. Nhớ người mẹ già nay không còn nữa. Nhớ lời mẹ dạy ngày xưa: Một là, không được dối trá. Hai là, sống cho có nghĩa, có nhân.

Con nghe lời mẹ dạy, chuộng điều nhân nghĩa. Gặp thời buổi vận nước ngả nghiêng, bọn hung tàn, quỉ đỏ phủi sạch “Đại Nghĩa Dân tộc”, bằng súng đạn tàn phá, xâm chiếm Miền Nam. Bằng tấm lòng nhân nghĩa, con của mẹ không đương cự được, đành để mất nước, thân lưu lạc xứ người. Ngày nay con của mẹ cũng đã già, mỗi độ Tháng Tư về chỉ biết ngậm ngùi nhìn về bên kia bờ Đại Dương, nhớ nhà, nhớ xứ.

QUÊ NHÀ MIỀN NAM, MỘT THUỞ HUY HOÀNG

Làng Bưng Cầu, tuy chỉ cách tỉnh lỵ Thủ Dầu Một chưa đầy năm cây số ngàn, vẫn là một làng quê, phần lớn là đồng khô, cỏ cháy, chỉ có một vạc ruộng chạy dọc dài theo hai bên bờ suối, có cây cầu ván bắc ngang nên mới gọi Bưng Cầu. Tên chữ thì đẹp là Tương Bình Hiệp. Ở nhà mẹ dạy điều nhân nghĩa, cắp cặp đệm vô trường làng, thầy dạy, học lễ, học văn: Tiên học lễ, hậu học văn. Lễ là khoanh tay, cúi đầu, đi: thưa, về: trình. Văn là học chữ cho biết điều nghĩa, lý. Cứ vậy mà đi cho hết lớp nhứt trường làng. Rồi, sáng tinh mơ, quơ “con cúi” soi đường ra học trường tỉnh, biết thêm sự tích bà Trưng, bà Triệu, Hội nghị Diên Hồng. Ra tỉnh, gặp cơn gia biến, học trầy trật mãi tới 15 tuổi mới thỉnh được cái bằng Tiểu học. Nhưng, vậy vẫn còn ngon, các ông nhỏ thế hệ 1930s, vì chiến tranh, học hành dang dở, có ông tuổi 17, 18 mới giựt được cái certificat d'étude primaire. Hồi đó, lận lưng cái Tiểu học cũng có cơ hội làm ăn: hoặc có dịp xin vào thơ ký công nhựt, hoặc trợ giáo viên (instituteur auxiliaire), hoặc chịu khó lên vùng sở cao su, xin làm giám thị có khi cũng mở mặt.

Lên trung học mới thật là quờ quạng. Thời đó, cả Saigon và Miền Đông chỉ có mỗi một trường Trung học công lập Pétrus Ký, thi tuyển thật gắt gao, cả trăm lấy vào chỉ năm, bảy nhơn nên thi rớt, phải theo nghiệp trường tử, trường tư. Cả xứ Thủ chỉ có một Trung học Tư thục mà cũng không chuyên nghiệp, hầu như anh, chú học trước, dạy lại cho em cháu học sau. Cho nên việc học thật là trầy trật. Đã vậy còn thêm cái nợ mơ mộng tuổi thanh xuân. Nào là:

… Buồn vào hồn...không tên...
Thức giấc nửa đêm … nhớ chuyện xưa...vào đời
Đường phố.... vắng...đêm nao...ta hẹn hò.

Nào là:

Sơn nữ oi!
Làm chi … cho đớn đau lòng...
Trong một thời gian...rồi thương, rồi nhớ...

Đã vậy còn hơi hám chánh trị, giữa niên học 1956-57 đang học Đệ tứ niên, lo học thi túi bụi mà vẫn tham gia vận động bầu cử thành lập Đệ Nhất Cộng Hòa. Ngày lễ mừng Đệ Nhất Cộng Hòa, chàng trai tuổi 18 đứng trên kiệu hoa, hăng hái huơ dao chém rắn ba đầu Phong-Thực-Cọng. Học hành lãng đãng vậy mà cuối năm vẫn thi đậu một lượt cả hai bằng Brevet du premier cycle lẫn Trung học Đệ nhứt cấp mới thật là kỳ. Thừa thắng xông lên, ta học nhảy lớp. Cuối năm sau, đậu Tú tài phần 1 gọn bân. Năm sau, vừa học vừa dạy giờ, vừa lái Ếch bà rong chơi vẫn đỗ Tú tài toàn phần như số mạng định sẳn.

Viết vậy để cầu vui cho qua Tháng Tư buồn chớ thật sự chương trình Trung học Phổ thông thời đó nặng lắm! Có thể nói mở mắt ra là thi: Thi lên lớp, thi lấy bằng cấp. Tám tuổi học lớp Ba: Thi lấy bằng sơ học. Mười hai tuổi, lớp Nhất thi bằng Tiểu học. Lớp Đệ tứ, thi Trung học Đệ nhất cấp. Lớp Đệ nhị thi Tú tài Phần 1. Năm sau, thi Tú tài toàn phần. Chỉ nội có cái Tú tài phần 1 chận đường tiến thủ không biết bao nhiêu người! Để mở rộng chương trình Trung học phổ thông, chánh phủ cho bãi bỏ các cuộc thi lấy bằng cấp, từ lớp 1 đến lớp 12 chỉ thi một lần Tốt nghiệp Trung học Phổ thông. Niên khóa 1957-58 toàn quốc chỉ có 4,000 cô cậu Tú. Năm 1970, 40,000 học sinh tốt nghiệp Trung học Phổ thông: Sĩ số tăng gấp 10 lần. Theo quốc sách Cộng đồng Đồng tiến, trường học mọc lên như nấm: Mỗi ấp lớn đều có trường sơ cấp, Xã có trường Tiểu học, Quận có Trung học Công lập.

