Thứ Sáu, 29 tháng 5, 2009

Hèn (?) hay Hùa (?)




Cả tuần nay cứ nghe ra rả các báo (báo in và điện báo), các đài phát thanh hải ngoại lập lại các lời nói của các nhân vật thuộc lớp xướng ca “siêu sao” mà cộng đồng cũng đã từng biết tên tuổi thành tích; hoặc trích lục bàn loạn về các bài viết, hồi ký, sách mới xuất bản của các cựu đảng CS đang thoi thóp sắp mãn phần về cái tâm trạng gọi là “hèn” của họ khi phải sống dưới chế độ CS hoặc phải “làm việc” hay “cộng tác” với CS.

Người xấu thì ở đâu chẳng có; bạn xấu, đồng nghiệp xấu, láng giềng xấu, người thân trong gia đình xấu… ngay cả chính bản thân chúng ta trong đời sống hàng ngày đôi khi gặp ngày trở trời (bad day) bị ấm đầu cũng không tránh được việc cư xử “không đẹp” với người chung quanh. Nhưng sau đó, bản chất tốt (“tính bản thiện”) của con người cũng lại trở về… Còn nếu không, thì mọi người cũng phải tìm cách xa lánh người xấu bởi vì những cái độc địa của “người xấu” sẽ gây thiệt hại cho những người phải tiếp xúc sinh họat với họ cả về vật chất (hao tài, tốn của, tốn thời giờ, nhức đầu, lên máu, đau bao tử, táo bón, yếu tim…) lẫn tinh thần (chán nản, tuyệt vọng, yếm thế, trầm cảm…)

Những người xấu này chẳng sớm thì muộn rồi sẽ bị sống cô lập và không còn có ảnh hưởng gì đến chúng ta nữa. Cái khổ phải than thở kêu trời trách đất, muốn tìm mọi cách xa lánh, trốn thoát (vượt biên ?) cũng không được, chẳng đặng đừng muốn nói ở đây là cái đám người xấu xí đó lại là những người CS đã và đang lãnh đạo đất nước Việt Nam với một chính sách thật xấu xí tàn bạo kéo dài gần 100 năm rồi… người dân Việt đã nhận ra là họ phải chịu đựng sự khống chế của CS từ thế hệ cha đến thế hệ con cháu qua sự việc CS dùng vấn đề nhu cầu thấp nhất và cần thiết của đời sống là cơm áo và an ninh như cặp còng số 8 để giữ họ sống mà cũng như đã chết trong cái chuồng khỉ XHCN; không làm sao thoát ra được!

Tuy vậy, CSVN gian ác đã thấy sự tan rã tất nhiên hàng loạt của các nước xã hội chủ nghĩa anh em (Liên xô, Đông âu…) nên cũng e ngại đến lúc dân Việt đói quá thì có thể thiên đường XHCN sẽ loạn, sẽ sụp đổ; và hơn thế nữa là người dân Việt nhớ dai và cũng thù dai lắm chứ không dễ dãi mát tính như mấy đồng chí nhân dân của CS Đông âu (!) Cho nên CS mới có các chính sách “mở cửa,” “đổi mới,” “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (!)”…” để nhằm xoa dịu bớt cơn đói và rét của dân. Dân Việt thấy cửa hé mở, bắt đầu “tự lo,” tìm kiếm sống bằng mọi phương cách. Sau một thời gian gọi là “đổi mới” dân đen lại nhận ra là chế độ “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” chỉ khác chế độ “bao cấp” một điểm rõ rệt nhất là: “các nhân vật lãnh đạo và đảng viên cán bộ cao cấp CS chẳng phải đổ mồ hôi mà họ giầu có nhanh một cách chóng mặt…” Ngoại trừ một số nhỏ nhân dân đen biết cách bám ống đu đủ hoặc đu dây theo quyền lực cai trị độc đoán và cực kỳ thô bạo của CS qua luật rừng, hối lộ, tiền cò, quà cáp thì ăn nên làm ra, còn đại đa số dân đen vẫn khổ hơn… chó! Đám thiểu số theo đóm ăn tàn, ăn nên làm ra quên (lại quên!) không để ý đến cái tâm địa thâm độc của CS trong cái đuôi “định hướng xã hội chủ nghĩa:” có nghĩa là CS đến một lúc nào đó sẽ lại sẵn sàng trắng trợn thu lấy lại tất cả các của cải mồ hôi nước mắt của họ đã gây dựng ra trong giai đoạn “đổi mới.” (Một số lớn Việt kiều yêu nước đã trắng mắt về việc đem hết của về Việt Nam làm ăn với CS rồi phải bỏ của chạy lấy thân!) Sờ sờ trước mặt, chúng ta còn nhớ CS và chỉ có XHCN mới có cái màn cướp ban ngày quái gở gọi là “đánh tư sản mại bản???” – CS có vẻ ưa chuộng và rất thích hợp với 2 động từ: “Đánh” (đánh Mỹ cứu nước, đánh tư sản…) và “Cướp” (cướp chính quyền, cướp đất…)

Cộng đồng tị nạn sống ở hải ngoại xa cách quận Ba đình cả chục ngàn cây số, có cái may mắn được chính phủ dân chủ nơi tạm dung bảo vệ mọi quyền công dân, mà không (chưa) thấy có hành động sáng suốt can đảm, hay đưa ra một sáng kiến cụ thể khả dĩ để làm cho CS phải trả lại cho dân cái “tiền dân mênh mông” và những nhân quyền căn bản; đưa đám khỉ CS trở về lại rừng nơi mà khỉ đã đi ra... mà chỉ biết cách ngồi chửi ngày chửi đêm; hết chửi đổng rồi quay ra chửi lẫn nhau hết ngày (thấy lửa cháy mà đứng ngoài la thì bố ai không la được!) Làm sao mà trách người dân đang sống dưới một chế độ đang dùng một thứ luật pháp (?) quái gở trên quả đất là (CS) muốn bắt ai thì bắt lúc nào cũng được; (CS) muốn ghép tội người mà họ (CS) không thích với tội gì cũng được!

Nhiều người dân bi quan đến độ phải kết luận là:

“HCM (và CSVN) từ cách mạng tháng 8 /1945, đã dần dần đưa dân tộc vào con đường hết thuốc chữa!”

Hoặc:

“Bây giờ mà có phục hưng lại thì cũng chẳng còn gì để xây dựng…”

Đại đa số tiến sĩ, giáo sư mà CS đào tạo ở trong nước chỉ có một cách hót theo bài vở đã biên sẵn của CS chứ không có một khả năng xây dựng hay sáng tạo gì (họ biết là phải đi bên lề bên phải thì mới yên tâm và có ăn!) Nếu mai đây may ra Việt Nam chưa mất vào tay tầu phù, thì sau khi diệt sạch đảng CS cũng phải cần khoảng 60 năm nữa (Có vẻ hơi bi quan?! Hay tự ti vì cho là Đông âu dân trí của họ khá hơn mình mà họ đã cần đến 20 năm!) những cảm tình viên của CS mới chết hết, con bịnh Việt Nam mới mong chữa lành bịnh. Xin phép nêu lên vài con số như thế để thấy tai họa CS đã bao trùm nặng và dầy trên đất nước đến mức độ nào (mà chưa thấy ai sáng mắt ra?…) Việt Nam cần phải có một thiên tài chính trị can đảm đứng lên dẫn dắt dân đen (Xin lậy giời cao đất dầy đừng cho chúng con một HCM thứ 2!!!). Hay phải có một phép lạ mới chóng hóa giải được cái trù dập khốn khổ mà HCM đã đưa dẫn tổ quốc và dân tộc Việt Nam vào. Các nước láng giềng như Hồng kông, Đài loan, Nam hàn, Thái lan, Tân gia ba sở dĩ họ từ từ khá lên sau đệ nhị thế chiến vì lãnh đạo của họ không phải là lọai như HCM... Vậy mà vẫn còn có nhiều con vẹt ngây thơ cứ ca bài “Việt Nam - HCM” làm cái quỷ gì không biết? Không có HCM, đất nước Việt Nam có lẽ không đến nỗi ra nông nỗi thối như hũ tương tầu ngày hôm nay…

