Thứ Bảy, 11 tháng 4, 2009

Hà Nội nhượng một bước về vấn đề khai thác bauxite tại Tây Nguyên


Trong phiên khai mạc Hội thảo về vấn đề bauxite ở Tây Nguyên sáng nay, người ta chú ý đến việc nhân vật lão thành của quân đội Cộng sản Việt Nam là Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã gửi một bức thư thứ hai đến để phản đối việc này. Lá thơ gởi cho Phó Thủ tướng Cộng sản Việt Nam là Hoàng Trung Hải là nguời chủ tọa buổi hội thảo, và Võ Nguyên Giáp viết rằng đây là một vấn đề cực kỳ hệ trọng.

Vấn đề này trước đây họ Võ đã gửi một lá thơ đến Thủ tướng Cộng sản Việt Nam là Nguyễn Tấn Dũng nhưng nhân vật này đã không trả lời. Lá thơ kêu gọi trong cuộc hội thảo lần này, mong là các nhà khoa học, các nhà quản lý, các nhà hoạt động xã hội hãy thảo luận một cách khoa học, nghiêm túc, thẳng thắn để đề nghị với Đảng và Nhà nước là không nên khai thác việc này, vì sẽ gây hậu quả cực kỳ nghiêm trọng về môi trường, về xã hội, về an ninh quốc phòng cho Việt Nam trong những ngày tới. Đến chiều nay có tin cuối cùng Hà Nội đã nhượng bộ một bước trong vấn đề bauxite, khi kết luận hội thảo khoa học vào ngày hôm nay các lãnh tụ Cộng sản Việt Nam nói sẽ tạm thời ngưng dự án bauxite tại Nhân Cơ, nhưng ra lệnh tiếp tục khai thác thí điểm dự án tại Tân Rai và hứa hẹn sẽ điều chỉnh quy hoạch ngành bauxite và thẩm định lại hiệu quả kinh tế của các dự án này. Điều này cho thấy những áp lực từ phía người Việt tại hải ngoại và từ trong nước cũng đã tạo được một ít thành quả, nhưng cũng chứng minh rằng Thủ tướng Cộng sản Việt Nam là Nguyễn Tấn Dũng đã nhận lệnh của Trung cộng nên khó có thể rút lui khỏi dự án đã gặp sự phản đối mạnh mẽ của người dân khắp nơi.

Trước đó Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật gọi tắt là VUSTA cùng nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu, giới chuyên gia độc lập có mặt tại hội thảo. Với 11 báo cáo khoa học và 23 ý kiến thảo luận, các đại biểu đã cùng mổ xẻ hiệu quả kinh tế, tác động môi trường và văn hóa xã hội của các dự án bauxite Tây Nguyên. Phó Thủ tướng Cộng sản Việt Nam Hoàng Trung Hải thì cho rằng việc phát triển ngành công nghiệp khai thác bauxite, sản xuất alumina ở Việt Nam là đúng đắn và đã được ghi rõ trong văn kiện Đại hội Đảng lần thứ 10, tức là do Đảng chủ trương và nhà nước thi hành. Giải quyết những câu hỏi của các đại biểu nghi ngại hiệu quả kinh tế của các dự án, kể cả Trưởng ban Dự án Nhôm của Tổng công ty Khoáng sản Việt Nam chứng minh dự án Tân Rai và Nhân Cơ sẽ không hiệu quả, thì các lãnh tụ Hà Nội tuyên bố giao cho bộ Công Thương và các bộ ngành liên quan thẩm định lại những việc này, nhưng nói nhà nước sẽ có phương cách để giải quyết. Hà Nội cũng cho mời đại diện nhà thầu Chalco của Trung cộng thuyết trình về công nghệ cho hai dự án, và biện minh rằng đây chỉ là những dự án thí điểm để tìm hiểu thị trường. Trước những quan ngại của các nhà khoa học về việc mất rừng, chiếm đất và chất lượng công nghệ, Hà Nội nay hứa hẹn là sẽ tăng cường giám sát chặt chẽ và bảo đảm hiệu quả. Nói tóm lại, Hà Nội cho biết sẽ tiếp tục khai thác dự án thí điểm tại Tân Rai, nhưng sẽ tạm ngưng dự án tại Nhân Cơ trước những áp lực của người dân trong nước để nghiên cứu tiếp và hứa hẹn là sẽ tổng hợp và báo cáo lên Đảng và nhà nước trong những ngày tới.

Đến tận Đắc Nông để nhìn thấy cảnh khai thác Bauxite

Trong khi đó một nhóm phóng viên độc lập đã đến vùng Tây Nguyên để theo dõi tình hình, và phổ biến bản tường trình trên mạng lưới Internet. Bản báo cáo viêt rằng dọc theo quốc lộ 14, đâu đâu cũng thấy sự bừa bộn bởi nạn đào bới và san lấp. Hai bên đường, những lớp đất đá khô cằn vừa b? cày bật lên. Người ta đang làm một con đường rất lớn để phục vụ cho những đoàn xe vận tải rầm rộ chạy hối hả ngày đêm. Thiên nhiên đang bị những bàn tay thô bạo của con người tàn phá. Người dân ở đây cho biết tình hình Đắc Nông khá căng thẳng, đặc biệt tại xã Nhân Cơ nơi dự án bauxite đang được thi hành. Đi đến đâu cũng bắt gặp những ánh mắt tò mò dò xét, và nhận được nhiều lời cảnh báo từ những người dân địa phương. Cách quốc lộ 14 vài trăm thước có một công trường đèn điện sáng quắc với những ánh đèn xe tải qua lại nhộn nhịp. Nghe kể lại rằn, có lúc công trường hoạt động gấp rút cả ngày lẫn đêm. Ban ngày nơi đây hiện ra cả một vùng đất đỏ rộng lớn bị san bằng, trơ trụi và lạc lõng, bao quanh là ít mảng xanh còn xót lại. Chỉ còn vài ngày nữa, người ta sẽ khởi công xây dựng trên đó một nhà máy luyện Ocid Nhôm rất lớn, có thể hết năm nay sẽ đi vào hoạt động. Tại chợ Nhân Cơ huyện Đăk Rlấp, mặc dù là trung tâm thị xã, nhưng đời sống của người dân không có vẻ sung túc. Chi phí sinh hoạt cũng khá đắt đỏ so với thu nhập đầu người. Ở đây họ sống bằng nghề trồng tiêu, trồng cafe, không biết mai này, khi đất đai trồng trọt không còn, họ sẽ sống ra sao.

Theo lời tường thuật của người dân, công trường phía bên kia thuộc Công ty CP Alumin Nhân Cơ được tiến hành xây dựng đã 3 năm nay. Nhà cầm quyền địa phương đã giải tỏa hàng trăm nhà dân để lấy đất phục vụ cho dự án xây dựng nhà máy rộng 500 mẫu tây này. Rồi đây khi chính thức đi vào hoạt động, có lẽ cả vùng Nhân Cơ cũng như toàn tỉnh Đắc Nông này sẽ biến thành một đại công trường ngổn ngang và ô nhiễm. Một người dân chửi thề và nói cán bộ hứa xây nhà máy lớn cho dân có công ăn việc làm, rốt cuộc toàn cha con tụi nó làm với nhau. Nghe kể có thời gian nhà máy tuyển công nhân để đào tạo, bán ra trên 2000 hồ sơ, cuối cùng chỉ nhận khoảng 400 công nhân là chỗ thân quen được gửi gắm vào. Được biết, khá đông con cái cán bộ địa phương cũng được cử sang Trung Cộng đào tạo tay nghề bằng ngân sách nhà nước. Ngoài đường lâu lâu có vài tên chuyên gia Trung Cộng nghênh ngang đi qua, đưa đôi mắt xấc xược nhìn quanh. Con đường dẫn vào nhà máy vẫn chưa làm xong, còn ngổn ngang bừa bộn. Trước mắt là cả một vùng đất rộng đến 200 mẫu bị san phẳng, màu đất đỏ rực lên trong cái nắng chói chang, lạc lõng với khung cảnh Tây Nguyên đồi núi chập chùng. Sau lưng trụ sở Công ty Cổ Phần Alumin Nhân Cơ là khu nhà màu xanh dành cho người Hoa, có xe bus đưa rước hẳn hoi. Lâu lâu có những chiếc xe biển số xanh của nhà nước chở chuyên gia Trung Cộng chạy ngang qua, họ vênh váo bấm còi, phóng xe bạt mạng, miệng la lối giành đường bằng thứ tiếng nửa Tàu, nửa Việt tục tĩu.

Các chính đảng, hội đoàn ra tuyên cáo về vụ CSVN cho Trung Cộng khai thác quặng Bauxite tại Tây Nguyên

Cũng trong ngày hôm nay, tại miền nam California một số chính đảng đã cùng với một số hội đoàn cho phổ biến một bản tuyên cáo để phản đối việc nhà nước Cộng sản Việt Nam cho phép Trung cộng khai thác quặng Bauxite tại Tây Nguyên. Bản tuyên cáo viết rằng trong gần 5000 năm dựng nước và giữ nước, tổ tiên và ông cha ta đã hy sinh biết bao xương máu để giữ gìn độc lập và toàn vẹn la?nh thổ.
Từ khi đảng Cộng Sản Việt Nam cướp quyền, họ đã liên tiếp phạm biết bao nhiêu tôi ác đối với quốc gia dân tộc, kể cả dâng biển hiến đất cho Trung Cộng, mong được chúng che chở để bám giữ độc quyền cai trị, kể cả việc chấp nhận hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa thuộc về Trung Cộng, rồi nhường cho quan thày Bắc Kinh hàng ngàn cây số vuông, trong đó 2/3 thác Bản Dốc và Ải Nam Quan của Việt Nam nay thuộc về Trung Cộng.

Trong những ngày qua Trung cộng đã thành lập huyện Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam để cai quản hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, nhưng Cộng sản Việt Nam không những đã không dám phản ứng mạnh mẽ thích đáng, lại còn thẳng tay đàn áp thanh niên xuống đường chống đối việc cướp nước trắng trợn này. Gần đây đầu năm 2009, nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam lại phạm thêm một tội ác tầy trời nữa. Bất chấp dư luận của quần chúng và ý kiến của các nhà khoa học, chúng đã mời Trung Cộng vào khai thác mỏ Bauxite tại Tây Nguyên. Đây là một hành động vô cùng tai hại, vì sẽ làm ô nhiễm nguồn nước và làm khô cằn đất đai Tây Nguyên, tạo ra chất bùn đỏ độc hại, nguy hiểm đến sức khoẻ và hủy diệt môi trường sống kéo dài nhiều thế hệ, thải độc tố vào thượng nguồn hai sông Đồng Nai và Serepok là nguồn nước chính của khu vực Saigon và vùng phụ cận.

Tuyên cáo viết rằng sự hiện diện của hàng vạn công nhân, viên chức Trung Cộng tại Tây Nguyên chẳng khác gì rước kẻ thù truyền kiếp vào một địa bàn quân sự chiến lược trọng yếu, đe dọa đến an ninh quốc phòng của Việt Nam. Nay những chính đảng, cộng đồng, đoàn thể, nhân sĩ cùng đồng bào trong và ngoài nước ký tên dưới đây cực lực lên án nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam khiếp nhược làm tay sai cho Trung Cộng bán nước cầu vinh. Mạnh mẽ lên án hành động xâm lăng của Trung Cộng trước đồng bào trong và ngoài nước, trước công luận quốc tế, trước Liên Hiệp Quốc. Quyết liệt phủ nhận các hiệp ước mà nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam đã ký kết với bọn bá quyền Trung Cộng từ trước đến nay. Kêu gọi toàn dân hãy đứng lên đòi Cộng sản Việt Nam ngưng ngay việc cho Trung Cộng khai thác Bauxite tại Tây Nguyên. Có hành động thích đáng đối với sự xâm lăng của Trung Cộng tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đương quyền Cộng sản Việt Nam phải nộp hồ sơ cho Ủy Ban Phân Định Thềm Lục Địa Liên Hiệp Quốc trước ngày 13 tháng 5 để đòi hỏi quyền lợi thềm lục đ?a và các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Nếu không làm được việc này, thì đảng Cộng sản Việt Nam phải trao quyền lại cho nhân dân Việt Nam quyết định. Nay tổ quốc bị bọn bành trướng Trung Cộng xâm lược với sự cấu kết của tập đoàn tay sai Cộng sản Việt Nam, kêu gọi quân đội hãy rời bỏ đảng và trở về trong lòng dân tộc để cùng toàn dân chiến đấu bảo vệ tổ quốc. Nhiệt liệt ủng hộ lời kêu gọi Một Tháng Biểu Tình Tại Gia để chống lại việc lấy Vàng dân tộc đổi Nhôm nước ngoài của đại lão Hoà Thượng Thích Quảng Độ, và yêu cầu Liên Hiệp Quốc và các quốc gia trên thế giới yêu chuộng công lý và hoà bình lên tiếng ngăn chận những hành vi xâm lược của Trung Cộng đối với Việt Nam. Các tổ chức ký tên gồm Việt Nam Quốc Dân Đảng, Đại Việt Quốc Dân Đảng và rất nhiều tổ chức khác.





Nguồn: http://www.calitoday.com/news/view_article.html?article_id=624fc565a13977484400b33e1880ac22

Thứ Sáu, 10 tháng 4, 2009

34 năm nhìn lại cuộc chiến chống cộng sản Việt Nam - Phạm Bá Hoa

1. Cuộc chiến sau cuộc chiến 1954-1975.

Việt Nam Cộng Hòa chúng ta bị quân cộng sản nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa gây chiến tranh từ năm 1954. Sau 21 năm với khoảng 10.000.000 thanh niên “sinh Bắc tử Nam”, họ đã chiếm Việt Nam Cộng Hòa chúng ta vào ngày 30 tháng 4 năm 1975 (con số này trích đoạn bà Lê Duẫn trả lời phỏng vấn của phóng viên Xuân Hồng đài BBC ngày 23/12/2008). Từ đó, chúng ta mất tự do! Mất tự do là mất tất cả trên quê hương Việt Nam!

Từ những đợt di tản đầu tiên (1975) đặt chân trên những xứ sở đón nhận chúng ta tị nạn cộng sản, lần lượt 20 năm kế tiếp (1976-1995) với làn sóng ào ạt vượt biên vượt biển và các chương trình đoàn tụ gia đình, HO, con lai, nhân đạo, đến nay (2009) ước tính Cộng Đồng chúng ta trên khắp thế giới vào khoảng 3.000.000 người mà đa số đã trở thành công dân bản xứ. Ngoài bổn phận với quê hương thứ hai, chúng ta còn bổn phận với quê hương Việt Nam cội nguồn. Đó là bổn phận góp phần dân chủ hóa chế độ trên quê hương Việt Nam để giành lại quyền làm người cho 86 triệu đồng bào. Đây là cuộc chiến có tính cách toàn diện, một cuộc chiến mà mọi sinh hoạt xã hội đều là “vũ khí” trong cuộc chiến này và “truyền thông và vận động chính trị tại các quê hương thứ hai ” là vũ khí quan trọng nhất.

Sau 34 năm (1975-2009) nhìn lại những gì Cộng Đồng chúng ta trên khắp thế giới có hay không có kết quả trong cuộc chiến tiếp tục chống CSVN. Tôi nói “tiếp tục chống cộng sản” vì sau khi bị cộng sản Việt Nam cai trị (1975) với chế độ độc tài, tôi quan niệm những hành động:
Không chấp nhận giao nhà cửa tài sản cho chúng để đi khu kinh tế mới là hành động chống cộng sản.
Vượt biên vượt biển để chạy trốn chế độ độc tài tàn bạo là hành động chống cộng sản.
Với những cách phản kháng quân đội và công an trong những trại tập trung (họ gọi là trại cải tạo) là hành động chống cộng sản.

Những người ra đi trong các chương trình “đoàn tụ gia đình, con lai, nhân đạo, H.O. là hành động chống cộng sản. Nói chung bất cứ những hành động nào thể hiện ý thức chính trị không chấp nhận chế độ độc tài cho dù hiểu theo nghĩa thụ động hay chủ động, đều là hành động chống cộng sản.

Tại hải ngoại, phương thức đấu tranh thông thường của Cộng Đồng chúng ta để phản đối hay ủng hộ một vấn đề nào đó, như mít tinh biểu tình, thư phản kháng, thư thỉnh nguyện, điện thoại, điện thư (fax), vi thư (e-mail), … . Đó là hành động bày tỏ ý thức chính trị chớ chưa phải làm chính trị như không ít người cho rằng “tôi không làm chính trị nên tôi không tham gia” như cái cớ để đứng bên ngoài, trong khi tự cho mình cái quyền phê phán người khác. Trong sinh hoạt Cộng Đồng, chúng ta đến với nhau là do tinh thần trách nhiệm, không một ai hưởng bất cứ một quyền lợi vật chất nào từ tổ chức mà người đó tham gia, trái lại thường bị những mẫu người nói trên chỉ trích lắm khi nặng lời. Một câu nói tưởng như đùa nhưng là kinh nghiệm thực tế với chút đắng cay: “Sinh hoạt Cộng Đồng mà không bị chửi là chưa có kinh nghiệm” Nghĩ cho cùng, câu ấy rất thực. Dĩ nhiên, với quyền tự do ngôn luận tại các quê hương thứ hai, mọi người đều có quyền khen hay chê những cá nhân khác, nhưng không phải vì vậy mà tự chà đạp liêm sỉ chính mình.

Trong những năm gần đây có dư luận cho rằng: “Mấy chục năm nay các anh đấu tranh gì mà chẳng thằng cộng sản nào rụng cái lông chân, vậy mà các anh cứ nhắm mắt đấu tranh cho mất thì giờ vô ích”. Riêng bản thân tôi khi đến dự đại hội của Hội Thủ Đức Houston kỷ niệm 25 năm thành lập vào cuối tháng 12 năm 2008, ngay lối vào cửa nhà hàng Ocean Palace tôi gặp người bạn “thích nói nhưng không thích làm”. Trong khi bắt tay nhau, anh ấy “phang” tôi một câu: “Già rồi sao không nghỉ cho khỏe, dính líu hội hè chi cho mệt. Tôi mới từ Việt Nam về lại Mỹ, cộng sản nó giàu nó mạnh lắm, 50 năm nữa mấy anh chẳng làm gì nó được đâu”. Nói xong, anh ấy ra xe với dáng “hiên ngang” như thể vừa dạy tôi bài học. Vâng, tôi vừa học bài học, nhưng là “bài học để tránh anh ấy chớ không phải bài học để làm theo anh ấy”. Tôi nghĩ, quí vị đã và đang tham gia sinh hoạt Cộng Đồng, thể nào cũng có lần nghe những câu đại loại vừa châm biếm vừa chê bai như vậy! Xin quí vị hãy kiên nhẫn nếu quí vị tin rằng “con đường” quí vị đã chọn và đang đi là đúng.

Tôi có nét nhìn khác với anh bạn vừa “dạy tôi bài học” nói trên, anh ấy thuộc mẫu người thích “xênh xang áo gấm về làng hưởng thụ trên sự đau khổ của người con gái Việt Nam”, và càng khác những ai cho rằng cuộc đấu tranh của Cộng Đồng chúng ta không làm rụng sợi lông chân nào của cộng sản. Xin hiểu rằng, mục đích cuối cùng trong cuộc đấu tranh của chúng ta là góp phần triệt tiêu chế độ độc tài giành lại quyền làm người cho dân tộc, và vá lại mảnh giang sơn đã bị CSVN xé lởm chởm trên đầu (biên giới phía Bắc), nham nhở một bên vai (vịnh Bắc Việt), và loang lỗ một phần bên hông phải (Biển Đông)!

2. Chúng ta có đạt được gì không? Vậy, 34 năm qua Cộng Đồng chúng ta có đạt được gì không? Xin trả lời ngay là CÓ, và đây là những gì đạt được:


a. Được sống tại các quốc gia tự do.

Trong số khoảng 3..000.000 người Việt chúng ta tại hải ngoại, có thành phần cựu quân nhân sau hơn 20 năm chiến đấu bảo vệ tổ quốc với những trận chiến vang danh trên thế giới và vô số trận chiến âm thầm đơn lẻ trên khắp miền đất nước, thành phần tù chính trị bị quân cộng sản giam giữ đọa đày trong hơn 200 trại tập trung từ 1975 đến 1992, thành phần gia đình cựu quân nhân viên chức cán bộ, và các thành phần kinh tế tài chánh bị áp bức trong xã hội chẳng khác tình cảnh “lưu vong ngay trên quê hương Việt Nam”, nay được sống tại các quốc gia mà nền dân chủ pháp trị được nhà cầm quyền và người dân tôn trọng. Đây chính là điều đạt được lớn nhất, và là hạnh phúc lớn nhất của Cộng Đồng chúng ta tị nạn cộng sản. Từ căn bản đó, chúng ta đạt được những lãnh vực khác.

b. Được học hỏi tổ chức & quản trị xã hội.

Sống trên các quê hương thứ hai, chúng ta học hỏi nhiều về tổ chức và quản trị xã hội. Thêm nữa, chúng ta có nhiều cơ hội du lịch đó đây trên thế gới, nhờ đó mà kiến thức tổng quát được trang bị thêm phần phong phú, tầm nhìn được trải rộng trên các sinh hoạt quốc gia, nhất là hiểu biết những nền văn hoá khác nhau. Nhờ vậy mà chúng ta hình thành khái niệm căn bản về tổ chức và quản trị một xã hội cho quê hương Việt Nam ngày mai, khả dĩ dung hợp hài hòa giữa nếp sống văn hoá Việt Nam với nền khoa học kỹ thuật tân tiến trong bối cảnh một thế giới phát triển.

c. Được một Cộng Đồng hải ngoại.

Theo tác giả Đỗ Tăng Bí với bài “Nghiên Cứu Dòng Nhập Cư Vào Hoa Kỳ” và tác giả Hồng Châu với bài “Sự Phân Tán & Tập Trung Của Người Việt Tại Hoa Kỳ”, người Việt Nam tại Hoa Kỳ từ trước cho đến năm 1950 -cách nay 59 năm- vào khoảng 500 người. Con số đó đến năm 1970, tăng lên khoảng 5.000 người. Từ đó đến năm 1974, Việt Nam chúng ta trên đất Mỹ gộp chung vào khoảng 20.000 người, sống rải rác các tiểu bang miền Đông Bắc và miền Tây Hoa Kỳ. Lúc bấy giờ cũng chưa hình thành tổ chức Cộng Đồng. Mãi đến đợt di tản cuối tháng 4 đầu tháng 5 năm 1975 khoảng 150.000. Theo tài liệu của Cao Ủy Tị Nạn/Liên Hiệp Quốc, thành phần vượt biên vượt biển từ năm 1976 đến 1995 có 839.200 người nhập cư khoảng 94 quốc gia trên thế giới, mà Hoa Kỳ là quốc gia tiếp nhận nhiều nhất. Theo tài liệu của US Census Bureau năm 2000, Cộng Đồng Việt Nam là 1.122.528 người, qui tụ trong 293.621 gia cư với số nhân khẩu từ 3 người trở lên (chiếm 80.5% trong tổng số). Cũng theo US Census Bureau, đến 1/6/2008 Cộng Đồng Việt Nam tại Hoa Kỳ khoảng 1.500.000 người. Sau những năm ổn định cuộc sống từ khi nhập cư, lần lượt những tổ chức Hội Đoàn và Cộng Đồng được thành lập theo nhu cầu sinh hoạt chung để hỗ trợ lẫn nhau. Đây là “cái được mà tôi xếp vào loại quan trọng bậc nhất”.
Bởi từ nét nhìn lạc quan khi nhìn vào tổ chức Cộng Đồng tại Orange County, các thành phố San Jose, Houston, Dallas-Fort Worth, ..v..v.. , mỗi nơi nhu thể một quốc gia thu nhỏ tại hải ngoại. Đứng đầu là tổ chức Cộng Đồng điều hợp sinh hoạt chung gồm: Các Hội đoàn đồng hương cấp tỉnh , Hội đoàn quân đội với màu áo các quân binh chủng. Hội đoàn văn hoá, Hội đoàn khoa học kỹ thuật, Hội đoàn ngành nghề chuyên môn, Hội đoàn trường hay liên trường trung học, đại học, các tổ chức bảo tàng lịch sử, các cơ sở giảng dạy Việt ngữ, ..v..v... Bên cạnh đó còn có các tổ chức tôn giáo: Phật Giáo, Thiên Chúa, Tin Lành, Cao Đài, Hòa Hảo, với các cơ sở thờ phượng. Và Cộng Đồng Việt Nam tị nạn cộng sản ngày càng lớn mạnh:

(1) Với khối nhân lực quí giá.

Một phần thế hệ chúng ta trong cuộc chiến 1954-1975, và liên tục những thế hệ sau chúng ta được đào tạo trong những nền giáo dục tân tiến trên thế giới, với số lượng học sinh sinh viên “du học tại chỗ” không một quốc gia nào sánh được. Tuổi trẻ hải ngoại trong Cộng Đồng Việt Nam tị nạn cộng sản đã hình thành khối tài nguyên nhân lực quí giá, sẽ là lực lượng nòng cốt cùng với tuổi trẻ trong nước, thúc đẩy quê hương Việt Nam phát triển theo hình tượng chiếc phản lực cơ thương mại vừa cất cánh khỏi đường băng vươn mình lên bầu trời xanh thẳm khi cộng sản độc tài sụp đổ.

Khối nhân lực quí giá này là sự mơ ước của CSVN qua đoạn ngắn dưới đây trong bài “Cộng Đồng Việt Nam Ở Nước Ngoài, Khơi Dậy Nguồn Lực Chất Xám” ngày 11/08/2005 của Thứ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Phú Bình: “Trong số gần 3.000.000 người Việt Nam sinh sống định cư ở nước ngoài, ước tính có khoảng 300.000 người được đào tạo ở trình độ đại học và công nhân kỹ thuật cao, có kiến thức cập nhật về văn hoá, về khoa học, công nghệ, về quản lý kinh tế. Trong đó có nhiều người đạt vị trí quan trọng trong các viện nghiên cứu, trường đại học, bệnh viện, công ty kinh doanh của các nước, và các tổ chức quốc tế. Tiềm lực khoa học và công nghệ của các thế hệ người Việt Nam ở nước ngoài không ngừng phát triển. Trong đó, một thế hệ trí thức mới người nước ngoài gốc Việt đang hình thành và phát triển, nhất là ở các nước Bắc Mỹ, Tây Âu, và Châu Đại Dương. Đội ngũ này tập trung ở nhiều lãnh vực khoa học chuyên ngành và kinh tế như tin học, viễn thông, điện tử, vật liệu mới, chế tạo máy, điều khiển học, sinh học, quản lý kinh tế, ngân hàng, chứng khoán, ..v..v.. Theo ước tính, chỉ số học vấn đại học và trên đại học của người Việt Nam tại các nước công nghiệp phát triển gần ở mức trung bình của người dân sở tại. Thế hệ trẻ này đang trở thành một thành phần quan trọng của công tác vận động nhằm động viên khuyến khích sự hợp tác, đóng góp của họ vào công cuộc xây dựng quê hương đất nước. Thế mạnh của đội ngũ trí thức người Việt Nam ở nước ngoài là được đào luyện, tiếp cận môi trường khoa học công nghệ tiên tiến, và nắm bắt được phương pháp quản lý kinh tế vĩ mô và chuyên ngành. Họ có khả năng phát kiến sáng tạo, có năng lực tổng hợp thông tin, tư vấn, và tạo dựng mối quan hệ với các cơ sở khoa học, cơ sở kinh tế ở nước sở tại. Từ trước đến nay, đội ngũ trí thức kiều bào vẫn được các cơ quan chức năng trong nước đánh giá là thế mạnh của người Việt ở nước ngoài, là một nguồn lực có thể góp phần tích cực cho sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước”.

Trong những năm gần đây có dư luận cho rằng “tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại về xây dựng quê hương chỉ là giấc mơ không thể có”. Tôi xin phép thưa rằng, tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại chịu ảnh hưởng văn hoá tại các quốc gia bản xứ nhất là Hoa Kỳ, điều này đúng, nhưng không phải vì vậy mà xem thường ý thức trách nhiệm của tuổi trẻ đối với quê hương Việt Nam cội nguồn. Tôi có nhiều dịp tiếp xúc với tuổi trẻ khi tham gia “Ban Phát Thưởng Học Sinh Giỏi” (lớp 5 đến lớp 12) tại Houston từ năm học 1998-1999 đến 2003-2004. Sau khi các cháu vào đại học, hằng năm các cháu đều đến tham gia Ban Phát Thưởng và các cháu không từ chối bất cứ công tác nào nhờ đến. Đúng là tuổi trẻ thừa nhận trong những năm tiểu học trung học, con cháu chúng ta tự nghĩ mình là người Mỹ (tôi nghĩ những nơi khác cũng vậy). Nhưng từ lớp 11 lớp 12, sau đó vào đại học, tuổi trẻ bắt đầu tham gia sinh hoạt văn hoá xã hội, những sinh hoạt này cũng là cách mà nhà trường giúp sinh viên trang bị ý thức trách nhiệm cộng đồng trong hành trang vào đời. Qua tiếp xúc với sinh viên nhiều chủng tộc khác nhau trong công tác cũng như trong sinh hoạt học đường, những va chạm giữa những nền văn hoá khác nhau, chính là cơ hội giúp tuổi trẻ nhận ra mình vẫn là người Việt Nam dù quốc tịch bản xứ, vì nhìn lại từ vóc dáng màu da tóc tai mặt mũi đến ánh mắt nụ cười của mình không phải người bản xứ. Từ đó, tuổi trẻ Việt Nam tìm về quê hương cội nguồn.

Cũng trong những năm gần đây, với phương tiện truyền thông vừa nhanh chóng vừa chính xác -đài truyền hình SBTN và Hồn Việt là một phương tiện- cung ứng những bài viết, những hội luận, cùng với những hình ảnh cho thấy tuổi trẻ nhập cuộc trong các sinh hoạt văn hoá xã hội cũng như trong sinh hoạt bày tỏ ý thức chính trị ngày càng đông trên các quê hương thứ hai, chứng tỏ khả năng và tinh thần trách nhiệm của tuổi trẻ hải ngoại. Với vị trí ông bà cha mẹ, xin quí vị cố gắng giúp các con các cháu nói chung là tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại học hỏi văn hoá Việt Nam, ngoài những giải thích hướng dẫn bằng lời, nếu được, nên đưa tuổi trẻ đến với các lễ hội văn hoá như Tết Nguyên Đán, trung thu, picnic, mà các Hội Đoàn tổ chức. Nếu tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại không hiểu chút gì về quê hương Việt Nam cội nguồn, tôi nghĩ, một phần trách nhiệm thuộc về thế hệ chúng ta. Và xin quí vị thật lòng tin tưởng con cháu chúng ta, những thế hệ tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại đối với quê hương Việt Nam cội nguồn tự do dân chủ và nhân quyền.

(2) Với kinh nghiệm vận động chính trị.

Tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại nhất là tại Hoa Kỳ, Germany, Canada, Australia, ..v..v.., đã góp mặt trong các cơ quan Lập Pháp, Hành Pháp, Tư Pháp, trong các trường đại học, trong các tổ chức khoa học kỹ thuật cũng như trong các tổ chức chính trị bản xứ, và đã góp phần vào các thành tựu quan trọng. Tiến sĩ Philipp Roesler Bộ Trưởng Kinh Tế tiểu bang Niedersachsen, Germany. Cô Eve Mary Thái Thị Lạc, đắc cử Dân Biểu Canada năm 2007. Tại Hoa Kỳ, có Dân Biểu liên bang Cao Quang Ánh, Dân Biểu tiểu bang Trần Thái Văn và Hubert Võ. Tuổi trẻ đã có mặt trong Cơ Quan Quản Trị Hàng Không & Không Gian (NASA), đặc biệt là khoa học gia Nguyễn Xuân Vinh, và ít nhất có một phi hành gia Eugene Trịnh Hữu Châu. Trong NASA còn có nhiều chuyên gia gốc Việt Nam, như: Ông Bà Hữu Trịnh -tiến sĩ kỹ thuật- và Diệp Trịnh -tiến sĩ hóa học- cùng làm việc trong cơ quan này, tiến sĩ Nguyễn Mạnh Tiến, tiến sĩ Jonathan Lee Điền Lê, tiến sĩ Bruce Vũ Thanh, tiến sĩ Bùi Trí Trọng, tiến sĩ Nguyễn Quang Việt, tiến sĩ Đinh Bá Tiến, và nhiều nhiều nữa. Trong ngành vũ khí, đặc biệt nữ khoa gia Dương Nguyệt Ánh nổi danh trong giới quân sự quốc tế về vũ khí. Tiến sĩ hóa lý sinh Võ Đình Tuấn, Viện Trưởng Viện Fitzpatrick/Đại học Duke, được Creator Synectics chọn là 1 trong 100 thiên tài thế giới. Tiến sĩ Huỳnh Mỹ Hằng là một trong 24 người nhận giải MacArthur Fellowship năm 2007 được gọi là “Genius Grants” (giải Thiên Tài) về các ngành khoa học, xã hội, nhân văn, nghệ thuật. ..v..v.. Trong quân đội Hoa Kỳ, nhiều sĩ quan giữ những chức vụ quan trọng như: Hạm trưởng hàng không mẫu hạm, Hạm trưởng tàu ngầm, Hạm Trưởng khu trục hạm, Tư lệnh Sư Đoàn và Lữ Đoàn Thủy Quân Lục Chiến, phi công phản lực cơ chiến đấu Elizabeth Phạm, ..v..v... Nhìn chung, khối tài nguyên quí giá này tiếp tục được bổ sung trong dài lâu.

Khối cử tri chúng ta tại các quê hương thứ hai ngày càng nhân lên, tùy thời gian không gian hoàn cảnh, lá phiếu chúng ta có ảnh hưởng vào chính trường, tuy chưa hoàn toàn như ý muốn nhưng chắc rằng sẽ trở thành nhân tố quan trọng trong chính trường. Thêm nữa, trong những năm gần đây, những giới chức gốc Việt trong cơ quan chánh quyền và các lãnh vực kinh doanh thương mãi, có khả năng trong vận động chính trị ủng hộ Cộng Đồng chúng ta về quyền lợi của Cộng Đồng, và ảnh hưởng phần nào trong chính sách đối với CSVN, nhất là tại cơ quan Lập Pháp từ trung ương xuống đến tiểu bang và thành phố. Nhìn chung, quyền lợi và cái “thế chính trị” của Cộng Đồng từng bước sẽ được bảo đảm hơn, và từ vị trí công dân các quê hương thứ hai giúp cho cuộc đấu tranh của chúng ta sẽ hiệu quả hơn.

(3) Với khối tài chánh quan trọng.

Từ những bàn tay trắng khi chạy trốn khỏi chế độ độc tài tàn bạo trên quê hương, ngày nay khả năng kinh tế tài chánh của Cộng Đồng Việt Nam tị nạn tại hải ngoại ngày càng lớn mạnh thể hiện bởi:

Khối mỹ kim do bà con gởi về Việt Nam giúp thân nhân hằng năm như sau: Năm 1991; 35 triệu. Năm 1995; 285 triệu. Năm 2000; 1 tỷ 700 triệu. Năm 2002; 2 tỷ 100 triệu. Năm 2004; 3 tỷ mỹ kim. Năm 2007; 7 tỷ 800 triệu. Những con số trên đây là của từng năm chớ không phải gộp lại của các năm trước. Theo tài liệu thì khoảng 70% lượng tiền trên đây chuyển qua hệ thống ngân hàng, tỷ lệ này có khuynh hướng ngày càng giảm, trong khi lượng tiền chuyển về Việt Nam qua các công ty có khuynh hướng ngày càng tăng.

Với lại còn một khối lượng mỹ kim khác do khoảng 250.000 đến 300.000 người hằng năm mang theo khi về Việt Nam thăm thân nhân. Nếu tạm chấp nhận trung bình mỗi người về Việt Nam chi tiêu 300 mỹ kim, thì con số đó sẽ là 90 triệu mỹ kim. Nhìn chung qua những con số mà tôi có được từng năm kể từ năm 1991 đến cuối năm 2007, thì lượng tiền mà bà con trong Cộng Đồng tị nạn tại hải ngoại gởi về Việt Nam lên đến 25 tỷ 431 triệu mỹ kim.

Sự lớn mạnh về kinh tế của riêng Cộng Đồng Việt Nam tị nạn tại Hoa Kỳ theo thống kê năm 2000 như sau: Về cơ sở kinh doanh sản xuất và dịch vụ do người Việt Nam làm chủ: Năm 1982, trên toàn liên bang có 4.989 cơ sở với doanh thu hằng năm là 215 triệu mỹ kim. Năm 1987, Việt Nam làm chủ 25.671 cơ sở với doanh thu hằng năm là 1 tỷ 361 triệu mỹ kim. Năm 2000, Việt Nam làm chủ 97.784 cơ sở với doanh thu 6 tỷ 768 triệu mỹ kim. Và cũng tiêu biểu sự lớn mạnh của Cộng Đồng tị nạn tại Hoa Kỳ, theo thống kê năm 2000 lợi tức của 293.621 gia đình có 3 người trở lên vào khoảng 18.641.000.000 (18 tỷ 641 triệu) mỹ kim, bao gồm: (1) 27.4% hay là 89.452 gia đình có lợi tức dưới 25.000 mỹ kim. Nếu chấp nhận trung bình 20.000 mỹ kim, thì 89.452 gia đình có lợi tức chung là 1 tỷ 789 triệu. (2) 27.2% hay là 79.864 gia đình có lợi tức từ 25.000 đến dưới 50.000 MK. Nếu chấp nhận trung bình 35.000 mỹ kim, thì 79.864 gia đình có lợi tức chung là 2 tỷ 795 triệu. (3) 31.3% hay là 91.903 gia đình có lợi tức từ 50.000 đến dưới 100.000 MK. Nếu chấp nhận trung bình 75.000 MK, thì 91.903 gia đình có lợi tức chung là 6 tỷ 892 triệu.. (4) 12.3% hay là 36.115 gia đình có lợi tức từ 100.000 đến dưới 200.000 MK. Nếu chấp nhận trung bình 150.000 MK, thì 36.115 gia đình có lợi tức chung là 5 tỷ 417 triệu. (5) 1.8% hay là 5.825 gia đình có lợi tức từ 200.000 MK trở lên. Nếu chấp nhận trung bình 300.000 MK, thì 5.825 gia đình có lợi tức chung là 1 tỷ 747 triệu.

Trên đây chỉ ước tính 80.5% trong tổng số 1.122.528 người sống trong 293.621 đơn vị gia cư từ 3 người trở lên, như vậy còn lại 19.5% hay là 218.892 người sống trong chung cư hoặc trong những căn phòng hay thuê phòng trong những nhà riêng, tạm gọi là “tiểu gia cư” một người hay hai người. Nếu sử dụng lợi tức tối thiểu “đầu người hằng năm” ngang bằng số trợ cấp an sinh xã hội của chánh phủ liên bang tính tròn 6,000 mỹ kim, chúng ta có lợi tức chung của 218.892 người là 1 tỷ 313 triệu mỹ kim. Một cách tổng quát, nếu chúng ta gộp chung lợi tức của gần 300 ngàn gia đình (18 tỷ 641 triệu), và lợi tức của những người sống riêng lẽ hoặc trong gia đình 2 người (1 tỷ 313 triệu), thì lợi tức của Cộng Đồng Việt Nam chúng ta tại Hoa Kỳ trong năm 2000 vào khoảng 20 tỷ mỹ kim (tính theo số tròn). Từ con số này, ước tính một cách tổng quát về tổng lợi tức của Cộng Đồng Việt Nam Tị Nạn tại Hải Ngoại trong năm 2008 có thể lên đến hơn 30 tỷ mỹ kim. Khối tài chánh tuy chưa phải lớn lao so với các Cộng Đồng Trung Hoa, Do Thái, Ấn Độ, hay Phi Luật Tân, nhưng so với nhu cầu trong nước, chúng ta có khả năng đóng góp quan trọng vào mục tiêu phát triển quốc gia sau khi cộng sản độc tài sụp đổ.

(4) Với trận chiến dựng lại quốc kỳ.

Tại Hoa Kỳ, bắt đầu ngày 19/2/2003 với thành phố Westminster (California) , từ đó đến ngày 15/3/2009, đã được 112 cơ quan hành chánh ban hành văn kiện công nhận quốc kỳ Việt Nam nền vàng ba sọc đỏ là biểu tượng tự do của Cộng Đồng chúng ta, gồm: 15 tiểu bang + 7 Quận Hạt (Counties) + 90 Thành Phố. (Danh sách các tiểu bang theo mẫu tự: California, Colorado, Florida, Georgia, Louisiana, Michigan, Minnesota, New Jersey, Nebraska, Ohio, Oklahoma, Oregon, Texas, Utah, và Virginia. Riêng tiểu bang Louisiana và Ohio công nhận bằng Luật. Cộng Đồng chúng ta còn non trẻ so với các cộng đồng bạn dài lâu trên đất Mỹ, nhưng đặc biệt là Cộng Đồng chúng ta có quốc kỳ riêng sử dụng thích hợp trong từng trường hợp. Trên thế giới, hầu như chưa có trường hợp chế độ nào sụp đổ mà quốc kỳ đó vẫn tồn tại trên các quê hương thứ hai như trường hợp Cộng Đồng chúng ta.

(5) Với bia và đài tưởng niệm.

Song song với nỗ lực vận động cho “Trận Chiến Dựng Lại Quốc Kỳ”, đến đầu năm 2009, Cộng Đồng chúng ta khắp nơi đã đặt Bia Tưởng Niệm và dựng Đài Tưởng Niệm Chiến Sĩ, Tưởng Niệm Thuyền Nhân, sau đây:

Australia, tại các thành phố Fairfield (NSW), Perth (West Australia), Melbourne và Dandenong (Victoria), Brisbane (Queensland) , và Adelaide (S. Australia).
Bỉ, tại thành phố Liège.

Canada, tại thủ đô Otttawa và thành phố Montréal.

Germany, tại thành phố Hamburg và Troisdorf.

Hoa Kỳ, tại các thành phố Westminster (California) , Houston (Texas), West Valley (Utah), Saint Cloud (Minnesota), Honolulu (Hawaii), Fayetteville (North Carolina).

Indonesia, trênđảo Galang.

Malaysia, trên đảo Bidon.

Và Thụy Sĩ, tại Genève.

(6) Với hỗ trợ lực lượng dân chủ trong nước.

Từ bản chất độc tài tàn bạo, những chính sách cai trị của CSVN tạo cho mọi người trong xã hội xã hội chủ nghĩa thường xuyên sống trong nỗi sợ hãi để phục tùng họ, nhưng sự lớn mạnh của Cộng Đồng chúng ta về các mặt kể cả những hình thức chống đối CSVN đến mức lãnh đạo cao cấp nhất của họ cũng không dám đối mặt với Cộng Đồng, đã góp phần quan trọng cho lực lượng dân chủ trong nước từng bước hình thành, và thật sự có ý nghĩa khi lực lượng này chánh thức tuyên bố thành lập tại Hà Nội và Sài Gòn ngày 8 tháng 4 năm 2006, gọi tắt là “Khối 8406”.

Đồng hành với “Khối 8406” là “Khối Dân Oan” cũng đứng lên từ các địa phương bị lãnh đạo của họ sử dụng mọi hình thức gian trá trấn lột cướp đoạt đất đai vườn ruộng, đã từng đoàn từng đoàn kéo đến các cơ quan ở Sài Gòn và Hà Nội vì bị cấp tỉnh cấp thành phố trấn áp. Nhưng rồi các cơ quan cao cấp ở Sài Gòn và Hà Nội giải quyết bằng cách giao cho Công An lùa, đẩy, và khiêng dân oan lên từng đoàn xe đưa về các địa phương sau khi bắt những người mà họ cho là “cầm đầu chống đối”. Không có gì phải ngạc nhiên cách hành sử của lãnh đạo CSVN, vì tất cả họ trong một hệ thống tham nhũng từ trên “đỉnh cao trí tuệ” len vào mọi ngóc ngách sinh hoạt xã hội xuống đến tận cùng hàng hàng lớp lớp “viên chức đầy tớ” của dân.

Chưa hết, CSVN gần như thẳng tay đàn áp bắt giam, bỏ tù, quản chề các vị lãnh đạo và tín đồ của Phật Giáo Thống Nhất, Thiên Chúa, Tin Lành, Cao Đài, Hòa Hảo. Tuy các giáo hội không cùng lúc cùng nơi cũng không cùng phương cách phản kháng, nhưng sức phản kháng CSVN mạnh mẽ không kém gì nhau.

Với thế mạnh của Cộng Đồng đối với CSVN, chúng ta đã và đang hỗ trợ lực lượng dân chủ trong nước bằng những cách khác nhau: (1) Chuyển các tin tức quốc nội và quốc tế về Việt Nam cho lực lượng dân chủ, các cá nhân, cho các lãnh đạo CSVN trong đảng, nhà nước, quân đội, công an, nhất là những tin liên quan đến tội ác của CSVN trên quê hương, vì truyền thông trong nước bị cấm loan các loại tin mà CSVN gọi là “phương hại đến ổn định xã hội” hoặc loại tin “gây mất đoàn kết nội bộ”. (2) Ủng hộ lực lượng dân chủ, ủng hộ các giáo hội ngoài quốc doanh, ủng hộ dân oan, và ủng hộ bất cứ ai kể cả đảng viên cộng sản, có lời nói hay hành động phản kháng CSVN trong mọi hành động đàn áp các công dân thực hiện những quyền mà Hiến Pháp (CSVN) qui định. (3) Vận động Liên Hiệp Châu Âu, Hoa Kỳ, Canada, Australia, ..v..v.., lên án CSVN vi phạm nhân quyền kể cả buôn bán thanh niên nam nữ ra ngoại quốc làm nô lệ dưới dạng “môi giới lao động”, vi phạm Hiến Pháp của chính họ. (4) Và các cách ủng hộ khác.

3. Sự thất bại của lãnh đạo CSVN.

Nhớ lại, từ sau ngày 30/4/1975, người dân Việt Nam Cộng Hòa cũ bị khủng bố đàn áp bằng mọi cách khác nhau đến mức không thể sống nổi, nên tự động lần lượt rồi ào ạt vượt lên cái chết đi tìm tự do bằng vượt biên vượt biển, lúc ấy CSVN gọi chúng ta là bọn ngụy quân ngụy quyền, bọn phản quốc vong quốc, bọn đĩ điếm, bọn lưu manh rác rưởi xã hội, ..v..v.. Nghĩa là CSVN dùng bất chữ nghĩa nào tồi tệ hơn hết trong ngôn ngữ hàng tôm hàng cá để chửi rủa nhục mạ chúng ta.. Từ giữa thập niên 80 khi lãnh đạo CSVN thấy Cộng Đồng chúng ta tạo dựng được những cơ sở kinh doanh thương mại, có tiền gởi về giúp thân nhân bạn bè bằng hữu trên quê hương. Lúc ấy CSVN tìm cách khai thác nguồn tài chánh từ Cộng Đồng Tị Nạn Hải Ngoại nên hạ giọng gọi chúng ta là Việt kiều yêu nước. Kế tiếp, CSVN nâng công tác Kiều Vận lên thành chính sách và trực thuộc trung ương với hai tổ chức: (2) Ủy Ban Về Người Việt Nam Ở Nước Ngoài do Thứ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Đình Bin làm Chủ Nhiệm, nhắm vào Cộng Đồng Tị Nạn chúng ta. (2) Và Ủy Ban Vận Động Thành Lập Hội Liên Lạc Người Việt Nam Ở Nước Ngoài do tiến sĩ Nguyễn Văn Đạo, Giám Đốc trường đại học tổng hợp Hà Nội làm Trưởng Ban, nhắm vào thân nhân của Cộng Đồng Tị Nạn đang sống trên quê hương, để áp lực chúng ta. Cùng lúc, CSVN lại hạ giọng thêm nữa để gọi chúng ta là “khúc ruột ly hương ngàn dặm”. Nhưng chính sách đó vẫn thất bại.

Theo thời gian, CSVN thấy Cộng Đồng chúng ta ngày càng lớn mạnh các mặt, đồng thời với những hoạt động chính trị chống chế độ độc tài của họ ngày càng phát triển, một lần nữa họ nâng chính sách Kiều Vận lên hàng quốc sách với Nghị Quyết 36 ngày 26/3/2004, qui định một chính sách toàn diện nhắm vào Cộng Đồng Việt Nam Tị Nạn tại hải ngoại mà họ gọi là những người Việt Nam ở nước ngoài. Quốc sách này được hỗ trợ tài chánh do “Quỹ Hỗ Trợ & Vận Động Người Việt Nam Ở Nước Ngoài” thành lập trước đó một năm (ngày 25/4/2003) tại Bộ Ngoại Giao ở Hà Nội. Vậy là CSVN chánh thức mở “mặt trận chính qui”, vừa đánh vào Cộng Đồng chúng ta trên toàn thế giới mà mục tiêu chính là Cộng Đồng tại Hoa Kỳ, vừa tìm mọi phương cách lôi cuốn những cá nhân trong Cộng Đồng chúng ta mang tiền và kỹ thuật về Việt Nam kinh doanh giúp họ giàu sang và tồn tại. Lúc này nhóm “đỉnh cao trí tuệ” lại hạ giọng thấp xuống nữa để gọi chúng ta là “bộ phận không thể tách rời cộng đồng dân tộc”.

Nghị Quyết 36 chẳng khác một lệnh tổng tấn công Cộng Đồng chúng ta với 3 điểm căn bản sau đây:

Người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời, và là nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là nhân tố quan trọng góp phần tăng cường quan hệ hợp tác hữu nghị giữa nước ta với các nước.

Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị và của toàn dân. Các tổ chức đảng, nhà nước, và các đoàn thể nhân dân, các ngành các cấp từ trung ương đến địa phương, ở trong nước và ngoài nước, và toàn dân ta cần coi đây là một nhiệm vụ quan trọng nhằm phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, cần mang tính đồng bộ, kết hợp việc xây dựng cơ chế chính sách với công tác vận động, kết hợp các hoạt động trong nước với các hoạt động ở ngoài nước, và phải được tiến hành thông qua nhiều loại hình hoạt động và biện pháp phù hợp với các đối tượng và địa bàn khác nhau, trên cơ sở tự nguyện và không trái pháp luật, phong tục, tập quán của nước sở tại. Từ 3 điểm đó, nội dung NQ 36 vạch ra 7 mục tiêu tấn công Cộng Đồng chúng ta, và 2 mục tiêu sau cùng ra lệnh cho đảng, tình báo, ngoại giao, công an, quân đội, tới toàn dân thi hành. Nhưng thật ra CSVN không dám xuất hiện mà họ dùng đồng tiền, cũng có thể có cả nquyền lợi ảo về chính trị, để thúc đẫy những tên tay sai của họ trong Cộng Đồng chúng ta thực hiện.

Đúng. Trong những năm gần đây, một số tổ chức trong Cộng Đồng đã xảy ra những xáo trộn dẫn đến một số Hội Đoàn thành hai tổ chức. Điều dễ nhận ra là bàn tay của những tên tay sai CSVN và đồng tiến cũng từ CSVN, cộng với đám tuyên truyền xám Công An CSVN tung hỏa mù trên hệ thống thông tin toàn cầu (NET) nhắm vào những cá nhân những tổ chức chống cộng quyết liệt, dẫn đến trường hợp một số cá nhân và tổ chức chống cộng sản chống lại cá nhân và tổ chức chống cộng sản.

Cũng đúng. Đúng là CSVN vẫn thất bại. Tuy Cộng Đồng chúng ta tùy nơi tùy hoàn cảnh có tình trạng nêu trên, nhưng rõ ràng là lãnh đạo trong “nhóm đỉnh cao trí tuệ” CSVN mỗi khi đặt chân đến Hoa Kỳ, đến Australia, đến Pháp, đến Đức, họ không thấy cờ máu nào của họ mà chỉ thấy rừng cờ vàng giữa rừng người với biểu ngữ phản đối họ vi phạm nhân quyền, nên rất sợ đối mặt với Cộng Đồng chúng ta. Điển hình tại Hoa Kỳ:

- Ngày 22/6/2007, Nguyễn Minh Triết, Chủ Tịch nước Việt Nam cộng sản khi vào dinh Tổng Thống Hoa Kỳ, chẳng những không có đội quân danh dự, không một phát súng chào mừng, cũng không một âm thanh quân nhạc chào đón, chỉ được viên chức tòa Bạch Ốc lặng lẽ hướng dẫn vào cửa sau để gặp Tổng Thống Bush, vì công viên phía trước tràn ngập bởi bà con trong Cộng Đồng chúng ta từ các tiểu bang đổ về đây với rừng cờ vàng và rừng biểu ngữ phản đối CSVN vi phạm nhân quyền. Ông ta không dám đối mặt với Cộng Đồng chúng ta nên chịu nhục vào cửa hậu. Ngày hôm sau (23/6/2007), ông Triết cùng đoàn tùy tùng đến khách sạn Saint Regis Resort ở thành phố Dana Point, nhưng xe chở ông Triết không dám cắm cờ CSVN theo nghi thức ngoại giao, vì sợ rừng người tị nạn cộng sản “dàn chào” trước khách sạn biết ông ngồi trong xe đó mà phản ứng mạnh hơn.

- Ngày 22/6/2008, Nguyễn Tấn Dũng, Thủ Tướng đảng CSVN đến Hoa Kỳ nhưng không dám xuống phi trường quốc tế vì Cộng Đồng chúng ta đã chuẩn bị “dàn chào” phản đối, mà đáp phi trường quân sự chỉ có nhóm người từ tòa đại sứ của họ đón. Ngày 26/6/2008, khi đến Houston dự hội thảo với nhóm doanh gia Hoa Kỳ trong khách sạn “The Westin Oaks” trên đường Westheimer, không thể vào cửa chánh vì Cộng Đồng chúng ta dày đặc với rừng cờ vàng và biểu ngữ phản đối, đoàn xe phải vòng qua đường S. Post Oaks vào khách sạn.

Ngang qua hai đảng viên lãnh đạo trong Bộ Chính Trị nói trên đã chứng tỏ sự thất bại của lãnh đạo CSVN dù Nghị Quyết 36 do những tên tay sai len lõi đánh phá Cộng Đồng chúng ta. Rõ ràng là cấp lãnh đạo cao nhất của nhà nước VNCS đã không dám đối mặt với Cộng Đồng chúng ta thì làm gì khống chế được chúng ta.

4. Kết luận.

Với tội ác trong 10 năm gần đây của lãnh đạo VNCS không thể phủ nhận:
Năm 1999, bán 789 cây số vuông trên bộ cho THCS từ nợ vũ khí đạn dược xâm lăng VNCH.

Năm 2000, bán 11.362 cây số vuông trong vịnh Bắc Việt cho THCS với giá 2 tỷ mỹ kim.
Đầu tháng 12/2007, thỏa hiệp cho THCS sáp nhập quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa vào quận Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam.

Ngày 9 & 16/12/2007 tại Sài Gòn và Hà Nội, học sinh sinh viên mít tinh biểu tình phản đối THCS chiếm hai quần đảo nói trên của Việt Nam, bị hung thần Công An ngăn chận đe dọa.
Ngay trước ngày 14/9/2008, các thành phần xã hội phẫn uất hành động của THCS cũng như phản ứng nhẹ nhàng của VNCS, chuẩn bị mít tinh trước tòa đại sứ THCS ở Hà Nội phản đối THCS trưng dẫn văn kiện của Thủ Tướng Phạm Văn Đồng gởi THCS vào ngày này 50 năm trước, lại bị đám “hung thần” Công An tại Hà Nội cũng như tại các địa phương thẳng tay ngăn chận bắt giữ những ai mà họ nghi sẽ tham gia mít tinh biểu tình.
Tháng 12/2008, do thỏa hiệp trước, THCS đưa hằng ngàn công nhân và lực lượng bảo vệ an ninh đến Dak Nong khai thác quặng bauxite, gây tác hại môi trường khu vực rộng lớn trên Cao Nguyên miền Trung, đã gây phẫn uất trong giới tướng lãnh về hưu cũng như tại chức ngang qua các thư gởi đến các cấp lãnh đạo của họ trong Bộ Chính Trị.
Theo tờ Tuổi Trẻ ngày 27/3/2009 tại Hà Nội, ký giả Cam Văn Kình với bài “Hằng vạn công nhân Trung Hoa đã vào Việt Nam”, dẫn lời ông Trần Ngọc Hùng, Chủ Tịch Tổng Hội Xây Dựng Việt Nam, thực tế hiện nay hầu hết các cuộc đấu thầu thực hiện các dự án lớn về điện, xi măng, hóa chất, đều vào tay nhà thầu Trung Hoa vì họ được chánh phủ họ nâng đỡ nhiều mặt nên giá thầu giảm. Nhà thầu Trung Hoa đưa sang Việt Nam hằng mấy ngàn công nhân với các loại máy móc và thực phẩm mà họ không mua bất cứ thứ gì Việt Nam có. Ngoài tai hại về môi trường và kinh tế, liệu rồi đây sẽ có những làng mạc của Trung Hoa ngay bên trong lãnh thổ Việt Nam, và phải chăng đây là chiến lược cài người của lãnh đạo CSTH, rồi theo vết dầu loang tiến đến đồng hóa dân tộc Việt Nam vào Trung Hoa mà không tốn một viên đạn, không tốn một mạng người, cũng chẳng nhỏ một giọt mồ hôi, chỉ cần họ nhép miệng ra lệnh cho lãnh đạo CSVN thi hành, và nhón tay ký vào thỏa ước hợp pháp hóa là xong?

Dù thế nào đi nữa, chỉ riêng 7 tội ác trên đây đang gây phẫn uất trong các thành phần xã hội, người dân “lương cũng như giáo”, sinh viên học sinh, lực lượng đấu tranh dân chủ trong nước, thành phần đảng viên về hưu và cả tại chức, qua những cách khác nhau đã cho thấy người dân không còn sợ hãi đảng với nhà nước như trước kia nữa. Thoạt nghe có chút tàn nhẫn, nhưng thật sự khi lãnh đạo CSVN càng lún sâu vào tội ác với dân với nước, nhất là càng lệ thuộc vào CSTH, chế độ độc tài này càng sớm đến ngày sụp đổ vì khi nỗi phẫn uât đến tột cùng chính là lúc người dân đứng dậy lật đổ chúng. Không loại trừ một thành phần quân đội cộng sản sẽ cùng hàng ngũ với người dân, vì lãnh đạo của họ lệ thuộc cộng sản Trung Hoa đến mức cắt đất xén biểncho CSTH mà họ là thành phần có trách nhiệm bảo vệ.

Vì vậy, Cộng Đồng chúng ta hãy nhiệt tình hơn nữa trong nỗ lực chống CSVN và những tên tay sai của chúng ngay trong Cộng Đồng, cùng lúc tiếp tục hỗ trợ các lực lượng dân chủ trong nước và hỗ trợ tinh thần dân oan khiếu nại giành lại tài sản của họ bị các lãnh đạo địa phương cướp đoạt. Đặc biệt liên tục chuyển những tin về tội ác của CSVN nhất là tình trạng lệ thuộc CSTH về trong nước gồm các thành phần trong xã hội, và những tin tức thế giới liên quan đến Việt Nam vi phạm nhân quyền, giúp các thành phần này hiểu được những sự thật mà truyền thông của CSVN che giấu. Đây là cách góp phần quan trọng vào công cuộc lật đổ chế độ độc tài toàn trị CSVN, vì lịch sử đã chứng minh người dân không được sử dụng lá phiếu với đầy đủ quyền chính trị của mình để chuyển hóa chế độ này, vì lãnh đạo CSVN không có người nào tử tế cả. Trong khi bối cảnh chính trị quốc tế ngày nay, không một chế độ độc tài nào lường trước được những đột biến đối với họ, điển hình rõ nhất là các quốc gia cộng sản đàn anh lớn và đàn anh nhỏ của CSVN vào đầu những năm 90 là Liên Bang Sô Viết sụp đổ, khối Đông Âu Ba Lan, Tiệp Khắc, Rumani, Hungary sụp đổ, bức tường Bá Linh sụp đổ, ..v..v... Và chế độ cộng sản tan rã do chính đồng bào của họ với hỗ trợ của thế giới tự do.

Tôi nghĩ, mỗi người chúng ta tùy khả năng, hoàn cảnh, thời gian, không gian, đều có thể tham gia vào cuộc chiến này, như: Tham gia sinh hoạt trong tổ chức Cộng Đồng, sinh hoạt Hội Đoàn nào đó hay tổ chức đấu tranh, nhẹ nhàng và thuận tiện hơn hết là giúp các cháu nói tiếng Việt, giải thích cho con cháu biết về quê hương Việt Nam, một cách tồng quát về lịch sử Việt Nam, nguyên nhân ông bà cha mẹ các cháu có mặt tại hải ngoại, giúp các cháu tham gia lễ hội Việt Nam để các cháu có cơ hội nhìn thấy, nhận biết một hình ảnh văn hoá Việt, cùng lúc làm quen với các bạn trang lứa. Nếu được, khuyến khích các cháu tham gia sinh hoạt Hướng Đạo, sinh hoạt trong tổ chức tôn giáo dành cho tuổi trẻ. Xa chút nữa, khuyến khích các cháu tham gia sinh hoạt trong tổ chức sinh viên khi các cháu vào đại học dù chỉ sinh hoạt trong phạm vi văn hoá xã hội. Vì tất cả đều là góp phần vào cuộc chiến chống cộng sản Việt Nam độc tài.

Tôi nghĩ, chúng ta có đủ lý lẽ để vững tin vào mục đích cùng hướng đi, để tiếp tục phát triển cuộc đấu tranh của Cộng Đồng chúng ta hơn nữa, đó là cách hỗ trợ mạnh mẽ lực lượng dân chủ trong nước góp phần quan trọng vào sự sụp đổ của cộng sản Việt Nam độc tài toàn trị, khi mà sự phẫn uất của người dân đến mức tột cùng, đó là lúc mục tiêu góp phần dân chủ hóa chế độ chính trị trên quê hương Việt Nam của Cộng Đồng chúng ta đạt được, rồi cùng nhau vá lại quê hương gấm vóc đã bị lãnh đạo CSVN “xé rách lởm chởm!”

Houston, tháng 4 năm 2009
Phạm Bá Hoa
_________
Nguồn : MGP

Thứ Tư, 8 tháng 4, 2009

CHIẾN LƯỢC BIỂN ĐÔNG CỦA HOA KỲ-TRUNG QUỐC-VIỆT NAM

Khối Cộng Sản Đông Âu và Nga Sô tan rã năm 1991 đã khiến Hoa Kỳ thay đổi chiến lược toàn cầu: Tái phối trí lực lượng quân sự tùy theo “national interest” đáp ứng nhu cầu chiến lược sau thời Chiến Tranh Lạnh là duy trì “nền trật tự thế giới mới” (new world order). Từ đó, Hoa Kỳ trở thành siêu cường duy nhất (đơn cực, unilateral superpower); tuy nhiên, hình thái chiến tranh thay đổi từ qui ước, trực tiếp đối đầu bằng quân sự nay chuyển sang “lùng và diệt” các nhóm khủng bố và quốc gia chứa chấp, huấn luyện khủng bố. Thêm vào đó, chiến lược “be bờ” (containment) của Hoa Kỳ nhằm “ngăn chận Cộng Sản bành trướng” trước kia nay “khai triển” (enlargement) thành “dân-chủ-hoá toàn cầu.” Chiến lược này giúp Hoa Kỳ tùy tiện trải rộng thế lực bằng cách bung lực lượng ra vừa truy diệt các nhóm khủng bố vừa tạo ảnh hưởng tại khắp nơi trên thế giới. HK đã liên kết chặt chẽ với Ấn Độ, Nhật Bản, Úc Châu đến hiện diện tại những vùng trước kia họ chưa có ảnh hưởng như Afghanistan, Pakistan ở Trung Á.

Hành động quân sự đôi khi cũng gây thiệt hại cho người dân vô tội nên HK đã gặp những chống đối từ một số quốc gia độc tài, quân chủ chuyên chế vì muốn bảo vệ quyền lực và nội trị của mình. Mặt khác, một số cường quốc không muốn bị lép vế, đã gây trở ngại cho Hoa Kỳ khi tìm đủ cách giới hạn hoạt động nhằm quân bình lực quá mạnh của Hoa Kỳ nhằm tạo một thế giới “đa cực, multipolars.” Điển hình là Pháp, Đức, Nga ở Âu Châu; Trung Quốc ở Á Châu; Iran ở Trung Đông, v.v. mà dù HK có hảo ý đến đâu, họ cũng tìm cách chế ngự _ họ khó chấp nhận một thế giới đơn cực (unilateral) làm chủ bởi siêu cường Hoa Kỳ có hay không mang ý đồ độc chiếm thế giới “aggressive unilateralism” [1]. Ví dụ, trong thập niên 1990s, lo ngại HK và khối NATO dùng quân sự can thiệp vào nội bộ các nước trong vùng Balkans và thắt chặt liên minh, mở rộng tầm ảnh hưởng tại Á Châu, TQ và Nga Sô đã đồng ý hợp tác chiến lược song phương (strategic cooperative partnership) vào năm 1996. Từ đó, hai nước này ngày càng phát triển mối liên hệ và hợp tác chặt chẽ hơn để chế ngự Hoa Kỳ. Năm 2000, TC và Nga Sô lên tiếng phản đối HK dự định thiết lập Hệ Thống Lá Chắn Hỏa Tiễn (missile defense system) và bãi bỏ Hiệp Ước Cấm Hỏa Tiễn Liên Lục Địa (Anti Ballistic Mislles Treaty) [2]. Năm 1999, hai nước ký Hiệp Ước Giao Hảo và Hợp Tác (Treaty of Good-Neighborliness and Friendly Cooperation). Năm 2005, TQ và Nga Sô đã tổ chức cùng thao diễn quân đội một cách qui mô gồm 10,000 không, hải và lục quân với quân cụ, vũ khí tham dự. Một phân tích gia chiến lược cho hay: “Liên hệ an ninh tốt hơn với Nga Sô sẽ giúp TQ quân bình thế lực với ảnh hưởng Hoa Kỳ trong vùng” [3]. Tuy nhiên, khi Nga Sô còn đang tìm cách phục hồi kinh tế và thế đứng và Trung Quốc vẫn còn kém xa Hoa Kỳ về mọi mặt thì họ cố tránh xung đột, đối đầu quân sự trực tiếp với Hoa Kỳ.

Nói chung, TQ cố gắng quân bình thế lực với Hoa Kỳ qua nỗ lực song phương và vận dụng ngoại giao trên trường quốc tế; một mặt xử dụng lợi nhuận kinh tế để thẩm nhập và chi phối các nước họ nhắm đến; mặt khác, dùng các phương thức mềm mỏng ngoại giao kéo bè cánh (formation) chống Hoa Kỳ. TQ thiết lập liên hệ sâu đậm với Khối Liên Âu (EU, European Union) đặc biệt với Pháp, Anh và Đức [4] và thường mở những hội nghị thượng đỉnh với Liên Âu và cả hai đang trở nên đối tác kinh tế thương mãi lớn nhất của nhau. Về hải quân, TQ cũng đã hợp tác thao dượt tìm kiếm và cấp cứu ngoài biển và trong tương lai sẽ trao đổi quân sự nhiều hơn với chiến hạm của Pháp và Anh. Mối liên hệ tốt đẹp này khiến Liên Âu quyết định tháo gỡ cấm vận vũ khí áp đặt lên TQ kể từ sau biến cố Thiên An Môn tháng 6 năm 1989 sẽ giúp TQ mua vũ khí tối tân nhất cho quân đội của họ. Các nhà phân tích Hoa Kỳ tin rằng: “TQ và Liên Âu đang tìm cách chế ngự sức mạnh và vị thế Hoa Kỳ, hoặc qua việc tạo nên một thế giới đa cực (multipolars) hay qua một thế lực gồm nhiều cường quốc” [5].

Ngoài việc hợp tác với các tổ chức lớn như EU, ASEAN và SCO (Shanghai Cooperation Organization), TQ cũng chú trọng vào chủ điểm thứ hai là trực tiếp thảo luận trong liên hệ song phương với Hoa Kỳ. TQ chọn cách hợp tác xây dựng chiến lược (contructive strategic partnership) với HK dưới thời Tổng Thống Bill Clinton năm 1997 thay vì theo đuổi chính sách đối kháng như một số tướng lãnh quân đội diều hâu đề nghị. Trong tư thế yếu, TQ cũng đạt được một thỏa thuận tương đối tốt nhất với siêu cường HK [6]. Với sự đồng thuận của các doanh thương Mỹ tìm thị trường khổng lồ tại Hoa lục, HK đã ban qui chế “tối huệ quốc” cho TQ mặc dù biến cố Thiên An Môn xảy ra năm 1989. Năm 2000, HK nới rộng bình thường hóa giao thương với TQ (PNTR, permanent normal trade relation) lót đường đưa TQ trở thành hội viên của WTO (World Trade Organization) khiến nền kinh tế TQ càng phát triển nhanh nhất thế giới trong suốt thập niên 1990s qua thập niên 2000s.

Phạm Văn Thanh
Tiếp theo trang dưới

CHIẾN LƯỢC BIỂN ĐÔNG CỦA HOA KỲ


Hoa Kỳ biết rằng TQ cần gây dựng thực lực quân sự hỗ trợ bởi nền kinh tế bền vững nên TQ đã nỗ lực tìm liên minh và hâụ thuẫn chính trị trên trường quốc tế qua chính sách ngoại giao khôn khéo. Nhưng HK cũng nhận thức rằng một khi TQ trở nên hùng cường, thịnh vượng, họ sẽ từ bỏ “thế thủ” mà thực hiện tham vọng bá chủ Á Châu che dấu từ lâu. TQ sẽ chuyển sang chiến lược tấn công bằng cách bành trướng về mọi lãnh vực chính trị, kinh tế và quân sự để thiết lập ảnh hưởng tại Á Châu và trên thế giới [7]. Tất nhiên, TQ sẽ xử dụng vũ lực để giải quyết những tranh chấp hay tiến chiếm những cứ điểm trọng yếu nhằm bảo vệ cho quyền lực của họ và chuẩn bị đối đầu với HK trong tương lai.

Giá trị Biển Đông đối với HK ra sao?

Sự quan trọng của biển Đông đối với Hoa Kỳ chính là hải đạo huyết mạch vận chuyển không những cho các tàu dầu và thương thuyền từ Trung Đông, Ấn Độ Dương và Đông Nam Á tới Nhật Bản, Đại Hàn và Trung Quốc qua eo biển Malacca. Hơn nữa, HK còn dùng biển Đông như điểm chuyển vận và vùng hoạt động cho Hải Quân, Không Quân HK nối liền các căn cứ quân sự của họ ở Á Châu, Ấn Độ Dương và Vùng Vịnh Ba Tư. Hoa Kỳ cần duy trì sự tự do và an toàn cho hành lang chiến lược quan yếu gồm hải đạo, đường hàng không và liên lạc giữa các vùng quân sự này. Hơn nữa, HK cũng cần bảo vệ cương vị siêu cường và bảo đảm an ninh cho các đồng minh của mình tại Á Châu, nên Hoa Kỳ sẽ xử dụng sức mạnh Hải Quân và Không Quân tầm xa để thực hiện mục tiêu chiến lược của mình trong thế kỷ 21. Với sức mạnh của Hải và Không Quân hiện nay, trong vòng một thời gian ngắn, Hoa Kỳ có thể phá hủy hoặc làm tê liệt hai bàn đạp Trường Sa và Hoàng Sa trong trục Tam Á-Hoàng Sa-Trường Sa của TQ một cách tương đối dễ dàng! Vì thế, quyền lợi sinh tử của Mỹ không nằm trực tiếp trong vùng Biển Đông! Tuy nhiên, tại Á Châu, TQ ngày càng mạnh, dù bề ngoài tỏ ra ôn hòa và tuyên bố việc tân trang quân đội chỉ nhắm mục tiêu phòng thủ nhưng tham vọng bá chủ Á Châu của TQ tỏ rõ khi tích cực tranh chấp vùng biển Đông. Vì thế, Robert Ross, một chiến lược gia Ngũ Giác Đài đã nói: “Nếu HK cho TQ cơ hội hất cẳng mình ra khỏi Á Châu, TQ sẽ nắm lấy. HK không nên ảo tưởng rằng TQ sẽ giữ nguyên vị khi thế lực của họ tăng thêm” [8].

Chiến lược Biển Đông của HK thế nào?

HK áp dụng hai chiến lược “ngăn chặn” (containment) và “kèm giữ” (engagement). Trong chiến lược “kèm giữ,” HK sẽ dẫn dụ TQ giao tiếp bình thường hợp với lối hành xử của thế giới tiến bộ và giúp TQ dân-chủ-hóa đất nước qua các quan hệ chặt chẽ trong nhiều lãnh vực khác nhau. Mục tiêu lâu dài là giúp TQ trở thành một quốc gia tự do, dân chủ và thịnh vượng để TQ có thể tự túc, tự cường và liên hệ thuận thảo với thế giới mà không đe dọa các nước dân chủ khác. Trái lại, với chiến lược “ngăn chận” HK sẽ tìm cách ngăn trở TQ bành trướng quân sự qua việc làm chậm độ phát triển kinh tế và trì trệ chương trình hiện-đại-hóa quân đội. Cả hai chiến lược của HK đều có độ rủi ro và trở lực vì chiến lược “kèm giữ” có cơ nguy tạo nên một nước TQ hùng mạnh nuôi nhiều tham vọng; trong khi đó, chiến lược “ngăn chận” cũng khó thể thực hiện thành công [9]. Bởi lẽ, khó thuyết phục dân chúng HK đổ tài sản lớn lao ra để ngăn chận TQ bây giờ vì nguy cơ của TQ chưa lộ ra rõ ràng. Hơn nữa, vì tiềm năng quân sự của Hoa Kỳ vượt trội hơn bất cứ cường quốc nào trên thê giới hiện nay đến ít nhất là hơn một thập kỷ; do đó, chính sách và chiến lược lớn đối đầu với TQ của HK hiện nay trên thực tế kết hợp cả hai chiến lược nhằm hướng dẫn TQ trở thành một “cường quốc có trách nhiệm” (responsible stakeholder”); đồng thời, HK tăng cường thế liên minh của mình và tái phối trí quân lực để tăng hiệu năng quân sự và giảm thiểu sự thiệt hại khi chiến tranh xảy ra [10]. Đây là lý do HK đã thắt chặt hợp tác an ninh với Nhật Bản, Ấn Độ và tăng sức mạnh quân sự tại Trung Á và Á Châu - Thái Bình Dương. Với tiềm lực vượt trội đó, Hoa Kỳ có thể áp dụng chiến thuật “chờ xem” (wait and see) ý định và khả năng thật sự của TQ tiến triển ra sao để đối phó một cách thích hợp theo từng giai đoạn. Đây chính là ý định của HK hiện nay; cho nên ta sẽ không ngạc nhiên khi thấy HK có thể áp dụng “chiến tranh kinh tế” nhằm triệt tiêu hoặc giảm thiểu độ phát triển kinh tế của TQ hoặc nếu nhận thấy TQ sắp trở thành một siêu cường Á Châu có hành động trực tiếp đồi đầu với mình, HK sẽ thay đổi chiến lược để đáp ứng với tình thế mới.

Vì chú trọng vào việc xây dựng “trật tự thế giới mới trong thế chiến lược toàn cầu,” HK muốn giữ vị thế trung hòa về vấn đề tranh chấp giữa các quốc gia trong vùng biển Đông, nên khuyến cáo các nước liên hệ tìm một giải pháp hòa bình lâu dài đặt căn bản trên Luật Quốc Tế về Biển như Hội Nghị LHQ Về Luật Biển (UN Convention on the Law of the Sea). Mục tiêu chính của Hoa Kỳ trong vùng Biển Đông chỉ nhằm duy trì sự an toàn và tự do di chuyển trong hải phận quốc tế; đặc biệt, cho hải đạo huyết mạch vận chuyển của các tàu dầu, chiến hạm và thương thuyền từ Trung Đông và Ân Độ Dương qua eo biển Malacca tới Á Châu. Bất cứ một cuộc xung đột nào xảy ra trong vùng Biển Đông mà có thể đe dọa đến hành lang quân sự chiến lược này hoặc sự an ninh và quyền lợi kinh tế của Hoa Kỳ hay Nhật Bản sẽ được coi như xáo trộn đủ để HK đơn phương quyết định can thiệp. Vì thế, Hoa Kỳ có thể vĩnh viễn đứng ngoài vòng tranh chấp, nhưng cũng có thể nhảy vào vòng tranh chấp bất kỳ lúc nào tùy theo áp lực bên ngoài trên quyền lợi của họ trong vùng [11]. Điều này hoàn toàn tùy thuộc vào tình trạng thông thương của thủy đạo qua eo biển Malacca hoặc cách ứng xử của Trung Cộng, và do đó, người Việt Nam không nên trông chờ Hoa Kỳ “cứu nguy” khi có xung đột với TQ. Vì vậy, qua những hoạt động từ khi rút lui khỏi Việt Nam năm 1973 đến nay, chúng ta nhận thấy Hoa Kỳ, bề ngoài, hình như chỉ chú trọng đến chiến lược toàn cầu của họ mà thiếu một chiến lược rõ rệt cho Vùng Biển Đông. Tuy nhiên, từ năm 2000, Hoa Kỳ đã chú ý nhiều đến sự gia tăng ngân sách quốc phòng nhằm phát triển và hiện đại hóa quân lực Trung Quốc, đặc biệt về Hải Quân. Các hoạt động của Hạm Đội Nam Hải tại Căn Cứ Hải Quân Tam Á đang trở thành mối lo ngại không những cho các quốc gia ASEAN trong vùng Biển Đông mà còn cho cả Hoa Kỳ khi càng ngày TQ càng tỏ ra hung hăng và nguy hiểm cho nền hoà bình thế giới.
Phạm Văn Thanh

CHIẾN LƯỢC BIỂN ĐÔNG CỦA TRUNG QUỐC



TQ áp dụng chính sách “hợp tác” (partnership) với quốc gia khác bằng cách tôn trọng văn hóa, ý thức hệ và interests khác biệt và tìm cách thuyết phục họ giúp TQ hóa giải những vấn đề mâu thuẫn hoặc tranh chấp. Việc này giúp TQ kéo thêm đồng minh, giúp nước hợp tác được thêm lợi nhuận kinh tế khi liên hệ song phương với TQ làm giảm ảnh hưởng mà tránh đụng độ trực tiếp với Hoa Kỳ. Với tư cách thành viên thường trực Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, năm 1999, TQ hợp tác với Nga Sô bỏ phiếu chống lại quyết định LHQ cho HK dẫn lực lượng LHQ can thiệp vào Kosovo. Năm 2003, TQ hợp với Nga Sô, Pháp và Đức phủ quyết LHQ cho phép HK đưa quân vào Iraq và TQ cũng phủ quyết đề nghị phong tỏa Bắc Hàn về vũ khí nguyên tử của HK [12]. Tại Trung Á, khi Hoa Kỳ đem quân vào lật đổ chế độ Taliban tại Afghanistan và đóng đồn tại đây thì TQ và Nga Sô cảm thấy bị đe dọa sườn phía Tây [13]. TQ mời Nga Sô và mấy nước Trung Á như Kazakhstan, Kyrgyzstan, Tajikistan và Uzbekistan lập nên Shanghai Cooperation Organization (SCO) vào năm 2001 để đánh “3 ác quỷ” là sự phân rẽ, khủng bố và tôn giáo cực đoan. Chính SCO và các nước Trung Á này đã giúp tăng ảnh hưởng của TQ, bảo đảm nguồn tiếp tế năng lượng và ngăn chận những hoạt động chia rẽ trong vùng Hồi Giáo tỉnh Xinjiang của TQ và nhất là không để Hoa Kỳ tự do khống chế mọi hoạt động trong vùng hay trên thế giới [14]. Năm 2002, Chù Tịch Giang Trạch Dân (Jiang Zemin) khi thăm Iran đã công khai chống đối việc đóng quân Hoa Kỳ tại vùng Trung Á [29] và mời Iran gia nhập SCO. Trong cuộc họp thượng đỉnh vào tháng 7 năm 2005, SCO đã tuyên bố đòi HK đưa ra dự trình rút quân khỏi lãnh thổ các nước thành viên SCO [15].

Đối với Đài Loan, TQ đã áp dụng chiến thuật ôn hòa “chậm mà chắc” từng bước thay đổi mối liên hệ thân tình với Đài Loan qua ngoại giao và giao thương. Trong khi đó, TQ vẫn phô trương sức mạnh quân sự tại eo biển Đài Loan (Taiwan Strait) như một đe dọa để “vừa dọa đánh vừa đàm” và họ đã thành công đáng kể trong việc thay đổi dần tư duy và chủ trương “đòi độc lập” của đảo quốc này. Đối với quốc tế, TQ có thể thuyết phục và tái khẳng định với hầu hết các quốc gia về ý thức “một nước Trung Hoa” (one-China) bất-khả-phân và tạo Đài Loan như một kẻ gây sự bất cứ khi nào tình trạng căng thẳng lại xảy ra giữa TQ và Đài Loan về eo biển Taiwan Straits [16]. Về vấn đề nguyên tử của Bắc Hàn, TQ cũng đóng một vai trò quan trọng khi bắt ép Bắc Hàn tham dự cuộc thương thuyết đa phương với HK nhằm giải giới vũ khí nguyên tử của BH để giảm thiểu cơ nguy một cuộc chiến toàn diện xảy ra tại biên giới TQ. Tháng 9 năm 2005, 6 thành viên trong cuộc thương thuyết đạt được quyết định chung; trong đó, BH đồng ý chấm dứt chương trình nguyên tử đổi lại bằng những quyền lợi về kinh tế, an ninh và năng lượng.

Như ta nhận thấy, TQ biết mình chưa phải là địch thủ của siêu cường HK, nên tạm thời dùng chiến lược “câu giờ” tránh đụng độ mà dồn nỗ lực phát triển kinh tế, hiện-đại-hóa quân đội; trong khi vẫn kéo vây cánh với các quốc gia khác nhằm chế ngự siêu cường Hoa Kỳ. Nghĩa là, TQ đang áp dụng chiến lược mà Đặng Tiểu Bình (Deng Xiaoping) gọi là: “vặn đèn xuống và chúng ta làm giàu trong bóng mờ” (“dim our lights and thrive in the shadow”), dịch rõ nghĩa hơn là “dấu khả năng của chúng ta và chờ thời” (“hide our capabilities and bide our time”) [17]. Trên thực tế, TQ đã tạo cho mình thế đứng khá vững và uy tín khá thuận lợi trên trường quốc tế với việc liên minh với Nga Sô, nguồn cung cấp 85% vũ khí hiện đại, với Iran, Venezuela nguồn cung cấp dầu hỏa dài hạn. Do đó, TQ tuy nuôi nhiều tham vọng nhưng tỏ ra rất dè dặt trong hành động đối với HK; dĩ nhiên, họ chẳng ngại ngùng chèn ép các nước nhược tiểu như VN để chiếm đoạt lãnh thổ, lãnh hải và tài nguyên của ta khi họ có thể làm được.

Giá trị Biển Đông đối với TQ ra sao?

Biển Đông được TQ coi như là một “ao nhà” một vùng biển có giá trị chiến lược về quân sự, kinh tế và năng lượng. TQ tuyên bố chủ quyền của họ trên hơn 75% diện tích biển Đông. TC đã chiếm toàn bộ Quần Đảo Hoàng Sa từ tay VNCH năm 1974. Năm 1988 đến nay, TQ chiếm thêm 8 đảo và bãi đá ngầm của VN và Đá Vành Khăn (Mischief Reef) của Philippines và đang lăm le chiếm đoạt toàn bộ Trường Sa, thiết lập trục Tam Á- Hoàng Sa-Trường Sa không những kiểm soát toàn vùng biển Đông, làm căn cứ bàn đạp tiến đến các quốc gia quanh vùng mà còn kiểm soát trung tâm khai thác dầu khí trong vùng biển Đông nữa. Trên bình diện quốc tế, các nhà chiến lược thế giới đều hiểu rằng hải trình chuyên chở dầu qua eo biển Malacca ( Strait of Malacca ) rất quan yếu và ngày càng trở nên một vùng căng thẳng. Mỗi năm, hơn 50,000 tàu chuyên chở dầu từ Trung Đông qua eo biển này để chuyển đến các quốc gia trên vòng đai Thái Bình Dương ( Pacific Rim ). Theo US Energy Information Administration, nếu eo biển Malacca bị phong tỏa tại khoảng giữa Singapore và Indonesia sẽ gây cho gần nửa số tàu dầu của thế giới phải thay đổi hải trình và đe dọa giòng cung cấp dầu hơn 15 triệu barrels mỗi ngày [18]. Do đó, sự hiện diện của Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ rất cần thiết cho vùng Biển Đông nhằm duy trì an ninh, giòng cung cấp dầu hỏa và giúp kinh tế tăng trưởng cho các quốc gia trong vùng và Vòng Đai Thái Bình Dương. Nhiều nhà chiến lược Trung Quốc tin rằng nếu Đệ Thất Hạm Đội HK kiểm soát Biển Đông hoặc phong tỏa eo biển Malacca thì sẽ gây nên vấn đề lớn cho Trung Quốc, không những đe dọa khả năng chiến đấu vì thiếu nhiên liệu mà còn phá hỏng chiến lược trở thành bá chủ Á Châu của họ. Thế nên, thật dễ hiểu, Trung Quốc đang lăm le chiếm đoạt và kiểm soát toàn vùng biển Đông phong phú tài nguyên dầu hỏa này vì thuận tiện mọi bề cho nhu cầu quân sự và năng lượng của họ. Chiếm dụng vùng dầu khí nằm ngay sát lục địa, không phải di chuyển qua eo biển yết hầu Malacca còn gì tốt hơn cho TQ?

Chiến lược Biển Ðông của Trung Quốc thế nào?

Tập trung vào 5 lãnh vực sau :

Thứ 1: Phát Triển Hạm Ðội Nam Hải Để Dùng Sức Mạnh Trấn Át Biển Đông


Năm 2000, TC đã hoàn tất xây dựng một căn cứ Hải Quân tối tân tại Tam Á (Sanya) tọa lạc ở mỏm cực Nam đảo Hải Nam . Tam Á là căn cứ hải quân thứ nhì của Trung Quốc cho tàu ngầm nguyên tử và là điểm xuất phát của Hạm Ðội Nam Hải có khả năng đối đầu với Hải Quân Hoa Kỳ và các quốc gia ASEAN trong vùng. Hiện nay (2009) hạm đội này bao gồm 2 hải đội tiềm thủy đĩnh, 2 hải đội khu trục hạm và nhiều hộ tống hạm với tổng số lên đến 50 tàu chiến. Theo các nguồn tin tình báo, Hạm Đội Nam Hải là hạm đội có nhiều tàu chiến nhất và được trang bị các chiến hạm hiện đại như loại khu trục hạm Kình Ngư 311 và tàu ngầm nguyên tử loại 094 đầu tiên của Hải Quân Trung Quốc. Hơn nữa, tất cả lực lượng thủy quân lục chiến và phần lớn tàu đổ bộ của Trung Quốc trực thuộc hạm đội này; có nghĩa là TQ dự trù nhu cầu lớn nhất cho lực lượng đổ bộ chính là vùng Biển Đông, giáp với đất liền Việt Nam và các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có quân đội Việt Nam đồn trú. Năm 2005, TC đã mua chiến đấu cơ Sukhoi Su-33 của Nga để trang bị trên hàng không mẫu hạm Variag, 67 ngàn tấn mua lại của Ukraine (có thể chở được 18 Su-33 hay 25 Mig 29) cho nhu cầu huấn luyện và tăng cường kế hoạch “tiến ra đại dương” của Hải Quân. Tam Á sẽ trở thành căn cứ tiền phương nối trục Tam Á-Hoàng Sa-Trường Sa của Hạm Đội Nam Hải nhằm kiểm soát toàn vùng biển Đông.

Thứ 2: Kiểm Soát Toàn Vùng Biển Đông - Bảo Vệ Yếu Huyệt Malacca

Tăng trưởng kinh tế tại Trung Quốc đã dẫn đến chương trình hiện-đại-hóa quân đội, đồng thời gia tăng các nhu cầu về tài nguyên, lương thực, và thể diện quốc gia. Trung Quốc thành lập nhiều căn cứ hải quân để triển dương sức mạnh, từ bờ phía Nam của Miến Điện, đến đá Vành Khăn tại Trường Sa, rồi Đảo Phú Lâm (Woody Island) tại Hoàng Sa, và Tam Á tại Hải Nam. Hiện nay, Trung Quốc ngày càng phụ thuộc vào nguồn năng lượng nhập cảng, khoảng 75% số lượng dầu nhập cảng của Trung Quốc là từ những vùng chính trị bất ổn ở Trung Đông và Phi Châu. Họ phải vận chuyển bằng tàu thủy đến Trung Quốc qua nhiều hải trình xa xôi, mà hải trình huyết mạch qua eo biển Malacca có thể bị cắt đứt trong một cuộc khủng hoảng nào đó. Hồ Cẩm Đào nhiều lần nhắc tới mối quan tâm chiến lược của Trung Quốc đối với Biển Đông liên quan tới an ninh năng lượng chuyện vận qua "yếu huyệt Malacca.”

Thứ 3: Áp Đặt Chủ Quyền Bằng Sức Mạnh Quân Sự

Trung Quốc hiện đang dùng sức mạnh quân sự để áp đặt chủ quyền lãnh thổ của mình trong toàn vùng Biển Đông trên các đối phương trong khu vực bằng chiến thuật “cả vú lấp miệng em” để vừa đánh trống vừa ăn cướp” phân bua với thế giới. Sự chênh lệch về sức mạnh kinh tế và quân sự, kèm theo các phản ứng rất chừng mực và đơn lẻ, từ các đối thủ ASEAN như Việt Nam, Phillipine hay Malaysia đã khiến Trung Quốc “tự tung tự tác” bất chấp luật pháp quốc tế, tùy tiện vẽ lại bản đồ có lưỡi Rồng bao gọn toàn vùng Biển Đông. TQ đã bắn giết dằn mặt ngư dân các nước láng giềng cũng như áp lực các công ty dầu khí quốc tế phải rút khỏi Biển Đông nhằm phô trương sức mạnh cùng khả năng bảo vệ chủ quyền “áp đặt” của họ.

Thứ 4: Âm Thầm Xé Lẻ Và Triệt Tiêu Đối Kháng

Trung Quốc đang xử dụng chiến thuật “lấy thịt đè người” để lấn áp Việt Nam và các nước ASEAN. Thái độ và hành động nói trên của Trung Quốc đã gây thiệt hại cho kinh tế và đe doạ nền độc lập và sự vẹn toàn lãnh thổ của Việt Nam . Thái độ và hành động ngang ngược đó chỉ dựa vào sức mạnh quân sự mà lại không dựa trên một cơ sở pháp lý nào của luật biển quốc tế và nguy hiểm hơn nữa, TQ đang thực hiện giấc mộng bá quyền, khi nhu khi cương từng bước theo lối “tầm ăn dâu” chiếm đoạt Biển Đông. Đầu tiên, TQ đã mở những cuộc tấn công quân sự quy mô nhỏ để lấn chiếm dần lãnh thổ và lãnh hải trong vùng Biển Đông như chiếm Hoàng Sa năm 1974, một số đảo thuộc Trường Sa của Việt Nam vào năm 1988; hoặc đoạt Mischief Reef từ tay Philippine năm 1995. TQ cũng loại dần đối kháng từ các nước thuộc khối ASEAN liên hệ đến cuộc tranh chấp biển Đông bằng kinh tế và ngoại giao như tăng viện trợ, hợp tác kinh tế, tha nợ, v.v. Tuy nhiên, TQ khôn hơn, không cần xử dụng quân sự để bị mang tiếng là kẻ hiếu chiến mà dùng quyền lợi dẫn dụ với chiêu bài “hợp tác song phương” áp dụng “diễn biến hòa bình” để từng bước lấy được Biển Đông. Đây chính là lý do TQ kêu gọi “hợp tác khai thác Biển Đông” với Phi Luật Tân năm 1999 rồi với tay sai CSVN năm 2008 qua dự án 29 tỉ Mỹ kim; từ đó, Bắc Kinh mới có thể xé lẻ từng nước, gây nghi kỵ mất tình đoàn kết giữa các nước ASEAN để thủ lợi.

Thứ 5: Độc Quyền Thăm Dò và Khai Thác Dầu Khí Trong Vùng Biển Đông.

Đối với chính phủ Trung Quốc, thì chính sách năng lượng đã trở thành một bộ phận của chính sách đối ngoại. Hiện nay khoảng một nửa lượng dầu và khí đốt cần dùng của Trung Quốc phải lệ thuộc vào các nguồn cung cấp ở nước ngoài. Vì lý do bảo toàn năng lượng, Trung Quốc đã đặt ưu tiên cao cho việc dự trữ càng nhiều dầu hỏa và khí đốt mà họ có thể lấy được trong phạm vi lãnh thổ trên đất liền, các vùng biển ngoài khơi, hoặc càng gần nội địa càng tốt, bao gồm cả Nga Sô và miền Trung Á. Thế nên, bằng mọi cách, kể cả cấm nhập thị trường Hoa Lục, TQ sẽ không để các hãng dầu ngoại quốc dò tìm hoặc khai thác dầu trong vùng biển Đông. Năm 1994, Trung Quốc phản đối hợp đồng dầu khí giữa Việt Nam và ExxonMobil ở vùng Thanh Long với lý do vùng này thuộc Quần Đảo Trường Sa. Năm 2007, Trung Quốc gây áp lực buộc British Petrolium ngưng hoạt động trong dự án dầu khí có vốn đầu tư 2 tỉ $ US với Việt Nam ở hai vùng Mộc Tinh, Hải Thạch. Các vùng Thanh Long, Mộc Tinh, Hải Thạch nằm trong bồn trũng Nam Côn Sơn [19]. Việc áp lực 3 công ty BP của Anh, ONGC của Ấn Ðộ và ExxonMobil của Hoa Kỳ trong thời gian vừa qua đã nói lên ý định độc chiếm biển Đông của TQ.
Phạm Văn Thanh

CHIẾN LƯỢC BIỂN ĐÔNG CỦA VIỆT NAM

Có lẽ giải pháp cho những người Việt Nam yêu nước nằm trong các bài học ngàn đời của lịch sử: Trung Quốc là nước lớn nằm sát nách Việt Nam luôn nhòm ngó và muốn sát nhập nước ta vào lãnh thổ của họ. Khi Việt Nam hùng cường thì TQ hoà hoãn, khi VN suy yếu thì TC không ngần ngại thôn tính nước ta và TQ đã từng chiếm đoạt lãnh thổ và đô hộ Việt Nam gần 1000 năm.

Giá trị Biển Đông đối với Việt Nam ra sao?

Biển Đông là vùng biển chiến lược của VN, không những là vùng chứa nguồn lợi hải sản, dầu khí mà còn là vùng đệm cho an ninh quốc phòng về mặt phía Đông. Do đó, muốn bảo vệ Biển Đông, VN phải có một hải lực hùng hậu và hệ thống phòng thủ mà tầm ngắn nhất cũng phải là vòng cung phía Đông của trục Hoàng Sa-Trường Sa xuống đến Nam Côn Sơn. Mặt phía Tây của VN là hai nước yếu Lào và Cam Bốt, muốn tăng khả năng phòng thủ, VN phải liên kết với hai nước Đông Dương này; nếu không, TQ sẽ chẳng bỏ qua cơ hội chuyển một lộ quân xuống trấn dọc theo biên giới giữa ba nước Việt-Miên-Lào để vửa lợi dụng vùng biên giới làm căn cứ hậu cần an toàn, bao vây VN, hoặc từ đó, dễ dàng thọc nhưng mũi dùi đánh vào bất cứ cạnh sườn nào của nước ta rồi rút hoặc cắt nước ta thành nhiều đoạn nếu chiến tranh giữa TQ-VN xảy ra.

VN có căn bản pháp lý vững vàng về chủ quyền trên các hải đảo và thềm lục địa

Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam mà theo luật quốc tế do Hội Nghị Liên Hiệp Quốc 1982 Về Biển quy định rõ rệt là những tài nguyên và hải sản "thuộc quốc gia ngay bên cạnh thềm lục địa đó." Trong khi Việt Nam trưng ra đủ chứng từ và tài liệu thuyết phục về quyền sở hữu trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thì Trung Quốc chỉ dựa vào một tấm bản đồ do họ tự vẽ lại để đòi tất cả Biển Đông thuộc về nước họ bất chấp luật Biển và đề nghị thương lượng tay đôi với các quốc gia nhỏ bé ở Đông Nam Á để dễ bắt nạt.

Quyền lợi về dầu lửa ở Biển Đông. Những hòn đảo nhỏ không có giá trị nhiều nhưng vì có thể tàng trữ lượng dầu lửa lớn lao, giúp đất nước phồn vinh; cho nên, VN phải bảo vệ quyền lợi đó. Trữ lượng dầu hỏa nằm ở trong không những thềm lục địa mà còn ở vùng biển trên thềm lục địa gọi là vùng kinh tế đặc quyền, từ bờ lục địa ra đến 200 hải lý. Trước năm 1975, các hãng dầu ngoại quốc thăm dò tiềm năng dầu khí cho biết rằng ngoài khơi Việt Nam , nhiều nhất là vùng Trường Sa có trữ lượng dầu và khí đốt rất lớn. Cuộc thăm dò bởi Viện Nghiên Cứu Địa Dư Của Các Nước Ngoài của Nga Sô năm 1995 ước lượng có khoảng 6 tỉ barrel dầu trong đó có 70% là khí đốt trong vùng Trường Sa. Trong khi đó, TQ tuyên bố, biển Đông là “Vịnh Ba Tư thứ nhì” (the second Persian Gulf ” và một số nhà chuyên môn của họ đã quả quyết rằng biển Đông có thể chứa đến 210 tỉ barrels dầu hỏa và hơi đốt [20].

Chiến lược hiện nay của CSVN thế nào?

Đối phó với cường quốc nhiều tham vọng phía Bắc, trên thực tế, vì VN quá yếu về cả quân sự, lẫn kinh tế, không dựa vào Nga Sô được nữa thì chỉ còn hai đường: dựa vào HK để cương quyết chống TQ thì phải thay đổi thể chế hoặc đi với TQ thì phải chịu phục tùng họ để bám quyền. Trong nước thì Đảng CSVN bị đaị khối dân tộc bất mãn chống đối, bên ngoài thì bị áp lực quốc tế, nên tập đoàn lãnh đạo CSVN tìm đủ cách kéo dài thời gian bám quyền bất kể đến quyền lợi quốc gia và sự tồn vong của dân Việt. Áp lực của Tây Phương thì CSVN chẳng sợ bao nhiêu vì còn có TQ chống lưng đàng sau. Thế nên, Đảng CSVN luôn chọn cách “đu giây” với cà TQ và HK để “nín thở qua sông” hưởng lợi; nhưng khổ nỗi, chính áp lực của TQ trên VN mới là nỗi lo triền miên của tập đoàn lãnh đạo. Vì HK thì ở xa mà TQ lại ở ngay bên cạnh, nên chúng ta thấy rằng VN do vì nhu nhược và vì cô độc nên hiện nay tỏ ra quy phục TQ để hầu được yên thân, nắm quyền càng lâu càng tôt. Do đó, trên mặt nổi, chúng ta nhận thấy chiến lược của VN có thể tóm gọn như sau:

1. Đu giây với TQ và HK chứ không thật tâm ngả về bên nào

Tập đoàn lãnh đạo CSVN không tin TQ nhưng sợ bị TQ thôn tính thì “mất cả chì lẫn chài” nên “bắt cá hai tay” nhằm hưởng lợi từ cả TQ và HK. Mặt khác, VN chỉ muốn lợi dụng HK và Tây Phương để tránh bị tẩy chay, mất nguồn đầu tư vào VN, mất lợi nhuận riêng của họ và quan trọng hơn, để làm đối trọng với TQ và họ ở giữa yên thân hơn, làm “ngư ông hưởng lợi.” Nhưng chắc chắn là VN không thể qua mặt được TQ và cả HK; nên chi, cả 2 nước này cũng chỉ đãi bôi, giao thương với VN để cùng có lợi và “play games” với nhau mà thôi. Nghĩa là, TQ đã nắm được thóp VN nên điều khiển con rối VN dễ dàng theo ý họ. TQ cho phép VN đi với HK một phần để lấy lợi nhuận mà họ cũng được hưởng lây, một phần để mở “van an toàn” cho dân bớt chống đối Nhà Nước CSVN, phần nữa TQ làm bộ hiếu hòa, thân hữu để chứng tỏ VN còn tự chủ dưới mắt người dân sẽ giúp CSVN tồn tại hầu tiếp tục làm tay sai cho TQ.

2. Tránh Đụng Độ và Chịu Lép Vế Với TQ Để Tồn Tại

Vì quá yếu, VN cảm thấy khó thể đương cự nổi TQ khi họ ra tay chiếm đoạt nước ta nên đành nhắm mắt đưa chân, cố tránh đụng độ trực tiếp về quân sự, để giảm thiểu thiệt hại, mất mát, hi sinh nhiều hơn. CSVN biết rằng HK không nuôi dã tâm chiếm đoạt VN; nhưng ngược lại, nguy cơ VN bị TQ nuốt gọn rất cao. Vì vậy, thế đu giây của CSVN đành nghiêng hơn 60% về TQ để an thân, làm giàu nương theo lời chỉ đạo của TQ, đàn áp dân Việt để củng cố địa vị, bám quyền hưởng thụ càng lâu càng tôt. Đây là lý do mà TQ ngày càng lấn lướt và chiếm đoạt lãnh hải, lãnh thổ và uy hiếp nước ta về mọi mặt từ quân sự, chính trị đến văn hoá, kinh tế. Thế nên, mặc dù HK có thật lòng muốn giúp đỡ VN chăng nữa mà với thái độ “khiếp nhược” đó thì khi gặp nạn, bị TQ xâm lăng chẳng hạn, VN cũng đừng mong HK sẽ tận tình can thiệp, yểm trợ hoặc nhập cuộc đánh TQ giùm họ khi hai nước chưa tạo được mối liên minh quân sự để có thể tin cậy nhau.

3. Dựa Vào TQ, Bám Quyền Bằng Bạo Lực

Về mặt công luận quốc tế, Trung Quốc tích cực tuyên truyền cho chủ quyền của họ ở Biển Đông, mặc dù VN có chính nghĩa và vững vàng về mặt pháp lý, nhưng Việt Nam và các nước ASEAN tranh chấp ở Biển Đông không được quốc tế ủng hộ nhiều vì thiếu đoàn kết và yếu nỗ lực ngoại vận. VN sợ cứng rắn quá với TQ thì sẽ gẫy nên chấp nhận chính sách “chịu bẻ cong để không bị gẫy” chẳng dám phản kháng để tồn tại dưới áp lực TQ. Vì vậy, riêng Đảng CSVN thì họ chẳng sợ áp lực quốc tế bao nhiêu mà cũng chẳng ngại bị dân chúng lật đổ vì có TQ chống lưng và hệ thống công an bảo vệ. Tuy nhiên, với một cộng đồng hải ngoại đoàn kết, gây dựng được thực lực, tạo được uy tín đối với quốc tế và yểm trợ hữu hiệu cho quốc nội thì một cuộc cách mạng phế bỏ chế độ CSVN có cơ thành tựu.

Chiến lược hiện nay của CSVN có hữu hiệu, hoá giải được nguy cơ và tham vọng của TQ hay không? Chắc chắn là KHÔNG! Nó chỉ giúp tập đoàn lãnh đạo CSVN bám quyền mà thôi mà nguy hai cho cơ đồ VN khôn lường; vì rằng, càng ngày VN càng bị suy yếu, càng bị lệ thuộc nhiều hơn vào TQ về mọi mặt thì TQ sẽ chiếm VN chỉ là vấn đề thời gian, nếu toàn dân Việt chưa nhận thức được nguy cơ mất nước này...

Chiến lược thích hợp mà VN nên áp dụng để bảo vệ đất nước thế nào?

Thứ 1: Việt Nam Phải Có Tự Do, Dân Chủ Để Tạo Tình Đoàn Kết Dân tộc

Nếu các nhà lãnh đạo Việt Nam thật sự “yêu nước, thương dân” thì có thể áp dụng chính chiến lược của TQ “che dấu khả năng của mình và chờ thời” để dùng “gậy ông đập lưng ông;” bên trong thì âm thầm xây dựng nội lực, thuận lòng dân, hợp mệnh Trời và bên ngoài thì theo đuổi chính sách đối ngoại mềm mỏng, sáng suốt, đặt quyền lợi đất nước trên hết. Nghĩa là ổn định xã hội bằng chính sách an dân hợp vương đạo, phát triển kinh tế để có đủ phương tiện hiện-đại-hoá quân lực, khôn khéo trên trường ngoại giao để tạo thế và lực thật sự của dân tộc nhờ vào lòng dân, sức người và sự yểm trợ của quốc tế.

Chúng ta dễ dàng nhận thấy lý do thất bại của quân Nguyên trong kế hoạch dùng hải, lục quân xâm lăng Việt Nam vào cuối thế kỷ 13. Lúc bấy giờ, mặc dù quân Nguyên đã chiếm toàn Châu Á, cộng với nửa Châu Âu, nhưng đánh Việt Nam thì thất bại cả 3 lần vì nhà Trần phát huy tinh thần Diên Hồng để vận dụng được sức mạnh dân tộc một lòng chống giặc. Như vậy, chỉ một chính quyền thật sự “của dân, do dân, vì dân” và được lòng dân trong và ngoài nước mới có thể huy động đại-đoàn-kết dân tộc và tạo điều kiện xây dựng cho dân giầu, nước mạnh, đủ khả năng tự túc tự cường và bảo vệ đất nước mà thôi.

Thứ 2: Việt Nam Phải Xây Dựng Khả Năng Quốc Phòng

Trong nhiều năm qua, chính quyền Hà Nội đã duy trì quân đội theo mục tiêu chính trị để bảo vệ chế độ thay vì có khả năng bảo vệ đất nước. Việt Nam nên chú trọng vào những kế hoạch bảo vệ lãnh thổ và lãnh hải một cách thực tế thích hợp với nhu cầu và khả năng quốc phòng. Việc phát triển quân đội mà Hải Quân Việt Nam tương lai, trước tiên, nên chú trọng vào xây dựng một hạm đội gồm nhiều chiến hạm hiện đại hạng nhẹ, hỏa lực mạnh, vận tốc nhanh, dễ xoay sở. Chống lại cuộc tấn công từ ngoài biển Đông vào thì HQVN nên tập trung vào các lãnh vực phòng thủ nhiều lớp: phòng thủ cận duyên, phòng thủ viễn duyên và phòng thủ chiến lược .

Hiện nay, các quốc gia đồng minh trong vùng từ Nhật Bản, Ðại Hàn, Ðài Loan, không nhiều thì ít, đều phát triển quốc gia của mình với sự bảo vệ của Hoa Kỳ. Để tạo thế gián chỉ (deterence) nhằm giảm thiểu rủi ro xung đột quân sự với Trung Quốc, Việt Nam cần tạo thực lực và có liên minh quân sự tốt đẹp với Hoa Kỳ và các nước ASEAN. Trong tương lai gần, viễn tượng thành lập các Hải Đoàn Đặc Nhiệm gồm Hàng Không Mẫu Hạm với các chiến hạm của Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ấn Độ, Úc Đại Lợi, Tân Tây Lan tuần tiễu biển Đông chung với Việt Nam và ASEAN đặt căn cứ tại Cam Ranh là điều thực tế trước hành động bá quyền của TQ.

Trung Quốc chỉ dám bắt nạt những nước nhỏ yếu với cấp lãnh đạo nhu nhược mà thôi. Trong cuộc tranh chấp ở Biển Đông Trung Hoa (East China Sea) với Nhật Bản, Trung Quốc đơn phương tiến hành thăm dò, khai thác dầu trên vùng biển tranh chấp bất chấp sự phản đối quyết liệt của Nhật. Từ tháng 8, 2003, chính phủ Trung Quốc đã ký các thỏa thuận khai thác với các công ty dầu khí Trung Quốc và nước ngoài như Royal Dutch Shell và Unocal với trị giá lên tới nhiều tỉ Mỹ kim. Nhật lên tiếng phản đối viện cớ rằng hoạt động khai thác này sẽ hút cạn nguồn dầu khí nằm sâu trong lòng biển thuộc về hải phận của Nhật. Trung Quốc bỏ ngoài tai phản ứng của đối phương và thường xuyên đưa tàu chiến và tàu ngầm tới vùng biển này để dằn mặt Hải Quân Nhật Bản. Trước hành động lấn át của Trung Quốc, Nhật đã quyết định đưa tàu thăm dò tới vùng biển tranh chấp vào tháng 7, 2004 để chuẩn bị thăm dò và khai thác cho phần mình. Đương nhiên, Trung Quốc quyết liệt phản đối và coi hoạt động này là vi phạm chủ quyền. Tuy nhiên, các phản ứng chỉ dừng lại ở mức ngoại giao và kinh tế. Căng thẳng lên cao độ từ khoảng cuối 2003 - đầu 2004, tới mức chiến tranh tưởng như đã cận kề [22]. Khi cả hai bên tỏ thái độ sẵn sàng đối đầu, nếu không muốn chiến tranh thì lối thoát duy nhất chỉ có thể là hợp tác khai thác. Sau nhiều vòng đàm phán, tới tháng 6, 2008, Nhật Bản và Trung Quốc đã đạt được thỏa thuận khai thác chung. Các khu vực khai thác chung đều nằm trên vùng giáp ranh giữa hải giới của hai nước, nhưng theo quan điểm của Nhật chứ không phải theo quan điểm của Trung Quốc (bản đồ). Rõ ràng là trong thỏa thuận này, đường ranh giới do Trung Quốc vẽ không có chút giá trị nào. Nhật Bản có thể phải nhượng bộ ít nhiều đứng từ lập trường của họ (thí dụ về quy tắc phân chia trong hợp tác khai thác) nhưng lập trường của họ về ranh giới trên biển Đông Trung Hoa đã được giữ vững .

Thứ 3: Việt Nam Cần Dựa Thế Liên Minh Quân Sự Để Đối Trọng Với TQ

Năm 1994, Trung Quốc khoán cho hãng Creston Energy Corporation của Hoa Kỳ thăm dò các lô khoan dầu Tư Chính 133, 134, 135 thuộc khu vực Huangan Bay . Những lời tuyên bố cứng rắn của Việt Nam nhằm bảo vệ chủ quyền dựa vào căn bản pháp lý kèm theo các hành động cương quyết đã khiến TQ phần nào chùn bước. Tuy nhiên, vì nhu cầu nhiên liệu và cậy vào sức mạnh, TQ sẽ chẳng dễ gì bỏ qua mà đang tìm mọi cách chiếm đoạt hoặc thủ lợi. Các nước thuộc khối ASEAN phải nhận thức được rằng sự an ninh của mỗi nước thành viện cũng như sự an ninh trong toàn vùng chỉ tốt hơn nếu mọi nước trong vùng Đông Nam Á cùng tham gia ASEAN và đoàn kết với nhau chống lại tham vọng bành trướng và ý đồ muốn nuốt gọn Biển Đông của TQ [21]. Điều này chưa xảy ra; nhưng trên thực tế, TQ đã thành công trong mục tiêu xé lẻ các nước ASEAN liên hệ đến tranh chấp trong biển Động. Thí dụ như Phillipine đã dễ dàng bị mua đứt để đồng ý ký thỏa thuận hợp tác song phương với Trung Quốc năm 1999 trong khi bỏ mặc Việt Nam sang một bên. Sau đó, vào cuối năm 2008, VN xé lẻ hợp tác với TQ ký hợp đồng 29 tỉ $ US cho TQ thăm dò và khai thác dầu khí, áp lực các công ty dầu khí của Anh, HK, Ấn Độ phải rút lui.

Thứ 4: Đưa Vấn Đề Biển Đông Ra LHQ để Giải Quyết:

Tận dụng phương tiện truyền thông và đường lối ngoại giao, VN nên vận động sự quan tâm và ủng hộ của dư luận quốc tế cho một giải pháp công bằng và hoà bình cho các tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông. Vấn đề chủ quyền lãnh thổ và lãnh hải của các nước liên hệ trong vùng Biển Đông phải được đưa ra LHQ giải quyết càng sớm càng tốt cho VN. Đương nhiên, TQ sẽ bất-hợp-tác hoặc ngăn cản và với tư thế mạnh của TQ hiện nay, LHQ cũng vô hiệu. Trong thỏa thuận hợp tác khai thác dầu khí giữa Nhật Bản và Trung Quốc, hai bên đã cùng viện dẫn Công Ứơc Quốc Tế về Luật Biển, trong khi Nhật Bản cho rằng phải xử dụng đường trung tuyến làm ranh giới thì Trung Quốc muốn dùng giới hạn thềm lục địa của nước này làm ranh giới [23].

Cách giải thích của TQ hay của Nhật Bản đều đã có tiền lệ, vì thế tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc cũng đặt trên cơ sở vững vàng. Tuy nhiên, trong cuộc tranh chấp ở Biển Đông, TQ hoàn toàn tự tiện tuyên bố chủ quyền với bản đồ chủ quyền gồm đường viền “lưỡi Rồng” bao phủ gần trọn Biển Đông mà không có cơ sở pháp lý gì chứng thực. Bất kể đến Công Ứơc Geneva về Thềm Lục Địa 1958 và Công Ứơc Quốc Tế về Luật Biển 1982, Trung Quốc vẫn không sửa lại bản đồ xác định chủ quyền của họ và ý đồ bá chủ biển Đông ngày càng lộ rõ. Dù thế nào, VN cũng phải cương quyết bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ, khẳng định rõ ràng chủ quyền trên vùng lãnh thổ và lãnh hải trong vùng Biển Đông gồm cả vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trước ngày 13 tháng 5 năm 2009. VN có lẽ sẽ đệ trình tài liệu xác định chủ quyền và thềm lục địa lên Liên Hiệp Quốc vào phút cuối để giảm thiểu phản ứng phẫn nộ của TQ. Nếu vì điều này mà gây nên tranh tụng với TQ, VN phải chủ động tạo nên một “case tố cáo TQ vi phạm chủ quyền, chiếm đoạt lãnh thổ lãnh hải của VN” thì đó là một điều tốt, và VN nên liên tục tố cáo để giữ vấn đề tranh chấp này sôi sục và trong vòng xử lý của LHQ.

Phạm Văn Thanh

(Xin xem tiếp Phần III: Biển Đông Nổi Sóng?)

Thứ Hai, 6 tháng 4, 2009

BÁO SINH VIÊN YÊU NƯỚC- TIẾNG NÓI TỪ TRÁI TIM

Tuy mới ra đời mới 3 số báo nhưng Báo Sinh viên yêu nước đã phản ánh những tâm tư nguyện vọng không chỉ trong giới sinh viên học sinh trong và ngoài nước nhưng còn thay mặt cả đa số dân chúng là những người yêu nước, yêu tự do dân chủ,căm ghét độc tài.Báo sinh viên yêu nước đã thay mặt nói lên những tiếng nói đau thương uất hận mà chúng tôi, quý vị không thể hoặc không dám nói.

Thật vậy, chỉ mới phát hành có ba số nhưng báo Sinh Viên Yêu nước thật sự đã gây lên tiếng vang lớn đối với cộng đồng Việt Nam Quốc Nội và Hải Ngoại.Báo đã làm nức lòng người dân trong nước, là nguồn động viên khích lệ người Việt Quốc nội trong phong trào đấu tranh đòi tự do, dân chủ.


Đối với cộng đồng người Việt Quốc Gia, báo Sinh Viên Yêu Nước cũng đem lại những chia xẻ về nỗi đau mất nước mà họ phải chịu 34 năm qua.Báo Sinh Viên Yêu nước chính là chiếc cầu nối cùng chia xẻ giữa người dân trong nước đang chịu cảnh mất tự do và người dân ngoài nước sống cuộc sống ly hương dù tự do nhưng cụng đau đáu cho một tương lai quay về quang phục quê hương.


Những cộng tác viên, biên tập viên của báo Sinh Viên Yêu Nước là những sinh viên sinh sống và học tập ở các nước, và thậm chí có nhiều sinh viên học tập ngay chính quê hương thân yêu.Những sinh viên dù bị nhồi nhét những tư tưởng Cộng Sản, những lý luận máC Lê nin và tư tưng Hồ Chí Minh, nhưng xuất phát từ lòng yêu nước, yêu tự do dân chủ nhân quyền , họ đã bí mật tham gia dấn thân vào công cuộc đấu tranh .Những ngòi bút, ý kiến của họ trên mặt báo là xuất phát từ trái tim.Mong sao báo Sinh ViênYêu Nước sẽ mãi mãi trường tồn, là người bạn sát cánh với những người yêu chuộng nền dân chủ.


Sài Gòn ngày 6/4/2009
THÁI DƯƠNG

Viết cho các bạn Việt Nam đói nghèo, thất thế

(Nếu được, kính nhờ quý vị chuyển cho bạn bè trong nước)

Các bạn Việt Nam đói nghèo, thất thế ở trong nước thân mến,
cc: Báo Sinh Viên Yêu Nước

Cách đây vài hôm tôi có dịp nói chuyện với một người bạn trong nước. Người bạn này nhận chân ra được sự gian tham của nhà cầm quyền CSVN là chướng ngại lớn nhất cho sự tiến bộ, công bằng của VN. Tư bản đỏ thì giàu sụ, bạn thì khố rách áo ôm. Người bạn tôi trách tôi và trách những người Việt hải ngoại như tôi là chỉ biết nói bằng cái miệng, nếu ngon tại sao không về nước mà chống Cộng.

Thưa các bạn,

Tôi cười khì. Sống là để mưu cầu hạnh phúc. Cơm áo, nhà cửa, tự do và an toàn là những căn bản của hạnh phúc, thiếu nó là bất hạnh ngay. Dĩ nhiên là hạnh phúc còn bao gồm nhiều thứ khác nhưng chẳng phải vậy ư? Các bạn đang chịu bất hạnh vì nhà cửa dột nát, cơm áo không đủ ấm no, quyền tự do không có, ấm ớ chỉ trích nhà cầm quyền là bị đàn áp, bắt giam, tức không có sự an toàn. Tôi đã có đủ. Khi tôi có đủ những thứ này rồi thì tôi bắt đầu nghĩ cho người khác, mà đầu tiên là cho đồng bào của tôi, tức là các bạn.

Nhưng ủa, thưa các bạn, tại sao tôi phải bỏ những căn bản hạnh phúc này, lao đầu về chỗ thiếu an toàn, mất tự do, để hy sinh cho các bạn? Kẻ đang thiếu thốn, nghèo đói, bị chèn ép, chịu đựng sự bất công là các bạn. Kẻ đang sống trong cái xã hội mục ruỗng, thối nát, mạnh ai nấy vơ vét, mạnh ai nấy rút ruột của công, xây cầu thì cầu sập, gái thì bán thân cho ngoại nhân, trai thì bán sức làm lao nô, là các bạn. Đứng lên giành lại quyền làm chủ, lật đổ cái phỉ quyền thối nát kia, để mưu cầu một cuộc sống bình đẳng, dân chủ, tự do và ấm no hay không là chuyện mà các bạn đóng vai chánh, tôi chỉ xin một vai phụ. Các bạn không làm thì các bạn suốt đời khom lưng cho đám tư bản đỏ và con ông cháu cha đè đầu cỡi cổ.

Thưa các bạn,

Nói xấu thì tôi không xấu, bởi vì tôi nào có hại ai, tôi vẫn chống đám cầm quyền VC đang đì các bạn, tôi vẫn làm điều mà một số người Việt tị nạn đã lãng quên. Nhưng nói tốt đến mức thánh thiện thì tôi cũng chẳng được như vậy, vì tôi không xả thân về VN để tranh đấu cho quyền lợi của các bạn. Ai đấu tranh thì tôi ủng hộ, về tinh thần, về tiếng nói và về tài chánh. Bằng nếu các bạn không đấu tranh thì chuyện các bạn nghèo, các bạn bị hiếp đáp, các bạn sống trong một quốc gia lạc hậu, tôi đành phó mặc. Chuyện đấu tranh là chuyện của các bạn. Tôi ghét bất công, tôi chửi bất công. Tôi ghét VC gian tham, tôi chửi VC. Tôi còn có bổn phận trả lại món nợ ân tình cho quốc gia mà tôi đang ở, cho xã hội đã ra tay cứu vớt tôi. Tôi đã là công dân của quốc gia này, nơi mà tôi được đối xử bình đẳng, nơi tôi có phần làm chủ, không cần hối lộ, móc ngoặc, khúm núm với bất cứ ai.

Các bạn có ba con đường chọn lựa, một là chạy ra hải ngoại như tôi, hai là đấu tranh cho bản thân các bạn, ba là suốt đời theo làm tôi tớ cho cái đám gian tham. Bạn chọn con đường thứ nhất, hôm nào gặp nhau trên mảnh đất tự do này chúng ta sẽ nhậu một bữa đã đời. Bạn chọn con đường thứ nhì thì tôi hoan hô và ủng hộ hết mình, còn chọn con đường thứ ba thì tôi cũng chẳng biết làm sao, đành để cho các bạn bị đè đầu, cỡi cổ.
Một người Việt hải ngoại (không đại diện cho ai hết),

Nguyễn văn Hoàng
(Hoàng Nguyên, hoang4eb@gmail.com )

Khi nào Tầu tấn công Việt Nam ?

Mỹ và Việt Nam nắm bắt tay tình nghĩa đậm đà hơn Tầu. vì chờ thời cơ Việt Nam và Tầu có mâu thuẫn đột biến nhỏ thì Tầu sẽ:

1 / Trên đường bộ phía bắc: dùng lực lượng bộ binh đông áp đảo 600km biên giới đổ bộ sang, thọc sâu vào các tỉnh phía bắc, dàn hàng ngang chiếm cứ toàn bộ phía bắc rút kinh nghiệm chiến thuật 1979.


2 / Đường bộ phía tây: tổ chức lực lượng ngay trong lòng Việt Nam với trang phục dân sự vũ khí hiện đại nhỏ gọn, từ Tây nguyên thọc sâu ép ra biển.


3 / Mũi phía nam: từ Trường Sa ở vào chiếm 6 tỉnh đồng bằng Nam bộ, thọc chéo ra miền Trung, tạt trái sang campuachia.

4 / Mũi phía đông: từ Hoàng Sa đánh, ép toàn bộ các tỉnh miền Trung, hoà nhập với mũi phía tây, dồn ngược lên Thanh Hóa, Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình, Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng.

Nếu thất bại: Mạnh, Triết, Dũng, Trọng rút sang Vân Nam đi Bắc Kinh. Vì cứu con trai, Dũng có thể tìm đường quay hoặc lộn sang Mỹ .


dothuan@sbcglobal.net