Thứ Bảy, 14 tháng 2, 2009

Trung Quốc: Những Mắc Xích Tiến Chiếm Việt Nam ?

Chính sách đối với Việt Nam

Trung Quốc từ hơn 30 năm qua (không kể trong thời kỳ chiến tranh trước năm 1975), đã và đang chuyển mình tiến về Đông Nam Á. Và Việt Nam là một trong những thí điểm lớn để cho tư bản TQ định cư cùng với những ảnh hưởng chính trị và quân sự để thực hiện mộng bá quyền nước lớn và thôn tính vùng Đông Nam Á cùng biển Đông.

Trước sự cạnh tranh kinh tế toàn cầu ngày càng gay gắt, việc hạ giá thành phẩm là việc làm ưu tiên để có thể chiếm lĩnh thị trường thế giới. Đó là chính sách chung của mọi quốc gia. Do đó, Việt Nam là một mãnh đất béo bở cho tài phiệt TQ đầu tư vì: - Nhân công còn quá rẻ, ngay cả đối với nhân công TQ vốn dĩ đã quá rẻ mạt; - Chi phí cho việc bảo vệ môi trường không bị đòi hỏi gắt gao như ở TQ hiện tại; - Và quan trọng nhất là mọi thủ tục hành chánh và dịch vụ xuất nhập cảng đều được dễ dàng vì cung cách quản lý địa phương ở Việt Nam dễ bị mua chuộc. Từ 3 yếu tố trên, Việt Nam đối với TQ có thể được ví như là Mễ Tây Cơ với Hoa Kỳ trong lãnh vực đầu tư và sản xuất.

Thêm một yếu tố tâm lý quan trọng khiến cho các nhà đầu tư TQ di chuyển xuống Việt Nam là TQ tìm thấy nơi đây một xứ sở giống như đất nước của họ, một đất nước đang chuyển mình từ từ và đang từ bỏ chủ thuyết cộng sản không tưởng để tiến tới một nền kinh tế thị trường tự do đầy hấp dẫn. Còn về tâm lý chung của hai dân tộc, có nhiều điểm tương đồng chính nhất là việc quan hệ kinh doanh dựa theo cách tiếp cận có tính cách cá nhân và thường sử dụng quyền lực áp đặt để lấn át pháp luật hầu mang lại mọi dễ dãi trong thủ tục hành chánh.

Hãy nghe Zou Qinghai, Chủ tịch phòng Thương mãi Triết Giang tuyên bố:” Chúng tôi hiểu thông suốt rằng phải đưa tiền hối lộ mới xong công việc. Cách thức phát triển của Việt Nam chỉ đơn giản là một bản sao của Trung Quốc”.

Hiện tại, tính đến cuối năm 2005, đầu tư của TQ chính thức vào Việt Nam tương đối còn khiêm nhường so với các quốc gia trong vùng như Đài Loan, Nhật Bản, Đại Hàn là 734 triệu Mỹ kim so với hơn 50 tỷ của ba nước vừa kể trên. Nhưng qua những con số không chính thức có liên quan đến những đối tác Hồng Kông thì mức thẩm thấu vào Việt NamN có thể lên đến 3,7 tỷ. Và thương mãi hai chiều dự kiến trong năm 2008 là trên 10 tỷ Mỹ kim.

Các công ty TQ chú trọng đầu tư vào năng lượng và tài nguyên thiên nhiên của Việt Nam. TQ đã ký thoả thuận trong việc thăm dò dầu khí ở vịnh Bắc Việt trong khi Hồ Cẩm Đào viếng thăm thủ đô Hà Nội vào tháng 10, 2005. Việt Nam vẫn là một lợi điểm cho TQ vì hai quốc gia đã ký hiệp ước tự do mậu dịch với nhau. Từ đó, TQ có thể chuyển ngành dệt sang VN để tránh vấn đề hạng ngạch (quota) trong việc xuất cảng các sản phẩm nầy qua Hoa Kỳ và Liên Hiệp Âu Châu.

Ảnh hưởng lên môi sinh Việt Nam

Gần 20 năm qua, TQ đã bắt đầu chuyển dịch các cơ sở sản xuất qua VN vì áp lực của luật ô nhiễm môi trường ở bản địa là chính. Các đầu tư di chuyển về VN cũng vì luật lệ ở TQ nghiêm ngặt hơn qua việc bảo vệ môi trường ở một số khu vực tại TQ, đặc biệt ở các tỉnh ở miền duyên hải như Thượng Hải, Hong Kong, Triết Giang. Chính quyền ở những tỉnh nầy khuyến khích đầu tư ở Việt Nam đối với các công nghệ gây ô nhiễm môi trường nhiều nhất như công nghệ thép, plastic, điện tử, hoá chất v.v... Cơ quan bảo vệ môi trường ở các tỉnh trên đã bắt đầu ngăn cấm và tước quyền sử dụng đất, nước, và điện của những cơ sở có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường trầm trọng. Đó cũng là một trong những lý do chính để các nhà đầu tư TQ xuôi Nam, một nơi có chi phí dùng trong an toàn lao động rẻ mạt.

Từ những nhận định và phân tích trên đây, quả thật Việt Nam đang phải hứng chịu nhiều hệ quả của việc bành trướng và phát triển kinh tế và kỹ nghệ của TQ. Tư thế của một đàn em Việt Nam trước một đàn anh nước lớn TQ cho đến nay vẫn là một sự thuần phục hoàn toàn. Thuần phục trong tư thế chính trị, quân sự lẫn kinh tế. TQ đã tạo được một sức ép quá mạnh trong ba lãnh vực trên, khiến cho Việt Nam luôn luôn đang ở thế bị động và không thể nào thoát khỏi tầm ảnh hưởng của ba gọng kền trên.

Chiến lược xâm chiếm Việt Nam của Trung Quốc

Chúng ta thử hình dung các mắc xích có thể kết nối bảy sự kiện đang được khai triển ở Việt Nam và các quốc gia lân cận. Đó là: 1- Công trình xây dựng xa lộ Trường sơn, 2 - Mở rộng đường số 9 nối liền biên giới Thái-Lào ra biển Đông qua thị xã Đồng Hới, 3 – Xây dựng nhà máy lọc dầu Dung Quất, 4 - Dự án quốc tế giữa Trung Quốc, Lào, và Thái Lan trong việc khai thông lòng sông Cửu Long để tàu vận tài nặng có thể lưu thông trên thủy lộ nầy, 5 - Thiết lập xa lộ nối liền thành phố Nam Ninh và Hà Nội, 6 - Miễn hộ chiếu cho người Trung hoa vào tận mũi Cà Mau, 7 - Dự án khai thác quặng bauxite ở vùng Tây nguyên (Cao nguyên).

Công trình xây dựng xa lộ Trường Sơn: Từ năm 2001, cựu Thủ tướng Việt Nam cộng sản Võ Văn Kiệt đã ra lịnh bằng mọi giá phải xây dựng xa lộ Trường Sơn nối liền Bắc Nam dọc theo biện giiới Việt Miên Lào, huy động hàng trăm ngàn thanh niên xung phong thời bấy giờ. Theo quan điểm chiến lược quân sự mới, xa lộ Trường Sơn sẽ không còn là con đường chiến lược một khi có chiến tranh như lãnh đạo Việt Nam biện minh cho việc xây dựng nầy, vì với vũ khí tối tân hiện tại, sẽ không có việc di chuyển vũ khí và quân đội bằng đường bộ qua kinh nghiệm hai trận chiến ở Iraq và Afganistan. Thiết nghĩ đây là con đường chiến lựơc dành cho mục đích kinh tế-chính trị, nhưng không hẳn để áp dụng cho Việt Nam vì trong suốt chiều dài của xa lộ là vùng thưa dân cư nếu không nói là hoang dã. Như vậy mục tiêu chính phải chăng là nhắm tới một mục tiêu bí mật nhằm giải quyết huyết lộ vận chuyển hàng hoá hai chiều ở miền Tây Trung Quốc ra hải ngoại. Thử hỏi, Quốc lộ I, con đường huyết mạch của Việt Nam, cần phải được nâng cấp vì nhu cầu giao thông và phát triển cho Việt Nam, nhất là từ Quảng Trị trở ra Bắc nhưng tại sao không được lưu tâm đến?

Đường số 9 được nới rộng thành một xa lộ để khai thông một huyết mạch mới đông tây từ Thái Lan ra biển Đông nối liền Quảng Trị và thành phố Tchepone va Sawannakhet của Lào. Có được con đường nầy, hàng hoá hai chiều của TQ có thể được chuyển vận bằng đường sông và đường bộ để tiếp cận với các quốc gia khác qua biển Đông.

Về nhà máy lọc dầu Dung Quất: Tuy vùng nầy không có hạ tầng cơ sở như giao thông, điện nuớc, và dân cư thưa thớt, và rất xa trung tâm sản xuất dầu thô hàng ngàn dậm. Địa điểm nầy phải chăng được chọn lựa để đáp ứng mục tiêu chuyển vận dầu khí vào vùng đất phía Tây Nam của Trung Quốc, thay vì phải chuyển vận bằng xe từ Thượng Hải, Hong Kong bằng đường bộ rất tốn kém? Có phải, chính vì các lý do trên mà Việt Nam chấp nhận mọi tốn kém để xây dựng nhà máy Dung Quất dù cho tư bản Pháp và Liên bang Nga đã rút ra khỏi dự án từ ban đầu.

Và công trình quốc tế thứ tư là trục vớt đá ngầm cùng nới sâu lòng sông Cửu Long không ngoài mục đích vận chuyển của các tàu vận tải hàng hóa có trọng tải trên 20 ngàn tấn nối liền Vân Nam (Tây Nam Trung Quốc), Thái, Lào, và Việt Nam, và giao thương với thế giới. Vân Nam là một tỉnh sản xuất hoá chất hàng đầu của Trung Quốc; do đó, nhu cầu vận chuyển nguyên liệu nhập cảng và xuất cảng thành phảm ra ngoại quốc là một nhu cầu chính yếu.

Thiết lập xa lộ nối liền Nam Ninh và Hà Nội: Song song với việc trên, một thiết lộ cũng đã được khai thác và nối liền hai thành phố. Việc xây dựng hoàn toàn do nhân viên và chuyển viên Trung Quốc đãm nhiệm, cũng như bề ngang của đường xe lữa dựa theo tiêu chuẩn Trung Quốc; do đó, xe lữa Việt Nam không thể sử dụng được. Hiện tại, chúng ta chỉ thấy các toa xe lữa hoàn toàn mang bản hiệu chữ Tàu mà thôi. Phải chăng, thiết lộ nầy ngoài nhu cầu phục vụ các dịch vụ giao thương kinh tế giữa hai nước hay còn một ẩn dụ nào khác? Đó là con đường tháo chạy an toàn cho lãnh đạo Việt Nam hiện tại, mỗi khi có biến động lờn ở Việt Nam?

Việc miễn hộ chiếu cho người Trung hoa vào tận Mũi Cà Mau: Mãi cho đấn tháng 11, 2008, người Trung hoa được tự do đi lại, không cần hộ chiểu chỉ ở các tỉnh miền Bắc. Sau ngày trên, người Trung hoa có thể đi lại vào tận cao nguyên thậm chí đến tận Cà Mau không cần xin hộ chiếu. Quyết định nầy là một lợi khí lớn cho Trung Quốc để chuyển vận hàng hoá và thực phẩm chính thức hay không chính thức xâm nhập vào tận miền Nam bằng đường bộ. Hiện tại, tại Sài Gòn, hoá chất bảo vệ thực vật không nhản hiệu được bày bán tự do, đủ loại thực phẩm, cây trái được bày bán ở thị trường miền Nam. Thử hỏi, thời gian thu hoạch trong nội địa Trung Quốc, chuyển vận bằng xe từ biên giới Bắc Việt (không có máy điều hoà không khí) xuôi Nam, làm sao các thực phẩm cây trái trên vẫn còn tươi rói, thậm chí cả cuống và lá vẫn xanh tươi như vừa mới hái? Một trong những nguồn lợi chính của Đà Lạt là rau cũ, nhưng thị trường đã bị ối động vì không địch lại với hàng Trung Quốc vì giá rẽ hơn, trong khi phí tổn chuyên chở rất cao.
Sau cùng, dự án khai thác quặng bauxite do chính Thủ tướng cộng sản Nguyễn Tấn Dũng ra lịnh tiến hành ngay, mặc dù có biết bao góp ý từ những nhà chuyên môn trong nước và hải ngoại, thậm chí có những góp ý hoàn toàn trái ngược của Tướng cộng sản Võ Nguyên Giáp, cùng kinh nghiệm của các quốc gia đã khai thác như Nga Sô, Nam Mỹ, Phi Châu, Trung Quôc và Úc Châu.
Tất cả đểu khuyến cáo là không hiệu quả kinh tế và mức độ ô nhiễm môi trường rất cao. Chính Trung Quôc phải đóng cửa một nhà máy mới vừa khánh thành tiêu tốn trên 1 tỷ Nhân dân tệ vì không giải quyết được áp lực của ngưòi dân và sức ép của luật môi trường. Chính vì vậy mà Việt Nam “phải vâng lịnh” tiến hành ngay việc xây dựng hai nhà máy khai thác ở Đắk Nông dưới sự quản lý của nhân công, kỹ sư và thiết bị hoàn toàn do phía Trung Quốc cung cấp. Hiện tại (tháng 2, 2009), theo tướng Giáp, đã có trên 100 nhân viên TQ hiện diện ở hai công trường nầy Theo dự tính sẽ có trên 2000 công nhân và kỹ sự TQ cho công trình trên. Họ đã xây dựng lều trại, chuyển chở thiết bị và dụng cụ để khai thác quặng mõ (hay thiết bị quân sự để thăm dò vùng tài nguyên dồi dào của cao nguyên Trung phần nầy?). Ngoài ra, hiện tại còn có theo ước tính trên 100 ngàn di dân Trung Quốc đang hiện diện nơi đây.
Cùng với dự án khai thác bauxite còn hai dự án phụ góp phần vào là dự án xây dựng tueý6n đường sắt nối liền Tây Nguyen và Bình Thuận và dị7 án xây dựng bến cảng Bình Thuận để chuyển tải alumin (giai đoạn đầu trước khi tinh luyện ra nhôm kim loại) bằng đường hoả xa và đường biển.
Do đó, dự án khai thác bauxite đòi hỏi một lượng điện năng khổng lồ và nguồn nước thật dồi dào, chưa kể đến nguy cơ môi trường trước mắt là không khí bị ô nhiễm, môi trường nước cũng bị ô nhiễm do bùn “đỏ” trôi theo đường nước đi vào sông Đồng Nai, nguồn nước chính dự trù cho việc khai thác nầy. Nguy hiểm nhất là bùn đỏ sẽ chiếm lĩnh một diện tích vô cùng to lớn và hệ sinh thái chung quanh hoàn toàn bị hủy diệt, cùng vùng đất khai thác và vùng đất chứa bùn đỏ bị hoang hoá hoàn toàn. Theo ước tính, muốn sản xuất 1,2 triệu tấn alumin hàng năm, phải cần đền một lượng điện gấp đôi lượng điện Việt Nam đang có hiện nay. Vì vậy, để kết luận, tính cách khả thi của dự án không cao, nếu không nói là bất khả thi.
Như vậy, quyết định trên có phải là một quyết định đánh trống bõ dùi hay không? Hay là còn có một “ý đồ” nào khác hơn là việc khai thác nhôm? Sự hiện diện của công nhân, chuyên viên, kỹ sư Trung Quốc ở vùng Cao nguyên, xương sống của Việt Nam, nguồn nguyên liệu dồi dào còn lại của Đất Nước, có thể là một nhân tố chính trị-quânsự- kinh tế để Trung Quốc có thêm điều kiện để khống chế Việt Nam?
Nhu cầu nhôm của Việt Nam hàng năm vào khoảng 100 đến 150 ngàn tấn dễ dàng được nhập cảng từ Úc châu. Thử hỏi với lượng sản xuất hàng triệu tấn dùng để xuất cảng sang Trung Quốc mà thôi, do đó, càng thêm bị lệ thuộc vào quốc gia nầy, và dễ dàng bị khuynh đão cũng như áp lực của TQ.

Nếu tổng hợp bảy mắc xích trên lại với nhau, chúng ta có thể hình dung được một sự phối hợp chiến lược nhuần nhuyễn về quân sự-kinh tế-chính trị. Nhưng sự phối hợp đó có thể chỉ để phục vụ cho nhu cầu của đàn anh nước lớn để:
Chuyển vận hàng hóa xuất cảng từ lục địa Tây Nam Trung Quốc sang Thái, Lào, Việt Nam và quốc tế. Sản phẩm nhập cảng chiến lược của Trung Quốc là dầu khí, và Dung Quất sẽ là nguồn cung cấp quan trọng cho vùng nầy. Và biết bao lợi ích khác nữa cho Trung Quốc cả về kinh tế lẫn quân sự và chính trị.
Nếu dự kiến cảnh tượng trên đây là một sự thật thì đây sẽ không thể hiện tinh thần hội nhập và phát triển bền vững theo tinh thần của Liên Hiệp Quốc đề ra mà chỉ tô đậm thêm lý tính thần phục, nếu không nói là nô lệ của cường quyền để phục vụ cho nhu cầu kinh tế, chính trị, và quân sự của Trung Quốc hơn là tạo thêm phúc lợi cho người dân Việt.
Xuyên qua bảy cản ngại đã phân tích ở phần trên để lý giải cho việc phát triển không đồng bộ đưa đến tình trạng bế tắc hiện tại của Việt Nam trong vấn đề hội nhập vào tiến trình tòan cầu hóa trên thế giới, Việt Nam đang tiếp tục đi theo chiều hướng kinh tế chỉ huy, do đó không còn đủ sức quán tính mạnh để vượt ra khỏi rào cản thần phục và xin-cho, để rồi cuối cùng giải pháp thần phục vẫn là giải pháp dễ nhất và an toàn nhất cho công cuộc bảo vệ quyền lực.
Từ những lý do đó, làm sao lãnh đạo Việt Nam có thể đem lại niềm tin cho người dân được. Biết đến bao giờ thái độ thần phục của Việt Nam được chấm dứt để cho người dân Việt có khả năng đứng vững trên hai chân của mình. Lịch sử Việt Nam trong tương lai chắc chắn sẽ không quên ghi lại những trang sử đen tối của dân tộc trong giai đoạn nầy.

Thay lời kết

Qua những nhận định và phân tích vừa kể trên, quả thật chúng ta đã thấy thật rõ âm mưu thôn tính Việt Nam của Trung Quốc và lý tính thuần phục của Việt Nam hiện tại.

Đất Nước là Đất Nước của chung, của cả dân tộc. Từ người lãnh đạo quản lý Đất Nước cho đến người dân cùng đinh trong xã hội cần phải được dự phần và chia xẻ trách nhiệm đối với Đất Nước.

Ở các quốc gia tiến bộ và phát triển, người có quyền hạn càng cao thì trách nhiệm càng lớn. Một tai nạn xe lữa hay máy bay có thể khiến cho ông/bà Bộ trưởng Giao thông phải nhận lãnh trách nhiệm và từ chức. Huống chi trong việc quản lý một Đất Nước.

Việt Nam từ bao năm nay, có biết bao chính sách, kế hoạch... bị phá sản mà nhân sự đề ra chính sách vẫn ung dung tự tại trên cương vị cũ, có khi càng cao hơn để có điều kiện đề ra những chính sách phá sản khác! Đó là một trong nhiều nghịch lý làm trì trệ sự tiến hóa và phát triển của Dân tộc.

Tóm lại, cho đến ngày hôm nay, có thể nói qua những phân tích trên đây, mọi hành xử của cộng sản Việt Nam đều do cộng sản TQ điều khiển từ xa; Việt Nam hoàn toàn không còn khà năng quyết định vận mệnh của đất nước nếu không có sự “góp ý” của Trung Quốc. Qua việc đàn áp người dân trong nước trong khi biểu tình chống TQ lấn chiếm Hoàng Sa và Trường Sa, cũng như qua việc Việt Nam để công an TQ đàn áp người dân trong khi biểu tình chống việc rước đuốc thế vận vừa qua đủ để nói lên tính nô lệ TQ của nhà cầm quyền cộng sản Viêt Nam hiện tại.

Hiện tại, nội bộ đảng cộng sản Việt Nam đang có nhiều rạn nứt trầm trọng, và rạn nứt nầy có thể làm cho đảng cộng sản tan rã trong tương lai. Nhưng điều đó không có nghĩa là chúng ta phải chờ đợi trong thụ động mà cả người Việt trong nước hay tại hải ngoại cần phải thúc đẩy càng mạnh thêm để tiến trình dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam diễn ra càng nhanh hơn nữa.

“Quan hệ” hữu nghị giữa Trung Quốc và Việt Nam gần đây được ca ngợi bằng 16 chữ vàng : Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” đã được người dân Hà Nội đổi lại một cách mỉa mai là :”Láng giềng khốn nạn, cướp đất toàn diện, lấn biển lâu dài, thôn tín tương lai”.

Sách Lịch sử Việt Nam của Cụ Trần Trọng Kim có ghi là Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử trải qua bốn lần bị Bắc thuộc. Ngày hôm nay, có thể được ghi thêm là Bắc thuộc lần thứ năm kể từ ngày 3 tháng 2 năm 1930 và kết thúc vào ngày … Ngày đó sẽ do tất cả người Việt trong và ngoài nước quyết định.

Mai Thanh Truyết
VAST- 2/2009

Trung Quốc: Những Mắc Xích Tiến Chiếm Việt Nam ?







Trung Quốc: Những Mắc Xích Tiến Chiếm Việt Nam ?






















Trung Quốc: Những Mắc Xích Tiến Chiếm Việt Nam ?











Trung Quốc: Những Mắc Xích Tiến Chiếm Việt Nam ?







Chinese Nuclear-Powered Aircraft Carrier

Trung Quốc: Những Mắc Xích Tiến Chiếm Việt Nam ?


Khối 8406 ra tuyên bố 9 điểm về tình hình Việt Nam hiện nay


LM Nguyễn Văn Lý, một trong những sáng lập viên của Khối 8406 tại phiên tòa lịch sử 30/3/2007 tại Huế. Ngài bị CSVN kết án 8 năm tù chỉ vì đấu tranh cho nhân quyền. (Hình: AFP/Getty Images)

SÀI GÒN 12-2 (NV).- Khối 8406, một tổ chức quần chúng gồm đủ mọi thành phần ở Việt Nam vừa đưa ra bản tuyên bố 9 điểm về tình hình Việt Nam và kêu gọi mọi người đoàn kết hành động để đất nước sớm có tự do dân chủ và thịnh vượng.

Tổ chức đấu tranh dân chủ bất bạo động này cho rằng các quyền tự do căn bản của người đân đã bị chế độ CSVN tước đoạt và dành đặc quyền đặc lợi cho một thiểu số thống trị trogn khi đại đa số quần chúng sống không có ngày mai.

Bản tuyên bố 9 điểm nói rằng về kinh tế “Lạm phát gia tăng, sản xuất và dịch vụ đi xuống, đời sống của tuyệt đại đa số người dân Việt Nam gặp khó khăn chồng chất. Nhiều người lao động bị mất việc làm và không còn thu nhập. Việt Nam lại chẳng có hệ thống an sinh xã hội để bảo đảm mức sống tối thiểu cho người thất nghiệp, cho những kẻ nghèo không nơi nương tựa. Họ đã và đang bị bần cùng hóa một cách thê thảm.

Tình trạng khốn khổ này không những xảy ra với dân thường mà còn với cả những người ngay chính, không chịu làm trái lương tâm trong hệ thống công quyền, kể cả trong lực lượng công an và quân đội. Tất cả họ - vốn chiếm đa số trong xã hội - đều thuộc tầng lớp bị trị mà quyền lợi đã và đang bị một thiểu số thống trị trong bộ máy cầm quyền ở Việt Nam hôm nay tham muốn nuốt trọn”.

Những giải pháp đối phó với khó khăn kinh tế được đưa ra trong năm qua chỉ là những biện pháp nửa vời, không giải quyết tận gốc rễ của vấn đề, bản tuyên bố nhận định.

Về phương diện chính trị, Khối 8406 nói “Suốt hơn 63 năm qua, chế độ này luôn tập trung quyền lực vào tay một thiểu số lãnh đạo chính trị bất lương trong đảng cộng sản Việt Nam... Nó không hề lấy sự ủng hộ của lòng dân để xây dựng và phát triển đất nước mà lại lấy bạo lực và lừa bịp làm phương tiện để tồn tại”.

Chính vì vậy “nạn tham nhũng, lãng phí và hủy hoại môi trường rộng khắp; là cảnh áp bức, bất công, đói nghèo và tụt hậu đầy dẫy; là thói mua quan, bán chức nhan nhản, là sự giảm thiểu đạo đức xã hội và gia tăng đủ loại tội ác; là sự xâm phạm ngày càng nghiêm trọng đến an ninh cá nhân và xã hội, đến an ninh dân tộc và quốc gia (biên giới đất và biên giới biển)”.

Ðể nắm trọng quyền lợi kinh tế, đảng CSVN đặt ra điều 4 ở hiến pháp, dành độc quyền thống trị cho họ vô thời hạn và không qua một cơ chế giám sát nào. Bởi vậy, Nguyễn Minh Triết từng tuyên bố ngày 27/8/2007 rằng “Dù ai có nói ngả nói nghiêng, dù ai có muốn bỏ điều 4 Hiến pháp thì cũng không có chuyện đó được. Bỏ cái đó đồng nghĩa với chúng ta tuyên bố chúng ta tự sát...”

Trước tình hình đất nước như vậy, Khối 8406 “kêu gọi mọi người Việt Nam còn yêu nước thương nòi, không phân biệt già trẻ trai gái, không phân biệt tôn giáo, sắc tộc, hoàn cảnh xuất thân, giai tầng xã hội, địa điểm sinh sống, v.v... hãy cùng đoàn kết đứng lên đấu tranh để thay thế triệt để chế độ độc đảng, độc tài và phản dân tộc này bằng một chế độ dân chủ, đa nguyên đa đảng và pháp trị tiến bộ trong tương lai, bằng những việc làm cụ thể sau đây:

1) Tiếp tục vạch trần sự thối nát, mục ruỗng toàn diện của chế độ độc tài toàn trị hiện nay; vạch trần sự lũng đoạn bất lương của một thiểu số cầm quyền, đặc biệt là của 15 ủy viên Bộ chính trị Ðảng cộng sản Việt Nam đương chức, đang hàng ngày hàng giờ tàn phá đất nước, dân tộc này!

2) Ủng hộ sáng kiến mở chiến dịch khiếu kiện trước Liên Hiệp Quốc về những vi phạm nhân quyền của nhà cầm quyền CSVN. Ðòi họ phải cho đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng ở Việt Nam 3 văn kiện quan trọng (xin xem phần phụ lục). Ðó là:

+ Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền của Liên Hiệp Quốc (1948).

+ Công ước quốc tế về những quyền dân sự và chính trị (1966).

+ Công ước quốc tế về những quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (1966).”

Khối 8406 kêu gọi mọi người “Lên án các cuộc đàn áp, theo dõi, bắt bớ, đánh đập, khám nhà, gọi thẩm vấn, tịch thu tài sản, đuổi việc, xử phạt hành chính, giam tù,... của nhà cầm quyền CSVN đối với những tiếng nói đấu tranh cho các quyền tự do dân chủ. Ðòi họ phải thả các tù nhân chính trị, tù nhân tôn giáo; phải để cho những người đấu tranh dân chủ tự do gặp gỡ, hội họp với nhau và với các nhà hoạt động nhân quyền, lãnh đạo chính trị trên thế giới.”

“Lên án các cuộc đàn áp của nhà cầm quyền CSVN đối với các cá nhân và tập thể dân sự lẫn tôn giáo đấu tranh đòi lại đất đai bị CSVN cướp đoạt trên khắp đất nước.”

“Lên án công hàm bán nước do ông Phạm Văn Ðồng ký ngày 14 tháng 9 năm 1958 và 2 hiệp định ký trong 2 năm 1999-2000 giữa Việt Nam và Trung Quốc (về đất và biển).”

Khối 8406 “Mời gọi đồng bào Việt Nam ở ngoài nước khi có điều kiện hãy về sát cánh với đồng bào trong nước để cùng đấu tranh cho dân chủ. Xin đồng bào đừng để mình bị Nghị quyết 36 của Bộ Chính Trị đảng CSVN lừa gạt.”

Bản tuyên bố do một ban điều hành lâp thời công bố ngày 12/2/2009 ở Việt Nam.

Khối 8406 do LM Nguyễn Văn Lý và 117 vị khác gồm đủ mọi thành phần trong xã hội thành lập và công khai hoạt động ngày 8 Tháng Tư năm 2006. Nhiều tổ chức bảo vệ nhân quyền quốc tế, các chính phủ Tây Phương hậu thuẫn mạnh mẽ cho tổ chức này. Nhưng chế độ Hà Nội đã bỏ tù LM Nguyễn Văn Lý và một số thành viên quan trọng của tổ chức từ khi tổ chức được thành lập đến nay.


Thursday, February 12, 2009

Thứ Năm, 12 tháng 2, 2009

Xin gởi đến những ai còn chút tình với quê hương và đất nước



Đã là con người thì ai cũng phải trải qua thời niên thiếu, cái thời của những ngày là học sinh cấp I, II và III chỉ biết tiếp thu những bài học một chiều từ những lời giảng dạy của thầy cô.

Chúng tôi cũng tin chắc rằng tất cả các bạn trẻ sinh viên và những nhà trí thức tha thiết với quê hương cũng có cái nhìn không đẹp với đường lối cai trị độc tài, độc đoán do ĐCSVN lãnh đạo hiện nay đối với đất nước. Những hành động dứt khoát và những tiếng nói chân thành của các bác, các chú lão thành đã từng là đảng viên ưu tú của đảng, từng giữ những chức vụ quan trọng trong guồng máy của đảng, cùng với sự dấng thân tranh đấu ôn hòa của các nhà trí thức dân chủ yêu nước chấp nhận mọi gian nguy trước sự đàn áp thô bạo của cường quyền trong thời gian qua và vẫn còn tiếp tục, là cái phúc rất lớn cho dân tộc VN. Chính nhờ những chứng nhân thực tế của các bác, các chú trong hàng ngũ của đảng đã thức thời kể lại trên hệ thống Internet toàn cầu, cùng các tài liệu bí mật đã được các nhà nghiên cứu lịch sử tìm thấy, khiến cho chúng tôi tự cảm thấy đang bị lừa trong một nền giáo dục chỉ biết tuyên truyền theo hướng có lợi cho ĐCSVN, mà ngay chính chủ nghĩa xã hội của nó đã bị cộng đồng thế giới phế bỏ từ lâu.

Sở dĩ chúng tôi dám khẳng định như thế là bởi vì trong thực tế CNXH chỉ còn tồn tại ở một vài nước trên thế giới trong đó có VN, nhưng nó chỉ tồn tại về mặt độc quyền chính trị, còn về mặt kinh tế thì đang nhờ vào sự giúp đỡ của các nước phát triển dân chủ đa nguyên. Đường lối giáo dục của VN do đảng lãnh đạo đã đưa môn triết học Marx-Lênin vào chương trình học, bắt buộc chúng tôi cũng như toàn thể sinh viên, học sinh trong nước phải tin tưởng vào những điều không tưởng xa rời thực tế, phải học những điều vô bổ để đối phó tình thế, mà ngay chính thầy cô dạy chúng tôi cũng đều công nhận như thế. Đây là một điều tai hại cho thế hệ tuổi trẻ VN và tương lai của đất nước. Chúng tôi xin dẫn chứng ra đây một vài sự thật, hy vọng sẽ thức tỉnh được phần nào lương tâm của những người có thiên kiến hẹp hòi chỉ biết đặt quyền lợi riêng cá nhân và của đảng lên trên quyền lợi của quốc gia, dân tộc.

Cũng vì mục đích độc tôn quyền hành chính trị cho nên ĐCSVN mới tạo ra cuộc cải cách ruộng đất ở miền bắc và thanh trừng các nhà trí thức trong nhân văn giai phẩm vào những năm 1954-1957 để đảng khẳng định rằng: tư tưởng văn hóa của VN phải tuyệt đối theo hệ thống XHCN và chỉ có CNXH mà thôi. Hai bài thơ nổi tiếng "đời đời nhớ ông" để tôn vinh Lênin và bài thơ cổ súy cho cải cách ruộng đất của ông Tố Hữu đã nói lên điều đó mà bất cứ ai có dịp đọc qua cũng cảm thấy rùng mình.

Những bài học sặc mùi hận thù Mỹ dành cho học sinh mầm non và tiểu học thời bao cấp, cho đến những nhân vật anh hùng kiểu Lê văn Tám và vô vàn những câu chuyện gương mẫu về cuộc đời thần thánh của bác Hồ mà Đảng đã nặn ra để bắt buộc học sinh phải thấm nhuần trong đầu óc. Môn học GDCD lớp 7 do nhà xuất bản giáo dục năm 1997 có bài đọc thêm "tinh hoa dân tộc VN góp phần vào tinh hoa của thế giới" khẳng định tổ chức Unesco của LHQ đã ra quyết định công nhận chủ tịch HCM là danh nhân thế giới nhân dịp kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh chủ tịch HCM (năm 1990). Nhưng sau khi đối chiếu các thông tin có được trên internet thì mới biết được sự thật phủ phàng:

- Anh hùng Lê Văn Tám không có thật mà được đảng tự đặt ra để phục vụ cho mưu đồ chính trị (điều này đã được sử gia Trần huy Liệu xác nhận trước khi chết).

- Cuộc đời thần thánh của chủ tịch HCM như Đảng tuyên truyền cũng không có thật, vì bác Hồ đã có vợ chính thức bên Trung quốc vào năm 1926 là bà Tăng tuyết Minh. Còn tại VN thì bác đã có con với cô Nguyễn thị Xuân vào năm 1957 và đặt tên là Nguyễn tất Trung, hiện nay vẫn còn sống và trở thành tư bản đỏ tại thủ đô Hà Nội. Cái chết mờ ám của Nguyễn thị Xuân là kết quả của một sự đòi hỏi muốn làm một người vợ chính thức với bác (theo tiết lộ của nhà văn Vũ Thư Hiên trong cuốn hồi ký "Đêm giữa ban ngày", và của ông Nguyễn Minh Cần nguyên Phó chủ tịch Ủy Ban Hành chánh Hà Nội lúc bấy giờ và hiện nay đang sống bên Nga). Đối với một nhà lãnh đạo cho dù tài ba xuất chúng đến đâu đi nữa, thì chuyện có gia đình, có vợ con là chuyện bình thường. Việc đảng thêu dệt và thần thánh hóa cuộc đời của bác Hồ để phục vụ cho mưu đồ chính trị là không thể chấp nhận bởi vì, nó đã đi ngược lịch sử, đi ngược sự thật. Tác giả Trần Dân Tiên và T-Lan trong các cuốn sách ca ngợi bác cũng do chính bác viết và tự đặt tên. Bác cũng chưa từng được tổ chức Unesco của LHQ công nhận là danh nhân của thế giới, vì buổi lễ tuyên dương bác Hồ là danh nhân thế giới tại Pháp năm 1990 là do tòa đại sứ VN tự tổ chức, tự chi trả không có sự yểm trợ và tham dự của đại diện Unesco LHQ.

Bác Hồ thường nói "các vua Hùng có công dựng nước, bác cháu ta phải phải cùng nhau giữ nước" nhưng đây là câu nói không thật bởi vì chính bác đã đồng ý cho thủ tướng Phạm văn Đồng ký công hàm ngày 14/9/1958 công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Hiện nay tuy bề ngoài chính quyền VN vẫn tuyên bố về chủ quyền của HS và TS, nhưng công an lại đàn áp bắt giam những ai dám nói lên tiếng nói và biểu tình chống TQ xâm lăng, trong khi cho phép những du khách Trung Quốc biểu tình xác định Hoàng Sa và Trường Sa là của bọn chúng ngay trên đất nước mình?. Tại sao chính quyền lại dập tắt cuộc biểu tình của sinh viên ngày 14/9/2008 là ngày mà tòa đại sứ TQ họp báo tại thủ đô Hà nội để công bố bức công hàm của ông Phạm văn Đồng? Tại sao chính quyền lại không dám đưa việc xâm lăng HS, TS của TQ ra trước HĐBA Liên hiệp quốc và tòa án quốc tế xét xử? Tại sao đất nước là sở hữu tối thượng của toàn dân mà chính quyền không dám công khai cho nhân dân biết các hiệp ước về lãnh thổ, lãnh hải ký kết với TQ năm 1999 và 2000? Với những điều xảy ra như vậy, chúng tôi có quyền nghi ngờ lòng yêu nước của các nhà lãnh đạo ĐCSVN.

Sau hơn 60 năm kể từ ngày Đảng lãnh đạo miền Bắc và hơn 30 năm giải phóng miền Nam. Đất nước VN đã thua xa những nước khác trong khu vực mà trước 1975 nền kinh tế của miền Nam VN vẫn được công nhận là con rồng của Đông Nam Châu Á. Nhìn qua các nước chung quanh chúng tôi hiểu rằng nếu không có ĐCSVN thì đất nước vẫn giành được độc lập từ tay người Pháp vì đây là xu hướng chung bắt buộc Pháp phải trao trả độc lập cho VN cũng như các nước thuộc địa của Pháp trên thế giới. Nếu không có ĐCSVN thì chắc chắn nền độc lập của VN sẽ là nền độc lập dân chủ đa nguyên, ngày hôm nay đất nước VN sẽ không phải là một trong những nước nghèo của thế giới, nhân dân VN sẽ không hổ thẹn khi phải hy sinh những đứa con thân yêu đi làm tôi mọi cho các nước tư bản qua hình thức hợp tác lao động và lấy chồng nước ngoài. Tổ quốc VN cũng không phải mất đi hàng triệu đứa con thân yêu qua các cuộc chiến phi lý, cũng sẽ không có chuyện hàng triệu con người phải bỏ nước ra đi. Đặc biệt Hoàng sa và Trường sa sẽ không bao giờ rơi vào tay của bọn bành trướng TQ. Nếu không có ĐCSVN thì hàng ngày sẽ không bao giờ có cảnh từng đoàn người dân oan đi khiếu kiện vì đất đai đã bị các cán bộ, đảng viên có quyền thế ngang nhiên chiếm dụng. Nhân tài VN sẽ không đứng ngoài để nhìn những con người kém trí tuệ của đảng tự do tham nhũng nhưng vẫn hô hào là chống tham nhũng, tự do đứng trên luật pháp nhưng vẫn chủ trương sống và làm việc theo pháp luật, tự do ăn chơi và tự do làm giàu bằng tiền đóng thuế của dân và tiền vay mượn của các ngân hàng nước ngoài để trở thành những tư bản đỏ của thời đại. Sẽ không có chuyện nhân tài VN bắt buộc phải đem chất xám của mình để phục vụ và làm giàu cho các công ty nước ngoài, sẽ không có những khối lượng chất độc khổng lồ của các công ty, xí nghiệp tự do thải xuống những dòng sông mạch sống của nhân dân trước sự vô cảm của các quan chức chính quyền (điển hình là Cty Vedan trên dòng sông Thị Vải).

Chúng tôi đã đọc bản tuyên ngôn độc lập mà chủ tịch Hồ chí Minh đã tuyên thệ trước toàn dân miền Bắc ngày 2/9/1945, cũng như bản tuyên ngôn quốc tế nhân quyền của LHQ và các công ước quốc tế mà VN đã ký kết. Chúng tôi cũng nghiên cứu rất kỹ bản hiến pháp của VN hiện hành trong đó điều 69HP có ghi: công dân có mọi quyền tự do về ngôn luận, tín ngưỡng, cư trú, thông tin, báo chí, biểu tình và lập hội". Rồi lời tuyên bố của chủ tịch nước Nguyễn minh Triết tại Mỹ: "Bất đồng chính kiến là chuyện bình thường", và của thủ tướng Nguyễn tấn Dũng: "Yêu nhất, thích nhất là trung thực, ghét nhất, giận nhất là giả dối". Nhưng trên thực tế đây là những câu nói giả dối mỵ dân. Việc đàn áp bắt bớ những thành phần bất đồng chính kiến tranh đấu cho một nền dân chủ phù hợp với hiến pháp và ý nguyện của toàn dân, trù dập những người yêu nước chống sự bành trướng của TQ là không thể chấp nhận được.

Chúng tôi đã từng đọc toàn văn các luận cứ của luật sư Lê Công Định trong vụ án chính trị bào chữa cho anh thư LS Lê thị Công-Nhân và LS Nguyễn văn Đài; Luận cứ của LS Lê Trần Luật bào chữa cho nhà dân chủ Trần Minh Đức, Phạm Bá Hải và dân oan cũng là thành viên khối 8406 Lương Văn Sinh. Riêng vụ xử anh Nguyễn Hoàng Hải (blogger Điếu Cầy) tội trốn thuế (một tội danh không có thật) được chính quyền bịa đặt dựng lên nhằm mục đích bỏ tù anh, để anh không còn cơ hội thực hiện lòng yêu nước của mình trước sự xâm lăng của Trung quốc. Chúng tôi cũng biết đầy đủ về việc công an đã dùng luật rừng để bắt chị Phạm Thanh Nghiên, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, nhà giáo Vũ Hùng, SV Tiến Nam, SV Ngô Quỳnh, nhà thơ Trần Đức Thạch, chị Lê thị Kim Thu và một số nhà dân chủ khác. Thật đúng như lời bà Ngô bá Thành (cựu chủ nhiệm Uỷ ban Pháp luật Quốc hội) nói "VN có cả một rừng luật, nhưng toàn là luật … rừng".

Việc chính quyền Hà nội đơn phương giải tỏa 2 khu đất tòa Khâm sứ cũ và Linh địa Thái Hà vào ban đêm trong khi sự việc đang trong vòng tranh cải, cũng như cố tình cắt xén bài phát biểu của TGM Ngô Quang Kiệt để tìm cách vu khống bài phát biểu đầy tinh thần dân tộc của ngài. Việc nhà nước huy động tất cả hệ thống truyền thanh-truyền hình và báo chí để bôi xấu TGM Kiệt và các giáo dân cầu nguyện ôn hòa, là hành động bỉ ổi. Việc làm này chứng tỏ tầm hiểu biết của các nhà lãnh đạo ĐCSVN là dưới mức trung bình. Còn nhớ vào tháng 9/2007 khi HT Thích Quảng Độ cứu trợ và phát biểu trước hàng ngàn dân oan khiếu kiện tại VP2QH tại Sài gòn, lúc đó cả hệ thống truyền thanh-truyền hình và báo chí độc diễn hạ nhục HT Quảng Độ cũng giống như TGM Kiệt bây giờ. Hình như tội vu khống trong bộ luật hình sự chỉ dành cho người dân, còn những con người có chức quyền thì cứ tự do vu khống. Chính quyền Hà Nội lại còn gởi bản đề nghị cho Hội Đồng Giám Mục Việt Nam kỷ luật và thuyên chuyển TGM Kiệt. Khi HĐGMVN từ chối vì TGM Kiệt không sai phạm giáo luật thì ngày 15/10/2008 ông Nguyễn thế Thảo Chủ tịch Ủy ban Nhân dân TP. Hà Nội công khai phát biểu trước đại diện ngoại giao các nước tại Hà Nội rằng sẽ đề nghị thuyên chuyển cho bằng được TGM Kiệt ra khỏi Hà Nội. Thật tình, tuổi trẻ chúng tôi không biết phải nghĩ sao cho phù hợp với chính quyền này?, phải chi chính quyền CSVN biết được cái nhục mất đất, mất hải đảo và mất biển qua công hàm của ông Phạm văn Đồng, qua các hiệp định biên giới và vùng biển năm 1999 và 2000 mà VN đã nhường cho TQ thì hay biết mấy. Bây giờ bằng tất cả chân tình chúng tôi xin bày tỏ:

1/- Xin đồng bào VN hải ngoại, xin quý vị xuất gia tu hành trong các tôn giáo có tư tưởng về nguồn ở hải ngoại (nhất là Phật giáo). Kính mong quý vị nên suy nghĩ kỹ hành động của mình để khỏi bị lừa bởi các chính sách mà chính quyền VN đang nhắm vào quý vị một cách rất tinh vi, họ đã dùng những cụm từ: "Việt kiều yêu nước", "khúc ruột ngàn dậm" không thể tách rời, hoặc các đặc tình tôn giáo là để mê hoặc quý vị nhằm cũng cố cho địa vị độc tôn của họ và moi tiền của quý vị mà thôi, cũng như họ thường xuyên dùng các hiệp ước, hiệp định thương mại và kinh tế để moi tiền cộng đồng quốc tế. Nhân dân VN rất cám ơn các vị nghị sĩ và dân biểu Quốc hội Hoa kỳ cũng như các Ủy ban nhân quyền trên thế giới đã nhìn hiện tình của VN một cách đúng đắn và có những hành động kịp thời bênh vực cho lẽ phải. Chúng tôi cũng rất bất bình trước sự hiểu biết không đúng sự thật của Quốc hội Bộ Ngoại Giao Hoa kỳ và các viên chức cấp cao BNG trong chính quyền của tổng thống Bush khi công nhận VN có tiến bộ về chính trị và tôn giáo để đưa VN ra khỏi danh sách "Các nuớc cần quan tâm" (CPC). Nước Mỹ sở dĩ được như ngày hôm nay là cũng nhờ có sự cống hiến của các cộng đồng sắc tộc khác nhau, trong đó có cộng đồng người VN tỵ nạn cộng sãn mà điển hình có khoa học gia Dương Nguyệt Ánh, nữ anh hùng phi công Elizabeth Phạm…v.v…. Nhưng chắc có lẽ cũng vì quyền lợi kinh tế riêng do chính quyền CSVN dành cho Hoa Kỳ, khiến cho TT Bush đã không thực hiện đúng như những gì ông đã nói: "Hoa Kỳ luôn luôn đứng bên cạnh những người dám đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền trên thế giới". Chúng tôi cũng rất mong sự lên tiếng của các nhân tài VN làm việc trong đất nước Hoa Kỳ và các nước khác, giúp họ có cái nhìn khách quan và chính xác hơn cho hiện tình đất nước VN. Chúng tôi cũng xin các đoàn thể đấu tranh hải ngoại hãy dẹp bỏ những thiên kiến tỵ hiềm để cùng nhau hướng về đại cuộc, nhất là đừng nghi ngờ quá đáng đối với các nhà đấu tranh dân chủ trong nước mà trước đây các bác, các chú này là những đảng viên, những cán bộ cao cấp của ĐCSVN, vì chính những người này mới là những chứng nhân thực tế không thể thiếu trên con đường tranh đấu cho lẽ phải mà toàn dân đang mong đợi, cũng như cho sự phán xét của lịch sử sau này. Tục ngữ VN có câu: "Một cây làm chẳng nên non, ba cây dụm lại nên hòn núi cao".

2/- Chúng tôi xin có đôi lời gởi tới các anh các chú trong lực lượng công an và quân đội, đồng lương của quý vị là tiền thuế của nhân dân, nhiệm vụ của quý vị là bảo vệ đất nước và cuộc sống yên lành cho người dân, bổn phận của quý vị là TRUNG VỚI NƯỚC, HIẾU VỚI DÂN (đây là lời nói của chủ tịch Hồ chí Minh khi còn sống). Nhưng nếu bây giờ mà quý vị chỉ phục vụ duy nhất cho đường lối của đảng là quý vị đã không làm tròn trách nhiệm và bổn phận của mình đối với tổ quốc và nhân dân. Trong vai trò làm ruộng người nông dân có toàn quyền tự do chọn lựa phương cách canh tác riêng, sau thu hoạch nếu anh nông dân nào có kỹ thuật canh tác tốt để có thu hoạch cao thì sẽ được mọi người học hỏi và tuyên dương, anh nông dân đó không cần phải dùng quyền lực bắt buộc người khác phải theo mình. Trong một xã hội và đất nước cũng thế, ĐCSVN không thể bắt mọi người dân phải tuân phục theo mọi đường lối cai trị của đảng, kể cả việc dâng 2 quần đảo HS và TS và những nhượng bộ đất đai, bờ biển cho TQ qua hiệp định biên giới năm 1999 và hải phận năm 2000. Những lời phát biểu của ông Lê Dũng (phát ngôn viên BNG VN) về chủ quyền HS và TS cũng như ông Lê công Phụng (đại sứ VN tại Mỹ) về ranh giới đó chỉ là những lời nói suông nhằm để xoa dịu sự công phẩn của nhân dân mà thôi. ĐCSVN cũng không thể tự mình đứng trên luật pháp khi tự do dùng các cơ quan truyền thông và báo chí để hạ nhục, vu cáo và chửi bới người dân không cùng quan điểm với đảng khi chưa có phán quyết cùa tòa án. Nếu thực sự ĐCSVN được nhân dân đồng tình ủng hộ thì tại sao không chấp nhận thành phần đối lập. Nếu ĐCSVN tự nhận mình là một chính quyền tôn trọng luật pháp thì tại sao không thực thi đúng điều 69HP do đảng đề ra: nghĩa là người dân có quyền tự do ngôn luận, có quyền lập hội, có quyền ra báo chí tư nhân, có quyền tự do biểu tình theo luật định, có quyền tự do ứng cử không qua sự lựa chọn của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc đảng, có quyền tự do bầu bất cứ người nào mà dân thích chớ không phải chỉ bầu trong danh sách đã được đảng chọn lựa như hiện nay. Còn biết bao nhiêu những vấn đề tồi tệ khác do đảng gây ra cho đất nước và nhân dân. Trong quá khứ và hiện tại Đảng lãnh đạo đất nước đã đi từ sai lầm này đến sai lầm khác, chẳng lẽ lực lượng quân đội và công an các anh, các chú lại trung thành với sự sai lầm triền miên của đảng hoài hay sao?. Một sự thật hiển nhiên là hầu hết những nước tiến bộ phồn vinh trên thế giới không lấy CNXH làm cứu cánh duy nhất như VN.

Là thành phần trẻ tha thiết với với quê hương đất nước và qua thời gian tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy các phong trào và các nhà đấu tranh dân chủ không bao giờ chủ trương loại bỏ ĐCSVN, họ chỉ muốn đảng lãnh đạo đất nước phải thay đổi tư duy theo trào lưu tiến bộ của thế giới, như những gì mà đảng thường tuyên bố và cam kết với LHQ và cộng đồng quốc tế cũng như với nhân dân. Trong nền dân chủ đa nguyên, nếu ĐCSVN là chính nghĩa thì vẫn được nhân dân ủng hộ qua cuộc bầu cử tự do và công bằng chớ không cần thiết phải dùng lực lượng công an khống chế, đàn áp như hiện nay. Chúng tôi mạnh dạng viết lên những dòng chữ này vì sự hiểu biết về luật pháp mà chúng tôi đã học và lịch sử mà chúng tôi đã nghiên cứu. Chúng tôi cũng tin rằng vì cuộc sống và địa vị cá nhân, vì miếng cơm manh áo cho nên các anh, các chú công an phải tuân hành theo mệnh lệnh của đảng để thẳng tay đàn áp các thành phần bất đồng chánh kiến với đảng dù biết rằng những việc làm đó là không đúng, nhất là thầy Nguyễn Tử Quảng, một tác nhân nguy hiểm cho các nhà bất đồng chính kiến trong nước. Nhưng nếu cứ tiếp tục như thế thì tương lai của đất nước sẽ ra sao?. Sự thật bao giờ cũng là sự thật, lịch sử sau này sẽ không tha thứ cho sự vô trách nhiệm của chúng ta. Hãy nhìn ra các nước cùng khu vực để suy nghĩ cho chính đất nước của mình: Singapore độc lập năm 1963 ngày nay kinh tế và chỉ số GDP hơn VN 197 lần. Nhật bản không còn gì sau đệ nhị thế chiến ngày nay là cường quốc kinh tế của thế giới. Đảo quốc nhỏ Đài Loan vượt xa anh khổng lồ hung hăng TQ, sự phồn vinh của Nam Hàn trước sự nghèo đói của Bắc Hàn, và Đông đức cuối cùng rồi cũng phải thống nhất với Tây đức. Ngay cả sự bất ổn chính trị của Thái lan bên cạnh chúng ta trong thời gian qua, quân đội chỉ phục vụ đất nước chớ không bảo vệ một cá nhân hoặc đảng phái nào dù đang cầm quyền đã đứng ngoài cuộc và cuối cùng phần thắng vẫn nghiêng về nhân dân. Kinh tế và cuộc sống của người dân Thái lan vẫn hơn VN hàng chục lần.

Đại hội ĐCS Nhật năm 2005 (có sự tham dự của ông Phan Diễn, đại diện ĐCSVN) đã tuyên bố từ bỏ chủ nghĩa Marx-Lenin. Cựu TBT Gorbachev Liên sô trong lần phát biều tại trường đại học Columbia: "Tôi đã bỏ hơn nữa đời người để chiến đấu cho lý tưởng CS. Nhưng hôm nay tôi phải đau buồn mà nói rằng CS chỉ biết tuyên truyền và nói láo". Cựu thủ tướng Võ văn Kiệt VN khi về hưu có nói rằng: "Trước kia tôi nghĩ yêu nước là yêu CNXH, nhưng nay nghĩ lại tôi thấy rằng yêu nước cũng còn có nhiều đường". Thiết tưởng đây là những bằng chứng cho những ai còn có tư tưởng coi CNCS là con đường phát triển duy nhất cho VN, cần phải suy nghĩ lại. Đất nước VN không bao giờ thiếu người tài đức, một cộng đồng dân tộc đa nguyên trong một khối đoàn kết quyết tâm xây dựng quê hương giàu đẹp. Chúng tôi tin tưởng đó không phải là hy vọng riêng của chúng tôi mà còn là niềm hy vọng chung cho tất cả toàn dân Việt Nam. Chúng tôi rất tâm đắc khi trong kỳ họp QH vừa qua đã có những đại biểu mạnh dạn nói lên những hiện tình tồi tệ và đau thương của đất nước và cuộc sống của nhân dân trước các nhà lãnh đạo của các bộ ngành trong chính quyền. Mặc dù sự lên tiếng này chưa mạnh mẽ lắm, nhưng đây cũng là một tín hiệu đáng mừng. Chúng tôi rất đau buồn khi vì sự độc tài, độc đoán mà các nhà lãnh đạo VN đã gây ra quốc nạn tham nhũng vô phương cứu chữa khiến cho Nhật bản (quốc gia viện trợ ODA lớn nhất) phải tuyên bố ngưng viện trợ cho VN. Chúng tôi cũng rất đau buồn khi hầu hết các nước viện trợ cho VN đều than phiền về hiệu quả chống tham nhũng của chính quyền trước cộng đồng quốc tế. Món nợ mà chính quyền VN hiện nay đang vay mượn của các ngân hàng trên thế giới, nhân dân phải trả đến bao giờ mới hết.

Là người VN chúng ta có đau buồn không khi Hoàng sa cùng các hòn đảo chiến lược của Trường sa, Ải nam quan, thác Bản giốc và hàng chục ngàn km2 đường biển, những phần đất thiêng liêng của đất nước đang bị TQ chiếm giữ trước sự đồng tình của một chính quyền luôn tự hào là vì dân vì nước?, và chúng ta sẽ nghĩ sao khi tất cả những người lên tiếng chống lại sự xâm lăng của TQ đều bị chính quyền thẳng tay đàn áp hoặc bỏ tù? Chúng ta có cảm thấy xấu hổ không khi TQ đã ngang nhiên không cho các công ty khai thác dầu hỏa của Anh và Exxon Mobil của Mỹ hoạt động trên vùng biển của ta theo hợp đồng mà VN đã ký kết. Trong khi đó các nhà lãnh đạo VN chẳng những không phản đối mà ngược lại còn đồng ý cho TQ khai thác dầu hỏa trên biển Đông trong vùng biển của ta, và luôn miệng nói lúc nào cũng trung thành với "16 chữ vàng" và 4 tốt đối với TQ.

Ngày 8/12/2008 vừa qua chính quyền đã dựng lên phiên tòa để xử 8 giáo dân Thái Hà về tội hủy hoại tài sản nhà nước và gây rối trật tự công cộng. Các giáo dân này đã "can tội" dẹp bỏ một bức tường do công ty may Chiến Thắng xây trái phép trên phần đất của nhà thờ giáo xứ Thái Hà. Phiên tòa tuy được thông báo là xử công khai nhưng chỉ những người có giấy mời mới được vào và phòng xử là ở lầu 4, trong khi bên ngoài thì có hàng trăm cảnh sát cơ động và công an được trang bị súng ống đầy đủ phong tỏa các ngã đường. Với luận cứ bào chữa sắc bén của LS Lê Trần Luật, cuối cùng công lý đã chiến thắng với bản án tù treo cao nhất là 17 tháng.

Còn nhiều và còn nhiều lắm,... không thể dùng giấy mực viết hết ra đây được. Chỉ mong rằng tuổi trẻ và những ai còn chút tình với quê hương và đất nước phải làm sao để khỏi hổ thẹn với truyền thống hào hùng của dân tộc.

Viết vào những ngày đầu năm Kỷ Sửu 2009
Hương Trà cùng nhóm bạn trẻ
(Email: huongtra13@gmail.com )

.

Bài Học Nặng Ký Từ Việt Nam

Tác giả là một trí thức Việt kiều Mỹ từng mang bạc triệu về Việt Nam đầu tư và... chào thua. Xin trân trọng giới thiệu những "bài học nặng ký" của ông:

"Hai vị anh hùng thời còn đi học của tôi có rất nhiều bí mật xấu xa. Hồ Chí Minh không nhìn nhận cha mẹ cũng như không ngó ngàng gì đến ít nhứt là 12 đứa con . Võ Nguyên Giáp thì có ông con rể Trương Quang Bình là người giàu nhất nước... Tất cả mọi con người, mọi con số đều là giả dối."

*

Saigon những ngày cận Tết mát lạnh và mang chút không khí của những ngày Giáng Sinh nơi Âu Mỹ. Mọi người chuẩn bị mua sắm cho nhà cửa và quà cáp cho người quen. Đường Nguyễn Huệ và quanh khu du lịch của trung tâm thành phố, hoa đang rộn rịp trang điểm cho mùa xuân, luôn luôn là biểu tượng của niềm hy vọng mới và vào một thay đổi nào đó tốt đẹp hơn, tươi sáng hơn cho năm tới. Nhung nếu du khách rẽ vào ngõ hẻm từ một con đường lớn, những con chuột to bằng con mèo, những con dán biết bay cùng ruồi muỗi, những ổ rác lộ thiên, những vũng nước ao tù… cho thấy một bộ mặt khác của Saigon. Bộ mặt của nghèo khó, bất hạnh và tù túng đã không hề thay đổi suốt 70 năm qua, mặc cho bao nhiêu mùa xuân của hy vọng trong quá khứ.

* CÁI TÔI ĐÁNG GHÉT

Một chút ít về cái "tôi" để người đọc cảm thông thêm về chủ quan của lá thư này. Tôi đến Mỹ năm 1975 cùng làn sóng người tỵ nạn Cộng Sản sau khi miền Nam sụp đổ. Cha tôi là một đại úy của quân đội miề n Nam (ở đây, nay gọi là Mỹ Ngụy), và tôi chỉ mới 5 tuổi, chưa hiểu biết chút gì về lịch sử hay chính trị. Cha mẹ tôi làm đủ mọi nghề, vất vả ngư ợc xuôi, từ lao động chân tay đến mua bán tiểu thương, để nuôi gia đình. Sau 30 năm, ông bà đã lo xong cho con cái, đã về hưu với căn nhà nhỏ và cuộc sống ổn định. Tôi lớn lên như một trẻ Mỹ, đi học, chơi đùa và coi xứ Mỹ như một quê hương chính thức, dù vẫn biết nói tiếng Việt theo thói quen của cha mẹ. Tốt nghiệp Thạc Sĩ về điện tử, tôi có công việc tốt, lấy vợ và sống đời trung lưu như trăm ngàn người khác. Cha tôi và các bạn ông thường tụ họp và bàn luận nhiều về tình hình Việt Nam, về những thù ghét của họ với nhà cầm quyền Cộng Sản, nhưng tất cả đều rất xa lạ với tôi. Khi học lịch sử ở trung học, tôi chỉ thấy có chút hãnh diện về Việt Nam, một quốc gia nhỏ bé đã đánh bại được hai cường quốc là Pháp và Mỹ. Hai ông Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp là hai anh hùng trong ký ức của tôi.

Cuộc sống bình lặng đó thay đổi hoàn toàn khi vợ tôi qua đời vì tai nạn xe cộ ba năm về trước. Không có con, thừa hưởng một số tiền bảo hiểm hơn 1 triệu đô la, cộng với giá nhà đang tăng cao vụt và một khoản tiền tiết kiệm lớn, tôi không còn thấy nhu cầu phải kéo cầy 11 tiếng mỗi ngày trước máy vi tính. Tôi quyết định trở về lại Việt Nam để làm ăn và tạo dựng một sự nghiệp mới. Tất cả những gì tôi đọc cho thấy một Việt Nam đổi mới với những con số an tượng về đầu tư của nước ngoài, về xuất khẩu, về cơ hội đầy tiềm năng của một "con rồng mới". Cha tôi không phản đối, ông chỉ cho một lời khuyên," Đừng nghe những gì Cộng Sản nói, mà coi những gì Cộng Sản làm."

* HƯNG PHẤN VÀ THẤT VỌNG

Tôi dọn về lại Saigon vào tháng Mười năm 2007. Chỉ số VNI của chứng khoán Việt khoảng 1,000 và đề tài thời thượng khắp nơi là cơn sốt địa ốc và số thu nhập của các đại gia. Số tiền 2.5 triệu đô la của tôi thật nhỏ bé khiêm tốn khi bàn chuyện đầu tư. Dường như ai cũng đầy tiền mặt và dự án, nhiều gấp mười lần khả năng của tôi. Dù vậy, tôi cũng rất hưng phấn cảm nhận niềm lạc quan vô bờ bến về sự thịnh vượng của nền kinh tế quốc gia.

Trong khi đó, dựa theo truyền thống khoa học từ đại học Mỹ, tôi nghiên cứu kỹ hơn các con số từ các doanh nhân cũng như từ chánh phủ. Có rất nhiều điều sai trái và nghịch lý từ các con số, cũng như sự kiện thực tế về kết quả hoạt động. Sự nghi ngờ của tôi được xác nhận khi so sánh và định chuẩn theo mức sống thực sự của người dân, giàu cũng như nghèo. Chung đụng với mọi thành phần xã hội giúp tôi nhìn rõ hơn về thực trạng của quê hương. Những lời nói hoa mỹ, cũng như những biểu ngữ dăng kín thành phố, là một lớp son phấn rẻ tiền, che dấu một bộ mặt điêu tàn và thê thảm.

Tôi nhận ra rằng cái cơ chế "kinh tế thị trường" mà nhà cầm quyền hứa hẹn khi ký văn bản gia nhập WTO chỉ là hình thức. Tất cả những miếng moi béo bở đều nằm trong tay quan chức và cán bộ Đảng Cộng Sản, cũng như bà con thân thuộc trong gia đình. Bộ Chánh Trị trung ương thì nắm chặt các công ty quốc doanh va bán quốc doanh, quan chức địa phương thì có những đặc lợi về ruộng đất, giấy phép, dịch vụ nhu yếu. Lãnh vực tư nhân chỉ được phép làm trong địa bàn nhỏ, nhiều rủi ro và những ai có lời đều phải chia xẻ lại cho các quan chức bằng nhiều phong bì lớn nhỏ. Tầng lớp quan chức và gia đình họ, qua hệ thống tham nhũng tinh vi, đã thâu tóm phần lớn lợi tức quốc gia và có quyền hành không kém các quan lại của triều đại phong kiến.

Tôi nhận ra rằng cuộc chiến tranh dành độc lập với bao nhiêu xương máu của người dân chỉ là một cái cớ để Đảng Cộng Sản cướp chánh quyền. Những quốc gia láng giềng như Singapore, Mã Lai, Indonesia, đã dành độc lập không cần hy sinh và giờ đây, dân họ (nhờ một nền dân chủ minh bạch) đã trở nên giàu co Họ đang cấu kết với nhà nước Việt để trở thành những chủ nhân lớn của nhiều đơn vị kinh tế bằng cách dùng đồng tiền để mua lao động rẻ và tài nguyên định giá qua gầm bàn.

Tôi nhận ra rằng chế độ to mồm này thực sự sống nhờ phần lớn vào những khoản viện trợ nhân đạo của các nước tư bản (mà họ từng lên án và đánh duổi); vào khoản tiền kiều hối của các cựu thuyền nhân (mà họ đã từng giam giữ tù đày khi kết tội phản quốc); vào mồ hôi nước mắt của những nô lệ mới qua danh từ xuất khẩu lao động hay qua các cuộc hôn nhân mua bán áp đặt; vào những khoản lệ phí va sưu thuế đầy phi nghĩa, cũng như một con số khổng lồ về hối lộ, đối với những người dân còn kẹt lại trong nước.

Tôi nhận ra rằng hai vị anh hùng thời còn đi học của tôi có rất nhiều bí mật xấu xa mà chế độ đã dùng mọi thủ đoạn để biến họ thành thần thánh, giúp cho chúng giữ vững địa vị và quyền hành. Đọc kỹ tiểu sử của ông Hồ Chí Minh sẽ tìm thấy một chính trị gia quỷ quyệt, nhiều mờ ám, hoàn toàn không có một chút chân thật gì, dù nhìn ở bất cứ góc cạnh nào. Con người của ông có rất nhiều tên gọi; ông tự viết cả tiểu sử để ca tụng mình (Trần Dân Tiên); ông không nhìn nhận cha mẹ cũng như không ngó ngàng gì đến ít nhứt là 12 đứa con sinh rơi rớt từ các cuộc tình khắp thế giới; ông viết đơn cầu xin thực dân Pháp với những lời tâng bốc trơ trẽn (lá thư gởi Quan Toàn Quyền Pháp năm 1912); ông làm mật vụ cho Nga khi Pháp không đáp ứng lời khẩn cầu (chuyện của cựu Giám Đốc KGB Nga Vladimir Kryuchkov ); ông bỏ Nga theo Tàu khi có lợi (hồi ký của Li Zhi Sui); ông khoe là trọn đời độc thân để phục vụ tổ quốc trong khi có ít nhứt ba người vợ và bao nhiêu người tình, kể cả một tình nhân là vợ của một thuộc cấp (bà Nguyễn Thị Minh Khai, vợ ông Lê Hồng Phong). Gần đây, nhiều tài liệu lịch sử kết tội ông ra lệnh giết bà Nông thị Xuân và cô em, vì hai người này muốn tạo xì căng đan về mối tình khi chung sống với ông (cuốn sách 'Ho Chi Minh: A Life' bởi William Duiker và cuốn 'Đỉnh Cao Chói Lọi' cua Ba Dương Thu Hương). Chuyện ông thủ tiêu không biết bao nhiêu là đối thủ chánh trị có thể hiểu được vì ông làm chánh trị kiểu Cộng Sản, chỉ biết theo gương bậc thầy như Mao hay Stalin. Nhưng tôi thật khó chịu khi phải đi khắp Việt Nam và nhìn những biểu ngữ ca tụng "tấm gương đạo đức của Bác Hồ".

Còn đại tướng Võ Nguyên Giáp thì tôi không biết nghĩ sao khi đọc cuốn sách 'China and the Vietnam wars' của Qiang Zhai. Ông cho biết là một tướng Tàu, Wei Gouqing, nguyên cố vấn quân sự của tướng Giáp, khẳng định là chiến thắng Điện Biên thực sự là do ông cố vấn đặt chiến lược và điều khiển; ông Giáp và ông Hồ đã định đánh Pháp tại khu vực sông Hồng. Tướng Wei cũng tiết lộ là năm 1953, H Chí Minh muốn thỏa hiệp với Pháp để đình chiến, nhưng Mao Trạch Đông ra lệnh cho Hồ là phải đánh đến cùng. Cuối cùng, Giáp và Hồ được nhận lãnh công lao ve chuyện xảy ra trên đất Việt, tướng Tàu không thể công khai xuất hiện. Một câu hỏi khác gây bàn tán là tài sản của con rể ông Giáp (Trương Quang Bình, người giàu nhứt nước) có bao phần là của ông tướng?

Sau 1 năm ở Việt Nam, tôi hiểu được một sự thât căn bản của xã hội: tất cả mọi con người, mọi con số đều là giả dối. Quan chức nói dối để giữ quyền hành bổng lộc; doanh nhân nói dối vì quan chức đòi hỏi; người dân nói dối vì nói sự thực sẽ làm mình đau khổ rồi còn bị công an bắt. Nói dối trở thành một hiện tượng tự nhiên, như ăn uống; và không ai suy nghĩ thêm về khía cạnh đạo đức của hiện tượng này.

Trong môi trường đó, tôi đã không làm ăn gì được như dự tính. Suot 14 tháng chạy theo các dự án đầu tư, các cơ hội dài và ngắn hạn, tôi đành chịu thua. Thêm vào đó, những thủ tục hành chánh rươm rà, bất cập và luôn thay đổi, tạo cơ hội cho tham nhũng, đã làm tôi nản lòng. Cũng may, tôi chỉ mất hơn 200 ngàn đô la; một giá quá rẻ cho bài học nặng ký. Tôi không tiếc than gì cho cá nhân; chỉ thấy chua xót và thương hại cho những người kẹt lại.

ANDERSON THAI QUANG

Thứ Ba, 10 tháng 2, 2009

Núi hận bể sầu

Tẩy sạch trí nô gian tặc
Đảng hồ thờ giặc diệt vong

Gần thế kỷ, tràn núi hận
Bể sầu xoáy vận gầy hao
Tấm thân chữ S năm nao
Cắt lìa cốt nhục, lệ trào ly tan

Bản Giốc, Nam Quan đâu nữa
Sử xưa mài sửa đỏ đen
Tổ Tiên đâu quá ươn hèn
Giặc Tàu bỏ xác bao phen kinh hồn

Cờ máu mồ chôn Dân Tộc
Dã tâm ác độc ngu dân
Âm thầm đất hiến biển dâng
Dựa Tàu thống trị, giả nhân mỵ lừa

Trí thức nắng mưa hải ngoại
Trở cờ cắm lại bùn nhơ
Săn mồi nuôi "đảng hồ" thờ
Độc tôn mãi Quốc, não nề quê hương

Bòn máu đãi xương vắt thịt
Lương dân mờ mịt tương lai
Đích danh "Quan-Tướng" nô tài
Tru dân giữ chức tay sai cộng Tàu !

Vivi
Norway 10.2.2009