Vẻ vang ở chỗ nào? Vinh quang chỗ nào? Đảng CS đã làm dân Việt hoang tưởng đến độ là họ đang sống đời lạc hậu nô lệ mà không biết mình là yếu kém nô lệ; cứ tưởng mình là anh hùng kiệt suất liệt sĩ cả… Trí thức Việt Nam hiểu biết một chút, có tư cách một chút không tài nào ngóc đầu lên nổi để tạo được một phong trào có sức mạnh có thể giúp dân chúng nói lên cái nguyện vọng thèm khát dân chủ tự do của dân… Trí thức XHCN đã có đủ kiên nhẫn xếp hàng lãnh tem phiếu; quý 1 ký thịt, 1 ký gạo như là vàng, như hàng hiếm; hoặc hoan hỉ nhận huân chương bằng khen của bác và đảng nhưng lại nhẫn tâm để mặc kệ dân đen lẻ tẻ dăm ba người, thiếu tổ chức đứng trước cơ quan chính quyền CS kêu oan; để cho công an, cảnh sát đánh dùi cui vỡ đầu vỡ trán giải tán; dăm ba ngày sau lại đâu vào đó như không có chuyện gì xẩy ra…

Người dân Việt trong nước có đáng bị gọi là “hèn” hay không? Xin hãy thận trọng nghĩ lại câu nói quen thuộc “hãy nhìn kỹ những gì CS làm” trước khi trả lời câu hỏi này. Đại đa số nhân dân đen đã bị cả đảng lẫn bác thay phiên nhau “nhân danh nhân dân…” lợi dụng cái “văn hóa nhân dân…” vắt chanh “quân đội nhân dân” thành lập các “Ủy ban bóp cổ nhân dân...” cho dân đi tù không thấy ngày về gặp lại cha mẹ vợ con qua cái gọi là “tòa án bịt mồm nhân dân…” Cứ mở miệng nói từ chuyện to đến chuyện nhỏ là có chữ “nhân dân…” (nhưng ngân hàng thì lại phải là “ngân hàng nhà nước” đấy; cho nhân dân vào ngân hàng là hỏng việc đảng ngay?) để hà hiếp (dâm) nhân dân nhiều lần ngay giữa ban ngày giữa chợ đông người. Nhân dân đen không có ai bênh vực cho cảnh thấp cổ bé họng của mình thì phải “sợ” (không phải là “hèn”) là chuyện dễ hiểu...

Phần các ông trí thức có nhiều tuổi đảng, có nhiều huân chương “nhân dân này, nhân dân nọ… (nhà giáo nhân dân, hiệp sĩ công nghiệp, nghệ sĩ nhân dân…) có nhiều thành tích trói tay hay bịt mồm dân đen cho đảng “làm việc” mà bây giờ lại tự thú là “hèn!” “Hèn” là thế nào? Cứ căn cứ theo hoàn cảnh sử xự của các ông trí thức loại này ở Việt Nam hiện nay thì theo tự điển tiếng Việt, trái (nghĩa) với “can đảm” (brave) không phải là “hèn” (coward) mà là “hùa” (conformed) chứ chưa phải là “nhát” (scared. afraid).

Hiện nay Việt Nam có nhiều tiến sĩ thật; nhưng đại đa số các bác này được đào tạo từ một hệ thống giáo dục hạng bét trên thế giới thì khả năng của họ cũng thảm hại lắm!!! Đặc biệt nhóm “trí thức yêu nước” (còn gọi là chuẩn liệt sĩ) này rất nhậy cảm. Hơi động vào một tí là mấy bác ấy đã nhẩy cỡn la toáng lên và phang vùn vụt lại ngay là “cái lũ đó (người Việt sống tị nạn ở hải ngoại) đã chạy theo liếm giầy, ăn bơ thừa sữa cặn… của đế quốc.” Óai oăm thật đấy... Các bác đã nhậy cảm nóng tính mà lại hay dùng cái văn hóa “ếch ngồi đáy giếng” chán ghê! Nói cho được việc đấy chứ! Cứ cho là các bác có giầu tưởng tượng nhưng cũng phải thành thật nhìn thấy dân Việt không kể gì sinh mạng cá nhân và gia đình bỏ chạy thoát ra khỏi chế độ CS sống đời tị nạn ở ngoại quốc không phải vì miếng “bơ thừa sữa cặn” hay thèm món “liếm giầy đế quốc” đâu các bác ạ!” Các bác cũng biết thừa là ở ngoài nước Việt Nam không một chỗ nào có “bơ thừa sữa cặn” cả. Tất cả thực phẩm thứ nhất phải đúng tiêu chuẩn mới đem ra bán đuợc; thứ nhì phải có tiền mới mua được. Các bác nếu còn không tin thì cứ kiểm lại với con cháu của các bác đang gởi ra ngoại quốc học (du sinh) trên đồng tiền của nhân dân… Dân tị nạn CS kém nhất phải đi cắt cỏ thì cũng sống với đầy đủ quyền công dân được luật pháp bảo vệ ngày cũng như đêm (đó là chưa muốn nói các bác cắt cỏ lúc buồn buồn uống vào vài chai bia mà có muốn chửi tổng thống Mỹ, thống đốc tiểu bang, dân biểu quốc hội, cảnh sát… lúc nào cũng được chẳng ai dám động lến cái lông chân), vợ con các bác cắt cỏ mỗi người lái 1 ô tô riêng, gia đình các bác làm chủ 1-2 căn nhà, cơm no áo ấm quần áo mặc suốt ngày, con cái đi học đại học cả chứ không đến khổ như phải chạy xe ôm bữa đói bữa no đâu!…

Thực tế đã cho thấy dân trong hoàn cảnh tâm trí bị dồn ép đầy ắp các giáo điều tai hại của CS quốc tế mà thể xác lại suy dinh dưỡng, nhu nhược. Dân đã quá đói rách mà lại thiếu hoặc không có cơ hội đoàn kết nào thì có muốn phản đối CS cũng không được; Chỉ rên rỉ than vãn, cầu trời may ra… Tất cả vấn đề khó nói khó làm này tựu trung ở yếu tố quyền lực: Đảng CS là đảng chính trị hợp pháp duy nhất nắm hết mọi quyền hành một cách tập trung; Đảng vừa là quốc hội lập pháp, vừa là chính phủ hành pháp trung ương và các ủy ban nhân dân (?) thành phố, phường, tỉnh, huyện; vừa là tư pháp với hệ thống “tòa án nhân dân” do đảng viên “xử lý”… đồng thời đảng chỉ huy cả quân đội, công an mật vụ cảnh sát; giữ quyền ban phát ân huệ kinh tế; sai khiến tôn giáo; kiểm soát thông tin báo chí văn nghệ, tổ chức lễ hội, mít tinh… Đảng đã to mà lại nhiều tay nhiều tài đến thế… Thử hỏi là người dân có cái quyền và lực gì? Dựa vào chỗ nào để có thể nói lên nguyện vọng của mình.

Ai cũng thấy lý tưởng cộng sản hôm nay chỉ còn viết trên nghị quyết, công hàm, diễn văn, khẩu hiệu băng rôn, pa nô và in khắc trên các cặp còng số 8 thôi chứ cứ nhìn cấp lãnh đạo CS (và con cháu họ) thì thấy các hình ảnh hoàn toàn trái ngược hẳn với giáo điều, cương lĩnh của chủ nghĩa vô sản mà họ cổ võ. Họ giầu vì tha hồ vơ vét cưỡng đoạt tài sản mồ hôi nước mắt của dân chúng, lũng đọan tài nguyên của quốc gia đồng thời công khai bày tỏ lòng thờ kính Phật Chúa, tin phong thủy, tử vi… mới là nghịch lý… Lần về thăm Việt Nam, gặp lại một số bạn cũ, họ hàng là đảng viên CS; khi thử nhắc đến vấn đề “học tập tốt, lao động tốt” thì anh nào cũng cười một cách nhạo báng… lý tưởng CS và đạo đức HCM chỉ là vải thưa còn che mắt được ai?

Nhiều người dân luận ra là: “Nếu mình không đủ sức chống lại nó; thì phải chấp nhận chung sống với nó thôi!” (If you can not force it; then fit it!) Chẳng những chấp nhận chung sống mà còn phải miễn cưỡng nuôi sống nó dài dài!!! Con đường duy nhất để sống, để sinh tồn là làm mọi cách gia nhập đảng CS... bởi vì sau này nếu muốn xin xỏ cái gì thì là đảng viên cũng dễ dãi hơn… thế thì tội gì không gia nhập??? Vì vậy vấn đề “Việt nam là con bệnh hết thuốc chữa” là ở đây.

