1.TỪ "NGÀN GIỌT LỆ RƠI"
Trong bài "Cuộc chiến cách tân Việt Nam khỏi chủ nghĩa Cộng Sản", nhà nghiên cứu Lê Quế Lâm cho rằng cuộc chiến tại Việt Nam là một cuộc chiến cách tân để đưa đến việc giải thể chế độ Cộng sản Việt Nam. Và tác giả cũng đã giới thiệu nhà văn Yung Krall, tức Đặng Mỹ Dung (từ nay viết tắt là ĐMD) với tác phẩm A Thousand Tears Falling tức Ngàn Giọt Lệ Rơi (NGLR).
Theo ông Lê Quế Lâm thì, bà ĐMD đã chống Cộng có ý thức ngay từ buổi thiếu thời, khi bà sống với cha là ông Đặng Quang Minh, một đảng viên CS nhiệt thành trong các bưng biền kháng chiến. Và tác giả Lê Quế Lâm đã trích dẫn một số ý thức của bà ĐMD trong tác phẩm NGLR, như sau:
"Tôi nhớ hoài ngôi nhà ở gần ngã tư Ong Vèo. Ngôi nhà ngói đỏ, trước hiên có bốn cây cột gỗ mun to tướng. Nhà này không phải là nhà riêng, mà là cơ quan hoạt động chánh trị của ba tôi. Má tôi biết Việt Minh lấy nhà của những điền chủ giàu có để làm trụ sở, các cơ quan và nhà ở cho gia đình cán bộ. Má tôi không thích chủ trương cướp nhà kiểu này, mà phải âm thầm sống trong hoàn cảnh trái với lương tâm mình. Rồi má tôi xin tiền của ông bà ngoại để lén trả tiền mướn nhà và đất cho chủ điền. Và mỗi lần di chuyển đến địa phương khác, VM vẫn mượn nhà, mượn đất như vậy. Má tôi phải trả tiền để không bị lương tâm cắn rứt. Đó là một phim tài liệu trắng đen chiếu đi chiếu lại trong tâm khảm tôi mà má tôi là người kể chuyện". Lúc đó MD 5 tuổi.
Sau đó, gia đình MD theo cha tới "Kim Qui. Là một rừng tràm sát bên bờ rừng U Minh, có con kinh chảy ra biển, gần Đá Bạc. Thế là có sự hiện hiện của nhiều khuôn mặt "đưa đám" trong nhà… Đó là các cán bộ từ phương xa đến, có người nói giọng Nam, có người nói giọng Huế, giọng Trung; và có cả người nói giọng Bắc… Đối với ba tôi thì người miền nào đến đây cũng là đồng chí của ông".
NGLR nhắc đến địa điểm Kim Qui Đá Bạc, khiến người đọc "rùng mình rởn tóc" về tội ác của CS. Nơi đây Việt Minh đã giết hại rất nhiều người yêu nước, điển hình là ông Hồ Văn Ngà, thủ lãnh Việt Nam Quốc gia Độc lập Đảng.
Giữa tháng 8/1945, được tin Nhựt đầu hàng, ông Hồ Văn Ngà đứng ra kêu gọi các đảng phái chính trị và tôn giáo hãy đoàn kết lại, thành lập "Mặt trận Quốc gia Việt Nam Thống nhất" "đấu tranh chống thực dân Pháp sắp trở lại Nam Kỳ, để bảo vệ nền độc lập tự do". Khi Việt Minh rút lui khỏi Sàigòn trong đêm 23/9/1945, ông cùng Nguyễn Văn Sâm, Trần Văn Ân, Kha Vạng Cân thành lập Ủy ban Phong tỏa Đô thành Sàigòn-Chợlớn để chống Pháp. Nửa đêm hôm đó, VM tới bắt ông dẫn đi biệt tích. Về sau người ta được biết năm 1946, ông Hồ Văn Ngà bị đập chết bằng củi đòn, thi hài bị thả trôi sông ở vùng Kim Qui Đá Bạc (Nguyễn Long Thành Nam, Phật Giáo Hòa Hảo trong lòng lịch sử dân tộc, Nxb Đuốc Từ Bi, California, 1991, Tr.366). Trong sách Hơn Nửa Đời Hư, ông Vương Hồng Sển đã kể lại khi bị VM quy tội Việt gian, ông Hồ Văn Ngà đã trả lời như sau: "Các anh muốn giết tôi thì giết mà đừng gán cho tôi tội Việt gian" (Nxb Văn Nghệ, California, 1995, tr.162).
Tác giả ghi lại ký ức ngày Tết đầu năm 1955 tại nhà ông bà ngoại, năm ĐMD 9 tuổi, trước khi thân sinh cô và các cậu lên đường tập kết ra Bắc.
"Bữa cơm cuối cùng trong gia đình bị gián đoạn bởi một chuyện bất thường xảy ra. Trong khi chúng tôi đang ăn, một người có trách nhiệm giữ an ninh cho ba và mấy cậu bước vô, xin nói chuyện với cậu Chín Thùy…Một lát sau ba tôi trở lại bàn ăn, nói cho gia đình biết là có một người đàn ông muốn băng qua lộ để về Cái Thanh, một làng nhỏ bên kia quốc lộ số 4. Ông ta nói rằng má của ông đau nặng, ông muốn về thăm má. Không một ai trong nhóm giữ an ninh biết ông là ai, nên họ quyết định giữ người này lại. Ông ngoại ngồi nhâm nhi cốc rượu, chờ ba tôi dứt lời mới lên tiếng: "Thà bắt lầm hơn thả lầm, phải không con?" Ông cho rằng ba tôi không có quyền quyết định khi chuyện có liên quan đến gia đình người khác. Ông nói "Nếu má thằng Khôi đau nặng, cậu muốn thằng Khôi về thăm má nó, con tính làm sao?"
Sau bữa ăn, cậu Chín dẫn người đàn ông vô nhà. Ông ta là một nông dân. Chân ông còn dính xình khô, quần xắn lên khỏi đầu gối và ướt nhẹp. Ông khép nép ngồi bên mép chiếc ghế đẩu, mặt đầy lo sợ. Ông cúi đầu chào gia đình tôi, nhưng không dám nhìn thẳng mặt ai. Người đàn ông lập đi lập lại lý do cần phải băng qua lộ đêm đó "Má tui đau nặng, tui phải gặp bả trước khi bả nhắm mắt ông à". Tôi thấy bác nông dân ôm mặt khóc. Tim tôi đau nhói khi tôi nghe tiếng nức nở của bác. Tôi nhìn người đàn ông trạc tuổi ba tôi, ngồi trước mặt ba tôi và các cậu Tư, cậu Chín. Những người đàn ông này đều có mẹ già, ai cũng biết thương yêu, và ai cũng được yêu thương. Rồi tôi tự hỏi cái gì đã tạo nên sự khác biệt giữa người đàn ông này và những người đàn ông trong gia đình tôi? Người nông dân nầy đã vô tình đem tôi ra khỏi cái nôi của "cách mạng". Lần đầu tiên trong tuổi thơ, tôi dám nghĩ thầm rằng hành động đêm đó của ba tôi vừa tàn nhẫn, vừa sai bét. Tôi nói thẳng với ông là ba không công bằng với người nông dân nên tôi ngủ không được.
Hai mươi năm sau (1975) tác giả đến thăm cha ở Tokyo, là kẻ vừa chiến thắng….
"Khi bước vào phòng ông, tôi thấy ông đang ngồi cạnh một xấp giấy, trông giống thẻ căn cước, nhưng lớn hơn. Tôi tò mò cầm một thẻ lên coi thì biết đó là giấy gọi nhập ngũ của Mỹ. Giấy này được gởi đi vào tháng 7/1969 cho một thanh niên 19 tuổi. Lúc đầu tôi nghĩ đây là thẻ động viên của một người lính Mỹ tử trận. Một niềm thương cảm tràn ngập trong lòng. Chết cho tổ quốc là một vinh dự. Nhưng tình thương bị dập tắt ngay khi ba tôi cho biết những thẻ động viên đang để trên bàn là những thẻ của những tên phản chiến. Khi nhận được lệnh nhập ngũ thì chúng bỏ trốn, rồi gởi những thẻ này đến Tòa Đại sứ của MTGPMN. Tôi giận tím người khi biết chúng là những tên phản quốc. Như đổ dầu vào lửa, ba tôi vui vẻ nói; "Điều đó chứng tỏ rằng Mỹ đã sai lầm khi tham chiến ở VN".
Tôi chưa cần phân tích xem Mỹ sai lầm ở chỗ nào, nhưng đã nhận ra một sự thật làm tan nát tim tôi. Đó là sự ngăn cách giữa hai cha con tôi quá lớn; chúng tôi gặp nhau chỉ để xa nhau thêm mà thôi. Lẽ thường ở đời, ai không muốn ngả theo phe thắng, để mưu cầu danh lợi cho riêng mình. Nhưng tôi thì không, tôi không bao giờ phản lại Quốc Gia, phản lại lý tưởng mà gia đình tôi đã đi theo. Vì lý tưởng đó mà em trai tôi đã chết khi mới chập chững bước vào binh nghiệp. Tôi nghiêm giọng nói với ba tôi: "Hạng người phản chiến nầy chỉ là những tên phản quốc, hèn nhát, nên mới gởi những thẻ nầy cho kẻ thù".
Ba tôi lắc đầu: "Mỹ nhẩy vào VN là một sai lầm to lớn. Những người Mỹ trẻ này đã sáng suốt nhận ra như vậy". Tôi cãi: "Họ ngay thẳng, thật thà, làm sao hiểu nổi cái lưu manh của cộng sản. Vậy khi Liên Xô và Tàu Cộng viện trợ khí giới cho các du kích của MTGP giết đồng bào, thì có chính nghĩa không? Cuộc chiến này sai bét vì người Việt lại giết người Việt".
Ông dịu dàng nói: "Ba không muốn tranh luận với con gái cưng của ba. Vì ba không bao giờ muốn thay đổi cách suy nghĩ của con. Nếu con hài lòng với niềm tin của con, tức là con đang có hạnh phúc. Đối với ba, gia đình rất đáng quý".
Tôi trả lời "Nhưng đảng của ba còn đáng quý hơn tụi con".
Ba tôi chậm rãi: "Đất nước trên hết đối với ba. Con can đảm, con đã tự lập, con lo cho con được. Con OK".
Tôi lấn tới: "Tất cả người dân miền Nam cũng đã OK. Vợ của ba, con cái của ba đều là hình ảnh của người dân miền Nam sống đơn sơ và hạnh phúc. Chúng con không có gì khác biệt với mọi người. Những nhu cầu, những mơ ước của chúng con đều là nhu cầu và mơ ước của hàng triệu dân miền Nam. Và mọi người đã OK, cho đến ngày Hà Nội đem quân xâm chiếm miền Nam".
Ba tôi gật đầu: "Ba biết rõ những nhu cầu của người miền Nam. Ba hứa sẽ cố gắng hết sức mình để đáp ứng những nhu cầu đó". Tôi chưa kịp nói gì thêm, ông đã đề nghị: "Mình nói chuyện khác đi con".
ĐMD từng tâm sự "Tôi yêu ba tôi vì tôi yêu người đã xả thân cho đất nước. Tôi có làm phiền lòng ông, chỉ vì tôi dám nói lên là ông đã bước quá sâu vào cạm bẫy của một lũ người phản quốc".
Để kéo ông ra khỏi cạm bẫy CS ở tuổi cuối đời, trong các cuộc gặp gỡ sau đó ở Paris (1976) và London (1977), ĐMD gợi ý ông về hưu, đoàn tụ với gia đình với lý lẽ: "Ba đã cống hiến gần hết cuộc đời cho dân tộc. Nay đất nước đã hòa bình, ba 68 tuổi rồi, chúng con muốn ba về sống với má và chúng con. Ba chọn một nước trung lập nào ba thích, dành quảng đời ngắn ngủi còn lại để má và chúng con được cận kề bên ba. Đó là lẽ công bằng."
Ông dứt khoát: "Ba là người VN, sanh ra ở VN và sẽ chết ở VN."
Trong khi đó, đại diện MTGPMN tại Paris là Phan Thanh Nam và các đồng chí của ông ta ra sức "động viên" ĐMD thuyết phục bà mẹ trở về nước. Y tuyên dương hành động trở về của bà là một chiến thắng lớn của VN, là cái tát vào mặt TT Gerald Ford và Chính phủ Mỹ đã cho CIA bắt cóc bà đem về Mỹ.
ĐMD không có ý định "tát vào mặt" chính quyền Hà Nội khi thuyết phục người cha rời bỏ VN. Hành động này chỉ muốn nói lên sự thức tỉnh của một người CS sau khi đạt được mục tiêu cuối cùng. Nhưng ông phản đối ý kiến của con, cho đó là thái độ vô cùng ích kỷ. Ông phải trở về nước, hoàn thành nhiệm vụ giúp Miền Nam tái thiết, để phát triển vững mạnh trong một thời gian năm bảy năm, trước khi thống nhất với Miền Bắc. Trong khi ông lạc quan ở Paris, thì số cán bộ MTGPMN sau chiến thắng 30/4/1975 đã thấy rõ thân phận của mình, như câu nói của người xưa "Giảo thố tử, tẩu cẩu phanh" (Thỏ chết thì chó săn bị làm thịt).
Kỹ sư Trương Như Tảng, Ủy viên Trung ương MTGPMN và là Bộ trưởng Tư pháp trong Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa MN đã bày tỏ sự bất mãn khi CS chiến thắng MN, "một quyền lực sắt thép bao trùm khắp nước VN. Lúc thắng trận cũng là lúc CS bắt đầu loại bỏ MTGPMN. Trong buổi tiệc đơn sơ được tổ chức vào năm 1977 để chính thức giải thể MTGPMN, Đảng CS và chính quyền Hà Nội không thèm cử đại diện đến dự".
Ý định thuyết phục thân phụ lìa bỏ CS bất thành, ĐMD dấn thân vào nghiệp vụ điệp viên chống CS. Nhờ Phan Thanh Nam đón tiếp một cách nồng hậu ở Paris, cô có dịp đặt chân vào trụ sở MTGPMN và văn phòng bà Nguyễn Thị Bình trong thời gian diễn ra cuộc đàm phán Paris. ĐMD đã tiếp xúc với Đại sứ Hà Nội Võ Văn Sung và phát hiện một số cán bộ CS nằm vùng ở Paris. Những ghi nhận về nhân sự và hoạt động của CSVN tại Paris đều được ĐMD báo cáo cho CIA. Cô giữ mối liên lạc với những người CS bạn của ba cô ở Paris, ông có uy tín lớn đối với họ. Những người CS tin tưởng ĐMD với tình thương cha sâu đậm, cô sẽ giúp họ thu thập những tin tức kỹ thuật và tình báo từ chồng cô. Lần hồi qua sự giao tiếp, cô được Đại sứ Võ Văn Sung giới thiệu với Chủ tịch hội Việt Kiều yêu nước ở Mỹ và Đinh Bá Thi, đại sứ CSVN ở Liên Hiệp Quốc. Qua Phan Thanh Nam cô gặp Trương Đình Hùng và một số cơ sở CS hoạt động ở Hoa Thạnh Đốn. Hùng nhờ cô chuyển một số tài liệu mật do Ronald Humphrey (một viên chức cao cấp của bộ Ngoại giao HK được phép đọc tài liệu mật) lấy trộm từ Bộ Ngoại Giao. ĐMD trao những tài liệu mật này cho CIA để tráo thành tài liệu giả chuyển đến Tòa Đại sứ Hà Nội ở Paris. Humphrey có vợ là cháu của một nữ cán bộ CS, ông liều lĩnh hành động để CS sớm cấp giấy xuất cảnh cho vợ.
Bọn phản chiến và các hội Việt kiều yêu nước đã tiếp tay giúp CS chiến thắng ở MN. Sau đó chúng ra sức tuyên truyền, phá hoại và tranh thủ đồng bào tị nạn vừa mới đặt chân đến Pháp và Mỹ. Việc ĐMD phát hiện các ổ CS nằm vùng, các tổ chức Việt Kiều yêu nước và ra toà làm nhân chứng để phá vỡ mạng lưới gián điệp của Hà Nội ở Mỹ là một đóng góp lớn giúp củng cố và phát triển Cộng đồng Người Việt Tự do ở HK trong bước đầu hình thành khi làn sóng thuyền nhân ồ ạt đến Mỹ hồi cuối thập niên 1970.
Trong lời nói đầu quyển A Thousand Tears Falling, ông Griffin Boyette Bell, cựu Bộ trưởng Tư pháp HK, đề cao
"Yung Krall (tức Đặng Mỹ Dung) đúng là một công dân Mỹ vĩ đại. Tình yêu nước Mỹ đã dẫn dắt cô trở thành nhân chứng then chốt trong vụ án gián điệp mang tên Con Rồng Kỳ Diệu. Tôi nhiệt liệt tán thưởng sự nghiệp của cô đối với nước ta (HK), và tôi vui mừng thấy câu chuyện của ngưòi phụ nữ xuất sắc nầy cuối cùng đã được để cho mọi người cùng đọc và biết đến…"
Riêng cá nhân tôi, ĐMD còn là một người VN yêu nước trong sáng, chống CS có ý thức. Chị đã góp phần giúp HK tiến hành cuộc chiến "cách tân VN khỏi chủ nghĩa CS". Một nước VN dân chủ tự do, không CS, là nguyện vọng tha thiết của mọi người VN yêu nước. Quyển NGLR là cuộc đấu lý có tính ý thức hệ, bày tỏ thái độ chính trị giữa người con Quốc Gia và người cha yêu nước theo chủ nghĩa CS.
2. ĐẾN BIỂN MÁU NGẬP TRÀN:
Bài viết này xin không kể đến những tội ác tày trời mà Đảng CSVN đã gây ra trong chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất tại miền Bắc mà chỉ kể những tội ác mà CSVN đã gây ra cho đồng bào miền Nam sau tháng 4 năm 1975. Sau khi chiếm trọn miền Nam, CSVN đã phạm nhiều tội ác chống nhân loại đối với đồng bào miền Nam một cách quy mô và có kế hoạch:
-Tội đưa đi lưu đày (deportation) 1.5 triệu đồng bào miền Nam tại những nơi rừng thiêng nước độc mà chúng đặt cho cái ngụy danh là "vùng kinh tế mới". Khí hậu khắc nghiệt tại những nơi lam sơn chướng khí này đã gây ra những cái chết cho nhiều chục ngàn người.
-Tội xử tử một cách phi pháp (ex-trajudical, or summary, execution) 100.000 quân dân cán chính VNVCH trong thời gian 10 năm kể từ sau tháng 4 – 1975, gây đau thương suốt đời cho hàng trăm ngàn thân nhân ruột thịt của họ.
-Tội giết 160.000 người bằng cách đuổi theo pháo kích và bắn trực xạ trong nhiều ngày vào đoàn người chạy giặc suốt theo chiều dài của Tỉnh lộ 7B từ Pleiku xuống duyên hải trong tháng 3 năm 1975, để lại đau thương suốt đời cho hàng trăm ngàn thân nhân của họ.
-Tội giam cầm phi pháp (imprisonment without formal charge or trial) 1.000.000 quân dân cán chính VNCH trong những cái gọi là "trại cải tạo" với thời gian bị giam cầm từ 3 tới 10 năm, và có nhiều người đã bị giam tới 17 năm. Tội ác này đã gây đau khổ tinh thần cho hàng triệu thân nhân ruột thịt của họ.
-Tội ác thủ tiêu mất tích (enforced disappearance of person) 165.000 quân dân cán chính VNCH bị chết vì đòn thù trong các trại tù cải tạo. Hiện nay VC còn đang chôn giấu 165.000 bộ hài cốt của những người này trong rừng núi với chủ tâm trả thù, gây thống khổ tinh thần suốt 35 năm nay cho hàng trăm ngàn cha mẹ, vợ chồng, anh chị em, con cái của họ.
-Chế độ độc tài khủng bố của VC đã là nguyên nhân xô đẩy 3.000.000 đồng bào miền Nam lao ra biển trên những con thuyền mỏng manh để đi tìm tự do, gây ra những cái chết thảm cho 700.000 đồng bào trên biển cả, để lại đau thương suốt đời cho hàng triệu cha mẹ, vợ chồng, anh chị em, con cái của họ.
-Chúng tổ chức vượt biên để thu vàng và cướp nhà của dân: khi thuyền vượt biên tới hải phận quốctế, chúng cho công an dùng thuyền cao tốc đuổi theo bắn chìm thuyền và giết chết những người đã nộp tiền cho chúng. Đây là một tội ác man rợ của VC đối với đồng bào miền Nam.
Một số tội ác kể trên đã đủ chứng minh rằng hầu hết các gia đình tại miền Nam đều là nạn nhân của tội ác chiến tranh và tội ác chống nhân loại của CSVN.
*
Xin thưa phần trên của bài viết, tôi đã mượn phần trình bày của hai tác giả Lê Quế Lâm và Đỗ Ngọc Uyển để trình bày về những nhức buốt của một cuộc chiến đã im tiếng súng trong 38 năm qua; nhưng vẫn còn âm thầm tiếp tục tàn phá và vắt kiệt sinh lực của dân tộc Việt Nam và đất nước đang có nguy cơ lệ thuộc ngoại bang.
Phần đầu, tôi mượn phần trình bày của tác giả Lê Quế Lâm về bi kịch mà bà Đặng Mỹ Dung và gia đình bà phải gánh chịu trong cuộc chiến tranh ý thức hệ giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản.
Với bi kịch của đời mình, bà Đặng Mỹ Dung đã viết thành tự truyện Ngàn Giọt Lệ Rơi.
Phần thứ hai, tôi trích một đoạn ngắn từ bài viết "Con Đường Hoà Giải Dân Tộc" của tác giả Đỗ Ngọc Uyển với ước vọng là sẽ có những người cầm bút sẽ tổng kết coi có bao nhiêu xương máu đã đổ xuống trong cuộc chiến mà ông Hồ Chí Minh đã theo đuổi và quyết tâm áp đặt chủ nghĩa cộng sản cho đất nước Việt Nam.
Chỉ trong một gia đình của bà Đặng Mỹ Dung đã ngàn giọt lệ rơi.
Trong cuộc chiến "xẻ dọc Trường Sơn" với đoàn quân "Sinh Bắc, tử Nam" của ông Hồ Chí Minh và đảng CSVN, dân tộc Việt Nam đã đổ xuống bao nhiêu máu xương trong cuộc bể dâu này?!
Có bao giờ các vị lãnh đạo của Đảng CSVN hiện nay nghĩ đến chuyện:
"Đây chén rượu nồng xin rưới xuống
Giải oan cho cuộc bể dâu này!"
(thơ Tô Thuỳ Yên)
Hay là quý vị "vẫn quyết tâm tát cạn, bắt lấy" 3 triệu người Việt tỵ nạn hải ngoại là những người đã vì sự cai trị hà khắc của quý vị mà phải liều chết vượt biển để tìm tự do trên những chiếc thuyền mà mạng sống mỏng manh - như những con muỗi mắc trong nghiên son?!
