Sau
ngày 30-4-1975, đảng và nhà nước CSVN đã áp dụng chính sách “Đốt sách
và tù đầy quân cán chính miền Nam”. Nhưng sự tiêu diệt văn hóa miền Nam
không xẩy ra nhẹ nhàng như họ đã làm tại miền Bắc sau năm 1954. Tại miền
Nam, chính sách này được thực hiện một cách vội vàng, không phải là sự
hăng hái của kẻ hoàn toàn chiến thắng. Hành động đóng cửa các cơ sở báo
chí, nhà in và nhà phát hành cũng như chiến dịch tịch thu toàn bộ văn
hóa phẩm, chứng tỏ một sự bất ổn khi đối diện với kho tàng văn học miền
Nam, mà chính quyền Hà Nội đánh giá là có nguy hại cho chế độ. Nhà xuất
bản Văn Hóa Hà Nội có nhận định: “Cuộc đấu tranh trên mặt trận văn
hóa, tư tưởng không ác liệt như mặt trận quân sự, nhưng đó là một cuộc
đấu tranh vô cùng cam go nguy hiểm.”
Kết
quả của chính sách “tiêu diệt văn hóa miền Nam” không đáp ứng sự mong
đợi của đảng và nhà nước cộng sản. Trái lại, văn hóa miền Nam đã ảnh
hưởng sâu đậm tới các thành phần dân chúng cũng như cán bộ, bộ đội miền
Bắc. Sự quan tâm này đã được báo Nhân Dân nêu ra: “một tờ lịch, một tấm giấy gói hàng cũng là phương tiện tuyên truyền…” “Nhạc vàng” cũng chung số phận với sách báo, được đảng khoác cho một tên mới: “Văn hóa đồi trụy”.
Trên
thực tế, nhạc vàng đã là món ăn tinh thần không thể thiếu, đáp ứng nhu
cầu của một dân tộc vốn nặng về tình cảm. Và chính dòng nhạc này, vì
được người tù cải tạo miền Nam dàn trải trên khắp các nẻo đường đất
nước, đã ảnh hưởng sâu đậm và chuyển đổi tâm tư của cán bộ tại các trại
cải tạo miền Bắc cũng như gia đình của họ.
Nhiều
người đặt câu hỏi: “Sau nhiều năm dài bị đầy ải, áp bức trong ngục tù
cộng sản, nhờ phép mầu nào mà người tù cải tạo miền Nam không bị điên
loạn, giữ được mạng sống để trở về?” Thật khó có một câu trả lời trọn
vẹn, bao quát cuộc sống tăm tối của một kiếp người. Liệu đó có phải là
một cơ may, nhất là tù nhân luôn luôn bị ám ảnh không có ngày về. Có lẽ
do bản năng sinh tồn, dù dưới bất cứ hoàn cảnh nào, con người vẫn phải
phấn đấu để sống còn. Và chính những giây phút đen tối nhất của cuộc
sống, người tù cải tạo đã gần gũi với âm nhạc. Những bài ca phát xuất tự
đáy lòng hàm chứa những cảm xúc của đời sống hiện tại, “đã là một lối thoát cho tinh thần, giữ được thăng bằng cuộc sống.”
Có
vị cũng thắc mắc, “trong hoàn cảnh sống như thế làm sao có thể sáng
tác, có thể ghi nhớ?” Vâng, một số không ít những bài ca đã bị quên hoặc
nhớ không trọn vẹn sau một thời gian dài cùm xích, đầy ải trong phòng
tối. Nhưng cũng do môi trường sống và hoàn cảnh đặc biệt này đã thôi
thúc tù nhân sáng tác. Ta có thể nói, những bài ca này đã được viết ra
bằng con tim và khối óc, bằng máu và nước mắt. Do đó, mỗi bài ca đã mang
theo một sắc thái, một hoàn cảnh khác biệt, một câu chuyện khó quên của
người tù cải tạo.
Sau
ngày 30-4-1975, Thơ và Nhạc đã xuất hiện những sáng tác đặc biệt về “tù
đầy”. Đặc biệt là vì những tác phẩm này không được ghi trên giấy khi
sáng tác, như những bài thơ và nhạc trong hoàn cảnh bình thường của đời
sống xã hội.
Tù
cải tạo không được phép lưu giữ giấy bút, sách vở và thường bị kiểm
soát gắt gao bởi cán bộ trại. Sự sáng tác vì vậy gặp rất nhiều khó khăn,
nên phương tiện duy nhất là ghi nhận bằng trí nhớ, và phải đợi khi có
điều kiện mới ghi lại trên giấy, thường là bao thuốc lá hay những tờ
giấy trắng còn lại sau lần viết bản tự khai. Những sáng tác này phải
được cất dấu cẩn thận, để tránh sự phát hiện của cán bộ trại mỗi khi
khám phòng, nhất là bọn ăng-ten thường xuyên theo rõi để báo cáo lập
công.
