Thứ Bảy, 16 tháng 5, 2009

ĐẾ QUỐC PHƯƠNG BẮC THÔN TÍNH BIỂN ĐÔNG - VIỆT NAM ĐẦU HÀNG ĐẠI HÁN ?

Xin gửi quý vị và các bạn bản cáo giác đính kèm và yêu cầu phổ biến rộng rãi cho các giới đồng bào trong và ngoài nước. Xin quý vị và các bạn tham gia ý kiến về vấn đề trọng đại này.
Chúng tôi xin thành thật cảm tạ.
- Luật sư Nguyễn Hữu Thống
nguyenhthong@earthlink.com

Ngày 7-5 vừa qua Chính Phủ Hà Nội đã đệ trình đơn đăng ký từng phần (partial submission) để yêu cầu Ủy Ban Định Ranh Thềm Lục Địa Liên Hiệp Quốc cho Việt Nam mở rộng thềm lục địa pháp lý 200 hải lý (370km) thành thềm lục địa mở rộng hay thềm lục địa địa chất tới mức 350 hải lý (650 km) chiếu Điều 76 Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982.
Đơn đăng ký đã được đệ nạp trong thời hạn luật định và sẽ được Ủy Ban Định Ranh Thềm Lục Địa Liên Hiệp Quốc đăng đường vào khóa họp tại Nữu Ước từ trung tuần tháng 8 đến trung tuần tháng 9 tới đây. Sau khi cứu xét hồ sơ căn cứ vào những tiêu chuẩn đặc thù ghi trong Bản Cương Lĩnh về Khoa Học Kỹ Thuật ngày 13-5-1999, Ủy Ban Phân Định Thềm Lục Địa sẽ công bố những khuyến cáo có hiệu lực chấp hành chung quyết buộc các quốc gia đăng ký phải tôn trọng và thi hành.
Về mặt pháp lý, chiếu Điều 76 Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, tại Biển Đông Nam Á hay Biển Đông, các quốc gia duyên hải như Trung Quốc, Việt Nam, Nam Dương, Mã Lai, Brunei, Phi Luật Tân được hưởng quy chế thềm lục địa pháp lý rộng 200 hải lý từ biển lãnh thổ ra khơi. Chiếu Điều 77 Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển thềm lục địa 200 hải lý thuộc chủ quyền tuyệt đối và đặc quyền chuyên hữu của quốc gia duyên hải trong việc thăm dò và khai thác dầu khí.
Mọi sự xâm chiếm dầu có võ trang hay không của ngoại bang đều vô giá trị và vô hiệu lực. Chủ quyền tuyệt đối của Việt Nam tại các thềm lục địa Hoàng Sa và Trường Sa không tùy thuộc vào điều kiện phải có sự chiếm cứ (occupation) , thăm dò (exploration) , khai thác (exploitation) hay công bố minh thị (express proclamation) . Do đó dầu không còn chiếm cứ 13 đảo tại Hoàng Sa từ 1974, và một số đảo, cồn , đá, bãi tại Trường Sa từ 1988, Việt Nam vẫn không mất chủ quyền lãnh thổ tại các hải đảo này.

Tại quần đảo Hoàng Sa về phía đông bắc có 7 đảo thuộc Nhóm An Vĩnh (Amphitrite) là các đảo Phú Lâm, Lincoln, đảo Cây, đảo Hòn Đá, đảo Bắc, đảo Trung và đảo Nam. Về phía tây nam có 6 đảo thuộc Nhóm Lưỡi Liềm (Crescent, tiếng Pháp là Croissant) là các đảo Hoàng Sa, Quang Hòa, Duy Mộng, Quang Ảnh, Hữu Nhật và Trí Tôn. Các hải đảo này nằm trên thềm lục địa Việt Nam tại các Vỹ Tuyến 17-16-15 cách bờ biển Việt Nam khoảng 160 hải lý. Riêng đảo Trí Tôn phía cực nam tọa lạc tại Vỹ Tuyến 15.47 Bắc cách Quảng Ngãi 135 hải lý. Theo Tòa Án Quốc Tế The Hague muốn thủ đắc chủ quyền các đảo vô chủ, phải có sự chiếm cứ hòa bình trong một thời gian liên tục và trường kỳ.

Tháng 1-1974 thừa dịp quân lực Hoa Kỳ rút khỏi Việt Nam, Trung Quốc đã dùng võ trang xâm chiếm 6 đảo Hoàng Sa thuộc Nhóm Lưỡi Liềm. Trước đó, vào cuối năm 1946, thừa dịp Hải Quân Pháp rút khỏi Biển Đông, Trung Quốc đã xâm chiếm bất hợp pháp 7 đảo Hoàng Sa thuộc Nhóm An Vĩnh. Sự chiếm cứ võ trang này đi trái với án lệ cố định của Tòa Án Quốc Tế The Hague cũng như trái với Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển.
Hơn nữa từ thế kỷ 16 dưới đời Nhà Nguyễn Xứ Đàng Trong, kế đến đời Nhà Nguyễn Tây Sơn và Quốc Gia Việt Nam thống nhất đời Nhà Nguyễn Gia Long, Việt Nam đã chiếm cứ ôn hòa, trường kỳ và liên tục các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đồng thời minh thị công bố chủ quyền và hành sử chủ quyền tại các quần đảo này. Như vậy các hải đảo của Việt Nam tại Biển Đông không phải là đất vô chủ (terra nullius) vì thuộc chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam liên tục ít nhất từ 5 thế kỷ nay.
Năm 1949, do Hiệp Định Elysee, Pháp trao trả chủ quyền độc lập và thống nhất cho Quốc Gia Việt Nam với sự toàn vẹn lãnh thổ từ Nam Quan đến Cà Mâu. Lãnh thổ có nghĩa là đất liền, hải phận và không phận. Như vậy không có sự chối cãi rằng Quốc Gia Việt Nam đã thủ đắc chủ quyền lãnh thổ và lãnh hải tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Sự xâm chiếm Biển Đông bằng võ trang của Quân Đội Trung Quốc trong những năm 1946, 1974 và 1988 không được Tòa Án và Luật Pháp nhìn nhận. cũng như sự xâm chiếm võ trang các hải đảo tại Biển Đông của Quân Đội Nhật Bản thời Thế Chiến II.
Năm 1951, 51 quốc gia đồng minh tham dự Hội Nghị San Francisco để ký Hiệp Ước Hòa Bình và Tái Thiết Nhật Bản. Tại Hội Nghị Nhật Bản tuyên bố khước từ chủ quyền tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nhưng không nói để trả cho nước nào. Trong Dự Án Hiệp Ước Hòa Bình San Francisco 1951, các quốc gia đồng minh tham dự Hội Nghị chỉ quyết định trao trả cho Trung Quốc đảo Đài Loan và quần đảo Bành Hồ tại Thái Bình Dương.
Trong một phiên họp khoáng đại Ngoại Trưởng Liên Sô đệ nạp bản Tu Chính Án yêu cầu Hội Nghi trao cho Trung Quốc các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tuy nhiên tu chính án của Liên Sô đã bị Đại Hội bác bỏ với 46 phiếu chống và 3 phiếu thuận. Sau đó trưởng phái đoàn Quốc Gia Việt Nam là Thủ Tướng Trần Văn Hữu đã lên diễn đàn công bố chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà không gặp sự phản kháng nào, kể cả của Liên Sô (lúc này là quốc gia đồng minh với Anh, Mỹ, Pháp và Trung Hoa từ thời Thế Chiến II).
Năm 1954, 7 quốc gia tham dự Hội Nghị Geneva về Việt Nam trong đó có ngũ cường Anh, Mỹ, Pháp, Liên Sô và Trung Quốc cùng 2 nước Việt Nam là Quốc Gia Việt Nam (Miền Nam) và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Miền Bắc). Anh Quốc và Liên Sô là đồng chủ tịch Hội Nghị. Hiệp Định Geneva ngày 20-7-1954 một lần nữa đã minh thị xác nhận chủ quyền lãnh thổ và lãnh hải của Quốc Gia Việt Nam từ Vỹ Tuyến 17 vào Nam (Quảng Trị-Cà Mâu).
Điều 4 Hiệp Định Geneva ngày 20-7-1954 quy định như sau:
Giới tuyến giữa Miền Nam và Miền Bắc kéo dài ra ngoài hải phận theo một đường thẳng góc với đường ven biển. Quân đội Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa phải rút khỏi tất cả các hải đảo về phía Nam giới tuyến (Vỹ Tuyến 17) để trao trả chủ quyền các hải đảo này (tại Hoàng Sa và Trường Sa) cho Quốc Gia Việt Nam (năm 1954) và Việt Nam Cộng Hòa từ năm 1955. Các hải đảo này tọa lạc từ Vỹ Tuyến 17 (Quảng Trị) đến Vỹ Tuyến 7 (phía Đông Nam Cà Mâu)
Năm 1954 Pháp và Trung Quốc đã chủ xướng triệu tập Hội Nghị Geneva về Việt Nam với Liên Sô và Anh Quốc là đồng chủ tịch Hội Nghị. Như vậy về mặt quốc tế công pháp Trung Quốc có nghĩa vụ phải tôn trọng và thi hành những điều khoản của Hiệp Định Geneva ngày 20-7-1954, đặc biệt là Điều 4 xác nhận chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

