Posted on February 17, 2012 by vidanquyetchien
“… Người Cộng Sản chân chính có truyền thống là những người không hề biết hoà bình, không sống được trong hoà bình thật sự …
Khởi đầu là việc cày nát nghĩa trang Quân đội và hạ tượng Người Lính Việt Nam Cộng Hoà …”
Không biết bắt đầu từ thuở nào có một quy luật
hình thành là ở một thể chế chính trị, đều thành lập một lực lượng để
bảo vệ mình, lực lượng đó được gọi là quân đội. Quân đội sinh ra từ chế
độ và nó cũng vẽ nên những chân dung của chế độ. Chế độ tốt sẽ xây dựng
nên một quân đội tốt. Quân đội tốt sẽ không dung dưỡng một chế độ xấu.
Từ hơn hai nghìn năm về trước, người lính Việt Nam với chiếc áo trấn
thủ, mang gươm giáo ngàn xưa để gồng gánh trên vai những nhiệm vu giết
thù diệt loạn, bảo quốc an dân, giữ gìn cơ nghiệp của tiền nhân. Trải
qua bao thăng trầm của đất nước, hình ảnh của người lính thay đổi qua
bao thời thế, nhưng trách nhiệm không hề thay đổi.

Người
thanh niên tuổi trẻ Việt Nam từ khi bước vào quân trường, khoác vội bộ
đồ trận, lưng mang vác ba lô cho tới khi anh đứng nghiêm với lời tuyên
thệ Vị Quốc Vong Thân. Người tuổi trẻ đã trở thành người lính. Anh
trưởng thành hơn bóng dáng của quê hương. Người lính với chiếc nón sắt
xanh đậm tròn tròn như nửa vầng trăng in rõ bóng trên nền trời xanh lơ.
Anh đã bước ra, tay ôm súng và chân mang giày trận, anh giẫm mòn nửa
vòng đất nước đi canh giữ cho quê hương.
Bắt đầu từ thập niên Sáu Mươi, khi kẻ thù phương Bắc, với xe tăng súng
cối, với những chủ thuyết ngoại lai, với những xích cồng nô lệ, đã toan
tính nhuộm đỏ quê hương, thì từ đó, người lính đã hiện diện trong tuyến
đầu lửa đạn. Anh mang vác hành trang, chiếc ba lô nặng cồng kềnh để chận
bước quân thù, để bảo vệ miền Nam.
Ðất nước hai mươi năm chiến tranh, hai mươi năm dài người lính hầu như
không ngủ. Hai mươi năm có tới mấy ngàn ngày để anh đi từ sáng tinh mơ,
chân giẫm ướt ngọn sương mai trên cỏ. Hai mươi năm có tới mấy ngàn đêm,
bóng anh mịt mờ trong núi rừng lạnh giá. Hai mươi năm, anh nghe tiếng
đại bác vang trời không nghỉ.
Tiếng mưa bom đạn réo bên mình. Tiếng xe tăng nghiền nát đường quê
hương. Hai mươi năm, anh đã đem sinh mạng của mình đặt trên đường bay
của đạn. Ðã đem hy vọng cuộc đời đặt trên khẩu súng thân quen. Hay đã
đem tình yêu và nỗi nhớ đặt trên đầu điếu thuốc. Hai mươi năm chiến
tranh có bao ngày anh được ngủ yên trên chiếc giường ngay ngắn. Có bao
đêm anh mơ được trọn giấc bình yên. Hay anh đã sống thân quen với đời
gian khổ và đánh bạn với gian nguy.

Anh
với đầu đội súng và vai mang ba lô, lội qua những vũng sình lầy nước
ngang tầm ngực. Anh đã đi qua những địa danh xa lạ: Ashau, Ia Drang,
Kontum, Pleime, nơi giơ bàn tay cũng không thấy được bàn tay. Hay anh
truy địch ở bờ sông Thạch Hãn lừng lững sương mai, ở phá Tam Giang sóng
vỗ kêu gào hay ở Cổ Thành xứ Huế mù sương. Dài dọc xuống Miền Nam với
rừng Tràm, rừng Ðước, đến Ðồng Tháp Mười anh đã nghe muỗi vo ve như sáo
thổi.