NGUYỄN THIẾU NHẪN
tieng-dan-weekly.blogspot.com
Thứ Bảy, 27 tháng 4, 2013
BAO GIỜ VÀ AI SẼ "GIẢI OAN CHO CUỘC BỂ DÂU NÀY?!" - Nguyễn thiếu Nhẫn
BÁO NEW YORK TIMES ĐĂNG TRANG NHẤT: NGƯỜI DÂN VIỆT NAM BẤT MÃN CHƯA TỪNG THẤY
"...Đặc
biệt một bài nhận định trên trang mạng cho rằng với sự thật về đảng
Cộng sản Việt Nam hiện nay, những người đã từng tham gia vào phong trào
phản chiến trong những năm 60 và 70 nên treo cổ trong tủi hổ và nên xin
lỗi người dân Việt Nam...."
The International Press Corps Center
BÁO NEW YORK TIMES ĐĂNG TRANG NHẤT: NGƯỜI DÂN VIỆT NAM BẤT MÃN CHƯA TỪNG THẤY
(04/24/2013 08:19 PM) (Xem: 446)
Tin New York
Trong một sự kiện khá đặc biệt, hôm nay nhật báo New York Times đã
đăng ngay trang nhất một bài báo về lòng tin của người dân Việt Nam vào
sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong tình hình khó khăn hiện nay.
Ký giả Thomas Fuller của New York Times đã đến tận Saigon để nghiên
cứu và viết bài này, đã tiếp xúc với nhiều người và cho biết người dân
Việt Nam nay không còn tin vào đảng Cộng sản nữa.
Theo tác
giả bài báo thì Đảng Cộng sản Việt Nam đang đối mặt với sự giận dữ ngày
càng tăng của người dân về sự trượt dốc của nền kinh tế, và nội bộ Đảng
đang bị chia rẽ giữa một bên là những người bảo thủ muốn vẫn duy trì
những nguyên tắc soi đường của chủ nghĩa xã hội và sự độc quyền lãnh
đạo, và một bên là những người kêu gọi một xã hội đa nguyên và chấp nhận
hoàn toàn chủ nghĩa tư bản.
Tuy nhiên quan trọng nhất là
Đảng đang đối phó với một xã hội thông tin ngày càng rộng mở và ý kiến
khác nhau lan truyền trên mạng làm ảnh hưởng đến sự tuyên truyền của
truyền thông Nhà nước. Bài báo cho rằng giờ đây sự chỉ trích Đảng đã
bùng nổ trên toàn xã hội, và nêu đích danh Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là
trung tâm của cơn bão chính trị hiện nay. Bài báo nhận xét Đảng Cộng sản
Việt Nam đã suy đồi cả về tinh thần lẫn đạo đức. Sự mục nát sẽ dẫn đến
chỗ Đảng sụp đổ, nhưng tương lai e rằng sẽ còn tồi tệ hơn nhiều so với
hiện tại.
Đặc biệt một bài nhận định trên trang mạng cho rằng
với sự thật về đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay, những người đã từng tham
gia vào phong trào phản chiến trong những năm 60 và 70 nên treo cổ
trong tủi hổ và nên xin lỗi người dân Việt Nam.
Với việc
ủng hộ phe cộng sản và gây sức ép lên Quốc hội cắt đứt mọi viện trợ cho
miền Nam Việt Nam thì những kẻ phản chiến đã tiếp tay cho Hồ Chí Minh và
đảng Cộng sản. Bài viết này cho rằng nếu đảng Cộng sản không chiếm được
miền nam năm 1975, thì giờ này Việt Nam đã như Nhật Bản, Nam Hàn, Thái
Lan hay Singapore, chắc chắn là không hoàn hảo nhưng sẽ tốt hơn nhiều và
lại không có chết chóc hay tàn phá xảy ra như hiện nay. Tưởng cũng nên
nhắc lại là tờ báo New York Times trước đây là một trong những tờ báo
thiên tả phản đối chiến tranh Việt Nam, nay bài viết được đăng trong dịp
tháng tư đen cho thấy sự hối hận của những kẻ phản chiến, và là một cái
tát vào mặt bạo quyền Cộng sản Việt Nam trên lãnh vực ngoại giao.
_______________________
In Hard Times, Open Dissent and Repression Rise in Vietnam
Justin Mott for the International Herald Tribune
A slum in Ho Chi Minh City, Vietnam. Wide dissatisfaction has followed the boom of the 1990s.
By THOMAS FULLER
Published: April 23, 2013
HO CHI MINH CITY, Vietnam — His bookshelves are filled with the
collected works of Marx, Engels and Ho Chi Minh, the hallmarks of a
loyal career in the Communist Party, but Nguyen Phuoc Tuong, 77, says he
is no longer a believer. A former adviser to two prime ministers, Mr.
Tuong, like so many people in Vietnam today, is speaking out forcefully
against the government.
“Our system now is the
totalitarian rule of one party,” he said in an interview at his
apartment on the outskirts of Ho Chi Minh City. “I come from within the
system — I understand all its flaws, all its shortcomings, all its
degradation,” he said. “If the system is not fixed, it will collapse on
its own.”
The party that triumphed over
American-backed South Vietnamese forces in 1975 is facing rising anger
over aslumping economy and is rived by disputes pitting traditionalists
who want to maintain the country’s guiding socialist principles and a
monopoly on power against those calling for a more pluralist system and
the full embrace of capitalism.
Perhaps most
important, the party is struggling to reckon with a society that is
better informed and more critical because of news and opinion that
spread through the Internet, circumventing the state-controlled news
media.
Since unifying the country 38 years ago, the
Communist Party has been tested by conflicts with China and Cambodia,
financial crises and internal rifts. The difference today, according to
Carlyle A. Thayer, one of the leading foreign scholars of Vietnam, is
that criticism of the leadership “has exploded across the society.”
In an otherwise authoritarian environment, divisions in the party have
actually helped encourage free speech because factions are eager to
tarnish one another, Dr. Thayer said.
“There’s a contradiction in Vietnam,” he said. “Dissent is flourishing, but at the same time, so is repression.”
As dissident voices have multiplied among Vietnam’s 92 million people,
the government has tried to crack down. Courts have sentenced numerous
bloggers, journalists and activists to prison, yet criticism, especially
online, continues seemingly unabated. The government blocks certain
Internet sites, but many Vietnamese use software or Web sites to
maneuver around the censorship.
“Many more people
are trying to express themselves than before, criticizing the
government,” said Truong Huy San, an author, journalist and well-known
blogger. “And what they are saying is much more severe.”
Mr. San, who is on a fellowship at Harvard, is the author of “The
Winning Side,” perhaps the first critical, comprehensive history of
Vietnam since 1975 by someone inside the country. Widely read in
Vietnam, the two-volume work, written under the pen name Huy Duc, was
printed without a permit from the government and describes such acts as
the purges of disloyal party members and the seizure of south Vietnamese
business owners’ assets.
For casual visitors to
Vietnam, surface evidence of economic progress may make it hard to
understand the deep pessimism that many express in the country. Millions
of people who a decade ago had only bicycles now speed around on motor
scooters past factories and office towers.
The
economy blossomed in the 1990s after reforms gave birth to Vietnam’s
awkward mix of a market economy closely chaperoned by the Communist
Party. Even now, the Vietnamese economy is still projected to grow at
about 4 percent to 5 percent this year, thanks in part to strong exports
of rice, coffee and other agricultural products.
But the real estate market is frozen by overcapacity, banks are saddled
with bad loans, newspapers are running articles about rising
unemployment, and the country is ranked among some of the world’s most
corrupt by Transparency International, a global corruption monitor. (The
country ranks 123rd on a list of 176, in which those with low numbers
are the least corrupt.)
Vietnamese business people
complain of overbearing government regulations imposed by a party that
believes it can be the vanguard of capitalist enterprises.
And many say that Vietnam is directionless, despite its seemingly irrepressible industriousness and youthful population.
“In my 21 years here I’ve never seen this level of disenchantment with
the system among the intelligentsia and entrepreneurs,” said Peter R.
Ryder, the chief executive of Indochina Capital, an investment company
in Vietnam. “There’s very meaningful debate within the business
community and within the party — people who are super-concerned about
the direction that the country is going.”
Justin Mott for the International Herald Tribune
“If the system is not fixed, it will collapse on its own.”
NGUYEN PHUOC TUONG, a Marxist scholar who was adviser to two Vietnamese prime ministers
At the Spring Economic Forum, a conference held in early April that is
organized by the economic committee of the National Assembly,
participants “were fighting to have a chance at the microphone,”
according to Le Dang Doanh, a leading economist who attended the forum,
which he described as “stormy.”
He said there was
widespread criticism that although the economy needed profound
restructuring, “almost nothing has been implemented.”
“It’s a crisis of trust,” Mr. Doanh said. “Better times have been promised every year, but people don’t see it.”
At the center of the political storm is Prime Minister Nguyen Tan Dung,
who has been in power since 2006. Mr. Dung’s brash style and ambitious
program for the economy initially won him supporters because he broke
from the mold of the stodgy party apparatchik.
But
he alienated many party members by dismantling an advisory board that
had been a leading force behind the reform program (and that board
included Mr. Tuong, the Marxist scholar, among many other senior party
members).
More important, Mr. Dung’s trademark
policy, his forceful push to build up state-run companies along the
lines of South Korea’s private conglomerates, backfired.
Run by executives with close ties to the Communist Party hierarchy, the
enterprises expanded into many businesses they were unqualified to
manage, economists say, and speculated in the stock market and in real
estate. Two of the largest state enterprises nearly collapsed and remain
close to insolvency.
Mr. Tuong, the Marxist scholar, says the tensions in the Communist Party have been heightened by the troubles with the economy.
In February, he helped write an open letter to the party’s general
secretary, Nguyen Phu Trong, urging changes to the country’s
Constitution that would “ensure that real power belongs to the people.”
He has yet to receive a response.
Mr. Tuong says he
has been eager to promote change since his days as adviser to Prime
Minister Vo Van Kiet, who helped overhaul the economy in the 1990s.
But today he feels the pressure of time. He has cancer, though it
appears to be in remission, and he talks about the disease as a sort of
intellectual liberation spurring him to tell what he now views as the
truth.
“In a nutshell, Marx is a great thinker,” he said. “But if we never had Marx it would have been even better.”
“If the system is not fixed, it will collapse on its own.”
NGUYEN PHUOC TUONG, a Marxist scholar who was adviser to two Vietnamese prime ministers. — với John Nguyen và 2 người khác.
"...Đặc
biệt một bài nhận định trên trang mạng cho rằng với sự thật về đảng
Cộng sản Việt Nam hiện nay, những người đã từng tham gia vào phong trào
phản chiến trong những năm 60 và 70 nên treo cổ trong tủi hổ và nên xin
lỗi người dân Việt Nam...."
The International Press Corps Center
The International Press Corps Center
BÁO NEW YORK TIMES ĐĂNG TRANG NHẤT: NGƯỜI DÂN VIỆT NAM BẤT MÃN CHƯA TỪNG THẤY
Tin New York
Trong một sự kiện khá đặc biệt, hôm nay nhật báo New York Times đã
đăng ngay trang nhất một bài báo về lòng tin của người dân Việt Nam vào
sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong tình hình khó khăn hiện nay.
Ký giả Thomas Fuller của New York Times đã đến tận Saigon để nghiên cứu và viết bài này, đã tiếp xúc với nhiều người và cho biết người dân Việt Nam nay không còn tin vào đảng Cộng sản nữa.
Theo tác giả bài báo thì Đảng Cộng sản Việt Nam đang đối mặt với sự giận dữ ngày càng tăng của người dân về sự trượt dốc của nền kinh tế, và nội bộ Đảng đang bị chia rẽ giữa một bên là những người bảo thủ muốn vẫn duy trì những nguyên tắc soi đường của chủ nghĩa xã hội và sự độc quyền lãnh đạo, và một bên là những người kêu gọi một xã hội đa nguyên và chấp nhận hoàn toàn chủ nghĩa tư bản.
