Thứ Bảy, 9 tháng 1, 2010

“DẬY MÀ ĐI HỠI ĐỒNG BÀO ƠI !” - LM NGUYỄN HỮU LỄ


Tôi xin mượn câu “DẬY MÀ ĐI HỠI ĐỒNG BÀO ƠI!” trong một bài hát khá phổ biến mà không nhớ tên tác giả để làm tựa đề cho bài khai bút đầu năm 2010. Xin chân thành cám ơn tác giả bài hát đã viết lên một câu rất phù hợp trong thời điểm lịch sử của Dân Tộc Việt Nam hiện nay. Trước tình trạng dầu xôi lửa bỏng với hiểm họa thôn tính của Bắc Phương đang gần kề câu hát “DẬY MÀ ĐI HỠI ĐỒNG BÀO ƠI!” không còn chỉ là một lời kêu gọi nhưng đã trở thành mệnh lệnh của Quốc Tổ ban ra cho đàn con dân nước Việt đang trong cơn ngủ mê.

Hiểm họa trước mắt

Nhiều người nhận định là trong thế kỷ 21 này, Trung Cộng đã ngoi lên hàng cường quốc cả về kinh tế lẫn quân sự và trở thành mối đe dọa chung cho cộng đồng thế giới. Nếu Trung Cộng trở thành mối đe doạ của thế giới thì Việt Nam là nạn nhân đầu tiên của kẻ láng giềng khổng lồ này. Trong thời gian gần đây ý đồ xâm lăng của Trung Cộng đối với Việt Nam đã hiện rõ nét qua các hành động lấn chiếm vùng biển, vùng biên giới, vùng Tây nguyên... là những sự kiện mà không một người Việt nam chân chính nào có thể làm ngơ được. Đây không phải là lần đầu mà dân tộc Việt nam phải đặt vấn đề đối phó với mộng xâm lăng của Trung Quốc. Lịch sử nước nhà qua các triều đại còn ghi lại những lần Tàu mang quân xâm chiếm nước ta, nhưng vì gặp phải ý chí quật cường bất khuất của Dân Tộc Việt Nam nên đã phải tháo lui.

Kinh nghiệm cay đắng này không làm Trung Quốc thui chột mộng xâm lăng nhưng ngược lại càng nung đúc quyết tâm phục hận khi thời cơ đến. Và thời cơ tốt nhất đã đến khi mà Trung Quốc dựng lên được một bộ máy lãnh đạo làm tay sai tại Hà Nội. Chính chế độ Việt gian cộng sản hiện nay vì quyền lợi của cá nhân và phe nhóm đã tự biến thành một chiếc cầu rộng thênh thang cho Trung Cộng tiến vào Việt Nam để thực hiện mộng xâm lăng ngàn đời của họ. Nếu không ngăn chặn kịp thời thì rồi đây Trung Cộng sẽ biến Việt Nam thành một chư hầu mà không phải tốn một viên đạn, không phải đổ một giọt máu!

Nếu ngày xưa khi Tàu mang quân sang đánh chiếm nước ta thì Triều đình đã huy động sức mạnh toàn dân chống trả và giặc đã phải tháo lui. Ngày nay lịch sử lại tái diễn, Trung Cộng lại giở trò thực hiện mộng xâm lăng nước ta trong lúc dân tộc ta lại bị chế độ Việt gian cộng sản trói tay. Đây là giai đoạn lịch sử đen tối nhất của Dân Tộc Việt Nam vì đang phải chịu cảnh một cổ hai tròng, vừa phải đối phó với Thù Trong lại vừa phải đương đầu với Giặc Ngoài. Bao lâu Thù Trong còn tồn tại thì hiểm hoạ giang sơn ta bị xâm chiếm và Dân Tộc ta bị đồng hoá bởi Giặc Ngoài là điều không thể nào tránh khỏi được.

Chế độ Việt gian cộng sản với bản chất vong bản chỉ biết phục vụ cho chủ nghĩa quốc tế ngoại lai và sẵn sàng làm đầy tớ cho Trung Cộng vì quyền lợi của cá nhân và phe nhóm. Nhận biết được sự căm thù của dân chúng nên chế độ Việt gian này luôn đề cao cảnh giác và bằng mọi cách phải vô hiệu hoá sức phấn đấu của thành phần đối kháng trong Dân Tộc mà họ coi là kẻ thù của chế độ. Cách tốt nhất để chế độ độc tài tự do thao túng ngay cả việc cúi đầu dâng đất dâng biển cho Trung Cộng mà không phải gặp sự phản kháng nào, đó là làm thế nào cho người dân phải ngủ mê.

Người dân trong nước ngủ mê

Nếu hiểu một cách thông thường thì ngủ là trạng thái tự nhên của cơ thể để lấy lại sức, nhất là sau khi con người trải qua thời kỳ căng thẳng về tinh thần và quá mệt nhọc về thể chất. Đa số đồng bào trong nước hiện đang ngủ mê trước thời cuộc vì họ đã quá mệt mỏi sau một cuộc chiến tranh kéo dài suốt mấy chục năm. Chẳng những thế, sau khi quê hương vừa im tiếng súng với sự chiến thắng của những kẻ bạo tàn, chế độ cộng sản đã theo gương Liên xô và Trung Cộng áp dụng chính sách bỏ đói để cai trị. Cả một dân tộc bị bỏ đói và bị cướp đoạt trắng tay. Trong cơn đói triền miên đó người dân không còn nghĩ gì khác hơn là tìm miếng ăn cho no bụng và ngủ mê trước thời cuộc..

Nhưng người dân đâu có được yên thân để tìm miếng ăn, họ còn bị đẩy vào cơn lốc điên đảo bởi những biện pháp như kiểm kê và tịch thu tài sản, rồi tới nào là đổi tiền, tập trung cải tạo, cưỡng bức dân đi vùng kinh tế mới, nào là đánh tư sản, hợp tác xã nông nghiệp, họp tổ dân phố, quản lý thị trường, quản lý hộ khẩu, ngăn sông cấm chợ... Dân chúng lúc đó giống như những hạt thóc nằm trong chiếc cối xay khổng lồ đang quay tít, họ bị nhào lộn, chà sát, dập nát, có người bị nghiền tán ra như cám. Trong khi đó hệ thống công an được thiết lập như một mạng nhện bủa vây toàn thể đất nước. Một công an phụ trách 12 nóc gia, mắt công an như mắt khóm, con ong cái kiến cũng không qua lọt. Chế độ công an trị lại luôn có nhà tù và họng súng hỗ trợ. Trong hoàn cảnh đó người dân trong nước kiệt quệ cả về tinh thần lẫn thể xác và luôn sống trong nỗi sợ hãi và có nhu cầu cần phải ngủ .

Sau khi tạo điều kiện cho thế hệ lớn tuổi ngủ mê, tới khi hàng loạt chế độ cộng sản Đông Âu và cả Liên xô sụp đổ, bọn Việt cộng lo sợ dân chúng, nhất là thế hệ trẻ theo gương đó vùng lên giật sập chế độ nên chế độ đã “gây mê” giới trẻ bằng cách mớm cho họ những thú vui thời thượng như các mốt ăn mặc thời trang, nhảy nhót, phòng trà, đua xe, ca hát, thi hoa hậu.... và bao nhiêu thú vui khác. Nói tóm lại chế độ Việt gian cộng sản đã thành công trong việc biến một số đông dân Việt thành ra số người bị liệt kháng và đang ngủ mê trước những tội ác tày trời của chúng đang tàn phá quê hương. Nặng nề nhất là tội làm tay sai nối giáo cho giặc.

Đồng bào hải ngoại ngủ mê

Về phía Cộng Đồng người Việt hải ngoại mà đại đa số là những người trốn chạy chế độ cộng sản hiện đang sống trên các đất nước tự do là tiếng nói mạnh mẽ nhất để vạch trần tội ác của chế độ Việt gian cộng sản. Sau hơn 30 năm bỏ nước ra đi, cộng đồng người Việt hải ngoại trở nên giàu có và phát triển về nhiều mặt. Nhiều người rất lạc quan, gọi Cộng Đồng Việt Nam Hải Ngoại là thành trì chống cộng kiên cố bất khả xâm phạm, là một vùng “communist-free”. Dĩ nhiên chế độ Việt cộng gian manh không dại gì nhắm mắt làm ngơ trước mối lợi kếch sù của số người Việt giàu có này mang lại. Họ phải khai thác nguồn tài chánh gần như vô tận của 3 triệu người Việt hải ngoại và dĩ nhiên mục tiêu sau cùng phải là cho số người chuyên nghề chống đối này ngủ mê trước tội ác tày trời của chúng. Cái gọi là Nghị quyết 36 là một tính toán rất tinh vi bởi những cái đầu nham hiểm nhất của chế độ..

Có thể nói lúc đầu tất cả người Việt liều chết bỏ nước ra đi trong biến cố 30-4-1975 đều mang tâm trạng hận thù cộng sản. Nhất là khi tên thủ tướng Việt cộng Phạm Văn Đồng mạt sát những người trốn chạy chế độ bằng câu nói “ Đàn ông là đám ma cô, đàn bà là loại đĩ điếm” thì họ càng căm hận hơn bọn Việt cộng hơn. Biết như vậy nên chế độ quỉ quyệt đã phải hoạch định kế sách từng bước để tiếp cận với cộng đồng Việt Nam hải ngoại. Trước tiên là kế sách “nhập thành” thật tinh vi và không ai để ý cho đến khi thức tỉnh thì quá muộn.

Viết tới đây tôi nhớ lại một câu chuyện “Dân thành Ninivê chống quỉ” mà tôi đọc trong Nguyệt San Hiệp Nhứt một tờ báo của giáo phận Vĩnh Long vào thời xa xưa. Câu chuyện lấy bối cảnh của thành Ninivê trong Cựu Uớc và chuyện này khá vui và đầy ý nghĩa nên tôi chỉ đọc một lần còn nhớ mãi, hôm nay tôi muốn kể lại để kính tặng đồng bào hải ngoại.

Chuyện kể thế này, ngày nọ có tin là một đàn quỉ đang trên đường hướng về thành Ninivê. Nghe tin này dân trong thành hoảng sợ và nhốn nháo cả lên, vì ai cũng sợ quỉ . Trước tình trạng đó, các bô lão và những người khôn ngoan triệu tập dân chúng đến cuộc họp để tìm phương chống quỉ. Dân chúng bầu lên một Ủy Ban Chống Quỉ gồm những người có uy tín và có kinh nghiệm về quỉ.

Việc đầu tiên, Ủy Ban Chống Quỉ phổ biến cho dân chúng biết là quỉ rất khó nhận diện. Quỉ cũng sinh hoạt nói năng giống như người, chỉ có một điểm duy nhất khác với người là khi bước đi chân quỉ không chạm đất . Vì thế mọi người phải đề cao cảnh giác trong việc phân biệt người với quỉ. Nếu hồ nghi thì hãy cúi sát mặt đất quan sát. Tiếp đến Ủy Ban ra lệnh tu sửa lại tường thành và phân công các tráng đinh trang bị gậy gộc để ban đêm thay phiên nhau canh gác cổng thành. Vừa tan cuộc họp, dân thành Ninivê xông ra đường với một khí thế chưa từng thấy. Người khiêng đá, kẻ đốn cây, người mài dao kẻ chọn gậy...lo việc chống quỉ.

Đêm đầu tiên, thành Ninivê được canh gác cẩn thận chưa từng có. Sau nửa đêm đàn quỉ kéo đến và thấy cổng thành được canh gác cẩn thận nên chúng không dám vào, nhưng rút lui ra ngoài ẩn nấp và... tính quỉ kế.

Qua đêm thứ hai, thứ ba, rồi thứ tư, thứ năm, thứ sáu và vài đêm tiếp theo vẫn không có gì xảy ra. Không một lần nào toán “xung kích” phải đụng độ giao tranh với quỉ. Họ bắt đầu thấy nản và tay chân cảm thấy ngứa ngáy. Sau 10 đêm, các phiên canh gác trở thành nặng nề và các “dũng sỉ” cảm thấy khổ sở và mắt mở không lên khi canh gác. Trong khi đó dân thành có nhiều người bắt đầu có thói quen thỉnh thoảng cúi người sát mặt đất nhìn qua liếc lại.

Tin đồn có người “chân không chạm đất” được loan truyền nhanh chóng và người dân bắt đầu nghi ngại nhau bằng cách quan sát người khác, để ý coi khi bước đi chân họ có chạm đất hay không. Từ đó hiện tượng cúi sát mặt đất để quan sát càng lúc càng phổ biến. Một thời gian sau cách nói “chân không chạm đất” là những tiếng phổ thông nhất dân thành Ninivê dùng để triệt hạ những người mình không ưa hoặc vì tư thù.

Nhận thấy kế sách mua thời gian để ru ngủ chiến sĩ và tạo nghi ngờ trong dân chúng đã thành công, bầy quỉ bèn tung ra “quỉ kế” sau cùng. Một đêm giá lạnh, trong khi một số “dũng sĩ” trong các toán xung kích đang quấn chăn ngủ gà ngủ gật, bọn quỉ từ bên ngoài thành nhẹ nhàng ném vào mỗi nhóm một vài hòn đá. Những dũng sỉ đang ngái ngủ giật mình thức giấc, nhìn qua ngó lại không thấy ai, tưởng là toán bên cạnh ném đá muốn chọc tức mình. Họ bèn gọi nhau dậy và kéo qua hỏi tội toán kế bên, thế là một trận ẩu đả xảy ra. Đêm đó các “dũng sỉ” chiến đấu vô cùng ác liệt vì đây là lúc họ mới thực sự được giao tranh và có cơ hội để xử dụng những thế võ mà họ đã dày công tập luyện trong chiến dịch chống quỉ. Nhưng rất tiếc là không phải giao tranh với quỉ mà là giao tranh với các toán bạn. Kết quả, người nằm chết, kẻ bị thương nằm la liệt. Trong lúc các toán xung kích đang mải mê quần thảo để triệt hạ nhau thì bầy quỉ ngang nhiên đi vào thành. Có vài dũng sỉ bị thương cố mở mắt ra nhìn thấy bầy quỉ ung dung bước qua, chân của chúng không chạm đất!

Món quà giao lưu tình cảm

Sự hăng hái chống cộng của Cộng Đồng Việt Nam Hải Ngoại, mặc dù đa số chỉ bằng lời nói và qua các cuộc biểu tình, nhưng cũng bất lợi cho bộ mặt gian ác của chế độ Việt cộng nên chế độ có nhu cầu phải cho cộng đồng này im tiếng trong cơn ngủ mê. Một ngày đẹp trời đồng bào Việt Nam hải ngoại sững sờ khi bất thần nhận được món quà đặc biệt của chế độ Việt gian cộng sản gởi ra tặng. Món quà đó là một danh hiệu cao quý và đầy yêu thương “Núm ruột xa ngàn dậm”. Ôi! Cái tên nghe qua nó thân thương và đầy tình nghĩa thế nào! Từ nay cái tên “tục” mà trước kia tên thủ tướng Phạm Văn Đồng lả một kẻ tục tằn thô lỗ dùng để nhục mạ đồng bào hải ngoại “Đàn ông là đám ma cô, đàn bà là hạng đĩ điếm” đã bị lui vào dĩ vãng. Món quà hậu hĩnh này của Việt cộng đã làm cho một số người Việt hải ngoại ngất ngây vì sung sướng! Không ngờ cuộc đời tỵ nạn lại được một bước thăng hoa như thế.

Sau đó chế độ gởi ra hàng loạt lời kêu gọi Việt Kiều Yêu Nước mang tiền về góp phần xây dựng quê hương, từ đó bộ mặt Cộng Đồng Việt Nam tỵ nạn cộng sản bắt đầu có sự thay đổi. Một số người xưa nay rất hăng hái hoan hô đả đảo trong các cuộc biểu tình chống cộng, từ nay e dè trong lời nói. Nhiều người bắt đầu né tránh các cuộc biểu tình, nếu kẹt quá phải đi biểu tình thì cố lẩn tránh đừng bị chụp hình đưa lên báo. Từ khi có phong trào Việt Kiều Yêu Nước về thăm quê hương, một số khá đông người Việt hải ngoại bắt đầu ngủ mê trước những hành vi tội ác tày trời của chế độ Việt cộng.

Những “Núm ruột xa ngàn dặm” này ngủ mê là thượng sách vì mặc dù là mang danh Việt Kiều Yêu Nước mang tiền về xây dựng quê hương nhưng sau khi bước xuống máy bay còn phải qua cửa khẩu Tân Sơn Nhất. Tại đây hành khách phải làm thủ tục nhập cảnh khá rườm rà. Riêng thành phần Việt kiều về nước không được phép quên hai thủ tục bất thành văn nhưng rất qua trọng, một là kẹp đôla vào passport khi trình giấy tờ, hai là phải chứng tỏ là mình bị tật đui, điếc và câm trước tội ác tày trời của chế độ Việt cộng.

Liều thuốc an thần

Mặc dù một số “Núm ruột xa ngàn đậm” đã ngủ mê vì có nhu cầu về Việt Nam, nhưng số người không có nhu cầu này vẫn tiếp tục chửi bới, vẫn tuyên truyền nói xấu chế độ và Việt cộng cần phải cho họ ngủ. Đối với thành phần này không thể áp dụng biện pháp hành hạ cho mệt để họ phải ngủ như người trong nước. Cũng không thể bắt chẹt tại cửa khẩu Tân Sơn Nhất như các Việt Kiều yêu Nước, nhưng cuối cùng chế độ cũng tìm ra được một liều thuốc tiên làm cho lớp người này phải ngủ, liều thuốc đó có tên “Tôi không làm chính trị”. Bất cứ ai chỉ cần ngậm liều thuốc này vào mồm sẽ ngủ mê trước hành động tội ác của chế độ Việt gian cộng sản.

Điều bất hạnh cho dân tộc là có nhiều người không đủ trình độ để hiểu cho thấu đáo hết ý nghĩa của hai chữ Chính Trị. Trong đầu óc nông cạn của họ, Chính Trị chỉ là đơn thuần là một thứ gì dơ bẩn đồng nghĩa với những âm mưu đen tối của những vụ ám sát, đảo chánh, giết người... Cũng có người ngậm liều thuốc “Tôi không làm chính trị” vào mồm để che giấu cho sự hèn nhát và biện minh cho thái độ vô trách nhiệm của mình.

Những người này không hiểu, hoặc cố tình không muốn hiểu, khía cạnh cao cả khác của hai chữ Chính Trị. Chính trị là một nghệ thuật cai dân trị quốc mang lại hạnh phúc cho người dân. Chính trị còn là việc tranh đấu cho công bằng xã hội , loại trừ sự gian dối lưu manh lừa đảo của kẻ nắm quyền. Chính trị còn là hành động lên án sự bất công, tranh đấu cho lẽ phải và sự thật. Chính trị là hành động anh dũng thách thức bạo quyền khi lên tiếng bênh vực cho quyền tự do của con người bị chế độ vô nhân tước đoạt... và còn bao nhiêu nghĩa cao đẹp khác của hai chữ Chính trị.

Liều thuốc an thần “Tôi không làm chính trị” được phổ biến khá rộng rãi trong nhiều nhiều thành phần và nhiều giới khác nhau. Có người sau khi ngậm liều thuốc an thần này vào mồm đã trở thành những chiếc loa có công xuất cao để phê bình chỉ trích và “đâm sau lưng” những ai dám lên tiếng tố cáo tội ác tày trời của chế độ Việt gian cộng sản! Điều đáng nói ở đây là trong khi có nhiều người sợ hai chữ Chính Trị như sợ hủi thì chế độ Việt gian lại có kế hoạch tinh vi để đào tạo thế hệ làm chính trị chuyên nghiệp ngay từ lúc mới có trí khôn để tiếp tục nắm giữ vai trò đè đầu cưỡi cổ Dân Tộc. Nào là “cháu ngoan bác Hồ”, nào là thiếu nhi quàng khăn đỏ, nào là học tập “tư tưởng và đạo đức của bác Hồ”, nào là đoàn thanh niên cộng sản, nào là phấn đấu vào đảng...

Kế hoạch nhồi nhét Chính Trị này không chỉ trong các buổi học tập chuyên môn mà cũng được lồng vào trong chương trình giáo dục ngay từ cấp mẫu giáo. Trong thời cả miền Bắc đói, các cán bộ Việt cộng chia nhau đi vào các trường mẫu giáo và tiểu học để diễn màn kịch như sau. Cán bộ vào lớp bảo các em chắp tay cầu Chúa ban cho bánh mì, cầu mãi không thấy bánh. Kế đến cầu với Phật, đợi mãi cũng chẳng thấy bánh đâu. Bấy giờ cán bộ bảo các em cầu với Bác và đảng, một lúc sau có mấy bao bánh mì đưa tới phân phát cho các em. Cán bộ kết luận: Chúa, Phật đều vô nghĩa, chỉ có Bác và đảng mới thương các cháu. Câu chuyện nghe thật ngô nghê, nhưng lại có tác dụng rất mạnh trong tâm trí trẻ con: trên đời này không ai thương dân bằng Bác và đảng!

Trong khi các em thiếu nhi miền Nam chỉ biết học toán cộng đại loại như “5 quả trứng cộng với 6 quả trứng, tổng cộng là bao nhiêu quả trứng?” thì bọn cán bộ Việt cộng tuyên truyền nhồi nhét vào đầu trẻ con miền Bắc cách học toán đố như sau: “Trong tuần rồi du kích Đồng Hới bắn rơi 3 máy bay Mỹ, bắt sống 2 giặc lái, du kích Hải Phòng bắn rơi 5 máy bay Mỹ, bắt sống 2 giặc lái. Hỏi tổng cộng trong tuần qua du kích ta bắn hạ bao nhiêu máy bay Mỹ và bắt sống được bao nhiêu giặc lái?” Một bài toán đố đơn giản như vậy, ngoài việc giúp các em biết cộng các con số còn nhồi được vào đầu óc thơ ngây của trẻ em 3 điều: một là du kích ta có thể bắn hạ máy bay Mỹ; hai là máy bay Mỹ giết dân ta nên phải căm thù Mỹ; ba là giặc lái là những tên ác ôn phải trừng trị. Ngoài ra hình ảnh các “du kích ta” nhỏ tí ti như con chuột nhắt mà trói tay tên “giặc lái Mỹ ” khổng lồ là một hình ảnh hào hùng, các em chỉ mong lớn lên cho nhanh để được đi làm du kích bắn hạ máy bay Mỹ và trói tay "giặc lái”!

Điều này cũng dễ hiểu vì không ai dám đụng chạm tới hai chữ Chính Trị thì chế độ Việt gian không còn lựa chọn nào khác hơn là phải huấn luyện một lớp người làm chính trị chuyên nghiệp để tiếp tục cha truyền con nối vai trò đè đầu cưỡi cổ Dân Tộc!

Mong chờ lãnh tụ

Nhiều người hiện nay vẫn đang khoanh tay ngồi chờ lãnh tụ xuất hiện để lãnh đạo cuộc vùng lên của Dân Tộc và họ sẽ bước theo. Cũng chính vì biết được niềm khát vọng đó mà trong thời gian qua xuất hiện một vài lãnh tụ “tự phong” và đã lôi kéo được một số người, nhất là những kẻ mong được có một tước hiệu kèm theo với tên tuổi quá đơn điệu của mình. Nhiều người được phong ban chức tước và trở thành tai to mặt lớn trong Cộng Đồng. Đồng bào đang chờ đợi những việc làm ích quốc lợi dân của các “lãnh tụ” và quần thần, nhưng cuối cùng rồi chẳng có gì xảy ra và mọi việc đâu lại vào đó, chỉ có các cơ sở in danh thiếp là hưởng được chút lợi.

Có lẽ tới lúc này đồng bào chúng ta học được bài học là không hề có một lãnh tụ từ trời rơi xuống, cũng không thể có một lãnh tụ do Mỹ, Anh, Pháp...dựng lên, lại càng không thể có một lãnh tụ tự sắm tuồng cho mình. Xin đồng bào đừng phí công ngồi chờ lãnh tụ xuất hiện để rồi thời gian và tuổi đời qua đi mà không đóng góp được gì cho đại cuộc cứu nguy Dân Tộc. Ngày nay sẽ không có lãnh tụ nào cả mà chỉ có những con người kiên trì làm việc trong âm thầm và từng bước phục hồi lại niềm tin đã bị sứt mẻ trong lòng dân tộc. Ngày nay chỉ có những con người chứng tỏ được tính lương thiện, lòng quyết tâm và khả năng thực hiện những việc làm cụ thể trong tầm tay. Ngày nay chỉ có những con người dám mạnh dạn đứng lên nhận lãnh trách nhiệm trước lịch sử trong hoàn cảnh cực kỳ nguy khốn này của Dân Tộc.

Lời kêu gọi thống thiết: “ĐẬY MÀ ĐI HỠI ĐỒNG BÀO ƠI” đang vang rền khắp nơi. Hãy để mệnh lệnh này của Quốc Tổ ngấm sâu vào từng mạch máu của giòng giống Việt Nam anh hùng. Một khi kẻ trước người sau đáp lại lời kêu gọi đó và cuối cùng muôn người như một đồng lòng chỗi dậy sau cơn ngủ mê và quyết tâm đứng lên để hợp lực dẹp bỏ Nội Thù và chống Ngoại Xâm, lúc đó sẽ tìm thấy một lực lượng lãnh đạo từ trong lòng Dân Tộc mà ra.

Giờ của lịch sử đã điểm

Mặc dù chế độ Việt gian đã dùng hết mọi thủ đoạn để ru ngủ dân tộc, nhưng Dân Tộc Việt Nam hào hùng còn biết bao nhiêu người thành tâm thiện chí quyết tâm cởi bỏ ách thống trị của chế độ bạo tàn và muốn noi gương các bậc tiền nhân trong việc đoàn kết chống ngoại xâm. Lịch sử cho thấy Dân Tộc Việt Nam khi gặp cơn quốc biến luôn có khuynh hướng hợp lòng chung sức để đối phó. Khi phải đương đầu chống ngoại xâm chính là lức sức mạnh ý chí của dân tộc cộng với bản năng sinh tồn được khơi dậy và cháy bùng lên một cách mãnh liệt nhất. Trong hoàn cảnh dầu xôi lửa bỏng trước hiểm hoạ xâm lăng của Trung Cộng hiện nay, một lần nữa lời kêu gọi “DẬY MÀ ĐI HỠI ĐỒNG BÀO ƠI” được vang lên và sức mạnh của ý chí và bản năng sinh tồn của Dân Tộc Việt Nam anh hùng được mang ra thử thách.

Nếu muốn bảo tồn được đất đai sông núi của tổ tiên để lại, nếu muốn duy trì được bản sắc của nòi giống Việt, nếu muốn duy trì được văn hoá phong tục và ngôn ngữ của dân tộc khỏi bị Hán hóa, nếu muốn nước Việt Nam yêu quý của chúng ta không trở thành một tỉnh bang của Trung Quốc trong tương lai thì Dân Tộc Việt Nam không còn lựa chọn nào khác hơn là muôn người như một phải lên tiếng đáp lại mệnh lệnh khẩn thiết của Quốc Tổ “DẬY MÀ ĐI”.

DẬY MÀ ĐI để đánh thức những thành phần dân tộc còn đang ngủ mê vì thủ đọan “gây mê” của chế độ Việt gian cộng sản.

DẬY MÀ ĐI để mạnh dạn bước ra khỏi phạm vi của tôn giáo và phe nhóm mình mà nghĩ tới quyền lợi tối thượng của dân tộc.

DẬY MÀ ĐI để tìm gặp và bắt tay chung sức với những con người Việt nam chân chính cũng đang trăn trở trước vận mệnh của Dân Tộc và muốn đóng góp công sức và trí tuệ của mình vào đại cuộc để tranh đấu vì tương lai giống nòi.

DẬY MÀ ĐI để khi soi gương không phải hổ thẹn với tiền nhân với bao anh hùng liệt nữ đã hy sinh xương máu trong cuộc chiến dựng nước và giữ nước.

DẬY MÀ ĐI để khỏi phải bị mang tiếng hèn của hạng “giá áo túi cơm” chỉ biết lo vinh thân phì gia, chỉ biết sống để hưởng thụ và vui chơi trong khi bao nhiêu người giờ này đang bị nhốt trong tù cộng sản vì dám tranh đấu cho dân tộc.

DẬY MÀ ĐI để mỗi người một tay quyết tâm tháo gỡ guồng máy cai trị của bọn Việt gian do Trung Cộng dựng lên để nối giáo cho giặc trong âm mưu xâm chiếm nước ta

Và cuối cùng hãy DẬY MÀ ĐI để cùng với toàn dân quyết tâm bảo vệ Giang Sơn và Dân Tộc Việt Nam không bị rơi vào tay kẻ thù đến từ phương Bắc.

Dân Tộc Việt Nam chiến đấu không vì hận thù nhưng Dân Tộc Việt Nam anh hùng này quyết tâm chiến đấu vì lẽ sống còn của Dân Tộc.

Auckland ngày 1 tháng Giêng 2010

Linh mục NGUYỄN HỮU LỄ

Thứ Sáu, 8 tháng 1, 2010

Đại Sứ Trung Quốc Tại Hà Nội Thách Đố Dân Tộc Việt Nam


12 ngày trước khi diễn ra các buổi lễ xưng tụng về 60 năm quan hệ Việt Trung (18/1/1950 – 18/1/2010), ngày 6 tháng 1 vừa qua, ông Tôn Quốc Tường, đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam đã có một buổi họp báo tại Hà Nội. Đa số nội dung xoay quanh vấn đề biển Đông và những quan điểm của Bắc Kinh liên quan đến mối quan hệ Việt Trung. Trong các phát biểu của Tôn Quốc Tường, quan điểm của Bắc Kinh về vấn đề biển Đông đã cho thấy rõ “thái độ câu giờ” đối với Việt Cộng và “hăm dọa” đối với dân tộc Việt Nam.

Về phía Việt cộng, Tôn Quốc Tường khuyên nên: tạm gác lại “tranh chấp” biển Đông, chờ điều kiện chín mùi rồi giải quyết, trong khi ưu tiên cho hoạt động phát triển kinh tế xã hội ở hai nước. Họ Tôn cho rằng hai phía đã giải quyết xong vấn đề phân định biên giới trên đất liền và phân định Vịnh Bắc Việt; còn việc giải quyết vấn đề biên giới trên biển thì nên gác lại khi điều kiện thuận tiện.

Về phía dân tộc Việt Nam , Tôn Quốc Tường cho là: hợp tác sẽ phát triển (còn) đấu tranh sẽ thất bại. Tuy họ Tôn nói ngắn gọn, nhưng qua lời phát biểu này, rõ ràng là Tôn Quốc Tường đã nói lên quan điểm của Bắc Kinh và của cả lãnh đạo Hà Nội rằng họ sẽ trấn áp và tiêu diệt mọi nỗ lực đấu tranh chống lại sự bá quyền của Bắc Kinh trên biển Đông mà họ gọi là biển Nam Hải.

Điều chúng ta cần nói rõ ở đây là căn cứ trên Luật Biển của Liên Hiệp Quốc vào năm 1988, Trung Quốc không có một cơ sở pháp lý nào để có chủ quyền trên biển Đông. Những chủ trương mà Bắc Kinh đưa ra vùng chủ quyền hình lưỡi bò trên biển Đông chỉ là sự xâm chiếm trắng trợn; như họ đã từng xâm chiếm Hoàng sa (1974) và Trường sa (1988) của Việt Nam . Do đó cái gọi là “tranh chấp” biển Đông do phía Bắc Kinh đưa ra chỉ là để từng bước hợp thức hóa sự xâm chiếm của họ và đặt các quốc gia liên hệ ở vào thế đã rồi trong tiến trình gọi là “đàm phán song phương”. Đây là thủ đoạn mà Bắc Kinh đã từng dùng đối với Nhật Bản khi tranh chấp quần đảo Senkaku. Hay đối với Nam Dương, khi Bắc Kinh đổ tiền viện trợ để qua đó, thuyết phục Nam Dương đồng ý gác lại các tranh chấp, hầu cùng nhau khai thác vùng “tranh chấp” biển Đông.

Đến lượt Việt Nam , giọng điệu của Tôn Quốc Tường cho ta thấy rõ là Bắc Kinh đang dùng đối sách: vừa chiêu dụ, vừa răn đe để từng bước khống chế biển Đông.

Thứ nhất, chủ trương “tạm gác lại tranh chấp, chờ cơ hội chín mùi” là một đòn hiểm độc của Bắc Kinh. Trung Quốc đã thành công trong việc xâm chiếm 75% thềm lục địa của Việt Nam, khi biến nó thành trở thành nơi gọi là “tranh chấp”. Mặt khác, quan hệ giữa Hà Nội và Bắc Kinh hiện nay không là phải là mối quan hệ bình đẳng. Trung Quốc vừa là quan thầy, vừa là chỗ dựa của Cộng sản Việt Nam trong nhiều thập niên qua. Do đó, nếu có mang ra “đàm phán” thì Cộng sản Việt Nam sẽ phải chấp nhận những điều kiện của Bắc Kinh đưa ra như họ đã từng để mất 700 cây số vuông biên giới qua Hiệp ước về biên giới trên đất liền (1999) và mất hơn 10 ngàn cây số vuông biển qua Hiệp định phân ranh Vịnh Bắc Việt (2000). Chờ cho đến “cơ hội chín mùi” cũng là cách mà Hà Nội muốn nhờ Tôn Quốc Tường nói dùm với công luận Việt Nam để không phê phán những hành động yếu hèn của Cộng sản Việt Nam hiện nay.

Thứ hai, chủ trương “hợp tác cùng nhau phát triển kinh tế xã hội giữa hai nước” là sự phủ dụ của quan Thái Thú đối với tiểu quốc chư hầu. Kinh tế Việt Nam hiện nay hoàn toàn bị chi phối bởi hàng hóa Trung Quốc, với độ nhập siêu từ Trung Quốc càng ngày càng nhiều - tăng từ 200 triệu Mỹ Kim năm 2001 lên đến 4,1 tỷ Mỹ Kim năm 2003, 7 tỷ Mỹ Kim năm 2007, 11 tỷ Mỹ Kim năm 2008. Trung Quốc chủ yếu xuất khẩu hàng công nghiệp sang Việt Nam trong khi Việt Nam chủ yếu xuất khẩu sang Trung Quốc những sảm phẩm thô, hoặc sơ chế khai thác từ các quặng mỏ. Năm 2008, Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc 4,2 tỷ Mỹ Kim gồm dầu thô, cao su, cà phê, than đá và lâm thủy sản; trong khi Việt Nam nhập từ Trung Quốc 15,2 tỷ Mỹ Kim gồm hàng công nghiệp và đồ gia dụng. Họ Tôn nói rằng, Trung Quốc sẽ cố gắng đẩy kim ngạch thương mại giữa hai nước đạt 25 tỷ Mỹ Kim trong năm nay, cho thấy là Việt Nam tiếp tục nhập siêu từ Trung Quốc từ 15 đến 16 tỷ Mỹ Kim. Điều này cho thấy là sự “hợp tác” mà họ Tôn đề xướng chỉ là đưa Việt Nam vào vòng khống chế của Bắc Kinh mà thôi.

Thứ ba, chủ trương “đấu tranh sẽ thất bại” là lời răn đe và cảnh cáo của họ Tôn đối với dân tộc Việt Nam . Khi phóng viên của tờ Tiền Phong hỏi về vụ Ngư dân Việt Nam bị hải quân Trung Quốc đánh đập, cướp những dụng cụ đánh cá thì họ Tôn đã cho rằng đó là những tin tức sai sự thật. Họ Tôn nói rằng chính ông ta kiểm chứng thì hải quân Trung Quốc đã đối xử rất nhân đạo và tạo điều kiện thuận lợi cho ngư dân cập bến khi bị tai nạn ngoài khơi (Sic). Luận điệu tráo trở nói trên của họ Tôn chính là chủ trương hai mặt của Bắc Kinh: thần phục hay là bị tiêu diệt. Trong quan điểm của họ Tôn thì biển Đông đã nằm trong chủ quyền của Bắc Kinh và vì thế người Việt Nam không nên “tranh đấu” để giành lại vì Trung Quốc sẽ sẵn sàng ra tay. Việc một viên đại sứ dám tuyên bố ngay tại Thủ đô của một nước đang có vấn đề với quốc gia họ bằng giọng điệu thách đố “đấu tranh sẽ thất bại” trong dịp kỷ niệm 60 năm quan hệ, rõ ràng là họ Tôn và tập đoàn Bắc Kinh đã không những coi thường lãnh đạo Hà Nội mà còn khống chế và sai khiến tập đoàn này, đàn áp mọi cuộc tranh đấu bảo vệ Hoàng sa – Trường sa như đã từng đàn áp vụ 9 nhà dân chủ bị kết án 59 năm tù vì tội đã treo biểu ngữ chống Trung Quốc.

Qua những phát biểu của họ Tôn nói trên, lòng tự trọng và lòng yêu nước của người dân Việt Nam sẽ không thể nào im lặng trước sự thách đố của Bắc Kinh. Khi dùng đến nhóm từ “Đấu tranh sẽ thất bại” cho thấy là Bắc Kinh đã thấy rõ sức đề kháng mạnh mẽ và liên tục của người dân Việt Nam trong nhiều năm vừa qua. Đặc biệt là từ khi có những cuộc biểu tình của thanh niên sinh viên, văn nghệ sĩ vào cuối năm 2007 nhằm chống lại Bắc Kinh cho lập huyện Tam Sa trực thuộc đảo Hải Nam để quản trị hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa. Ngoài ra, những cơ quan truyền thông của Cộng sản Việt Nam loan tải rộng rãi lời thách đố của họ Tôn sau cuộc họp báo, chứng tỏ là Hà Nội cũng đã đồng tình và muốn nhờ lời của họ Tôn để răn đe những ai đặt vấn đề xâm chiếm biển Đông của Bắc Kinh đối với lãnh đạo Hà Nội kể từ nay.

Đây là một sự nhục nhã của dân tộc Việt Nam có giòng máu bất khuất, oai hùng. Đây là dấu hiệu cho thấy là sau khi mất đất biên giới, mất vùng biển Vịnh Bắc Việt, việc mất biển Đông chỉ còn là thời gian nếu chúng ta không hành động kịp thời.

Lý Thái Hùng

Ngày 8/1/2010 .


Thứ Tư, 6 tháng 1, 2010

Con đường đất trên cánh đồng hoang... (Trần Văn Bá)


Trang mạng tranvanba.org được cải tiến. Về hình thức lẫn nội dung. Để thích ứng nỗ lực bảo trì và phát huy tinh thần Trần Văn Bá với hiện tình đất nước.

Trong chiều hướng đó, những mục tiêu mà Trần Văn Bá Tương Hội hằng theo đuổi, được cập nhật và xác định, cùng với ngôi thứ của các vấn đề chuyên chở tương lai Việt Nam.

Ba bình diện được đặc biệt chú trọng :

1) Bài vở. Những tài liệu, phân tích, nhận định được tuần tự trình bày ở đây, kể từ tháng giêng năm 2010, đều bắt nguồn từ một trăn trở và cùng hướng về một mục tiêu : minh định quyền lợi của dân tộc Việt Nam trong bối cảnh thế giới hiện đại.

Từ khi xã hội loài người đưọc hình thành với những thực thể được gọi là dân tộc, tổ chức đời sống tập thể trong một khuôn khổ gọi là quốc gia, kinh nghiệm lịch sử cho thấy vận mạng của mỗi dân tộc, cũng như con đường tiến hóa của nhân loại nói chung - hòa bình hay chiến tranh, tự do hay nô lệ, văn minh hay man rợ -, đều tùy thuộc, chủ yếu, vào cái ý thức và cái khả năng mà ở mỗi quốc gia, “quyền lợi dân tộc” được minh định, thực hành và bảo vệ.

Thế nhưng, có gì khó hơn là minh định quyền lợi của một dân tộc mà ta không nên lầm lẫn với mơ ước của nó và nhất là với quyền lợi của giai cấp lãnh đạo của nó.

Trong trường hợp Việt Nam, khó khăn hầu như nan giải vì « mâu thuẫn bản thể » của chế độ hiện hành: do kiến trúc, chế độ cộng sản Việt Nam có sứ mạng ưu tiên thi hành nghĩa vụ quốc tế và phụng sự quyền lợi của một đảng (cộng sản) và một giai cấp (giai cấp công nhân trên lý thuyết, nhưng trong thực tế giai cấp tiếm quyền tham nhũng). Quyền lợi dân tộc chỉ là một chiêu bài sáo rỗng được tận dụng từ khi đảng được thành lập, năm 1930, để sách động quần chúng và biện minh cho công cuộc tiếm quyền và áp đặt ý hệ chuyên chế toàn trị.

Vì thế, ở Việt Nam hôm nay, "quyền lợi dân tộc" không còn trùng hợp với "quyền lợi quốc gia" và do đó chỉ có thể được minh định bởi xã hội dân sự, trên căn bản hệ giá trị của dân tộc, ngoài vòng kiềm tỏa của nguồn máy nhà nước và của giai cấp cầm quyền.

Hiện tình đất nước, đặc biệt những đe dọa trong quan hệ quốc tế và sự mục rữa của nền tảng xã hội và con người Việt Nam, đòi hỏi "quyền lợi dân tộc" phải được cấp bách minh định và xác định.

Lịch sử đau thương của dân ta, đặc biệt trong thời kỳ cận đại, cũng như trào lưu tiến hóa của nhân loại chỉ rõ ra rằng : Tự do Tiến bộ, Công Lý và Sự Thật là những nhân tố trung ương và chỉ đạo của hệ giá trị tác thành quyền lợi của dân tộc Việt Nam. Đó cũng chính là những giá trị mà Trần Văn Bá và thân phụ, cố dân biểu Việt Nam Cộng Hòa Trần Văn Văn, đã suốt đời phụng sự.

2) Do đó, trong trang mạng mới, chúng tôi đã bổ sung và cấu trúc lại trang Trần Văn Bá và mở ra một trang đặc biệt về cố dân biểu Trần Văn Văn. Những trải nghiệm của hai cuộc đời đấu tranh đó có thể hữu ích cho cuộc tranh đấu vì quyền lợi dân tộc hôm nay.

Xin để độc giả, đặc biệt thân hữu và thân quyến của Trần Văn Bá, tự do thẩm định cố gắng của chúng tôi nhằm:

- trước nhất tôn trọng tinh thần và nhân sinh quan của hai người đã nằm xuống : cả hai đểu rất chán ghét đầu óc gia đình trị, tâm địa phe đảng, tính tự tôn, mọi chế độ áp bức, mọi hình thức mạo nhận và hư danh;
- kế đến tuân thủ lập trường bất di dịch của gia đình họ : tuyệt đối không yêu cầu, trực tiếp hay gián tiếp, bất cứ một vinh dự hay một thừa nhận nào cho cố dân biểu Trần Văn Văn hay cho Trần Văn Bá, từ phía người Việt hay từ phía ngoại quốc; nhưng đồng thời tích cực góp phần vào mọi nỗ lực chân chính nhằm, xuyên qua hai tấm gương Trần Văn Văn, Trần Văn Bá, vinh thăng chánh nghĩa quốc gia, bảo vệ quyền lợi dân tộc, đem lại tự do và tiến bộ cho đất nước.(xem hồi ký cụ bà Trần Văn Văn, đoạn nói về Tướng Nguyễn Văn Thiệu và đám tang cụ Trần Văn Văn ở trang Trần Văn Văn)

3) Để kiện toàn nỗ lực, chúng tôi đã vận động và qui tụ những thiện chí phù trợ cuộc đấu tranh của Trần Văn Bá. Đặc biệt, chúng tôi siết chặt hợp tác với Uỷ Ban Quốc Tế Trần Văn Bá. Ngoài ra gia đình Trần Văn Bá cũng đã cung cấp, và cho phép chúng tôi phổ biến, một số tài liệu và hình ảnh chưa từng được lưu hành. Và để mở đầu, chúng tôi đăng tải ở đây, qua nhiều kỳ, bài nói chuyện của ông Trần Văn Tòng, chủ tịch Uỷ Ban Quốc Tế Trần Văn Bá, với học giả Thường Kiến. Bài nói chuyện đề cập đến những vấn nạn trọng yếu của Việt Nam và phân tích cặn kẽ những điểm được chúng tôi trình bày sơ lược ở trên.

tranvanba.org được cải tiến đúng vào thời điểm giỗ thứ 25 của Trần Văn Bá. Đó là một sự trùng hợp, cũng tốt thôi, nhưng không là động cơ thúc đẩy nỗ lực của chúng tôi. Bởi vì Giỗ thứ 25, 20, hay 15, v.v. chỉ là một tập tục nặng về hình thức qui ước. Tai ương, thách thức, nguy cơ không hẹn, không chờ hạn kỳ 15, 20 hay 25 năm để tác động. Trần Văn Bá không chờ thời hạn 10, 15, 20 năm cộng sản hóa toàn diện nước nhà để làm chuyện đã làm.

Động lực thôi thúc chúng tôi là những chuyển hóa vô hình nhưng nguy hại, lũng đoạn nền tảng xã hội, kinh tế, văn hóa, tinh thần của nước ta; là những đe dọa trong cục diện quốc tế, đặc biệt quan hệ láng giềng ở Đông Nam Á và tác động của cuộc khủng hoảng tài chánh và kinh tế toàn cầu; là tiếng khắc khoải kêu thương « có hy vọng gì không ? » của những người đã hay đang khoán trắng cuộc đời trong ngục tù cộng sản, trong trại tỵ nạn bần cùng, trong gọng kềm của chế độ bạo ngược.

Ta không thể nói có hay không có hy vọng. Hy vọng có khác chi con đường đất trên cánh đồng hoang. Thoạt tiên không có con đường. Nhưng nơi mà người đời không ngớt đi qua, một con đường, tất yếu, sẽ lộ ra....

http://www.tranvanba.org/

Những người phụ nữ Việt Nam thầm lặng

Gần đây, khi chính quyền Việt Nam gia tăng việc bắt giữ và tiến hành xét xử những nhà bất đồng chính kiến, thì những bài phỏng vấn với những người thân của họ cũng được đăng tải khắp nơi để các thông tin được cập nhật. Thế nhưng, ít ai biết được những người ở ‘hậu phương’ đó là ai, cuộc sống ra sao, và ảnh hưởng của họ đối với những nhà bất đồng chính kiến.

Công bằng và nhân ái


Nhiều người hẳn vẫn không quên hình ảnh cô luật sư trẻ xinh đẹp Lê Thị Công Nhân, thành viên Đảng Thăng tiến bị chính quyền kết án 4 năm tù và 3 năm quản chế. Không ít người khâm phục cô về khí phách, và lòng dũng cảm của cô với câu nói nổi tiếng ‘sống thế nào thì sống vẫn phải giữ lòng tự trọng và lương tâm của mình. Chỉ có lương tâm và lòng tự trọng của tôi nói với tôi rằng: không bao giờ đầu hàng’.

Tất nhiên, đối với chính quyền thì cô bị coi là ngoan cố khi kiên quyết không thừa nhận tội gán cho mình là ‘hoạt động tuyên truyền chống phá nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt nam’. Vậy điều gì đã tạo nên một Lê Thị Công Nhân như vậy? câu trả lời nằm ở người mẹ của cô, bà Trần Thị Lệ.

Là người chứng kiến những thăng trầm của đất nước dưới cả hai chế độ, nếm trải mọi vui buồn, bà luôn ước ao được sống dưới một xã hội công bằng và nhân ái, và đó chính là nguồn gốc của cái tên Công Nhân.

Bà Lệ sinh ra và lớn lên ở Sài gòn, nay gọi là thành phố Hồ Chí Minh. Bà kể tuổi thơ của bà không giàu có gì nhưng khá êm đềm cho đến ngày 30 tháng 4 khi cuộc chiến tranh giữa hai miền Nam Bắc chấm dứt. Những thay đổi trong cuộc sống xã hội và kinh tế đã khiến gia đình bà trở nên nghèo khó. Tiền tử tuất của người cha làm việc trong ngành cứu hỏa của chính quyền trước giờ bị chính quyền mới cắt bỏ.

Người mẹ phải tần tảo bươn trải nuôi các con. Bà Lệ phải giúp mẹ từ sớm để gánh vác gia đình. Cả nhà phải chuyển về Gò Công để sinh sống. Và cũng chính tại đây bà sinh Công Nhân vào năm 1979. Là người chứng kiến những thăng trầm của đất nước dưới cả hai chế độ, nếm trải mọi vui buồn, bà luôn ước ao được sống dưới một xã hội công bằng và nhân ái, và đó chính là nguồn gốc của cái tên Công Nhân.

Trần Thị Lệ:“Trong một chế độ người ta gọi là lý lịch trị, cái gì người ta cũng dựa vào lý lịch để xem người này thuộc phần nào, họ gọi là đấu tranh không giai cấp mà phân biệt giai cấp kinh khủng. Những điều trong xã hội phải có những yếu tố để xã hội công bình và nhân ái thì tôi không thấy có điều ấy.

Đó là điều tôi ước mơ có trong xã hội. Người Việt mình làm gì cũng phải có lý, tình đó là sự nhân ái và lý là công bằng. Nên tôi mang ước vọng đó để đặt tên cho Công Nhân là viết tắt của công bằng và nhân ái.”

Bà Lệ cho rằng cái tên này cũng như là số mệnh định trước của Công Nhân trên con đường đi tìm công bằng trong xã hội. Những định hình trong suy nghĩ của Công Nhân phần nào cũng chịu ảnh hưởng từ những điều mà người mẹ cô dạy.

Trần Thị Lệ: “Bản thân tôi là người sống cũng hơn 20 năm dưới chế độ Việt Nam cộng hòa, và sau này là dưới chế độ này nên mình cũng biết và so sánh. Rồi mình có học trong nhà trường những vấn đề lịch sử. Bây giờ khi mà dạy Công Nhân học thì cũng có sự khác biệt vì thế mà tôi hay bàn luận và nói thêm với Công Nhân.

Tôi cũng có một quan niệm là dạy con thì để con có sự tự do trong tư duy của mình chứ không ép buộc. Tôi đưa ra vấn đề thôi còn Công Nhân tự mình hiểu.”

Rồi đến khi Công Nhân quyết định dấn thân vào con đường đấu tranh cho dân chủ, cô đã tâm sự với bà Lệ, vì với cô, bà cũng như là một người bạn lớn. Bà Lệ hiểu được những điều mà Công Nhân ấp ủ vì từ nhỏ cô luôn là người muốn đấu tranh cho sự công bằng. Nhưng bà cũng hiểu rằng đó là con đường khó khăn vô cùng, nhất là đối với một cô gái trẻ mới chưa đầy 30 tuổi. Là một người mẹ, bà lo lắng cho hạnh phúc gia đình của Công Nhân sau này và còn lo lắng hơn nữa khi nghĩ cô bị tù tội hoặc bị thủ tiêu.

Tuy thế bà đã không ngăn cô theo đuổi con đường mà mình đã chọn, bà ủng hộ cô tham gia đấu tranh bất bạo động để kêu gọi dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam. Bà nhìn thấy ở Công Nhân, giấc mơ tranh đấu cho một xã hội công bằng đang được thực hiện.

Trần Thị Lệ: “Tôi rất tự hào vì những gì Công Nhân làm. Công Nhân đấu tranh bất bạo động là điều cần thiết để xã hội tiến lên chứ không thể mãi thế này được. Tôi chỉ biết là khi mình không làm được gì là do tầm của mình, năng lực của mình không có. Tâm có mà năng lực thì không, nên tôi đành sống theo mọi người trong xã hội này.

Nhưng tôi mơ mộng xã hội hoàn toàn khác. Tôi chỉ dám mơ thôi. Ở Việt Nam làm cái gì là chết. Bây giờ Công Nhân làm chuyện này, tôi nghĩ chả nhẽ sông mãi thế này sao? Không thể sống mãi thế này, phải thay đổi. Công Nhân tham gia đấu tranh thì tôi nghĩ là nhà nước này phải thay đổi thôi. Cái gì là chân lý thì vẫn là chân lý.”

Cuộc sống trong gia đình bà đã gặp không ít khó khăn do Công Nhân bị công an theo dõi, rồi bị bắt và xét xử. Hàng xóm láng giềng sống trong cùng một khu phố tránh mặt bà khi tình cờ gặp bà ở cầu thang. Thậm chí việc dạy tiếng Anh của bà để kiếm thêm thu nhập hàng tháng cho đồng lương công chức ít ỏi cũng bị ảnh hưởng.

Một số phụ huynh đã từ chối để con mình theo học tiếng Anh do bà dạy, lấy lý do phải học ở trường. Nhưng bà hiểu và chấp nhận điều đó vì theo bà mỗi người có những nỗi lo riêng cho cuộc sống gia đình của họ. Giờ đây bà chỉ biết sống vì con vì cháu.

Bà vẫn đi thăm Công Nhân hàng tháng và mong chờ ngày cô mãn hạn tù vào ngày 6 tháng 3 tới.

Vẫn tin vào công lý
Một người phụ nữ khác mà tạp chí phụ nữ kỳ này muốn nói đến là chị Nguyễn Thị Thơm ở Thái Bình, vợ cựu trung tá Trần Anh Kim, người vừa bị kết án 3 năm 6 tháng tù và 3 năm quản chế. Chị là người dám lên tiếng mạnh mẽ bênh vực cho chồng mình khi bị bắt và kể cả sau phiên tòa xét xử.

Nhiều người bảo với chị là cuộc chiến của chồng chị không khác gì trứng chọi với đá, nhưng chị vẫn tin vào những việc chồng mình làm, tự hào về ông và ủng hộ ông hết mình.

Chị Thơm lập gia đình với ông Kim năm 2004. Trước khi quyết định kết hôn, chị cũng có nhiều người tìm hiểu. Bản thân chị cũng hiểu được hoàn cảnh của ông Kim lúc đó là người tham gia phong trào đấu tranh dân chủ. Gia đình và bạn bè, có người ủng hộ chị vì cho rằng ông Kim là người tốt, đã được tôi luyện trong quân đội. Nhưng cũng có người không đồng ý vì lo lắng cho cuộc sống gian truân mà chị sẽ có khi sống chung với ông.

Nguyễn Thị Thơm: “Khi em lấy anh Kim thì em biết lý lịch và con người anh Kim. Anh trưởng thành trong quân đội Việt nam. Bạn bè và gia đình bảo là, khi một con người được huấn luyện trong quân đội thì họ phải trải qua bao khó khăn, thăng trầm, mà người ta tiến lên được và rèn luyện được như thế thì là người tốt thôi. Bạn bè đánh giá như thế, và bản thân em cũng đánh giá thế.

Nhưng cũng có nhiều người trong gia đình, bạn bè thì không đồng ý, người ta nói thứ nhất tuổi tác chênh nhau, thứ hai là điều kiện khó khăn như thế thì lấy nhau không được thuận lắm cho cuộc sống và sẽ vất vả. Người ta cũng e ngại và không muốn đồng ý, cả bạn bè anh Kim cũng thế, nhưng chúng em vẫn quyết định lấy nhau.”

Những khó khăn đầu tiên mà chị Thơm gặp phải đó là thu nhập trong gia đình rất eo hẹp. Ông Kim dù là cựu trung tá nhưng không đồng ý nhận mức lương sai lệch mà chính quyền cấp cho ông. Cả nhà chỉ trông chờ vào mức lương công nhân ít ỏi của chị ở nhà máy may xuất khẩu và khoản 550,000 đồng tiền thương binh hàng tháng của ông.

Không những thế ông Kim thường xuyên bị công an bao vây, triệu tập, rồi bắt bỏ tù. Cuộc sống vợ chồng giờ đây lại chịu cảnh xa cách. Từ ngày ông Kim bị bắt vào tháng 6 năm ngoái đến nay, chị chỉ được gặp ông một lần ngắn ngủi ở trại giam và một lần khác tại phiên tòa hồi cuối tháng trước. Nhiều người nói với chị, ‘chị lấy anh Kim là khổ rồi’ thì chị bảo ‘Cuộc sống nó như thế, mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà một cảnh. Và mỗi người có một chí hướng khác nhau’.

Tất nhiên, cũng có lúc chị chạnh lòng khi nhìn những gia đình xung quanh có vợ chồng sum họp. Chị nói, “Tất nhiên em cũng suy nghĩ khi nhìn những cảnh gia đình người ta được sum họp bình an. Người ta vui vẻ và sướng hơn mình. Em nghĩ về gia đình em gặp những cái không bình thường, cuộc sống thì bị chia ly, xa cách nhau thế này.”

Nhưng rồi chị lại nghĩ, “Mà mình hiểu đựơc chồng mình, mình đã chấp nhận lấy chồng mình thì mình phải vượt qua và phải gánh chịu những hậu quả, khó khăn đến với mình. Nhưng mà trong lòng em cũng có lúc buồn vì em thương chồng em là chính.

Chồng em là người tốt mà bây giờ ở chốn lao tù như thế khi tuổi đã cao rồi, em rất thương anh, thương nhiều lắm. Em nghĩ về khó khăn của mình và gia đình mình thì em cũng thấy bình thường, vì chồng mình, và vì các lẽ chồng mình đi đòi chính đáng nên em chẳng có gì mà ân hận và buồn. Chỉ thương chồng mình nhiều lắm thôi.”

Khi ông Kim bị bắt và xét xử kết tội âm mưu lật đổ chính quyền, báo chí trong nước gọi ông là kẻ phản động, thì chị vẫn một mực tin chồng mình là người đấu tranh cho công lý, công bằng, và nhân quyền. Nhiều người bảo với chị là cuộc chiến của chồng chị không khác gì trứng chọi với đá, nhưng chị vẫn tin vào những việc chồng mình làm, tự hào về ông và ủng hộ ông hết mình.

Mơ ước cho năm mới
Năm mới đã đến với mọi nhà, mang đến những hy vọng mới và mong ước. Bà Lệ và chị Thơm cũng có nhưng kế hoạch và mong ước cho một năm mới đối với những người thân yêu của mình còn trong chốn lao tù.

Trần Thị Lệ: “Còn vài tháng nữa thì Công Nhân ra tù. Chỉ còn 2 tháng nữa, ước vọng thì nhiều lắm, nhưng tôi chỉ muốn nói là khi Công Nhân về thì sẽ gặp nhiều khó khăn của 3 năm quản chế, 3 năm như tù giam tại gia, sẽ có nhiều khó khăn cho gia đình. Đi đâu hay làm gì cũng khó, và như thế thì Công Nhân sẽ đấu tranh ở mức độ nào đó mà tôi nghĩ là phù hợp, và gia đình tiếp tục đối phó với những khó khăn sắp đến.

Bây giờ tôi sống vì con vì cháu nhiều nên kế hoạch tôi chả có gì, chỉ có kế hoạch đầu tiên là chữa bệnh cho Công Nhân. Tìm bác sĩ và bệnh viện chữa bệnh mà Công Nhân có trước khi đi tù và trong thời gian ở tù.”

Được biết Công Nhân bị bệnh viêm mũi dị ứng, khớp và mắt. Do điều kiện trong tù không được thăm khám đầy đủ nên có bệnh nặng thêm. Nhưng theo bà Lệ thì sức khỏe của Công Nhân tương đối ổn định.

Còn chị Thơm, trong năm mới, chị cũng mong ước, “Mong muốn đối với gia đình em thì em muốn có đủ nghị lực và tự an ủi bản thân mình để vượt lên mọi khó khăn trong cuộc sống, để mình không làm được những việc giúp đỡ chồng mình trong việc chính trị, cất lên tiếng nói, thì cũng giúp được tinh thần, động viên và hiểu được chồng mình là con người tốt và an ủi chồng mình trong giai đoạn chồng mình đang gặp khó khăn này.”

Còn rất nhiều những người mẹ, người vợ của những nhà đấu tranh dân chủ khác vẫn đã và đang là chỗ dựa tinh thần vững chắc cho những người thân yêu của mình trong chốn lao tù hay dấn thân tranh đấu vì lý tưởng của họ. Trong khuôn khổ giới hạn của tạp chí, chúng tôi xin phép chỉ được giới thiệu hai trong số họ nhân dịp này. Xin chúc các mẹ, các chị một năm mới nhiều nghị lực và sức mạnh để vượt qua những khó khăn trước mắt.

Việt Hà, phóng viên RFA 2010-01-05


.

Chủ Nhật, 3 tháng 1, 2010

Chuyện gì sẽ xảy ra nếu Việt nam lại có chiến tranh?

Jan 3, '10 4:25 AM
for everyone
http://postsbykami.multiply.com/journal/item/45

Kami
"Thần không ngại đánh, chỉ sợ lòng dân không theo mà thôi"
Hồ Nguyên Trừng


http://vietnamaaa.numeriblog.fr/cong...0/hng_binh.jpg

Đồng chí "tốt" bắt bộ đội Việt nam trong chiến tranh (năm 1979)


Ngày hôm nay (3/1/2009) đọc tin trên mạng có ba tin đáng để mọi người phải suy nghĩ:

1.Tin thứ nhất: qua bài "Hà Văn Thịnh - Chuyện buồn đầu năm"(1) nói về cách hành xử của một ông quan cách mạng (chắc chắn là Đảng viên Đảng CS), đó là chuyện ông Trần Hoài Bảo, Phó chủ tịch huyện Mộc Hoá, Long An, hành hung một bà già 60 tuổi vì cái lý do "Bà Chiếm nhờ ông mua hộ mấy chiếc vé cho hai đứa cháu cưỡi vịt điện tử. Ông Trần Hoài Bảo, sau khi hỏi: “Bà biết tôi là ai không?”, đã đánh thẳng vào mặt bà lão…

2.Tin thứ hai : qua bài "Trung Quốc gia tăng áp lực kiểm soát biển Đông" (2), bài báo cho biết chính quyền Trung quốc ngày càng được thể lấn tới xâm phạm chủ quyền trên Biển Đông của Việt nam. Bài báo có đoạn viết "Ngày 29/12, hai tàu tuần tra trên biển của Trung Quốc biên chế cho đảo Hải Nam với số hiệu 183 và 1823 đã chính thức nhận nhiệm vụ quản lý kiểm tra an toàn trên khu vực biển Đông của Việt Nam.

Đây là những tầu được trang bị rất mạnh, có hệ thống thông tin liên lạc tiên tiến. Tầu “海巡1823” có chiều dài 61,2m vận tốc tối đa 21,5 hải lý; tầu “海巡183” có chiều dài 33,2m tốc độ tối đa 22 hải lý."

Mà theo người phát ngôn cục hải sự Hải Nam - Ông Trương Tiệp ngang nhiên tuyên bố: "Việc đưa hai tàu hải tuần số hiệu 183 và 1823 vào phục vụ sẽ là một điều kiện thuận lợi để tăng cường khả năng kiểm tra trên biển tại khu vực biển Đông. Việc 2 tàu này đi vào phục vụ sẽ góp phần khắc phục hạn chế đồng thời tạo thuận lợi để Trung Quốc duy trì quyền lợi trên biển, tăng cương công tác đảm bảo an ninh cho tàu bè Trung Quốc đi lại trên vùng biển này (vùng biển Đông thuộc hải phận của Việt Nam)".

Hành động ngang ngược trên được đánh giá là: "Việc Trung Quốc đơn phương đưa các tầu đến quản lý vùng biển thuộc hải phận của Việt Nam, đây là nơi làm ăn sinh sống của ngư dân Việt Nam từ hàng ngàn năm nay, là một hành động bất chấp luật pháp quốc tế, đi ngược lại những nguyên tắc chung sống hòa bình và công khai gây hấn với thường dân

Việc Trung Quốc đã dùng vũ lực đánh chiếm và đang chiếm giữ bất hợp pháp quần đảo Hoàng Sa, và nhiều đảo khác của Việt Nam; nay Trung Quốc lại đang tiến hành những biện pháp nhằm hợp pháp hóa và khống chế hầu như toàn bộ vùng biển Đông là những hành động xuất phát từ những suy tính không thể được coi là bình thường."

3. Tin thứ ba: ""Mỹ đang chuẩn bị tấn công Venezuela"(3)Bộ Ngoại giao Venezuela đã ra thông báo chính thức rằng Mỹ đang chuẩn bị cuộc tấn công quân sự chống lại quốc gia này từ lãnh thổ hai hòn đảo tự trị của Hà Lan là Aruba và Curacao".

Xin bắt đầu từ tin Mỹ chuẩn bị tấn công Venzuela, khi tình hình mới ở mức độ phía Mỹ đang chuẩn bị mà theo họ là chỉ nhằm mục đích đấu tranh với nạn buôn lậu ma tuý và phía Venezuela không đưa ra bằng chứng chứng minh cho những cáo buộc nói trên đó là biẹn pháp đánh động dư luận quốc tế của nhà nước Venezuela. Rõ ràng so với tin "Trung Quốc gia tăng áp lực kiểm soát biển Đông" thì sự việc của Venezuela ít nghiêm trọng hơn nhiều lần so với Biển Đông của Việt nam, qua đó cho thấy tình hình Biển Đông hiện đang rất căng thẳng trước sự khiêu khích và ngày càng lấn tới của Trung quốc, xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền lãnh thổ của Việt nam thì khả năng xảy ra xung đột quân sự sẽ có nguy cơ tương đối lớn, nếu như chính quyền Việt nam không còn duy trì chủ trương tiếp tục quỳ gối trước anh bạn láng giềng Đại Hán tham lam này. Nghĩa là nếu phía chính quyền Việt nam chấp nhận để Trung quốc thôn tính toàn bộ Biển Đông bao gồm hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa của Việt nam như bản đồ hình lưỡi bò của phía Trung quốc ấn định, thì khả năng nguy cơ chiến tranh mới có thể chấm dứt.

Khả năng xung đột(chiến tranh)giữa Việt nam và Trung quốc một cuộc chiến tranh tương tự như cuộc chiến năm 1979 là hoàn toàn có thể xảy ra, nó chỉ còn là vấn đề thời gian kể cả chính quyền của Đảng CSVN hôm nay đã đi từ nhân nhượng này đến nhân nhượng khác kể cả việc cắt đất, dâng biển cũng đã và đang diễn ra. Nhưng khi chính quyền Việt nam càng lùi bao nhiêu, thì ngược lại chính quyền Trung quốc càng lấn tới bấy nhiêu. Bởi lý do phía Trung quốc nắm được "tử huyệt" của Đảng CSVN hễ rời vòng tay Trung quốc lúc nào là sụp đổ lúc đó, đó là một sự thực nói lên sự mất lòng dân của đảng CSVN và là lý do vì sao Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết phải phát biểu câu "Bỏ điều 4 Hiến pháp là chúng ta tự sát".

Bài học khi Liên xô thành trì vững chắc của phe XHCN, chỗ dựa tin cậy của đảng và chính quyền Việt nam sụp đổ năm 1991 là một ví dụ điển hình, hẳn chúng ta vẫn chưa quên khi đó Trung quốc đang ở vai trò kẻ thù lâu dài và nguy hiểm trước mắt, vậy mà một sớm một chiều đã nhanh chóng trở thành người đồng chí bốn tốt được khẳng định bằng 16 chữ vàng.

Đặt giả thiết nếu chiến tranh Việt nam -Trung quốc nổ ra chắc chắn sẽ không chỉ dừng lại ở trên Biển Đông, mà còn cả trên đất liền, đặc biệt là các tỉnh biên giới phía Bắc có đường biên giới tiếp giáp với Trung quốc. Đánh giá về tương quan lực lượng về số quân và trang thiết bị quân sự của Quân đội nhân dân Việt nam và Quân giải phóng nhân dân Trung quốc thì thấy sự chênh lệch quá lớn về số lượng và chất lượng. Nếu chiến tranh nổ ra thì khả năng thất bại của Việt nam tới 99,99%, biện pháp duy nhất đảm bảo sự chiến thắng của Việt nam chống lại sự xâm lăng của Trung quốc đó là "Chiến tranh nhân dân" với khẩu hiệu "Khi nước có giặc toàn dân là lính" như đã xảy ra hàng ngàn năm nay mỗi khi bờ cõi của dân tộc Việt nam bị xâm lấn với những bà Trưng, bà Triệu, Ngô Quyền và những triều đại Đinh, Lý, Trần, Lê.v.v.. và gần đây nhất là cuộc chiến tranh Biên giới phía Bắc năm 1979.

http://lh3.ggpht.com/_mwdMM1OyuCI/Sx...jcY/s800/1.jpg

Chưa kịp đánh đã sát nhập hai quân đội VN và TQ làm một


Nhưng ngược lại lịch sử cũng chứng minh sự thất bại của những chính quyền hay triều đại không được lòng dân như triều đại của Hồ Quý Ly là một bài học đáng ghi nhớ. Vì mất lòng dân là một nguyên nhân khiến Hồ Quý Ly mắc sai lầm , vì vậy không thể dựa vào dân, phát động cuộc chiến tranh toàn dân rộng lớn chống kẻ thù đã dẫn tới sụp đổ vì thất bại trong cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược(11/1406-6/1407) sau 7 năm trị vì. Trước đó Hồ Nguyên Trừng con trai đã nói với vua cha: “Thần không sợ đánh, chỉ sợ lòng dân không theo” câu nói bất hủ đó đã trở thành lý do thất bại của nhà Hồ xưa kia và của quân đội VNCH trước đây, cũng là lời nhắc nhở không thừa cho mỗi chúng ta, đặc biệt là những đảng viên cộng sản.

Phải thừa nhận Đảng CSVN qua 80 năm chiến đấu và trưởng thành đã giành được nhiều thắng lợi to lớn trong việc giành lại độc lập và thống nhất đất nước. Họ đã thành công trong việc sử dụng sức mạnh khối đoàn kết toàn dân để dành độc lập bằng cuộc cướp chính quyền 8/1945, đánh đuổi thực dân Pháp năm 1954 bằng Hiệp định Genève 1954 và thống nhất đất nước 1975 vì họ được lòng dân ủng hộ. Dân chúng qua các giai đoạn cách mạng khác nhau đã ủng hộ họ hết lòng không hề tiếc máu xương, sức người sức của bởi họ hết sức tin tưởng vào lời hứa của các lãnh tụ cộng sản với dân chúng là sau khi có độc lập thống nhất sẽ có tự do và hạnh phúc theo khẩu hiệu "Xây dựng một nước Việt nam hòa bình, độc lập, thống nhất dân chủ và giàu mạnh".

Nhưng thời gian từ năm 1975 tới nay đặc biệt là từ sau khi Đảng CSVN tiến hành công cuộc đổi mới thì mọi sự thật đã có câu trả lời cho người dân. Khi nước nhà đã được độc lập thống nhất thì người dân lại bị đảng CSVN và chính quyền của họ tước đoạt toàn bộ những quyền tự do tối thiểu của con người mà họ đã có từ thời trước và trong chiến tranh như tự do lập hội, tự do báo chí, tự do ngôn luận .v.v.., mọi hành vi liên quan đến quyền tự do của con người đều bị coi là tội tuyên truyền chống nhà nước và lật đổ chính quyền nhân dân. Nhiều người đánh giá rằng đó là cuộc lừa đảo vĩ đại nhất của những người cộng sản dối với dân chúng, tới mức người ta còn cho rằng quyền con người hiện nay còn tồi tệ hơn thời thực dân, đế quốc đô hộ.

Những hành vi cai trị kiểu áp bức đó được Đảng CSVN, chính quyền duy trì ủng hộ và được coi như chủ trương lớn của Đảng, những người lãnh đạo đang ở vị trí người đầy tớ của nhân dân nhờ sự dung túng của Đảng nay đã trở thành các ông quan cách mạng tha hồ làm vương làm tướng ức hiếp quần chúng. Hành động vô đạo đức mà ông Trần Hoài Bảo, Phó chủ tịch huyện Mộc Hóa, Long An, hành hung một bà già 60 tuổi ở chốn công cộng vì cái lý do "Bà Chiếm nhờ ông mua hộ mấy chiếc vé cho hai đứa cháu cưỡi vịt điện tử" chỉ là một trong hàng ngàn hàng triệu những điều bất công đang ngang nhiên diễn ra trong xã hội Việt nam ngày hôm nay. Đa số bọn họ đã và đang trở thành những kẻ giúp dân giúp nước thì ít nhưng hại dân, hại nước thì nhiều. Sau một thời gian tha hồ vơ vét, tham nhũng để từ những cán bộ cách mạng của dân do dân vì dân với hai bàn tay trắng, đã nhanh chóng trở thành những ông tư bản đỏ do sự che chắn của đảng cầm quyền, nay càng ngày càng được đà hống hách coi nhân dân, những người chủ đất nước như cỏ như rác, bất kể cả những người phụ nữ đáng tuổi mẹ của họ như bà Chiếm.

Người ta nói rằng "Xin đừng đánh phụ nữa dù bằng một cành hoa", vậy không hiểu những vị lãnh đạo như ông Trần Hoài Bảo có biết điều đó hay không? Và ngạc nhiên là không hiểu sao những người đảng viên cộng sản vốn dĩ là những công dân ưu tú họ không thể sử sự tối thiểu như những người dân bình thường?

Ngay bây giờ, thời gian trước khi một cuộc chiến tranh với quân xâm lược càng kéo dài bao nhiêu, thì sự ủng hộ và lòng dân cho Đảng CSVN và chính quyền của họ càng giảm bớt bấy nhiêu. Thay cho sự ủng hộ như trước đây, người dân đã và đang dành cho Đảng CSVN và chính quyền của họ sự khinh ghét và sự chống đối ngày càng gia tăng, vì Đảng và chính quyền đã phản bội những điều họ hứa với nhân dân. Những việc họ làm hôm nay chỉ nhằm mục đích củng cố quyền lợi cho họ và đảng của họ, không hề vì quyền lợi của đất nước. Không cần kéo dài hơn nữa, chỉ cần ngay tại thời điểm lúc này, nếu chiến tranh giữa Việt nam và Trung quốc xảy ra những người lãnh đạo Đảng CSVN và chính quyền sẽ hiểu thế nào là lòng dân và họ sẽ hiểu được hết ý nghĩa của Hồ Nguyên Trừng đã nói với Vua cha "không sợ đánh, chỉ sợ lòng dân không theo”.

Nhân dân Việt nam bất kể ở giai đoạn lịch sử nào, vốn có lòng yêu nước nồng nàn vô song, nếu sơn hà nguy biến, có giặc ngoại xâm thì họ sẽ đoàn kết một lòng đứng dưới cờ nghĩa để chống giặc ngoại xâm theo khẩu hiệu "khi nước có giặc, toàn dân là lính". Nhưng trong cuộc chiến tranh trước mắt nếu có nổ ra thì cờ nghĩa chắc chắn sẽ không phải là lá cờ của những người cộng sản, nhân dân sẽ không bao giờ chấp nhận đứng dưới cờ của những kẻ đã lừa dối nhân dân mình một lần nữa. Một chính quyền hay một triều đại đã mất lòng dân thì kết cục như đối với triều đại của Hồ Quý Ly, khi mà ba cha con nhà Vua không được lòng dân ủng hộ đã phải cúi đầu chịu trói là tất yếu, dẫu rằng trong thời gian cầm quyền Hồ Quý Ly đã thực hiện nhiều cải cách quan trọng, nhưng bị thất bại trong việc hợp sức toàn dân chống lại cuộc xâm lăng của nhà Minh vì không dành được sự ủng hộ của nhân dân.

Những kẻ nhân danh cộng sản hôm nay đã biến chất hoàn toàn, không còn là những chiến sĩ cách mạng đi tiên phong vì dân vì nước như trước kia, ngày hôm nay bọn họ chỉ vì cái ghế quyền lực, quyền lợi vật chất cho cá nhân, đồng bọn và gia đình của họ mà thôi. Đó chính là lý do vì sao họ cứ lùi mãi để cho Trung quốc ăn hiếp ngư dân, chiếm giữ bất hợp pháp quần đảo Hoàng sa và một số đảo trong quần đảo Trường sa, mặc dù họ đã cắt đất nhượng biển cho chúng. Với giặc ngoại xâm thì hèn nhát, ngược lại với đồng bào và nhân dân của mình mỗi khi lên tiếng về chủ quyền lãnh thổ đất nước họ quay ra đàn áp, trù dập thật đê tiện.

Nếu chiến tranh Việt nam-Trung quốc bất đắc dĩ xảy ra thì chúng ta sẽ thấy bọn họ sẽ lộ nguyên hình lũ con cháu Trần Ích Tắc giơ tay xin hàng và dâng cả giang sơn này cho giặc để hưởng vinh hoa phú quý.

Khi đó chắc chắn sẽ có một ngọn cờ nghĩa mới sẽ được dựng lên bởi tập hợp những người có đức, có tài để tiến hành đại đoàn kết toàn thể nhân dân Việt nam trong và ngoài nước một lòng chống kẻ thù ngoại xâm.

Khi đó chúng ta sẽ đồng lòng góp sức, nhưng cũng xin đừng mất cảnh giác để lại gặp phải một vụ lừa đảo vĩ đại lần thứ hai như Đảng CSVN đã từng lừa dối nhân dân như hiện nay.

Kẻo "Tránh vỏ Dưa lại gặp vỏ Dừa" thì lại mất oan mấy thế hệ người Việt nam như giai đoạn vừa qua. Hy vọng bài viết này có tác dụng cảnh tỉnh những ai đó còn chưa hiểu tầm quan trọng và ý nghĩa của hai chữ "lòng dân" thì hãy nên gấp rút sửa chữa.

Không rồi lại khốn.

Khai bút đầu năm, ngày 3/1/2010

----------------------------
Chú thích:
(1) http://danluan.org/node/3809
(2) http://test.vitinfo.com.vn/Muctin/Qu...24/default.htm
(3) http://test.vitinfo.com.vn/Muctin/Qu...61/default.htm

© Kami 2010
Tags: diem tin tren mang
Prev: 2009: Năm hoành hành của những “kẻ lạ”