Anh đã đến những nơi mà anh không tưởng, anh đi diệt địch và anh đã ngã
xuống địa danh chẳng quen dấu chân anh. Người lính nằm xuống ở Miền Nam
xanh tươi ngọn mạ, ở những vùng trầm se rét Miền Trung, hay ở Miền Ðông
xác thân thối rửa Từ Ấp Bắc, Ðồng Xoài, Bình Giả… cho tới Tống Lê Chân,
An Lộc, Bình Long, người lính đã căng rộng tấm poncho để che kín bầu
trời Miền Nam được yên ấm tự do. Nối gót tiền nhân, người lính, mỗi
người lính đã đem 3.8 lít máu tươi, tưới cho thắm tươi hoa lá ruộng
đồng, đã đem mỗi một 206 lóng xương khổ nạn của mình cắm trăm nẻo đường
quê hương muôn ngã, để cho chính nghĩa quốc gia tự do được tồn tại. Ðể
cho người dân quốc gia được sống no ấm ở hậu phương.
Những người dân quốc gia, những người dân quốc gia không hề muốn trở
thành dân Cộng Sản, những người quốc gia luôn muốn bỏ chạy khi Cộng Sản
tới và núp bóng người lính để được sống an nhàn ở chốn hậu phương. Họ
hoàn toàn trao trọng trách bảo vệ quốc gia, ngăn thù dẹp loạn như một
thứ công việc và trách nhiệm của người làm nghề lính, như thể không liên
quan gì tới họ. Và họ tự trấn an lương tâm rằng người lính sẽ không bao
giờ buông súng và sẽ mãi mãi bảo vệ họ tới cùng. Vì thế, họ luôn yên
tâm sống ở hậu phương, yên tâm kiếm tiền và tranh đua đời sống xa hoa
phè phỡn trên máu xương của người lính.
Và ở hậu phương, người lính đồng nghĩa với nghèo, đời lính tức là đời
gian khổ, và tương lai người lính đếm được trên từng ngón taỵ Thế nên,
người lính về hậu phương, anh ngỡ ngàng và lạc lỏng. Bỗng hình như anh
cảm thấy mình như người Thượng về Kinh. Như vậy thì người ta tội nghiệp
người lính và yêu người lính để thể hiện tình quân nhân cá nước trong
sách vở, báo chí và truyền hình.
Người lính bị bắt cóc vào văn chương tiểu thuyết là những người lính
giấy, vào văn chương để tự phản bội chính mình, để thoả mãn cho những kẻ
trông con bò để vẽ con nai, và ngồi phòng khách để diễn tả chiến trường
đỏ lửa. Người lính trên trang giấy ngang tàng và hung bạo, chửi rủa
chính phủ, chống chính quyền và ghét cấp chỉ huy, lính la cà trong quán
rượu, uống rượu chẳng thấy say, và càng say càng đập phá. Người lính
xuất hiện trên sân khấu thì phong lưu và đỏm dáng hay trắng trẻo no
tròn. Anh mặc đồ trận mới toanh còn nguyên nếp gấp, ngọt ngào chót lưỡi
đầu môi anh ca bài ca mời gọi ái tình. à người yêu của anh lính là những
cô mắt ướt môi hồng, áo quần xa hoa lộng lẫy, thề non hẹn biển yêu lính
trọn kiếp trong ti vi. Như vậy thì quá mỉa mai cho cái gọi là anh trai
tiền tuyến, em gái hậu phương. Trong khi đó, ở ngoài đời những người vợ
lính là những người chống giữ thầm lặng ở xã hội hậu phương.