VỀ ĐƠN THỈNH NGUYỆN CỦA VIỆT NAM
YÊU CẦU MỞ RỘNG THỀM LỤC ĐỊA


Ngày 7-5-2009 Chính Phủ Việt Nam đệ trình Ủy Ban Định Ranh Thềm Lục Địa Liên Hiệp Quốc bản báo cáo có kèm theo Họa Đồ (Figure) và Bản Tọa Độ (Table) với 45 điểm ranh mốc xác định giới tuyến thềm lục địa mở rộng (extended continental shelf). Như đã trình bày đơn thỉnh nguyện (submission) của Việt Nam sẽ được Ủy Ban Định Ranh Thềm Lục Địa đăng đường vào khóa họp tại Nữu Ước từ trung tuần tháng 8 đến trung tuần tháng 9 tới đây.
Phản ứng tiên khởi của Ủy Ban Luật Gia Bảo Vệ Dân Quyền là ngỡ ngàng và xót xa.
Vì hai lý do:
1. Theo Họa Đồ số 1 (Figure 1 Outer limits of the Vietnam's extended continental shelf: North Area (VNM-N) do Chính Phủ Hà Nội xuất trình, điểm khởi hành của ranh giới Thềm Lục Địa Mở Rộng (Vietnam 350M), về hải phận phía Bắc đối diện với Trung Quốc chỉ khởi sự từ ranh mốc số 1 tọa lạc tại Vỹ Tuyến 15.06 Bắc (ngang tầm với Quảng Ngãi) và Kinh Tuyến 115.14 Đông.

2. Điểm 45 kết thúc giới tuyến Thềm Lục Địa Mở Rộng tọa lạc tại Vỹ Tuyến 10.75 Bắc (ngang tầm với Phan Thiết) và Kinh Tuyến 112.62 Đông. Như vậy Chính Phủ Việt Nam đã chính thức xác nhận với Ủy Ban Định Ranh Thềm Lục Địa Liên Hiệp Quốc rằng Thềm Lục Địa Mở Rộng của Việt Nam tại hải phận phía Bắc chỉ chạy từ Vỹ Tuyến 15.06 Bắc xuống Vỹ Tuyến 10.75 Bắc (từ Quảng Ngãi xuống Phan Thiết).
Trong trường hợp này Chính Phủ Hà Nội đã mặc nhiên khước từ chủ quyền lãnh hải của Việt Nam từ Vỹ Tuyến 15.06 Bắc (Quảng Ngãi) lên Vỹ Tuyến 17 (Quảng Trị). Nghĩa là Việt Nam đã cống hiến cho Trung Quốc một hải phận gồm 3 Vỹ Tuyến 15- 16-17 trong đó tọa lạc 13 đảo Hoàng Sa.

Về mặt vị trí, đảo Trí Tôn tại cực nam (với tọa độ 15.47 Bắc) cũng nằm về phía Bắc tọa độ 15.06 Bắc mà Chính Phủ Hà Nội chọn làm điểm ranh mốc cao nhất về phía Bắc của Thềm Lục Địa Mở Rộng Việt Nam. Kết quả là từ nay Trung Quốc có tư thế để đòi chủ quyền lãnh hải từ bờ biển Quảng Đông tại Vỹ Tuyến 22 xuống tới vùng biển Quảng Ngãi tại Vỹ Tuyến 15 nghĩa là toàn thể Quần Đảo Hoàng Sa.

3. Cũng theo Họa Đồ (Figure 1 nói trên), giới tuyến Thềm Lục Địa Pháp Lý 200 hải lý (Vietnam 200M) theo hướng Bắc-Nam, chạy song hành với bờ biển Việt Nam, từ Vỹ Tuyến 16 (Đà Nẵng) xuống Vỹ Tuyến 7 (Bãi Tứ Chính: Vanguard) dọc theo Kinh Tuyến 112 Đông.
Địa hình này xác nhận rằng Thềm Lục Địa Việt Nam chỉ khởi sự từ Vỹ Tuyến 16 (Đà Nẵng) xuống Vỹ Tuyến 7 phía đông nam Cà Mâu. Do đó nó mặc nhiên nhìn nhận rằng ngoại trừ đảo Tri Tôn tại Vỹ Tuyến 15.47 Bắc, vùng hải phận từ Vỹ Tuyến 16 trở về Bắc, trong đó tọa lạc 12 đảo Hoàng Sa, không thuộc chủ quyền lãnh hải của Việt Nam.
Theo hiểu biết thông thường, nếu không có Thềm Lục Địa thì không có lục địa. Nếu không có lục địa thì không có hải phận. Mà nếu không có hải phận thì cũng không có các hải đảo tọa lạc trong đó.
Trong cả hai trường hợp do Chính Phủ Hà Nội viện dẫn về Thềm Lục Địa Mở Rộng và Thềm Lục Địa Pháp Lý, Việt Nam đã khước từ chủ quyền ít nhất 12 hải đảo thuộc Quần Đảo Hoàng Sa tọa lạc tại các Vỹ Tuyến 17 và 16 Bắc từ Quảng Trị xuống Quảng Nam. (Đảo Hoàng Sa có vỹ độ 16.32 Bắc; đảo Phú Lâm có vỹ độ 16.50 Bắc).
Đây là một Thảm Họa cho Việt Nam.
Và là một Đại Thắng của Đế Quốc Đại Hán.
Tất cả những phản ứng đạo diễn của Bắc Kinh và Hà Nội nằm trong chiến thuật hỏa mù để đánh lạc dư luận quần chúng và đánh lừa dân tộc Việt Nam. Vì như ai cũng biết cho đến nay, Bắc Kinh vẫn nằng nặc đòi chủ quyền hơn 80% hải phận Biển Đông Nam Á mà họ gọi là Biển Lịch Sử hay Lưỡi Rồng Trung Quốc.
Chúng tôi kêu gọi các bậc thức giả tham gia ý kiến về vấn đề này.
Thay Mặt Ủy Ban Luật Gia Bảo Vệ Dân Quyền
Luật Sư Nguyễn Hữu Thống (13-5-2009)

KÍNH NHỜ PHỔ BIẾN VỀ VIỆT NAM
http://nguyenhuuthong.blogspot.com

Thứ Năm, 14 tháng 5, 2009

Những Điều Không “Tử Tế” Trong Câu Chuyện Bauxite Việt Nam

Đặc khu kinh tế của Tàu cộng trên đất Việt Nam do bộ chính trị Việt cộng tay sai dâng cúng cho quan thầy

Câu chuyện khai thác quặng mỏ bauxite và sự hiện diện của lính thợ và chuyên viên Trung cộng ở cao nguyên Trung phần Việt Nam hiện là một điểm nóng và là một đề tài đã được người dân trong nước cũng như ở hải ngoại quan tâm. Truyền thông như báo chí, truyền thanh, truyền hình hầu như khai thác hàng ngày trên mọi mặt của vấn đề từ gần 3 tháng qua.

Bài viết nầy, qua đề tựa lần lượt nêu ra một số vấn đề “sai trái”; trong đó những người có trách nhiệm trực tiếp hay gián tiếp của dự án, những người đang trực tiếp điều hành nhà nước Việt cộng…đã nêu ra, biện giải hay phản bác những “góp ý” của người dân trong và ngoài nước trên báo chí, phòng vấn, hội thảo v.v… Sở dĩ có quá nhiều chuyện cần phải “bàn lại” vì dự án khai thác quặng bauxite đã được chính Tổng bí thư Đảng VC là Nông Đức Mạnh đã ký với TC ngày 3/12/2001 qua ký kết “…Hai bên cùng tăng cường hợp tác trong dự án như Bauxite Đắk Nông , trong các dự án khuôn khổ hành lang một vành đai kinh tế….”

1/ Về diện tích đất khai thác: Ngay từ đầu, với diện tích dự trù khai thác lớn lao như tại Đắk Nông gồm 6 địa điểm chiếm trên 1.900 Km2, gần 1/3 diện tích của toàn tỉnh, nhưng vẫn được giải thích là chỉ khai thác trên diện tích đất “hoang”, không có trồng cây công nghiệp như trà, cà phê, cao su v.v… Nhưng trên thực tế, công tác di dời nhà (đuổi nhà) đã xảy ra từ hơn năm rồi.