Tôn giáo lớn với tổ chức có sẵn như giáo phận, nhà thờ; giáo hội, chùa, tổ đình… sẽ là nơi lý tưởng tập hợp được sự phản kháng của dân. Tôn giáo dường như sẽ là 1 giải pháp tốt nhất mà dân có thể nương tựa vào để từ đó xây dựng sức mạnh đối lập; để dần dần tiến đến 1 phong trào “toàn dân nổi dậy” lật đổ chế độ CS. Lịch sử Việt Nam cận đại cho thấy chính phủ Ngô Đình Diệm tương đối khá mạnh mà chỉ đụng vào Phật gíáo thôi đã bị chấm dứt một cách bi thảm… Trong khi CS hiện nay phải đương đầu với sự phản kháng khá rộng rãi của cả 4 tôn giáo lớn ở Việt Nam cùng 1 lúc: Phật giáo, Công giáo, Tin lành và Hòa hảo; thì hệ quả bi thảm sắp dành cho lãnh đạo CS chắc chắn sẽ gấp 4 lần bi thảm mà chính phủ Ngô Đình Diệm đã lãnh đủ… CS gian ác đánh hơi được mối nguy nếu phải đối đầu với sự tập hợp và chống đối của tôn giáo, CS đang nỗ lực một mặt ra lệnh bắt bớ giam cầm, bịt mồm, loan tin thất thiệt lăng mạ uy tín các lãnh đạo tôn gíáo, một mặt ngày đêm gài người (dùng một số cán bộ công an CS làm sư và linh mục quốc doanh) để cố tình lũng đọan các tổ chức tôn giáo; ngăn chặn bằng mọi giá sự nổi dậy của dân qua ngõ tôn giáo…

Ngoài ra 1 khủng hoảng kinh tế (chẳng hạn như một suy thoái kinh tế trầm trọng) hay khủng hoảng quân sự (chẳng hạn như chiến tranh toàn diện với TQ) thật lớn xẩy đến cho Việt Nam lúc này cũng sẽ kéo theo sự sụp đổ của chế độ CS bởi vì CS không hề được lòng của dân… Nhưng sự khủng hoảng này khó có thể tiên đoán là sẽ xẩy ra khi nào?

Chờ đến khi nào? CS đang ở thế phải phục tùng thiên triều TQ, thỏa mãn tất cả các đòi hỏi của TC để trước hết tránh chiến tranh trực tiếp với TC; mặt khác dùng TQ như là lá chắn kinh tế trong trường hợp kinh tế Việt Nam xụp đổ. Vì vậy không lạ gì khi thấy lãnh đạo CSVN hoàn toàn bịt tai che mắt trước sự kêu gọi của toàn dân trong nước về việc để TQ khai thác “bauxite” và lãnh thầu các công trình xây cất, kiến thiết ở Việt Nam hiện nay.

Trí thức Việt Nam không cần phải kêu ca là cảm thấy “hèn quá!” mà nên can đảm tiếp sức với tôn giáo và nhân dân một cách tích cực để tỏ thái độ với đảng CS. Đã đến lúc không thể tiếp tục “hùa” với CS để hành động phản lại nguyện vọng chung của dân.

Không cần phải thật can đảm mà chỉ cần thật tình tin tưởng vào nhau là có thể làm cho CS xuống hố.

Trần Văn Giang
(5/27/2009)

Nguồn Take2tango

Thứ Năm, 28 tháng 5, 2009

THẾ GIỚI VẪN BỊ CHI PHỐI BỞI QUYẾT ĐỊNH CỦA “TAM ĐẦU CHẾ”



Việc cộngsản Bắc Triều Tiên tuyên bố: “Thực hiện thành công thêm một cuộc thử nghiệm hạt nhân dưới lòng đất” vào ngày 25/05//09, mà Bình Nhưỡng gọi là “biện pháp răn đe hạt nhân để tự vệ”, và liền sau đó phóng thử nghiệm 3 tên lửa đạn đạo tầm ngắn xuống vùng biển phía Đông của họ, đe dọa an ninh vùng Bắc Á, đã khiến cho thế giới lên cơn sốt: Làm nhẹ đi vụ Iran phóng thử hỏa tiễn tầm trung mới, vào ngày 20/05/09, có tầm xa chừng 1350km, trực tiếp đe dọa Dothái. Đồng thời khẳng định sẽ không giảm thiểu chương trình hạt nhân của mình. Làm nhẹ đi việc nhà cầm quyền Quân Phiệt Miến Điện bất chấp dư luận, đem nữ lãnh tụ đối lập, Aung San Suu Kyi bị quản thúc tại gia vào nhà tù, để đưa ra tòa, buộc một cái tội vu vơ xẩy ra không do bà phạm. Làm dư luận quên đi vụ tàu Trungcộng đâm chìm thuyền đánh cá của ngư dân Việtnam, để nhân đó, Trungcộng cấm luôn tàu thuyền ‘nước ngòai’ không được vào vùng biển Hoàngsa, mà chúng cưỡng chiếm của Việtnam. Nhưng dù sao đây vẫn là những biến cố sẽ có ảnh hưởng lâu dài đến tình hình chính trị và an ninh thế giới.

Bắc Triều Tiên thử nghiệm bom nguyên tử lần thứ 2 này, không làm ai ngạc nhiên, vì họ đã trục xuất các thanh sát viên quốc tế kiểm soát nguyên tử, và loan báo rút vĩnh viễn khỏi các cuộc đàm phán 6 bên giữa: Mỹ, Nga, Tầu, Nhật, Nam và Bắc Triều Tiên. Mới đây họ đã cảnh báo là sẽ cho tiến hành thêm một cuộc thử nghiệm hạt nhân nữa, bất chấp nghị quyết trừng phạt của Hội Đồng Bảo An LHQ về cuộc thử nghiệm hạt nhân của họ năm 2006. Theo ông Lee Jung-hoon, giáo sư chính trị khoa học tại Hán Thành thì: “Bắc Triền Tiên có thể đã thực hiện vụ thử nghiệm hạt nhân vì cảm thấy họ chẳng có gì để sợ hãi”. Ông nói rằng: “ Vụ Bình Nhưỡng phóng thử vệ tinh tầm xa hồi tháng Tư đã không bị Hội Đồng Bảo An LHQ đưa ra một biện pháp trừng phạt cụ thể nào, ngoài một lời cảnh cáo… sự kiện đó có thể làm cho Bắc Triều Tiên tự tin hơn, khiến cho nước này khó lòng coi trọng Hoakỳ và các đối tác”.

Đúng vậy, cả thiên hạ đều biết. Hội Đồng Bảo An LHQ hoàn toàn bị 5 lá phiếu phủ quyết của Anh, Pháp, Mỹ, Nga, Tầu chi phối, mà Anh, Pháp, Mỹ đứng về một phe, Nga, Tầu là 2 phe đối lập, đã tạo thành một thứ “Tam Đầu Chế” tại Hội Đồng Bảo An LHQ và trên chính trường thế giới. Bởi vậy 3 vấn đề gai góc nổi bật hiện nay trên trường quốc tế là: Iran, Miến Điện, Bắc Triều Tiên. Vốn bị Đồng Minh Dân Chủ: Mỹ-Anh-Pháp coi là nhóm “hung đồ”, họ tự cho mình sống ngoài vòng luật pháp quốc tế, dùng ngay dân chúng của họ để làm “con tin” đặt điều kiện với quốc tế. Nhưng Nga, Tầu thì luôn luôn lại ra tay nâng đỡ, vừa vì quyền lợi riêng lấy từ các nước đó, vừa dùng các nước đó như một phương tiện để cầm chân phe Đồng Minh Dân Chủ và đòi phải trả giá. Hầu như, chính sách “Ngoại Giao Hòa Giải” của tổng thống Mỹ, Barack Obama trong thời điểm hiện nay với các đối thủ quốc tế, như Nga, Tầu đã hiệu quả, nên cả Nga lẫn Tầu đều cùng với Mỹ lên tiếng phản đối cuộc thử nghiệm nguyên tử dưới lòng đất của Bắc Triều Tiên. Ngày 25/05/09, tại tòa Bạch Ốc, tổng thống Mỹ, Obama, tuyên bố: “Cộng đồng quốc tế phải đứng lên chống lại Bắc Triều Tiên về vấn đề hạt nhân”. “Chương trình hạt nhân của Bắc Triều Tiên đề ra một mối đe dọa nghiêm trọng cho hoà bình thế giới”. “Là một hành động vô trách nhiệm vi phạm trắng trợn luật quốc tế”. “Bắc Triều Tiên đang đào sâu thêm sự cô lập của họ, và kích động áp lực mạnh hơn của quốc tế”. Ông cam kết: “Tăng cường các nỗ lực hướng tới một quy chế cấm phổ biến hạt nhân mạnh hơn trên trường quốc tế”.

Hôm sau, ngày 26/05/09, người phát ngôn viên bộ ngoại giao Trungcộng tuyên bố: “Trungquốc quyết liệt phản đối cuộc thử nghiệm hạt nhân hôm thứ Hai của Bắc Triều Tiên”. “Bắckinh có Hai mục tiêu chính, đó là một bán đảo Triều Tiên phi hạt nhân và bảo vệ nền hoà bình và tình trạng ổn định cho khu vực Đông Bắc Á Châu”. Cùng ngày. Mỹ, Nga, Tầu và 12 nước thành viên khác trong Hội Đồng Bảo An LHQ đồng thanh lên án vụ thử nghiệm hạt nhân của Bắc Triều Tiên và rằng: “Họ đang chuẩn bị biện pháp đáp ứng mạnh với nước này”. Chủ tịch Hội Đồng Bảo An, đại sứ Nga, Vitaly Churkin nói: “Tất cả các nước đều phản đối các hành động của Bắc Triều Tiên và thỏa thuận với nhau, yêu cầu Bắc Triều Tiên phải tuân thủ hoàn toàn các nghị quyết của Liên Hiệp Quốc”. Xuất hiện trước ống kính truyền hình ngày 26/05/09, tổng thống Mỹ, Obama nhấn mạnh: “Nga và Trungquốc, cũng như hai đồng minh lâu đời của Hoakỳ là Nam Triều Tiên và Nhật Bản đã đi đến kết luận chung, đó là Bắc Triều Tiên sẽ không có được an ninh và kính trọng của quốc tế, nếu họ sử dụng những phương pháp dọa nạt và vũ khí bất hợp pháp”. Để xem, quốc tế dùng biện pháp nào trừng phạt Bắc Triều Tiên đây?

Trả lời đài truyền hình NBC về câu hỏi, liệu Hoakỳ có đủ năng lực đối phó với các mối đe dọa ngày càng nhiều từ bên ngoài, trong đó có Bắc Triều Tiên hay không? Đô đốc Michael Mullen, chủ tịch Ủy Ban Liên Quân Hoakỳ trả lời: “Tôi tin tưởng là Hoakỳ có thể đối phó với đe dọa từ Bắc Triều Tiên. Không phải chỉ riêng Hoakỳ bởi vì có nhiều quốc gia, nhất là các quốc gia trong khu vực, cũng có mối quan tâm tương tự”. Tại Hội Nghị Á, Âu – ASEM - tại Hànội, ngày 25/05/09, để thảo luận về nền kinh tế toàn cầu, nhưng thay vào đó lại bị kết thúc với các vấn đền liên quan tới Miến Điện và Bắc Triều Tiên. Liên Hiệp Âu Châu kêu gọi nhà cầm quyền Miến Điện: “Hãy trả tự do cho nhà lãnh đạo đối lập Aung San Suu Kyi”. Bộ trưởng ngoại giao Thụy Điển, Carl Bildt, nói: “Phóng thích bà Aung San Sưu Kyi là điều kiện thiết yếu để dọn đường cho cuộc bầu cử đã được hoạch định cho năm tới tại Miến Điện”. Ông Carl Bildt phản ứng trước việc Bắc Triều Tiên thử bom hạt nhân, rằng: “Đó là điều đáng báo động. Đây là một lời lên án chế độ khiêu khích tại Bình Nhưỡng. Tôi tin rằng, làm như thế sẽ khiến cho Bắc Triều Tiên càng bị cô lập hơn nữa, và khiến cho tình hình về lâu về dài nước này trở nên tệ hại hơn nữa”. Phát ngôn viên bộ ngoại giao Nhậtbản, Kozuo Kodama nói: “Nhậtbản sẽ tăng sức ép để hội nghị ASEM đưa ra một tuyên bố chung, lên án vụ thử nghiệm hạt nhân, bên cạnh tuyên bố chung vẫn thường được công bố vào lúc kết thúc hội nghị cao cấp Á- Âu”.

Nhân đây, xin cảnh báo trước dư luận: Trungcộng đang tỏ dấu theo xuôi Mỹ ở khắp nơi, từ Bắc Triều Tiên, Miến Điện tới Iran. Trong khi vẫn trắng trợn công khai tăng cường kế hoạch thôn tính Việtnam và toàn vùng Biển Đông. Chỉ cần Mỹ nhượng bộ một chút là Đông Nam Á sẽ có thể rơi vào tay Trungcộng. Đành rằng, hiện nay sự đồng thuận của “Tam Đầu Chế” Mỹ-Nga-Tầu đang chi phối toàn cuộc thế giới. Nhưng Việtnam và Biển Đông là điểm trọng yếu trong chiến lược toàn cầu của truyền thống Mỹ, nếu chính quyền của tổng thống Barack Obama không quan tâm đúng mức thì chính nước Mỹ sẽ tự đánh mất vị thế siêu cường quốc tế duy nhất của mình.

LÝ ĐẠI NGUYÊN
Little Saigon ngày 26/05/2009.

Thứ Ba, 26 tháng 5, 2009

ĐẠI HÁN TRÊN ĐƯỜNG SUY THOÁI


Trở Về Với Nhân Loại Văn Minh ?

Ngày 13-5-2009 là thời hạn cuối cùng cho các quốc gia duyên hải đăng ký đơn yêu cầu Ủy Ban Phân Ranh Thềm Lục Địa Liên Hiệp Quốc cho mở rộng thềm lục địa từ 200 hải lý đến mức 350 hải lý. Đến ngày đó có hơn 50 quốc gia hội viên Liên Hiệp Quốc đã đệ đơn thỉnh nguyện (submission) , hoặc từng phần hoặc toàn bộ, về việc định ranh thềm lục địa cho quốc gia mình.

Sau những tính toán và do dự, vào ngày chót Trung Quốc đã đệ đơn thỉnh nguyện tại Ủy Ban Phân Ranh. Đơn nạp chậm nhưng không trễ.

Từ năm 1994 khi Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển có hiệu lực chấp hành, Bắc Kinh không bao giờ lý vấn đến Công Ước mà họ đã ký tại Đại Hội Liên Hiệp Quốc về Luật Biển Kỳ III năm 1982. Năm 1992, họ tự tiện ban hành Luật Biển áp dụng riêng cho Trung Quốc, bất chấp các điều khoản và các thủ tục điều giải và tố tụng quy định trong Công Ước. Đó là những phương thức ôn hòa và đối thoại bình đẳng áp dụng cho các quốc gia văn minh trên thế giới dầu có gia nhập Công Ước hay không. Đối với các quốc gia không ký Công Ước Luật Biển, các quy luật cố định của Luật Tục Lệ Quốc Tế do Tòa Án Quốc Tế The Hague ban hành vẫn có giá trị toàn cầu. Ba nguyên lý căn bản trong Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, Hòa Bình, Hữu Nghị và Công Lý, có hiệu lực đối với tất cả các quốc gia hội viên Liên Hiệp Quốc. Riêng về Luật Biển các đường lối giải quyết mâu thuẫn và tranh chấp là hòa giải, điều đình và thỏa hiệp. Sau mới nhờ tới các cơ quan trọng tài và tòa án về Luật Biển.

Vì vậy, do hành vi đệ đơn thỉnh nguyện, Trung Quốc đã minh thị thừa nhận thẩm quyền của Liên Hiệp Quốc qua Ủy Ban Phân Ranh Thềm Lục Địa. Mà không thừa nhận sao được, vì Trung Quốc vẫn tự hào là một hội viên thường trực của Hội Đồng Bảo An có quyền phủ quyết?

Vì đã thừa nhận Công Ước, từ nay Trung Quốc phải tuân hành Công Ước với những điều khoản và những phương thức điều giải và tố tụng nêu trên. Một trong những phương thức này là không sủ dụng bạo hành võ trang.

Dầu sao đây cũng là một bước tiến đáng kể choTrung Quốc có cơ hội trở về với nhân loại văn minh.
Mà nếu đã chịu tuân hành Luật Pháp Quốc Tế và Luật Tục Lệ Quốc Tế thì từ đây về sau, Trung Quốc không còn được sử dụng Luật Rừng Xanh của loài cầm thú và loài tôm cá, với mạnh được yếu thua và cá lớn nuốt cá bé.

Nhìn lại lịch sử cận kim, trong thập niên 1960, cuộc Cách Mạng Văn Hóa đã phá nát Trung Quốc về văn hóa, kinh tế, nhân sự và những giá trị tinh thần. Qua thập niên 1970 Trung Quốc bắt đầu phục hồi. Được gia nhập Liên Hiệp Quốc năm 1971 thay thế Đài Loan, Trung Quốc trở thành một ngũ cường. Sau khi thiết lập bang giao với Hoa Kỳ năm 1979, Trung Quốc hội nhập vào cộng đồng thế giới. Từ đó, với chính sách “mèo đen mèo trắng” của Đặng Tiểu Bình, chủ nghĩa xã hội độc quyền bị thay thế bởi chủ nghĩa thực dụng về mặt kinh tế.