Ðó là những người đàn bà bình dị với tấm áo vải nội hoá rẻ tiền, với đôi
guốc vông kẻo kẹt, đóng vai vừa là người mẹ vừa là người cha nuôi con
nhỏ dại, gói ghém đời sống bằng lương người chồng lính chỉ vừa đủ mua
nửa tháng gạo ăn. Ðó là những người đàn bà tất tả ngược xuôi, lăn lộn
thăm chồng ở các Trung Tâm Huấn Luyện, hay ở những nơi tiền đồn xa xôi
với vài ổ bánh mì làm quà gặp mặt. Ðó là những người âm thầm và lặng lẽ,
chịu đựng và hy sinh để chồng luôn an tâm chống giữ ngoài trận tuyến
với đối phương.
Hạnh phúc của họ mong manh và nhỏ bé, bất chợt như tình cờ. Có thể ở một
thỏi son nhỏ bé mà người lính mang về để tặng vợ, có thể là một chiếc
nón bài thơ, hay chút tình cờ ở một buổi tối người lính chợt ghé nhà
thăm vợ. Hạnh phúc ở trong chén trà thơm uống vội, hay ở lúc nhìn đứa
con bé nhỏ chào đời tháng trước.
Người vợ lính cũng là những người hằng đêm thức muộn để lắng tai nghe
tiếng đại bác thâu đêm, rồi định hướng với lo âu trằn trọc. Ðó là những
người đàn bà mà sau mỗi lần đơn vị chồng đụng trận, đi thăm chồng giấu
giếm mảnh khăn sô.
Trong nỗi chịu đựng hy sinh, âm thầm và kỳ vĩ, họ vẫn sống và luôn gắng
vượt qua để cho người chồng an tâm cầm súng. Ðể anh, người lính, anh
mang sự bất công to lớn, sự bạc đãi phủ phàng, anh vẫn đi và vẫn sống,
vẫn chiến đấu oai hùng giữa muôn ngàn thù địch.

Ở
chiến trường, anh đối diện với kẻ thù hung ác, ở hậu phương anh bị ghét
bỏ khinh khi, trên đầu anh có lãnh đạo tồi, sẵn sàng dẫm xác anh để cầu
vinh cho họ, đồng minh anh đợi bán anh để cầu lợi an thân.
Những người dân của anh, những người anh hy sinh để bảo vệ từ chối giúp
anh truy lùng kẻ địch, và điềm nhiên để anh lọt vào ổ phục kích của địch
quân. Những người dân bán rẻ linh hồn cho quỷ, tiếp tay cho địch thác
loạn ở hậu phương, đó là những kẻ chủ trương đòi quyền sống, trong đó
không bao gồm quyền sống của anh.
Những kẻ để trái tim rung động tiếc thương cho cái chết của kẻ thù nhưng
dửng dưng trước sự ngã xuống của anh. A dua, xu thời là bọn báo chí
ngoại quốc thiên tả, lệch lạc ngòi bút, ngây thơ nhận định, mù quáng
trong định kiến. ất cả vây quanh anh để tặng cho anh những đòn chí tử.
Người lính bi hùng và bi thảm. Anh chống địch mười phương, tận lòng
trong đơn độc, anh vẫn hy sinh và chống giữ tới hơi thở cuối cùng.
Ngày Hoà Bình, 28 tháng Giêng năm 1973 hiệp định Paris được ký kết Hoà
Bình thật đến trên trang giấy, đến với thế giới tự do. Thế nên, thế giới
tự do nâng ly để chúc mừng cho hoà bình của họ và nhận giải Nobel.
Nhưng hoà bình đến ở Việt Nam tanh hôi mùi máu, đen ngòm như tấm mộ bia.
Và anh, anh là vật thụ nạn trong cái hoà bình bi thảm.