Hiện tại, những vụ kiện tụng vẫn còn đang tiếp diễn. Làm sao bà con có thể chấp nhận được khi tiền bồi thường hoàn toàn dưới giá trị của nhà và đất trồng. Một thí dụ điển hình là, một gia đình có nhà và đất chung quanh, cộng thêm một diện tích đang chờ thu hoạch có giá trị cây đang trồng là 60 triệu Đồng VN. Tất cả, được bồi thường 30 triệu, không đủ chi phí để mua miếng đất cất nhà ở khu được di dời!
2/ Vấn đề hoàn thổ và trình tự khai thác “cuốn chiếu”: Theo biện giải của Phó Thủ tướng VC Hoàng Trung Hải và mới đây nhứt được Thứ trưởng Bộ Khoáng sản lập lại là làm tới đâu lấp đất (hoàn thổ) tới đó và cho biết là tiến trình nầy rất thành công ở TC. Xin thưa, lớp đất mặt một khi đã được đào sới lên, dù được bảo quản kỷ lưỡng thì cũng phải trôi mất dưới sức chảy của những cơn mưa cao nguyên như thác đổ, nhứt là từ khi nạn phá rừng xảy ra hơn 30 năm nay. Thế thì phải lấy đất ở đâu để lấp những vùng đã khai thác với từ 5 đến 20 thước sâu?
Nếu đúng như vậy, tại sao TC phải vội vã đóng cửa hàng trăm khu khai thác bauxite ở nước họ, mà phải khăn gói sang một nơi xa xôi để bắt đấu làm lại rất tốn kém. Và tại sao không khai thác các khu mỏ bauxite ở gần biên giới Bắc – Trung mà phải vào tận Cao nguyên Trung phần Việt Nam? Có phải vì một ẩn ý chính trị gì không?

3/ Vấn đề chuyên chở: Theo dự án, một đường xe lửa nối liền Đắk Nông tới Bình Thuận dài khoảng 300 Km và một hải cảng sẽ được thiết lập tại Kê Gà (Bình Thuận). Hai công trình nầy dự kiến trong dự án, nhưng hoàn toàn không nghe nói đến chi tiết kỹ thuật, tài chính cần cho dự án, cũng như tiến độ thi công vào giai đoạn nào…trong lúc hai dự án Tân Rai và Nhân Cơ đã bắt đầu đến giai đoạn xây dựng nhà máy. Có phải phải chờ 5 hay 10 năm nữa mới bắt đầu chuyển vận alumina về TC hay không?

4/ Vấn đề điện năng và nguồn nước cho khai thác: Theo như dự án Nhân Cơ, nguồn điện năng dùng cho việc khai thác bauxite để chế biến nhôm gồm việc xây dựng một nhà máy thuỷ điện tại Đắk Tít với công xuất 144 MW và lấy nước từ 4 hồ nước chạy dọc theo soôg Serépok để cung cấp nước cho nhà máy. Trong lúc đó, Ông PTT CS Hoàng Trung Hải nói là dự án sẽ xây dựng 3 tổ máy với công suất 3x30 MW và lấy nguồn nước từ sông Đồng Nai và một số suối trong khu vực để lấy nước cho việc khai thác. Như vậy, chẳng lẽ có hai dự án khai thác khau nhau ở tại Nhân Cơ. Người viết cũng không nghe nói đến nguồn điện và nước dùng để khai thác công trường Tân Rai ở Lâm Đồng, mặc dù ở hai nơi nầy cùng chung một chỉ tiêu khai thác là 600.000 tấn nhôm (ròng)/năm.

Với tính cách thông tin, hiện tại lượng điện năng dùng cho toàn cõi Việt Nam là 58 tỷ KWH, và muốn khai thác 1,2 triệu tấn nhôm/năm phải cần đến 18 tỷ KWH. Như vậy tính khả thi của của hai nguồn điện trên (nếu nằm trong dự án) sẽ không cao nếu không nói là không tưởng.

Còn vấn đề nguồn nước, qua các dữ kiện “chung chung” nói trên, người đọc cũng sẽ dễ dàng nhận biết là có thể đến Tết “Congo” mới hy vọng có đủ nước để hoàn thành dự án.
Một phương pháp “tối tân” nữa mà người viết với kinh nghiệm trên 20 năm trong lãnh vực xử lý bùn phế thải ở Hoa Kỳ chưa được biết là, bùn đỏ sẽ được trích nước ra để còn 54,4% nước (bằng cách nào, dự án không nói tới) và nước cùng với kiềm (sút) đã được trích ly sẽ được dùng lại để khai thác lô quặng khác, không cần phải thêm hoá chất.
Đây quả thật là một chu trình kín ứng hợp với tiến trình tòan cầu hoá trong việc áp dụng công nghệ sạch và xanh vì bùn đỏ sẽ được trộn lẫn với lớp đất mặt, đất mùn(?) (ở đâu ra(?)), phân bón hữu cơ để hoàn thổ và trồng cây công nghiệp, bảo vệ môi trường…

5/ Vấn để xử lý bùn đỏ: Theo tính toán của công nghệ khai thác quặng bauxite trên thế giới, trung bình khai thác 4 tấn quặng nguyên sinh sẽ có được 2 tấn alumina; và từ alumina sẽ điện phân được 1 tấn nhôm ròng. Lượng bùn đỏ trộn lẫn với nước là khoảng độ 2 tấn.
Nếu theo như diễn giải nêu trên thì không cần phải xử lý bùn đỏ vì bùn đỏ đã được biến thành đất nông nghiệp rồi?

Vấn đề hồ chứa bùn đỏ: Theo dự án, các hồ chứa bùn đỏ đều được thiết kế theo hệ thống thu hồi nước tuần hoàn kể trên.. Lợi dụng các khu vực thung lũng trong khu vực để xây dựng các hồ chứa quặng. Khu vực bãi chứa bùn đỏ sẽ dựa theo “tiêu chuẩn khống chế ô nhiễm chôn lấp chất thải ô nhiễm” của Trung cộng (tiêu chuẩn GB18598-2001) sử dụng giải pháp chống rò rỉ toàn diện, để tránh khỏi tình trạng dung dịch của bùn đỏ thẩm thấu gây ô nhiễm nguồn nước dưới lòng đất (tức là nước ngầm).

Nếu theo tiến trình xử lý bùn đỏ ở phần trên, nước trong bùn đã được thu hồi và sử dụng lại, thì nước bùn đỏ đâu còn nữa mà phải bảo quản chặt chẽ để tránh ô nhiễm mạch nước ngầm, cũng như trồng cây chung quanh khu chứa bùn đỏ để tránh “sạt lở”?

6/ Vấn đề giải quyết ô nhiễm nguồn nước mặt và nước ngầm: Để bảo đảm việc dung dịch trong hồ bùn đỏ không gây ảnh hưởng đến nguồn nước, dự án Tân Rai và Nhân Cơ sẽ thiết kế bố trí 4 giếng quan sát, kiểm tra nguồn nước ở thượng nguồn, hạ nguồn gần bùn đỏ. Hạ lưu bãi bùn đỏ thiết kế 1 giếng đối chiếu, và bố trí 3 giếng ở hạ lưu, tổ hợp thành kiểm tra 3 chiếu để quan sát ảnh hưởng của dung dịch ở hồ chứa bùn đỏ đối với nguồn nước.
Xin thưa, nước rỉ của một bãi chứa bùn đỏ sẽ thấm qua các lớp đât đá bên dưới và lần lần sẽ đi vào nguồn nước ngầm. Do tiến trình thẩm thấu từ vài năm đến vài chục năm tuỳ theo điều kiện địa chất ở từng vùng, do đó các giếng quan trắc (chứ không phải quan sát) (monitoring wells) phải được thăm dò và đóng ở những độ sâu khác nhau để có thể thu hồi nước rỉ trước khi nước nầy thấm vào mạch nước ngầm. Việc nấy đòi hỏi phải cần có cuộc khảo sát sâu rộng để định vị các giếng chứ không phải đóng một vài giếng đã được “chỉ định”. Và cần phải có hàng trăm giếng chứ không phải một vài giếng ở thượng và hạ nguồn là đủ!
7/ Vấn đề ô nhiễm không khí, bụi đỏ, mưa acid và bức xạ: Trong khi khai thác quặng nguyên sinh, bụi đỏ là nguyên nhân đầu tiên, ành hưởng đến không khí trong vùng, không những ở vùng khai thác mà bụi còn bay xa đến một chu vi rộng lớn của khu dân cư và khu trồng cây công nghiệp của dân chúng.

Ảnh hưởng về lâu về dài đến sức khoẻ của con người là các loại bịnh về đường hô hấp vì đây là những hat bụi ly ti có đường kính dưới 10 micron. Khi nhiễm dài hạn có thể đưa đến ung thư. Còn đối với cây trồng, là sẽ bị phủ lớp bụi nầy, từ đó cây sẽ bị hạn chế tăng trưởng và mức thu hoạch cũng sẽ bị giảm theo.

Thêm nữa, tiến trình khai thác sẽ nảy sinh ra khí sulfur, và khí nầy sẽ tạo ra mưa acid,ảnh hưởng cũng không nhỏ đến cây trồng và người dân sống chung quanh. Tất cả vấn đề trên không được nêu ra ngoài những mỹ từ đẹp đẻ kết quả của việc khai thác bauxite là làm tăng thêm phúc lợi cho người dân sống trong vùng, tạo dựng đường xá, trường học, y tế, và nhứt là nâng cao đời sồng kinh tế cho người địa phương (?).

Về bức xạ, dự án đã khẳng định là các công ty nước ngoài đã phân tích mẫu quặng ở Tân Rai và Nhân Cơ và kết quả là hoàn toàn không có phóng xạ. Xin thưa, trong đất tự nhiên (kể cả không khí và nguồn nước) luôn luôn có chứa các bức xạ như các tia alpha, beta, radium và có nồng độ giao động trong khoảng 20 PicoCurie/L tuỳ theo vùng. Và với tính cách thông tin, nước rỉ kỹ nghệ như công trường khai thác quặng mỏ hay các bãi rác công nghiệp có hàm lượng bức xạ cao hơn nhiều, điển hình như tại bãi rác ở Los Angeles, bức xạ trung bình được tìm thấy trong hơn 25 năm là 40 PicoCurie/L.

Hãy nghe một người dân sống gần lò luyện nhôm của Chalco (Công ty đang thực hiện việc khai thác ở Nhân Cơ) ở Tây Tạng, được trích dẫn trên một bài đăng ở Mạng Lưới Hành Động Fluoride (Fluoride Action Network) nói rằng: “Khói bao phủ sườn đồi. Nếu chúng tôi để cừu hay lừa ra gặm cỏ, răng của chúng trở nên vàng khè và giòn, rồi rụng hết. Gia súc của chúng tôi chết đói, và chúng tôi mất kế sinh nhai của mình”

8/ Vấn đề hợp tác khai thác: Trung cộng, Nhật, Hoa Kỳ, Úc: Để trấn an dư luận phản đối sự hiện diện ồ ạt của lính thợ và chuyên viên TC, nhiều cấp quyền lực của Việt Nam đã viện dẫn là có sự hợp tác quốc tế gồm nhiều nước trên thế giới tham gia trong việc khai thác nầy, và họ kê khai công ty Alcoa, Hoa Kỳ đã có 40% cổ phần khai thác.

Xin thưa, phát ngôn viên của Alcoa là Lowry đã công bố tại London vào ngày 28/4/2009 rằng công ty hoàn toàn không dự phần vào việc khai thác Nhân Cơ và Tân Rai, và hiện đang nghiên cứu thăm dò địa chất và có thể ký kết để khai thác khu Gia Nghĩa (Đắk Nông) dự trù vào năm 2012.

Từ đó, chúng ta thấy những bào chữa hay giải thích của “ngụy quyền Vc” các cấp đều là những hình thức chữa cháy để trấn an dư luận hay đánh lừa dư luận mà thôi.

Hiện tại, dân số ở cao nguyên Trung phần Việt Nam tăng lên đến 4,2 triệu so với 1,2 trước năm 1975. Mức gia tăng nầy chắc chắn không phải là do mức sinh sản của dân tộc thiểu số và mức gia tăng nầy đã đây người thiểu số rời khỏi đất nước Việt Nam, bằng cớ là họ đã di chuyển sang Lào và Camdodia từ mấy chục năm nay. Như vậy, sự gia tăng đến từ đâu? Phải chăng họ đến từ phương Bắc?

Người “lính thợ” TC không phải đã định cư ờ Nhân Cơ hay Tân Rai, mà họ đã có mặt ở khắp miến đất nước từ Bắc chí Nam. Như tại Công ty Nhiệt điện Quảng Ninh đã có trên 4.000 công nhân và chuyên viên cư ngụ ở một khu vực hoàn toàn biệt lập có cổng rào riêng và được canh gát cẩn mật do bảo vệ cũng là người Tàu. Tương tợ như ở Công ty cổ phần nhiệt điện Hải Phòng với trên 2000 công nhân, Công ty than Nông Sơn đã có trên 100 và dự trù vào tháng 6 tới đây sẽ tăng cường thêm 500 nữa. Thậm chí Công ty Điện Đạm Cà Mau cũng đã có trên 1.000.

Việt Nam đang đứng trước nạn khủng hoảnh kinh tế và nạn thất nghiệp trầm trọng; theo con số chính thức đã có trên 1 triệu công nhân thất nghiệp đặc biệt là hai khu chế xuất Đồng Nai và Sông Bé… Thế mà cũng đã có hàng ngàn công nhân nhập lậu (không có giấy phép lao động) làm việc trong các hảng xưởng do người Tàu làm chủ theo tin tứccủa Uỷ ban Nhân dân tỉnh Đồng Nai.

Chính Thứ trưởng Bộ Lao động và Thương binh mới vừa công bố là không có công nhân “không có giấy phép làm việc” và các công ty đều theo đúung thủ tục của Luật Lao động. Xin thưa, Luật Lao động có ghi rõ là mọi công nhân hay chuyên viên nước ngoài đều phải xin giấy phép và công ty thuê mướn phải chứng minh là loại công việc trên là cần thiết và được Bộ Lao động cung cấp giấy phép lao động. Xin hỏi các công nhân làm việc trên hai công trường Tân Rai và Nhân Cơ như cất nhà, làm đường xá, làm mặt bằng, hay đào các hố rãnh v.v… Đây có phải là những việc người công nhân Việt Nam không có khà năng làm không?

9/ Tính cách hợp pháp trong việc đấu thầu: Trong một suy nghĩ đơn giàn, việc đấu thầu một công trình có tính các quốc gia cần phải tham khảo và kêu gọi đối tác đấu thầu. Và cũng theo Luật Lao động và chủ trương của “nhà nước” công cuộc đấu thầu cần phải dành ưu tiên cho các công ty nội địa để thứ nhứt bảo đảm công ăn việc làm cho người dân, và thứ hai bảo vệ công cuộc phát triển của quốc gia.

Trong trường hợp hai công trình Nhân Cơ và Tân Rai, cùng với nhiều công trình phát triển khác ở miền Bắc, sự việc không diễn ra như trên.

Bộ chính trị đã định và đã dành cho TC “cái đặc quyền khai thác” (đã dành hay đã bị hay cùng nhau hợp tác…vẫn còn là một câu hỏi lớn và bí mật giữa hai đảng CS TC và Việt Nam). Mọi thủ tục tiến hành để thực hiện một công trình khai thác và sản xuất đều vượt ra ngoài khuôn khổ của Bô luật Môi trường của Viêt Nam là phải nộp bản nghiên cứu tác động môi trường (Enviromental Assessment Impacts – EAI) trước khi giấy phép khai thác được chấp thuận. Nghĩa là công ty muốn khai thác phải chứng minh là quy trình sản xuất nầy bảo đảm không làm đão lộn hệ sinh thái trong vùng và giải quyết toàn thể mọi phế thải từ không khí, đến phế thải rắn và lỏng.

Bộ chính trị còn cho thêm nhiều đặc quyền cho TC nữa là chấp nhận 35% vật liệu xây dựng, công nhân được chuyển thẳng từ TC, do đó, chúng ta không ngạc nhiên khi thấy những vật liệu xây dựng và giải trí cho công nhân đều được chở từ TC sang, thậm chí đế những bàn cầu để tiểu tiện cũng …made in China nữa!

10/ Và điều thứ mười là cung cách tuyên truyền không trung thực: Theo tuyên truyền và những “thông tin khoa học” chính thức phát ra từ “chính quyền” qua văn bản, tuyên bồ, họp báo…thì phẩm chất bauxite ổ Việt Nam thuộc vào loại…tốt nhứt trên thế giới, có hàm lượng alumina cao và oxit silic thấp (SiO2).

Trên thực tế thì ngược lại. Quặng bauxite được khảo sát và thẩm định qua việc ước tính tỷ lệ hai hoá chất trên qua chỉ số Silic (mSi), nghĩa là tỷ lệ giữa alumina và silic. Và tỷ lệ nấy thấp đối với bauxite Việt Nam so với các quặng mỏ khác trên thé giới. Chỉ số mSi ở Nhân Cơ từ 3,5 đến 7,8 (trung bình 4,93). Trong lúc đó, chỉ số quặng trên ở Indonesia là từ 14 đến 18, Úc, 11 – 20, Ấn Độ, 20 – 25. Do đó, tỷ lệ thu hồi Alumina rất thấp và dĩ nhiên sự phát thải bùn đỏ càng nhiều hơn. Và phương pháp Bayer áp dụng cho việc tách rữa nầy sẽ sử dụng nước nhiều hơn…vì phải cần tinh luyện qua tẩy rữa nhiều lần để tăng nồng độ alumina trong quặng. Và sút phải được dùng nhiều hơn qua nhiều giai đoạn tẩy rữa bằng phương pháp nầy.

Đôi với quặng ở Nhân Cơ, theo quy trình của dự án, thì giai đoạn 1, sẽ đạt được alumina đạt được hàm lượng 35 – 39%. Sau đó, phải cần đến giai đoạn 2 trong việc tẩy rữa bằng sút tiếp theo để có thể đạt được nồng độ gần tinh khiết của alumina là 98,6%. Rồi sau đó mới tới giai đoạn điện phần để cho nhôm ròng. Vì vậy chúng ta nghe nói việc khai thác bauxite ở Nhân Cơ áp dụng theo phương pháp Bayer “ướt” là do việc sử dụng nhiều sút qua nhiều công đoạn tẩy rữa mà thôi.

Từ 10 sự việc “không tử tế” xảy ra cho hai dự án trên, tất cả đã nói lên não trạng cứng ngắt của lãnh đạo Việt Nam hiện tại.
Câu chuyện Tân Rai và Nhân Cơ cùng những câu chuyện phát triển khác đang xảy ra ở Việt Nam chắc chắn sẽ còn dài dài, đã đang và sẽ báo hiệu sự phản kháng của đủ mọi tầng lớp dân chúng ở quốc nội và hải ngoại.
Tiếng nói của người dân, đã không được chú ý, và nếu sự việc không được giải quyết thoả đáng, thì sự xáo trộn xã hội có thể bùng nổ trong một tương lai không xa và có thể đưa đến nội loạn.
Thiết nghĩ, tiên liệu trên đây cần phải được lằng nghe và sửa sai.

Mai Thanh Truyết
VAST- 5/2009

Ghi Chú: Với tính cách thông tin, sau đây là những thông số kỹ thuật của nhà máy sản xuất nhôm của Alcoa tại Rockdale, Texas, Hoa Kỳ.
Năng lượng: Phải đốt 16.329 tấn than/ngày. Một năm đốt hết 1,4 triệu tấn than để chạy nhà máy có công suất 500MW.
Nhu cầu nước: 8,3 triệu m3/năm
Ô nhiễm môi trường: Tạo ra 3,7 triệu tấn Carbon dioxide (CO2), 500 tấn hạt bụi lơ lững, 10.000 tấn sulfur dioxide (SO2), 220 tấn hợp chất hữu cơ, 720 tấn carbon monoxide (CO), 125.000 tấn tro (ash), 193.000 tấn bùn (khô), 77 Kg thuỷ ngân, 102 kg arsenic, 51,7 Kg chì và 1,8 kg cadmium. Khi Carbonic và Sulfurơ đã được hạn chế phát thải vài không khí qua những màng lọc của công ty. Còn tất cả phế thải rắn và lỏng đã được xử lý theo quy định của EPA Hoa Kỳ.
Chất thải của lò luyện kim (lò luyện phải nóng đến 999 oC và dưới một điện cực 150.000 Amper): Cứ mỗi 1000 tấn nhôm ròng được sản xuất, phát thải ra 20 tấn phế thải độc hại do lớp cathode bị hao mòn. Phế thải gồm các hợp chất chứa ffuorr và cyanide. Đây là hai hoá chất, theo cơ quan WHO ảnh hưởng lên hệ sinh thái là huỷ diệt hoàn toàn thực động vầt trong vùng. Còn con người hấp thụ qua đường tiêu hoá hay hô hấp sẽ làm cho xương bị biến dạng (dị hình dị dạng) và hệ thần kinh bị hư hại. Các hiễm họa nầy sẽ không xảy ra cho Việt Nam, vì Việt Nam mặc dù trong dự án nói đến chỉ tiêu sản xuất là 1,2 triệu tấn nhôm ròng, nhưng trên thực tế chỉ dừng ở giai đoạn đầu là khai thác alumina (oxid nhôm) và chuyển tải về đàn anh nước lớn là TC để tiếp tục luyện nhôm.
--------------------------------------------
Nếu chính phủ nầy bị lật đổ, chỉ cần một chu kỳ (12 năm), cộng sản sẽ thôn tính miến Nam. Và sau đó, phải đến ba chu kỳ nữa thì nhân dân miền Nam mới thoát được ách cộng sản.
NGÔ ĐÌNH NHU (1963)

Đừng trông chờ vào đảng phái, chỉ có tôn giáo mới vận động được quần chúng. Tôn giáo đứng ra đấu tranh thì tín đồ đứng dậy, tín đồ đứng dậy thì toàn dân sẽ vùng lên. Bạo quyền càng đàn áp thì khí thế đấu tranh sẽ như Than Hồng Được Gió.
Nguyễn Khắc Anh Tâm (2009)
--------------------------------------------
Cộng đồng Việt hải ngoại quyết tâm:
- Không đóng góp tài chánh, không tham gia các sinh hoạt xã hội do Việt Tân, Quê Hương radio, Viên Thao radio phát động quyên góp, tổ chức.
- Không hòa giải với nghị viên Việt Tân Madison Nguyễn
- Không ghi danh cử tri với đảng Dân Chủ Mỹ
- Không đam mê cờ bạc. Tẩy chay các quảng cáo sòng bài.
- Không về thăm quê nhà VN, trừ khi cha/mẹ đau nặng, hấp hối, vừa mới chết.
- Không quên số phận của 3 nữ tù nhân chính trị Phạm Thanh Nghiên, Lê Kim Thu, Lê thị Công Nhân.
- Không quên: Đừng Nghe Những Gì Cộng Sản Nói, Hãy Nhìn Những Gì Cộng Sản Làm.

• Mai Thanh Truyết ngày 11 tháng 5, 2009
ST

Thứ Tư, 13 tháng 5, 2009

Trung Quốc và Việt Nam

Vấn đề Trung Quốc của Việt Nam nằm tại Hà Nội ...

Chuyện Trung Quốc và Việt Nam có thể nhìn từ cái nhân, là Trung Quốc, và cái duyên, hay đúng hơn, cái nợ, là lãnh đạo Việt Nam ngày nay.
Trong hoàn cảnh tạm gọi là khách quan - nằm bên ngoài yếu tố Việt Nam hay khả năng quyết định của người Việt Nam - Trung Quốc phải bành trướng ra ngoài để kiếm ăn. Nếu không, chế độ sẽ sụp đổ vì nội loạn. Lãnh đạo của họ đang gặp bài toán sinh tử của một quốc gia đông dân mà thực ra không có đủ tài nguyên để nuôi dân.
Xứ nào cũng có thể gặp bài toàn về tài nguyên ấy, điển hình ngay tại Đông Bắc Á là Nhật Bản, Đại Hàn hay Đài Loan, và vì vậy họ phải tổ chức xã hội ở bên trong để buôn bán với bên ngoài. Trung Quốc cũng thế. Nhưng khác với các quốc gia kia, Trung Quốc có một chế độ chính trị độc tài và nét văn hoá bá quyền.
Họ tự nghĩ mình là trung tâm của thế giới - tên nước là như vậy - và ngày nay, khi Hà Nội dùng chữ "Trung" để nói về họ, thay vì chữ Hoa, như quan hệ "Việt-Trung" thay vì "Việt-Hoa", thì đã mặc nhiên công nhận như vậy và đấy là điều đáng tiếc, đứng trên quan điểm của người Việt. Và với chế độ chính trị hiện tại, họ giải quyết bài toán của họ theo kiểu “trong bá ngoài vương”, ngoài thì nói giọng văn minh ôn hoà, thí dụ như “phát triển trong hòa bình”, nhưng bên trong sẵn sàng trò bá đạo, tức là mua chuộc hay khuynh đảo xứ khác, bất chấp những nguyên tắc hành xử ôn hoà minh bạch của thế giới hôm nay.

***
LẼ SINH TỬ CỦA TRUNG QUỐC

Lý do cấp bách là lần đầu tiên trong lịch sử, Trung Quốc không thể đóng cửa tự cung tự cấp mà phải tìm nguyên nhiên vật liệu và cả nông thực phẩm cho bên trong và tìm thị trường xuất cảng ra ngoài. Sau khi Đặng Tiểu Bình tiến hành cải cách, từ 30 năm nay, Trung Quốc mới thực sự ra khỏi hình thái kinh tế nông nghiệp, đã tăng trưởng mạnh như các quốc gia tân hưng trong thời kỳ khởi phát ban đầu. Nhưng ngược lại, họ cần thị trường xuất cảng và nhập cảng nguyên nhiên vật liệu cho việc công nghiệp hoá. Một thí dụ nổi bật là dầu thô.
Trung Quốc là một nước sản xuất dầu khí, vậy mà từ năm 1993, đã tiêu thụ nhiều hơn sản lượng và bắt đầu phải mua từ ngoài. Mười năm sau, là năm 2003, họ trở thành nước mua dầu thứ nhì thế giới sau Nhật Bản. Năm ngoái là 2008 thì đã vượt qua Nhật, với tám triệu thùng tiêu thụ mỗi ngày mà chỉ sản xuất được có chừng phân nửa. Trung Quốc khát dầu và bị lệ thuộc vào bên ngoài nên mua chuộc, chiêu dụ hoặc lấn áp mọi nguồn cung cấp họ có thể vươn tới.
Ngoài dầu thô, Trung Quốc cũng cần quặng sắt và đã triệt để khai thác hầm mỏ của họ, với sản lượng tăng gấp bốn trong hai chục năm. Vậy mà chưa đủ cho kỹ nghệ thép nên phải nhập. Từ 11 triệu tấn vào năm 1987, số nhập cảng ngày nay đã lên tới 440 triệu tấn và tương đương với 35% nhu cầu. Sau dầu thô, quặng sắt, họ cần nhiều thứ kim loại khác, thí dụ như bauxite.
Sản lượng bauxite từ hơn 3 triệu tấn năm 1987 qua năm 2007 đã lên tới 30 triệu tấn nên phải nhập cảng, từ 323 ngàn tấn vào năm 1987 nay đã lên tới 30 triệu tấn. Các kim loại khác như đồng hay kẽm cũng vậy. Đã thế, có sản lượng nông nghiệp - kể cả gạo - nhiều nhất địa cầu, và cũng đáng kể về các nông sản khác, Trung Quốc vẫn chỉ canh tác đủ ăn và nay phải nhập cảng để nuôi gần một tỷ 400 triệu dân.
Nói vắn tắt thì dù tận lực đào xới tài nguyên nội địa gấp ba bốn lần, xứ này chưa có đủ cho nhu cầu và phải tìm nguồn cung cấp từ bên ngoài. Điều này chưa hề xảy ra trong lịch sử của họ.
Và ngược với lời ca ngợi của truyền thông quốc tế và giới tư bản làm ăn tại các tỉnh duyên hải, Trung Quốc là một quốc gia chậm tiến, có đầy mâu thuẫn nội bộ và có thể bị khủng hoảng bất cứ lúc nào. Khủng hoảng trước tiên là mâu thuẫn giữa hai khu vực trong-ngoài, chưa nói tới những mâu thuẫn trong đảng.
Hãy tìm hiểu đôi chút về địa dư của Trung Quốc để hiểu ra vấn đề sinh tử ấy của họ.
***
ĐỊA DƯ HÌNH THỂ

Địa dư hình thể Trung Quốc có thể được chia làm ba khu vực.
Hãy hình dung ra một đẳng cao tuyến từ mỏm cao nhất của biên giới với Miến Điện qua thủ phủ Thành Đô của tỉnh Tứ Xuyên tới Bắc Kinh và qua Mãn Châu (gồm ba tỉnh Hắc Long Giang, Cát Lâm và Liêu Ninh). Hướng Đông của đường tuyến đó ra tới biển là nơi có độ ẩm đủ cao cho trồng trọt và lại có ba con sông lớn cho sự tiêu tưới và vận chuyển là Hoàng hà, Dương tử và cả Châu giang tại Quảng Đông. Cho nên khu vực này là nơi nuôi dân và xuất phát ra nền văn minh của họ.
Ngày nay, nơi đây tập trung 400 triệu dân với mật độ dân số rất cao trên diện tích canh tác thật ra rất hẹp, chỉ bằng một phần ba trung bình của thế giới. Từ 10 năm nay, diện tích canh tác này còn bị thu hẹp dần. Tại Hội nghị kỳ 3 của Ban chấp hành Trung ương đảng khóa 17 vào tháng 10 năm ngoái, đảng Cộng sản Trung Quồc đã phải thảo luận về một kế hoạch Cải cách Ruộng đất mới để giải quyết bài toán này.
Công cuộc kỹ nghệ hoá từ 30 năm nay khiến khu vực tạm gọi là duyên hải ấy đã nhoài ra ngoài và quay lưng lại bên trong. Khi nói tới phép lạ và bước nhảy vọt của Trung Quốc, thiên hạ chỉ nhìn thấy khu vực này hay các trung tâm Bắc Kinh, Thượng Hải hay Thẩm quyền mà thôi.
Khu vực thứ hai, từ phía Tây của đường tuyến vừa nói, là một vùng bát ngát mà khô cằn của sa mạc, thảo nguyên và núi non. Nơi đây chuyển vận khó khăn vì thiên nhiên hiểm trở và lại bị khoá trong lục địa nên khó thông thương với bên ngoài.
Khu vực nội địa này là phần đất lạc hậu, với gần 900 triệu dân nghèo khổ và bắt đầu ý thức được sự nghèo khổ của họ khi nhìn ra các tỉnh miền Đông. Họ muốn tham dự vào tiến trình cải cách để cải thiện mức sống mà cảm thấy bị bỏ rơi vì chiến lược phát triển xuất cảng lại chú trọng tới khu vực hướng ngoại kia. Những tin tức ngày càng nhiều và càng khó che giấu về các vụ biểu tình bạo động thường xuất phát tại đây mà vì nằm sâu trong lục địa nên ít được thế giới biết đến. Trong lịch sử Trung Quốc, đa số các cuộc thay đổi triều đại ở đều xuất phát từ khu vực này.
Khu vực thứ ba là các vùng phiên trấn, từ Cao nguyên Thanh Tạng qua Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông và Mãn Châu. Đây là các địa phương hiểm trở tiếp giáp với bên ngoài và trong lịch sử đã từng là cửa ngõ cho ngoại xâm của các dị tộc vào thẳng Trung Nguyên, thậm chí cai trị luôn Hán tộc, như Kim, Liêu, Mông, Mãn.
Vì nỗi sợ truyền thống ấy mà lãnh đạo nào của Trung Quốc cũng phải gửi quân tới đồn trú, xây dựng thành vùng trái độn để bảo vệ Trung Nguyên của Hán tộc. Hán Vũ đế hay Mao Trạch Đông cũng thế mà thôi. Mà từ các vùng trái độn này, họ không thể bung ra xâm lăng nước khác, như Đế quốc Nga, các nước Trung Á hay Ần Độ.
Người Việt ta và cả thế giới ít ai chú ý tới hai đặc tính của nền văn hóa Trung Quốc, đó là sợ hãi và khoa trương.
Kỳ tích của nền văn minh này là Vạn lý Trường thành xuất phát từ sự sợ hãi và phản ứng phòng thủ đã có từ thời Chiến quốc tới ngày nay. Tiêu biểu cho nét khoa trương là cách đối xử với các nước họ coi là chư hầu mà thật ra không chi phối được, ngoài vài thủ đoạn về hình thức huê dạng mà tốn kém cho Thiên triều. Hãy nhớ cung cách của Thanh Càn Long với Quang Trung nước ta thì rõ. Hãy nhớ tới việc các công chúa bị gả bán cho rợ Hung nô để mua hòa bình thì rõ. Tây phương không hiểu điều này nên cứ tin rằng các lân bang đều là chư hầu của Trung Quốc và không có chủ quyền.
Nhìn lại về địa dư và lịch sử, Trung Quốc chỉ có hai ngả để bành trướng ra ngoài, hoặc là ra biển, hoặc là xuống Bắc Việt. Trong lịch sử, mỗi lần xuống Bắc Việt và bị đẩy lui thì các đô đốc bị dìm dưới sông hay chiến tướng bị chém đầu ngoài ải ở nước ta. Bây giờ đã khác rồi... Lần cuối họ bước xuống Bắc Việt là cách đây 30 năm khi Đặng Tiểu Bình cho Hà Nội bài học vào năm 1979. Giờ đây, họ đang bước ra biển với việc xây dựng hải đội có khả năng viễn duyên, và bậc thềm tất nhiên chính là Đông hải của chúng ta. Ngày nay, họ đã vào Bắc Việt và có mặt ngoài Đông hải. Từ vị trí một đại cường lục địa trong lịch sử, Trung Quồc đang trở thành đại cường hải dương.
Trung Quốc đạt thành tích ấy là nhờ đảng Cộng sản Việt Nam.

***
MỐI NỢ CỦA VIỆT NAM

Ta bước qua phần hai, về cái duyên hay cái nợ của Việt Nam.
Lãnh đạo Cộng sản Việt Nam dựng chiêu bài độc lập dân tộc để lừa người dân và thế giới, bản chất của họ là lệ thuộc ngoại bang và đạo tặc với dân chúng. Toàn bộ công cuộc gọi là kháng chiến đều chỉ để bành trướng chủ nghĩa vô sản cho Quốc tế Cộng sản. Khi tổ quốc xã hội chủ nghĩa tan rã, Liên Xô sụp đổ, họ bỗng thành mồ côi quan thầy, và trở về vị trí cũ là làm chư hầu cho Trung Quốc để có cái thế tồn tại.
Trong lịch sử nước nhà, dân ta đã bị Bắc thuộc nhiều lần. Nhưng ngay trong các triều đại anh hùng được dựng lên sau khi chiến thắng ngoại xâm từ phương Bắc, các cụ ta vẫn cai trị đất nước theo quy cách Bắc phương. Hoàn cảnh lịch sử và địa dư có thể giải thích điều đáng tiếc ấy, nhưng ta cũng phải thấy cho tổ tiên, rằng trong cả ngàn năm, kể từ Ngô Quyền năm 939, thế giới của chúng ta chỉ có một trục Bắc-Nam.
Tuy nhiên, dù bị ảnh hưởng rất nặng, dân ta vẫn không bị đồng hóa.
Một nguyên nhân chính là dù triều đình và các phẩn tử ưu tú đều hấp thụ kiến thức Trung Hoa, thậm chí coi đó là khuôn vàng thước ngọc, người dân vẫn có tinh thần độc lập rất mạnh và còn có ý thức, nghĩa là cố ý, duy trì sự khác biệt giữa chúng ta và Trung Quốc.
Đấy là tinh thần yêu nước đích thực của người Việt, động lực chính của những chiến thắng lịch sử. Khi chính quyền ươn hèn không cầm cự nổi với ngoại xâm hoặc còn cấu kết với phương Bắc thì chính người dân lại nổi dậy kháng chiến và lật đổ triều đình bất lực, tay sai. Khi ta nói đến các bậc anh hùng áo vải thì đấy là những người từ dân chúng tự động nổi lên.
Ngày nay, sự thể đã khác vì vậy ta mới nói đến cái nợ.
Đảng Cộng sản tự xưng là từ nhân dân mà ra, ngày nay đang triệt phá tinh thần yêu nước của người dân và trừng phạt những ai dám lên tiếng chống lại thái độ ngang ngược và sự bành trướng của Trung Quốc. Việc Bắc Kinh có tham vọng bành trướng là sự thể khách quan, việc các nước xử trí ra sao trước áp lực ấy là bài toán chủ quan của từng nước. Nếu chúng ta có một chính quyền tự do và dân chủ, thì Việt Nam vẫn gặp hiểm họa của Trung Quốc và bị còn nặng hơn Thái Lan hay Mã Lai Á, Phi Luật Tân vì giáp giới với xứ này. Nhưng với một chính quyền tự do dân chủ, Việt Nam đã ứng xử khác và chắc chắn là hữu hiệu hơn. Chúng ta có thể thảo luận về giả thuyết ấy cho tương lai chứ hiện tại thì chuyện đó không có.
Hiện tại thì ta đang có một chính quyền Cộng sản bị lệ thuộc Bắc Kinh ở ngay thủ đô Hà Nội. Vần đề không đơn giản là ta có nên chống cộng hay không, mà là Việt Nam có thể tồn tại không. Vì Chính quyền Hà Nội là cánh tay nối dài của Bắc Kinh và là cánh tay đàn áp dân Việt ở trong nước. Vấn đề rung Quốc của Việt Nam vì vậy nằm tại Hà Nội.
Bước đầu của việc ứng phó với Trung Quốc phải được giải quyết tại Hà Nội.
Việc giải quyết ấy không dễ, nhưng phải khởi đi từ một thái độ minh bạch là cho dư luận thế giới thấy rằng người Việt Nam không chấp nhận những quyết định tai hại của lãnh đạo Hà Nội.
Những đòi hỏi như Hà Nội phải công bố các hiệp ước về biên giới lãnh thổ và lãnh hải và phải nghe ý dân về việc khai thác các quặng bauxite tại Cao nguyên Trung phần cũng là cần thiết để mọi người trong cuộc, từ lãnh đạo Bắc Kinh tới Hà Nội hay chủ đầu tư quốc tế cùng biết là người Việt không đồng ý với các quyết định ấy. Trong mọi tính toán của thiên hạ, từ địa dư chiến lược tới đầu tư kinh tế, những người hữu trách đều phải chú ý đến ý kiến và thái độ của người dân ở tại chỗ, nếu không, kế hoạch sẽ bị trở ngại, các dự án có khi thất bại.
Vì thái độ của lãnh đạo Hà Nội, Việt Nam khó huy động được trận tuyến chung của các nước Đông Nam Á để ngăn chặn sự bành trướng của Trung Quốc, nay mai sẽ khống chế cả eo biển Malacca sau khi kiểm soát hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Các quốc gia lân bang kia không tin vào ý chí độc lập của Hà Nội. Cho nên, người Việt phải cho thế giới và trước tiên là các lân bang đó hiểu rằng Việt Nam có giải pháp khác, vì người Việt Nam không chấp nhận làm chư hầu hay lính đánh thuê cho Trung Quốc.
Việc người Việt đòi nhà cầm quyền Hà Nội phải đệ nạp hồ sơ xác nhận thềm lục địa của mình cho Uỷ ban Ranh giới thềm lục địa của Liên hiệp quốc trước kỳ hạn 13 tháng này là cần thiết. Để thứ nhất, gây sức ép với Hà Nội, thứ hai cho thế giới biết cộng đồng người Việt không chấp nhận sự làm ngơ của Hà Nội cho nên vẫn phải thu thập hồ sơ làm chứng tích sau này.
Nếu chúng ta không lên tiếng, thế giới có thể nghĩ rằng chỉ cần Bắc Kinh gật đầu cho Hà Nội chắp tay là mọi việc đều xong. Họ mà nghĩ lầm như vậy thì Việt Nam trở thành phiên thuộc của Trung Quốc và đất nước mất chủ quyền.
Khi ấy, chúng ta cũng có phần trách nhiệm, nhất là vì mình đang sống ở bên ngoài và có hoàn cảnh lên tiếng cho đồng bào trong nước.

***
BAUXITE LÀ "SẢN NHẬP"

Bây giờ, xin được đi vào vài chuyện cụ thể về kế hoạch bauxite trong toàn cảnh của xứ sở.
Thuần về kinh tế mà nói, sản xuất là khi ta chọn lựa và hy sinh một số tài sản hay công sức - gọi là "nhập lượng" - để thí dụ như đưa vào một nhà máy nhằm tạo ra "xuất lượng" là những tài sản có giá trị và trị giá cao hơn. Muốn biết có cao hơn không thì phải kiểm điểm rộng rãi và lâu dài xem ta mất những gì - có thể thấy và không thể thấy, và những ai mất - mà để được những gì, và cái được ấy thì ai hưởng?
Nếu cái mất lại cao hơn cái được thì ta có hiện tượng "sản nhập", không phải sản xuất. Trong tinh thần kinh tế ấy, kế hoạch sơ chế bauxite gồm ít ra bảy dự án để bán alumine, một loại bán chế phẩm rầt thô thiển, trị giá chỉ còn chừng 250 đô la một tấn, từ các tỉnh Cao nguyên Trung phần của Việt Nam, là một hiện tượng sản nhập tai hại.
Cái mất là đất đai canh tác các loại cây kỹ nghệ có giá trị kinh tế cao hơn, điều ấy ai cũng có thể thấy khi nhớ đến trà và cà phê của cao nguyên. Cái mất còn là nguồn nước tiêu tưới và nuôi sống người dân ở tại chỗ và dưới hạ nguồn, từ sông Srépok tới sông Đồng Nai, nghĩa là cả Sàigon và các tỉnh miền Đông Nam Việt. Chỉ vì kế hoạch cần nước để rửa quặng và rửa xong thì có bùn đỏ đầy độc chất sẽ hủy diệt thổ nhưỡng, hoa màu và các nguồn nước chảy ra sông dưới hạ nguồn, nơi sinh sống của ba chục triệu dân.

Cái mất sâu xa và lâu dài là cả một khu vực bát ngát ít ra là 5.000 cây số vuông của hai tỉnh Đắc Nông và Lâm Đồng coi như bị ô nhiễm, môi sinh bị hủy diệt vì bụi đỏ ở trên và nước độc ở dưới. Và nạn ô nhiễm ấy không chấm dứt trong vài năm mà sẽ biến vùng đất ấy thành nơi không thể có sinh hoạt kinh tế bình thường.
Cái mất cũng là điện cho các nhà máy thủy điện đã và sẽ còn được xây dựng trong khuôn khổ của kế hoạch.
Việt Nam vẫn còn thiếu điện, nhất là ở Cao nguyên Trung phần, chưa biết bao giờ mới có khả năng sản xuất hơn công xuất toàn quốc hiện nay là gần 60 tỷ KwGiờ. Vậy mà phải tìm ra 18 tỷ KwGiờ thực hiện ước mơ tinh chế ra một tỷ 200 triệu tấn nhôm, trị giá ngày nay chỉ còn cỡ 2.100 đô la một tấn. Nếu chỉ tính riêng giá điện thì tổng số điện tiêu thụ vẫn còn đắt hơn tiền thu nhờ bán nhôm, nếu như có ngày Việt Nam biến chế được ôxíd nhôm ra nhôm ròng đem bán!
Không kỹ sư nào có bộ óc bình thường lại có thể đồng ý với chuyện sản nhập ấy.
Bây giờ, nói đến cái mất khó thấy.
Trước hết là chuyện hủy diệt trật tự môi sinh đã gặp ở nhiều xứ khác - thí dụ như Ấn Độ - và chắc chắn sẽ thấy tại Việt Nam. Thứ hai là dủy diệt toàn bộ nền văn hoá bản địa, là nơi cư ngụ của nhiều sắc tộc đồng bào thiểu số. Họ sẽ đi đâu và làm gì để sống khi bị đánh bật rễ ra khỏi nơi ngụ cư và sống trong một vùng ô nhiễm chết người?
Thứ ba, xin hiểu "hiểm họa Trọng Thủy" theo cả nghĩa đen. Đó là trào lưu lấy vợ nước Nam. Nhân viên quân và dân sự Trung Quốc đang túa vào buôn làng và mua chuộc hoặc cưỡng bách phụ nữ để sẽ sinh con đẻ cái nơi ấy, với hộ tịch của họ. Họ khuynh đảo hệ thống hành chánh và chính trị địa phương để sẽ có ngày ta nghe nói tới phong trào thiểu số đòi tự trị. Từ các tỉnh biên giới Hoa-Việt tới các tỉnh Cao nguyên, nếu sau này các đại biểu của người thiểu số ấy muốn ly khai, hay đòi được quy chế tự trị dưới sự lãnh đạo củaTrung Quốc,chúng ta nghĩ sao?
Cái mất vô hình thứ tư mà nghiêm trọng nhất, là xâm phạm vào an ninh của Việt Nam, chạy dài từ cao nguyên Bolovens bên Lào xuống các cao nguyên Kontum, Kon Plông, Kon Hà Nừng, Pleiku, M'Drăk, cao nguyên Lâm viên nơi có thị xã Đà Lạt và cao nguyên Di Linh.

Dù không là một nhà quân sự, ta cũng có thể mường tượng được mối nguy khi vùng cao nguyên chiến lược ấy, với cao độ từ 400 đến 1.500 thước lại bị xâm phạm, như cột xương sống của quốc gia bị ai đó điểm huyệt. Mà sự khống chế đã bắt đầu, khi Trung Quốc đưa người vào làm việc khỏi cần chiếu khán và sẽ còn đưa bộ đội vào bảo vệ khu vực này.
Nhân đây, cũng cần thấy một chuyện nguy ngập hơn mà các chuyên gia địa chất có thể tìm hiểu thêm để soi sáng cho chúng ta. Vì sao Việt Nam Cộng Hoà lập Nguyên tử lực cuộc tại Đà Lạt? Trong vùng đất đang thành cấm địa của Trung Quốc, liệu người ta có khai thác quặng mỏ uranium và plutonium cho mục tiêu gì khác chăng? Ai biết được khi Hà Nội giấu kín mọi chuyện?
Tất cả những nguy cơ mất mát ấy chỉ vì lý cớ là để gạn bốn tấn quặng ra hai tấn oxid nhôm và thải ra ngoài bốn tấn bùn đỏ và nước độc! Rồi để vận chuyển số oxid nhôm, trị giá có 250 tới 300 đô la một tấn, qua gần 300 cây số tới bến cảng và bán ra ngoài, người ta phải mở thêm xa lộ hay thiết lộ. Ai sẽ xây?
Trung Quốc! Sau các xa lộ Trường Sơn, rồi quốc lộ số chín từ biên giới Thái Lào ra Quảng Trị, xa lộ nối liền Côn Minh của Vân Nam với Nam Ninh của Quảng Tây với Hà Nội, sau này Trung Quốc sẽ lại hào phóng viện trợ cho Hà Nội một đường khác để chở bauxite ra biển! Và nhân đó bảo vệ an ninh cho cả nước ở những vùng yết hầu của tổ quốc.
Đây mới là mục tiêu của kế hoạch baxite.
Sau khi đã mua chuộc được Cam Bốt, Trung Quốc đang khống chế nước Lào, một xứ phiên trấn của Hà Nội và nay đang cắt ngang xương sống của Việt Nam. Việt Nam đang trôi vào trật tự Trung Quốc, trở thành phiên trấn và vùng trái độn cho xứ này và sẽ có tương lai của một bãi rác công nghiệp với một dân tộc mất chủ quyền.

***

Tổng kết lại, những vấn đề của chúng ta là gì ?

Trước hết, nên thấy rằng Trung Quốc không mạnh và hoàn toàn muốn làm gì là làm.
Ruột gan họ có nhiều mối lo sinh tử nhưng họ có cái thế mạnh chỉ vì thế giới hèn và tham. Không hoang tưởng như các hoàng đế thời xưa, họ rất biết mềm nắn rắn buông. Tức là chỉ lấy những gì lấy được, chứ cũng biết cười cười rút tay về khi bị vụt. Họ đã nắn và Hà Nội đã buông nên họ nắm cả, nhưng không phải là xứ nào cũng nhu nhược như vậy. Xin đơn cử một thí dụ:
Lãnh đạo Bắc Kinh có một nhu cầu chiến lược vì lẽ chính danh và cả sự tồn vong của đảng Cộng sản nếu kinh tế suy sụp. Đó là phải thôn tính được Đài Loan để thoả mãn tự ái dân tộc của một đám quần chúng đói khát u mê. Từ bao năm nay, họ không làm nổi việc thống hợp ấy qua cả hai ngả văn võ, chính trị và quân sự. Lý do chính yếu là dân Đài Loan không sợ và lãnh đạo Đài Loan có khả năng. Trung Quốc mạnh chỉ vì Hà Nội sợ hãi và vì dân khí của ta bị suy nhược.
Lý do thứ hai, vấn đề Đài Loan không chỉ là một thách đố cho hơn hai chục triệu dân trên đảo quốc nhỏ bé này mà còn là vấn đề của các lân bang, và của thế giới. Trước tiên là của Nhật Bản và Đại Hàn, kế đó là Hoa Kỳ. Vì an ninh của họ, các quốc gia ấy có khả năng gián chỉ, can gián và ngăn ngừa. Nhưng, trước tiên Đài Loan phải có quyết tâm đã.
Vấn đề của chúng ta cũng thế.
Trung Quốc là mối nguy cho Việt Nam nhưng cũng là một đe dọa cho các xứ khác. Người Việt Nam phải giải quyết vấn đề Trung Quốc của Việt Nam, tức là trước tiên giải quyết chế độ hiện hành tại Hà Nội. Và giải quyết bằng nỗ lực của người dân chứ không một ai, kể cả Hoa Kỳ, sẽ giúp ta làm chuyện đó.
Nhưng, thế giới cũng sẽ phải giải quyết chuyện Trung Quốc của thế giới. Các quốc gia từ Đông Bắc Á xuống Đông Nam Á qua tới Ấn Độ và Úc Đại Lợi và về tới Hoa Kỳ, một siêu cường Á châu, đều quan tâm theo dõi chuyện Trung Quốc. Và sẽ phải bảo vệ quyền lợi của họ.
Nếu quyền lợi ấy tương đồng với Việt Nam thì có thể có sự hợp tác.
Mà làm sao có quyền lợi tương đồng khi các nước Đông Á đầu tư hay viện trợ cho Việt Nam lại bị đảng viên cán bộ móc túi? Làm sao họ tin tưởng vào ý chí độc lập của Việt Nam khi trên các diễn đàn quốc tế Hà Nội luôn luôn ngả theo chủ trương của Bắc Kinh?
Nhìn như vậy, người Việt phải gióng lên một tiếng chuông khác để cho thế giới biết lòng dân không là ý đảng. Ở bất kỳ cương vị nào, ta cũng có thể kêu gọi sự hưởng ứng của người khác, thành một phong trào rộng lớn từ trong nước ra tới bên ngoài.
Sau đó, hãy cùng nghĩ đến vấn đề Trung Quốc của thế giới.
Không ai thương xót người Việt khi Cao nguyên Trung phần bị lạm thác và an ninh xứ sở bị đe dọa. Nhưng họ sẽ quan tâm nhiều hơn nếu thấy rằng đó cũng sẽ là vấn đề của họ. Làm sao trình bày, giải thích và vận động một chuỗi tương quan nhân quả này là một tiến trình công phu vì đòi hỏi nhiều nỗ lực đa diện. Trước hết, đòi hỏi sự quan tâm, tìm hiểu.
Nhưng người Việt ta ở hải ngoại đủ đông và giới trẻ thành tài ở đã có đủ kiến thức lẫn sự quen biết để tìm hiểu, miễn là phải để tâm tới vấn đề, nếu được phụ huynh nhắc nhở. Từ đó, họ có thể khai triển thành từng việc thiết thực hầu thuyết phục từng thành phần liên hệ trên thế giới, từ các định chế quốc tế đến hiệp hội phi chính phủ hay các chính quyền địa phương và cả các doanh nghiệp ngoại quốc nữa.
Khi thấy hoàn cảnh bi đát của đất nước, cái dũng có thể kích thích trí tuệ chúng ta tìm ra nhiều giải pháp biến hoá tinh vi hơn. Miễn là chúng ta có ý chí.
(Bài tham luận đọc trong cuộc Hội thảo ngày Chủ Nhật mùng ba tháng Năm tại Houston về việc Hưởng ứng lời kêu gọi của Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ).

NGUYỄN XUÂN NGHĨA
____________________
Nguồn : vtn_nnc@yahoo.com