Tuy nhiên quan trọng nhất là Đảng đang đối phó với một xã hội thông tin ngày càng rộng mở và ý kiến khác nhau lan truyền trên mạng làm ảnh hưởng đến sự tuyên truyền của truyền thông Nhà nước. Bài báo cho rằng giờ đây sự chỉ trích Đảng đã bùng nổ trên toàn xã hội, và nêu đích danh Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là trung tâm của cơn bão chính trị hiện nay. Bài báo nhận xét Đảng Cộng sản Việt Nam đã suy đồi cả về tinh thần lẫn đạo đức. Sự mục nát sẽ dẫn đến chỗ Đảng sụp đổ, nhưng tương lai e rằng sẽ còn tồi tệ hơn nhiều so với hiện tại.
Đặc biệt một bài nhận định trên trang mạng cho rằng với sự thật về đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay, những người đã từng tham gia vào phong trào phản chiến trong những năm 60 và 70 nên treo cổ trong tủi hổ và nên xin lỗi người dân Việt Nam.
Với việc ủng hộ phe cộng sản và gây sức ép lên Quốc hội cắt đứt mọi viện trợ cho miền Nam Việt Nam thì những kẻ phản chiến đã tiếp tay cho Hồ Chí Minh và đảng Cộng sản. Bài viết này cho rằng nếu đảng Cộng sản không chiếm được miền nam năm 1975, thì giờ này Việt Nam đã như Nhật Bản, Nam Hàn, Thái Lan hay Singapore, chắc chắn là không hoàn hảo nhưng sẽ tốt hơn nhiều và lại không có chết chóc hay tàn phá xảy ra như hiện nay. Tưởng cũng nên nhắc lại là tờ báo New York Times trước đây là một trong những tờ báo thiên tả phản đối chiến tranh Việt Nam, nay bài viết được đăng trong dịp tháng tư đen cho thấy sự hối hận của những kẻ phản chiến, và là một cái tát vào mặt bạo quyền Cộng sản Việt Nam trên lãnh vực ngoại giao.
Ký giả Thomas Fuller của New York Times đã đến tận Saigon để nghiên cứu và viết bài này, đã tiếp xúc với nhiều người và cho biết người dân Việt Nam nay không còn tin vào đảng Cộng sản nữa.
Theo tác giả bài báo thì Đảng Cộng sản Việt Nam đang đối mặt với sự giận dữ ngày càng tăng của người dân về sự trượt dốc của nền kinh tế, và nội bộ Đảng đang bị chia rẽ giữa một bên là những người bảo thủ muốn vẫn duy trì những nguyên tắc soi đường của chủ nghĩa xã hội và sự độc quyền lãnh đạo, và một bên là những người kêu gọi một xã hội đa nguyên và chấp nhận hoàn toàn chủ nghĩa tư bản.
Tuy nhiên quan trọng nhất là Đảng đang đối phó với một xã hội thông tin ngày càng rộng mở và ý kiến khác nhau lan truyền trên mạng làm ảnh hưởng đến sự tuyên truyền của truyền thông Nhà nước. Bài báo cho rằng giờ đây sự chỉ trích Đảng đã bùng nổ trên toàn xã hội, và nêu đích danh Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là trung tâm của cơn bão chính trị hiện nay. Bài báo nhận xét Đảng Cộng sản Việt Nam đã suy đồi cả về tinh thần lẫn đạo đức. Sự mục nát sẽ dẫn đến chỗ Đảng sụp đổ, nhưng tương lai e rằng sẽ còn tồi tệ hơn nhiều so với hiện tại.
Đặc biệt một bài nhận định trên trang mạng cho rằng với sự thật về đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay, những người đã từng tham gia vào phong trào phản chiến trong những năm 60 và 70 nên treo cổ trong tủi hổ và nên xin lỗi người dân Việt Nam.
Với việc ủng hộ phe cộng sản và gây sức ép lên Quốc hội cắt đứt mọi viện trợ cho miền Nam Việt Nam thì những kẻ phản chiến đã tiếp tay cho Hồ Chí Minh và đảng Cộng sản. Bài viết này cho rằng nếu đảng Cộng sản không chiếm được miền nam năm 1975, thì giờ này Việt Nam đã như Nhật Bản, Nam Hàn, Thái Lan hay Singapore, chắc chắn là không hoàn hảo nhưng sẽ tốt hơn nhiều và lại không có chết chóc hay tàn phá xảy ra như hiện nay. Tưởng cũng nên nhắc lại là tờ báo New York Times trước đây là một trong những tờ báo thiên tả phản đối chiến tranh Việt Nam, nay bài viết được đăng trong dịp tháng tư đen cho thấy sự hối hận của những kẻ phản chiến, và là một cái tát vào mặt bạo quyền Cộng sản Việt Nam trên lãnh vực ngoại giao.
In Hard Times, Open Dissent and Repression Rise in Vietnam
Justin Mott for the International Herald Tribune
A slum in Ho Chi Minh City, Vietnam. Wide dissatisfaction has followed the boom of the 1990s.
By THOMAS FULLER
Published: April 23, 2013
HO CHI MINH CITY, Vietnam — His bookshelves are filled with the collected works of Marx, Engels and Ho Chi Minh, the hallmarks of a loyal career in the Communist Party, but Nguyen Phuoc Tuong, 77, says he is no longer a believer. A former adviser to two prime ministers, Mr. Tuong, like so many people in Vietnam today, is speaking out forcefully against the government.
“Our system now is the totalitarian rule of one party,” he said in an interview at his apartment on the outskirts of Ho Chi Minh City. “I come from within the system — I understand all its flaws, all its shortcomings, all its degradation,” he said. “If the system is not fixed, it will collapse on its own.”
The party that triumphed over American-backed South Vietnamese forces in 1975 is facing rising anger over aslumping economy and is rived by disputes pitting traditionalists who want to maintain the country’s guiding socialist principles and a monopoly on power against those calling for a more pluralist system and the full embrace of capitalism.
Perhaps most important, the party is struggling to reckon with a society that is better informed and more critical because of news and opinion that spread through the Internet, circumventing the state-controlled news media.
Since unifying the country 38 years ago, the Communist Party has been tested by conflicts with China and Cambodia, financial crises and internal rifts. The difference today, according to Carlyle A. Thayer, one of the leading foreign scholars of Vietnam, is that criticism of the leadership “has exploded across the society.”
In an otherwise authoritarian environment, divisions in the party have actually helped encourage free speech because factions are eager to tarnish one another, Dr. Thayer said.
“There’s a contradiction in Vietnam,” he said. “Dissent is flourishing, but at the same time, so is repression.”
As dissident voices have multiplied among Vietnam’s 92 million people, the government has tried to crack down. Courts have sentenced numerous bloggers, journalists and activists to prison, yet criticism, especially online, continues seemingly unabated. The government blocks certain Internet sites, but many Vietnamese use software or Web sites to maneuver around the censorship.
“Many more people are trying to express themselves than before, criticizing the government,” said Truong Huy San, an author, journalist and well-known blogger. “And what they are saying is much more severe.”
Mr. San, who is on a fellowship at Harvard, is the author of “The Winning Side,” perhaps the first critical, comprehensive history of Vietnam since 1975 by someone inside the country. Widely read in Vietnam, the two-volume work, written under the pen name Huy Duc, was printed without a permit from the government and describes such acts as the purges of disloyal party members and the seizure of south Vietnamese business owners’ assets.
For casual visitors to Vietnam, surface evidence of economic progress may make it hard to understand the deep pessimism that many express in the country. Millions of people who a decade ago had only bicycles now speed around on motor scooters past factories and office towers.
The economy blossomed in the 1990s after reforms gave birth to Vietnam’s awkward mix of a market economy closely chaperoned by the Communist Party. Even now, the Vietnamese economy is still projected to grow at about 4 percent to 5 percent this year, thanks in part to strong exports of rice, coffee and other agricultural products.
But the real estate market is frozen by overcapacity, banks are saddled with bad loans, newspapers are running articles about rising unemployment, and the country is ranked among some of the world’s most corrupt by Transparency International, a global corruption monitor. (The country ranks 123rd on a list of 176, in which those with low numbers are the least corrupt.)
Vietnamese business people complain of overbearing government regulations imposed by a party that believes it can be the vanguard of capitalist enterprises.
And many say that Vietnam is directionless, despite its seemingly irrepressible industriousness and youthful population.
“In my 21 years here I’ve never seen this level of disenchantment with the system among the intelligentsia and entrepreneurs,” said Peter R. Ryder, the chief executive of Indochina Capital, an investment company in Vietnam. “There’s very meaningful debate within the business community and within the party — people who are super-concerned about the direction that the country is going.”
Justin Mott for the International Herald Tribune
“If the system is not fixed, it will collapse on its own.”
NGUYEN PHUOC TUONG, a Marxist scholar who was adviser to two Vietnamese prime ministers
At the Spring Economic Forum, a conference held in early April that is organized by the economic committee of the National Assembly, participants “were fighting to have a chance at the microphone,” according to Le Dang Doanh, a leading economist who attended the forum, which he described as “stormy.”
He said there was widespread criticism that although the economy needed profound restructuring, “almost nothing has been implemented.”
“It’s a crisis of trust,” Mr. Doanh said. “Better times have been promised every year, but people don’t see it.”
At the center of the political storm is Prime Minister Nguyen Tan Dung, who has been in power since 2006. Mr. Dung’s brash style and ambitious program for the economy initially won him supporters because he broke from the mold of the stodgy party apparatchik.
But he alienated many party members by dismantling an advisory board that had been a leading force behind the reform program (and that board included Mr. Tuong, the Marxist scholar, among many other senior party members).
More important, Mr. Dung’s trademark policy, his forceful push to build up state-run companies along the lines of South Korea’s private conglomerates, backfired.
Run by executives with close ties to the Communist Party hierarchy, the enterprises expanded into many businesses they were unqualified to manage, economists say, and speculated in the stock market and in real estate. Two of the largest state enterprises nearly collapsed and remain close to insolvency.
Mr. Tuong, the Marxist scholar, says the tensions in the Communist Party have been heightened by the troubles with the economy.
In February, he helped write an open letter to the party’s general secretary, Nguyen Phu Trong, urging changes to the country’s Constitution that would “ensure that real power belongs to the people.” He has yet to receive a response.
Mr. Tuong says he has been eager to promote change since his days as adviser to Prime Minister Vo Van Kiet, who helped overhaul the economy in the 1990s.
But today he feels the pressure of time. He has cancer, though it appears to be in remission, and he talks about the disease as a sort of intellectual liberation spurring him to tell what he now views as the truth.
“In a nutshell, Marx is a great thinker,” he said. “But if we never had Marx it would have been even better.”
“If the system is not fixed, it will collapse on its own.”
NGUYEN PHUOC TUONG, a Marxist scholar who was adviser to two Vietnamese prime ministers. — với John Nguyen và 2 người khác.
Những Cái Chết của 15 Vị Tướng QLVNCH - BĐQ Đỗ Như Quyên 2013/04/26
Những Cái Chết của 15 Vị Tướng QLVNCH
Từ 1955 Đến Trước Và Sau Quốc Hận: 30/4/1975
Từ 1955 Đến Trước Và Sau Quốc Hận: 30/4/1975
Một Nén Hương cho Những Người Nằm Xuống!
THIẾU TƯỚNG TRÌNH MINH THẾ
Sinh năm 1922, tỉnh Tây Ninh Việt Nam .
Ngày 3-5-1955, trong lúc đang theo dõi các đơn vị của mình (quân đội Cao
Đài) phối hợp với quân đội chính phủ tấn công lực lượng Bình Xuyên ở
khu cầu Tân Thuận, tướng Trình minh Thế đứng trên một xe jeep tại dốc
cầu, phía bên Sàigòn. Giữa tiếng nỗ của nhiều loại súng cách xa nơi ông
đứng khoảng hơn 100m, có một viên đạn duy nhất không rõ ai bắn, đã trúng
ngay đầu tướng Trình Minh Thế làm ông chết tại chỗ.
Cái chết chẳng ai ngờ của thiếu tướng
Trình Minh Thế vừa làm đau lòng, lẫn đau đầu cho người sống. Kẻ nổ phát
súng ấy là ai? Và tại sao? Từ năm 1955 cho đến nay, 2010, đã có nhiều
bài viết (kể cả sách) đưa ra các câu trả lời khác nhau về "thủ phạm" bắn
tướng T.M.T., nhưng hầu hết các tác giả đó đều dựa trên sự suy luận mà
không đưa ra được một chứng tích nào về văn bản, chứng từ, hoặc chứng
nhân v.v... Duy nhất có một người tự nhận mình là kẻ tổ chức ám sát
tướng Trình Minh Thế. Ông ta đã từng lập một lời thề, sẽ giết tướng
Trình Minh Thế để trả thù cho một vị chỉ huy mà ông ta kính trọng đã
bị tướng Trình Minh Thế tổ chức giết chết. Tuy ông nầy cũng chẳng
trưng ra được chứng tích nào, nhưng nhận thấy lời ông kể nghe có lý hơn
các câu trả lời từ trước đến nay. Chúng tôi xin phép được trích đăng lại
từ nhiều nguồn tham khảo ở sách, báo tiếng Việt ở Mỹ có nói đến người
nhận mình giết tướng Trình Minh Thế.
..."Năm 1951, thiếu tá Antoine Savani là
Trưởng Phòng Nhì, làm xếp an ninh mật thám của Phủ Toàn Quyền Pháp trên
khắp ba nước Việt-Miên-Lào. Ông nầy rất kính trọng thiếu tướng Charles
Chanson (1902-1951) nguyên Tư Lệnh quân đội Pháp tại Nam Việt.
Ngày 13-7-1951, Thủ Hiến Nam Việt là ông
Thái Lập Thành (1896-1951) cùng với thiếu tướng Charles Chanson đến thị
xã Sa Đéc dự lễ diễn binh mừng các chiến thắng vùng Tiền Giang. Hai ông
xuống xe đứng chào cờ trước khán đài chính. Bỗng một bóng người mặc
quân phục vạch đám đông dự lễ chạy thật nhanh đến chổ chào cờ, vừa chạy
vừa đưa tay vào túi áo (rút chốt quả lựu đạn). Lúc đến trước mặt hai vị
quan khách chính, người nầy đứng nghiêm và đưa tay lên chào cũng là lúc
quả lựu đạn phát nổ. Sự việc xảy ra quá nhanh, không ai kịp có một phản
ứng nào cả. Người mang lựu đạn bị xé làm hai, nằm bên cạnh hai xác người
đang thoi thóp là các ông Thái lập Thành và tướng Charles Chanson. Gần
đó hai sĩ quan Pháp cũng bị thương nặng. Những người bị thương được đưa
vào một quân y viện gần đó, nhưng vài giờ sau thì cái chết đã đến với
ông Thái lập Thành và tướng Charles Chanson.
Thiếu tá Antoine Savani gần như nổi điên
vì cuộc ám sát vừa kể. Qua điều tra, được biết kẻ ám sát là một thanh
niên tên Phạm văn Út (1925-1951) là con nuôi của đại tá Văn Thành Cao
(1924- ?), Tư Lệnh quân đội Cao Đài vùng Đồng Tháp Mười. Ngoài ra, còn
có tin báo cho phòng nhì Pháp biết: Đại tá Trình Minh Thế ở Chiến Khu Lò
Gò (dưới chân núi Bà Đen, Tây Ninh) cho tổ chức trọng thể lễ truy điệu
và tôn vinh anh Phạm Văn Út như một anh hùng kháng chiến của quân đội
Cao Đài. Qua các nguồn tin thu nhận được, thiếu tá Antoine Savani cho
rằng thủ phạm là ông Trình Minh Thế và thề sẽ giết ông nầy bằng mọi giá.
Khoảng năm 1994, gần 40 năm sau ngày
tướng Trình Minh Thế bị ám sát (1955), ông Antoine Savani đã về hưu từ
lâu với cấp đại tá và cũng đã già. Lúc gần chết vì bệnh tim, ông ta trăn
trối những lời sau cùng về cái chết của tướng Trình Minh Thế. Những lời
kể của ông Antoine Savani được phỏng vấn và ghi chép bởi ông Jean
Lartéguy (người sau nầy viết cuốn "Le Mal Jaune", bản tiếng Anh là
"Yellow Fever").
"...Chính tôi đã giết Trình Minh Thế. Dù
không tự tay cầm súng nhưng tôi là người tổ chức tất cả. Thế bị giết
bởi một viên đạn do người thân tín của tôi nấp từ phía sau bắn tới,
không phải từ dưới tàu bắn lên. Người bắn chẳng có tên tuổi gì, nói đúng
ra, chỉ biết là cấp trung úy. Sở dĩ tôi phải giết Thế là để báo thù cho
tướng Chanson mà tôi đã từng thề. Trong tất cả các thủ lãnh quân sự ở
trong Nam thì Thế là người nguy hiểm nhất, có nhiều tham vọng nhất, và
cũng là người khôn ngoan nhất. Lansdale* quả có mặt tinh đời khi chọn
Thế ... "*(Đại Tá Edward Lansdale , 1908-1987, về hưu với cấp thiếu
tướng)
TRUNG TƯỚNG ĐỖ CAO TRÍ:
Trung Tướng Đỗ cao Trí Sinh ngày
20-11-1929, làng Bình Tước tỉnh Biên Hòa Việt Nam , nguyên là Tư Lệnh
Quân Đoàn III/ Quân Khu III. Sáng ngày 23-2-1971, trên cương vị Tư Lệnh
Hành Quân Toàn Thắng 1/71, ông chủ tọa cuộc họp tham mưu tại Bộ tư lệnh
Tiền phương QĐIII/ QK III tại căn cứ Trảng Lớn, quận Châu Thành, tỉnh
Tây Ninh như thường lệ. Sau buổi họp, khoảng 09:30 giờ, ông dùng trực
thăng bay về hướng bắc tỉnh Tây Ninh để đến Dambe (một thị trấn nhỏ của
Kampuchia) nơi lực lượng xung kích QĐ III của đại tá Trần quang Khôi
đang chờ. Trực thăng chỉ huy của Trung Tướng Đỗ cao Trí rời khỏi Trảng
Lớn khoảng bốn phút thì bùng nổ ở trên không. Địa điểm tai nạn khoảng
7km bắc- tây-bắc thị xã Tây Ninh. Ngoài tướng Đỗ cao Trí bị tử thương
còn có hai phi công (chỉ biết tên một người là đại uý Thành), hai xạ thủ
và cơ khí phi hành (không rỏ danh tánh); trung tá Sỹ thuộc Trung Tâm
Hành Quân QĐ III; trung tá Châu, Chỉ huy phó Truyền tin QĐ III; đại úy
Tuấn, sĩ quan tuỳ viên; nhà báo Mỹ (gốc Pháp) Francoi Sully.
Sự ra đi đột ngột của tướng Đỗ cao Trí
cũng để lại nhiều câu hỏi nhức đầu cho hậu thế. Gần 40 năm qua, đã có
khá nhiều bài viết của người Việt bàn tán và nhận xét về cái chết nầy.
Không có ai đưa ra được các chứng cứ nào có sức thuyết phục để dư luận
chấp nhận là hợp lý, hợp tình hơn cả. Tuy nhiên tướng Đỗ cao Trí đi vào
nơi khuất bóng trong lúc ông đang chiến thắng dồn dập (70-71) ở bên vùng
biên giới Kampuchia. Có tin ông sắp ra nắm QĐ I để xoay chuyển tình
huống mặt trận biên giới Lào, vậy mà ông ra đi! Đó là điều làm người đời
sau thắc mắc.
THIẾU TƯỚNG NGUYỄN VĂN HIẾU:
Sinh ngày 23-6-1929, thành phố Thiên
Tân, Cộng Hoà Trung Hoa Dân Quốc. Năm 1949 đang học đại học Aurore ở
Thượng Hải thì phải theo gia đình dọn về Saigon, Việt Nam . Đầu năm
1951, ông theo học khóa 3 Võ Bị Liên Quân Việt Nam tại Đà Lạt, và tốt
nghiệp (hạng hai) ngày 1-7-51 với cấp bậc thiếu uý.Thiếu Tướng Nguyễn
văn Hiếu
Hai mươi năm sau, thiếu uý Nguyễn văn
Hiếu đã là thiếu tướng Tư Lệnh Phó QĐ I (nhậm chức ngày 9-6-1971) và nỗi
tiếng là một vị tướng liêm chính. Do có tài năng và đức độ, nên ngày
10-2-1972, Phó Tổng Thống Trần văn Hương (1902-1982) đề cử tướng Nguyễn
văn Hiếu giữ chức Phụ Tá Đặc Biệt trong Ủy Ban Bài Trừ Tham Nhũng (tương
đương cấp Thứ Trưởng). Ngày 1-10-1973, ông được bổ nhiệm làm Tư Lệnh
Phó QĐ III/ QK III và đã giữ chức vụ nầy qua ba vị Tư Lệnh Quân Đoàn là
Trung Tướng Phạm quốc Thuần, Trung Tướng Dư quốc Đống (1932-2008), Trung
Tướng Nguyễn văn Toàn (1932-2005).
Ngày 2-4-1975, tướng Nguyễn văn Hiếu
được bổ nhiệm chức Tư Lệnh Tiền Phương QĐ III, nhưng chưa kịp nhận nhiệm
sở. Ngày 4-4-1975, khoảng 17:30 giờ (các tài liệu khác thì ghi buổi
trưa khoảng 13:30 giờ) những người đang làm việc tại Bộ Tư Lệnh QĐ III ở
Biên Hoà bổng nghe một tiếng súng nổ trong văn phòng thiếu tướng Nguyễn
văn Hiếu (cùng có nguồn tài liệu khác ghi có hai tiếng súng). Lúc mọi
người mở cửa phòng thì thấy tướng Nguyễn văn Hiếu đã ngồi chết gục tại
bàn làm việc, một tay ông để trên bàn và tay còn lại buông thòng xuống
đất nơi có một cây súng nhỏ còn nằm trên sàn nhà (có thể loại súng P
38). Ông bị chết vì một viên đạn đi xuyên từ cằm lên thái dương (có vài
tài liệu khác ghi viên đạn từ thái dương bắn xuyên lên đỉnh đầu và phá
một lỗ trên trần nhà), nhưng chẳng có ai hiểu được nguyên nhân ông bị
chết là do ngộ sát, tự sát hoặc bị ám sát. Vài ngày sau cái chết của
tướng Nguyễn văn Hiếu, chính phủ ban đầu công bố là ông tự sát, nhưng
sau đó đã cải chánh và đổi thành ngộ sát, bị cướp cò lúc đang lau súng.
Ba mươi năm sau cái chết bí ẩn của tướng
Nguyễn văn Hiếu, có rất nhiều người vẫn không tin ông bị cướp cò súng
bởi vì ông là người sưu tập và rất cẩn thận về súng. Có người còn quả
quyết tướng Hiếu bị ám sát chết bởi những kẻ tham nhũng. Bọn nầy mượn
gió bẻ măng để "giết người bịt miệng" lúc ngọn sóng Đỏ đang tràn tới.
Nhưng cũng có người cho rằng một thế lực khác đã gây ra cái chết nầy.