Người lính vẫn tiếp tục ngã xuống, đem xác thân đắp nên thành luỹ để
ngăn bước quân thù. Từ Ðông sang Tây, từ Nam chí Bắc, từ ngàn xưa và cho
tới ngàn sau, có một quân đội nào mang số phận bi thương và oai hùng
như người lính?
Những người lính chịu uống nước rễ cây và đầu không nhấc thẳng, đi luồn
dưới Rừng Sát suốt 30 ngày không thấy ánh mặt trời. Những người lính đi
hành quân mà không người yểm trợ để hai ngày ăn được bốn muỗng cơm, hay
ăn luôn năm trái bắp sống và những lá cải hư mục ruỗng, miệng thèm một
cục nước đá lạnh giữa cái nắng cháy da.

Người
lính, người ở địa đạo Tống Lê Chân ăn côn trùng để tử thủ giữ ngọn đồi
nhỏ bé. Người nằm xuống ở An Lộc, Bình Long. Và thủ đô, vòm trời thân
yêu mà anh mơ ước để tang truy điệu cho anh chỉ có ba ngày. Ba ngày cho
sinh mạng của năm ngàn người ở lại. Người ta lại tiếp tục vui chơi và
quên đi bất hạnh. Bởi bất hạnh nào đó chỉ là bất hạnh của riêng anh.

Người
lãnh đạo anh còn mè nheo ăn vạ. Và anh, anh phải đóng trọn vai trò làm
vật hy sinh. Trước nguy nan, lãnh đạo anh tìm đường chạy trốn thì anh
vẫn còn cầm súng ở tiền phương. Anh đã chống giữ, chịu đựng từng đợt
xung phong ở Ban Mê Thuột mỗi ngày 24 giờ, không có ai yểm trợ, tiếp tế
từ hậu phương. Nhưng ở đó, anh vẫn phải tử thủ cho con đường tẩu thoát
của cấp lãnh đạo anh tuyệt đối được bình yên.
Và đồng minh của anh, người đồng minh đã từng sát cánh, cùng chia sẻ nỗi
gian nguy ở Hạ Lào, Khe Sanh dưới trời mưa pháo, nay lại nghiễm nhiên
nhìn anh đi những bước cuối cuộc đời. Phải chăng nhân loại đang trút
những hơi thở cuối cùng nên lương tâm con người đang yên nghỉ ?
Cho nên, cả thế giới lặng câm để nhìn anh chết. Không chỉ cái chết riêng
cho mỗi mình anh, vì bởi dưới đuờng đạn xuyên qua, xác thân anh ngã
xuống thì đau thương đã vụt đứng lên. Cái bi thương có nhân dáng lớn lên
và tồn tại suốt ngang tầm trí nhớ. Và người lính, anh vẫn kỳ vĩ và chịu
đựng như vị thần Atlas mang vác quả địa cầu, người lính đã mang vác và
bảo vệ mấy trăm ngàn người dân trên đường triệt thoái.
Trên những con đường từ Cao Nguyên không thiếu những người lính gồng
gánh cho những người cô dân chạy loạn. Tay anh dẫn em thơ, tay dắt mẹ
già chạy trong cơn mưa pháo. Và anh đã làm dù, làm khiên đỡ đạn, cho nên
thân xác anh đã căng cứng mấy đường cây số, hay xác làm cầu ở tỉnh lộ
7B, anh đã chết ở Cao Nguyên lộng gió và đếm những bước cuối đời ở
ngưỡng cửa thủ đô.

Bởi
lãnh đạo đầu hàng nên anh nghẹn ngào vất đi súng đạn. Với nham nhở mình
trần, anh vẫn chưa tin đời đã đổi thay. Có thật không? Hai mươi năm
chiến tranh kết thúc? Giã từ những hy sinh và gian khổ của hôm quả có
thật không? gày buông rơi vũ khí, anh mơ được về để an phận kẻ thường
dân? Và có thật không? Anh được đi, được sống giữa một quê hương rối
loạn tràn ngập bóng quân thù?