Nhìn
chung, những tác phẩm về thơ và nhạc sáng tác trong tù đã thể hiện
nhiều khía cạnh, gợi nhớ hình ảnh Saigon với nếp sống Tự do Dân chủ, một
Saigon yêu thương thuở trước, với viễn ảnh chia ly gia đình tan vỡ và
trước cái chết tức tưởi của các bạn tù đồng cảnh ngộ. Nhưng nổi bật nhất
vẫn là tinh thần đấu tranh bất khuất chống lại chế độ cộng sản bạo tàn
và ý chí quang phục quê hương.
Người
viết không có tham vọng đi xa trong sinh hoạt này, mà chỉ muốn ghi lại
những kỷ niệm khó quên, ghi ơn các tác giả còn sống, hay những người đã
nằm xuống trong một hoàn cảnh bi thảm nhất của lịch sử dân tộc sau ngày
30-4-1975.
Về
phía nhạc đấu tranh có khá nhiều bài ca, dù ngắn nhưng hàm chứa tinh
thần chống cộng sản rất rõ rệt. Trước khi nghe lại bài “Đôi giầy Dũng
sĩ” của anh Nguyễn Văn Hồng, người viết xin được giới thiệu về anh.
Anh
Nguyễn Văn Hồng là Trung Úy thuộc đơn vị Pháo binh của QLVNCH, không
trình diện học tập cải tạo sau ngày 30-4-1975, bị bắt khi vượt biên. Anh
đã di chuyển tới nhiều trại. Tại miền Nam, từ trại Tân Hiệp chuyển tới
trại A (Gia Rai-Long Khánh) nằm trên đồi Phượng Vĩ, sau đó chuyển vào
trại B. Sau một năm, anh chuyển ra Bắc trên tầu “Sông Hương”, ngày
20/4/1977 tới trại Nam Hà (Hà Nam Ninh). Anh đã sáng tác bản nhạc “Đôi
giầy Dũng sĩ”. Vào buổi sáng ngày 16/9/1977, toàn thể tù cải tạo phân
trại “A” Nam Hà đồng thanh hô vang nhiều lần “đả đảo cộng sản” trước giờ
lao động tại sân trại, để chống lại hành động đối xử tàn nhẫn của cán
bộ trại đối với anh em tù cải tạo bị bệnh nặng.
Cuộc
chống đối của tù cải tạo đã kéo dài nhiều tháng. Sau khi 20 tù cải tạo
của cuộc chống đối, được ban quản giáo ghi nhận là thành phần chủ chốt
của cuộc biến động, bị chuyển tới trại Quyết Tiến (Cổng Trời-Hà Giang)
vào đêm Giáng Sinh, 24-12-1977. Sau đó, ban giám thị trại đã gom những
người chống đối còn lại vào một đội có tên “Đội 20”, để dễ theo rõi và
tránh những biến động khác xẩy ra, khi mà lòng căm hờn của tù cải tạo
miền Nam mỗi lúc một sôi động. Anh Hồng là một trong những người bị giam
trong phòng kỷ luật. Nghe các bạn kể lại, trong phòng kỷ luật anh hát
bài ca này, như lời nhắn nhủ các bạn tù về lòng kiên trì đấu tranh cho
lý tưởng Tự do. Anh Hồng bị chuyển lên phân trại Mễ (thuộc trại Nam Hà)
gần Phủ Lý, một trại kỷ luật rất hà khắc, được che dấu dưới hình thức
trại y tế. Anh Hồng cũng như một số bạn tù khác đã qua đời ở đây.
Bài
ca này được các bạn tù hưởng ứng ngày một lan truyền trong trại, đã
thôi thúc ngọn lửa đấu tranh trước bạo quyền. Khi sáng tác bài ca này
anh chỉ có ước mơ nhỏ bé, được là đôi giầy dưới chân lớp trẻ mai sau,
đập tan xiềng xích, khôi phục đời sống Tự do Dân chủ của Quê Hương.
Chúng ta hãy nghe ước mơ của anh:
Đôi Giầy Dũng Sĩ
Này em, ta không quên đâu những ngày tù đầy.
Này em, ta không quên đâu những ngày tăm tối.
Này em, ta không quên đâu mối thù từng ngày.
Này em, ta không quên đâu mối thù muôn đời.
Và dù không là gì cả, cũng xin làm đôi giầy dũng sĩ,
trở về đạp nát tan kẻ thù.