Thế lực đó đã biết được một kế hoặch bí mật giữa các tướng Nguyền văn
Hiếu, Nguyễn khoa Nam, Lê văn Hưng, Trần văn Hai ở QĐIV/ QKIV, là các vị
nầy sẽ tái phối trí và tổ chức lực lượng quân sự tử thủ ở vùng đồng
bằng sông Cửu Long nếu thủ đô Sài gòn rơi vào tay quân Cộng Sản. Và thế
lực đó không muốn cuộc chiến kéo dài thêm nữa khi họ đã công khai bắt
tay với Việt Cộng vì quyền lợi của họ.
CÁI CHẾT ĐAU LÒNG
CHUẨN TƯỚNG TRƯƠNG QUAN ÂN:
CHUẨN TƯỚNG TRƯƠNG QUAN ÂN:
Sinh năm 1932, là thủ khoa khóa 7 Trường
Võ Bị Liên Quân Việt Nam ở Đà Lạt. Ông nguyên là Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Bộ
Binh/ QĐII/ QKII từ ngày 24-11-1966. Vợ ông là bà Dương thị kim Thanh
(Huế), nguyên chuẩn uý thuộc binh chủng Nhảy Dù nhưng làm việc tại Tổng Y
Viện Cộng Hòa. Nhân dịp bà đi thăm và tặng quà cho các chiến sĩ và gia
đình đang đồn trú tại vùng biên giới tây bắc tỉnh Pleiku, ngày 8-9-1968,
Ông cùng bà đi chung một chiếc trực thăng loại H-34 (Choctaw) của Không
Quân VNCH đến thăm các căn cứ tiền đồn. Sau khi thăm được vài nơi, trực
thăng chở ông bà lại cất cánh để đến nơi khác thì máy bay phát nổ ngay
trước mắt các binh sĩ và gia đình. Tất cả những người trên trực thăng
đều tử thương, trong đó có Chuẩn Tướng Trương quang Ân và vợ là bà Dương
thị Kim Thanh.
NHỮNG TAI NẠN TRỰC THĂNG
THIẾU TƯỚNG NGUYỄN VIẾT THANH
THIẾU TƯỚNG NGUYỄN VIẾT THANH
Sinh năm 1931, Lâm Đồng, tốt nghiệp khóa
4 Trường Võ Bị Liên Quân Việt Nam, Đà Lạt, nguyên là Tư Lệnh QĐIV/ QKIV
từ ngày 1-7-1968. Hành quân Cửu Long 1 (bắt đầu ngày 9-5-1970) là cuộc
hành quân cấp quân đoàn vượt qua đất Cam Bốt nhằm giải cứu, hồi hương
hàng chục ngàn đồng bào thoát sự tàn sát của của dân Cam Bốt. Trên cương
vị là Tư Lệnh Hành Quân Cửu Long 1, thiếu tướng Nguyễn viết Thanh
thường xuyên có mặt trên máy bay trực thăng để theo dõi và đôn đốc các
đơn vị. Ngày 1-5-1970, chiếc trực thăng chỉ huy của tướng Thanh đã vở
tan trên không vì bị một chiếc trực thăng võ trang của Mỹ đụng vào. Tai
nạn xảy ra trên bầu trời tỉnh Kiến Tường. Tất cả số người có mặt trên
hai chiếc trực thăng đều tử nạn.
CHUẨN TƯỚNG PHAN ĐÌNH SOẠN
Sinh ngày 16-11-1929, Huế, tốt nghiệp
khóa 1 Trường Sĩ Quan Việt Nam Thủ Đức, nguyên Chỉ Huy Trưởng Pháo Binh
QLVNCH từ ngày 1-10-1968 đến 31-1-1972. Ông được bổ nhiệm giữ chức Tư
Lệnh Phó QĐI/ QKI vào ngày 1-2-1972, thay thiếu tướng Nguyễn văn Hiếu.
Ngày 25-2-1972, chuẩn tướng Phan đình Soạn đi máy bay trực thăng ra thăm
một chiến hạm Mỹ, cách Đà Nẵng khoảng 20km ngoài khơi biển Đông Việt
Nam. Lúc cất cánh trở về, trực thăng của ông vì sơ suất nên đụng vào trụ
ăng ten của chiến hạm. Tuy bị hư hại nhưng trực thăng vẫn gắng bay về
và bị rớt gần bán đảo Sơn Trà, quận Ba thành phố Đà Nẳng. Toàn bộ người
trên máy bay đều chết và tìm được thi hài. Cùng đi với tướng Phan đình
Soạn có đại tá Ngô hân Đông, nguyên Chỉ Huy Trưởng Pháo Binh QĐI/ QKI.
CHUẨN TƯỚNG NGUYỄN HUY ÁNH
Sinh tháng 7-1934, tốt nghiệp trường
Không Quân Phi Hành Salon de Provence 1953, nguyên Tư Lệnh Sư Đoàn 4
Không Quân QĐIV/ QKIV cho đến năm 1972. Chuẩn Tướng Ánh tử nạn phi cơ
trong một phi vụ quan sát tình hình, vì ghi nhận một phi cơ L19 bị rớt
nên ông dùng trực thăng của ông đến câu phi cơ L19 và rủi ro xảy ra tai
nạn. Ông tử nạn lúc 17giờ ngày 27-2-1972.
CHUẨN TƯỚNG NGUYỄN VĂN ĐIỀM
Sinh ngày 30-6-1929, tốt nghiệp khóa 4
Trường Bộ Binh Thủ Đức. Ông giữ chức vụ Trung đoàn trưởng của SĐ1/BB và
Tư Lệnh Phó trước khi được bổ nhiệm làm Tư Lệnh Sư Đoàn 1/BB, năm 1973.
Ông được hăng cấp Chuẩn tướng tháng 4-1974. Trực thăng của ông bị rơi
gần bờ biển Sa Huỳnh thuộc tỉnh Quảng Ngãi, vào 8giờ tối ngày 28-3-1975.
Ông là vị tướng bị tử nạn cuối cùng trong cuộc chiến Việt Nam
NHỮNG VỊ TƯỚNG TỰ SÁT
CHUẨN TƯỚNG LÊ NGUYÊN VỸ
CHUẨN TƯỚNG LÊ NGUYÊN VỸ
Sinh ngày 22-8-1933, tỉnh Sơn Tây, học
khoá 2 Trường Võ Bị Địa Phương Trung Việt, tốt nghiệp với cấp bậc chuẩn
uý hiện dịch. Trước ngày 30-4-1975, ông nguyên là Tư Lệnh Sư Đoàn 5/BB.
Ngay sau lúc nghe được lời kêu gọi buông súng của ông Dương văn Minh,
chuẩn tướng Lê nguyên Vỹ đã tự sát trước sân cờ của bản doanh Bộ Tư Lệnh
SĐ5/BB ở Lai Khê tỉnh Bình Dương.
THIẾU TƯỚNG PHẠM VĂN PHÚ
Sinh năm 1929, tỉnh Hà Đông, học khóa 8
Trường Võ Bị Liên Quân Việt Nam, Đà Lạt, nguyên là Tư Lệnh QĐII/QKII từ
tháng 11-1974. Trong cuộc họp ở Cam Ranh ngày 14-3-1975, Tổng Thống VNCH
Nguyễn văn Thiệu (1924-2001) lệnh cho tướng Phạm văn Phú rút quân khỏi
các tỉnh Kontum, Pleiku về vùng duyên hải QĐ II. Cuộc lui quân nầy diễn
tiến như thế nào thì lịch sữ đã cho thấy. Ngày 29-4-1975, tại nhà riêng ở
Sàigòn, thiếu tướng Phạn văn Phú đã uống một liều thuốc độc thật mạnh
nhưng gia đình phát giác và đưa ông vào bệnh viện cứu chữa. Trưa ngày
30-4-1975, ông tỉnh lại và thều thào hỏi vợ về tình trạng lúc bấy giờ.
Sau khi nghe vợ cho biết ông Dương văn Minh đã đầu hàng và Việt Cộng vừa
vô dinh Độc Lập. Nghe đến đây, thiếu tướng Phạm văn Phú thở hắt ra. Đó
cũng là hơi thở cuối cùng của ông.
CHUẨN TƯỚNG TRẦN VĂN HAI
Sinh năm 1929, Cần Thơ, tốt nghiệp khoá 7
Trường Võ Bị Liên Quân, Đà Lạt. Ông nguyên là Tư Lệnh Sư Đoàn 7/BB
thuộc QĐIV/ QKIV từ ngày 1-3-1974. Trước đó ông cũng từng đảm trách các
chức vụ như Tỉnh Trưởng tỉnh Phú Yên (năm 1965), Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ
Huy Biệt Động Quân Trung Ương (năm 1967), Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc
Gia (năm 1968), Chỉ Huy Trưởng Trung tâm Huấn Luyện Lam Sơn kiêm Chỉ Huy
Trưởng Huấn Khu Dục Mỹ (năm 1971), Tư Lệnh Phó QĐII/ QKII và kiêm nhiệm
Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Hành Quân Chiến Thuật QĐII/QKII (năm 1972).
Trong ngày 30-4-1975, khoảng 17:00 giờ
tại Bộ Tư Lệnh SĐ7/BB ở Mỹ Tho, chuẩn tướng Trần văn hai đã uống thuốc
độc ngay trong văn phòng của mình. Vị sĩ quan tuỳ viên sau khi phát giác
chủ tướng của mình đã quyên sinh, đã đưa ông qua Tiểu đoàn 7 Quân Y
mong cứu được ông, nhưng mọi nổ lực đều quá muộn. Buổi chiều trong ngày,
trước khi uống thuốc độc chuẩn tướng Trần văn Hai trao cho vị sĩ quan
tuỳ viên số tiền 70.000 đồng nhờ đưa cho người mẹ già của mình. Đây cũng
là tháng lương cuối cùng của một người lính suốt đời liêm chính.
CHUẨN TƯỚNG LÊ VĂN HƯNG
Sinh năm 1933, Hóc Môn, Gia Định, tốt
nghệp khoá 5 Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, nguyên là Tư Lệnh Phó QĐIV/
QKIV từ ngày 1-11-1974. Ông cũng từng là Tư Lệnh Sư Đoàn 5/BB (ngày
14-6-1971), Tư Lệnh Phó QĐIII/ QKIII Đặc trách Lực Lượng Phản Ứng Cấp
Thời (ngày 4-9-1972), Tư Lệnh Sư Đoàn 21/BB (ngày 9-6-1973).
Khoảng 19:30 giờ ngày 30-4-1975, tại tư
dinh của mình ở Cần Thơ, Chuẩn Tướng Lê văn Hưng sau khi nói những lời
từ biệt với các thuộc cấp, dặn dò khuyên nhủ bạn đời là bà Phạm thị kim
Hoàng, ông vào văn phòng riêng và khóa chặt cửa lại mặc dù tiếng khóc
than nức nở kêu gào của người vợ. Ông đã dùng súng tự sát vào lúc 20:45
giờ ngày 30-4-1975.
THIẾU TƯỚNG NGUYỄN KHOA NAM
Sinh ngày 23-9-1927, Đà Nẳng (chánh quán
An Cựu Tây, quận Hương Thủy, tỉnh Thưà Thiên), tốt nghiệp khóa 3 Trường
Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Đời binh nghiệp của ông đã trải qua những chức
vụ như: Tiểu Đoàn Trưởng TĐ5 Nhảy Dù (năm 1965), Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 3
Nhảy Dù (năm 1967), Tư Lệnh Sư Đoàn 7/BB (tháng 1-1970) và Tư Lệnh Quân
Đoàn IV/ Quân Khu IV (tháng 11-1974) với cấp thiếu tướng.
Ông đã dùng súng tự sát trong tư dinh của mình ở Cần Thơ khoảng 07:30 giờ ngày 1-5-1975.
CHẾT TRONG TÙ CỘNG SẢN VIỆT NAM:
THIẾU TƯỚNG ĐOÀN VĂN QUẢNG
THIẾU TƯỚNG ĐOÀN VĂN QUẢNG
* Sinh năm 1923, xuất thân Thiếu Sinh Quân Việt Nam .
* 1960: Thiếu tá, Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Hành Quân/ Đệ Ngũ Quân Khu (đến năm 1962 là QĐ IV vùng 4 chiến thuật)
* 1961: Trung tá, Chỉ Huy Trưởng Biệt Động Quân/ Đệ ngũ Quân Khu.
* 1962: Tư Lệnh Phó Sư Đoàn 21/BB. Tháng 10-1963, Tư Lệnh Phó SĐ9/BB.
* 7-11-1963: Đại Tá Tư Lệnh SĐ9/BB.
* 1964: Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Biêt.
* 1966: Chuẩn tướng. 1971: Thiếu tướng.
* 1972: Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung.
Sau ngày 30-4-1975, Việt Cộng đưa đi tập
trung khổ sai. Thiếu tướng Đoàn văn Quảng chết trong tù Cộng sản ở trại
khổ sai Nam Hà (Hà nam Ninh) ngày 6-3-1984.
CHUẨN TƯỚNG BÙI VĂN NHU
Sinh ngày 26-12-1920 tại quận Bến Lức tỉnh Long An, bắt đầu phục vụ ngành Cảnh Sát Quốc Gia năm 1939 từ ngạch Thư Ký phiên dịch.
* Từ 1949 đến 1952, Biên Tập Viên Chánh Sở Trung Ương Tình Báo.
* 1952-1958: Quận Trưởng Hạng 4 Thanh Tra Tổng Nha CSQG
* 1958-1960: Quận Trưởng Hạng 3 Giám Đốc TTHL/CS & CA
* 1960- chức vụ Phó Tổng Giám Đốc Tổng Nha CS.
* 1971-1975: Đại tá CSQG, Tư Lệnh Phó Tổng Nha
* 01-2-1975: Chuẩn tướng CSQG, Tư Lệnh Phó Tổng Nha CS.
Sau ngày 30-4-1975, Việt Cộng đưa đi tập trung khổ sai và chết tại trại tù Nam Hà, ngày 15-3-1984.
BĐQ Đỗ Như Quyên
1962: Quận Trưởng Hạng 2 Phụ Tá Khối CS Đặc Biệt Tổng Nha CS
* Đến năm 1966-1971, ông lên đến ngạch Quận Trưởng Thượng Hạng và đảm nhiệm
BĐQ Đỗ Như Quyênhttp://www.congdongnguoiviet.fr
ĐIỂM BÁO RFI: Tổng thống Nga ra lệnh chống nạn tham nhũng + Pháp phẫn nộ với chính sách khắc khổ tại châu Âu
Thứ bảy 27 Tháng Tư 2013
Tổng thống Nga Vladimir Putin ra lệnh cho thành viên chính quyền đóng các tài khoản ở nước ngoài (Reuters / RIA Novosti)
Sau hiện tượng 30 đại biểu Quốc hội Nga đã từ chức trước khi
phải kê khai thu nhập và một số ly dị giả nhằm trốn thuế, hôm nay báo
Libération lại đề cập đến chủ đề này. Theo tờ báo, tổng thống Putin mở
ra cuộc chiến chống tham nhũng và ra lệnh cho các nhân vật chính phủ có
ba tháng để đóng tài khoản ở nước ngoài. Đây là một hình thức để nhắc
nhở ai mới chính là chủ của đất nước.
Tổng thống Putin đã quyết định kiểm soát sự làm giàu của giới
công chức Nga bằng cách ra lệnh cho họ cùng gia đình phải kê khai tài
sản. Đây thực sự là một bước ngoặt quan trọng của chính quyền Kremlin
trong cuộc chiến chống tham nhũng. Theo ông Sergueï Ivanov, chánh văn
phòng phủ tổng thống nhận xét thì cuộc chiến này không bỏ sót một ai bởi
tính gian lận của các công chức Nga không còn là gì mới mẻ trên đất
nước này.
Theo một sắc lệnh vừa được ký vào tháng Tư, các viên chức Nga có thời
hạn cho đến đầu tháng 7 để đóng tài khoản ở nước ngoài và rút tiền về
nước. Bên cạnh đó, họ còn phải kê khai tổng giá trị tài sản gửi ở nước
ngoài và chứng minh nguồn gốc của lượng tài sản trên nếu giá trị tài sản
vượt mức thu nhập của gia đình trong 3 năm gần đây. Nếu họ muốn gởi
tiền ở nước ngoài thì phải thông qua ngân hàng Nga. Theo tin từ ngân
hàng trung ương Nga, trong năm 2012 có gần 38 tỷ euro được chuyển trái
phép ra ngoại quốc.
Theo một số chuyên gia, hành động của Putin như để khẳng định quyền
lực vì ông có quyền sinh sát trong tay mà không cần tham vấn người nào.
Nga hiện tại được xếp thứ 133 trong tổng số 174 quốc gia báo động về nạn
tham nhũng. Tờ báo nhận định thay vì giao phó việc quản lý tài sản của
công chức Nga cho các cơ chế độc lập như các đại diện cho quyền lập pháp
và tư pháp, đằng này ông lại dành lấy quyền này. Theo bà Elena
Panfilova thuộc tổ chức Transparency International thì « đây là dấu hiệu
cho thấy Putin không còn tin tưởng được người nào ».
Để biện pháp này hiệu quả thì tổng thống Putin phải kèm theo chương
trình bảo vệ những người làm chứng, tố cáo nạn tham nhũng bằng cách tước
bỏ khả năng một số quan chức cao cấp Nga có thể truy cứu pháp luật
những người tố cáo tham nhũng sau này.
Pháp phẫn nộ với chính sách khắc khổ tại châu Âu
Chính sách khắc khổ áp đặt tại châu Âu đã làm không ít quốc gia phẫn
nộ. Pháp, quốc gia sát cánh cùng Đức trong chiến dịch này giờ đây cũng
không thể chịu đựng được nữa. Báo chí Pháp hôm nay đưa tin cho biết các
thành phần trong quốc hội đặc biệt là phe cánh tả thuộc đảng xã hội lên
án gay gắt Đức và chính sách khắc khổ áp đặt lên châu Âu.
Báo Le Monde chạy tựa : « Hollande dưới sức ép của chính người thân
cận ». Tờ báo cho biết chính sách khắc khổ giờ đây bị đa số giới lãnh
đạo Pháp chỉ trích. Đầu tháng Tư, một loạt các bộ trưởng như Montebourg,
Duflot và Hamon chỉ trí chính sách khắc khổ tại châu Âu và mời gọi tổng
thống nên xem xét lại việc đổi hướng kinh tế vì chính sách khắc khổ chỉ
gây kìm hãm tăng trưởng. Bây giờ lại đến lượt nhân vật thứ 3 trong
chính phủ, ông Batolone kêu gọi tổng thống phải đối đầu với Đức nhằm
giải quyết tình trạng này.
Tình hình kinh tế Pháp đang nằm trong báo động đỏ : thất nghiệp gia
tăng chưa từng thấy, sức hút đầu tư kém, tiêu thụ giảm mạnh. Giới lãnh
đạo hàng ngày phải chịu sự đả kích từ phía phần đông dân chúng cho rằng
chính sách kinh tế quá khắc khổ. Trên tờ Les Echos phát hành ngày 24/04,
bộ trưởng bộ Nông nghiệp Stéphane Le Foll nhận định : « cuộc khủng
hoảng bắt buộc cánh tả phải thay đổi chiến lược ».
Bên cạnh đó, báo thiên hữu Le Figaro cũng không bỏ lỡ cơ hội đăng bài
: « Đảng Xã hội tuyên chiến với Đức ». Các đảng viên thuộc Đảng Xã hội
đã có một giọng điệu cứng rắn lên án chính sách khắc khổ của thủ tướng
Đức Angela Merkel. Một đoạn tài liệu dài khoảng 20 trang sẽ được văn
phòng quốc gia của Đảng Xã hội thông qua vào thứ ba tuần tới. Nội dung
bản thảo lên án chính sách khắc khổ của châu Âu mà đặc biệt là nhắm vào
bà Angela Merkel. Tờ báo gọi đây là lời « kêu gọi cả quốc gia » chống
lại Đức.
Trong cuộc họp báo, thủ tướng Pháp Jean-Marc Ayrault đánh giá nên
nhượng bộ chiều theo số đông nhằm làm yên lòng nội bộ Đảng Xã hội đang
sôi sục đả phá chính sách hà khắc tại châu Âu. Tuy nhiên, ông cũng thông
báo rằng không nên đi quá xa vì có thể nó sẽ rất nguy hiểm. Phía đảng
đối lập UMP, ông Gilles Carriez bình luận rằng Đức đang trở thành bia
chịu trận cho mọi sự thất bại của mô hình kinh tế, xã hội của ông
Hollande.
Về phần mình, báo Libération nêu lên nhận định của cựu thủ tướng
François Fillon rằng chưa bao giờ hoặc hiếm khi quan hệ giữa hai nước
Pháp-Đức tệ như hiện nay. Người Đức thì đang lo một ngại nguy cơ Pháp cố
tình « bài Đức ».
Nissan sẽ giúp Renault gia tăng sản xuất tại Pháp
Liên quan đến tình hình kinh tế tại Pháp, báo Le Figaro trong mục
kinh tế đưa tin vui cho ngành sản xuất xe hơi Pháp đang trong thời kỳ u
ám. Tập đoàn sản xuất xe hơi Nhật Nissan sẽ cho ra đời chiếc Micra tại
Flins thuộc ngoại ô Paris vào năm 2016. Mục tiêu là sản xuất ra 82 000
chiếc.
Đây là lần đầu tiên mà một đối tác của Renault sản xuất một lượng xe
hơi du lịch đáng kể trên đất Pháp. Nhà sản xuất ô-tô Pháp đã giữ lời hứa
khi cam kết với các công đoàn cho sản xuất 710 000 vào năm 2016 trong
khi chỉ có 530 000 chiếc năm ngoái mà trong đó có 80 000 chiếc là do đối
tác sản xuất.
Renault chiếm 43.3% cổ phần của Nissan, giờ đây có thể trong thời
gian ngắn giải tỏa được một số khó khăn của hãng mặc dù lượng sản xuất
vẫn không bằng hồi năm 2003. Tờ báo cho biết chiếc Micra được sản xuất
tại Pháp nhằm cung ứng cho châu Âu. Bên cạnh đó, Nissan vẫn sản xuất
song song tại các xưởng ở Chennai (Ấn Độ).
Nissan khẳng định đã có lý khi chọn Pháp vì xưởng tại Ấn Độ được xem
như đã bão hòa. Từ lâu, Renault đã đánh giá rằng khó có lời khi sản xuất
ô-tô tại Pháp. Cụ thể là để sản xuất một chiếc Clio IV tại Pháp thì giá
thành đắt hơn khoảng 1300 euro so với sản xuất chiếc này tại Thổ Nhĩ
Kỳ.
Vào lúc thị trường châu Âu đang suy sụp, việc Nissan đến sản xuất tại
Pháp quả là điểm khởi sắc cho tập đoàn nhân viên Renault, cũng như cho
chính phủ.
Chủ nghĩa dân tộc của ông Shinzo Abe gây lo ngại các láng giềng của Nhật
Trở lại thời sự tại châu Á, báo Le Figaro hôm nay có bài báo đăng tin
thủ tướng Nhật Shinzo Abe được người dân hoan nghênh bao nhiêu về các
chính sách kinh tế thì ông lại bị chỉ trích bấy nhiêu về thái độ cực hữu
của mình.
Phát ngôn viên bộ Ngoại giao Trung Quốc, ông Hòa Ánh Ánh chỉ trích
việc ông Shinzo Abe cùng 189 dân biểu Nhật đi thăm đền Yasukuni như một
động thái chối bỏ quá khứ gây chiến tranh của Nhật. Trung Quốc, Hàn Quốc
đặc biệt công kích hành động này vì các quốc gia trên từng có lịch sử
chiến tranh với Nhật Bản.
Phía Nhật Bản thì coi đây như một hành động để tưởng nhớ các vị anh
hùng của đất nước. Một giáo sư thuộc trường đại học Yosei của Hàn Quốc
châm biếm : « hành động này chẳng khác nào việc bảo Hitler chưa bao giờ
xâm lược Ba Lan ».
Ông Shinzo Abe muốn đào tạo lực lượng tự vệ và chuyển thành quân đội
chính quy có thể tham chiến. Để làm được điều này thì ông cần phải sửa
đổi một số điểm trong hiến pháp chủ hoà. Trong nội bộ, một quan chức
nhận xét đảng cầm quyền của ông Shinzo Abe không chỉ đơn giản là đảng
bảo thủ mà còn theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan.
DANH SÁCH NHỮNG QUÂN NHÂN QUÂN LỰC VNCH ĐÃ TỰ SÁT TRONG NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG
Posted on April 27, 2013 by Khe Sanh
38
năm kể từ ngày 30.4.1975, niềm uất hận tưỡng chừng như phôi pha, nhưng
không, vẩn luôn canh cánh bên lòng…suốt chặng đường dài vừa qua nhân dân
VN không bao giờ quên được sự hy sinh cao cả của các Tướng lãnh, Sĩ
Quan và quân nhân các cấp thuộc QUÂN LỰC VNCH với trách nhiệm BẢO QUỐC
AN DÂN trong không khí Tự Do của hai nền đệ nhất và đệ nhị Cộng Hoà.
Cám
ơn anh- những người chiến sĩ VNCH, đã hy sinh đời trai cho cuộc chiến
chống xâm lăng của bọn CSVN. Nhân mùa Quốc Nạn 30.4.2013, người viết xin
được ghi lại những nét hào hùng của các chiến sỉ QUÂN LỰC VNCH đã tuẫn
tiết trong những ngày chót của cuộc chiến, để không rơi vào tay giặc.
Các anh đã hiên ngang đi vào hồn thiêng sông núi!
Đất
nước Việt Nam anh hùng hào kiệt đời nào cũng có. Những đấng tiền nhân
tiên liệt đã vị quốc vong thân. Phận làm con cháu chúng ta cần ghi nhớ
công đức ! đó mới gọi là hiếu nghĩa vẹn toàn.
| 1- Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, | cựu tư lệnh Quân Đoàn II | 30/4/1975 |
| 2- Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, | tư lệnh Quân Đoàn IV | 30/4/1975 |
| 3- Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, | tư lệnh phó Quân Đoàn IV | 30/4/1975 |
| 4- Chuẩn Tướng Trần Văn Hai, | tướng tư lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh | 30/4/1975 |
| 5- Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ, | tư lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh | 30/4/1975 |
| 6- Đại Tá Nguyễn Hữu Thông, | trung đoàn trưởng 42 Bộ Binh, Sư Đoàn 22 Bộ Binh- khóa 16 Đà Lat. | 31/3/1975 tự sát tại Quy Nhơn |
| 7- Đại Tá Lê Câu, | trung đoàn trưởng 47 Bộ Binh, Sư Đoàn 22 Bộ Binh. | Tự sát ngày 10/3/1975 |
| 8- Hải Quân Thiếu Tá Lê Anh Tuấn | (bào đệ của Trung Tướng Lê Nguyên Khang). | 30/4/1975 |
| 9- Thiếu Tá Không Quân Nguyễn Gia Tập, | đặc trách khu trục tại Bộ Tư Lệnh KQ. | Tự sát 30/4/75 tại BTLKQ |
| 10- Trung Tá Nguyễn Văn Long | CSQG | 30/4/1975 tự sát tại công trường Lam Sơn, Sài Gòn |
| 11- Trung Tá Nguyễn Đình Chi | Phụ Tá Chánh sở 3 ANQĐ – Cục An Ninh Quân Đội. | Tự sát 30/4/1975 tại Cục An Ninh |
| 12- Trung Tá Phạm Đức Lợi, | phụ tá Trưởng Khối Không Ảnh P2/ Bộ TTM | 30/4/1975 |
| 13- Trung Tá Vũ Đình Duy, | trưởng Đoàn 66 Đà Lạt | 30/4/1975 |
| 14- Trung Tá Nguyễn Văn Hoàn, | trưởng Đoàn 67 Phòng 2 Bộ Tổng Tham mưu. | Tự sát ngày 30/4/1975 |
| 15- Hải Quân Trung Tá Hà Ngọc Lương, | Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang. | Tự sát ngày 28/4/1975 cùng vợ, 2 con và cháu (bằng súng) |
| 16- Thiếu Tá Đặng Sỹ Vĩnh, | trưởng Ban Binh Địa P2 Bộ TTM, sau biệt phái qua Cảnh Sát | 30/4/1975 tự sát cùng vợ và 7 con |
| 17- Thiếu Tá Mã Thành Liên (Nghĩa), | tiểu đoàn trưởng 411ĐP, TK Bạc Liêu- khoá 10 Đà Lạt. | 30/4/1975 tự sát cùng vợ |
| 18- Thiếu Tá Lương Bông, | phó ty An Ninh Quân Đội Cần Thơ- Phong Dinh. | Tự sát ngày 30/4/1975 |
| 19- Thiếu Tá Trần Thế Anh, | đơn vị 101. | Tự sát ngày 30/4/75 |
| 20- Đại Úy Vũ Khắc Cẩn, | Ban 3, Tiểu Khu Quảng Ngãi. | Tự sát 30/4/1975 |
| 21- Đại Úy Tạ Hữu Di, | tiểu đoàn phó 211 Pháo Binh Chương Thiện. | Tự sát 30/4/1975 |
| 22- Trung Úy CSQG Nguyễn Văn Cảnh, | trưởng cuộc Vân Đồn, Q.8. | Tự sát ngày 30/4/1975 |
| 23- Chuẩn Úy Đỗ Công Chính, | TĐ 12 Nhảy Dù. | Tự sát ngày 30/4/1975 tại cầu Phan Thanh Giản |
| 24- Trung Sĩ Trần MinhTrần Minh, | gác Bộ Tổng Tham Mưu. | Tự Sát 30/4/1975 |
| 25- Thiếu Tá Đỗ Văn Phát, | quận trưởng Thạnh Trị Ba Xuyên | 1/5/1975 |
| 26- Thiếu Tá Nguyễn Văn Phúc, | tiểu đoàn trưởng, Tiểu Khu Hậu Nghĩa | 29/4/1975 |
| 27- Trung Tá Phạm Thế Phiệt | 30/4/1975 | |
| 28- Trung Tá Nguyễn Xuân Trân, | Khoá 5 Thủ Đức, Ban Ước Tình Tình Báo P2 /Bộ TTM. | Tự sát ngày 1/5/75 |
| 29- Trung Tá Phạm Đức Lợi, | Phòng 2 Bộ TTM, khóa 5 Thủ Đức, học giả, nhà văn, thơ, soạn kịch…bút danh: Phạm Việt Châu, cựu giảng viên SNQĐ, trưởng phái đoàn VNCH thực hiện HĐ Paris tại Hà Nội. | Tự sát tại nhà riêng ngày 5/5/1975 |
| 30- Đại Úy Nguyễn Văn Hựu, | trưởng Ban Văn Khố P2/Bộ TTM. | Tự sát sáng 30/4/75 tại P2/Bộ TTM |
| 31- Thiếu Úy Nguyễn Phụng, | CS đặc biệt, | 30/4/1975 tại Thanh Đa, Sài Gòn |
| 32- Thiếu Úy Nhảy Dù Huỳnh Văn Thái, | khoá 5/69 Thủ Đức. | 30/4/1975 tự sát tập thể cùng 7 lính Nhảy Dù tại Ngã 6 Chợ Lớn. |
| 33- Trung Úy Đặng Trần Vinh | (con của Thiếu Tá Đặng Sĩ Vinh), P2 BTTM. | Tự sát cùng vợ con 30/4/1975 |
| 34- Trung Úy Nghiêm Viết Thảo, | An Ninh Quân Đội, khóa 1/70 Thủ Đức. | Tự sát 30/4/1975 tại Kiến Hòa |
| 35- Thiếu Úy Nguyễn Thanh Quan (Quan Đen), | phi công PĐ 110 Quan Sát (khóa 72). | Tự sát chiều 30/4/1975 |
| 36- Hồ Chí Tâm B2, | TĐ 490 ĐP ( Mãnh Sư) TK Ba Xuyên (Cà Mau). | Tự sát bằng súng M16 trưa 30/4/1975 tại Đầm Cùn, Cà Mau |
| 37- Thượng Sĩ Phạm Xuân Thanh, | trường Truyền Tin Vũng Tàu. | Tự sát ngày 30/4/1975 tại Vũng Tàu |
| 38- Thượng Sĩ Bùi Quang Bộ, | trường Truyền Tin Vũng Tàu. | Tự sát ngày 30/4/1975 cùng gia đình 9 người tại Vũng Tàu |
| 39- …………………………….. và còn rất nhiều rất nhiều tấm gương sáng của những người anh hùng QLVNCH | ||
*****
Danh
sách này do một cựu SVSQ khoá 3/73 Thủ Đức sưu tầm từ những tư liệu
không được đầy đủ, cần có một cơ quan nào đó làm việc cập nhật bản danh
sách các anh hùng của QLVNCH để được đầy đủ và chính xác nhằm lưu danh
cho hậu thế.
Nhìn
lại hàng ngũ quân đội trên thế giới, có quân đội nào bất hạnh hơn
QLVNCH ? Trong lúc mọi người đang tưởng niệm về ngày 30.4.1975, thì đã
có không biết bao nhiêu người hiện nay, đang sống thản nhiên khắp các
nẻo đường hải ngoại, mà hầu hết bản thân họ hay con cháu, hôm qua vẫn
sống nhờ sự bảo bọc của người lính VNCH, họ cố tình quên đi qúa khứ để
được vinh thân phì da, quên đồng đội, quên những những người chiến hữu
từng sát cánh ngày nào trên khắp các chiến địa….Thật xấu hổ cho những
loại người nầy!
Tuy
nhiên vẫn còn rất nhiều người đang dấn thân tiếp tục chiến đấu liên tục
cho ngày quang phục quê hương. Họ vẫn luôn nghĩ tới những người xưa đã
VỊ QUỐC VONG THÂN, họ đã vì DANH DỰ và TRÁCH NHIỆM của một quân nhân
QUÂN LỰC VNCH….Chúng tôi kính phục họ, chúng tôi hãnh diện vì họ, họ
đang sống những ngày đáng sống trên các phần đất tạm dung. Họ chính là
những quân nhân ưu tú của QUÂN LỰC VNCH.
Một
điều rất may mắn nữa là hầu hết người Miền Nam, xưa nay vẫn biết ơn
người lính năm nào, nhất là sau ba mươi tám năm qua, đã biết hết cảnh
đổi đời oan nghiệt. Giờ đây xin mọi người hãy dành một nén hương lòng
cho những người anh hùng của QUÂN LỰC VNCH đã anh dũng ra đi trong những
ngày cuối của cuộc chiến. Họ đáng cho chúng ta được tôn vinh và đời đời
nhớ ơn…
Anh hùng có tử
…nhưng khí hùng luôn luôn bất tử.
Kính dâng lên linh hồn các anh những nén hương của tuổi trẻ hậu duệ VNCH nhân mùa quốc hận 30 tháng 4 năm nay.
Nguyễn Thị Hồng29.3.2013
(theo: http://www.batkhuat.net/)
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)