Anh đã khóc nhiều lần cho quê hương chinh chiến và đã khóc nhiều lần cho
những xác bơ vơ. Lính khổ lính cười, dân khổ để người lính khóc. Và có
ai, từng có ai trong chúng ta đã khóc thương cho đời lính?
Thương cho người lính với trái tim tan vỡ từ lâu. Bởi trái tim anh đã
hơn một lần để lại dưới chân Cổ Thành Quảng Trị, ở một mùa Xuân xứ Huế
năm nào, ở Hạ Lào, Tống Lê Chân hay ở trong cái nồi treo lủng lẳng trên
ba lô khi anh hô xung phong để tiến vào An Lộc? Người lính thật sự trái
tim anh tan vỡ từ lâu.
Lịch sử đã sang trang, và loài người đã bắt đầu đi những bước cuối cùng
trên trái đất? Thế nên thời trang nhân loại là thứ phấn hương tàn nhẫn,
và môi tô trét thứ son vô tình. Cả thế giới đồng thanh công nhận và gửi
điện văn chúc mừng sự thống nhất ở Việt Nam. Và người ta uống chén rượu
mừng để truy điệu Việt Nam đi vào cõi chết, chúc mừng Việt Nam có thêm
25 triệu nô lệ mới nhập tên. Hoà bình đã nở hoa trong cộng đồng thế
giới, trong đời người Cộng Sản, nhưng hoà bình không thật đến ở Việt
Nam.
Người Cộng Sản chân chính có truyền thống là những người không hề biết
hoà bình, không sống được trong hoà bình thật sự. Như con giun, con dế
sợ ánh sáng mặt trời. Thế nên họ dẫn dắt toàn dân đi xây dựng văn minh
thời thượng.
Khởi đầu là việc cày nát nghĩa trang Việt Nam Cộng Hoà và hạ tượng Người
Lính Việt Nam Cộng Hoà. Người Lính rơi xuống vỡ tan trong lòng đường
phố, nhưng từ đó anh mới thực sự đứng lên, đứng thẳng và oai hùng hơn
trước trong trái tim của người dân Việt Miền Nam.
Bởi từ khi những người bộ đội Cộng Sản bước chân vào thành phố, thì
người dân Quốc Gia mới thật sự hiểu được giá trị của anh. Và những sự
lầm lẫn và hối hận hôm nay hình như luôn theo nhau đi vào lịch sử. Vậy
thì, khi ta chết trên con đường chạy loạn, khi ta chết ở bãi Tiên Sa, ta
vùi thân nơi vùng kinh tế mới hay ta chìm dưới đáy biển Ðông, không
phải vì khẩu súng rơi trên tay người lính, mà ta chết bởi viên đạn ích
kỷ, viên đạn lãnh đạm và thờ ơ xuất phát từ trái tim bắn ngược lại chính
ta. Bởi sự thật về người Cộng Sản đã đi quá tầm tưởng tượng và sự hy
sinh của người lính vượt quá nỗi bi thương.
Hai mươi năm chiến tranh, hơn hai trăm ngàn người lính, hơn năm trăm
ngàn thương binh đã để lại hai trăm ngàn sinh mạng và năm trăm ngàn
những phần cơ thể để lại trên chiến trường khốc liệt. Ðể cho chúng ta có
một bầu trời để thở, có một khoảng không gian đi đứng tự do, để cho
tuổi thơ của chúng ta không phải đi lượm ve, lượm giấy, không phải đeo
khăn quàng đỏ và ngợi ca những điều dối gạt chính mình.
Ðể cho bàn tay thiếu nữ không chạm bùn nhơ thủy lợi, tuổi thanh xuân
không phải vùi chôn ở những gốc mì. Ðể cho bà mẹ già không phải ngồi mơ
ước miếng trầu xanh, và những giọt nước mắt thôi không cần tuôn chẩy.

Nhưng
lịch sử đã sang trang, những trang hồng tươi màu máu cho người Cộng Sản
và cũng là những trang đẫm máu và nhơ bẩn nhất cho cả lịch sử của dân
tộc Việt Nam.
Anh, người lính trong thời chiến thành người tù của thời bình. Người
lính chịu số phận bi thương của chiến tranh và cũng chịu luôn số phận
tàn nhẫn trong thời bình. Anh người lưu vong trong lòng dân tộc, và lưu
đày ở chính quê hương anh.
Bởi Cộng Sản Việt Nam đã bắt đầu một cuộc chiến tranh mới và đẩy anh
xuống đáy trầm luân. Cũng chính từ chiến trường Tù Ngục này mà Cộng Sản
đã chứng minh được Chúng và Anh không là đồng loại. Chúng, là lũ Cộng
Sản cuồng tín, và tàn bạo nhất giữa thế giới Cộng Sản và vô nhân. Chúng
lập nên một vương quốc mới mang tên là Lừa Dối, và mở ra một kỷ nguyên
giết người theo kiểu mới, giết người bằng những mỹ từ đẹp đẻ, bằng lao
động vinh quang, bằng thời gian không thể đếm.
Người lính bước vào trận chiến mới, chiến trường có tên là cải tạo, và
anh người tù nhân không có án. Ở đây anh không có lãnh đạo, không có
đồng đội, không có hậu phương. Kẻ thù vắt cùng, vắt kiệt sức lực anh
trong rừng thẳm. ày đọa sỉ nhục anh dưới hố xí tanh hôi, đem thanh xuân
và tài hoa của anh vùi chôn ở những vòng khoai vớ vẩn. Ðặt hy vọng của
anh máng vào những mốc thời gian.
Người lính đã trở thành vật thụ nạn thời bình. Anh chết đói bên những
vòng xanh nở rộ do chính tay anh cày xới vun trồng. Anh chết khát khi
bên ngoài mưa rơi tầm tã. Giữa những trùng vây sóng dữ, giữa bóng tối cô
đơn Anh vượt qua sự chết để đem về nghĩa sống. Anh đi xiếc qua những
ranh giới tử sinh để chứng minh được phẩm giá con người. Ðôi mắt anh cao
ngạo và chân đạp chữ đầu hàng.
Từ trong tăm tối hận thù, anh thắp sáng lên ý nghĩa đời người. Anh đã
chiến đấu, để từ trong cõi chết anh bước ra mà sống. Ðể anh trở về từ
địa ngục trần gian. Bao đồng đội bất hạnh đã ngã xuống trong rừng thẳm,
cuối cùng anh đã trở về: Ta về cúi mái đầu sương điểm
Nghe nặng từ tâm lượng đất trời
Cám ơn hoa đã vì ta nở
Thế giới vui từ mỗi lẻ loi
Tô Thùy YênNước mắt anh không rơi trong
ngục tù Cộng Sản, nước mắt anh rơi khi anh được trả tự do. Anh bước về,
anh đi giữa lòng quê hương. Anh ngỡ ngàng như thức từ cơn mộng. Có thật
chăng đất nước Việt Nam, tàn hơn 30 năm chinh chiến và tù đày, để anh có
được một đất nước thanh bình điêu tàn hơn thời chiến?
Và tuổi trẻ, những mầm non đất nước hôm nay xa lạ như người không cùng
chung dòng giống. Anh đi trên đường phố xưa, đường đã đổi tên. Anh tìm
bạn bè cũ, đứa còn đứa mất. Quê hương này không có chỗ cho anh?
Hai mươi năm chiến chinh, mười mấy năm tù đày trên chính quê hương để
rồi anh phải tha hương biệt xứ. Người lính, mười bốn năm lính, mười bốn
năm tù, tài sẵn có, được trí trá vài đô la, và mái đầu sương điểm để anh
bước vào đời lần nữa.
Anh không có quyền bắt đầu, chỉ có quyền tiếp tục trôi theo dòng đời
nghiệt ngã. Người lính cũ ngồi bán nước đá bào cho học trò giờ tan học ở
chính quê hương. Hay anh, người lính lưu vong ngồi bán thuốc lá lẻ hằng
đêm trong những tiệm Seven Eleven trên đường phố Mỹ.
Ba mươi năm vết thương cũ hầu như chưa lần khép kín. Ôi, hai mươi sáu
chữ cái bắt đầu từ a, b, c, đ dẫu sắp xếp khéo léo tới đâu vẫn không đủ
để viết nên những bi hùng anh đã đạt. Và cần phải thêm vào bao nhiêu chữ
nữa mới diễn tả lên sự xót thương anh.
Chúng ta đã quá may mắn, quá vinh dự để trang sử Việt Nam có thêm những
anh hùng như người lính Việt Nam Cộng Hoà, những anh hùng vô danh và
sống đời thầm lặng, những anh hùng bình thường mà ta chưa có dịp vinh
danh.
Nhưng cho tới nay, ta đã làm gì để tri ân người lính Quốc Gia. Chúng ta
những người dân Quốc Gia đi chung con thuyền Miền Nam do các anh chèo
chống, đưa qua những con sóng dữ Việt Nam. Những người quốc gia đã sang
thuyền trong cơn quốc nạn, và đã để mặc anh chìm trong cơn Hồng Thuỷ của
Việt Nam.
Chúng ta, những người quốc gia tầm gửi, đã sống nhờ trên máu xương người
lính, và chưa lần đóng góp nào cho chính nghĩa quốc gia. Có phải giờ
đây, chúng ta tiếc thương người lính bằng đầu môi chót lưỡi, bằng những
video, nức nở kêu gào, hay chúng ta khóc cho người lính bằng những trang
thơ vớ vẩn? Và có ai, có ai trong chúng ta cảm thấy thẹn khi ta đã đôi
lần hãnh diện vì ta nói tiếng Anh trôi chẩy hơn họ, xe ta đẹp, nhà ta
to.

Ngày
nay, Người Cộng Sản ở quê hương với đôi tay đẫm máu của thuở nào cũng
nói lời phản tỉnh. Vậy còn ta, bao nhiêu người Quốc Gia sẽ thức tỉnh để
vẽ chân dung kỳ vĩ và nhiệm màu của Người Lính chúng ta. Có ai trong
chúng ta sẵn sàng chi tiêu những bữa tiệc đắt tiền trong những nhà hàng
danh tiếng, mua những tấm vé vào cửa của đại nhạc hội lừng tên mà ta
tiếc bỏ tiền ra để quyên góp, xây lại tượng Người Lính ở thủ đô đã ngã
xuống hôm nào.
Ðể một mai, khi quê hương không còn giống Cộng Sản, ta đem anh về trở
lại quê hương. Ðể anh được đứng lên chính nơi anh ngã xuống như cùng
thời với đất nước lúc hồi sinh.
Bao nhiêu chuyên gia nhóm họp nhan đề “xây dựng lại đất nước trong thời
hậu Cộng Sản”. Vậy có ai đã đặt kế hoạch tri ân cho người lính ? Bởi,
một ngày nào mà ta chưa biết tri ân người lính và đặt họ ở một địa vị
xứng đáng mà đáng lẽ họ phải ở từ lâu, thì làm sao ta có thể xây dựng
được một xã hội đáng gọi là nhân bản.
Hãy vinh danh người lính Việt Nam Cộng Hoà …. Hãy giữ gìn và bảo vệ tinh
thần Vị Quốc Vong Thân của họ như giữ gìn ngọn lửa thiêng trong lòng
dân tộc, thì dân tộc ta mới mong có được những truyền nhân xứng đáng với
thế hệ tương lai ….
Nguyễn thị Thảo An
Nguồn:http://gianhlaiquehuongvietnam.wordpress.com/
Về quân sự … coi chừng!