Này em, cha ông em chết trong ngục tù.
Này em, thân nhân em đau buồn tang chế.
Này em, tương lai em vẫn còn mịt mù.
Này em, quê hương ta vẫn còn nô lệ.
Và dù không là gì cả, cũng xin làm đôi giầy dũng sĩ,
trở về đạp nát tan xích xiềng.
Cho tôi xin một lần gục ngã,
cho em tôi suốt đời ngẩng mặt.
Cho tôi xin một lần được chết,
cho quê hương ngàn đời vinh quang.
Cho tôi xin một đời nhọc nhằn,
cho em tôi một đời hạnh phúc.
Cho tôi xin một đời chiến chinh,
cho quê hương muôn đời thanh bình.
Tác giả: Nguyễn Văn Hồng
(Toàn bản nhạc ghi trong phần chú thích)
Vào
những tháng cuối năm, bầu trời Nam Hà ẩm mây và lạnh, nhiệt độ xuống
thấp, người bệnh càng nhiều. Sau khi ông Trần Thế Minh, nguyên Thượng
Nghị Sĩ VNCH qua đời bị ngộ độc vì thực phẩm, tình trạng sức khỏe tù cải
tạo trong trại ngày càng tồi tệ hơn. Qua khung cửa sổ sàn nằm trên, một
phần khu trại hiện ra im lìm bất động. Về phía cuối sân là trạm xá, một
căn nhà nhỏ nghèo nàn tăm tối. Ánh đèn dầu leo lét xuất hiện nơi trạm
xá không đủ thắp sáng căn phòng, trở thành huyền ảo vật vờ, như linh hồn
kẻ xấu số còn vương vấn thân xác giá lạnh.
Khi nhìn thấy ánh đèn dầu leo lét nơi trạm xá, các bạn thường hỏi:
- “Có người chết hả. Có biết ai không?”
Anh
Thu Tâm im lặng gật đầu. Vừa thương cũng vừa mừng cho người bạn mới ra
đi. Họ đã rũ sạch nợ đời. Không còn vướng mắc tình cảm quyến luyến gia
đình, mà tình cảm gia đình vốn là hơi ấm, một ánh lửa hy vọng cho người
tù cải tạo miền Nam. Không còn bị tủi nhục trước hành động hận thù của
đám cán bộ trại. Một hình ảnh khiến anh xúc động về số phận của bạn tù.
Cuộc đời của người tù cải tạo không còn thuộc về mình nữa, đã ở ngoài
tầm tay, có chăng chỉ còn lại quyền được chết. Trước cái chết thật đơn
giản, vội vàng, anh Thu Tâm đã sáng tác bản nhạc “Trên đồi Thu”, gợi nhớ
một khu đồi trồng mơ trong rừng Cúc Phương thuộc trại Nam Hà. Anh em
cải tạo gọi đó là “Đồi Thu”, nơi an giấc ngàn thu của tù cải tạo miền
Nam, sau khi đã trả xong món nợ máu cho đảng cộng sản và nhà nước “Xã
hội Chủ Nghĩa Việt Nam” anh hùng.
Khi
nghe bản nhạc này, mọi người đều có chung ý nghĩ, đến một ngày nào đó,
sẽ đến lượt mình tới nơi này với những người đi trước. Theo âm hưởng của
dòng nhạc, ta có cảm tưởng hình dung được những bước chân âm thầm của
những người cải tạo đưa tiễn bạn đến nơi an nghỉ cuối cùng. Lời nhạc
đang tha thiết bỗng trỗi dậy với tiếng gió rít trên đồi ầm ầm như thác
đổ, và trong khoảnh khắc không gian trở lên tĩnh lặng chỉ còn tiếng lá
Thu rơi. Chúng ta hãy chia buồn với những người bạn đã nằm xuống, những
nạn nhân của một chế độ phản bội lại dân tộc, qua lời nhạc:
Trên Đồi Thu
Niềm đau tới, buồn với thu sầu.
Chiều thu ấy chấm đen đời nhau.
Còn đâu nữa, vần vũ mưa Ngâu.
Tia nắng thu vàng héo hắt,
Xót xa hoài cố nhân!
Sầu u uất một kiếp lao tù.
Buồn tê tái gió lay hồn thu.
Lạnh hương khói Người đã phiêu du
Hay còn lẩn quất vấn vương mối hận thù?
Ới ! Buốt đau lòng giá, héo hon tình đá,
lá rơi mặc lá.
Người xa, lòng ta hờn căm tím đôi môi
Máu ứa tim sầu Nước, xót khung trời ước,
luyến lưu từng bước.
Lặng nghe hồn thu sầu khóc thu đau!