Vấn Đề Thềm Lục Địa

Năm 1982, phái đoàn Trung Quốc đến Montego Bay Jamaica tham dự Đại Hội Liên Hiệp Quốc về Luật Biển. Lúc này các cường quốc Anh, Mỹ không ký Công Ước vì họ chưa thỏa mãn về quy chế khai thác hải sản tại biển sâu ngoài vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của các quốc gia duyên hải. Ba ngũ cường còn lại, Liên Sô, Pháp và Trung Quốc đóng vai chủ chốt. Tự ái quốc gia được thỏa mãn, Trung Quốc hoan hỷ ký Công Ước. Ký xong Trung Quốc mới thấy lo. Ký Công Ước thì phải theo Công Ước. Những điều khoản Công Ước lại quá rõ rệt: Các quốc gia duyên hải chỉ được hưởng quy chế 12 hải lý Biển Lãnh Thổ và 200 hải lý vùng Đặc Quyền Kinh Tế để đánh cá đồng thời là Thềm Lục Địa 200 hải lý để thăm dò và khai thác dầu khí.

Tại Biển Nam Hoa hay Biển Đông Nam Á mà người Việt gọi là Biển Đông, từ các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa về Hoa Lục có 2 rãnh biển sâu tới 2600m trong hải phận Hoàng Sa phía bắc, và sâu hơn 5000m tại hải phận Trường Sa phía nam. Theo Tòa Án Quốc Tế The Hague và Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, vì đáy biển không phải là sự tiếp nối tự nhiên của lục địa từ đất liền ra ngoài biển, Trung Quốc không có triển vọng đòi mở rộng thềm lục địa pháp lý 200 hải lý thành thềm lục địa địa chất 350 hải lý tính từ Biển Lãnh Thổ ra khơi.

Trong mọi trường hợp, các hải đảo Trường Sa nằm quá xa bờ biển Trung Quốc, (từ 550 hải lý đến 900 hải lý) nên không thuộc chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc. Vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa có triển vọng có dầu khí do các chất hữu cơ tích lũy trong các thủy tra thạch (sediment) từ các nguồn nước phù sa Sông Hồng Hà và Sông Cửu Long, con sông dài nhất Đông Nam Á, từ cao nguyên Tây Tạng đổ ra biển. Không có con sông lớn nào từ đảo Hải Nam hay từ Hoa Lục chẩy ra Biển Đông.

Trong khi đó, tại vùng bờ biển Việt Nam, thềm lục địa địa chất hay nền lục địa (continental margin) chạy thoai thoải từ dẫy Trường Sơn ra vùng biển Hoàng Sa phía đông Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi. Độ sâu nhất quanh đảo Hoàng Sa là 900m. Về mặt địa chất và địa hình đáy biển, các đảo Hoàng Sa là một hành lang của dẫy Trường Sơn chạy từ Cù Lao Ré ra các đảo Tri Tôn, Hoàng Sa và Phú Lâm. Đây là những cao nguyên của thềm lục địa Việt Nam trên mặt biển. Năm 1925 nhà địa chất học quốc tế, Tiến Sĩ Khoa Học A. Krempt, Giám Đốc Viện Hải Học Đông Dương, sau hai năm nghiên cứu về địa chất, đo đạc và vẽ bản đồ hải đảo và đáy biển, đã lập phúc trình và kết luận “Về mặt địa chất những đảo Hoàng Sa là thành phần của Việt Nam” (Géologiquement les Paracels font partie du Vietnam).

Tại Trường Sa cũng vậy. Về mặt địa chất, độ sâu và địa hình đáy biển, các đảo Trường Sa là sự tiếp nối tự nhiên của lục địa Việt Nam từ đất liền ra ngoài biển. Tại bãi Tứ Chính nơi khai thác dầu khí, biển sâu không tới 400m, và tại vùng đảo Trường Sa và cồn An Bang, độ sâu chỉ tới 200m. Bãi Tứ Chính nằm cách bờ biển Việt Nam 190 hải lý và cách lục địa Trung Hoa 800 hải lý. Như đã trình bày, Trường Sa cách Hoa Lục bằng một rãnh biển sâu tới 5062m, nên không được hưởng quy chế Thềm Lục Địa Mở Rộng (Extended Continental Shelf). Mà dầu có mở rộng tối đa đến mức 350 hải lý, cũng không lấp được khoảng trống 800 hải lý từ đất liền ra hải đảo. Vì những lý do nói trên, các đảo Trường Sa không thuộc chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc trong mọi trường hợp.

Đuối về pháp lý, Trung Quốc không bao giờ đặt vấn đề tranh luận công khai về Biển Đông với các quốc gia Đông Nam Á. Mà cũng không dám đưa vụ tranh chấp hải đảo tại Nam Hải ra trước các cơ quan hòa giải, trọng tài hay tố tụng như Ủy Ban Hòa Giải, Hội Đồng Trọng Tài hay Tòa Án Luật Biển. Đó cũng là nhận định của học giả Trung Quốc Lô Chi-Kin trong Luận Án Tiến Sĩ đệ trình Đại Học Kinh Tế Chính Trị Luân Đôn năm 1986: “On its position over the islands, China has been most reluctant to subject the disputes to international legal arbitration”.

Biển Lịch Sử hay Lưỡi Rồng Trung Quốc.

Căn cứ vào những điều kiện tâm lý nói trên, chúng ta ghi nhận Trung Quốc đã tiến bộ khi nạp đơn thỉnh nguyện ngày 13-5-2009 tại Ủy Ban Phân Ranh Thềm Lục Địa Liên Hiệp Quốc. Tuy nhiên họ chỉ xuất trình mỗi một tấm Bản Đồ Lưỡi Bò để đòi chủ quyền hải phận theo hình lưỡi bò mà trước kia họ gọi là Biển Lịch Sử hay Lưỡi Rồng Trung Quốc.

Năm 1982, sau khi ký Công Ước về Luật Biển, Bắc Kinh tập hợp 400 học giả Trung Quốc, ngày đêm nghiên cứu, thảo luận trong suốt 10 năm để kết luận rằng Nam Hải là biển lịch sử của Trung Hoa từ hơn 2000 năm. Rồi họ hội nghị với 100 nhà trí thức Đài Loan để nhất trí xác nhận sự kiện lịch sử này.

Theo Bắc Kinh, Lưỡi Rồng Trung Quốc có một diện tích bao la bằng phân nửa lục địa Trung Hoa. Nó chiếm hơn 80% hải phận Biển Đông Nam Á, cách bờ biển Quảng Ngãi (Việt Nam) 40 hải lý, cách Natuna (Nam Dương) 30 hải lý, cách Sarawak (Mã Lai) và Palawan (Phi Luật Tân) 25 hải lý. Nó chiếm trọn 3 túi dầu khí đang khai thác là Bãi Tứ Chính (Vanguard Bank) của Việt Nam, bãi Natuna của Nam Dương và bãi Cỏ Rong (Reed Bank) của Phi Luật Tân.

Chiếu Điều 76 và 77 Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, các quốc gia duyên hải có chủ quyền tuyệt đối và đặc quyền chuyên hữu 212 hài lý (gồm 12 hải lý Biển Lãnh Thổ và 200 hải lý Thềm Lục Địa) tính từ đường cơ sở của bờ biển quốc gia (thông thường là mực nước thủy triều xuống thấp). Trong trường hợp này Lưỡi Bò Trung Quốc đã “liếm sâu” 172 hải lý vào thềm lục địa Việt Nam, 182 hải lý vào thềm lục địa Nam Dương và 187 hải lý vào các thềm lục địa của Mã Lai và Phi Luật Tân. Đây là những vi phạm thô bạo vào chủ quyền lãnh thổ của 4 quốc gia hội viên của Hiệp Hội các Quốc Gia Đông Nam Á (ASEAN). Để chống lại âm mưu xâm lấn thô bạo này, sự kết hợp giữa Việt Nam phía Tây và các quốc gia phía Đông Nam như Nam Dương, Mã Lai, Brunei và Phi Luật Tân là việc phải làm.

Đó là Sách Lược Bắc Cự Bá Quyền.

Kết Hợp Đông Nam.

Thuyết Biển Lịch Sử của Trung Quốc khiến chúng ta liên tưởng đến Thuyết Biển Lịch Sử Địa Trung Hải của Đế Quốc La Mã hồi đầu thế kỷ thứ nhất. La Mã gọi Địa Trung Hải là “Biển của Chúng Tôi” (Mare Nostrum). Vùng biển này còn rộng hơn cả Biển Đông Nam Á. Nó chạy từ Tây Ban Nha qua Pháp, Ý, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ đến toàn vùng biển Trung Đông và Bắc Phi.

Khách quan mà xét, trong thế kỷ 21, nếu còn nói đến Biển Lịch Sử Trung Quốc tại Đông Nam Á thì chỉ là đại ngôn hay một trò hề lố bịch. Lý do giản dị và dễ hiểu là Biển Đông Nam Á tọa lạc tại miền nhiệt đới Đông Nam Á, trong khi Trung Hoa nằm giữa miền ôn đới với Đông Trung Quốc Hải, Biển Hoàng Hải và Bắc Hải.

Tranh Nghị hay Bất Khả Tranh Nghị ?

Điều khôi hài hơn nữa là, sau khi đòi cưỡng chiếm hơn 80% hải phận Biển Đông Nam Á mà không viện dẫn được điều khoản hay nguyên tắc nào của Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển hay của Tòa Án Quốc Tế The Hague, Bắc Kinh còn võ đoán khẳng định rằng vấn đề chủ quyền của Trung Quốc tại biển Nam Hải là bất khả tranh nghị!

Trong kỷ nguyên hiện nay, với Luật Pháp Quốc Tế thay thế Luật Rừng Xanh, và với hội trường thay thế chiến trường, chúng ta khẳng định rằng không có điều gì, việc gì hay vấn đề gì là bất khả tranh nghị theo lối cả vú lấp miệng em của phe bá quyền Trung Quốc. Luận điệu này chỉ có thể đưa ra trong những triều đại độc tài phong kiến và độc tài đảng trị đời Tần Thủy Hoàng, Hán Vũ Đế, Minh Thành Tổ và Mao Trạch Đông.

Rút kinh nghiệm sinh hoạt nghị trường và sinh hoạt hội đoàn, mọi người đồng ý rằng có tranh luận mới tìm ra Chân Lý. Theo lời minh triết của cổ nhân “Từ tranh luận mới nẩy ra ánh sáng và sự thật.” (De la discussion jaillit la lumière; Light flashes from discussion; Truth springs from discussion). Sở dĩ ngày nay Bắc Kinh không dám tranh luận vì không có cơ sở pháp lý để đòi cưỡng chiếm hơn 80% thềm lục địa của các quốc gia ven bờ biển Đông Nam Á. Hơn nữa Điều 77 Luật Biển công nhận thềm lục địa thuộc chủ quyền tuyệt đối của các quốc gia duyên hải mà ngoại bang không được quyền cưỡng chiếm.

Điều mà chúng ta muốn nhắn nhủ nhà cầm quyền Bắc Kinh là Thuyết Biển Lịch Sử ngày nay đã bị nhân loại văn minh vứt vào thùng rác lịch sử.

Thật vậy, áp dụng Luật Tục Lệ Quốc Tế và Công Pháp Quốc Tế, Tòa Án Quốc Tế The Hague và Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển đã minh thị phán quyết và quy định như sau:

“Biển Lịch Sử là nội hải tọa lạc về phía bên trong đất liền, hay về phía bên trong đường cơ sở của biển lãnh thổ (The International Court of Justice has defined “historic waters” as “internal waters”. Waters on the landward side of the baseline of the territorial sea form part of the internal waters of the State”: UK vs. Norway, 1951, ICJ 116, 130; Art. 8 LOS Convention 1982).

Và công trình 10 năm nghiên cứu của 500 trí thức và học giả Trung Hoa rốt cuộc chỉ là công “dã tràng se cát Biển Đông, nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì!”

Như vậy Biển Đông Nam Á hay Nam Hải không phải là Biển Lịch Sử của Trung Quốc vì nó là ngoại hải, cách bờ biển Trung Hoa đến 2000km.

Vấn Đề Chính Danh: Chủ Quyền hay Vị Trí ?

Nói về danh xưng, chúng ta phải đặt vấn đề chính danh. Biển Nam Hoa chỉ là tên gọi do các nhà thám hiểm hàng hải quốc tế đặt ra khi họ vượt Ấn Độ Dương qua Eo Biển Malacca tới Thái Bình Dương. Trên bản đồ thế giới có nhiều tên biển tương tự như vậy.

Từ thế kỷ 15 phong trào thám hiểm đại dương bột phát với Columbus tại Mỹ Châu, Vasco de Gama và Magellan tại Á Châu.

Khi vượt Đại Tây Dương qua Mũi Hảo Vọng đến Ấn Độ Dương, các tàu xuyên dương chạy tới vùng biển của các quốc gia duyên hải như Saudi Arabia, Yemen, Iraq, Ba Tư, Ấn Độ, Thái Lan, Miến Điện, Mã Lai. Tại Ấn Độ Dương, về phía tây bắc có biển Arabia (Arabian Sea) tiếp giáp Yemen, Oman, Saudi Arabia, Iraq, Ba Tư. Như vậy, Biển Arabia không thuộc chủ quyền riêng biệt của Saudi Arabia, cũng như Ấn Độ Dương không thuộc chủ quyền riêng biệt của Ấn Độ.

Tại Thái Bình Dương cũng vậy. Tại Biển Nhật Bản (Sea of Japan) các quốc gia duyên hải là Nhật Bản, Đại Hàn, Bắc Hàn và Công Hòa Nga nên không thuộc chủ quyền riêng biệt của Nhật Bản.

Nói tóm lại về mặt danh xưng, nếu Ấn Độ Dương không thuộc chủ quyền riêng biệt của Ấn Độ, Biển Nhật Bản không thuộc chủ quyền riêng biệt của Nhật Bản, thì Biển Nam Hoa hay Nam Hải (South China Sea) cũng không thuộc chủ quyền riêng biệt của Trung Quốc. Biển này tiếp giáp các quốc gia Đông Nam Á như Việt Nam, Tân Gia Ba, Nam Dương, Mã Lai, Brunei và Phi Luật Tân.

Theo Tự Điển Từ Hải xuất bản năm 1948 “Nam Hải thuộc chủ quyền lãnh thổ chung của 5 quốc gia là Trung Quốc, Việt Nam, Mã Lai, Phi Luật Tân và Đài Loan” (đúng ra là Nam Dương tại miền nhiệt đới). Khi các nhà thám hiểm hàng hải quốc tế đến vùng biển gần Ấn Độ, họ gọi đó là Ấn Độ Dương. Không phải để xác định chủ quyền hải phận của Ấn Độ, mà chỉ ghi nhận vị trí vùng biển này tiếp giáp Ấn Độ.

Tại Thái Bình Dương cũng vậy. Khi tầu vượt qua Eo Biển Malacca đến miền duyên hải Trung Quốc, muốn cho tiện, họ gọi đó là Biển Nam Hải (ngoại nhân xưng Nam Trung Quốc Hải). Mục đích chỉ để thông báo cho các thủy thủ biết vị trí vùng biển này tiếp giáp Trung Quốc.

Về mặt lịch sử, từ đời Tần Thủy Hoàng, Nam Hải là một quận của Trung Quốc thuộc tỉnh Quảng Đông, cách huyện Hải Phong 50 dặm về phía nam. Theo các học giả Trung Quốc, Nam Hải, trước kia mang tên Trướng Hải, là “vùng biển kéo dài từ Eo Biển Đài Loan đến Quảng Đông” The Southern Sea stretches from the Taiwan Strait to Kwantung: A New Practical Chinese-English Dictionary, Hongkong 1971).

Năm 1982, sau khi ký Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, Trung Quốc phủ nhận Công Ước bằng cách vẽ lại bản đồ và đòi chủ quyền lãnh thổ toàn vùng Biển Đông Nam Á, bất chấp mọi phản kháng của các quốc gia duyên hải trong khu vực. Từ 1955, với Chính Sách Đại Hán do Mao Trạch Đông đề xướng, Bắc Kinh coi Biển Nam Hải là một thứ nội hải của họ theo kiểu Đế Quốc La Mã ngày xưa coi Địa Trung Hải là “Biển Của Chúng Tôi” (Mare Nostrum).

Ngày nay thuyết Biển Lịch Sử chỉ còn là một khẩu thuyết vô bằng. Bàn về yêu sách Lưỡi Rồng của Trung Quốc, các học giả tại Trung Tâm Hải Dương Đông Tây (Hawaii) phải kêu lên rằng: “Không có điều khoản hay ngyên tắc nào trong Công Pháp Quốc Tế cho phép Trung Quốc đòi như vậy!”.

Ngày 13-5-2009 Chính Phủ Bắc Kinh nạp phúc trình tại Ủy Ban Phân Ranh Thềm Lục Địa, không phải để yêu cầu được hưởng quy chế Thềm Lục Địa Mở Rộng 350 hải lý như 50 quốc gia duyên hải khác. Mà để đòi Liên Hiệp Quốc xác nhận chủ quyền hải phận của họ từ bờ biển Quảng Đông, qua các bờ biển Việt Nam, Nam Dương, Mã Lai, Brunei và Phi Luật Tân. Vùng hải phận này chiếm hơn 80% Biển Đông Nam Á, dài hơn 900 hải lý và rộng hơn 600 hải lý. Theo ngoa ngôn của Bắc Kinh, nó có một diện tích bao la bằng phân nửa toàn thể lục địa Trung Hoa.

Kết quả dễ thấy nhất là đơn thỉnh nguyện của Trung Quốc trước sau rồi cũng sẽ bị Ủy Ban Phân Ranh Thềm Lục Địa Liên Hiệp Quốc không cứu xét hay bác bỏ.

Việc Trung Quốc có thực sự muốn trở về với Nhân Loại Văn Minh hay không còn là vấn đề chúng ta phải cảnh giác theo dõi.

Có điều hiển nhiên là, ngày nay, Đế Quốc Đại Hán đang đi trên đường suy thoái.

Luật Sư Nguyễn Hữu Thống
Ủy Ban Luật Gia Việt Nam Bảo Vệ Dân Quyền
(Hạ tuần tháng 5-2009)
.

Thứ Hai, 25 tháng 5, 2009

Trung Cộng “Bức tử” sông Mekong với đập cao 292m

Sông MeKong lại là nạn nhân kế tiếp của bọn tàu khựa. Một con đập cao 292 met sẽ được xây và toàn bộ nước, phù xa, thuỷ sinh sẽ bị bọn tàu khựa "vơ vét" ... Nước mặn ăn sâu vào đất liền, vựa lúa ĐBSCL sẽ không còn như xưa, có thể là không còn tồn tại.....

Có vẻ như âm mưu thôn tính Việt Nam của tàu khựa đã rõ. Chiếm Hoàng Sa-Trường Sa (Biển - Phía đông), Lấy ANQ (phía bắc), bôixit (tây nguyên), nay là xây đập phá hoại ĐBSCL.... Không biết rồi sẽ đi về đâu?????

Đây là bài báo của báo tuổi trẻ:

TT - Trước thông tin sông Mekong bị “bức tử” bởi đập Tiểu Loan cao 292m ở Trung Quốc (theo báo cáo của Liên Hiệp Quốc ngày 21-5), thạc sĩ Kỷ Quang Vinh, giám đốc Trung tâm Quan trắc tài nguyên - môi trường (Sở Tài nguyên - môi trường TP Cần Thơ), nói về những tác hại của nó liên quan tới khu vực hạ lưu, đặc biệt là vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Ông KỶ QUANG VINH vô cùng bức xúc:
- Trước đây những con đập có chiều cao 15m là đã khá lớn rồi. Nay con đập này cao tới 292m là không thể tưởng tượng nổi. Có thể đập này có tác dụng điều tiết nước phục vụ vài vùng khô hạn của Trung Quốc hoặc sau đó khai thác thủy điện, mở rộng diện tích sản xuất lương thực... Nhưng tác hại trước mắt có thể thấy rõ ngay chính tại vùng trên con đập là sẽ có một vùng đất rộng lớn bị ngập nước. Điều đó sẽ tạo ra biến đổi cả hệ sinh thái ở vùng này do phát sinh tình trạng yếm khí. Một số loài động thực vật sẽ gặp nguy hiểm, có thể biến mất, không loại trừ trong đó có cả những động thực vật quý hiếm.
* Sông Mekong sẽ bị ảnh hưởng như thế nào?
Ông Kỷ Quang Vinh - Ảnh: D.T.Hùng
- Thực tế sông Mekong đang bị cắt vụn ra, không chỉ do đập Tiểu Loan mà chạy dài về hạ lưu qua các nước Lào, Thái Lan và Campuchia. Chính phủ các nước này cũng đang có kế hoạch xây dựng 11 đập thủy điện trên dòng chảy chính của con sông. Những con đập đó sẽ ngăn cản các luồng cá di cư và gây xáo trộn lớn tới dòng sông, tạo ra nguy cơ cho hàng triệu người đang sống dựa vào nguồn thu nhập và thực phẩm do dòng sông đem lại.
Mặt khác, các công trình xây đập trên vùng thượng nguồn sông Mekong (Lan Thương) của Trung Quốc đã gây nên những vấn đề nghiêm trọng về môi trường cho khu vực hạ lưu như Myanmar, bắc Thái Lan và bắc Lào. Trữ lượng cá giảm sút và mực nước sông biến đổi không dự đoán được sẽ làm cuộc sống của người dân quanh vùng càng thêm khó khăn.
Sông Mekong chảy tự do đang sở hữu sự đa dạng vô cùng to lớn về thủy sinh vật, chỉ đứng sau sông Amazon. Sông Mekong là một trong những vựa cá nước ngọt giàu có nhất thế giới đang nuôi sống hơn 60 triệu người. Các ước tính chính thức về giá trị của dòng sông này là hơn 3 tỉ USD/năm. Tuy nhiên, con số to tát đó vẫn chưa nêu hết được giá trị thực, bởi vì vựa cá này là nơi tập trung nguồn dinh dưỡng chủ yếu và bảo đảm an toàn lương thực cho hàng chục triệu người.
Việc xây dựng hàng loạt con đập trên dòng chảy chính của sông Mekong sẽ làm các loài quý hiếm nhanh chóng tới bờ diệt chủng như: cá heo nước ngọt Irrawaddy, cá catfish khổng lồ Mekong và vô số loài cá di cư khác. Mất đi sự giàu có về sinh thái này sẽ là thảm họa mang tính toàn cầu.
* Cảm giác của ông như thế nào khi điều đó sẽ ảnh hưởng đến dòng sông Cửu Long của chúng ta?
Nông dân huyện Ngã Năm (Sóc Trăng) bơm nước ngọt cứu lúa vì nhiều cánh đồng bị nhiễm mặn - Ảnh: Duy Khang
- Tôi cảm thấy trăn trở và đau lòng. Sông Cửu Long cũng sẽ bị xáo trộn lớn về mặt sinh thái. Hằng năm vào mùa lũ, một lượng cá khổng lồ di cư về đây sinh sản, cùng với nguồn cá linh, cá sặt, các loại cá quý hiếm khác như cá hô, thờn bơn, thác lác, tôm càng, mè vinh... đổ về tạo nguồn sống cho cư dân hai bờ sông. Nay nếu đập xây lên thì đồng nghĩa với nguồn lợi thủy sản sẽ không còn. Ngoài ra còn có các nguồn thủy sinh, rong tảo, vi sinh vật, có khả năng điều hòa, cân bằng sinh thái sẽ bị sụt giảm nghiêm trọng.
Có thể ngay cả mùa lũ - mùa nước nổi đặc trưng của vùng ĐBSCL - cũng không còn, bởi vì nước có về nhiều nữa đâu mà còn mùa lũ.
* Nếu các con đập ở thượng lưu xây lên thì điều gì sẽ xảy ra cho ĐBSCL?
- Điều dễ thấy nhất sẽ là thiếu nguồn nước ngọt nghiêm trọng. Điều đó đã xảy ra vào mùa khô giữa tháng tư vừa qua và trong những năm tới sẽ còn tiếp tục gay gắt. Vào mùa lũ, lượng nước cũng đã sụt giảm chứ không dồi dào như nhiều người lầm tưởng. Thấy nhiều vậy chứ không còn bao nhiêu đâu. Kết quả đo nước hồi tháng 10-2008 cho thấy lưu lượng nước chỉ còn ở mức 28.000m3/s trong khi trước đây tới 40.000m3/s.
Vụ đông xuân 2009 vừa qua, lưu lượng nước trên sông Tiền và sông Hậu chỉ đạt mức 1.600m3/s, so với nhu cầu của 1,5 triệu ha lúa phải là 1.700m3/s. Vì vậy mà vụ lúa vừa rồi ta thấy ở một số vùng hạ lưu sông Cửu Long nông dân phải chạy vạy kiếm nước tưới ruộng rất khổ sở. Đặc biệt là những vùng duyên hải các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau... nước mặn xâm nhập sâu trong đất liền có nơi tới 70km.
Riêng ở thị xã Vị Thanh (Hậu Giang), lần đầu tiên trong lịch sử, người dân nội ô thị xã “nếm mùi” nước mặn 3-4 ngày liền, do nước mặn tràn vô mà ngành cấp nước không hay biết, cứ tưởng còn ngọt nên vẫn lấy nước mặt cung cấp.
Sông Mekong trải dài qua 6 nước
Lưu vực sông Mekong trải dài qua lãnh thổ sáu nước: Trung Quốc, Myanmar, Lào, Thái Lan, Campuchia và VN. Với chiều dài 4.800km và diện tích 795.000km2, lưu vực sông Mekong rộng gần bằng nước Pháp và Đức cộng lại. Sông Mekong bắt nguồn trên vùng núi cao 5.000m của cao nguyên Tây Tạng. Vùng hạ lưu sông thuộc bốn nước Campuchia, Lào, Thái Lan và VN.
Trên lãnh thổ VN có năm vùng riêng biệt thuộc lưu vực sông Mekong gồm những diện tích rộng lớn thuộc đồng bằng sông Cửu Long, vùng Tây nguyên và những vùng đầu nguồn diện tích nhỏ tại Hướng Hóa (Quảng Trị), A Lưới (Thừa Thiên - Huế), Điện Biên, Lai Châu.

Nguồn: Ủy ban sông Mekong VN

“Bức tử” sông Mekong với đập cao 292m

TT - Việc Trung Quốc xây dựng một loạt đập thủy điện trên sông Mekong sẽ là mối đe dọa lớn cho tương lai của con sông này, vốn là nguồn nước quan trọng cho Đông Nam Á, theo một báo cáo của Liên Hiệp Quốc (LHQ) được công bố ngày 21-5.

Theo AP, Trung Quốc đã xây tám đập nước ở phần thượng lưu sông Mekong, thuộc tỉnh Vân Nam và mới đây đã hoàn thành đập nước Tiểu Loan cao 292m, cao nhất thế giới. Theo báo cáo của LHQ, sức chứa của đập này tương đương với toàn bộ các hồ chứa của vùng Đông Nam Á cộng lại.
Cùng lúc, ở hạ lưu, Lào bắt đầu xây dựng 23 đập nước trên sông Mekong và các phụ lưu sông này. Việc xây dựng sẽ hoàn thành vào năm 2010.
Báo cáo của LHQ nhận định chỉ riêng việc xây đập Tiểu Loan cũng sẽ làm thay đổi lượng nước và nhịp độ của dòng sông, làm giảm chất lượng nước và làm mất tính đa dạng sinh thái của con sông chảy qua sáu nước này.
Trong một cuộc họp báo, phát ngôn viên Mã Triệu Húc của Bộ Ngoại giao Trung Quốc nói Chính phủ Trung Quốc coi trọng việc khai thác và bảo vệ các con sông xuyên biên giới, và có chính sách vừa quan tâm đến phát triển vừa bảo vệ nguồn nước.
Ông Young Woo Park, giám đốc vùng của Chương trình Môi trường LHQ (UNEP), cảnh báo các chính phủ cần quan tâm đến vấn đề sông Mekong, bởi nếu không sự tăng trưởng và phát triển có thể gây hậu quả cho khả năng chứa nước của lưu vực sông, và do vậy đe dọa đến việc cung cấp nhu cầu nước trong tương lai.

N.T.ĐA
ST
.

Chủ Nhật, 24 tháng 5, 2009

Giờ Đã Điểm Ngày Tàn Của Việt Cộng

Việt Cộng dám tác oai tác quái,
Dâng Bắc-triều cửa Ải-Nam-Quan
Hỡi ai, con nước Việt-Nam ?
Hãy đồng tay nắm, quyết tâm hướng về,

Cùng đồng bào cận kề bất khuất,
Diệt quân thù, dành đất Tổ-Tiên
Hồn thiêng-sông-núi ba miền,
Anh Hùng, Kẻ Sĩ nối liền năm Châu.

Giờ đã điểm chần chờ gì nữa,
Cùng toàn dân "Góp Lửa" đốt lên.
Dẹp tan bè lũ "chồn đen",
Phản dân, bán nước, đê hèn cầu vinh.

Giờ đã điểm, nhất tình, quyết chí,
Khắp trong-ngoài hào khí Rồng-Tiên
Vì Tổ Quốc, dẹp tình riêng,
Cùng nhau lật đổ bạo quyền độc-tôn.

Đem Việt Nam trường tồn Dân Chủ,
Dựng ba miền đầy đủ Quyền Người
Từ Nam-Trung-Bắc reo cười,
Không còn than khóc, như thời cộng nô.

Vầng dương sáng nhấp nhô quê Mẹ
Bóng u-minh diệt kẻ tham tàn
Lạc-Long hào khí hiên ngang
Anh Hùng dẹp loạn bao ngàn năm qua.

Giờ đã điểm, không còn xa lắm
Gọi đồng bào tay nắm ra sân
Cất tiếng hô, chớ ngại ngần :
Đả đảo Việt cộng vô thần,phi nhân.

Việt Dương Nhân


Làm Sao An Phận
"Thất Quốc sầu trôi theo vận nước,
Tha hương tủi nhục vướng nghiệp nhà."
(Lưu Vân)

Trong dạ tiệc nói cười ca hát,
Ngậm ngùi tìm giải thoát dân hiền
Dẫu rằng đang sống đất liền
Mà lòng thương nhớ triền miên dân mình.

Ðất tạm dung đầy tình nhân đạo
Cơm áo lành gạo trắng cá tươi
Tự-do Dân-chủ quyền-người.
Làm sao an phận vui cười được đây ?

Thương nhớ thương đọng đầy tâm não
Lòng căm thù "chồn-cáo" ác gian
Làm cho nòi giống tóc tang
Nỡ nào nhắm mắt chẳng màn việc chi.

Thuở ra đi môi chì mặt nám
Mấy mươi năm sống bám quê người
Ðất lành chim đậu ai ơi !
Nhưng lòng hãy nhớ khung trời quê hương,

Ðang xẩy ra đau thương tràn ngập
Từ Chúa Giáo đến Phật Pháp Tăng
Ðộc tài bạo lực hun hăng
Bỏ tù Linh Mục, đày hàng Chân Sư.

Tư Bản Ðỏ khư khư khống chế
Buộc dân lành phải nễ "Ðảng Ta*"
Bảo là; phải hát phải ca :
Những lời của "Ðảng" đặt ra đúng đời.

Thứ vô thần, chẳng Trời, Chúa, Phật
Cai trị dân theo lạc hậu xưa...
Trời ơi ! Ông hãy chuyển mưa
Sét lên đánh "Ðảng Ta" chừa thói ngu.

Từ Nam-Bắc mây mù sẽ biến
Ðến ngoài, trong thăng tiến phục hồi
Trăm năm duy vật đổi dời,
Duy Tâm mãi mãi sáng ngời chẳng phai.

Anh Hùng, tuổi trẻ chờ ai nữa ?
Mau đứng lên trị sửa ác quân.
Toàn dân chung sức họp cùng,
Dựng nền Dân-chủ khắp vùng Trời Nam.

Việt Dương Nhân
_________
(*) csVN)

.
Ai Người Dân Việt

Hơn ba mươi năm, mắt lệ tràn
Nhìn dân tộc Việt vẫn lầm than
Bởi bầy «cáo đỏ» còn tác quái
Đày ải dân ta khổ ngút ngàn.

Xin gọi : trong, ngoài nước Việt Nam,
Cùng đứng lên quật khởi quyết tâm
Hàng hàng, lớp lớp đồng chung một,
Phất ngọn “Cờ Vàng*” dựng núi sông.

* * *

Tổ Tiên ta đã dày công
Ra tay dựng nước Việt Nam kiêu hùng
Bỗng đâu bè lủ điên khùng
Kéo về thống trị, não nùng dân ta.

Năm Châu, bốn bể gần xa
Ai người dân Việt đứng ra chung cùng
Đừng chủ bại, sống ung dung
Mà quên dân tộc khốn cùng khổ đau.

Vững lòng, trước cũng như sau,
Tinh thần Dân Chủ ta nào lãng quên.
Tự Do, bình đẳng giữ nền,
Quê Hương Quang Phục dưới trên thuận hòa.

Việt Dương Nhân

(*) Cờ vàng ba sọc đỏ

.
Đất Tổ Quê Cha Không Thể Mất


Vung bút làm gươm chém "cáo chồn" *
Kêu gọi toàn dân khắp Kinh ** Thôn ***
Đứng lên lật đổ phường vô loại
Gìn giữ Việt Nam mãi trường tồn

Đất Tổ, Quê Cha không thể mất
Dù chỉ một tất cũng không không!
Dân Việt trong, ngoài đồng tay nắm
Một lòng đoàn kết diệt lũ ngông.

Việt Dương nhân
* CSVN
** Thành thị
*** Nông thôn
(Những ngày đấu tranh diệt Cộng và dành lại "Nhị Sa" - Cuối năm 2007)