Thời đó, có cái bằng Tú tài lận lưng là tương lai rộng mở. Muốn làm bác sĩ thì ghi danh lớp Lý-hóa-sinh (PCB), đại học khoa học. Muốn làm kỷ sư phải thi tuyển vào Trường Kỷ thuật Phú Thọ. Muốn làm giáo sư Trung học thì thi vào Đại học sư phạm. Muốn tham dự vào việc quản trị công quyền, nói nôm na là việc cai trị thì phải thi vào Học viện Quốc gia Hành chánh.

Thằng Đực làng Bưng Cầu bỗng nhớ lại ngày xưa, học lớp Nhứt trường tỉnh, một bửa chánh chủ tỉnh Tây làm phách, ăn hiếp thầy mình, la quở oan uổng thầy trước lớp. Mặc dầu thầy cương cường, bất phục, lớn tiếng cải lại không chịu để y làm nhục, kể như bảo vệ được danh dự của giới giáo chức, nhưng cậu tú Nhơn ngày nay cũng muốn tham dự vào việc cai trị để góp phần ngăn ngừa những việc bất công như vậy không tái diễn dưới thời VNCH nên mới thi vào Học viện Quốc gia Hành chánh.

Làm việc ở cơ quan an ninh Saigon một năm thấy không hợp mới xin trở về ngành hành chánh. Nhiệm sở kế tiếp là tỉnh Chương Thiện. Hồi đó, ít ai biết tỉnh Chương Thiện ở đâu bởi vì là tỉnh tân lập. Nơi đây vốn là hai xã xa xôi Vị Thanh, Hỏa Lựu thuộc Quận Long Mỹ, tỉnh Cần Thơ. Sau thời kỳ phát triển theo mô thức “ Khu trù mật” trở nên trù phú, được coi như là thành công của chính sách nầy nên biến cải thành tỉnh lỵ của tỉnh tân lập Chương Thiện. Thật ra thì tỉnh lỵ cũng chỉ vẽn vẹn có một dãy phố chạy dọc theo bờ kinh Xà No, dài chừng cây số. Nhà lồng chợ mới cất cũng nhỏ. Có điều giá sinh hoạt thật thoải mái. Ngưới dân thì cuộc sống no đủ, chút tiền thu được từ tiền bán gà, vịt, tôm, cá bỏ ống dành dụm cho việc mua sắm áo quần ngày tư, ngày Tết hoặc khi hữu sự. Nhưng mà, muốn được như vậy, cái giá người lính Quốc gia phải hy sinh thật là lớn lắm! Chỉ một trận đánh để đẩy lui bọn quỷ đỏ vào sâu mật khu U Minh, bảo vệ an ninh cho đồng bào suốt một dọc dài từ Ngọc Hòa, đầu kinh Xà No cho tới Cầu Đúc, Gò Quao (Kiên Hưng), Trung Đoàn 31 BB/QLVNCH đã phải hy sinh hàng hàng, lớp lớp chiến binh, hòm tử sĩ đặt suốt một đoạn đường băng phi cơ Caribou vận tải. Tạo thanh bình cho người dân được “an cư, lạc nghiệp”, biết bao xương trắng, máu đào đã đổ xuống, thấm mặt đất “Miệt ngàn, miệt thứ!” xa xôi.

Cho nên câu hò vè:

“Kinh Xà No người không lo đói
Gạo Nàng Mau vừa dẽo, vừa thơm”

cất lên vào buổi chiều tà, nghe lòng buồn man mát! Từ thuở người xưa đi vào khai phá vùng miệt ngàn, miệt thứ:

Dưới sông, sấu lội, trên bờ cọp đua
Đôi bàn tay rắn rỏi, vẹt cây xú, cây bần
Lập nên vườn tược tốt tươi
Dưới sông, vịt lội, trên bờ gà bươi

Để giữ được cuộc sống an bình cho thôn làng, người lính Dân vệ cũng từng phen hy sinh xương máu. Niềm vui quân-dân-chánh rạng rở khi:

Dưới sông, máy đuôi tôm chạy
Trên bờ xe máy Honda đua

Nhà cửa bằng gạch ngói lần lượt thay thế nhà tranh, vách lá. Người dân Miệt thứ nay cũng thảnh thơi, con cái được học hành.

Rời Chương Thiện, tôi về Miền Đông, xứ Bưởi vào giữa năm 1964. Hồi đó, từ ngả tư Xa Lộ- Tam Hiệp vào tới xã Bùi Tiếng, dân cư, nhà cửa sầm uất. Nhưng từ Bùi Tiếng vào đến cây xăng Vườn Mít, nhà cửa, cư dân thưa thớt. Cả tỉnh lỵ chỉ có một rạp hát Biên Hùng cũ kỷ. Nhà hàng ăn Tây chỉ có mỗi La Plage, bên bờ sông Đồng, xéo bên kia Đình Tân Lân. Nhà hàng Tàu chỉ có Hạnh Phước khi ấy chỉ là căn phố trệt.

Vậy mà chỉ năm ba năm sau, bộ mặt của Thành phố Biên Hòa đã biến đổi vượt bực. Rạp Lido trên đường Hàm nghi ngạo nghễ dựng lên. Cuối cùng là rạp Thanh Bình ở ngả ba Vườn Mít đồ sộ không kém bất cứ rạp ciné nào ở Saigon. Nhà hàng La Plage mở rộng, Hạnh Phước lên lầu. Đặc biệt về sau, nhà hàng Câu Lạc bộ Biên Hòa, tục gọi Biên Hòa Club chẳng những qui mô rộng lớn mà cảnh trí còn đẹp đẻ hơn bất cứ nhà hàng nào ở Saigon.

Đặc biệt là Khu Kỹ Nghệ Biên Hòa, tuy là theo mẫu Cao Hùng Đài Loan, nhưng phát triển rất nhanh, nỗi tiếng khắp Đông Nam Á. Vài phái đoàn Phi Châu cũng đến quan sát. Riêng ngành sản xuất giấy, hai xí nghiệp Cogido và Tân Mai đã đáp ứng đủ nhu cầu toàn quốc, kể cả giấy in báo cũng đủ dùng, khỏi phải theo chế độ cấp bông giấy theo Quota. Điều ít ai biết là nhà máy ráp máy cày Kubota chẳng những đáp ứng nổi nhu cầu nội địa mà còn xuất cảng qua cả Nam Dương. Đặc biệt hơn nữa, hảng sản xuất TV Sanyo chuẩn bị lập nhà máy lắp ráp máy truyền hình màu để xuất cảng khắp vùng Đông Nam Á và hứa hẹn lập cho một đài phát truyền hình màu ở Saigon.

Cho nên nói, Một Thuở Huy Hoàng, đâu phải là giàu sang, danh vọng gì mà chỉ muốn nói rằng, đó là kết tinh của bao nhiêu tâm huyết, mồ hôi nước mắt, xương trắng máu đào của hàng hàng, lớp lớp Quân-Dân-Cán-Chính đổ ra để vừa chiến đấu giữ nước vừa lo xây dựng, phát triển đem lại Tự do, no ấm cho cả 19 triệu dân trong suốt 21 năm dài. Vì vậy mà xót xa, đau đớn. Đau đớn đâu phải chỉ vì mất nước, lâm thân tù tội mà trước hơn hết là vì lũ quỷ đỏ phương Bắc tràn vô cướp phá tan hoang tất cả bao công trình quân dân Miền Nam đổ máu xây dựng nên !

Để rồi chỉ biết cùng nhau than thở:
Mũ cối, dép râu dẫm nát đời son trẻ
Nón tai bèo phủ lấp nẽo tương lai !

NGÀY NAY, TOÀN THỂ ĐẤT NƯỚC NHUỘM MÀU TANG

Có một vị Trung tá Thủy quân Lục chiến Mỹ gốc Việt, có ông nội và người cha trước kia bị vc sát hại, ngậm ngùi nói: Việc ngày trước có thể bỏ qua. Việc ngày nay mới thật là đau xót ! Vậy đó, thù nhà có thể bỏ qua, nhưng đất nước bị tàn phá, dân tình khốn khổ, khó bề nhịn được. Người cs cai trị đất nước còn bạo ngược hơn cả giặc nhà Minh cho đến nỗi người nhạc sĩ trẻ Việt Khang đã phải ngạc nhiên hỏi: Anh ở đâu? Sao lại mắng tôi bằng giọng nói dân tôi? Dân tộc anh ở đâu?

Vậy đó, vì sao mà một người Việt ở hải ngoại đang cầm súng bảo vệ an ninh cho đất nước, quê hương mới, chỉ biết nhìn về quê nhà đau xót? Vì sao mà một thanh niên Việt Nam đang sống trên chính đất nước mình mà không được tỏ bày lòng yêu nước, chống xâm lăng? Vì sao mà kẻ đánh đập, ngăn cấm anh lại nói giọng dân anh?

Chỉ vì những người chiến thắng là cs, hình dạng, ngôn ngữ VN nhưng xử sự, hành động bạo ngược theo giáo điều duy vật, vô thần, lòng ruột lai căng chẳng còn dân tộc tính, quên hết điều nhân nghĩa, truyền thống tổ tiên.

Mấy ngày nay, nhân tháng tư buồn, bài thơ “Hãy chụp giùm tôi” của tác giả Trần Văn Lương được phổ biến kèm theo bộ hình minh họa hai cảnh đời dưới thời xã nghĩa hung tàn: “ Kẻ ăn không hết, người lần không ra.” Đại gia “hãnh tiến” tư bản đỏ cùng cường hào ác bá thời nay sống xa hoa, nhà lầu, xe xịn cả trực thăng, máy bay riêng hàng mấy triệu đô trong khi ngoài kia người dân, kể cả thiếu nhi bới bãi rác sống từng ngày. Nhìn tấm hình bà cụ già 76 tuổi, sáng tinh mơ, mùa đông rét buốt, lặn lội nơi bờ biển mò sò, bắt ốc chỉ đủ đong gạo sống cầm hơi mới thật là thảm!

Vì đâu nên nỗi?!

Chỉ vì công an, chỉ biết còn đảng, còn mình, đánh đập, giết hại dân như chuyện thường ngày ở huyện.

Chỉ vì cường hào ác bá tân thời, qui qui, hoạch hoạch, cướp ruộng vườn để hàng hàng, lớp lớp dân oan vong gia, thất thổ, sống vô gia cư, tử vô địa táng !!!

Chỉ vì lũ đầu trâu mặt ngựa cầm quyền đành lòng để dân chết sống mặc bây, tiền thầy bỏ túi !

Chỉ vì người dân bị đẩy vào đường cùng, lừa đảo, tranh cướp nhau cầu sống !

Ngày kia, Sáu Kiệt nói: “ Ngày 30 tháng Tư, triệu người vui, triệu người buồn!'

Ngày nay, mọi người cùng nói: Ngày 30 tháng Tư, chỉ có vài trăm ngàn tham quan, tư bản đỏ là vui, còn toàn thể dân tộc đều buồn!

Cho nên mới nói, Toàn thể đất nước nhuộm màu tang!!

Chỉ vì chúng, chính chúng, phường phản nước, hại dân sồng phè phởn, ca múa trên bửa tiệc đầu lâu, xương máu dân lành !

Một tay gạt nước mắt, một tay run rẩy gõ bàn phiếm những dòng mở đầu, giờ đây không còn nghĩ gì được nữa, xin dừng lại nơi đây.
Nguyễn Nhơn
(Tháng Tư Tang khó) 
 http://motgocpho.com/forums/showthread.php

 ***

Xin kính chuyển để rộng đường dư luận:
 
Chùng tôi đồng ý với ông plongvan@gmail.com ở quan điễm:
 
"Riêng đối với người việt Tỵ Nạn CS tại các nơi trên thế giới, ngày 30/4 là ngày mất nước, mất đất, mất biển, mất nhà, mất tài sàn, vượt bể vượt biên lánh nạn CS mất con mất vợ mất chồng…; tất cả chỉ vì CS, chỉ vì VC; 30/4 đúng là ngày Quốc Hận! luôn luôn và mãi mãi phải là ngày Quốc Hận không được sửa đổi, không thể bị biến cải bằng một tên khác, mục đích khác."
 
Chúng tôi cũng đồng ý với  ông Bùi Ngọc Thăng ở điễm này: " Theo tôi một Hậu Duệ QLVNCH thì phần Lễ Truy Điệu và Tưởng Niệm Quân dân cán Chính là 1 phần nằm trong chương trình Ngày Đại Lễ Quốc Hận 30/4."
 
Chính vì những đau thương bi thống từ máu và nước mắt của người dân Miền Nam đã đổ ra trong ngày 30/4/75 , là dữ kiện thật của một ngày lịch sử bi đát của người dân Việt thì 30/4 là ngày LỄ QUỐC HẬN
 
VGCS đang có kế hoạch biến đổi ngày 30/4 thành ngày "Tự Do" của dân Việt do đó trước âm mưu và kế hoạch của VGCS đang tiệm tiến "giãi phóng cộng đồng Người Việt tại Hải ngoại” và muốn xóa bỏ ngày xâm lấn Nam VN cùng những tội ác của chúng trong ngày Quốc hận này do đó chúng đang ráo riết thực hiện kế hoạch xóa bỏ NGÀY QUỐC HẬN
Những ai vô tình hay hữu ý tung hứng với kế hoạch của VGCS cần phải được người dân tìm hiểu sự việc cốt lõi bên trong của vấn đề
 
Riêng về các Hội Đoàn Quân Đội và Cảnh Sát Quốc Gia là những người đã nhận chịu rất nhiều điều sĩ nhục từ bọn chúng đã từng chịu quá nhiều sự đau thương bi hận do VGCS gây ra, không lẽ lại dễ dàng quên đi NGÀY QUỐC HẬN
 
Trong email của ông Bùi Ngọc Thăng có câu :" Email ngày 12/3/2012 của ô. Hồ Sắc gửi cho Vân Đình xác nhận “Hội Đoàn Quân Đội không tổ chức QUỐC HẬN 30-4”. Đáng chú ý là ô. Hồ Sắc viết rõ đây là quyết định chung của các HĐQĐ & CSQG tại phiên họp ngày 19/2/2012.
 
Nếu quả đúng như vậy xin các tổ chức Hội Đoàn Quân Đội và Cảnh Sát Quốc Gia tại Houston xác nhận đây có phải là quyết định của các tổ chức mang danh nghĩa Hội Đoàn Quân Đội và CSQG hay không để người dân Việt tỵ nạn cs tại Houston nói riêng và Người Việt tỵ nạn cs tại hải ngoại nói chung cần xác định lại thái độ đối với quí hội đoàn được mang tên gọi là Hội Đoàn Quân Đội của VNCH trước một ngày lễ tang tóc của  lịch sử VN mà người dân Việt đã tư phát, đồng lòng danh xưng NGÀY QUỐC HẬN là một ngày LỄ của người Việt Tự Do
 
Sự xác nhận của quí Hội Đoàn là một hành động đánh giá lại lòng tin của người dân tỵ nạn cs tại Houston một nơi mà Tòa Lãnh Sự của VC đang "bình an" sinh sống trước những xáo trộn không ngừng nghỉ xảy ra liên hồi trong sinh hoạt của cộng đồng Người Việt Quốc Gia
 
Tôn Nữ Hoàng Hoa

***

Một tập thể muốn bỏ ngày 30/4, (chờ xem !!!!)
NÚP BÓNG QUÂN ĐỘI TRONG THỦ ĐOẠN XÓA BỎ NGÀY QUỐC HẬN

Ngày quốc hận 30-4 là một trong những mục tiêu hàng đầu của cộng sản và tay sai ở hải ngoại, một mai, khi ngày quốc hận không còn được thể hiện đúng ý nghĩa TƯỞNG NIỆM và TỐ CÁO TỘI ÁC CỘNG SẢN nữa, là lúc đảng cộng sản giành được thắng lợi sau cùng, như thủ phạm được an tâm khi mà nạn nhân, gia đình quên hết tội ác. Tức là tội ác của cộng sản được phủi sạch một cách nhẹ nhàng, khi nạn nhân, dân tộc không còn coi đây là ngày đại tang chung, ngày đất nước bị đắm chìm trong chế độ nô vong, tủi nhục.
Cộng sản không tốn công sức, chỉ cần dùng tay sai, thành phần nằm vùng ngụy trang tỵ nạn, trở thành cánh tay nối dài, thi hành công tác xóa ngày quốc hận, đúng là:" gậy ông đập lưng ông". Nhìn tổng thể, không ai thấy nhân viên sứ quán, lãnh sự, hay cán bộ cộng sản hô hào, vận động trực tiếp cộng đồng người Việt hải ngoại để xóa ngày quốc hận, nhưng thành phần thực thi công tác quan trọng và có hiệu quả nầy cho cộng sản, chính là những người tỵ nạn, một số quân nhân, công chức, cảnh sát, trí thức....họ là sâu bọ, nằm bên trong, đụt khoét trường kỳ, là kẻ nội thù nguy hiểm, hay là những tên trộm là người nằm trong nhà rất khó phát giác.
Ngày nay, mặt trận chống lại cộng sản ở hải ngoại rất phức tạp, kẻ thù dấu mặt, nhưng lại mặc áo quốc gia, chúng lại kết bè đảng, thành nhóm, cùng chia chác quyền lợi và nhất là có cùng sở thích là về Việt Nam du lịch, vui chơi, hay có quân hệ làm ăn trong nước... đó là những kẻ thù rất nguy hiểm, như câu tục ngữ:" ăn cơm quốc gia, thờ ma cộng sản". Cần phải sáng suốt để đối đầu, loại trừ những con sâu mọt ra khỏi hàng ngũ tỵ nạn, hội đoàn, là cách đầu tiên phá vở âm mưu đánh phá của đám giòi từ trong xương. Không thể dựa vào lý lịch trước đây là quân nhân, công chức, trí thức, gia đình quốc gia...nhưng hành vi và con người hiện tại, là điều kiện để chứng minh lập trường. Nếu mù quáng, tưởng là sĩ quan, công chức cao cấp, gia đình tướng tuẩn tiết... để tin vào, là nhiều khi lầm to, dễ bị lọt vào bẩy sập. Năm 1945, thời chính phủ Trần Trọng Kim, chính vị thống đốc Bắc kỳ là Phan Kế Toại đã không thể ngờ là con trai Phan Thao, đi theo đảng cộng sản, nên truyền đơn cộng sản nằm trong hộc tủ văn phòng thống đốc bắc kỳ. Dòng dõi chống cộng, chưa đủ để xác minh lập trường của một thành viên trong dòng họ nội ngoại, sui gia...ngày nay có một số" sĩ quan, công chức quốc gia, làm sui gia với cán bộ cộng sản", cũng là thành phần, không ít thì nhiều, bị đảng hóa vì ràng buộc gia đình... đó là những người tỵ nạn đổi màu, rất đáng đề cao cảnh giác.
Điển hình trong hàng ngũ tướng tá, đại tướng Trần Thiện Khiêm, phó đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại, thiếu tướng Nguyễn Khắc Bình...dù là tướng quốc gia nhưng lại kính phục và ca tụng cộng sản là tốt, chính nghĩa. Đại tá Mai Viết Triết:" Việt cộng có công thống nhất đất nước, dân tộc biết ơn và ghi nhận", tiến sĩ Lê Thiện Ngọ, kêu gọi xóa bỏ lan ranh quốc-cộng, lợi dụng chiêu bài bảo toàn đất tổ và khai thác lòng yêu nước, thực hiện việc đẫy người Việt vào vòng tay cộng sản, lợi dụng hai chữ đoàn kết với Việt Cộng, xóa bỏ tất cả hận thù, dồn sức chống ngoại xâm...là chiêu bài quá cũ, mà người Việt Nam đã học được từ thập niên 1940, nay không thể lầm nữa.
Trực diện đối đầu, công khai xóa bỏ ngày quốc hận là băng đảng Việt Tân, một tổ chức tay sai đắc lực, ngoại vi của cộng sản ở nước ngoài. Đảng nầy núp bóng quốc gia, biến mục tiêu chống cộng thành chiêu bài nhẹ nhàng: "dân chủ đa nguyên" để tạo điều kiện cho cộng sản xâm nhập vào các tổ chức, hội đoàn quốc gia, chiêu bài nầy đã được tổ chức Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên do kỷ sư Nguyễn Gia Kiểng, luật sư Trần Thanh Hiệp, cựu phát ngôn viên Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam là Nguyễn Ngọc Giao, Tiến sĩ Nguyễn Văn Huy...dùng làm mục tiêu hành động, họ công nhận cả cờ vàng, cờ đỏ và tổ chức không phân biệt quốc-cộng. Hai tổ chức công khai khiêu khích lập trường tỵ nạn, nhất là băng đảng Việt Tân, họ công khai nhìn nhận:" đảng cộng sản VN là thành phần dân tộc", là" dân chủ đa nguyên" như nhóm Nguyễn Gia Kiểng vậy. Đảng Việt Tân còn công khai nhìn nhận" hồ chí minh có công với đất nước", trong khi hầu hết mọi người, kể ca dân trong nước, xem hồ chí minh là tay sai ngoại bang, phản dân hại nước. Chiêu bài mị dân đấu tranh nằm trong câu:" Dân Chủ Đa Nguyên", tức là dân chủ đa nguồn gốc, trong đó có đảng cộng sản, được đảng Việt Tân, cũng như nhóm Nguyễn Gia Kiểng phát động trường kỳ tại hải ngoại ( chứ không phải trong nước), là một ý đồ rất thâm độc, nhằm tạo thế đứng cho những thành phần: nằm vùng, tay sai... được công khai sinh hoạt trong các hội đoàn, đầu tiên là thí điểm đảng Việt Tân, Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên.. và sau đó lan rộng đến các hội đoàn, tôn giáo, chúng tạo ra mạng lưới giăng mắc với thành phần thân đảng, tay sai, dần dần biến hải ngoại thành đất của đảng cộng sản kiểm soát.
Băng đảng Việt Tân có nhiều hình thức đánh phá tinh vi, lợi dụng ngôn từ để từng bước xóa bỏ tội ác của cộng sản và Hồ chí Minh, họ mưu đồ biến ngày quốc hận thành: ngày tỵ nạn, ngày thuyền nhân, ngày diễn hành cho tự do...nhóm Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên, với bài viết của tiến sĩ Nguyễn Văn Huy, biến ngày tưởng niệm 30 tháng 4 thành" kỷ niệm" trong bài viết mới nhất" hội chứng 30-4".
Hầu hết những thủ đoạn xóa ngày quốc hận đã bị khám phá tức khắc, chỉ sau khi mới tung ra, nhưng cộng sản và tay sai vẫn kiên trì, thua keo nầy ta bầy keo khác, là bản chất lì lợm của chúng. Đảng cộng sản, sứ quán, lãnh sự, không thể làm công việc nầy, chỉ có những thành phần nằm trong các hội đoàn, cá nhân là cựu sĩ quan, công chức, trí thức miền nam...làm công tác xóa ngày quốc hận, là thượng sách.
Mới đây, nguồn tin ở vùng Texas, Hoa Kỳ cho biết là có một vài cá nhân, nhân danh là HỘI ĐOÀN QUÂN ĐỘI, CẢNH SÁT QUỐC GIA, họ cũng tập hợp một số quân nhân, cảnh sát, ra quyết định chung vài ngày 19 tháng 12 năm 2012, một kẻ trong ấy xác nhận rằng:" Hội Đoàn Quân Đội không tổ chức ngày quốc hận 30-4".
Như vậy cái gọi là" hội đoàn quân đội" nầy là tổ chức gì? Do ai nằm bên trong giựt dây và họ chính thức không tổ chức tưởng niệm ngày quốc hận" là đại thắng lợi cho lãnh sự cộng sản tại nơi họ cư trú". Chắc chắn là những thành phần" hội đoàn quân đội" nầy sẽ được lãnh sự dành nhiều" chế độ" đãi ngộ xứng đáng khi về nước du lịch, hay được làm ăn dễ dàng tại Việt Nam.
Một số quân nhân, nhưng không nhớ đến ngày quốc hận, xin hỏi là ngày 30 tháng 4 năm 1975, họ ở đâu?. Ngoại trừ sau ngày quốc hận, họ được cấp giấy" tiền khởi nghĩa" và giúp" cách mạng thành công" như phi công Nguyễn Thành Trung...nhưng hầu hết quân nhân, công chức và gia đình thuộc chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, phải biết ngày 30 tháng 4 là ngày đại tang cho dân tộc, ngày mà tên Nguyễn Hộ, cùng đồng bọn rất là" hồ hởi phấn khởi" trong không khí cách mạng thành công:" nhà chúng ta chiếm, vợ chúng ta lấy, con chúng ta bắt làm nô lệ"...
Ngày quốc hận không nhớ, thì cái gọi là:" hội đoàn quân đội" nhớ đến cái gì?. Không lẽ họ nhớ và kỷ niệm ngày sinh nhật Hồ Chí Minh 19-5, ngày quốc khánh Việt Cộng 2-9 và ngày 30-4 là" kỷ niệm đại thắng mùa xuân"?.
Quốc hận là này tưởng niệm, tang chung cho cả dân tộc, không riêng gì dân chúng miền nam, dân miền bắc trong thành phần nạn nhân" trí, phú, địa hào" đã thất vọng khi ngày bắc tiến không bao giờ đến. Nhưng có khi họ không tưởng niệm ngày quốc hận và đem cái nhỏ ra để khỏa lấp, khi có nơi cho là: không tưởng niệm ngày quốc hận, mà chỉ làm lễ TRUY ĐIỆU các chiến sĩ bỏ mình vì tổ quốc.... đây là mưu đồ mới, có thể là trong những năm sau nầy, ngày quốc hận lại bị đổi thành" NGÀY TRUY ĐIỆU CHIẾN SĨ, ĐỒNG BÀO, BỎ MÌNH VÌ CHÁNH NGHĨA QUỐC GIA"...thì ngày quốc hận biến thành" ngày truy điệu", nhìn hình thức, dễ lừa bịp mọi người, nhưng thực chất là mưu đồ rất thâm độc, xóa ngày quốc hận một cách tinh vi, đó là những tên" tráo bài ba lá" và những kẻ gian, dùng vàng giả để đánh tráo vàng y.
Hội Đoàn Quân Đội là đương nhiên thành viên là quân nhân, phải nhớ là: hầu hết các quân trường, lễ mãn khóa là chánh và phần" truy điệu" nằm trong đêm mãn khóa. Nếu không có mãn khóa, làm gì có lễ truy điệu.?. Ngày quốc hận bao trùm tất cả mọi ý nghĩa, truy điệu chỉ là một phần trong ngày tưởng niệm quốc hận.
Hàng năm, tục lệ Việt nam là rước ông bà về ăn tết, nếu không có rước ông bà, thì làm sao tưởng nhớ những thân nhân quá cố?
Đạo Hòa Hảo có ngày tưởng nhớ Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ bị cộng sản ám hại tại Đốc Vàng Hạ vào ngày 16 tháng 4 năm 1947, tín đồ đạo Hòa Hảo làm lễ tưởng nhớ ngày nầy hàng năm. Nhưng ngày nay, ngày nầy là mục tiêu đánh phá và làm phai mờ dần, để tín đồ đạo Hòa Hảo không còn nhớ đến kẻ thù cộng sản, ám hại đức thầy. Do đó, ngày nầy, ngoài công an, chính quyền địa phương vây bủa các khu đạo Hòa Hảo, đảng cộng sản và mặt trận tổ quốc manh tâm: biến ngày đức thầy thọ nạn thành ngày tưởng nhớ đức thầy và khuyến khích tín đồ nên tưởng nhớ đức thầy tại gia. Nếu ngày đức thầy bị ám hại, trở thành ngày" tưởng nhớ đức thầy" tại gia, thì sau vài thập niên, tín đồ đạo Hòa Hảo không còn nhớ đến kẻ thù cộng sản đã ám hại đức thầy nữa.
Đó chỉ là vài thí dụ điển hình mà những con sâu nằm trong các hội đoàn, mệnh danh như Hội Đoàn Quân Đội, không tưởng niệm và tổ chức ngày quốc hận 30-4, họ tung hỏa mù bằng" lễ truy điệu" các chiến sĩ" để xóa dần tội ác của cộng sản. Đây là một mưu đồ mới, nhằm xóa ngày quốc hận, biến cái nhỏ thành lớn, điểm thành diện, vàng giả mạ vàng như thật.
Ngày quốc hận là tang chung, trong đó có phần truy điệu, nên không thể lấy phần Truy điệu để thay hay không tưởng niệm ngày quốc hận, cũng như nhà văn Vũ Văn Lộc, với quan niệm hẹp hòi, co cụm của một ông quan mang tiếng tốt nghiệp trường võ bị nhưng suốt cuộc đời quân ngũ chỉ biết " thủ kho", ông ta đã bị" tẩu hỏa nhập ma" khi đem cả lập trường chính trị để đổi lấy cái nhà kho là" nhả chứa kỷ vật quân đội VNCH" để ủng hộ Madison Nguyễn.
Quốc hận không bao giờ phai nhạt, lịch sử đã ghi nhận và thế giới đã có những tài liệu tàng trữ về ngày đại nạn cho dân Việt Nam, cùng với tội ác của cộng sản.
Ngày quốc hận là bản án chưa công bố dành cho tập đoàn đảng cộng sản, thủ phạm vẫn ngày đêm lo sợ ngày ra trước pháp đình và nạn nhân luôn mong mỏi ngày ấy. Đó là lý do mà cộng sản luôn tìm cách xóa ngày quốc hận bằng nhiều thủ đoạn. Việc một tổ chức mang tên Hội Đoàn Quân Đội, không tổ chức ngày quốc hận 30-4, họ cũng có làm cuộc" hội nghị Diên Hồng Dỏm" với những kẻ đồng dạng, hợp vào ngày 19 tháng 2 năm 2012, đoạn ra quyết nghị. Không biết cái hội đoàn quân đội nầy là gì, ai tham gia và họ có phải là đại diện cho đa số quân nhân, cảnh sát ở vùng Houston?. Mong rằng, tập thể quân nhân, cảnh sát chân chính, phải có thái độ thích hợp và quyết tâm để vạch mặt những kẻ có mưu đồ thủ tiêu ngày quốc hận. Đây là điều mà quân nhân, cảnh sát phải thực hiện càng sớm càng tốt, để phá vở âm mưu gian manh nầy của một số người, mệnh danh hay mạo danh là hội đoàn quân đội./.
PHAN ĐÔNG ANH
07.05.2012
e-mail 
***
 

ÂM MƯU BIẾN NGÀY QUỐC HẬN THÀNH NGÀY THUYỀN NHÂN?

Trần Gia Phụng

Sau bài “Ngày Quốc hận là ngày Quốc hận”, có nhiều e-mail hỏi người viết rằng tại sao lại có âm mưu biến ngày Quốc hận thành ngày Thuyền nhân? Câu hỏi nầy đáng lẽ phải hỏi thẳng những người âm mưu. Ở đây chúng tôi chỉ phỏng đoán lý do mà thôi. Sự phỏng đoán có thể thiếu sót, xin các bậc cao minh bổ túc thêm.

1. LÀM PHAI LẠT Ý NGHĨA NGÀY QUỐC HẬN

Ngày 30-4-1975 là ngày Cộng sản Bắc Việt cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam, áp đặt chế độ độc tài đảng trị trên toàn thể lãnh thổ Việt Nam. Chế độ cộng sản chà đạp tự do dân chủ, giết hại dân lành, gây nhiều tội ác, trong đó quan trọng nhất là tội phản quốc, nhượng đất, nhượng biển cho Trung Cộng để duy trì quyền lực. Vì vậy dân chúng tự động đặt tên ngày 30-4 là NGÀY QUỐC HẬN.
Sau ngày Quốc hận 30-4-1975, hàng triệu người Việt Nam đã bỏ nước ra đi tìm tự do. Khoảng nửa triệu người bỏ mình trên biển cả. Cộng sản chận bắt, bắn giết những người tìm cách vượt biên. Lúc đầu, cộng sản gọi người Việt vượt biên là tay sai Mỹ ngụy, chạy theo bơ sữa tư bản.

Dần dần, người Việt hải ngoại tập họp thành những cộng đồng lớn mạnh ở khắp nơi trên thế giới, nhất là ở Bắc Mỹ, Âu Châu và Úc Châu. Hàng năm cộng đồng người Việt hải ngoại gởi về hàng tỷ Mỹ kim để giúp đỡ thân nhân ở trong nước. Cộng sản liền uốn lưỡi, đổi giọng, gọi người Việt hải ngoại thành “khúc ruột ngàn dặm”. Tuy nhiên CSVN rất e ngại “khúc ruột ngàn dặm”, vì nhờ khoa học kỹ thuật tiến bộ, phương tiện truyền thông nhanh chóng, tất cả những tin tức ở trong nước được đưa ra nước ngoài dễ dàng. “Khúc ruột ngàn dặm” sẵn sàn tranh đấu, bảo vệ người Việt trong nước, gây trở ngại không ít cho cuộc đàn áp của độc tài cộng sản.
Đối phó với “khúc ruột ngàn dăm”, Bộ chính trị đảng CSVN đưa ra nghị quyết số 36/NQ-TW ngày 26-3-2004 về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, để bằng tất cả các cách thu hút và nếu thu hút không được thì đánh phá các tổ chức, hội đoàn, cộng đồng người Việt hải ngoại, nhằm hóa giải, chận đứng tất cả các cuộc chống đối của người Việt hải ngoại.

Để thực hiện nghị quyết 36, CSVN đưa ra nhiều thủ đoạn thâm độc mà chúng ta không lường trước được. Có khi có người vô tình lạc vào những thủ đoạn của CSVN mà không biết. Âm mưu biến ngày Quốc hận làm ngày Thuyền nhân là một trong những âm mưu thâm độc của CSVN. Âm mưu nhằm hai mục đích: 1) Làm phai lạt dần dần ý nghĩa Ngày Quốc hận trong lòng người Việt hải ngoại, giảm nhẹ tội ác cho CSVN. 2) Tạo một đề tài gây tranh cãi và làm chia rẽ cộng đồng người Việt hải ngoại.

2.- VÔ HIỆU HÓA HỘI CỰU QUÂN NHÂN

Ở hải ngoại có nhiều hội đoàn. Hội đoàn có tinh thần quốc gia, dân tộc, chống cộng mạnh mẽ, lại có quy củ, có tổ chức, hoạt động mạnh nhất ở bất cứ nước nào, địa phương nào, là hội Cựu Quân Nhân (CQN). Hằng năm, nếu nơi nào không có ban chấp hành cộng đồng, như ở Toronto (Canada) chẳng hạn, thì hầu như hội CQN được giao tổ chức ngày Quốc hận 30-4. Hoặc hội CQN phối hợp với các hội đoàn khác để cùng tổ chức. Luôn luôn hội CQN làm nòng cốt, thường có lễ chào cờ, rước quốc quân kỳ…

Hội Cựu Quân Nhân là hội giữ lửa cho Cộng đồng, hội mũi nhọn trong các cuộc biểu tình chống cộng. Mỗi năm hội CQN có hai hoạt động chính là tổ chức “Ngày Quốc hận” (30-4) và “Ngày Quân lực” (19-6). Nếu vận động được các địa phương biến ngày 30-4 thành ngày Thuyền nhân, thì lúc đó hội Cưu Quân Nhân không còn cần thiết, vì đối tượng chính trong buổi lẽ sẽ là thuyền nhân, thì thuyền nhân sẽ đứng ra phụ trách. Một Uỷ ban của các thuyền nhân sẽ đứng ra tổ chức Ngày Thuyền nhân 30-4 hằng năm, thay cho hội CQN.
Khi đó, hội CQN chỉ còn buổi lễ chính là mừng Ngày Quân lực. Là ngày vui thì chỉ có ăn uống, vui chơi, nhảy đầm. Từ vai trò giữ lửa chống cộng, hội CQN trở thành một món trang sức cho cộng đồng. Như thế là một cách vô hiệu hóa hội CQN, làm giảm bớt hoạt động của hội CQN, giảm bớt ngọn lửa đấu tranh chống cộng,. Cái thâm độc của cuộc vận động biến ngày Quốc hận 30-4 thành ngày Thuyền nhân nằm ở chỗ đó. Tuy nhiên vẫn chưa hết…

3.- TIÊU DIỆT TIỀM LỰC CHỐNG CỘNG

Ngày Quốc hận 30-4 là ngày của toàn dân Việt, ở trong cũng như ngoài nước, trừ một thiểu số đảng viên. Vì vậy, hằng năm, vào ngày 30-4 ở hải ngoại, khắp nơi trên thế giới đều tổ chức lễ Kỷ niệm Ngày Quốc hận. Rất đông người đến tham dự, có thể nói là đông đảo nhất trong năm. Kỷ niệm Quốc hận hằng năm nhằm nhắc nhở ngày tang thương của dân tộc, tưởng niệm những anh hùng liệt sĩ đã hy sinh vì chính nghĩa quốc gia, những đồng bào đã bỏ mình trên đường tìm tự do, và những tù nhân chính trị đã và đang bị đày đọa đến chết trong các trại tù cộng sản. Kỷ niệm Quốc hận 30-4 cũng là dịp cho Cộng đồng Người Việt hải ngoại lên tiếng đòi hỏi dân chủ tự do cho đồng bào ở trong nước. Nói cách khác, ngày 30-4 là ngày tưởng niệm và cũng là ngày tranh đấu.
Trong khi đó, số người thực sự là thuyền nhân hiện nay, một mặt so với dân số toàn quốc thì quá ít vì ở trong nước không có thuyền nhân, và một mặt khác so với tổng số người Việt ở hải ngoại, số thuyền nhân hiện nay chỉ bằng khoảng một phần tư (1/4) hay một phần năm (1/5) mà thôi.

Nếu ngày 30-4 hằng năm là Ngày Thuyền nhân, thì những người không phải là thuyền nhân có thể không đến dự các buổi lễ ngày 30-4, vì không liên quan đến họ. Số người tham dự các buổi lễ kỷ niệm sẽ giảm đi và có thể giảm đi rất nhiều. Như thế, dần dần ngày 30-4 sẽ phai lạt dần. Từ đó, tinh thần đấu tranh chống cộng sản bạo tàn, đòi hỏi tự do dân chủ cho Việt Nam của cộng đồng người Việt hải ngoại sẽ càng ngày càng xuống giốc.

Hơn nữa, một ngày kia, những thuyền nhân sẽ lần lượt qua đời, sẽ không còn thuyền nhân trên thế giới, thì Ngày Thuyền nhân cũng tàn lụi theo. Lúc đó chắc chắn Ngày Thuyền nhân sẽ chẳng còn ai chú ý, chẳng còn ai cử hành, nghĩa là ngày 30-4 cũng sẽ mất tích luôn.
Tóm lại, âm mưu biến đổi Ngày Quốc hận 30-4 thành Ngày Thuyền nhân phát xuất từ ý đồ của CSVN, nhằm làm giảm nhẹ tội ác của cộng sản, triệt tiêu hoạt động của Hội CQN và dần dần làm biến mất ngày Quốc hận, tiêu diệt tiềm lực chống cộng của cộng đồng người Việt hải ngoại. Âm mưu nầy được tay chân của cộng sản, cùng một số tên thân cộng ở hải ngoại tìm cách thực hiện để mưu lợi, trao đổi buôn bán với cộng sản. Tuy nhiên, dầu cố gắng cách nào đi nữa, âm mưu nầy cũng không thể thành công được, vì lịch sử là những sự kiện đã xảy ra trong quá khứ, không ai có thể sửa đổi được lịch sử, nhất là một khi đã được khắc ghi vào bia miệng thế gian. “Trăm năm bia đá thì mòn,/ Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ.”

Ở trong nước, CSVN tham nhũng, bóc lột, cướp đất dân lành, nhượng đất nhượng biển cho Trung cộng, đàn áp dân quyền và nhân quyền, bắt bớ, giam cầm những nhà tranh đấu dân chủ bất bạo động, những người yêu nước biểu tình chống Trung cộng xâm lược. Ở hải ngoại, đời sống đầy đủ, tự do dân chủ, lại có những kẻ không nghĩ đến tương lai dân tộc, không nghĩ đến đồng bào đang đau khổ vì CS ở trong nước, mà chỉ vì một chút danh lợi nhỏ nhoi, tiếp tay tuyên truyền cho CSVN, tiếp tục duy trì nạn độc tài toàn trị trên quê hương Việt Nam, thì tội lỗi nầy cũng không kém gì tội lỗi của CSVN.

Trần Gia Phụng

No comments: