NÓI VỀ ĐOÀN KẾT

Tập San "Văn Tiến"
Bruxelles-Belgique 1982

Nói về đoàn kết

Tham Luận

Lời tòa soạn : Nhận thấy đêm 30-04-1982 vừa qua tại Paris gây rất nhiều tiếng vang, nhưng trong hàng ngũ Quốc gia còn nhiều thắc mắc chưa hầu đoàn kết. Nên bài tham luận kỳ này của thông tấn viên Văn Tiến tại Paris đặc biệt chú tâm hô hào đoàn kết diệt cộng Hà Nội.

Bài của Việt Dương Nhân

Trước hiện tình đất nước và dân tộc. Việt Nam ta đang gặp hồi nguy biến dưới gông cùm xiềng xích của tập đoàn C.S. tại quê nhà, chúng ta có thể làm ngơ được sao ?
Không. Trăm lần không, ngàn lần không. Chúng ta cương quyết tranh đấu, hãy mau mau tình nguyện làm chiến sĩ vô danh. Nơi hải ngoại xứ người chúng ta không được đánh giặc bằng súng đạn, chỉ có ý chí tinh thần đoàn kết xiết chặt tay nhau đánh C.S., cùng nhau lên án bọn chúng quá tàn ác bất nhân, chúng đang đưa dân tộc ta thành máy, thành dã thú. Cộng sản V.N. là loài quỷ dỏ ác độc, cái thứ vô thần, phi nhân ..., thế giới đang ghê tởm chúng và đang lên án chúng.
Chúng ta hãy can đảm hy sinh mọi mặt để tìm cứu cho quê hương và dân tộc của chúng ta ra khỏi loài quỷ đỏ đó. Đừng vì cá nhân hay gia đình mà biến mình hèn nhát, nhận chủ bại đầu hàng csVN. Nếu quê hương dân tộc ta Tự do, thì ta và gia đình ta cũng được cái Tự do đó. Dân tộc VN ta còn đau khổ chúng ta yên thân an nhàn được sao ?
Dân tộc ta rất hiền hòa và tha thứ. Khi gặp chùa thì tu, nhưng gặp quỷ ta phải quyết trừ. Tâm tánh của người VN ta là thế. Nước VN ta có bốn ngàn năm oai hùng trong lịch sử kia mà. Chúng ta hãy lấy làm hãnh diện vì ta là người VN trên quả đất tròn nầy.
Một lần nữa Dân tộc ta bị nô lệ dưới sự thống trị của Cộng sản ngoại lai VN. Chúng ta không thể để cho chúng nó đày đọa Dân tộc ta được nữa. Hãy đoàn kết diệt trừ loại quỷ ác ôn đó.
Nơi hải ngoại chúng ta có cơm ăn, áo ấm và thật là Tự do, thì làm sao chúng ta yên thân cho được, khi hình dung đồng bào nơi quê nhà đang khổ sở, đói khát và bệnh hoạn. Chúng ta là người VN ai ai cũng có tình cảm tha thiết và tình thương bao la nồng nhiệt.
Vài lời kêu gọi của riêng tôi, mến gởi đến những người yêu chộng Tự do. Sau những giờ tìm sinh kế hãy bỏ hết giờ rỗi rảnh mà góp tinh thần diệt Cộng cứu quê hương và Dân tộc Việt-Nam ra khỏi kiếp lưu đày. Hãy nhớ lại bài học " Công dân ". Khi còn bé chúng ta đã học : "Nợ nước trước tình nhà" Tổ quốc Việt Nam trên hết.
Chào quyết thắng
Việt Dương Nhân

***
"Thông Luận" đăng số 150 tháng 7 & 8 năm 2001

Độc Giả Viết

VIỆT DƯƠNG NHÂN
 
Tôi thích đọc sách về Phật, Khổng, Lão, Mạnh Tử và Trung Dung... Đó là Triết Lý Đông-Phương ngày xửa, ngày xưa. Hay sách Học làm người của Nguyễn Hiến Lê... của giữa thế kỷ XX vừa qua.
Trời hỡi ! Sách nào cũng dạy "Đạo Làm Người" - Nhứt là : Yêu Tổ Quốc và Dân Tộc của mình trên hết. Bởi "Trung-Hiếu-Lễ-Nghĩa-Trí-Tín" làm đầu !
Nhân dịp, tôi được thiệp mời ra mắt sách của Nguyễn Gia Kiểng, quyển "Tổ Quốc Ăn Năn". Nghe cái tựa là giận điếng người rồi. Tổ Quốc mà N.G.Kiểng lại bảo Ăn Năn ! Tôi phát bệnh luôn, nên không đến dự được. Nhưng, tới quyển "Thành Công Thế kỷ 21", do Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên ra mắt. À há ! Tôi phải đi dự mới được. Và luôn tiện ủng hộ luôn quyển "Tổ Quốc Ăn Năn" đem về đọc...
Vì sao tôi đi dự ra mắt quyển "Thành Công Thế Kỷ 21" ? Vì tôi được Nguyễn Văn Huy gởi bản thảo "T.C.T.K.21" cho tôi đọc trước đó. Khi tôi đọc vài lần quyển ấy... Lòng lâng lâng... Có niềm hy vọng... Tôi phone một vài người bạn Đồng Minh. Tôi nói : "Trời ơi ! Nếu thực hiện được 50/% trong quyển này, thì Việt Nam ta sẽ Hạnh Phúc biết bao ! Chớ thực hiện 100/% thi rất là khó. Vì sao ? Vì VN ta còn thành kiến "Cổ Lổ Hủ Lắm !". Đầu dây bên kia cười... như ngạo tôi : "Thôi bà nội ! Bà mơ mộng quá !". Hết chuyện để tôi nói ! Tôi bèn xoay qua chuyện khác...
Hỗm rày nhận được vài ba tờ Nguyệt san gởi từ bên Mỹ. Có hai ba bài viết về "Tổ Quốc Ăn Năn" của N.G.Kiểng. Có bài khen, cũng có bài lưng chừng, và cũng có bài hơi trách ông N.G.Kiểng. Ôi thôi. Tư tưởng mỗi người mỗi khác đó là lẽ đương nhiên. Riêng tôi, thì tôi chỉ cho là được được 50/%. Nhưng còn ông Kiểng lại nói : "Mười điều ông nói hay làm, mà chín cái sai, chỉ một trúng cũng đủ rồi". Ông Kiểng hơi khiêm nhường chăng ? Có thể là như vậy. Còn Khổng Tử nói : "Thấy người ta có một trăm điều quấy, mà chỉ một điều đúng là cũng hay tốt rồi". Ông Kiểng học theo Khổng Tử đấy ? Có thể ?
Về việc ông Kiểng nói : Nguyễn Huệ, Đinh Tiên Hoàng V. V... Tôi không thèm nghĩ đến. Đó là tư tưởng riêng của ông. Mà tôi chỉ nghĩ đến việc hôm nay và tương lai cho Tổ Quốc và Dân Tộc Việt Nam của chúng ta hiện tại. Nhưng bàn thờ Tổ Quốc không thể nào xóa bỏ được. Ông Kiểng bảo : "Bỏ và xóa để đổi mới hết tất cả". Trời hỡi ! Làm sao tôi dám từ chối, tôi không phải là người Việt Nam đây ? Bài thơ "Chẳng Bao Giờ Quên..." mà báo "Thông Luận" đăng tháng 9 năm 1999 đã nói rõ lòng