Vầng mây trắng về núi xa nào.
Chờ ta với cố vui lòng nhau.
Đồi hoang vắng chuyển gió heo may.
Ôi ! cố nhân đâu còn nữa,
Xót thương mắt rưng sầu.
Tác giả: Thu Tâm
(Toàn bản nhạc ghi trong phần chú thích)
Lời
ca có khi trầm hùng mang tâm tư uất nghẹn, có lúc man mác nhẹ nhàng như
một hơi thở ghi đậm nỗi ngậm ngùi. Tiếng đàn hòa lẫn tiếng gió rít
“Trên Đồi Thu” mang theo tiếng thì thầm của những người khóc bạn vào
những chiều Thu vàng úa thuở nào. Khởi đầu từ tháng 8, “Cách Mạng Mùa
Thu”, đã mang đau thương đến cho cả ba Miền đất nước, cho cả một dân
tộc. Biết bao nhiêu cái chết oan khiên của những người dân vô tội. Bao
nhiêu thế hệ tuổi trẻ phải hy sinh cho mục đích hoang tưởng trên đường
nhuộm đỏ đất nước của đảng CSVN, vì theo lệnh của cộng sản quốc tế Nga
Tầu.
Bản
nhạc “Trên Đồi Thu” được bạn tù truyền nhau hát đã đến tai cán bộ. Ban
giám thị trại cho đây là lời tuyên truyền phản động, cần phải phát hiện
người chủ mưu. Đám ăng-ten được dịp báo cáo. Để tránh phiền phức cho các
bạn, anh Thu Tâm đã nhận mình là tác giả của bản nhạc. Nhưng cán bộ
trại không cho anh là người sáng tác bản nhạc này, vì anh vốn im lặng,
sinh hoạt không ồn ào. Ban giám thị để ý tới nhạc sĩ Vĩnh Lợi (tác giả
bản nhạc “Luyến Quê”, phổ từ lời thơ của giáo sư Nguyễn Thành Vinh,
trước năm 1975), một người khá nổi tiếng trong tù, cho anh Vĩnh Lợi là
tác giả của bản nhạc “Trên Đồi Thu”. Sau đó không lâu, anh Vĩnh Lợi đã
rời khỏi trại. Mọi người không biết anh bị chuyển đi đâu.
Để
che mắt cán bộ trại, nhất là trong hoàn cảnh thiếu điều kiện soạn những
bài ca, anh Thu Tâm đã vẽ phím đàn dương cầm trên sàn xi măng dưới
chiếu nằm. Nhiều bản nhạc ra đời, trong đó có bản “Trên đồi Thu”. Vào
những ngày cuối tuần, bầu trời mùa Đông ảm đạm, anh Thu Tâm ngồi bên
“phím đàn Dương cầm” trong khi anh Trần Đình Lục để tấm bìa trên vai
trái, tay phải cầm đũa, như đang xử dụng “Vĩ cầm”. Mọi người chứng kiến
hình ảnh hai người bạn với những điệu bộ như đang du hồn vào thế giới âm
thanh. Mỗi lần anh Thu Tâm đưa tay ra phía trước như giòng nhạc vừa
sang trang, anh trần Đình Lục cũng có một hành động tương tự. Âm hưởng
của giòng nhạc như đã thấm đượm vào tâm tư mỗi người đang trình diễn.
Anh
Thu Tâm bị bắt vào những ngày đầu tháng 5-1975 và đưa ra miền Bắc vào
tháng 6-1975 trong một chuyến bay đặc biệt, trong đó có một vị Tướng
lãnh VNCH với sự hiện diện của Tướng Hoàng Cầm (quân đội miền Bắc). Máy
bay đã đáp xuống sân bay Gia Lâm, Hà Nội. Anh đến trại Nam Hà rất sớm.
Anh dự phần đào giếng nước ngay cổng trại chính , cũng như xây dựng khu B
để có chỗ cho người viết và các bạn tù tới ở sau này.
Anh
Thu Tâm đã ghi lại sự xúc động tột cùng của những người còn ở lại, tiếc
thương đưa tiễn những người bạn ra đi đến nơi chốn tận cùng của một
kiếp người. Hình ảnh tiễn đưa bạn tù đến nơi an nghỉ “Trên Đồi Thu”,
cũng được diễn tả qua lời thơ:
Hai tên cầm súng bước đi đầu
Tên nữa AK tiếp phía sau
Một xác bó tròn đôi manh chiếu
Hai đầu buộc chéo bốn giây lau
Không kèn, không trống, không đưa tiễn
Chẳng khói, chẳng nhang, chẳng nguyện cầu
Chỉ có bạn tù khiêng lặng lẽ
Vùi nông một khối hận thù sâu.
Hình
ảnh ngày sum họp gia đình đối với tù cải tạo miền Nam chỉ còn là một
giấc mơ. Mỗi lần đi ngang qua dẫy núi đá vôi gần trại trên đường tới
rừng Cúc Phương, mọi người đều ngẩng nhìn tảng đá hình con rùa nằm nơi
lưng chừng núi, nói với nhau:
- “ Bao giờ con rùa đá bò lên đến đỉnh núi thì chúng ta được về”.
Vào
những buổi chiều mùa Đông giá lạnh, sương mù mờ mịt phủ xuống vùng núi
rừng trại Nam Hà. Khi đi qua chuồng dê, một người bạn tù trẻ tuổi của
người viết, bị ám ảnh bởi tiếng gọi dê về chuồng. Tiếng gọi: “Dê ơi! Về
đi…Về đi…” mà hai chữ cuối kéo dài, tạo ra một chuỗi âm thanh vang vọng
trong không gian vắng lặng buồn tẻ. Anh nghĩ đến thân phận của một kiếp
người, của một dân tộc thật thê lương. Anh đã ghi lại những ưu tư, trăn
trở về nỗi đau của dân tộc trước họa cộng sản qua lời ca “Trâu về đi”:
Trâu Về Đi
Trâu về đi! Tiếng ai vẳng trên đồi vắng,
tiếng ai vẳng vào trong hồn
từng chiều xuống nghe buồn tênh
như tiếng thở than?
Nức nở âm thầm mang nỗi khổ
ai gọi ai đi về với nỗi buồn lê thê
với chuỗi ngày tháng dài u mê?
Ngày lên cao này chất thêm sầu lao đao
để tiếng kêu gào
Còn mãi như vào xa xôi theo tiếng thở dài!
Trâu về đi. Trâu về đi.
Tiếng ai vẳng trên đồi vắng?
Tiếng ai vẳng vào trong hồn, từng chiều xuống nghe buồn tênh,
như tiếng hờn oán?
Nức nở như còn mang nỗi khổ
Bao đời bao oan hồn. Ôi nỗi lòng quê hương.
Với chuỗi ngày tháng đầy thê lương!
Người xa nhau người chất thêm sâu thương đau
để tiếng kêu gào vọng mãi đi vào mai sau
theo tiếng thở dài: Trâu về đi! Trâu về đi! Về đi!
Tác giả: Cuồng Sĩ Thanh Cẩm
(Toàn bản nhạc ghi trong phần chú thích)
Với
tâm tư của tác giả trong lời nhạc cũng như lòng bất khuất trong cuộc
sống…danh xưng “Cuồng sĩ Thanh cẩm” được anh Nguyễn Cao Quyền mến tặng
khi tác giả tới trại Thanh Cẩm, lưu lại như một kỷ niệm với những bạn tù
đã cùng nhau san sẻ những niềm vui hiếm hoi trong quãng đời nhiều cay
đắng.
Song
song với những bản nhạc diễn tả thực trạng đời sống cũng như tâm tư
người tù cải tạo trại Nam Hà, những vần thơ cũng nói lên sự khốn cùng và
đời sống cam go ở đây.
Sang
một hướng khác, người viết xin được nói đến anh Dương Khắc Đệ, bút hiệu
Dương Tử, nguyên là Trung Tá thuộc Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực VNCH, một
nhà thơ, một bạn tù khả kính của anh em trại Nam Hà. Anh đã xuất bản tập
thơ “Con Đường Cải Tạo” tại Hoa Kỳ, trong đó ghi lại một chuyện tình
thoáng qua, mà người viết có cảm tưởng, ý thơ đã nói lên tình cảm yêu
thương tha thiết của người trong cuộc, vượt qua một hoàn cảnh thật khắt
khe. Một sự chọn lựa hợp với tình người, mà “chủ thuyết hoang tưởng cộng
sản” hiện nguyên hình là một thứ bánh vẽ, không còn là nhu cầu cấp
thiết của người dân miền Bắc.
Để
thực hiện cuốn phim tài liệu “Tình và Tội”, đoàn điện ảnh Trung Ương
thuộc Bộ Nội Vụ Hà Nội, đã tới trại Nam Hà để quay phần chính của cuốn
phim. Khu lò rèn đã trở thành nơi thu hình, với sự có mặt của vài anh em
tù cải tạo miền Nam. Nội dung cuốn phim diễn tả một tù hình sự tên Bờ
rèn một con dao với dụng ý giết nhân viên an ninh trại để vượt ngục.
Diễn viên chính do một nam công an và vai nữ do công an Thanh Vân đóng
vai người tình của Bờ.
Việc
thâu hình diễn tiến đều, nhưng một “chuyện tình” bên lề cuốn phim đã
xẩy ra. Nữ diễn viên Thanh Vân rất trẻ đẹp đã có cảm tình với một tù cải
tạo miền Nam. Họ quen nhau trong một trường hợp khá đặc biệt. Nhân một
buổi anh cải tạo đến khu thợ may của trại, mượn kim chỉ để khâu chiếc
khuy áo tù sút chỉ. Trong khi đó nữ diễn viên Thanh Vân cũng ghé chỗ thợ
may. Thấy anh cải tạo lóng ngóng khâu chiếc khuy áo, cô liền cầm lấy
mũi kim đính giùm anh khuy áo. Họ đã trao đổi nhiều lần trong thời gian
đoàn quay phim thâu hình ở trại Nam Hà. Câu chuyện khá dài. Trong tác
phẩm “Con đường cải tạo” anh Dương Tử chỉ ghi lại một đoạn đối thoại
ngắn giữa hai người:
- “Khi nào anh được tha về, nhớ ghé Hà Nội vào nhà Vân chơi.”
– “Biết đến bao giờ, và nếu có ngày ấy, thì biết có ai tiếp mình không mà ghé?”
-“Tại sao không…”
-“Bởi vì: Ngày mai trong đám xuân xanh ấy, có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi.”
………
Anh
cải tạo đã tìm đến anh Dương Tử, nhờ anh làm một bài thơ để gửi cô diễn
viên. Anh Dương Tử tâm sự: “Tôi cảm thấy mình quá già và mòn mỏi vì
cảnh tù đầy, con tim đã khô héo, đâu còn rung cảm mà làm thơ tình với
tâm sự của người khác. Thế nhưng, anh bạn tù là một sĩ quan trẻ tuổi rất
khéo nói, khiến tôi không nỡ từ chối, đành phải mượn hai câu thơ của
Hàn Mặc Tử làm khởi dẫn để viết cho anh bạn bài thơ với tựa đề “Không
Quen”:
Không Quen (*)
“Ngày mai trong đám xuân xanh ấy
“Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi.” (Hàn Mặc Tử)
Và ngày mai ấy, ngày mai ấy
Mây vẫn ngàn phương lững thững trôi
Vẫn quá vô tình đâu biết tới
Một cánh chim sa ở cuối trời…
Bao lần khuy đã sút rồi
Bao lần để đó cho người vá may
Hương thừa còn một chút này
Để dành sưởi ấm chuỗi ngày cô đơn
Để còn giữ mãi trong tâm tưởng
Hình ảnh ai kia, nút áo này
Để qua song sắt khi chiều xuống
Lặng thả hồn theo bóng dáng mây
Đường kim mũi chỉ, ai may?
Còn in dáng dấp bàn tay ngọc ngà
Áo tôi sút chỉ đường tà
Nhưng mây xanh đã phiêu du phương trời
Và ngày mai ấy, Thanh Vân hỡi!
Em có bao giờ chạnh nhớ tôi?
Nhớ về khung cảnh “Tình và Tội”
Thầm nhủ: “Còn chăng bóng một người?”
Mây đi chẳng hẹn tái hồi
Em đi chẳng hẹn cùng tôi tương phùng
Đếm bao nhiêu lá trên rừng
Bấy nhiêu lần ấy, tôi từng nhớ em
Tôi xin giữ chút duyên tri ngộ
Làm hành trang cho nửa cuộc đời
Nửa cuộc đời, nắng mưa, sương gió
Kỷ niệm này mãi sống trong tôi
Và ngày mai ấy Vân ơi!
Nếu sang sông, bỏ cuộc chơi nửa vời
Tình cờ em có gặp tôi
Hãy coi như gặp một người…Không quen.
* Dương Tử : Con Đường Cải Tạo (trang 187)
Sau
khi bài thơ “không quen” được trao đi, anh Dương Tử cũng không để ý tới
chuyện tình của người bạn tù. Nhưng sau một thời gian, anh bạn tù tới
cho hay, cuốn phim “Tình và Tội” bị hư một đoạn, nên đoàn quay phim phải
trở lại trại Nam Hà. Mặc dù diễn viên Thanh Vân không phải đi chuyến
này, nhưng cô tình nguyện trở lại đây. Cô đã cho anh bạn cải tạo hay,
một nhóm nam diễn viên vì ghen tức đã báo cáo cô quan hệ với tù cải tạo,
nên cô bị đình chỉ công tác và phải trở về Hà Nội. Anh cải tạo năn nỉ
anh Dương Tử viết cho anh một bài thơ, gọi là tạ lỗi với nàng đã vì anh
mà liên lụy.
Bài thơ thứ hai mang tựa đề “Xin một lời quên” được trao cho Thanh Vân.
Xin Một Lời Quên (*)
Buổi ban đầu ấy, mới làm quen
Tôi đã từng đêm, thức trắng đêm
Máu tưởng bao năm tù đã lạnh
Bỗng bừng nóng lại, trở về tim
Đêm nay tôi lại thức thâu đêm
Nghe tiếng mưa rơi lạnh dưới thềm
Mà tưởng giọt sầu trinh nữ ấy
Lần đầu nhỏ xuống khóc tơ duyên
Biết thế thà rằng tôi chẳng quen
Thà đem chôn chặt nỗi niềm riêng
Vùi sâu tình cảm trong tâm thức
Đâu để cho em phải luỵ phiền
Tôi biết vì tôi luỵ đến em
Và vì tôi cũng quá vô duyên
Muốn bầy giãi hết, không ngôn ngữ
Biết nói gì hơn một tiếng “xin”
Cho tôi xin được gọi tên em
Dù rất âm thầm trong trái tim
Xin được nói lên lời tạ lỗi
Và xin, xin cả một lời …Quên.
(*) Dương Tử: Con Đường Cải Tạo (trang 191)
Chuyện
tình bên lề cuốn phim “Tình và Tội” còn rất dài, đã ảnh hưởng tới tâm
tư những người trong cuộc nhiều năm sau này. Mặc dù anh Dương Tử chỉ ghi
lại chuyện tình của một bạn tù, nhưng trong ý thơ của anh, đã diễn tả
đậm nét về sự chọn lựa giữa tình người và ý thức hệ, vượt lên trên định
kiến một chiều của xã hội cộng sản.
*
Xin cám ơn các tác giả đã đóng góp tâm huyết trong dòng “Thơ & Nhạc” tù đầy từ sau ngày 30-4-1975.
Xin
nghiêng mình trước những tác giả đã yên giấc ngàn Thu. Vì lý tưởng Tự
do, Dân chủ của dân tộc, vì quyền sống của con người đã lưu lại tấm
gương sáng đầy quả cảm bất khuất, không sờn lòng trước đe dọa áp bức,
cực hình, đầy ải thật tàn nhẫn trong ngục tù của cộng sản Việt Nam.
“Nhạc
Vàng” không những chỉ lưu truyền tại miền Nam, mà còn lan tràn xâm nhập
các sinh hoạt tại miền Bắc. Do đó, ta có thể nói, văn hóa miền Nam đã
không bị nhà nước cộng sản Hà Nội tiêu diệt, mà trái lại nền văn hóa này
còn tiếp tục ngự trị trong sinh hoạt dân chúng, bất kể miền Bắc hay
miền Nam. Văn hóa miền Nam khơi dậy tình cảm yêu thương, gắn bó của dân
tộc, đã xóa tan ảnh hưởng của những bài ca “Cách mạng”, vốn vay mượn cấu
trúc của âm nhạc Trung Hoa.
Song
song với các tác phẩm “Văn, Thơ và Nhạc” đã xuất bản, những tác phẩm
Thơ và Nhạc sáng tác trong thời gian tù đầy, ghi lại một giai đoạn đen
tối nhất của lịch sử dân tộc sau ngày 30-4-1975, đã để lại đời sau như
một nét chấm phá trong kho tàng văn học Việt Nam.
Trần Nhật Kim
ngày 1-2-2014
(Tết Giáp Ngọ)
oOo
Chú thích:
Trại Nam Hà: Trại cải tạo Nam Hà nằm trong xã Ba Sao, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà-Nam-Ninh (tên gộp 3 tỉnh).
Từ
thành phố Phủ Lý, qua cầu Hồng Phú, theo quốc lộ 21 độ 15 Km, trên
đường đi Chi Nê, Hòa Bình là tới xã Ba Sao. Trại Nam Hà ‘A’ nằm bên bờ
đầm, một vùng ngập nước với những núi đá cao (nên trại Nam Hà còn được
gọi là trại Đầm Đùn từ thời Pháp thuộc). Đầm Tam Chúc thuộc xã Ba Sao,
huyện Kim Bảng, cách thị xã Phủ Lý khoảng 12 Km, tiếp giáp với Hòa Bình
và Hà Tây, cách Hương Sơn khoảng 3Km đường núi. Diện tích đầm khoảng 600
ha.
Trại
Nam Hà cũng được gọi là trại Ba Sao. Danh từ “Ba Sao” có lẽ được dịch
ra từ nhóm chữ “Les trois Étoiles = Ba Sao”, còn nhận được phần nào do
chữ còn lưu lại trên khung lưới sắt bắc ngang trên đầu trụ gạch trước
khi vào trại. Nơi đây là một khu đồn điền trồng cà phê có từ thời Pháp.
Xã Ba Sao
trở thành thị trấn của huyện Kim Bảng, có diện tích 34,76 Km2. Quốc lộ
21 đi qua xã Ba Sao tới Chi Nê (Hòa Bình) và rừng Cúc Phương.
Tọa độ:
20o 32’ 28” B – 20o 54’ 11” B
105o 47’ 51” Đ – 105o 79’ 75” Đ
Thị
trấn Ba Sao gồm 16 xã: Đại Cương, Đồng Hóa, Hoàng Tây, Khả Phong, Lê
Hồ, Liên Sơn, Ngọc Sơn, Nguyễn Úy, Nhật Tân, Nhật Tựu, Tân Sơn, Thanh
Sơn, Thi Sơn, Thụy Lôi, Tượng Lĩnh và Văn Xá.
Huyện Kim Bảng:
Từ
đời nhà Trần trở về trước gọi là Cổ Bàng thuộc châu Lỵ Nhân, thuộc lộ
Thiên Tường. Năm Quang Thuận 7 (1446), triều đình bỏ tên Trấn đặt là
Thừa Tuyên. Năm Quang Thuận 10 (1469), vua Lê Thánh Tông cho đổi tên
Thiên Trường thành Sơn Nam, Kim Bảng thuộc Thừa Tuyên Sơn Nam. Năm Hồng
Đức 21 (1490), triều đình đổi tên Thừa Tuyên thành Xứ. Năm Cảnh Hưng 2
(1741), triều đình bỏ tên Xứ đặt thành Lộ, chia Sơn Nam thành 2 Lộ. Đời
Tây Sơn (1788-1802), Kim Bảng thuộc trấn Sơn Nam Thượng.
Năm
Minh Mạng 13 (1832), triều đình thành lập tỉnh Hà Nội. Kim Bảng và phủ
Lý Nhân thuộc Hà Nội. Tỉnh Hà Nội có 4 phủ: Hoài Đức, Ứng Hòa, Lý Nhân
và Thường Tín. Tỉnh lỵ là thành Thăng Long cũ. Sau Hiệp Ước Patenotre,
Tổng thống Pháp ra sắc lệnh thành lập thành phố Hà Nội. Ngày 1 tháng 10
năm 1888, vua Đồng Khánh ra đạo dụ nhượng cho Pháp thành phố Hà Nội.
Ngày 26-12-1896, tỉnh Hà Nội (phần còn lại) chuyển tỉnh lỵ về Cầu Đơ,
đến ngảy 3-5-1902 đổi tên thành tỉnh Cầu Đơ. Năm 1904 tỉnh Cầu Đơ đổi
thành tỉnh Hà Đông.
Dưới
đời Thành Thái 2 – 1890, tỉnh Hà Nam được thành lập từ một số huyện của
Hà Nội và Nam Định (lấy tên Hà của Hà Nội và Nam của Nam Định). Phủ Lý
trở thành tỉnh lỵ của Hà Nam.
Giai
đoạn tứ 1965-1996, tỉnh Nam Định sát nhập với tỉnh Hà Nam thành “Nam
Hà”, sau đó sát nhập với tỉnh Ninh Bình thành “Hà Nam Ninh”. Từ tháng
1-1997, tỉnh Hà Nam được tái lập như trước đây. Thị xã Phủ Lý thuộc tỉnh
Hà Nam.
Thị xã Phủ lý
nằm trên quốc lộ 1A, bên bờ phải của sông Đáy. Phủ Lý cách Hà Nội 60Km,
cách thành phố Nam Định 30 Km, cách Ninh Bình 33 Km. Phủ Lý là nơi gặp
nhau của 3 con sông: sông Đáy, sông Châu Giang và sông Nhuệ.
Rừng Cúc Phương là một khu rừng nằm trên địa phận ba tỉnh: Ninh Bình, Hòa Bình và Thanh Hóa với tổng số diện tích 22.200 ha. Trong đó:
Tỉnh Ninh Bình: 11.350 ha Tỉnh Thanh Hóa: 5.850 ha Tỉnh Hòa Bình: 5.000 ha
“Rừng Cúc Phương” trở thành “Vườn Quốc Gia” từ năm 1966.
Tọa độ của rừng Cúc Phương:
Từ:
20o 14’ tới 20o 34’ Bắc vĩ tuyến
105o 29’ tới 105o 44’ Đông kinh tuyến
Những bản nhạc: