Thứ Bảy, 16 tháng 4, 2011

Luận điệu dối trá

Vừa qua trong cuộc họp báo của Bộ ngoại giao Việt Nam, để trả lời cho những chỉ trích việc vi phạm nhân quyền nghiêm trọng đã và đang xảy ra tại Việt Nam từ Bộ ngoại giao Hoa Kỳ – Anh Quốc và Châu Âu, bà Nguyễn Phương Nga phát ngôn viên Bộ ngoại giao Việt Nam đã nói rằng: Tại Việt Nam nhân quyền được thể hiện trong Hiến Pháp – Luật pháp và được áp dụng, thực thi trong cuộc sống. Ở VN không có tù nhân lương tâm, tôn giáo hay chính trị.
 
Nhân quyền. Babui
Tôi nhận thấy rằng mình đủ tư cách và trách nhiệm để phản bác luận điểm đó bằng chính những gì xảy ra với tôi, với gia đình tôi. Tôi không trích dẫn một nguồn thông tin nào để cho bà Nguyễn phương Nga và CSVN khỏi phải nói rằng “thông tin đó là sai lệch” là “thiếu khách quan”
Năm 1992 tôi viết một tập truyện có tên là “Di Tản” và viết thư nhờ Đài VOA chuyển tập truyện này ra Hải ngoại để cộng đồng VN phổ biến cho công luận… thư của tôi bị kiểm duyệt và ngày 27/10/1992 Công an thuộc Bộ nội vụ phối hợp với công an tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng và công an thị xã Tam Kỳ, đến tại nhà riêng của tôi ở xã Tam Phú và thị xã Tam Kỳ để khám xét. Công an còn khám xét nhà của anh trai tôi là Huỳnh Minh (Xã Tam Thanh – Tam Kỳ – Quãng Nam) mặc dù không hề có lệnh khám xét nhà anh trai tôi.
Khi khám xét nhà, công an đã thu giữ toàn bộ những tác phẩm của tôi viết, còn ở dạng bản thảo. Tôi bị tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam- Đà Nẵng tuyên phạt 10 năm tù giam và 4 năm quản chế tại địa phương với tội danh: “Tuyên truyền chống chế độ Xã hội Chủ nghĩa”.
Việc làm này của chế độ CSVN không những vi phạm luật pháp VN mà còn vi phạm luật pháp quốc tế vì tháng 10/1992 Hiến pháp mới của chế độ CSVN đã có hiệu lực và trong bản Hiến pháp năm 1992 có điều 69 minh định như sau: “Công dân VN có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, có quyền được thông tin, có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo qui định của pháp luật”.
Và năm 1992 là đúng 10 năm CSVN tham gia công ước quốc tế về quyền Dân sự và chính trị (năm 1982) – và trước đó nữa họ đã tham gia Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền.
Việc kiểm duyệt thư từ cá nhân tôi để tiến hành việc bắt bớ là vi phạm quyền tự do bí mật thư tín và dùng nó để chống lại tôi, kết án tôi cũng là vi phạm của luật pháp VN cho nên bản án này bất hợp pháp.
Ngoài việc CSVN vi phạm luật pháp VN và quốc tế, họ còn vi phạm cả đạo đức làm người.
Tôi bị bắt năm 1992 khi các con tôi còn rất nhỏ: Thục Vy 7 tuổi – Khánh Vy 5 tuổi – Trọng Hiếu 3 tuổi. Trong thời gian 10 năm trong nhà tù tôi bị ngược đãi, khủng bố, đánh đập. Sau khi mãn hạn tù tôi trở về với một xác thân đầy bệnh hoạn và những biến chứng của nó.
Khi tôi trở về, tôi được người nhà kể cho nghe là: Những ngày đầu khi tôi bị bắt, các con tôi bàng hoàng sợ hãi vì các cháu mất mẹ hai năm trước chỉ còn có ba. Thục Vy không muốn đến trường nữa, cháu bần thần vì sự khủng hoảng, may mắn lúc đó cô giáo lớp hai của Thục Vy là người bà con của má cháu nên cô đến nhà chở Thục Vy đi học, cô vỗ về an ủi, nếu không có cô giáo đó, Thục Vy đã nghỉ học từ năm lớp 2…
Và tôi cũng nghe kể lại rằng: Mỗi chiều các con tôi ngồi trên mảnh sân nhỏ đợi ba về, thỉnh thoảng chúng dắt nhau ra nhìn con đường đất đỏ chạy dài hun hút để tìm bóng dáng của ba!
Những vết thương trên thân thể hay bệnh tật có thể được chữa lành, còn những vết thương trong tâm hồn tôi và các con tôi vẫn còn nhức nhối vì không phải do cố chấp hay thù hận mà do chính thái độ của nhà cầm quyền.
Họ không hề nhìn nhận sự sai trái của họ và họ vẫn tiếp tục cười nhạo trên nỗi đau của người khác. Cũng giống như bà Nguyễn Phương Nga đã nói dối trá một cách trắng trợn về sự vi phạm nhân quyền của chế độ CSVN. Nhưng điều đáng xấu hổ và ghê tởm là bà Nguyễn Phương Nga đã nói dối bằng một thái độ rất tự nhiên thậm chí là tự hào nữa! Chế độ CSVN bảo vệ quyền lực bằng sự dối trá và tàn ác. Bao lâu sự dối trá và tàn ác còn “lên ngôi” ở quê hương VN thì ngày đó dân tộc này vẫn còn lầm than với kiếp nô lệ.
Tự do ngôn luận là phương tiện đánh đổ sự bưng bít thông tin, lật đổ sự dối trá và đem cái ác ra trước ánh sáng. Tự do ngôn luận là bước đi đầu tiên để tiến đến một xã hội minh bạch và một xã hội minh bạch sẽ tự tìm con đường chuyển hóa đến dân chủ.Khi quyền tự do ngôn luận chưa được thực hiện thì người dân VN (kể cả các nhà Dân chủ) vẫn cứ bị bịt mồm, cái ác vẫn ẩn nấp và được sự bảo vệ của bóng tối, vì vậy nó tha hồ tác yêu tác quái mà không bị trừng phạt.
Chúng ta kêu gọi những ai là nạn nhân của sự đàn áp, đe dọa, khủng bố bởi nhà cầm quyền CSVN hãy mạnh mẽ trình bày trường hợp của mình cho công luận, để thế giới văn minh được biết về thực trạng nhân quyền tại VN, nếu chúng ta vì sự sợ hải mà lặng thinh vô tình chúng ta đã tiếp tay nuôi dưỡng sự sai trái và tội ác của chế độ. Chế độ CSVN vẫn dọa mọi người rằng “Nhật nguyệt chi minh,nan chiếu phúc bồn chi địa”. Điều này không còn đúng trong thời đại Internet nữa, mọi bưng bít thông tin đã bị phá vỡ, tội ác của CSVN vẫn hằng ngày,hằng giờ bị lôi ra ánh sáng
Mấy hôm nay không chỉ có tôi mà tất cả những ai đang đấu tranh để giải thể chế độ CSVN (ở trong và ngoài nước) đều vui mừng vì chính phủ Hoa Kỳ sắp bổ nhiệm vị Đại sứ mới đến VN. Ông David Sead. Trong buổi điều trần của ông trước Thượng viện, ông đã cho biết mục đích của ông trong nhiệm kỳ Đại sứ tại VN là nỗ lực thăng tiến nhân quyền. Có thể nói chính phủ của TT Obama coi nhân quyền là ưu tiên trong quan hệ với CSVN trong những năm sắp tới.
Đây là cái nhìn mang tính thực dụng của người Mỹ, vì sau khi các chế độ độc tài ở Bắc Phi bị sụp đổ hoặc đang lung lay và làn sóng dân chủ đang lan tràn ngày càng mạnh mẽ tại các quốc gia độc tài ở Trung Đông, Hoa Kỳ và Phương Tây đã nhận thức được rằng quan hệ với các chế độ độc tài dù là toàn trị như CSVN hay Quân phiệt như Miến Điện hoặc quân chủ tập quyền như Ả rập Xê út là mối quan hệ không bền vững, đi ngược lại nguyện vọng của người dân các nước đó, ngược xu thế thời đại và cũng không phù hợp với quyền lợi của nước Mỹ xét trong trường kỳ.
CSVN dùng chính sách đối ngoại “đu dây”, họ hi vọng rằng hợp tác(hoặc giả vờ hợp tác) với Hoa Kỳ trên Hồ sơ kinh tế và an ninh, đổi lại Hoa Kỳ sẽ “mắt nhắm,mắt mở” trên hồ sơ Nhân quyền, để CSVN lộng hành tha hồ vi phạm. Chính sách mới của nước Mỹ đối với VN thông qua việc bổ nghiệm ông Đại sự mới, là một thông điệp cho CSVN biết là nhân quyền sẽ được ưu tiên hàng đầu trong quan hệ Việt – Mỹ.
Trong cục diện hiện nay trên Thế giới, khi mà làn sóng dân chủ bùng nổ ở Bắc Phi và Trung đông (những nơi không ai ngờ tới) cộng với chính sách ưu tiên cho nhân quyền của chính phủ Mỹ trên toàn Thế giới, chắc chắn sẽ làm cho Ban lãnh đạo Đảng CSVN mất ăn mất ngủ.
Xin được gởi đến Ban lãnh đạo đảng CSVN bài báo trên tờ The Star (Indonesia) mang tựa đề “ĐỪNG BAO GIỜ NÓI LÀ KHÔNG BAO GIỜ “ Tác giả bài báo cho rằng,với những “CHÍNH QUYỀN BÔ LÃO” hiện nay tại Đông nam Á, thì không phải là không có khả năng xuất hiện những phong trào phản kháng. Chính quyền các nước Đông nam Á cần phải biết lắng nghe tuổi trẻ, nếu không muốn bị làn sóng phẫn nộ tương tự như những gì đang diễn ra trên các đường phố Ả rập quét sạch” (RFI)
© Huỳnh Ngọc Tuấn
© Đàn Chim Việt
http://www.danchimviet.info/archives/32102

Bão giá sóng thần và nguy cơ phá sản sẽ đưa đến đâu?


 

Những ngày đầu tháng tư 2011, sau những đợt tăng giá điện 15%, giá xăng (tăng lên 21.300 VND/lít tức 30% trong tháng 3/2011) và điều chỉnh tỉ giá hối đoái (tăng 9,3% từ đầu năm), Việt Nam đang trải qua một cơn bão giá mà có người gọi là “cơn bão giá sóng thần”. Nó khiến người ta nhớ tới cơn bão giá vào tháng 1/2008 đã đem đến lạm phát phi mã 28% trong năm này.
Cơn bão giá tháng 4/2011 sau cơn bão giá tháng 2/2011 (sau 2 đợt tăng giá xăng ngày 24/2) tất nhiên sẽ vượt xa chỉ số giá tiêu dùng CPI tăng 13,89% vào tháng 3/2011 so với cùng kỳ năm 2010. Thực ra mức lạm phát hiện nay chỉ là tiếp nối ở mức cao hơn mức lạm phát báo động 11,75% của năm 2010. So với các nước trong khu vực kể cả Trung Quốc (1) mà mức lạm phát trung bình từ 3-5% thì Việt Nam là một hiện tượng ! Riêng Trung Quốc có mức phát triển khoảng 10% (dự trù giảm xuống còn 7-8% trong 5 năm tới), còn lạm phát chỉ mới sấp sỉ 5% mà đã phải điều chỉnh bốn lần lãi suất.Việt Nam thì ngược lại chỉ muốn tăng mức phát triển lên 7% khi mà mức lạm phát tăng gấp đôi (dự kiến 7% cho năm 2011 trong khi Ngân hàng Phát triển Á châu đưa ra con số 13,3%).
Mức tăng giá xăng liên tục 3 lần từ đầu năm chỉ là sự thích ứng với tăng giá mạnh trên thị trường quốc tế khi mà Việt Nam phải nhập khẩu 70% lượng tiêu thụ và cũng để tránh tình trạng trợ giá khiến xăng dầu tuồn qua ngả Cam-pu-chia (giá rẻ hơn khoảng 4000 VND/lít). Tuy nhiên, mức tăng mạnh bạo, liên tục và cách thức loan báo bất nhất, đột ngột đã có ảnh hưởng tâm lý khiến người dân không tin tưởng vào lời nói và chính sách của nhà cầm quyền và thúc đẩy mức lan toả mạnh. Tăng giá xăng dầu không chỉ ảnh hưởng người tiêu thụ trực tiếp (trong đó có giá cước vận tải và ngư dân mà nhiều tàu thuyền đã phải nằm bãi), nó còn ảnh hưởng đến đời sống nông dân khi giá bán tăng không bù được mức tăng giá phân bón, thuốc trừ sâu tăng 30%. Mặc dù chủ yếu là “té nước ăn theo”, nó khiến giá thực phẩm tăng vọt nhiều khi hơn cả mức tăng 20% của tăng giá xăng ngày 29/3. Giá mớ rau cải canh từ 3.000 lên 4.000 đồng 1 mớ, cá trắm cỏ từ 70.000 lên 100.000 đồng/kg, gạo trắng thường từ 8.000 lên 10.800 đồng/kg… Các mặt hàng thuộc diện bình ổn giá cũng tăng từ 9-43% từ 1/4/2011. Nói chung là nhà cầm quyền không còn khả năng kềm giá cả. Ở đây yếu tố tâm lý là cực kỳ quan trọng trong thực trạng lạm phát phi mã ở Việt Nam.
Các báo trong nước và truyền thông nước ngoài đã mô tả những biến động giá cả vượt mức trên các mặt hàng lương thực, thuốc men, cước phí vận tải, đời sống nông ngư dân và người có lợi tức cố định sau khi giá xăng tăng ra sao (2). Trong các phản ứng có xen phẫn uất, cam chịu, thắt lưng buộc bụng và xoay trở. Nhưng dù cam chịu thì cũng chỉ có giới hạn. Không ai có thể tiên liệu phản ứng người dân rao sao trong tương lai đen tối của nền kinh tế khi mà trách nhiệm chủ yếu là nhà cầm quyền cộng sản.
Nguy cơ phá sản đã gần kề
Ngoài nguy cơ lạm phát phi mã sẽ phân tích sau, Việt Nam còn chịu một nguy cơ không kém, phát sinh từ cán cân chi trả khiếm hụt: nguy cơ vỡ nợ phá sản, tương tự như Hy Lạp, Ái nhĩ lan. Đó chính là nhận định rất có cơ sở của ông David Koh, chuyên viên Viện nghiên cứu Đông nam á trong bài viết “Vietnam’s poor Government” đăng trên tạp chí Chính sách ngoại giao giữa tháng 3/2011(3).
Thực vậy, nợ nước ngoài ở Việt Nam không ngừng tăng gia, hiện là 29 tỉ USD vào đầu tháng 3/2011, trên 42% Tổng sản lượng quốc dân (GDP).Trong khi đó, dự trữ ngoại tệ cuối năm 2010 là 12 tỉ USD (hiện nay chỉ còn khoảng 10 tỉ USD, so với 23 tỉ USD năm 2008), tương đương với khoảng hai tháng nhập khẩu (trong khi tối thiểu phải là 3-6 tháng). Hiện nợ đến kỳ phải trả là 4 tỉ USD. Ông David Koh đưa ra giả thiết nếu các chủ nợ kêu đòi ngay một lúc (do khủng hoảng quốc tế hay mất tin tưởng của nước ngoài) thì nhà cầm quyền sẽ không thể chi trả. Nghĩa là vỡ nợ, phá sản!
Có nhiều dấu hiệu về mối lo này của giới lãnh đạo cộng sản. Vào tháng 3/2011, nỗ lực vay tiền nước ngoài dưới hình thức phát hành trái phiếu quốc tế với lãi suất đặc biệt cao đã không được giới đầu tư quốc tế đáp ứng. Giá trái phiếu chính phủ xuống thấp trong tháng 3. Đây là phản ứng của quốc tế và trong nước sau khi Vinashin đã phải xin hoãn trả món lãi đến hạn kỳ cuối năm 2010. Từ cuối năm 2010, Công ty Moody’s cùng Standard & Poor’s đã hạ thấp mức tín nhiệm giá trị trái phiếu chính phủ bằng ngoại tệ (từ Ba3 xuống B1 và từ BB xuống BB trừ). Lý do nêu ra là thâm hụt thương mại tăng cao, dự trữ ngoại tệ xuống quá thấp và áp lực phá giá cao.
Chuyến đi lặng lẽ vào ngày 7/4/2011 của bộ trưởng tài chính Nguyễn Văn Ninh sang Mỹ để gặp ông bộ trưởng Timothy Geithner, ông Obama sau khi đã ghé Ngân Hàng Thế Giới chắc chắn mang một ý nghĩa khẩn cấp để tìm hỗ trợ của Mỹ trong cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay.
Mức dự trữ ngoại tệ xuống quá thấp đã góp phần chính vào sự mất giá 9,3%đồng tiền so với USD (trong khi thực giá của USD mất 10% trị giá !).Nhà cầm quyền không thể không phá giá khi có sự khan hiếm gia tăng của USD và sai biệt quá cao giữa tỉ giá chính thức và thị trường tự do. Đừng tưởng sự phá giá mạnh đồng tiền trong nước sẽ chỉ đem lại lợi ích về ngoại thương. Việt Nam nhập 80-90% nguyên liệu để xuất khẩu nên thay đổi tỉ giá sẽ tăng giá nhập khẩu nguyên liệu và làm hàng xuất khẩu tăng giá một phần. Nó chỉ có lợi với xuất khẩu nông sản trong một chừng mực nhất định. Về nhập khẩu thì chắc chắn bất lợi.
Tại sao dự trữ ngoại tệ của Việt Nam lại xuống thấp đến thế ? Lý do chính là nhập siêu tiếp tục tăng trong hai năm liền sau khi ở mức cao nhất 17 tỉ USD năm 2008. Nhập siêu năm 2009, 2010 trên 12 tỉ USD, năm 2011 lại dự trù tăng lên 14 tỉ USD. Số lượng nhập hàng xa xỉ hiện ở mức 10 tỉ USD, mức nhập siêu với Trung quốc quá cao (xuất 6 tỉ USD, nhập 20 tỉ USD). Ngân Hàng Nhà Nước cũng để cho các tập đoàn, doanh nghiệp NN có khối ngoại tệ lớn (Petro VN cất giữ vài tỉ USD) không bán ra. Mặt khác, thị trường nhập vàng với mục tiêu kinh doanh đã khiến mất vài tỉ USD. Mức đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã sụt giảm nhiều từ đầu năm 2011, thua xa mức 31 tỉ USD năm 2008. Riêng mức đăng ký FDI trong quý 1 đã giảm 35,2% so với cùng kỳ năm ngoái nói lên tính chất thiếu tin tưởng của giới đầu tư nước ngoài. Số lượng ngoại tệ do kiều hối cũng xuống thấp. Ngoài ra, số ngoại tệ và trị giá vàng do người dân nắm giữ được ước tính khoảng 20 tỉ USD, nhưng số ngoại tệ đó không đến tay Nhà nước.
Lâp lại kịch bản chống lạm phát năm 2008?
Lạm phát phi mã 28% vào năm 2008 chủ yếu do Ngân hàng NN cho in tiền 115 tỉ VND để mua USD của các ngân hàng thương mại có số lượng lớn, hầu giữ ổn định tỉ giá đồng USD và kích thích tăng trưởng. Nhưng mức tăng tín dụng quá lớn so với nhu cầu (trên 30%) đi kèm với sự tăng giá cao nhiên liệu và thực phẩm trên thị trường thế giới đã đẩy mạnh mức lạm phát. Những nguyên nhân yếu kém nội tại trong sự điều hành nền kinh tế (khối đầu tư công quá lớn 43%, hiệu quả kém(ICOR=7 rất cao so với các nước), bội chi trên 5%, tham nhũng trầm trọng,.nhất là các biện pháp chống lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô đã không được thực hiện đúng theo cam kết….tất cả đã đưa đến kết quả như ta đã biết.
Ngày 24/2/2011, ông Nguyễn Tấn Dũng đã đưa ra Nghị quyết 11/NQ/CP với nhóm 6 giải pháp nhằm chống lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm an sinh xã hội. Nghị quyết 11 cũng có nhiều nét tương đồng với Nghị quyết 10 và nhóm 8 giải pháp mà ông Dũng đưa ra vào tháng 4/2008. Điểm khác biệt chính là nghị quyết 11 bỏ hẳn mục tiêu tăng trưởng để chỉ dồn vào kềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Đã không có gói kích cầu 1 tỉ USD như 2008 vì dự trữ ngoại tệ cạn kiệt. Đây là bước ngoặt quan trọng. Tuy nhiên trong cách phân tích, nghị quyết đã không cho thấy những nguyên nhân chủ quan nội tại kéo dài đã đưa tới tình hình hiện nay, khác với các nước trong vùng.
Nghị quyết 11 chủ trương thắt chặt tiền tệ ở mức tăng khối cung tín dụng không quá 20% so với 25% của năm 2010 (thực tế là 30% theo báo cáo Quốc hội). Đây là điều tất yếu vì chính sách buông thả tín dụng để hỗ tăng trưởng vào năm 2010 đã bị phê phán là nguyên nhân chính đưa lạm phát lên gần 12%. Theo ông David Dapice, chính sách tăng trưởng tín liên tục khoảng 30% từ năm 2000 đến nay đã khiến các ngân hàng thương mại đổ dồn vốn vào việc mua bán nhà đất, bất động sản khiến cho giá nhà đất tăng cao. Hiện giá nhà đất các khu “nhà dát vàng”ở Hà Nội, Saigon đã lên tới mức 1 tỉ VND/m2 (khoảng 50.000 USD), thuộc loại “top 10” thế giới, trong khi đa số các khu xây dựng để trống. Tình trạng bong bóng này đang có dấu hiệu bể giống như năm 2008 (4). Giá nhà đất ở Vũng Tàu đang rao bán giảm giá 20%.
Gần đây, Ngân Hàng NN đã tăng lãi suất huy động không quá 14% (lãi suất cơ bản tăng lên 9%). Tuy nhiên, các ngân hàng thương mại đã tìm cách “lách trần” bằng nhiều biện pháp để đưa nó lên 17-18%. Từ đó lãi suất vay vốn sấp sỉ 20% khiến các doanh nghiệp sản xuất phải lắc đầu và chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến sản xuất. Việc tự động phá rào là do các ngân hàng ước tính về mức lãi suất thực. Các ngân hàng thường thiếu thanh khoản nhiều sau khi đã phải mua trái phiếu chính phủ quá lớn và đầu tư vào lãnh vực phi sản xuất như nhà, đất. Ngân hàng NN hiện tỏ ra bất lực không kiểm soát được hoạt động của các ngân hàng thương mại. Trong bản tin ngày 24/3/2011, công ty đánh giá tín dụng nổi tiếng Standard & Poor tiên đoán hệ thống ngân hàng Việt Nam sẽ gặp nhiều xáo trộn trước nạn lạm phát tăng, khó khăn thanh khoản và nợ tăng cao. Ba ngân hàng thương mại lớn là Ngân hàng ngoại thương, NH đầu tư và phát triển, NH thương mại và công nghệ đã bị xuống hạng BB-. Hiện Ngân hàng NN đã tăng dự trữ bắt buộc từ 11% lên 12%.theo đúng bài bản chống lạm phát nhưng sẽ tạo thêm khó khăn về thanh khoản với mức độ khác nhau cho ngân hàng…
Đối với yêu cầu kiểm soát chặt chẽ thị trường mua bán vàng lá, USD, những biện pháp ngăn cấm đưa ra vẫn không giải quyết toàn diện vì sau ít ngày, thị trường chợ đen đã xuất hiện trở lại. Giá vàng hiện lên tới mức kỷ lục 37,25 triệu VND/lạng (11/4) tương ứng với mức tăng kỷ lục 1457 USD/ounce trên thị trường Newyork. Người dân hiện không còn tính giá nhà đất theo “cây” vàng như trước mà là USD,và đây là một chỉ dấu chuyển “giá trị trú ẩn”vào đồng đô-la nhiều hơn.Tỉ giá USD vừa từ 20.723 lên 20.930 VND (11/4) mặc dù quyết định tăng dự trữ bắt buộc lên 6% đối với ngoại tệ ký gửì từ đầu tháng 5 và quy định trần lãi suất tiền gửi là 3% từ 13/4. Những quyết định vừa nêu nhằm hướng hoạt động tín dụng ngoại tệ sang nội tệ.
Hiện chúng ta khó tin tưởng mục tiêu tăng tín dụng dưới 20% sẽ thành hiện thực.
Về chính sách tài khoá, Nghị quyết 11 chủ trương cắt giảm đầu tư công, tăng thu 8-9%, giảm chi thường xuyên 10% để đạt mức bội chi ngân sách 2011 dưới 5% GDP. Ở đây, có nhiều yếu tố cho thấy mục tiêu 5% đưa ra là không thực tế. Theo đại diện Quỹ tiền tệ quốc tế IMF, bội chi ngân sách năm 2009 của Việt Nam đã lên tới 9% GDP, cao hơn nhiều so với mức công bố 6,9%. Năm 2010, mức bội chi theo ngân sách biểu quyết là 6,2% trong khi thực tế ít ra là 8% GDP. Năm 2011, đã dự trù tổng chi 725.600 tỉ VND (tăng 12,7%/2010), tổng thu 595 000 tỉ VND, bội chi 130.600 tỉ (tăng so với 119.700 tỉ VND năm 2010). Theo cách tính như trên, bội chi năm 2011 chắc sẽ cao hơn mức tính 6,2% GDP của Nhà nước.Những biện pháp ông Dũng đưa ra có thể khiến bội chi năm 2011 xuống còn 5% hay không?
Căn cứ vào kinh nghiệm của việc thực thi kế hoạch giảm bội chi đưa ra năm 2008, chúng ta sẽ có thể trả lời cho câu hỏi vừa nêu.
Thực vậy Tổng chi ngân sách nhà nước vẫn tăng cao 22,3% trong năm 2008 so với 2007.bất chấp những cam kết trước đó của chính phủ cắt giảm hai khoản chi tiêu công quan trọng nhất là chi thường xuyên(10%) và chi đầu tư phát triển nhằm kiềm chế lạm phát.
Lý do : các tập đoàn, doanh nghiệp NN, cơ quan thường chỉ hứa cắt giảm đầu tư hay chi phí mà không thực thi, chính quyền thì không theo dõi hay có biện pháp cứng rắn.Tình trạng này có triển vọng sẽ tái diễn. Theo chuyên gia kinh tế Trần Hoàng Ngân thì ít nhất phải cắt giảm 30.000 tỉ VND (gần 10% tổng cầu) cho đầu tư công để có hiệu quả giảm bội chi ngân sách. Những biện pháp đang áp dụng để cắt giảm những đầu tư không hiệu quả, kéo dài xem ra không thể đạt yêu cầu trên. Đầu tư công vẫn chiếm trên 40% từ 2006-2010, hiệu quả kém (ICOR=7-8).Chính quyền vẫn bất lực với các tập đoàn làm ăn thua lỗ. Vinashin thua lỗ hàng tỉ USD không trả được lãi vay mà lãnh đạo vẫn không bị kỷ luật hay chế tài, Tập đoàn Điện lực thì được coi là làm ăn thua lỗ lớn nhất mà vẫn không có giải pháp. Nói chung, các tập đoàn đều có quan hệ chặt chẽ với lãnh đạo đảng và đây là điều mà mọi người đều rõ. Nói về giới lãnh đạo và tệ nạn tham nhũng thì theo trang mạng danlambao ngày 22/3/2001, trong 250.000 điện văn ngoại giao của Mỹ, căn cứ trên nguồn tin từ giới ngân hàng Việt Nam cho biết gia đình ông Dũng đã nhận chuyển khoản 150 triệu USD tiền “nhẩm sà” về dự án bô-xít Tây nguyên từ cuối năm 2006 đến tháng 6/2009 . Còn gia đình ông Nông Đức Mạnh cũng nhận chuyển khoản tới 300 triệu USD từ cuối năm 2001. Đây là nguồn tin đáng tin cậy đúng như tin đồn đã lan truyền.
Căn cứ vào những nhận định trên, có cơ sở để tin rằng con số bội chi thực năm 2011 sẽ từ 7- 9%.
Về vấn đề giảm nhập siêu thì hiện chưa có biện pháp thực hiện việc giảm nhập hàng xa xỉ và cân đối ngoại thương với Trung quốc.Việc nhập xăng dầu với giá cao theo thị trường quốc tế và theo tỉ giá tăng là điều mà nghị quyết 11 đã đưa ra. Việc tiếp tục tăng giá xăng dầu nhiều lần sẽ khiến lạm phát phi mã không thể kềm chế trong năm nay.
Về bảo đảm an sinh xã hội, nhà cầm quyền đã có quyết định tăng lương tối thiểu công nhân viên từ 730.000 lên 830.000 VND kể từ 1/5/2011 với chi phí 27.000 tỉ. Tuy nhiên, công nhân với đồng lương thấp kém, trung bình khoảng 1,2-1,6 triệu đồng/tháng là hoàn toàn không đủ sống và lại không mấy thay đổi theo lạm phát. Họ đã có phản ứng, gia tăng biểu tình đòi tăng lương những ngày gần đây như trường hợp 3.000 công nhân hãng Yamaha ở Sóc Sơn, Hà Nội.
Đến đây, chúng ta có nhiều cơ sở để tin rằng con số lạm phát phi mã 13,3% mà ADB dự trù cho năm 2011 của Việt Nam là khá lạc quan mặc dù cơ quan này đã ghi nhận lạm phát quý 3 sẽ lên tới 16% trước khi giảm. Dự đoán của ADB dựa trên giả thiết “nếu” : nếu nhà cầm quyền thực thi đúng các cam kết đã đưa ra ! Chúng tôi đã trả lời phần nào cho câu hỏi trên. Ngay chính một số chuyên gia của ADB cũng tỏ ra nghi ngờ về khả năng thực thi cam kết.Tất nhiên, về phương diện dự đoán, có rất nhiều ẩn số chưa thể tính hết như: tình hình gia tăng nhiên liệu, thực phẩm trên thế giới, thiên tai dịch hoạ… Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng con số lạm phát thực của Việt Nam trong toàn năm 2011 sẽ vào khoảng 16-20% căn cứ chủ yếu vào kinh nghiệm đã qua. Chúng ta cần thận trọng với dự đoán của ADB (5). Riêng về mức phát triển dự trù 6,1% của ADB cho năm 2011 (so với 7% kỳ vọng) tương đối vẫn lạc quan nếu căn cứ trên sự sút giảm 5,4% của quý 1/2011 so với cùng kỳ năm ngoái và hiệu quả bất lợi của việc thắt chặt tín dụng trên hoạt động sản xuất mà không có biện pháp bổ sung. Hiện có nhiều doanh nghiệp phá sản vì thiếu vốn, cạn nguyên liệu.
Bức tranh kinh tế ảm đạm nêu trên nằm trong một toàn cảnh u ám. Trong bản phân tích của hãng Reuters vào đầu tháng 4/2011(6), có năm dấu hỏi lớn về phát triển lâu dài của Việt Nam: hoạch định kinh tế vĩ mô không thực hiện, hiệu quả thực của nền quản lý quan liêu, vô trách nhiệm (điển hình là vu Vinashin phá sản), nạn tham nhũng ngày càng tăng cao trong bảng thứ hạng quốc tế, gia tăng vi phạm nhân quyền (qua việc bắt bớ gần 400 người về chính trị, tôn giáo, sắc tộc) và bất ổn xã hội.
Những “bức xúc” liên quan đến trưng thu đất đai xảy ra trên mọi vùng đất nước qua những biểu tình của người dân miền Tây tại Saigon, biểu tình ở Hà Nam và ngay ngoại ô Hà Nội.
Tình trạng bạo hành của công an trong mọi lãnh vực (từ giao thông đến tranh chấp đất đai) đã khiến dân chúng phẫn uất, biểu tình tại nhiều nơi như Bắc Giang, Đà Nẵng và ngay tại Hà Nội.
Sự đàn áp các tiếng nói bất đồng chính kiến đã gây được nhiều sự ủng hộ của quần chúng qua phiên toà xử luật sư Cù Huy Hà Vũ tại Hà Nội với hàng ngàn người theo dõi bên ngoài.
Nhưng ngòi nổ lớn nhất trong tình trạng xã hội hiện nay là cơn bão giá đang ảnh hưởng mạnh đến các gia đình có lợi tức thấp trong tình trạng chênh lệch giàu nghèo ngày càng gia tăng.
Nếu nhà cầm quyền cộng sản không thể kềm được cơn bão giá thì đến một lúc nào đó, cơn bão đó sẽ quét đi những người đã là nguyên nhân chính gây ra nó.
Rennes 15/04/2011
Tiến Hồng
(1) Lạm phát năm của Thái Lan tính đến cuối tháng 3/2011 là 2,9%, Indonesia 6,8%, Singapore 5%, Malaysia 2,9%.
(2) “Bão giá như sóng thần”. RFA,1/4/2011. “Vin vào giá xăng, giá thực phẩm tăng chóng mặt”. Tiền Phong, 5/4/2011…
(3) “Chính phủ Việt Nam có nguy cơ phá sản”. Bản dịch của Nguyên Đình. Beauxite Việt Nam, 16/3/2011.
(4) Vào cuối năm 2007, giá 1m2 nhà ở đường Đồng Khởi, Saigon đã lên tới 1,7 tỉ VND cao hơn cả Luân Đôn, Tokyo…và sau đó đã sụt thê thảm.
(5) Chúng tôi cũng cho rằng dự đoán mức lạm phát năm 2011 4,6% của ADB cho Trung Quốc là xa sự thật. Qua 4 lần tăng lãi suất mà lần cuối lãi suất cơ bản tăng đến 6,31% chứng tỏ mức lạm phát thực ít ra là 7%. Tuy nhiên cơ cấu kinh tế của Trung quốc tương đối ổn định, với mức dự trữ ngoại tệ hiện lên tới 2.847 tỉ USD (so với 165 tỉ năm 2001), cao nhất thế giới, khiến Trung quốc gia tăng đầu tư trên nhiều nước Tây Âu và mua trái phiếu nợ lãi suất thấp của các nước như Hy Lạp, Bồ và Tây Ban Nha. Ảnh hưởng chính trị do đó gia tăng.

Gaddafi 'sử dụng bom chùm ở Misrata'

Bom chùm
Một trong số các mẫu bom chùm thu được được cho là sản xuất ở Tây Ban Nha.

Các lực lượng ủng hộ chính phủ Gaddafi tại Libya đang bị một nhóm các tổ chức vận động cho nhân quyền cáo buộc sử dụng bom chùm, một loại vũ khí bị cấm sử dụng tại hơn 100 quốc gia.
Tổ chức theo dõi nhân quyền Human Rights Watch nói rằng một trong các phóng viên ảnh của tổ chức này đã trông thấy ba loạt bom chùm được thả vào khu dân cư ở Misrata.
Nhưng một phát ngôn nhân của chính phủ Libya đã bác bỏ cáo buộc này.
Chính phủ Libya tăng cường quân đội bao vây khu vực Misrata, thành phố duy nhất ở mạn Tây của Libya vẫn còn nằm trong tay quân nổi dậy.
Phóng viên BBC Orla Guerin, đưa tin từ nội đô thành phố vốn đang xảy ra chiến sự này, cho hay các cư dân địa phương đang lo sợ xảy ra một vụ thảm sát, nếu không có hành động can thiệp nào lớn hơn của không lực NATO giúp phá vỡ cuộc bao vây.
Bên cạnh bom chùm, cũng có tin cáo buộc các lực lượng của chính phủ Libya đang sử dụng hệ thống tên lửa Grad do Liên Xô cũ thiết kế khi oanh tạc Misrata.
Tôi thách thức họ chứng minh được điều đó
Phát ngôn nhân chính phủ của Gaddafi
Hệ thống Grad, vốn cho phép phóng một lúc nhiều hỏa tiễn từ các bệ phóng di động, bị cáo buộc đã làm một số dân thường thiệt mạng trong những ngày gần đây, trong đó có tám nạn nhân trúng thương khi họ đang xếp hàng chờ phân phối bánh mì.
Phóng viên BBC Jon Leyne, từ nơi phản công của lực lượng nổi dậy ở thành phố Benghazi thuộc mạn đông Libya, cho biết Grad là một hệ thống vũ khí tấn công không phân biệt - tuy không bị xếp loại bất hợp pháp - hệ thống hỏa tiễn này có thể còn gây chết người nhiều hơn cả bom chùm.
Với khả năng được phóng đi từ một xe tải chứa tới 40 ổ hỏa tiễn, hệ thống này cho phép bắn khoảng 40 hỏa tiễn liên tiếp.
Nhờ đó, các hệ thống Grad có thể bao phủ một khu vực rộng lớn và trên thực tế đã được sử dụng để tấn công cảng Misrata, một điểm liên kết quan trọng với thế giới bên ngoài của những người trong thành phố.
Đây là vũ khí thuộc loại "ác hiểm nhất với khu đô thị" và phóng viên của BBC cho biết thêm rằng các lực lượng của Gaddafi vẫn tiếp tục vừa nã hỏa lực vào thành phố vừa sử dụng lực lượng bắn tỉa nhắm vào thường dân, trong khi đối chọi lại với quân nổi dậy.
'Kinh khủng'
Bom chùm
Các tổ chức nhân quyền cho biết trẻ em Libya có thể gặp rủi ro khi gặp bom chùm chưa kích nổ.
Khi công bố các hình ảnh của bom chùm, tổ chức Human Rights Watch (HRW) có trụ sở tại New York cho biết ba loạt hỏa lực đã phát nổ ở khu dân cư el-Shawahda của Misrata vào đêm thứ Năm.
Được một phóng viên của tờ New York Times phát hiện đầu tiên và được các nghiên cứu viên của HRW kiểm tra, vũ khí trong ảnh được cho là một trái MAT-120 được phóng đi từ loại súng cối 120mm.
Trái đạn này sẽ bung ra trên không trung và phóng ra thành 21 "trái bom nhỏ" trên một diện tích rộng.
"Khi phát nổ do tiếp xúc với đối tượng, từng trái bom nhỏ tiếp tục phân chia thành các mảnh bom bắn phá với tốc độ cao để tấn công người dân và vũ khí bị cấm này còn phát ra một dạng kim loại nóng chảy vốn có thể xuyên thủng các loại xe bọc thép," HRW lưu ý.
HRW cho biết viên đạn qua kiểm tra cho thấy đã được sản xuất tại Tây Ban Nha vào năm 2007, một năm trước khi Madrid ký Công ước quốc tế về bom chùm.
Steve Goose, giám đốc bộ phận vũ khí của HRW, cho biết đây là vũ khí "kinh hoàng" mà quân chính phủ Libya đã sử dụng, đặc biệt trong một khu vực dân cư.
"Chúng tạo ra một nguy cơ rất lớn cho dân thường, cả khi tấn công do tính không phân biệt của khả năng sát thương và cả sau đó vì vẫn còn nhiều nguy hiểm với các trái bom chưa phát nổ nằm rải rác," ông nói thêm.
Họ bắn phá tất cả mọi thứ, tất cả các cao ốc dinh thự và nhà cửa. [Đại tá Gaddafi] phá hủy tất cả mọi thứ. Ông ta sử dụng vũ khí hạng nặng
Một cư dân ở Misrata
HRW cho biết họ không thể xác định xem có bất kỳ thương vong nào của thường dân do bom chùm hay chưa sau khi các loạt bom "dường như đã nã xuống một khu vực cách bệnh viện Misrata khoảng 300 mét."
Công ước quốc tế về bom chùm, được thông qua tại Dublin vào năm 2008, cấm 108 quốc gia thành viên ký kết, sử dụng loại vũ khí này vì mối đe dọa mà nó có thể gây ra cho thường dân.
Libya là một trong những quốc gia không ký công ước, cùng với các nước khác như Mỹ, Israel, Nga và Trung Quốc.
Phát ngôn viên chính phủ Libya, Ibrahim Moussa, đã bác bỏ việc bom chùm được sử dụng tại Misrata.
"Tôi thách thức chứng minh được điều đó," ông này nói với các phóng viên ở thủ đô Tripoli.
Đề cập đến việc kiểm tra của các tổ chức nhân đạo, ông nói: "Nếu các loại bom được sử dụng thì bằng chứng của chúng sẽ lưu lại nhiều ngày và nhiều tuần lễ sau đó.
"Và chúng tôi biết cộng đồng quốc tế sắp tới thị sát đất nước chúng tôi với số lượng rất đông. Vì vậy, chúng tôi không thể làm điều đó, một điều buộc tội chính chúng tôi, ngay cả khi chúng tôi muốn phạm tội chăng nữa."
Hiện chưa có bình luận tức thì từ Tây Ban Nha, nước đã ký Công ước về bom chùm, về nguồn gốc của các trái bom.
Tiếp viện của NATO
Libya
Quân nổi dậy ở Misrata cầm cự trong vòng hai tháng qua.
Một cư dân ở khu vực Ahmed Qasr thuộc Misrata liên lạc với BBC vào thứ Bảy và cho biết cuộc tấn công của lực lượng ủng hộ Gaddafi đã tiếp tục trở lại lúc 0630 (0430 GMT) ngày thứ Bảy.
"Họ bắn phá tất cả mọi thứ, tất cả các cao ốc dinh thự và nhà cửa. [Đại tá Gaddafi] phá hủy tất cả mọi thứ. Ông ta sử dụng vũ khí hạng nặng", cư dân này nói.
Lực lượng nổi dậy ở Misrata đã và đang chống lại các cuộc tấn công của quân Gaddafi trong vòng hai tháng nay và Ngoại trưởng Anh William Hague nhấn mạnh rằng NATO cần phải hành động nhanh chóng để ngăn chặn một cuộc "thảm sát" trong thành phố này.
Ông cho biết vào hôm thứ Sáu rằng NATO, bị hạn chế bởi việc cần tránh thương vong dân sự, nay có thể đã ngăn cản được việc thành phố này bị nghiền nát bởi lực lượng của Đại tá Gaddafi.
Hôm thứ Sáu, cuộc họp của các Ngoại trưởng khối Nato tại Berlin đã kết thúc, mà không có cam kết nào từ các quốc gia vốn không tham gia chiến dịc, trong việc đóng góp phi cơ chiến đấu cho các hoạt động quân sự của liên minh đối với Libya.
Mỹ, Anh và Pháp cho biết trong một tuyên bố chung rằng mối đe dọa đối với thường dân Libya sẽ không mất đi một khi Đại tá Muammar Gaddafi vẫn còn nắm quyền.
Tuy nhiên, Nga cho rằng NATO đã đi quá xa sứ mạng của mình, vốn được Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc cho phép, trong khi bảo vệ thường dân.

Libya
Bản đồ các khu vực có xung đột tại Libya

BBC

G20 ra biện pháp theo dõi mất cân bằng

Hội nghị G20 4/2012
Cuộc họp tháng Tư của lãnh tụ G20 diễn ra tại Washington, Hoa Kỳ.

Bộ trưởng Tài chính và các quan chức ngân hàng trung ương của khối G20 đã đồng ý về một bộ "hướng dẫn chung" nhằm đánh giá về các nguy cơ tiềm ẩn đối với kinh tế toàn cầu mà chính sách kinh tế của các quốc gia có thể gây ra.
Toàn bộ các nước thành viên của khối G20 sẽ được giám sát theo hệ thống mới này.
Thêm nữa, các nước thành viên nào chiếm trên 5% tổng sản phẩm kinh tế của khối G20 sẽ được giám sát, phân tích kỹ càng hơn tình trạng mất cân bằng ở giai đoạn hai.
Trong số này có Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản, Đức và Pháp.
Khối G20 nói biện pháp này nhằm "phản ánh việc các nền kinh tế lớn có khả năng gây hiệu ứng lan tỏa nhiều hơn."
Khối G20 không chính thức nêu danh các quốc gia phải áp dụng biện pháp này, nhưng Bộ trưởng Tài chính Pháp Christine Lagarde nói Pháp sẽ là một trong số bảy nước sẽ bị giám sát chặt chẽ hơn.
Khối G20 nhóm họp tại Washington, trước các cuộc họp mùa xuân của Ngân hàng Thế giới (World Bank) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF).
G20 chiếm tới 85% tổng sản phẩm toàn cầu và nay đang là diễn đàn chính trong nỗ lực cải tổ hệ thống tài chính thế giới.
Giải quyết tình trạng mất cân bằng
Bộ trưởng Tài chính Pháp Christine Lagarde (phải) và Bộ trưởng Tài chính Mỹ Tim Geithner
Bộ trưởng Tài chính Pháp Lagarde (phải) nói nước bà sẽ là một trong số bảy nước bị giám sát chặt chẽ hơn.

Nhiều kinh tế gia tin rằng tình trạng mất cân bằng toàn cầu đã góp phần vào cuộc khủng hoảng tài chính gần đây.
Theo họ, các nền kinh tế đang lên đã tái đầu tư phần thặng dư của mình vào các thị trường phương Tây, khiến cho các ngân hàng nhận vào các khoản rủi ro cao quá mức.
Các Bộ trưởng Tài chính đồng ý rằng họ cần phải tìm được giải pháp cho tình trạng mất cân bằng này.
Tuy nhiên, các nước lại bất đồng trong vấn đề cần hành động nhanh tới đâu trong việc xử lý vấn đề này.
Trung Quốc thừa nhận nước này cần mở cửa nền kinh tế và cần phải để đồng tiền của mình, đồng nhân dân tệ, mạnh lên, nhưng lại muốn làm theo tiến độ riêng.
Hoa Kỳ thì muốn việc này phải được thực hiện thật nhanh.
Các biện pháp giám sát
Sau cuộc họp cuối cùng hồi tháng Hai, nhóm G20 đã đạt được một thỏa thuận về việc áp dụng các chỉ dấu nhằm phát hiện tình trạng mất cân bằng kinh tế.
Thỏa thuận tại Washington về các biện pháp đánh giá được áp dụng với các chỉ dấu bao gồm cả nợ công và mức thâm hụt công, cũng như mức nợ tư và tỷ lệ gửi tiết kiệm trong khu vực tư nhân.
Trong bản thông cáo mới nhất, khối G20 nói việc giám sát sẽ dựa trên bốn cách tiếp cận:
  • ước tính về tình trạng mất cân bằng của một quốc gia, dựa trên các mô hình kinh tế cụ thể áp dụng tại nước đó
  • nhìn vào tình trạng mất cân bằng của một quốc gia, dựa theo cả quá trình kinh tế của nước đó
  • so sánh tình trạng mất cân bằng của một quốc gia với nhóm các nước tương tự
  • so sánh tình trạng mất cân bằng của một quốc gia với toàn bộ nhóm G20
Ba cách tiếp cận sau sẽ sử dụng số liệu từ 1990 đến 2004, "bởi đây là giai đoạn ngay trước khi tình trạng mất cân bằng bên ngoài được tích tụ trên quy mô lớn," thông cáo nói.
Nhóm G20 nói: "Các nước được xác định dựa trên ít nhất hai trong số bốn cách tiếp cận này, mà theo đó cho thấy thường xuyên trong tình trạng mất cân bằng nghiêm trọng, sẽ được đánh giá cẩn trọng trong bước thẩm định thứ hai, nhằm xác định bản chất và nguyên nhân gây ra tình trạng mất cân bằng ở nước đó, cũng như nhằm tìm cách điều chỉnh phù hợp."
Bước thẩm định thứ hai có thể sẽ do IMF thực hiện độc lập.
Nền kinh tế toàn cầu tuy có vẻ đã trên đường hồi phục, nhưng cuộc họp diễn ra vào lúc vẫn đang tồn tại rất nhiều mối đe dọa đối với sự phát triển chung.
Đáng kể là tình trạng bất ổn ở Trung Đông, giá dầu thô tăng cao, lạm phát tại Trung Quốc vẫn tiếp tục tăng, và châu Âu vẫn gặp vấn đề về nợ nần.

 BBC

Quân đội Việt Nam và Lào bị tố cáo sát hại 4 phụ nữ người Hmong

Phụ nữ người Hmong.
Phụ nữ người Hmong.
Nguồn: wikipedia
 
Thanh Hà
 
Hôm qua 15/4 tổ chức nhân quyền CPPA (Center for Public Policy Analysis) của Mỹ tố cáo quân đội Lào và Việt Nam sát hại bốn phụ nữ Hmong theo đạo Tin Lành tại tỉnh Xieng Khuang, ở phía Đông Bắc nước Lào và sát với biên giới tỉnh Nghệ An của Việt Nam.
Theo tổ chức nhân quyền Mỹ, một đơn vị đặc biệt của quân đội Lào gồm khoảng 150 lính, cùng một số cố vấn quân sự và công an mật vụ Việt Nam cách nay hai ngày (14/4) đã tịch thu Kinh thánh của bốn phụ nữ nói trên, đánh đập tàn bạo và hãm hiếp hai người trẻ nhất trong số này trước khi « hành quyết » cả bốn người. Các nạn nhân bị bắn vào đầu và vào ngực. Chồng và 26 người con của bốn phụ nữ Hmong đã chứng kiến tận mắt hành vi của quân đội Lào và Việt Nam. Họ đã bị đánh đập, bị trói và theo tổ chức CPPA, sau vụ hành quyết vừa qua gia đình các nạn nhân đã bị mất tích.
Giám đốc tổ chức nhân quyền CPPA, Philip Smith tố cáo điều ông gọi là « các hành vi chà đạp tôn giáo » ngày càng gia tăng của quân đội Việt Nam và của quân đội Lào trong những năm gần đây. Theo ông lính của Việt Nam và của Lào « nhất quyết triệt hạ tín đồ Tin Lành độc lập » tại các vùng cao nguyên ở Việt Nam và Lào.
AFP nhắc lại : Về phương diện quốc phòng và quân sự, Lào chiếm một vị trí chiến lược trong mắt các nhà cầm quyền Việt Nam, do vậy quân đội hai nước luôn có một sự hợp tác chặt chẽ.

tags: Lào - Nhân quyền - Quân đội - Việt Nam

Đạt Lai Lạt Ma kêu gọi người Tây Tạng kiềm chế

Lãnh đạo tinh thần của người Tây Tạng, Đức Đạt Lai Lạt Ma đến dự một cuộc họp báo tại Thụy Điển ngày 16/4/11.
Lãnh đạo tinh thần của người Tây Tạng, Đức Đạt Lai Lạt Ma đến dự một cuộc họp báo tại Thụy Điển ngày 16/4/11.
Reuters
 
Thanh Phương
Theo thông báo ngày thứ Tư vừa qua của Hiệp hội Quốc tế ủng hộ Tây Tạng (International Campaign for Tibet - ICT), đụng độ đã nổ ra giữa các cư dân sống cạnh tu viện Kirti, miền Đông Nam Trung Quốc, với các lực lượng an ninh. Công an Trung Quốc đã thả chó và đánh đập người cư dân sống xung quanh tu viện.
Tình hình tại tu viện Kirti trở nên căng thẳng từ một tháng nay, sau khi một nhà sư trẻ tự thiêu đúng vào ngày 16/3, nhân dịp kỷ niệm ngày nổ ra phong trào phản kháng đầu năm 2008, tại Lhassa. Thay vì dập tắt lửa, công an Trung Quốc lại đánh đập nhà sư này, gây phẫn nộ dư luận. Đây là nhà sư thứ hai tự thiêu tại tu viện Kirti kể từ các vụ biểu tình bạo động năm 2008.
Hôm nay, Đức Đạt Lai Lạt Ma, trong một thông cáo đăng trên mạng, đã kêu gọi các tu sĩ và cư dân trong vùng nên tự kiềm chế, « tránh mọi hành động khiến chính quyền điạ phương lấy cớ để đàn áp ». Lãnh tụ tinh thần Tây Tạng cho biết Ngài rất lo ngại trước tình hình mà nếu cứ để như vậy « sẽ bùng nổ với những hậu quả thảm khốc. » Theo bản thông cáo, tu viện Kirti, nơi cư ngụ của 2.500 nhà sư, hiện đang bị lực lượng Trung Quốc bao vây hoàn toàn, khiến tu viện này không còn được tiếp tế lương thực.
Đức Đạt Lai Lạt Ma cũng kêu gọi quốc tế yêu cầu Bắc Kinh có thái độ chừng mực. Hôm thứ ba vừa qua, Hoa Kỳ đã lên tiếng chỉ trích Trung Quốc về các vụ xung đột nói trên.

Động đất 5.9 độ Richter ở Tokyo

RFA 16.04.2011

Lúc 11 giờ sáng hôm nay, một trận động đất đo được 5.9 độ Richter đã xảy ra ở Nhật Bản, làm rung chuyển nhà cửa ở Tokyo.
Cơ Quan Địa Chấn Hoa Kỳ cho biết tâm chấn của trận động đất này cách Tokyo 83km về hướng Bắc. Chưa có báo cáo nào về thương vong hay thiệt hại vật chất do trận động đất gây nên.
Công Ty Điện Lực Tokyo cho biết trận động đất không cản trở các nhân viên đang làm việc ngày đêm để làm nguội các lò phản ứng ở nhà máy điện Fukushima, là nơi bị ảnh hưởng tai hại do động đất và sóng thần gây nên hồi tháng trước.
Hôm nay, chính phủ Nhật Bản cho biết độ nhiễm phóng xạ ghi nhận được từ các mẫu nước biển lấy ở các vùng gần nhà máy Fukushima vẫn tiếp tục tăng, đã lên đến mức gấp 6,500 lần mức độ cho phép.
Nhật báo Asashi Shimbum số phát hành sáng nay cũng nói là kế hoạch giải thể Công Ty Điện Lực Tokyo đang được các quan chức Nhật Bản cứu xét. Tin này chưa được xác nhận bởi một nguồn tin độc lập khác.
Cũng có tin nói rằng chính phủ Nhật sẽ bán hàng chục tỷ dollars cổ phiếu để lấy tiền xây dựng lại những vùng bị thiên tai tàn phá hồi tháng trước.
Theo dự đoán, tổng số thiệt hại lên đến hơn 320 tỷ dollars. Trước đây, Thủ Tướng Naoto Kan từng nói cần ít nhất 48 tỷ dollars cho giai đoạn đầu tiên.

http://www.rfa.org/vietnamese

Tôi vô tình học luật - Huỳnh Thục Vy


Hồi học cấp ba, tôi mong muốn được vào học ở một trường Đại học ngoại ngữ, rồi học tiếp để nghiên cứu chuyên sâu về ngôn ngữ học để trở thành một nhà ngôn ngữ học hay một dịch giả. Thế rồi ba tôi ở tù về, lúc đó tôi học lớp 12. Nhà chẳng có tiền để tôi vào Đại học, giấc mơ trở thành nhà ngôn ngữ học vỡ tan tành. Sau mấy năm đi làm công nhân cho mấy công ty nước ngoài ở một khu công nghiệp, tôi đi học trở lại , nhưng vì em gái tôi đã đi học nên tôi chỉ có thể học đại học ở hệ đào tạo từ xa (vừa học vừa làm). Ba bảo tôi học luật, vì học luật chỉ cần đọc nhiều sách, có tư duy logic là được. Quả thực lúc đó tôi không thích mấy vì nghĩ mình chỉ có năng khiếu ngôn ngữ và viết văn chứ không có khả năng tranh biện – điều kiện cần thiết của một luật sư. Nhưng cuối cùng, vì tin tưởng vào những lời thuyết phục của ba, tôi nhắm mắt học luật.
Trở thành một luật sư là giấc mơ tuổi trẻ của ba. Trước 1975, dưới thời Việt Nam Cộng Hòa, ba tôi chỉ là một cậu nhóc. Một lần, ba nhìn thấy trong một vụ tranh tụng một ông luật sư mặc bộ complet thật oai, tranh biện trước tòa thật hùng hồn, giấc mơ trở thành luật sư nhen nhóm trong ba. Hình ảnh ông luật sư oai phong ấy và giấc mơ thành luật sư ba ấp ủ từ những ngày ấy. Rồi đùng một cái, quân đội cộng sản Bắc Việt tổng tấn công “giải phóng” miền Nam.Thế là không luật pháp, luật sư gì nữa cả. Luật sư là một “giống người” chỉ có trong xã hội tư bản, chứ trong xã hội XHCN thì cần gì luật sư. Luật pháp chính  là Đảng cầm quyền, với “nền chuyên chính vô sản của giai cấp công nhân”, chủ trương “bạo lực cách mạng”. Luật pháp của họ chính là nòng súng và nhà tù. Ai muốn “thọc gậy bánh xe” không cho Đảng yên vị lãnh đạo cả dân tộc “tiến lên CNXH” thì coi như không chết cũng khó sống.
Tôi có thể hiểu được sao lúc đó ba tôi mơ ước thành luật sư. Tuy tôi chỉ nghe ba kể và đọc một số tài liệu lịch sử trên mạng về Việt Nam Cộng hòa, nhưng tôi nghĩ rằng mình có thể hình dung khá tổng quan về chế độ VNCH. Với hai nền cộng hòa, chúng ta không thể nói đây là một thế chế dân chủ pháp trị hoàn chỉnh nhưng có thể nói đây là một nền dân chủ non trẻ, tuy đối mặt với nhiều khó khăn trong thời chiến nhưng vẫn đạt được những thành tựu không thể phủ nhận so với các quốc gia Đông Nam Á đương thời. Lúc đó chúng ta có tất cả những yếu tố nền tảng để có thể xây dựng một nền dân chủ thực thụ. Dù là một quốc gia đang trải qua những giai đoạn chiến tranh khốc liệt, nhưng trong cuộc sống hằng ngày của người dân vẫn luôn hiện diện một nền luật pháp khá mạnh mẽ.  Nếu không nói đến những vấn nạn như cửa quyền, tham nhũng (không đến nổi nghiêm trọng như bây giờ), chúng ta không thể phủ nhận vai trò to lớn và sự ngự trị đầy quyền uy của nền luật pháp dân chủ trên xứ sở này. Tôi nhiều lần nghe ba kể rằng: mấy ông cộng sản “nằm vùng” đánh phá cầu cống, trường học bị vây bắt, nếu không bị chết tại hiện trường thì đều được đem ra tòa xét xử có luật sư hẳn hoi. Ngay cả mấy ông tình báo và nhà văn, nhà thơ thân cộng hoạt động chống lại chính quyền VNCH cũng được luật pháp dân chủ bảo vệ, được xét xử trước tòa dưới sự bào chữa của những luật sư, mà không ai có thể tước đi cái quyền đó của họ. Những người hành nghề lụật sư dưới thời VNCH quả có “uy” thật, vì dưới ánh sáng của luật pháp họ có thể dùng cái đầu và “ba tấc lưỡi” để thay đổi bản án của tòa dành cho thân chủ họ. Thế nên những luật sư như Huỳnh Tấn Phát, Nguyễn Hữu Thọ, Ngô Bá Thành mới có thể dùng quyền uy mà chế độ dân chủ pháp trị trao cho họ để tấn công chính nền dân chủ non trẻ này.
Trong một quốc gia pháp trị, luật sư có một vai trò hết sức đặc biệt. Nếu công tố viên (district attorney) là những luật sư công, đứng về phía quyền lực nhà nước, bảo vệ nền công lý và lợi ích chung của toàn xã hội, thì chúng ta lại cũng có những luật sư tư nhân (lawyer) làm công việc ngược lại, đó là bảo vệ lợi ích các cá nhân. Đôi khi chúng ta thấy những luật sư rất giỏi lại đi biện hộ cho một kẻ phạm tội. Chúng ta cho rằng điều đó là không nên, là đi ngược lại lợi ích chung sao? Câu trả lời của tôi là : nên để điều đó được thực hiện. Đứng trước một guồng máy quyền lực nhà nước hùng hậu bao gồm lực lượng cảnh sát, viện Công tố, Tòa án thì một cá nhân quả thật cô thế (cho dù đó là một tên tội phạm khét tiếng), thiết nghĩ một hay hai luật sư đứng ra bào chữa, đại diện cho lợi ích của người này quả là điều cần thiết. Kẻ có tội tất nhiên phải chịu sự trừng trị của luật pháp, nhưng họ phải bị trừng trị trong một hoàn cảnh mà ở đó phẩm giá con người của họ được xã hội thật sự tôn trọng.Vì thế để bảo vệ cá nhân, luật pháp dân chủ văn minh có “nguyên tắc suy đoán vô tội” đầy nhân bản. Nếu chúng ta phủ nhận vai trò của luật sư trong những trường hợp thế này thì cũng đồng thời phủ nhận vai trò của họ trong những trường hợp khác –khi mà cá nhân có thể bị hàm oan. Luật sư bảo vệ lợi ích cá nhân chính là một thiết chế để cân bằng, để chúng ta vừa có thể bảo vệ lợi ích chung của toàn xã hội, vừa  bảo đảm không đánh mất hay phủ nhận quyền tự do của mỗi cá nhân. Cá nhân là chủ thể cơ bản của xã hội, nếu quyền lợi cá nhân không được tôn trọng thì “lợi ích xã hội” chỉ là mỹ từ để chỉ “lợi ích băng nhóm lãnh đạo”. Luật sư trong xã hội dân chủ xuất hiện như một người bảo vệ cho cái “dinh lũy” yếu ớt và nhạy cảm nhất- đó là mỗi cá nhân.
Trong các chế độ độc tài, đặc biệt là chế độ cộng sản thời còn “chuyên chính vô sản”, không có trường luật, vì thế cũng chẳng có luật sư. Vì ở đó họ không cai trị bằng luật pháp, thay vào đó là bạo quyền, và quyền lợi cá nhân hoàn toàn bị triệt tiêu. Sau này, để cho “hợp thời” và không dẫm lên vết xe đổ của Liên Xô, cộng sản Việt Nam thực hiện “đổi mới”, rồi họ mở trường luật, đào tạo luật sư. Nhưng đâu phải có luật sư thì vai trò thê thảm của nền luật pháp của chúng ta sẽ được khởi sắc!…(Một thí dụ cụ thể là vào năm 1992 trong phiên tòa Sơ thẩm của Tòa án “nhân dân” tỉnh QNĐN xử ba tôi với tội danh “Tuyên truyền chống chế độ XHCN”,với bản án 10 năm tù giam và 4 năm quản chế, hoàn toàn không có Luật sư và vi phạm nghiêm trọng đến chuẩn mực của luật pháp Việt Nam và luật pháp quốc tế mà nhà cầm quyền CSVN đã ký kết và cho dù lúc đó luật sư đã được phép tham gia tố tụng!). Chính nền pháp trị làm cho vai trò của luật sư được coi trong chứ không phải ngược lại. Dưới chế độ này, công tố viên (mà người ta gọi là Kiểm sát viên cho nó có màu sắc XHCN), là kẻ nắm quyền sinh sát đối với những ai phạm tội hoặc nằm trong tầm ngắm của chính quyền. Còn luật sư chỉ là những chiếc bóng mờ nhạt, yếu ớt, nói không thành tiếng. Nếu ai dũng cảm muốn làm người phát ngôn cho sự thật, bảo vệ công lý và quyền lợi người dân thì phải xem lại những tấm gương trước mắt của các luật sư: Lê Công Định, Lê Trần Luật, Nguyễn Văn Đài!….
Trước đây, tôi không hiểu vì sao trong những người đấu tranh cho tự do dân chủ trong nước có khá nhiều người là luật sư nhưng bây giờ tôi đã hiểu. Từ khi học luật tôi hiểu ra khá nhiều điều dù không ít lúc phải chết dở với đống sách vở mà người viết sách cũng không tin nổi vào những gì mình viết ! Dù những kiến thức mà tôi có được không do ngôi trường XHCN này mang lại nhưng nó cho tôi manh mối để tìm đến với những tác phẩm mang tính lý luận chính trị sáng giá của những nhà tư tưởng nổi tiếng thế giới, để rồi tôi biết được những gì mình có thể làm được với những kiến thức này. Khác với những ngành học khác, ngành luật cho chúng ta cách tiếp cận trực diện với những vấn đề liên quan trực tiếp đến chính trị như : nguồn gốc và bản chất của nhà nước, bản chất của nền luật pháp, nhân quyền và dân quyền….Tôi nghĩ rằng, hơn ai hết, sinh viên luật là những người có nhiều cơ hội để tiếp cận những vấn đề lý luận chung về nhà nước và pháp luật để có cái nhìn cụ thể về những vấn đề này, rồi đem so sánh với hiện tình đất nước của chúng ta. Khi nhận diện được vấn đề từ giác độ lý luận, chúng ta sẽ hiểu sâu sắc sự cần thiết của một nền dân chủ pháp trị; một nhu cầu bức bách, không thể khoan nhượng về nhân quyền và dân quyền trong việc phát triển quốc gia.
Ý thức pháp luật là một hình thức ý thức xã hội mang tính chính trị sâu sắc, ảnh hướng to lớn đến đời sống chính trị -xã hội, nên khi người dân càng có ý thức pháp luật cao thì càng nhận thức được quyền làm chủ đất nước của chính mình, càng nhận rõ được những vấn đề khó khăn của quốc gia là do hình thức và bản chất của nhà nước và nền luật pháp. Thế nhưng không giống như người dân ở các quốc gia dân chủ văn minh, người dân Việt Nam (có thể nói) hoàn toàn mù tịt về luật pháp, vì nó chẳng bảo vệ lợi ích của họ thì họ quan tâm làm gì! Và hệ lụy của sự thiếu vắng này là người dân hoàn toàn không có hiểu biết căn bản về những quyền mà mình phải được hưởng mà không ai có thể tước đoạt. Đối với người dân Việt nam hiện nay, cái được gọi là “luật pháp” chỉ như một bóng ma, chỉ chờ ai sơ sẩy là “ám” ngay. Đó chính là cái nền “luật pháp” đã dùng những “thủ thuật’ để những người trẻ tài giỏi và có hoài bão như Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung phải từ chối chân giá trị của mình. Ấy thế mà có một vài người đã khen việc nhà cầm quyền dùng “thủ thuật” để những người này nhận tội hòng làm giảm uy tín của những người đấu tranh cho dân chủ hiện nay là một hành động có “tư duy chiến lược”. Tôi thật sự thất vọng vì cách nhìn nhận luật pháp theo nhãn quan như vậy…Đó không phải là luật pháp mà là thủ đoạn của ma quỷ !..Việc thực hiện những thủ đoạn như vậy là hành vi tấn công vào luật pháp và chà đạp công lý, tạo nên những tiền lệ xấu xa và nguy hiểm!
Tôi viết những dòng này khi vừa kết thúc phiên tòa Sơ thẩm xử 6 giáo dân Cồn Dầu và việc từ chối cho phép các Luật sư của văn phòng Luật sư Cù Huy Hà Vũ- Nguyễn Thị Dương Hà được tham gia bào chữa cho họ của Chánh án tòa án quận Cẩm Lệ- Đà Nẵng và việc tiếp tục câu lưu blogger Điếu Cày (Nguyễn văn Hải) sau khi đã mãn hạn tù với tội danh “trốn thuế” làm cho các quốc gia và các tổ chức bảo vệ nhân quyền thế giới bất bình lên án.
Những dòng này cũng là để tâm sự với các bạn cái cơ duyên tôi đến với ngành luật, để cùng các bạn bỏ ra vài phút trong cuộc sống đầy bận rộn này cùng suy nghĩ về hiện tình đất nước, với nền luật pháp đang tồn tại nhiều bất cập và bất công. Đặc biệt để tỏ lòng ngưỡng mộ Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ, luật sư Lê Trần Luật, những con người kiên dũng và đầy trí tuệ. Cuối cùng là để cảm ơn ba, một chỗ dựa tinh thần vững chắc cho cuộc đời tôi, một người đã biến ước mơ của chính mình thành hoài bão của một đứa con gái được may mắn thừa hưởng văn tài và tư duy logic của ba.
(Tam Kỳ ngày 29 tháng 10 năm 2010)
THEO DÒNG SỰ KIỆN:
  1. Duy lý & duy tình
  2. Tính tất yếu của dân chủ
  3. Hai năm sau sự kiện biểu tình: Khi tình yêu nước bị kiểm duyệt
  4. Xin cho tôi tính Phật: Thân phận Việt trước hiện tình đất nước
  5. Đem tâm tình viết lịch sử [1]
  6. Vicky Cristina Barcelona: phim tình cảm, kịch tính trớ trêu hay phim hài?
Xem tiếp >>  http://www.danchimviet.info/archives/20443

Quốc Hận 30-4, Thương Tiếc Những Nữ Anh Thư Tử Chiến với Giặc Thù CS

Chị Thàng đã chọn một cái chết thật dũng cảm và cao cả. Ôm hai đứa con vào lòng, chị Thàng bình tĩnh chờ cho những tên Việt cộng nhào vào, chị rút chốt.


Nữ Quân Nhân VNCH 1971

NHỮNG NGƯỜI VỢ LÍNH THỜI LỬA BINH 
 
Trong cuộc chiến tranh bảo quốc chống ngăn cơn sóng đỏ của cộng sản quốc tế với đạo quân tay sai tiền kích của chúng là binh đội cộng sản Bắc Việt và Việt cộng miền Nam, khuôn mặt của những người vợ lính dường như đã rất mờ nhạt đằng sau chất muối trắng đẫm đầy trên lưng áo của những người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Nhưng chiến tranh càng nặng độ thì hình ảnh những người chị vô danh ấy đã dần hiện rõ trong một ánh sáng diệu kỳ, mà chúng ta chỉ có thể cúi người thật sâu xuống để tôn vinh và ngợi ca. Ðó là những người lính không có vũ khí, không số quân, không tiền lương, không cả lương thực hành quân, nhưng là những người lính tỏa hào quang chói sáng nhất trong những hoàn cảnh nghiệt ngã thắt ngặt nhất, mà đã góp phần đem chiến thắng quyết định trên chiến trường.
Ðó là NHỮNG NGƯỜI VỢ LÍNH, những người chị cao cả mà đã cùng chồng dấn mình trong cơn bão lửa của chiến tranh, cùng chia sẻ cái chết, có khi các chị hy sinh trước cả các anh. Những cái chết anh dũng trong âm thầm đó nào ai biết được. Không có Lá Quốc Kỳ Vàng Ba Sọc Ðỏ phủ trên chiếc quan tài được ghép thành từ những mảnh ván đơn sơ, không có chiếc huy chương Anh Dũng Bội Tinh Với Nhành Dương Liễu, không cả tiếng kèn truy điệu ai oán.

Những người lính đóng đồn cùng vợ con của các anh cùng sống chui rúc trong những cái hầm tối tăm ngột ngạt, dưới những những cái hố nhỏ ngập đầy nước. Những người lính nghèo nàn, rách rưới và tội nghiệp co ro ôm súng gác giặc và đánh giặc trong cái lạnh xé thịt của đêm. Ăn uống thì đạm bạc đến không có gì đạm bạc hơn được nữa. Một cái nồi cơm méo mó, với vài con cá nhỏ kho trong chất nước mắm hạng bét mặn chát những muối, một dĩa rau muống ruộng hay rau đắng xơ xác, mà có thể tìm thấy mọc đầy khắp những vũng nước đọng trên những cánh dồng lầy.

Cả gia đình người lính Ðịa Phương Quân hay Nghĩa Quân quây quần chung quanh mâm cơm đơn sơ đó chấp nhận sự thua thiệt của mình. Không than thở, không ta thán và vui lòng với niềm hạnh phúc mong manh của mình. Một năm 365 ngày, mười năm, hai mươi năm, cho đến ngày cuối cùng của cuộc chiến, hơn bảy ngàn đêm những người chị ấy chưa từng bao giờ biết ngủ yên giấc là gì. Chị thao thức đến nửa khuya, lắng nghe tiếng đại bác vọng ì ầm về thành phố từ phía mặt trận có anh ở đó, chị thổn thức nguyện cầu cho anh được bình yên, để anh có một ngày được về với chị và con, dù chỉ là những khoảnh khắc về phép thật quá hiếm hoi. Hay nếu chị cùng chồng trấn thủ lưu đồn, anh chiến đấu cơ cực như thế nào, anh ăn ngủ chập chờn ra sao, thì chị cũng cơ cực và chập chờn ngần ấy.

CHỊ PHẠM THỊ THÀNG, NỮ ANH THƯ ÐẤT GÒ CÔNG

Người vợ lính ở tiền đồn cáng đáng cùng một lúc hai công việc, mà công việc nào cũng biểu hiện hình ảnh và đức tính cao quí của người phụ nữ Việt Nam. Thứ nhất, đức tính đảm đang tận tụy của người vợ, người đàn bà Việt Nam quán xuyến chuyện gia đình, trông nom dạy dỗ con cái và nấu nướng những bữa ăn.

Thứ hai, khi quân giặc đã thấy dẫy đầy ngoài những vòng rào kẽm gai, thì những người nữ chiến sĩ chưa từng một ngày được huấn luyện ở quân trường ấy đã chiến đấu như bất cứ người lính chuyên nghiệp nào. Chị cũng biết dùng máy truyền tin gọi Pháo Binh, chị biết sử dụng thành thạo mọi loại súng trong đồn có, chị ném lựu đạn ác liệt và chính xác, tấm thân nhỏ bé của chị oằn nặng dưới những thùng đạn tiếp tế. Và chị cũng sẵn sàng nằm gói thân thiên thu trong chiếc poncho, để tên chị vĩnh viễn đi vào lịch sử. Chúng ta có nhiều người chị như vậy lắm. Ở ngay tại đồng Giồng Ðình này thì ít nhất cũng có những chị Phạm Thị Thàng và Trần Thị Tâm.



Ðêm 2.10.1965, với âm mưu làm xáo trộn hệ thống tiếp viện của những đơn vị diện địa trong khu vực Tiền Giang để dễ dàng thanh toán mục tiêu chính nào đó, chỉ trong một đêm Việt cộng đã tổ chức tấn công 11 vị trí của quân ta với quân số thật lớn. Ðồn Giồng Ðình thuộc tỉnh Gò Công cũng bị áp lực rất nặng của quân địch khi hứng chịu cuộc cường kích của 300 lính cộng.

Ðây là một lực lượng chính qui Việt cộng với hỏa lực rất mạnh, chúng quyết tâm hủy diệt đồn Giồng Ðình nhỏ bé, mà chỉ có vỏn vẹn một Trung Ðội Nghĩa Quân 24 tay súng trấn giữ. Là những con ác quỷ hung tợn và thâm độc, lực lượng cộng quân đã bố trí ở hướng có nhiều nhà dân chúng, vừa làm bia đỡ đạn cho chúng, vừa ngoác miệng tuyên truyền gây căm thù nếu quân ta bắn trả. Người dân, nhất là những ông bà lão già, đàn bà và trẻ con luôn luôn là những cái bia sống đỡ đạn cho bọn giặc hèn nhát gọi là những người “giải phóng”. Với quân số ấy, vũ khí hùng hậu ấy mà chúng cũng ngán ngại 24 chiến sĩ Nghĩa Quân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đến nỗi phải cậy nhờ đến máu thịt của đồng bào để có cơ may thủ thắng, thì còn từ ngữ nào, hình dung từ tồi tệ nhất nào để diễn tả bộ mặt cùng hung cực ác rất đốn mạt của cộng sản nữa không.

Ðúng 2 giờ đêm, quân cộng dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Thượng Úy Sáu Bích, đã mở cuộc tấn công từ hai mặt đánh vào Giồng Ðình, với sự tin tưởng điên rồ, rằng chúng sẽ thanh toán cái tiền đồn nhỏ xíu này trong một thời gian ngắn. Chiến thắng dường như là chắc chắn, vì với quân số mười lần hơn, mười đè một, dẫu chúng có thí chín tên thì cũng có thể hạ gục được một chiến sĩ Nghĩa Quân Giồng Ðình.
Trên lý thuyết, thì giả thiết đó dường như đúng. Nhưng trên trận địa, người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa luôn luôn thể hiện những chuyện phi thường, mà rất hằng hiện hữu trên bất kỳ chiến trường nào, quả thật cộng quân đã chọn lầm mục tiêu. Sau ba đợt tấn công hung bạo, tưởng gạch đá cũng phải nát thành tro, đã chiếm được 2 trong số 3 lô cốt trong đồn, cộng quân vẫn phải rút trở ra. Cuộc tấn công lần thứ tư được hối hả tổ chức và thực hiện, với quyết tâm san bằng Giồng Ðình. Nhưng liệu 24 chiến sĩ Nghĩa Quân có cho phép điều đó không. Câu trả lời là không, không chỉ đến từ ý chí hừng hực tử thủ của các anh, mà còn là từ đôi bàn tay yếu mềm của những người vợ lính đang sống cùng với chồng con của các chị trong đồn. Phải, cuộc chiến thắng cuối cùng của Nghĩa Quân đồn Giồng Ðình sẽ không thể thực hiện được, nếu không có sự góp sức chiến đấu của những người chị này. Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh. Không phải chỉ những người chị dũng cảm ấy không thôi, mà cả trẻ con cũng đánh.
Ðồn Giồng Ðình nằm ở một vùng thôn ấp hẻo lánh trong tỉnh Gò Công, do một Trung Ðội Nghĩa Quân trấn giữ, với thành phần chỉ huy gồm có anh Nguyễn Văn Thi, Ðồn Trưởng, anh Lê Văn Hùng, Ðồn Phó và anh Lê Văn Mẫn, âm thoại viên. Trấn thủ một vị trí hung hiểm như vậy, không chỉ có 24 tay súng mà đã đủ, nên tất cả những người vợ lính trong đồn đều đã được chồng huấn luyện sử dụng thành thạo những loại máy móc truyền tin và vũ khí. Như vậy số tay súng đã được nhân lên gấp đôi.

Trong nhiều trường hợp, đến những giây phút tử sinh tuyệt vọng nhất, những em bé cũng tham chiến, khi các em gan dạ bò dưới lưới đạn của giặc để đem tiếp tế đến cho cha và mẹ. Không ai buộc những người vợ lính, con lính cầm súng đánh địch. Nhưng chính những người vợ lính, con lính ấy làm sao có thể ẩn náu tìm cái sống trong khi chồng và cha của họ sắp ngã gục ngoài chiến hào.
Khi chấm dứt đợt tấn công thứ ba, địch tạm rút để tái tổ chức tấn công, thì tình trạng bên trong đồn Giồng Ðình đã khá là bi đát. Ðã có đến 16 chiến sĩ Nghĩa Quân bị thương, chỉ còn 8 Nghĩa Quân còn chiến đấu được. Âm thoại viên Lê Văn Mẫn bị thương ở đầu trong lúc anh đang cố gắng gọi máy về Tiểu Khu.

Anh Mẫn gục xuống buông chiếc ống liên hợp. Chị Trần Thị Tâm, vợ anh Mẫn vội đặt con bên cạnh anh và chộp lấy ống liên hợp. Liên lạc được tiếp nối, chị Tâm nghiễm nhiên trở thành một âm thoại viên, và là cứu tinh của đồn Giồng Ðình. Ở một góc đồn, anh Lê Văn Hùng và chị Phạm Thị Thàng, vợ anh, và hai đứa con nhỏ đang phải đối đầu với một lực lượng quá đông của địch.
Nhìn ra ngoài hàng rào kẽm gai, giặc đã đã tràn vào đen ngòm như những con quái vật hung hãn. Anh Hùng chỉ còn trong tay cây tiểu liên Thompson và 16 trái lựu đạn, chị Thàng có một khẩu Carbine. Thật tội nghiệp cho hai đứa nhỏ, sức ép của bộc phá và súng SKZ của Việt cộng bắn vào quá gần, các em không còn khóc được nữa mà đã nằm bất động dưới chân hai vợ chồng anh Hùng. Chị Thàng thì thào:

- Chúng đang phá lô cốt chánh, để em bắn yểm trợ anh bò về giữ. Lô cốt mất là đồn mình mất, em nằm tại đây giữ mấy đứa nhỏ, nếu chúng tràn vào thì... thì... em ném lựu đạn ra, có thể cầm cự đến sáng được.

Anh Hùng ngần ngừ, anh rưng rưng nhìn vợ con, rồi nhìn về phía lô cốt. Tiếng súng từ lô cốt cuối cùng đã yếu ớt lắm, có lẽ mấy Nghĩa Quân cố thủ ở đó đã kiệt quệ quá rồi. Số phận của anh Thi Ðồn Trưởng thế nào. Anh Hùng lắc đầu không dám nghĩ đến chuyện xấu nhất đã xảy ra cho đồng đội. Nhưng nếu Việt cộng chiếm được lô cốt ấy, thì coi như đánh dấu chấm hết cuộc kháng cự. Anh Hùng phải quyết định, dù quyết định đó quá đau xót, là bỏ lại vợ con, mà trong lúc quân giặc đã hò hét ngay sát bên rồi:

- Anh chạy theo giao thông hào, em bắn yểm trợ cho anh.

Anh Hùng nhìn chị Thàng và hai đứa nhỏ lần cuối cùng. Trong lòng anh quặn lên một nỗi bi thương. Trời ơi, vợ con mình. Hai đứa nhỏ chẳng biết còn sống hay đã chết. Anh phóng mình xuống hào chạy băng băng về hướng lô cốt. Cây Carbine trên tay chị Thàng run lên, những tràng đạn rải vào những cái bóng đen đã quá gần. Anh Hùng đã bò vào được lô cốt, giữa những tiếng đạn nổ rền trời. May quá, anh Thi trưởng đồn vẫn nguyên vẹn. Súng SKZ của địch thụt ầm ầm, nhưng anh Hùng vẫn có thể nghe được từng tiếng lựu đạn nổ từ phía công sự của chị Thàng.

Nước mắt anh rơi lả chả trên nền đất. Anh đã đếm được đến con số 15, mà tiếng súng của địch vẫn nỗ dòn dã ngay sát tuyến phòng thủ của chị Thàng. Anh biết giây phút định mệnh thảm thiết nhất cũng đã điểm. Chị Thàng sẽ làm gì với quả lựu đạn thứ 16. Anh Hùng đau đớn rên lên trong lòng : “Chỉ còn một trái lựu đạn nữa thôi, làm sao em cầm cự được đến sáng”. Chính anh cũng không có được một giây để nghĩ tiếp cái gì sẽ xảy đến cho vợ con mình, vì dưới chân lô cốt anh tử thủ đã đông nghẹt quân giặc. Ðủ mọi thứ loại súng nỗ chát chúa khắp đồn, anh Hùng không biết chắc là mình đã nghe được tiếng nổ của trái lựu đạn thứ 16 chưa.
Cuộc chiến đấu đã kéo dài được một tiếng đồng hồ, quân địch đã phá được lớp kẽm gai cuối cùng và sắp tràn ngập đồn Giồng Ðình. Lúc đó là 3 giờ sáng rạng ngày 2.10.1965. Tình hình đã quá nguy ngập. Anh Nguyễn Văn Thi, Ðồn Trưởng, quyết định thà hy sinh còn hơn là để đồn lọt vào tay địch. Anh giật lấy ống liên hợp từ tay chị Tâm và thét lớn:
- Hãy bắn lên đầu chúng tôi ! Bắn vào giữa đồn... Hai lô cốt thứ nhứt và thứ hai đã thất thủ. Tụi tui ở lô cốt thứ ba. Hãy bắn lên trên đầu chúng tôi, Việt cộng đông lắm. Bắn đi... bắn....
Sau tiếng gọi thống thiết của người Ðồn Trưởng, Pháo Binh Tiểu Khu Gò Công lập tức bắn vào đồn với loại đầu nổ cao. Loại đạn đặc biệt này nổ khi cách mặt đất chừng 4, 5 thước, rất hữu hiệu tiêu diệt biển người địch, quân ta núp trong lô cốt vẫn có hy vọng sống sót. Những cái bóng đen nhập nhoạng dưới ánh sáng hỏa châu văng tung tóe, tiếng kêu dẫy chết của chúng như tiếng rú của quỷ. Hàng tràng đạn nổ cao vẫn dội ùng oàng xuống đồn. Chiếc lô cốt cuối cùng vẫn đứng vững, anh Thi cùng anh Hùng từ trong những lổ châu mai bắn tỉa từng tên địch. Giữa tiếng súng nổ dòn, dường như người ta nghe âm thanh rì rì của máy bay. Không Quân Việt Nam đã tới. Những chiếc A1 khu trục cơ đã xuất kích. Ðến đây thì Thượng Úy Sáu Bích, tên chỉ huy trận đánh đã có thể nhận thấy rằng, cuộc tấn công đồn Giồng Ðình đã đánh dấu chấm hết, với phần thắng nghiêng về phía Nghĩa Quân Việt Nam Cộng Hòa. Lúc 4 giờ 30 sáng, chiến địa hoàn toàn im tiếng súng. Quân địch đã kéo những xác chết và những tên bị thương chạy trốn vào phía bóng tối.
Khi ánh hừng đông của một ngày mới đã lên, hai Ðại Ðội Ðịa Phương Quân do chính Trung Tá Tiểu Khu Trưởng Gò Công chỉ huy đã đến và tổ chức bung quân ra lục soát. Quân cộng đã để lại trận địa 23 xác chết, ở giữa đồn có 6 xác khác nằm bên cạnh lô cốt thứ ba, nơi mà anh Ðồn Trưởng Thi, Ðồn Phó Hùng và chị Tâm giữ máy truyền tin đã kháng cự mãnh liệt, thà chết không hàng. Những tên Việt cộng này mang trên mình rất nhiều lựu đạn và bộc phá, chắc là chúng quyết thí mạng để phá cho bằng được ổ kháng cự cuối cùng này.
Anh Thi và anh Hùng đã bắn địch theo lối xâu chéo, nghĩa là bắn chéo góc với nhau tạo thành một xạ trường quét gọn tất cả những tên cộng nào nằm trong đó. Ngày hôm sau, một người thường dân bị Việt cộng bắt đi tải thương lén trốn về được đã cho biết số bị thương của chúng chở đầy sáu chiếc ghe tam bản. Một lính cộng may mắn bị thương tên Dương Văn Thiều, 18 tuổi, sống sót và bị bắt làm tù binh. Tại sao may mắn ? Vì nếu anh ta bị kéo đi theo vào bưng biền, nếu không bị chết vì nhiễm trùng, bị những quân y sĩ Việt cộng cưa cắt bằng những loại cưa và đục của thợ mộc, thì cũng bị cấp chỉ huy ra lệnh mang anh đi thủ tiêu. Ðó là lý do giải thích tại sao sau ngày 30.4.1975, người dân Miền Nam hiếm thấy người thương phế binh cộng sản trên đường phố.

Nhưng đối với anh Hùng, thì tất cả những gì mà Viêt cộng đã trả giá cho cuộc tấn công không làm anh quan tâm. Ngay khi tiếng súng vừa chấm dứt., quân cộng đã rút đi, thì anh đã như một người điên lao mình ra chỗ chiến hào mà chị Thàng đã một mình một súng trấn giữ ở đó, với một niềm hy vọng mỏng manh, rằng đừng bao giờ trái lựu đạn thứ 16 được rút chốt. Anh Hùng bò vào khúc hào mà anh đã nuốt nước mắt chạy đi. Chị Thàng cùng hai đứa con của anh nằm chết bên cạnh ba xác Việt cộng. Anh Hùng gục xuống như thân cây chuối bị một nhát dao bén chém ngọt làm đôi. Anh biết, nếu trái lựu đạn thứ 16 nổ thì chị Thàng cũng đi vào cõi chết, vì chị Thàng sẽ không bao giờ cho phép giặc bắt chị hoặc đạn của chúng bắn vào người chị. Chị Thàng đã chọn một cái chết thật dũng cảm và cao cả. Ôm hai đứa con vào lòng, chị Thàng bình tĩnh chờ cho những tên Việt cộng nhào vào, chị rút chốt.

Tiếng nổ kinh thiên cùng với xác thịt và máu của người nữ chiến sĩ đó đã được đánh đổi với ba mạng giặc. Anh Hùng ôm xác vợ con vào lòng và gần như ngất xỉu. Nhưng khi nhìn ra ngoài, những xác giặc thù nằm ngỗn ngang khắp nơi, trong nỗi đau khổ tột cùng của mình, anh Hùng thấy trong lòng dậy lên một niềm tự hào đến nghẹn ngào. Sự hy sinh của chị Thàng đã cứu sống được tất cả những thương binh Nghĩa Quân cùng vợ con các anh, nhưng trên hết cứu sống chính sinh mạng của người chồng mà chị yêu mến. Những viên đạn Carbine và 15 trái lựu đạn của chị đã đóng góp vào sự tồn tại kỳ diệu của đồn Giồng Ðình. Một người lính chuyên nghiệp và thiện chiến nhất cũng chỉ làm được đến ngần ấy. Nếu cái lô cốt thứ ba không đứng vững, thì chắc chắn tất cả sinh mạng mấy mươi người Nghĩa Quân và vợ con của đồng Giồng Ðình đều sẽ chết hết.

Anh Hùng ẳm chị Thàng ra ngoài, để trông thấy những người còn sống, những người vợ lính khác đã gục đầu khóc tiếc thương chị Thàng. Những nấm mộ đất được đắp vội với ba tấm bia tang tóc. Một của chị Phạm Thị Thàng, và hai kia của cháu Lê Văn Dũng và Lê Tấn Sỹ. Ôi, những người vợ của lính trong thời lửa binh. Chị Phạm Thị Thàng, chị Trần Thị Tâm, và nhiều người chị khác trên khắp nẽo chiến trường, chị Thạch Thị Ðịnh, chị Bùi Thị Xiếu, chị Am Reng. Người lính của chúng ta, những công dân xếp hạng chót nhất trong bậc thang xã hội, nhưng là những người hứng chịu oan nghiệt trước nhất, là bức tường chắn cho sự an toàn của hậu phương phồn thịnh và hạnh phúc. Trong đời của các anh không có được một thứ ưu tiên vật chất nào cả, ngoài cái ưu tiên phải hy sinh và chết. Có những người lính từ Miền Tây ra tận miền hỏa tuyến hay trên vùng cao nguyên sương mù Miền Trung, nhiều năm liền không có lấy được một ngày phép về thăm gia đình. Nếu anh may mắn, thật đau xót, quân thù bắn anh bị thương, thì anh mới có cái diễm phúc được nắm trong tay tờ giấy phép. Còn nếu sự gọi là may mắn đó đi xa hơn một bước, anh chết, thì anh được phép dài hạn trở về và vĩnh viễn được an nghỉ ở nơi đã sinh ra anh. Ðầu năm 1972, trong một trận đánh của Sư Ðoàn 3 Bộ Binh tại khu vực Cồn Tiên nằm sát phía Nam khu phi quân sự bên này bờ sông Bến Hải, một tiểu đoàn sau nhiều ngày cố gắng đã không thể chiếm được một cao điểm. Vị Tiểu Ðoàn Trưởng gọi bốn người lính gốc Miền Tây lên hứa sẽ cấp mỗi anh mười ngày phép nếu các anh chiếm được ngọn đồi ấy. Bốn người tráng sĩ Kinh Kha đã nai nịt tề chỉnh, mang thật nhiều lựu đạn bò lên, mỗi người cầm một cây gậy ngắn dò đường. Ðêm tối như mực. Hễ chọt trúng cái lổ nào là thảy lựu đạn vô cái lổ đó, vì ở đó chính là cái miệng hầm chốt của địch. Ðến sáng, bốn người dũng tướng vô danh đó đã reo hò trương Cờ Vàng Việt Nam trên đỉnh cao điểm. Ôi, những ngày phép đã trở thành một ân huệ chứ không phải là một quyền lợi đương nhiên của những người lính trận.

Người vợ lính cùng chia sẻ với chồng những nỗi đắng cay thiệt thòi đó, bằng tất cả sự câm nín nhẫn nhục và vui lòng với những gì mình có. Một góc hầm tối tăm, một chiếc ghế bố cũ, vài cái nồi, chảo nhem nhuốc, những cái chén sành và những đôi đũa tre, cùng tiếng cười của lũ trẻ thơ cũng đủ làm nên thành niềm hạnh phúc vĩ đại của những người vợ lính. Chị Thàng đã chết đi, anh linh của chị cùng hai cháu bé đã thăng thiên lên cõi vĩnh hằng, nhưng những người còn sống cùng thời với chị, cho mãi đến tận bây giờ và ngàn đời sau, dân tộc Việt Nam sẽ không bao giờ quên tên chị. NGƯỜI CHỊ CAO CẢ PHẠM THỊ THÀNG. Vì tên chị đã được trân trọng ghi chép vào những trang bi tráng nhất của lịch sử dân tộc Việt Nam chống cộng sản quốc tế và Hà Nội, một lũ hung đồ diệt chủng, diệt dân tộc gớm ghiếc nhất của thế kỷ thứ 20 và của lịch sử hình thành nhân con người.

AMRENG, NGƯỜI NỮ CHIẾN SĨ CAO NGUYÊN

Quân cộng sản hành quân trên vùng cao nguyên thường khinh rẻ và húng hiếp các sắc dân Thượng rất thậm tệ. Chúng bắt trai tráng đi dân công, thậm chí cho bổ sung vào những đơn vị Thượng cộng, người làng thì bị ép buộc đóng góp lương thực, lúa gạo. Chúng dùng muối, là thứ tối cần của người dân miền cao, để đổi chác một cách rất bất lợi cho người Thượng. Người Thượng sống vất vả quanh năm, chỉ trông cậy vào những mảnh đất rừng khai phá để trồng trọt chút hoa màu hay trồng lúa rẫy, không đói đã là may lắm rồi, có còn đâu dư dả để cung phụng cho bọn phỉ cộng. Có nhiều trường hợp cả làng trong rừng sâu chịu không nỗi cảnh áp bức, giết chóc, đã kéo nhau ra quận hay tỉnh để xin nương náu với người Kinh.

Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã lập Bộ Phát Triễn Sắc Tộc để giải quyết những vấn đề của người thiểu số. Hàng trăm trại tiếp cư tị nạn cộng sản đã được thiết lập để đón tiếp đồng bào Thượng và giúp đỡ đồng bào tạo dựng cuộc sống mới. Ðất canh tác được cấp phát vô điều kiện cho đồng bào Thượng tị nạn cộng sản. Thông thường thì mỗi gia đình thiên tai hay tị nạn đều được cấp phát 10 bao xi măng và 20 tấm tôn để cất lại một căn nhà nhỏ. Một nước nhỏ, nghèo là Việt Nam Cộng Hòa, quanh năm chiến tranh, ngân khoản thiếu thốn, mà đã cắn răng gồng gánh giúp đỡ hàng triệu người đồng bào bất hạnh của mình. Không phải “Lá lành đùm lá rách nữa”, mà là “Lá rách đùm lá nát”. Ðã vậy mà thôi đâu, những làng định cư nhỏ bé và nghèo nàn ấy vừa được dựng lên chưa được bao lâu, thì Việt cộng đã tràn về đốt phá tan hoang. Những chiếc lá rách nát lại cắn răng san sẻ cho nhau những gì mình có. Dưới mắt cộng sản, thì những người dân chạy về phía chính quyền và quân đội Việt Nam Cộng Hòa xin được che chở và giúp đỡ, đều mang cái tội tày trời là “dân ngụy”, là “phản động”, dù có bắn bỏ hay đốt cháy nhà cửa của họ cũng là chuyện trừng phạt đương nhiên của điều mà chúng gọi là cuộc “cách mạng giải phóng”.
Với bản chất là một lũ cướp chuyên nghiệp và man rợ, cộng sản Hà Nội hiện nay không bao giờ từ bỏ cơ hội chiếm đoạt đất khẩn hoang của người Thượng. Chúng chờ cho các sắc tộc Thượng khai phá rừng tạo dựng nên thành những vùng sinh sống màu mỡ trên những tỉnh cao nguyên, là chúng kiếm chuyện cướp đoạt một cách trắng trợn ngay, nại lý do đất đai thuộc về quyền quản lý của nhà nước, người dân không có quyền sỡ hữu. Mặt khác, chúng áp dụng hình thái thực dân, cho di chuyển dân Kinh gốc Miền Bắc vào ở trên đất mà người Thượng đã sinh sống từ ngàn năm, lấn dần, lấn dần, người Thượng kém thế phải lùi mãi vào tận rừng sâu,ở chỗ chỉ có nước độc, bệnh hoạn và đói kém. Ðã thế mà cộng sản nào chịu buông tha, chúng vẫn cứ cho phép những người gọi là di dân tràn vào như vết dầu loang, để đồng bào Thượng chịu không nỗi phải chạy qua đất Miên xin tị nạn. Ðây là một tiến trình có chủ mưu, có sách lược để tiêu diệt dần mòn dân Thượng. Chúng ta có thể thấy ngay rằng, những người di dân Miền Bắc đã không biết rằng mình đang được rải ra làm phên dậu phòng thủ dọc theo dãy biên thùy Trường Sơn, án ngữ con đường đổ xuống đồng bằng duyên hải, nếu có một đạo quân đánh sang từ đất Lào và Miên. Cũng tốt, cái phên dậu đó giống như con dao hai lưỡi, rồi cũng có một ngày những đồng bào di dân nghèo Miền Bắc đó sẽ trở thành một lực lượng mạnh có khả năng thọc sâu mũi dao vào tận tim của bọn cộng sản để tiễn chúng xuống tận đáy địa ngục.

Tức nước thì có lúc cũng phải vỡ bờ. Ngày 12.4.2004, nhiều chục ngàn dân Thượng của các sắc tộc sinh sống trong những tỉnh Kontum, Pleiku, Darlac, Phước Long, Bình Long đã kéo vào những thành phố tỉnh lỵ để hình thành một cuộc phản kháng bất bạo động, phản đối cộng sản Hà Nội đàn áp đức tin đạo Tin Lành, chiếm đoạt đất đai và quyền sống căn bản của người Thượng. Dưới mắt cộng sản, dù chỉ là một biểu hiện phản đối nhỏ cũng đã được gán cho cái tội phản động, tội chết, chứ đừng nói gì đến những cuộc tập trung đông đảo như vậy. Hàng sư đoàn bộ binh của cộng sản đã được điều động lên phối hợp với công an đàn áp dã man cuộc tập trung. Hàng trăm đồng bào Thượng đã bị bắn chết, những người bị thương bị đem vào cô lập trong bệnh viện nhà nước, không ai có thể vào thăm viếng, kể cả những phóng viên và những nhà ngoại giao nước ngoài.

Ngày đầu xuân Tân Hợi 1971, trên miền cao nguyên của Quân Khu II, trong chiến dịch quân sự mà cộng sản gọi là Cao Ðiểm Tân Hợi nhằm quấy phá những tỉnh biên thùy đã không thực hiện được. Có thể bởi hậu quả của những cuộc hành quân Tây chinh vượt biên Cửu Long của Quân Ðoàn IV, Toàn Thắng của Quân Ðoàn III và Bình Tây của Quân Ðoàn II trong năm 1970 đã gây tổn thất nặng ở những kho tiếp tế hậu cần của cộng sản, nên chúng khó thể đủ sức mở được những mặt trận lớn như mong muốn. Ðêm 31.1.1971, lúc 3 giờ sáng, một lực lượng cộng quân tấn công vị trí của Ðại Ðội 838 Ðịa Phương Quân tại làng Plei Kênh Săn thuộc tỉnh Pleiku..
Cuộc tấn công đã rất sớm bị thảm bại vì quân địch đã không thể ngờ rằng, có những người vợ lính cũng đã chiến đấu dũng mãnh như thế nào. Ðại Ðội 838 Ðịa Phương Quân đa số chiến sĩ là người dân tộc Thượng, là những chiến sĩ sinh ra và lớn lên ở giữa núi rừng cao nguyên, đã hun đúc các anh trở thành những con người cứng rắn như những tảng đá khổng lồ trên triền dãy Trường Sơn. Người Thượng quen sống kiếp du mục du canh, nên khi người lính Thượng Ðịa Phương Quân đóng đồn ở đâu thì vợ con của các anh cũng đi theo và nhanh chóng thích ứng với môi trường cùng cuộc sống mới ở nơi đó. Tuy là phụ nữ, nhưng những người đàn bà Tây nguyên dẻo dai không kém gì người đàn ông Thượng. Vai mang gùi nặng trên lưng, chân trần chai sạn vì đá cứng và gai nhọn của núi rừng, cùng hoàn cảnh sinh tồn khắc nghiệt, bất cứ một người phụ nữ Thượng nào cũng đã được thiên nhiên rèn luyện nên thành một mẫu người khỏe mạnh, rắn rỏi, nhưng vẫn giữ được những dường nét mềm mại tràn đầy mạch sống. Cho nên khi cuộc chiến đấu nổ ra, thì những người đàn bà đó đã rất nhanh chóng trở thành những người nữ binh hăng hái cầm súng đánh địch. Một trong những người chị đó là chị Ksor Amreng, vợ của Binh Nhứt Kpa Dan.

Anh chị Dan và Amreng đều là người sắc tộc Djarai, sinh quán ở quận Phú Túc, tỉnh Phú Bổn. Từ sau khi thành hôn, anh Dan nhập ngũ, thì chị Amreng cũng đã theo chồng lên sinh sống trong những tiền đồn hẻo lánh ở biên giới trong quận Phú Nhơn, tỉnh Pleiku, những địa danh thật xa lạ với chị : Queng Mep, Plei Kênh Săn. Khi quân cộng sản Bắc Việt nổ súng tấn công Plei Kênh Săn, chị Amreng đã vững vàng trong tư thế phụ xạ thủ đại liên cho chồng. Khẩu đại liên M60 nằm phía sau những lổ châu mai nhỏ đã bị giới hạn rất nhiều khu vực tác xạ, anh Dan quyết định dời khẩu đại liên sang một vị trí khác có xạ trường rộng lớn và bao quát hơn. Trong lúc chị Amreng chạy đi chạy lại để khiêng những thùng đạn đại liên sang vị trí mới, thì có ba tên Ðặc Công Việt cộng đã nhào vào đánh cận chiến cới anh Dan. Anh Dan thật dũng cảm, như một con beo ở rừng xanh, bằng tay không anh đã vật lộn với chúng mà không nao núng. Chị Amreng vừa vác một thùng đạn đến, quát bảo anh Dan tránh ra xa. Hiểu ý vợ, anh Dan lăn một vòng, một trái lựu đạn M26 từ trong tay chị Amreng được ném tới. Ba tên Ðặc Công chưa kịp phản ứng, thì một tiếng nổ chát chúa đã đốn gục chúng xuống ngay bên cạnh đường giao thông hào. Khẩu đại liên M60 trong tay đôi vợ chồng Dan và Amreng đã bắt đầu nổ dòn dã ngăn chận tất cả những cuộc tấn công biển người của địch vào đồn. Anh Dan đang say mùi thuốc súng, anh đã không để ý nhiều tên Ðặc Công khác đã bò vào gần khẩu đại liên để mở cuộc cận chiến lần nữa.
Nhưng chúng không biết rằng người nữ binh vóc dáng nhỏ bé với khuôn mặt hiền lành như một em bé đã rất cảnh giác. Ba trái lựu đạn M26 đã được chị quăng ra rất chính xác vào những cái bóng đen đang bò lổn nhổn. Giữa tiếng súng nổ ầm ầm, chị Amreng đã có thể nghe thấy tiếng kêu gào thảm thiết của những lính địch trúng phải lựu đạn của chị. Ðến lúc này thì anh Kpa Dan chợt nhận ra rằng mình đã bị thương, chị Amreng lập tức trở thành xạ thủ chính, anh Dan lùi qua một bên làm xạ thủ phụ cho chị. Hào hùng không kém gì những đấng nam nhi, người nữ chiến sĩ ấy đã cùng với khẩu M60 đốn ngã hàng loạt cuộc tấn công của giặc. Sinh mạng của cái đồn nhỏ Plei Kênh Săn phần lớn trông cậy vào khẩu đại liên. Nói một cách chính xác, toàn tiền đồn cậy nhờ vào đôi bàn tay nhỏ nhắn của một cô gái mà ngày thường rất hiền hòa và ít nói này.
Khi ánh bình minh lên, giặc chấp nhận thua cuộc và đã rút đi, chiến trường đã hoàn toàn im tiếng súng, lũ chim rừng sau một đêm kinh hoàng đã ríu rít hát ca trên cành lá đón chào một ngày mới. Tin chiến thắng của Plei Kênh Săn đã bay về đến Pleiku và cái tên Ksor Amreng thật dịu dàng và thật đẹp ấy đã được người dân thành phố gọi là buồn muôn thuở này nhắc nhở nhiều. Kinh lẫn Thượng, đồng bào Pleiku đã chung góp gửi đến chị Amreng và Ðại Ðội 838 Ðịa Phương Quân nhiều tặng phẩm và tiền thưởng. Thiếu Tướng Ngô Dzu, Tư Lệnh Quân Ðoàn II & Quân Khu II đã đích thân bay trực thăng đến Plei Kênh Săn trân trọng trao gắn cho người lính không số quân Amreng chiếc huy chương cao quí Anh Dũng Bội Tinh, một vinh dự hiếm có dành cho một người dân sự .
Tấm gương chiến đấu của chị Ksor Amreng là một trong nhiều tấm gương thầm lặng còn chưa được biết của những người chị trên cao nguyên trong cuộc chiến tranh bảo quốc bi tráng của dân tộc Việt Nam. Ngày nay, những thế hệ đi sau anh chị Dan và Amreng sẽ mãi nhớ rằng, dòng máu kiên cường uy vũ bất năng khuất mà anh chị cùng những chiến sĩ Thượng từng một thời thể hiện dưới lá Quốc Kỳ Việt Nam Cộng Hòa và Quân Kỳ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa là một niềm kiêu hãnh sáng chói mà họ, những đồng bào Thượng đang bị kềm kẹp oan khuất dưới bàn tay sắt máu của cộng sản Bắc Việt, cũng sẽ có ngày vùng lên ném những quả lựu đạn và bắn những tràng đại liên vào giữa mặt bọn chúng, để hủy diệt chúng, bọn vô dân tộc vô thần đó, và cho chúng biết lòng quật khởi phi thường của người Nước Nam.

Phạm Phong Dinh



Nữ Anh Thư VNCH
http://hoilatraloi.blogspot.com/2011...ng-nu-anh.html