tôi rồi. Bởi khi đọc bài... của ông Kiểng viết có câu : "Dân Việt Nam ta không hèn. Nhưng vì bị đả thương quá nặng...". Tôi bị rung động và cảm hứng, bèn làm bài thơ gởi riêng tặng cho ông. Nhè ông đăng lên báo "Thông Luận". Vài tuần sau là tôi bị Họ chụp cho tôi cái mũ to tướng lên đầu. Họ nói là : "Dạo này VDN bắt tay với Việt Cộng...". Trời hỡi ! Tôi mà Việt Cộng ? Nhưng rồi sau đó, cũng êm êm. Nên bây giờ tôi bị nghi ngờ lắm lắm. Nhưng không sao ! Nước từ từ chảy tới. Người ta cũng sẽ hiểu tôi hiện tại tương lai cũng như quá khứ những gì tôi đã làm... (khỏi cần biện minh hay kể lể làm chi cho mệt...). Tôi chỉ chống bất công trên cõi đời này. Và, tôi theo đường lối mà tôi thấy trúng với lòng tôi thôi. Đời ! Đời thì ai ai cũng sẽ chết. Nhưng sống thì phải biết chút ít gì mình đang sống chứ ? Cây cỏ còn biết đem sự xanh tươi. Bông hoa còn biết khoe sắc đưa hương cho người đời mến chung. Huống chi là làm người ?
Để trở lại quyển "Tổ Quốc Ăn Năn" của Nguyễn Gia Kiểng. Một quyển sách không có địa chỉ của tác giả và nhà xuất bản, mà chỉ có tên tác giả thôi. Theo tôi thì thấy rất hiếm có như thế. Phải chăng N.G.Kiểng sợ, hay là... vì đó chăng ? Nhưng dù gì đi nữa, tôi cũng được nói ngay mặt N.G. Kiểng là : "Anh đề tựa "Tổ Quốc Ăn Năn" nghe hơi hỗn đấy !". Anh Nguyễn Gia Kiểng trả lời rất vui vẻ : "Thì chị cứ viết lên đi...". Thì đêm nay tôi viết đây. Nhưng không biết bài này có được đăng không ?
Tôi viết với tấm lòng chân thật theo tôi nghĩ, chứ không có ai bảo hay ép bức tôi viết cả.
Để kết luận bài này, Nguyễn Gia Kiểng muốn nhiều người nói lên tư tưởng riêng của mình. Cũng có thể nói là anh khiêu khích. Nhưng dù sao đi nữa, trong những ngày sắp tới còn rất nhiều bài khác để chúng ta đọc và suy luận.
Tôi ít khi khen ai quá lời và cũng hiếm chê bai ai thậm tệ. Bởi làm người, ai cũng có cái hay mà cũng có cái dở. Nên hãy suy xét kỹ càng, rồi mới dám khẳng định việc đúng hay sai. Mong ông Kiểng viết tiếp nữa.
Quyển "Tổ Quốc Ăn Năn" như là tảng đá to lớn liệng vào cái biển hồ mà trên mặt lẫn dưới đáy đang có sóng lớn chao động khá mạnh... Có lẽ, ông Kiểng muốn khơi động thêm lòng người hiện tại để tìm xem ai là người thật sự yêu Tổ Quốc Quê Hương và Dân Tộc Việt Nam ?
Tôi không theo phe ai cả. Mà chỉ chống bất công, bạo quyền, bạo lực và độc tài trên cõi trần này - Nhất là Quê Hương VN đang còn CS độc quyền, độc trị. Tôi muốn toàn thế giới (nhân loại) đều sống Tự Do và thoải mái như tôi đang sống hiện tại.

Cầu mong đất Mẹ yên lành
Tự Do Dân Chủ đoạt thành mau mau
Toàn dân Việt, đang khát khao,
Trong, ngoài vui vẻ đón chào Tự Do.
Trên Quê Hương Việt Nam ...


(Ivry-sur-Seine,02 giờ 30 rạng 10-05-2001)

***
 "Mất Quê Hương"

Hồi ký của Việt Định Phương

Lời nói đầu

"Quê Hương không có nghĩa là mảnh đất nơi đó chúng ta trú ngụ và sinh sống. Quê Hương đồng nghĩa với Tổ Quốc, vì nó mà tiền nhân ta và thế hệ này có bao nhiêu người hy sinh xương máu gìn giữ, bồi đắp.
Cô Nguyễn Thị Hậu cho rằng cô không "Mất Quê Hương". Tôi không bài bác quan niệm của cô, vì đó là cái quyền của cô. Biết đâu cô Hậu sẽ trở về và chiến đấu bên cạnh những người kháng chiến Phục Quốc.
Riêng tôi, tôi đã bỏ Quê Hương ra đi, coi như đã đánh Mất Quê Hương. Đoạn trước tôi đã nói, tôi quyết trở về Quê Hương, dù về bằng nắm xương tàn.
Cô Hậu đã hiểu lầm 3 chữ Mất Quê Hương trong thiên hồi ký này, có người hiểu như cô Hậu, nên tiện dịp lá thơ ấy để trả lời cùng một lúc.
Thiên Hồi Ký này gói ghém tâm tư của Người Lưu Vong, kể lại cuộc đời một người sống qua ba thế hệ của cuộc chiến tương tàn dài ba mươi năm.
Là một sinh viên, một cô gái mới lớn lên, cô Hậu chưa thắm thía tình yêu Quê Hương và nỗi buồn xa xứ của mt người đi không biết ngày nào...được về.
Tôi muốn cô Hậu hãy đọc bức thơ dưới đây của một người Thiếu Phụ Việt Nam bà Caroline T. có chồng Pháp.
Bà Caroline T. nhiều hy vọng về Việt Nam hơn tôi hay cô Hậu, nhưng bà vẫn thấy mất mát một cái gì...Đó phải chăng là Tình Quê Hương. "
 

Paris, le 19-04-1976 


Ông Việt Định Phương kính mến, 


Tôi đã đọc qua ba số báo của ông từ 1 đến 3. Qua ba bài "Mất Quê Hương" do ông viết, tôi không khỏi rưng rưng nước mắt nhiều lần, khi ông nhắc lại những cảnh giống quê mình, cũng như dòng sông, biển cả. Buồn và buồn thật!!!
Tôi cũng như ông nói riêng, cũng như bao người Việt xa Quê Hương nói chung đều có những ý nghĩ như nhau là nhớ Quê Hương không sao tả nổi. Chắc ông không quên ngày 05-04-1975 ông đã nhận được bức thơ gửi bằng tay do tôi viết chứ. Trong lúc đó tôi có đem một valise quần áo cũ cùng kèm theo 5.000 đồng hay 10.000 đồng gì đó tôi quên mất rồi. Đi gửi Kim Cương và Thanh Thúy làm phương tiện di chuyển đồ đạc. Lá thư tôi gửi cho ông tôi đề là "T.C.H." (Tuyết Carroline Hiver) một bức thơ thường như bao bức thơ khác. Nhưng ngày 25-04-1975 ông lại đăng lên báo, tôi không thể nào ngờ được, là bài "Một Người Đàn Bà Pháp Gốc Việt, bằng lòng lãnh 19 triệu viên đạn để đổi lấy quê Hương Thanh Bình" lúc đó tôi rất lạc quan không bao giờ nghĩ Miền Nam chúng ta rơi vào tay cộng sản, nhưng đến ngày 29-04-1975 tôi hoàn toàn thất vọng. Chính mắt tôi nhìn thấy cảnh chen nhau xuống tàu, vì nhà tôi ngang nhà Rồng, đường Trịnh Minh Thế, Bến Vân Đồn ngay góc cầu Quây.
Trong số mấy chục ngàn người tôi được biết có ông Dzũng Thiếu Tá Không Quân, người đã nhờ tôi giữ lại chiếc xe Lambretta. Rồi cùng vợ con chạy xuống tàu luôn. Sau này chiếc xe đó ông Dzũng đánh điện tín về, ông em đến lấy. Sau khi hơn hai tháng không có ai nhận. Tuy nhiên được "Bộ Đội" thử sơ sơ, vì xung quanh nhà tôi tụi nó ở rất đông, tôi được sống chung cư và tiếp xúc với tụi nó hàng ngày trong vòng hơn sáu tháng.
Tôi rời khỏi quê hương ngày 14-11-1975 cảnh biệt ly đó có gia đình tôi tiễn dưới sân nhà, cũng có hàng mấy chục Bộ Đội đứng nhìn cảnh đó. Kẻ ở lại người vĩnh viễn ra đi theo chồng về xứ lạ, ông sẽ nghĩ như thế nào.
Tôi đem quần áo vừa đủ 80 ký lô cho hai vợ chồng tôi và cùng hai con tôi, và một vật quý nhứt ông có nói trông bài "Mất Quê Hương" là một nắm cát, cát Việt Nam cũng như đất Việt Nam vậy, bỏ trong túi ny-lông tôi còn cất mãi trong tủ nhà tôi đây, nắm cát đó tôi sẽ bỏ vào cái Lư Trầm nay mai để tưởng niệm, trong những ngày giỗ ba tôi, ông bà tôi và ngày Tết Việt Nam của chúng ta. Trừ Nguyễn Khánh và tôi không biết còn có ai làm "cái trò" đó không đây ? Tôi nghĩ chắc có nhiều người lắm mà chúng ta không được biết. Hồi ở nhà tôi không nhớ để đào đất, nhưng khi đến T.S.N. tôi nhìn lần cuối cùng rồi nhìn xuống đất thấy một đống cát không được sạch lắm, nhưng tôi khom xuống hốt trên tay nhìn xung quanh lại có cái bịt ny lông nhỏ tôi bèn lại lấy bỏ vào rồi cất trong xách tay tôi, chồng tôi không khỏi thở dài lắc đầu. Khi lên máy bay "Royal Laos" tôi là người vào chót vì cứ đứng ngay cửa nhìn về Sài Gòn mãi cho đến khi người ta mời vào thôi, nước mắt tôi ràng rụa khóc thật nhiều. Rồi cửa máy bay đóng lại chuyển bánh từ từ rồi bay hẳn lên cao, tôi khóc thật lớn, thật to, trên máy bay hơn 80 người, đủ thứ dân, nhưng lúc tôi đi Việt Nam dân Tây nhiều nhứt - nhứt là đàn bà theo chồng, nhưng có một mình tôi khóc thôi. Tôi được ngồi ngay cửa nhỏ của máy bay, nhìn xuống mây vườn dòng sông : nơi đó là nhà tôi có mẹ tôi bạn bè tôi giòng họ tôi, mồ mã ông cha tôi. Khi nghe đến tiếng báo : "Máy bay rời khỏi địa phận V.N." do mấy cô gái Lào nói tiếng Anh và tiếng Pháp, tôi nói trong lòng là "Thôi vĩnh biệt V.N. vĩnh biệt tất cả gia đình và quãng đời thơ ấu của tôi đã sống và lớn lên nơi ấy". Đến Bank-Kok Thái Lan mắt tôi sưng vù như ai đánh vậy. Tôi được dừng chân nơi ấy đúng một tuần, tôi sống cảnh quê hương đôi chút vì nơi đó giống y như V.N. có đồng ruộng, vườn, dừa, cây cối không khác quê hương ta tí nào. Ngoài ngôn ngữ khác thôi.
Nay qua đến Paris hơn 5 tháng mà mỗi lần dẫn các con tôi tới tiệm "Tạp hóa" V.N. tụi nó hỏi : "Mẹ ơi ở đây V.N. hả Mẹ, người ta nói tiếng Việt con nghe nè!!!" .
Những tiếng hỏi của con tôi, phải làm tôi bùi ngùi không ít, nhớ quê hương nhứt là Sài Gòn, vì khi vừa 12 tuổi được lên Sài Gòn học trung cấp, đệ nhứt cấp mà thôi. Rồi cuộc đời tôi lăn theo ánh sáng phồn hoa Sài Gòn và nay trôi giạt đến Paris.
Quê tôi Bình Chánh thuộc tỉnh Gia Định, ai về miền Tây phải đi qua nhà tôi, Bình Chánh quê tôi có xoài nổi tiếng ngon nhứt, mà cũng nổi tiếng nhứt là V.C. cũng nhiều.
Tôi không thể nào quên được ngày chúa nhựt 09-11-1975 ngày đặt chân cuối cùng về quê. Đã lên Sài Gòn suốt 17 năm. Nhưng ngày cuối cùng tôi trở lại để từ giã bà con xóm giềng, tôi vẫn mặc chiếc bà ba màu đậm quần sa ten đen đầu đi nón lá chân mang đôi giép Nhựt trắng. Tôi lặn lội nhà này lút nhà kia vào trong sân đồng ruộng những con đường hồi nhỏ tôi hằng bước khi còn thơ ấu. Tôi biết trước về đó chỉ để khóc, qua lời nghẹn ngào "con sắp đi trong vài ngày ... chúc ông, bà, bác, chú, cô v.v...v.v... Rồi ai ai cũng chúc lại tôi qua những giọt lệ lăn dài trên gò má. Tôi khóc suốt ngày hôm ấy, tôi biết trước sẽ khóc nhiều nên đem hai cái khăn mu soa mà không đủ vì nước mắt ướt hết. Trước khi tôi chào ra về, để được về nhà khóc cho thỏa thích. Bà con của tôi ôm lấy tôi mà hôn như khi tôi còn bé vậy. Từ khi tôi lên Sài Gòn đến ngày đó tôi mới được bà con tôi ôm hôn nữa. Thật không còn gì cảm động bằng !!! Thắm thía bằng tình quê hương cũng như tình cốt nhục. Sống theo lối Âu Mỹ làm sao có tình cảm như chúng ta. Phong tục chúng ta, bà con tám mươi đời cũng còn xem như ruột thịt, đó là cái tình cảm tha thiết của ông cha ta để lại, ai mà cắt nghĩa được phải không ông, chỉ thấy ông họ Phạm là tôi cũng cảm thấy có bà con rồi, huống chi bà con thật sự bà con. Họ Phạm là bên ngoại tôi còn bên Nội tôi thì họ Nguyễn. Nhưng bây giờ họ gì cũng như nhau cả, gồm chung là họ "Mất Quê Hương".
Tôi cảm thấy thư hơi dài, nhưng tôi cứ viết, nếu ông không có thì giờ đọc, vậy chừng nào ông có ông cứ đọc ít hàng để ông có thêm một "đồng minh" trong giòng họ "Mất Quê Hương" chứ. Ông có chấp nhận sự thành thật của tôi không ? Những tưởng tôi thuộc sắp nhỏ của ông rồi, vì ông có nói về việc "chống Pháp" ngày xưa Ba tôi vì chánh nghĩa ấy mà chết năm 1950. Nhưng tôi là đứa con bất hiếu phải chấp nhận nước "kẻ thù" làm quê hương thứ hai thật là ngang trái phải không ông?! Nhưng thôi "ơn đền oán bỏ". Đó là câu nói thường nhứt của tôi, ngày chót tôi về có ghé thăm mộ của ba tôi mà lạy và nói "Ba tha tội bất hiếu cho con". Chắc nơi chín suối ba tôi không chấp nhận cho đứa con gái lạc loài, vì cuộc chiến cha tôi phải bỏ tôi bơ vơ trong một xã hội đầy cậm bẫy này. Nhưng được người ta cưới làm vợ là phước nhiều rồi. Chắc ông cũng hiểu tại sao tôi nói bơ vơ chứ ? Vì khi cha tôi chết mẹ tôi còn trẻ lắm !
Tôi cũng là nạn nhân chiến tranh chứ ? Vì thiếu cha vắng mẹ mà ! Về vật chất tôi cho tôi được sung sướng cho đến qua Tây này cũng vậy. Tinh thần thì thiếu hẳn tình thương cha mẹ. Hiện tại tôi được đầy đủ sung sướng. Nhưng tinh thần thì buồn quá ông ơi ! ở đây tình cảm khô khan không giống như quê mình. Hở ra thì có lối xóm bà con giúp đỡ này nọ. Còn ở đây ai chết mặc ai, sống mặc ai tôi thấy chán làm sao. Có hôm tôi trúng gió lạnh buốt cả người có một mình ở nhà, cũng ráng bò ra điện thoại cho bạn bè biết hết đứa này đến đứa kia để cạo gió. Chiều chồng tôi về tôi tủi thân khóc quá trời. Và đòi trở về V.N. ông năn nỉ và hứa nếu có V.N. dân Pháp về thăm nhà thì ông sẽ mua vé máy bay cho tôi về thăm nhà đó. Đôi khi buồn quá tôi cũng đem chính trị của Tây Pháp Mỹ ra chửi ầm nhà ông hiểu nên cứ khuyên tôi hoài. Tôi nghĩ cũng có nhiều người tình trạng như tôi lắm hiện nay. Cái nhớ quê hương nó khó chịu làm sao không thể tả được ông à !
Nếu có dịp nào qua Pháp không dám nào mời ông bà ghé thăm tôi đôi phút để tôi có dịp nhắc lại quê hương thân yêu, nhứt là sau khi "Mất Quê Hương". Vì ông là một tâm hồn yêu quê hương như tôi, tôi có cảm giác là cùng giòng họ bà con ở đây có khi tôi nhắc mãi về Sài Gòn có người làm như họ quên gốc cội nguồn mà nói với tôi : "Thôi bà ơi ! hơi đâu mà nhắc nhỡ hoài, nó qua để cho nó qua luôn" theo ông có phản ứng như thế nào. Tôi thì vẫn bản tánh ngay thẳng theo đàn ông, nên nói như tát nước vào mặt cho họ đi luôn. Nếu tôi mà có gặp người đó lại thì tôi gọi là "Thằng cha mất gốc không có cội nguồn". Vậy mà tôi không nói tiếng Pháp với con tôi, và lớn lên tụi nó phải biết viết và đọc chữ V.N., để có đi đâu hay đi làm xa phải viết thơ bằng chữ Việt cho tôi đọc, dù Anh Pháp tôi cũng biết sơ sơ. Nhưng hy vọng con tôi viết thơ cho tôi bằng chữ Việt. Tôi có quen mấy người V.N. tị nạn ở Paris cũng đồng ý với tôi việc đó lắm và có cắt nghĩa cho chồng tôi nghe là tại sao tôi không nói tiếng Pháp với các con tôi, các ông ấy nói : "Bà từng giao thiệp Tây Mỹ mà tụi nó không nhập vào cơ thể của bà tí nào, trông bà thì theo Âu Mỹ lắm, nhưng khi đối diện nói chuyện thì 100 phần trăm thuần túy V.N. hay thật’’. Tôi cười và trả lời tự nhiên là : "Công dân giáo dục, sử địa V.N. còn nằm trong đầu tôi mà ông".
Tuy tôi giao thiệp với ngoại quốc thật nhiều từ khi 16 tuổi đến giờ. Nhưng qua đây tôi vẫn còn đem theo bộ đồ bà ba trong tủ quần áo tôi kìa, thì tôi không bao giờ quên được tôi là chính gốc 100 phần trăm V.N. Tôi chỉ thấy là bà Nội, Ngoại, Má tôi mặc, bây giờ tôi cũng mặc, tôi chẳng biết kiểu áo đó có từ thuở nào, nên tôi đem theo làm kỷ niệm, chắc con tôi sau này nó không mặc quá, nhưng chưa biết được, có thể sau này lăng xê mốt áo bà ba quần Tây chơi. Vì ở Sài Gòn tôi có mặc như vậy khi đi dự Party trẻ vì tụi bạn khích tôi, tôi được hoan hô nhiệt liệt đó. Hy vọng áo bà ba thuần túy V.N. của chúng ta sau này sẽ có trên thị trường Quốc Tế thì chúng ta hãnh diện biết mấy hả ông ?
Thôi tôi viết cho ông quá dài, tôi xin dừng bút nơi đây, hẹn một dịp khác tôi sẽ viết thêm. Chúc ông bà cùng gia đình được nhiều sức khỏe may mắn và can đảm lên thêm để phục vụ món ăn tinh thần cho những người Việt cùng giòng họ "Mất Quê Hương" của chúng ta.

Kính chào ông bà
T. C. H. (Tuyết Caroline Hiver)

(Mùa Phật Đản 2520 tuần báo Trắng Đen Weekly Magazine số 11 năm 1976)
(Lúc này chưa có bút hiệu Việt Dương Nhân)

***

Báo "Tiếng Gọi Phục Quốc" số 10
Chu Bá chủ trương


Nước Mắt Ly Hương

Việt Dương Nhân
Paris, le 30-4-1978
Hôm nay đúng ba năm, ba năm buồn thảm cô đơn của người xa xứ. Ba năm đau thương của những kẻ còn kẹt lại trong tù đày gian khổ, thiếu cơm, thiếu áo thiếu thuốc men v.v...
Từ khi bầy quỉ đỏ tràn vào miền nam VN ngày 30-04-1975 là ngày toàn dân VN kinh hoàng khiếp hãi. Sau khi vị tân T.T. Dương Văn Minh nói hai tiếng "đầu hàng" thì giấc mơ của người dân VN yêu chung hòa bình bị chìm vào bóng tối, phủ lên đầu dân chúng mt màu tang tóc. Cũng ngày nầy và đến bây giờ, dân chúng tìm tàu lớn, tàu nhỏ chạy ra khơi để tìm hai chữ Tự Do.
Từ khi miền Nam được treo những tấm bảng có hàng chữ đề "Không gì quý hơn đc lập Tư Do", của con cáo già đầu xỏ Hồ Chí Minh để lại. Vì quý giá quá nên dan chúng phải đi tìm. Họ không ngại bão tố, hiểm nguy, đói khát và dù là cái chết sau cùng họ vẫn đi tìm.
Trong ba năm những người ở lại chưa được đi tìm Tự Do, họ đã sống ra sao ? Đương nhiên thế giới và chúng ta cũng đã dư hiểu rồi, Cng sản VN đã ngang nhiên gạt gẫm thế giới va chà đạp hiệp định Paris. Thì đối với 19 triệu đồng bào Nam VN họ xem có ra gì.
Là người VN yêu chung Tự Do, muôn người như mt, ai có thể quên được ngày hôm nay. Chúng ta nhớ quê hương, nhớ nhà, nhớ cánh đồng lú thơm bát ngát, nhớ những con sông nhỏ hiền hòa lờ lững vô tình chảy. Bao nỗi nhớ thương gởi về quê cha đất mẹ. Không mt người ngoại quốc nào đã mt lần viếng thăm mà quên VN được. Những đó vẫn tiếc nhớ VN. Thì thử hỏi thì chúng còn thương biết ngần nào. Thủ Đô VN của chúng ta là Sài Gòn, có khác nào Paris nho nhỏ đâu. Cũng xe cộ đầy đường, cũng đèn sáng, cũng văn minh, thời đại sung túc. Việt Nam đẹp và đẹp quá ! Lời khen của những người du khách tứ phương.
Để đánh dấu ngày đau thương đó, hôm nay tại Paris một cuộc biểu tình cho ngày Quốc hận 3 năm. Dưới chân tháp Eiffel, một rừng cờ vàng ba sọc đỏ, trước những du khách tứ xứ ngơ ngẩn nhìn. Trên năm ngàn người VN mỗi người như một, trên tay đều cầm lá cờ thân yêu đó. Cuc biểu tình tuần hành đi trong trật tự tiến về phía tòa nhà Ủy Hội Quốc Tế. Đến nơi đúng 16 giờ thì mt trận mưa đá ào ào trút xuống. Với tinh thần thù hận Cộng Sản đồng bào ta vẫn đứng yên và hô to những khẩu hiệu "Đả đảo Cộng Sản". Mưa thật to làm ai ai cũng nói : "Mưa nầy giống ở Việt Nam quá". Họ có cảm nghĩ đây là những giọt NƯỚC MẮT LY HƯƠNG rơi nặng nề trên xứ lạ, để khóc giùm cho những người bị lưu đày và cho những kẻ còn kẹt lại dưới sự tàn ác, khát máu của tập đoàn Cộng sản VN ở quê nhà.
Chúng ta quyết thắng và sẽ thắng, ngọn cờ vàng ba sọc đỏ sẽ bay khắp miền Nam VN và luôn cả miền Bắc VN.
Chúng ta hãy đoàn kết diệt cộng, sẽ trở lại sống trên mảnh đất VN Tự do thân yêu.

T.C.H.Q.H. (tức Tuyết Caroline Hiver Quốc Hương)

Tb : Lúc này chưa có bút hiệu Việt Dương Nhân - Mấy tháng hay 1 năm sau gì đó Anh Việt Định Phương sang Paris - Tui mới tự đặt cho mình bút hiệu VDN


***
Vài Hình Ảnh Biểu Tình tại Paris năm 1978
(?)






***
 
 Hình Ảnh Biểu Tình của Người Việt Tự Do Tại Pháp 
(chủ Nhật 23.12.2007)


Kính mời quí vị xem
Slide show

Những hình ảnh đấu tranh của Người Việt Tự Do tại Pháp lên án bọn việt cộng bán nước.

Ảnh Bắc Ninh

Đoàn biểu tình đứng trước tòa Đại Sứ Việt Cộng


Thi văn nhạc sĩ Đỗ Bình và Việt Dương Nhân


_________________
"Giữa sỏi đá vút vươn niềm hy vọng
Trong tro tàn dào dạt nhựa hồi sinh
Hận nội thù trên máu ruột Tiên Rồng
Căm giặc cộng BÁN non sông Hồng Lạc"
YTKCPQ

No comments: