Thứ Bảy, 4 tháng 8, 2012

Nửa bài báo, một tấm hình

Posted on by HieuLe

Quân Lực VNCH trưng bày cờ Việt Cộng thâu được sau chiến thắng đợt đầu tại Xuân Lộc.
Tờ mờ sáng bên cốc cà-phê bốc khói, đọc bài báo đăng trên tờ An Giang Mobile ngày 3 tháng 8, 2012. Đây là một bài đã đăng trên trang Người đưa tin do Hội Luật gia Việt Nam chủ quản. Tựa bài “Trận đánh bất ngờ giải phóng Trường Sa của vị tướng già” làm người viết đã phải giựt tóc mai ba lần để xác định mình tỉnh hay vẫn đang mơ.
Trời ạ! Việt Nam lại một lần nữa đứng dậy đánh đuổi ngoại xâm?
Coi vậy mà không phải vậy. Xin trích dẫn lại đây phần liên quan đến “giải phóng Trường Sa” để mọi người cùng đọc:
Trận đánh bất ngờ giải phóng Trường Sa của vị tướng già An Giang Mobile.
Cập nhật ngày: 30/01/2012
Quế Ngân
Là một trong những người chỉ huy trung đội đặc công nước trên tàu không số ra giải phóng quần đảo Trường Sa trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử năm 1975, nên trong ký ức của vị tướng già Mai Năng đầy hào hùng nhưng đẫm máu và nước mắt. Dũng sỹ số một Tướng Mai Năng tên thật là Tạ Văn Thiều, sinh năm 1930, ở huyện Kiến Thuỵ, TP. Hải Phòng. 20 tuổi, ông nhập ngũ và được điều về Bộ chỉ huy quân sự Kiến An (cũ). [...]
Thiếu tướng Tạ Văn Thiều (Tức Mai Năng) Nguồn: Nguoiduatin
Sau khi miền Bắc được giải phóng, Dũng sỹ Năng được cử đi học tại Cục Tình báo. Học xong, ông được biên chế vào làm chính trị viên của lực lượng hải quân, chuyên săn tàu ngầm. Năm 1962, ông được giao nhiệm vụ xây dựng lực lượng đặc công hải quân. Từ năm 1962 đến khi về hưu, ông gắn với nhiệm vụ ban đầu này. Tướng Năng tâm sự:
“Đặc công hải quân hay còn gọi chung là đặc công nước, đòi hỏi người chiến sỹ có những tố chất khác biệt với lính bình thường. Bơi, lặn là một chuyện nhưng tố chất của người chỉ huy, tự quyết định không thể thiếu. Bởi trận địa dưới nước, khác với trận địa trên không, trên mặt đất. Sai lầm trong tích tắc, có thể phải trả giá bằng mạng sống của mình và đồng đội. Đặc công nước của Mỹ, Ngụy được trang bị đến tận răng nên ta không thể xem thường”.
Theo tướng Năng, ngày đó, Trung đội đặc công hải quân ra đời, ông không dám nghĩ rằng, năm 1975, nó lại là mũi tiên phong để ra giải phóng quần đảo Trường Sa. Tướng Năng cho biết: Không thể kể chi tiết chuyện huấn luyện hay công tác chuẩn bị, kế hoạch đánh của đặc công hải quân vì đó là bí mật quân sự. Song có một điều chắc chắn rằng, đã vào đặc công thì không thể không khổ luyện. Họ có tư duy trận địa dưới nước rất tốt, ngoài ra, họ cũng thuộc những “món” đánh trên cạn để thích nghi với địa hình khi có phát sinh. Đã có thời gian dài, đặc công hải quân gắn liền với tàu không số trên biển, với những chuyến hàng từ Bắc chi viện cho miền Nam.
Trận đánh bất ngờ
Theo tướng Năng, thời điểm đó (năm 1975), quần đảo Trường Sa do Chính quyền Sài Gòn cũ chiếm giữ. Ông nhận nhiệm vụ vào Đà Nẵng chỉ huy đơn vị hợp thành giữa Trung đoàn đặc công hải quân và đặc công quân khu V, với 3 tàu không số là 673, 674 và 675 của Đoàn 125 huyền thoại, ra giải phóng Trường Sa. Chỉ có 3 tàu nhưng nhiệm vụ là đánh đồng loạt các đảo để áp đảo tinh thần nguỵ quân, chặn đường chạy, cứu viện từ đảo này sang đảo khác của chúng. Tướng Năng kể:
“Chúng tôi cải trang thành tàu đánh cá rồi “đè sóng” ra khơi. Anh em đặc công phải nằm gọn dưới gầm tàu. Trên đường ra khơi, máy bay của nguỵ quân cứ quần thảo trên đầu, chúng gọi, chúng hô. Để nghi binh, tàu phải hướng về phía đảo Hải Nam (Trung Quốc) như thể là tàu đánh cá quốc tế. Máy bay thăm dò của quân ngụy bị lừa, bỏ đi. Thế là tàu quay mũi, nhằm quần đảo Trường Sa mà tiến. Trong các đảo thì Song Tử Tây là được bố trí hệ thống phòng thủ, quân nhiều nhất. Giải phóng Song Tử Tây có nghĩa là chặn cả ý chí lẫn hy vọng tiếp viện của quân ngụy.”
Thế là tướng Năng phân bổ nhiều quân vào Song Tử Tây hơn các đảo khác. Các mũi tiến vào đảo cứ thế mà y lệnh.
Trường Sa luôn trong ký ức của vị tướng già Nguồn: Nguoiduatin
Lênh đênh trên sóng 3 ngày thì tàu áp sát đảo Song Tử Tây. Như kế hoạch đã vạch ra trước đó, sau 30 phút từ hiệu lệnh của khẩu súng DKZ phát ra, đảo Song Tử Tây đã được giải phóng. Lá cờ của quân giải phóng đã tung bay trên đảo. Một kỷ niệm không thể quên trong ký ức của tướng Năng, đó là, lúc tiến vào giải phóng đảo, ông gặp viên chỉ huy phía bên kia. Viên sỹ quan này có khuôn mặt hiền. Tướng Năng hỏi: “Sao các anh không chống cự mà lại tự tan rã nhanh thế?” Viên sỹ quan này thành thật: “Biết có tàu chiến vào đảo, tôi huy động quân, chuẩn bị chiến đấu rất sẵn sàng. Theo dõi, tôi nghe được hiệu lệnh chỉ huy là tiếng Việt, tôi biết không phải quân ngoại quốc đến chiếm đảo nên không chống cự, tránh thương vong cho anh em.” Nói xong, viên sỹ quan này thỉnh cầu: “Đừng để người Việt Nam trên đảo đổ máu nữa.” “Tôi thấy nhẹ lòng, dù trước đó đầy bão tố nhưng câu nói đó làm tôi thấy bình yên trở lại,” tướng Năng bộc bạch. Tướng Năng khẳng định: Đảo Song Tử Tây là kiên cố nhất của quân ngụy ngày ấy mà giải phóng nhanh như vậy thì các đảo khác lại đơn giản hơn. Tôi hỏi: “Bị đánh bất ngờ, nguỵ quân không chống cự, không gọi chi viện sao?” Tướng Năng nói:
“Có chứ. Quân ngụỵ đã cho tàu ở Vũng Tàu ra chi viện; cho trực thăng chi viện quân… nhưng đều ở xa, không dám áp sát đảo. Tàu chi viện nhìn thấy cờ của quân giải phóng bay trên đảo đã tự quay tàu, hướng về điểm xuất phát. Các đảo khác như Sơn Ca, Sinh Tồn, Trường Sa, Nam Yết cũng ở trong tình trạng tương tự. Sỹ quan, lính nguỵ hỗn loạn, chen nhau ra tàu để chạy về đất liền. Không chen được lên tàu thì xuống xuồng, canô… bất kể là thứ gì có thể để trốn chạy khỏi đảo càng nhanh, càng tốt.”
Đất nước thống nhất, tướng Năng về tham gia Chiến dịch biên giới Tây Nam rồi Chiến dịch biên giới phía Bắc. Tướng Năng giữ chức vụ Tư lệnh Quân chủng Đặc công; được tặng thưởng 2 Huân chương kháng chiến, 2 Huân chương quân công, 4 Huân chương chiến công vì những thành tích đặc biệt xuất sắc trong chiến đấu và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Năm 1998, ông về hưu với quân hàm Thiếu tướng.
Nửa bài báo
Bây giờ là giữa mùa Hè 2012; từ 1975 đến nay đã có 37 mùa Xuân đi qua nhưng người viết báo và “dũng sỹ số một” trong nước vẫn có thể bình thản dùng những nhóm chữ tràn đầy tính hòa giải, hòa hợp nhưng vô nghĩa như “Quân ngụy bị lừa”, “ Đặc công nước của Mỹ, Ngụy”, “quần đảo Trường Sa do Chính quyền Sài Gòn cũ chiếm giữ.” Chiếm giữ hay bảo vệ Trường Sa, giữ gìn biển mẹ? Bài phỏng vấn đăng vào đầu năm 2012 nhưng tác giả và “dũng sỹ số một” đặc công nước Tạ Văn Thiều không một câu, một chữ nhắc đến trận hải chiến Hoàng Sa giữa Hải quân Việt Nam Cộng hòa và quân xâm lăng Cộng sản Trung Hoa (Trung Cộng) vào đầu năm 1974. Có thể nhà báo Quế Ngân và “vị tướng già” mắc kẹt với bản công hàm ngày 14 tháng 9, 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, gởi đồng chí Chu Ân Lai, Tổng lý Quốc Vụ Viện nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (Trung Cộng). Và nếu theo đúng công hàm Phạm Văn Đồng này thì Trường Sa là của Trung Quốc và đặc công nước của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa “giải phóng Trường Sa” khỏi sự chiếm giữ của Chính quyền Sài Gòn chỉ là giải phóng cho Trung Quốc, đúng như lời nguyên Tổng Bí Thư Đảng CSVN, Lê Duẩn, đã nói, “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc, cho các nước xã hội chủ nghĩa và cả nhân loại.” Hải quân Quân giải phóng Nhân dân Trung Hoa xả súng phòng không 37 ly giết 64 chiến sĩ Hải quân Nhân dân nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam tại quần đảo Trường Sa (1988) Đặc công nước Mai Năng, và nhà báo Quế Ngân cũng quên luôn việc các đồng chí anh em Hải quân Quân giải phóng Nhân dân Trung Hoa (Trung Cộng) xả súng bắn giết 64 chiến sĩ Hải quân Nhân dân nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ngay tại quần đảo Trường Sa vào ngày 14 tháng 3, 1988. Xin xem lại đoạn video trên để đừng quên lịch sử. Hơn nữa khi đề cập đến cuộc tấn công vào Kampuchia đánh Khmer đỏ, con bài của Trung Cộng, cuối năm 1978, hay cuộc chiến tranh biên giới đánh đuổi quân xâm lăng phương Bắc năm 1979 thì nhà báo Quế Ngân chỉ dám gọi đó là “Chiến dịch biên giới Tây Nam” và “ Chiến dịch biên giới phía Bắc”. Đúng là văn phong “dũng cảm” của nhà báo nước CHXHCN Việt Nam.
Một tấm hình
Trong nguyên bản bài báo đăng ở trang Người Đưa Tin do Hội Luật gia Việt Nam chủ quản cũng như bài đăng lại trên trang Ang Giang Mobile có hai tấm hình minh họa như ở đoạn trích dẫn phía trên. Hình ông đặc công nước, “dũng sỹ số một” Mai Năng không có gì để nói. Đáng nói đến là tấm hình thứ hai có chú thích “Trường Sa luôn trong ký ức của vị tướng già”. Cuộc chiến Nam Bắc chấm dứt cách đây 37 năm, kể là lâu với đời người nhưng chẳng đáng gì so với lịch sử đất nước. Người trong cuộc có lẽ chưa chết hết và hơn nữa hôm nay là thời đại của thông tin điện tử nên những hành động bất lương, ngang nhiên đánh tráo lịch sử khó có thể xẩy ra. Tuy thế, nhà báo Quế Ngân và tờ Người Đưa Tin chứng tỏ mình là hạng bất lương số một, và cũng không đủ trí khôn. Trong tấm hình chú thích “Trường Sa luôn trong ký ức của vị tướng già” là hình ảnh các chiến sĩ Việt Nam Cộng hòa hân hoan cầm cờ búa liềm của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng như lá cờ đỏ sao vàng của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam trước năm 1975 như chào mừng “giải phóng Trường Sa”. Tấm hình là bằng chứng của sự bất lương và trí tuệ lùn của nhà báo Quế Ngân và tờ báo Người Đưa Tin, cũng như Hội Luật Gia Việt Nam. Sự thực lịch sử sau tấm hình là các chiến sĩ Việt Nam Cộng hòa đang trưng bày một phần chiến lợi phẩm thu được từ Quân đội Nhân dân Việt Nam trong đợt phản công đầu tại mặt trận Xuân Lộc, vào tháng 4, 1975.
Nguồn: vnafmamn.com
Tấm hình trên đây trích từ trang “Những câu chuyện chưa kể”, Mặt trận Xuân Lộc. Tại đây lưu trữ một số hình ảnh của trận Xuân Lộc và các bài viết của Phillip B. Davision, George J. Veith và Merle L. Pribbenow, II, về chiến trường Xuân Lộc và những ngày tháng 4, 1975. Với tình hình Biển Đông, và tập đoàn lãnh đạo như hiện nay liệu Trung đội, Đại đội hay Tiểu đoàn đặc công nước, và các dũng sĩ số hai, số ba… của CHXHCN Việt Nam có cơ hội giải phóng Hoàng Sa, và “giải phóng” trường Sa thêm một lần nữa hay không? Có thể đây vẫn còn là một bí mật quân sự. Đến đây chợt nhớ lại câu mới đọc của một blogger trong nước, Hanwonders viết, “Một dân tộc gì mà độc ác và hèn hạ thế?” Cay đắng thật nhưng có lẽ không sai!
Trà Mi© DCVOnline
Nguồn:
- Trận đánh bất ngờ giải phóng Trường Sa của vị tướng già. Quế Ngân. Người Đưa Tin. 30-01-2012 | 06:20
 - Phillip B. Davision, BATTLE OF XUAN LOC
- George J. Veith và Merle L. Pribbenow, II,FIGHTING IS AN ART“Fighting is an Art”: The Army of the Republic of Vietnam’s Defense of Xuan Loc, 8-20 April 1975, The Journal of Military History 68 (January 2004): pp 163-214.

BIỂN ĐÔNG: Thượng viện Mỹ thông qua nghị quyết về Biển Đông

Sáng 3/8 theo giờ Việt Nam, Thượng viện Mỹ đã chính thức thông qua Nghị quyết về tình hình Biển Đông nhằm thể hiện phản ứng trước những động thái mới đây của Trung Quốc.

Nghị quyết mang số hiệu S.Res.524 do thượng nghị sĩ John Kerry 
và một số thượng nghị sĩ Mỹ giới thiệu. 
Ảnh: guardian

Nghị quyết mang số hiệu S.Res.524 khẳng định, Mỹ có lợi ích quốc gia về tự do hàng hải, hoà bình và ổn định trong khu vực biển Đông; tái khẳng định sự ủng hộ mạnh mẽ của Mỹ đối với Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC) ký giữa Trung Quốc với ASEAN năm 2002; ủng hộ việc các quốc gia thành viên ASEAN và Trung Quốc tiến tới Bộ quy tắc ứng xử của các bên trên biển Đông (COC) có tính ràng buộc pháp lý chặt chẽ. 

Nghị quyết cũng kêu gọi các bên liên quan tự kiềm chế, không tiến hành các hoạt động gây phức tạp thêm tình hình hoặc làm gia tăng khả năng xung đột, bao gồm cả việc đưa người ra những đảo, bãi đá, bãi cát ngầm hiện không có người ở; ủng hộ việc các bên liên quan thông qua các biện pháp ngoại giao để giải quyết tranh chấp dựa trên luật pháp quốc tế với tinh thần xây dựng.

Nghị quyết tái khẳng định cam kết của Mỹ hỗ trợ các nước trong khu vực đảm bảo cường thịnh và độc lập, vì hoà bình và ổn định của khu vực; mở rộng và làm sâu sắc hơn các quan hệ hợp tác về kinh tế, chính trị, ngoại giao, an ninh và văn hoá với ASEAN và các quốc gia thành viên; ủng hộ tự do hàng hải, việc duy trì hoà bình và ổn định, tôn trọng luật pháp quốc tế, bao gồm cả những giải pháp hoà bình đối với các tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông.

Nghị quyết này do thượng nghị sĩ John Kerry và một số thượng nghị sĩ Mỹ (Richard Lugar, John McCain, Jim Webb, James Inhofe và Joe Lieberman) giới thiệu lên Thượng viện.

Trước đó, khi đưa ra nghị quyết này, thượng nghị sĩ Kerry nói rằng, việc ASEAN không đạt được sự đồng thuận để đưa ra tuyên bố chung liên quan tới bộ quy tắc ứng xử tại hội nghị thượng đỉnh Campuchia đã làm tăng thêm căng thẳng giữa Trung Quốc và các láng giềng xung quanh. 

"Các tranh chấp này là có thật và trở nên nghiêm trọng hơn. Tôi nghĩ điều ít nhất Thượng viện có thể làm là thể hiện thái độ rõ ràng dứt khoát trong việc ủng hộ các nỗ lực của ASEAN để phát triển một bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông", ông Kerry nhấn mạnh. 

"Không còn nghi ngờ gì về việc Mỹ đã cam kết đảm bảo sự hiện diện lâu dài và thúc đẩy các mối quan hệ đối tác trong khu vực. Chúng tôi có một lợi ích rõ ràng trong an toàn và hành xử hợp pháp của tất cả mọi người trong hoạt động hàng hải chung của châu Á. Chúng tôi có lợi ích to lớn trong giải pháp hòa bình cho tất cả các vấn đề ở Biển Đông, phù hợp với luật pháp quốc tế và thông qua tiến trình ngoại giao đa phương", ông Kerry khẳng định. "Chúng tôi có những mối quan tâm lớn về tự do hàng hải và tự do thương mại. Đó là những nguyên tắc mà tất cả các nước trong khu vực nên ủng hộ". 

Chỉ trích TQ lập đồn trú

Liên quan tới các hành động gây hấn của Trung Quốc ở Biển Đông, ngày 3/8 Mỹ cũng đã lên tiếng chỉ trích việc Trung Quốc lập đồn trú tại cái gọi là “thành phố Tam Sa” ở Biển Đông. 

"Chúng tôi quan ngại khi căng thẳng gia tăng ở Biển Đông và đang theo dõi sát sao các diễn biến”, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ Patrick Ventrell tuyên bố.

"Đặc biệt, việc Trung Quốc nâng cấp hành chính với “Tam Sa” và thiết lập đơn vị đồn trú mới ở Biển Đông đã đi ngược lại những nỗ lực ngoại giao hợp tác để giải quyết các bất đồng và gây ra nguy cơ leo thang căng thẳng trong khu vực”, ông nói.

Ông Ventrell còn chỉ ra “những tuyên bố đối đầu” và các sự cố xảy ra trong vùng biển. Ông nói. “Mỹ thúc giục tất cả các bên tiến hành các bước để làm dịu căng thẳng”. 

Người phát ngôn Ventrell nhắc lại rằng, Mỹ có một lợi ích trong ổn định và “thương mại hợp pháp không bị cản trở” ở Biển Đông. 
Ngoài tranh chấp chủ quyền Biển Đông với các nước Đông Nam Á, Trung Quốc còn có tranh chấp với đồng minh của Mỹ là Nhật Bản ở biển Hoa Đông. Hôm qua (3/8), Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Satoshi Morimoto đã có các cuộc hội đàm tại Washington.

Thái An (theo AP, Huffington Post) 
http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/83452/thuong-vien-my-thong-qua-nghi-quyet-ve-bien-dong.html

***

112th CONGRESS
2d Session
S. RES. 524
Reaffirming the strong support of the United States for the 2002 declaration of conduct of parties in the South China Sea among the member states of ASEAN and the People’s Republic of China, and for other purposes.

IN THE SENATE OF THE UNITED STATES

July 23, 2012

Mr. KERRY (for himself, Mr. LUGAR, Mr. WEBB, Mr. INHOFE, Mr. LIEBERMAN, and Mr. MCCAIN) submitted the following resolution; which was referred to the Committee on Foreign Relations


RESOLUTION
Reaffirming the strong support of the United States for the 2002 declaration of conduct of parties in the South China Sea among the member states of ASEAN and the People’s Republic of China, and for other purposes.


Whereas the Association of Southeast Asian Nations (ASEAN) plays a key role in strengthening and contributing to peace, stability, and prosperity in the Asia-Pacific region;


Whereas the vision of the ASEAN Leaders in their goals set out in the ASEAN Charter to integrate ASEAN economically, politically, and culturally furthers regional peace, stability, and prosperity;
Whereas the United States Government recognizes the importance of a strong, cohesive, and integrated ASEAN as a foundation for effective regional frameworks to promote peace and security and economic growth and to ensure that the Asia-Pacific community develops according to rules and norms agreed upon by all of its members;


Whereas the United States is enhancing political, security and economic cooperation in Southeast 
Asia through ASEAN, and seeks to continue to enhance its role in partnership with ASEAN and others in the region in addressing transnational issues ranging from climate change to maritime security;


Whereas the United States Government welcomes the development of a peaceful and prosperous China which respects international norms, international laws, international institutions, and international rules, and enhances security and peace, and seeks to advance a ‘cooperative partnership’ between the United States and China;


Whereas ASEAN plays an important role, in partnership with others in the regional and international community, in addressing maritime security issues in the Asia-Pacific region and into the Indian Ocean, including open access to the maritime commons of Asia;


Whereas the South China Sea is a vital part of the maritime commons of Asia, including critical sea lanes of communication and commerce between the Pacific and Indian oceans;


Whereas, in the declaration on the conduct of parties in the South China Sea, the governments of the member states of ASEAN and the Government of the People’s Republic of China have affirmed ‘that the adoption of a code of conduct in the South China Sea would further promote peace and stability in the region’ and have agreed to work towards the attainment of a code of conduct;


Whereas, pending the peaceful settlement of territorial and jurisdictional disputes, the member states of ASEAN and the People’s Republic of China have committed to ‘exercise self-restraint in the conduct of activities that would complicate or escalate disputes and stability, including, among others, refraining from action of inhabiting presently uninhabited islands, reefs, shoals, and other features and to handle their differences in a constructive manner’;


Whereas, pending the peaceful settlement of territorial and jurisdictional disputes, the member states of ASEAN and the People’s Republic of China affirmed their commitment ‘to the freedom of navigation in and overflight of the South China Sea provided for by the universally recognized principles of international law, including the 1982 UN Convention on the Law of the Sea’; and
Whereas, although not a party to these disputes, the United States has national interests in freedom of navigation, the maintenance of peace and stability, respect for international law, and unimpeded lawful commerce: Now, therefore, be it
    Resolved, That the Senate--
      (1) reaffirms the strong support of the United States for the 2002 declaration of conduct of parties in the South China Sea among the member states of ASEAN and the People’s Republic of China;
      (2) supports the member states of ASEAN, and the Government of the People’s Republic of China, as they seek to adopt a legally binding code of conduct of parties in the South China Sea, and urges all countries to substantively support ASEAN in its efforts in this regard;
      (3) strongly urges that, pending adoption of a code of conduct, all parties, consistent with commitments under the declaration of conduct, ‘exercise self-restraint in the conduct of activities that would complicate or escalate disputes and stability, including, among others, refraining from action of inhabiting presently uninhabited islands, reefs, shoals and other features and to handle their differences in a constructive manner’;
      (4) supports a collaborative diplomatic process by all claimants for resolving outstanding territorial and jurisdictional disputes, allowing parties to peacefully settle claims and disputes using international law;
      (5) reaffirms the United States commitment--
        (A) to assist the nations of Southeast Asia to remain strong and independent;
        (B) to help ensure each nation enjoys peace and stability;
        (C) to broaden and deepen economic, political, diplomatic, security, social, and cultural partnership with ASEAN and its member states; and
        (D) to promote the institutions of emerging regional architecture and prosperity; and
      (6) supports enhanced operations by the United States armed forces in the Western Pacific, including in the South China Sea, including in partnership with the armed forces of others countries in the region, in support of freedom of navigation, the maintenance of peace and stability, respect for international law, including the peaceful resolution of issues of sovereignty, and unimpeded lawful commerce.
       
      e-mail

Trung Quốc nói Mỹ 'gửi tín hiệu sai lầm'

Cập nhật: 20:49 GMT - thứ bảy, 4 tháng 8, 2012
Tam Sa
Việt Nam phản đối mạnh mẽ việc thành lập thành phố Tam Sa
Bộ Ngoại giao Trung Quốc chính thức lên tiếng bác bỏ chỉ trích của Mỹ về việc nâng cấp đơn vị hành chính ở thành phố Tam Sa.
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Tần Cương bày tỏ "sự không hài lòng và phản đối mạnh mẽ", theo Tân Hoa Xã.
Ông này nói bình luận của Mỹ gửi đi "tín hiệu sai lầm nghiêm trọng, không có lợi cho nỗ lực bảo đảm hòa bình và ổn định của Nam Hải và châu Á Thái Bình Dương".
Ông nói việc thành lập Tam Sa "hoàn toàn thuộc chủ quyền của Trung Quốc".
Ông cũng cáo buộc Hoa Kỳ "mù quáng một cách chọn lọc" vì "có những nước khác" làm gia tăng căng thẳng.
Cũng trong ngày 4/8, một bình luận của Tân Hoa Xã nói Mỹ 'liệu mà cư xử'.
Hoa Kỳ hôm 3/8 ra tuyên bố về Biển Đông, trong một diễn biến bất thường trực tiếp bày tỏ bất đồng chính sách với Trung Quốc.
Sang ngày 4/8, bài bình luận của hãng tin Trung Quốc phản bác rằng cáo buộc của Mỹ "vô căn cứ, vô trách nhiệm".
Tân Hoa Xã khẳng định Trung Quốc "luôn duy trì kiềm chế ở mức tối đa".
Nói về Mỹ, bài báo viết "một mặt nước này nhấn mạnh sự trung lập, nói có phần trong sự ổn định và tự do đi lại trên biển".
"Mặt khác, họ thúc vài nước có tranh chấp tiến hành các bước khiêu khích để tạo ra thù địch," bài bình luận cáo buộc.
Tân Hoa Xã nói Trung Quốc "hoan nghênh vai trò xây dựng của Mỹ ở châu Á - Thái Bình Dương".
"Nhưng về vấn đề Nam Hải, Trung Quốc và các láng giềng liên quan có khả năng và sự khôn ngoan để tự giải quyết tranh chấp một cách hợp lý," bài báo kết luận.
Đề cập Tam Sa
Thông cáo của Bộ Ngoại giao Mỹ, ra hôm thứ Sáu 3/8, nói nước này "lo ngại về sự gia tăng căng thẳng tại khu vực Biển Đông và đang theo dõi sát sao tình hình".
Phó Phát ngôn Patrick Ventrell trực tiếp đề cập "việc Trung Quốc nâng cấp đơn vị hành chính ở thành phố Tam Sa và thiết lập một đơn vị quân sự đồn trú mới ở nơi này, bao trùm các vùng tranh chấp trên biển Nam Trung Hoa, đi ngược lại các nỗ lực hợp tác ngoại giao nhằm giải quyết các bất đồng, và có nguy cơ làm tăng căng thẳng trong vùng".
"Hoa Kỳ thúc giục tất cả các bên hãy hành động nhằm làm dịu căng thẳng."
Phó Phát ngôn Patrick Ventrell
"Hoa Kỳ thúc giục tất cả các bên hãy hành động nhằm làm dịu căng thẳng," ông nói.
Cuối tháng Sáu, Trung Quốc tuyên bố thành lập thành phố Tam Sa, rồi sau đó lại nâng cấp thành thành phố cấp khu vực.
Tuyên bố của Mỹ có thể được xem là một thắng lợi ngoại giao cho Việt Nam, nước đã phản đối việc thành lập thành phố Tam Sa trên đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa mà Hà Nội xem là của Việt Nam.
Trước đó hôm 2/8, Thượng viện Mỹ thông qua nghị quyết kêu gọi kiềm chế để không làm gia tăng căng thẳng trên Biển Đông.
Nghị quyết này cũng nói Hoa Kỳ "cam kết hỗ trợ các nước Đông Nam Á được mạnh mẽ và độc lập".
Mỹ chọn phe?
Bonnie Glaser, một chuyên gia về Trung Quốc ở Washington, nói Hoa Kỳ muốn củng cố đoàn kết trong Asean.
Bà ghi nhận tuyên bố của Bộ Ngoại giao Mỹ không đề cập thêm hành vi "khiêu khích" của nước nào khác.
Chi tiết này sẽ làm Trung Quốc khó chịu vì nước này "ngày càng xem Mỹ đã chọn phe và khiến Việt Nam và Philippines bạo gan đối đầu với Trung Quốc về vấn đề Biển Đông," bà phân tích.
Một nhà phân tích khác lại cảnh báo Hoa Kỳ có thể chỉ khiến Trung Quốc càng xem nghi ngờ của họ là chính xác.
Kenneth Lieberthal, một chuyên gia về Trung Quốc từng làm cho chính phủ Tổng thống Bill Clinton, nói: "Rất có thể Trung Quốc sẽ xem cảnh báo này không cần thiết, và xác nhận lo ngại của họ rằng Hoa Kỳ đang tìm cách đứng về phe các nước Đông Nam Á để chống lại họ.”
Tuyên bố của Bộ Ngoại giao Mỹ vẫn nhắc lại nước này "không đứng về bên nào trong các tranh chấp chủ quyền đối với các vùng lãnh thổ và không có tham vọng lãnh thổ ở Biển Nam Trung Hoa".
"Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng các quốc gia trong vùng cần phải phối hợp với nhau làm việc qua con đuờng ngoại giao để giải quyết các tranh chấp, không ép buộc, không hù dọa, không đe dọa và không sử dụng vũ lực," tuyên bố nói.
Bấm Bấm vào đây để xem ý kiến độc giả.

Chủ đề liên quan

Làm sao phân biệt được hàng “Made in China” ? // BOYCOTTE made in China - Tẩy-chay Hàng-hóa Tàu-phù

                                                                                                            
Cách trình bày ngoài hộp những sản-phẩm Made in China thường mập-mờ, thí-dụ Hộp Green Tea dưới đây:
Packed by: The royal Pacific Tea Company Inc. Po.Box 6277.Scottdale.Arizona 85261-6277 email : royalpacific@syspac.com
Nhưng xem lại Mã số vạch vẫn bắt đầu từ số 690 cho tới 695 !!
Hộp, bao gói ngoài trình-bày khá sang-trọng , nhìn không có vẻ bẩn-thỉu chút nào ! Nhưng phải coi-chừng !  Làm thế nào để phân biệt những sản phẩm được sản xuất tại Mỹ, hoặc ở Âu Châu , Nhật Bản …, hay Ba-Tàu?
Dưới đây là cách để biết nguồn gốc cuả các sản phẩm:
Có 3 chữ số đầu tiên của mã vạch xác định mã quốc gia ở đó sản phẩm được thực hiện.
Ví dụ: tất cả các mã vạch bắt đầu bằng :
690, 691, 692, 693 , 694 , 695 :
Tất cả được LÀM TẠI XỨ CCCC (CHỆT-CỘNG CHÓ-CHẾT )
Một thí-dụ :
Hãy nhìn kỹ mã-số “gạch đít” dưới đây :
Description:                                                           Description:                                                           IMAGE_14 471 is Made in Taiwan .
Mã vạch bắt đầu bằng 471 được in trên các sản phẩm xuất xứ Đài Loan.
Bạn có quyền được biết. Nhưng chính phủ và ngành liên quan không bao giờ thông báo hoặc giáo dục công chúng.
Hôm nay, các doanh nhân Ba Tàu biết rằng người tiêu dùng sẽ không lựa chọn sản phẩm sản xuất tại CCCC . Vì vậy, chúng cố gắng giấu tên của quốc gia sản xuất trên các sản phẩm của chúng ! Tuy nhiên, bạn có thể biết được xuất xứ của các sản phẩm nhờ những số đầu tiên của mã vạch.
Sản-phẩm được sản-xuất tại CCCC có mã-số bắt-đầu bằng 690 đến 695
CÁC MÃ VẠCH:
00 ~ 13   USA & CANADA  (không cần quan-tâm con-số thứ ba)
30 ~ 37   FRANCE  (có nghĩa là từ 30 , 31 … cho tới 37)
40 ~ 44  CHLB Đức (Những nước tân tiến mã-vạch chỉ cần 2 con-số là đủ xác-nhận)
57   Đan Mạch
64   Phần Lan
50   Vương Quốc Anh
76   Thụy Sĩ và Liechtenstein
628   Ả-Rập Saudi
629   United Arab Emirates
740 ~ 745   Các quốc-gia Trung Mỹ
Xin hãy thông-báo cho gia-đình và bạn-bè của chúng ta
ĐỪNG MUA BẤT CỨ SẢN-PHẨM NÀO
BẮT-ĐẦU BẰNG CÁC MÃ-SỐ SAU-ĐÂY : 690……………. 691……………. 692……………. 693……………. 694……………. 695…………….
***Còn một cách nữa để nhận-biết ra “Chú Ba”, đó là tìm mãi không thấy tên nước sản-xuất – thì đích-thị là chú.
Thiệt là nhục-nhã cho lũ gian-manh đáng ghê-tởm , trốn chui trốn lủi , không dám nhận mình là mình nữa ! HÈN !
Đừng quên nhé : 690 , 691 , 692 , 693 , 694 , 695
Từ 690 đến 695 = CCCC ( Chệt-Cộng Chó-Chết ) ! Hãy thảy ngay xuống !
Phong-trào Tẩy-chay Hàng-hóa Tàu-phù trên toàn Hoa-Kỳ đã bắt-đầu !
Mời tham-gia và phổ-biến rộng-rãi !!!
Hoa-Kỳ đang đi đầu thế-giới tẩy-chay hàng-hóa Tàu-Phù , cần phải “ngoạn-mục và khí-thế” để các nước khác noi theo ! Người Việt chúng ta hãy tích-cực tham-gia và phổ-biến rộng-rãi !
Người Việt Nam đừng quên bọn Chệt đánh đập
Ngư thuyền Việt Nam bị Chệt ủi đắm chìm, hãy trả thù bọn Chệt !
Share
Share This Post(Visited 43 times, 43 visits today)
This entry was posted in Tin Cộng Đồng NVHN khắp nơi and tagged , . Bookmark the permalink.

3 Responses to Làm sao phân biệt được hàng “Made in China” ?

  1. avatar TTKH says:
    Thế còn made in R.P.C. ? Mua 1 cái tournevis rất là đẹp ! Giá là 1 Eu , đem về vặn một cái là hết xẩy…quẹo ngay đầu !?
  2. avatar Lão Ngoan Đồng says:
    Đừng nói hàng hóa của Trung cộng rẻ. Hảy so sánh các hàng hóa của nước khác như là của Korea, Ấn Độ, Mã lai, Phi Luật Tân, v.v… cũng rẻ chán, cần gì hànghóa của Chệt cộng ? Tẩy chai nó đi, để xem nó còn xưng hùng xưng bá là con rồng Á Châu ( rồng mắc cạn) được chăng?
    • avatar Lão Ngoan Đồng says:
      Tốt nhứt là mua hàng hóa của nước mình đang trú ngụ, có thể giá có hơi cao một tí, nhưng giúp nền kinh tế của mình vững vàng, tránh nạn thất nghiệp cho dân của mình, có tốt hơn chăng ?

BOYCOTTE made in China
Tẩy-chay Hàng-hóa Tàu-phù
BOYCOTTE made in China
Tẩy-chay Hàng-hóa Tàu-phù
BOYCOTTE made in China
Tẩy-chay Hàng-hóa Tàu-phù
BOYCOTTE made in China
Tẩy-chay Hàng-hóa Tàu-phù
BOYCOTTE made in China
Tẩy-chay Hàng-hóa Tàu-phù




Quanlambao: Tương lai chúng ta là Biển Đông

Xây dựng một Biển Đông hòa bình cũng chính là xây dựng một Biển Đông thịnh vượng ở đó các công ước và luật quốc tế cần được tôn trọng và thực thi, chủ quyền và quyền chủ quyền hợp pháp chính đáng của mỗi nước cần được các nước khác tôn trọng căn cứ vào lịch sử, đạo lý chứ không phải dựa trên sức mạnh. Cuối cùng, các quốc gia có lợi ích trong khu vực sẽ cùng nhận thức một cách đúng đắn rằng nguồn năng lượng mà họ cần sẽ có được dễ dàng hơn, hiệu quả hơn và phù hợp với đạo lý hơn với tư cách một người bạn hàng, một đối tác chứ không phải một kẻ xâm lược.
HOT Links về Thống đốc Nguyễn Văn Bình   HOT Links về Chủ tịch Quốc Hội Nguyễn Sinh Hùng Hot Links về Tổng cục 2 Hot Links về Nội các Chính Phủ  Hot Links về Phạm Chí Dũng HOT Links về Vinaline  Hot Links Vikileaks  Hồ sơ Beo Hồ Thị Thu Hồng 

Việt Nam có một quá khứ biển. Tổ tiên của chúng ta, những người con của vua Rồng, bốn ngàn năm trước đã theo cha đi về biển. Nền văn minh Văn Lang gắn liền với biển và tục vẽ mình của tổ tiên ta là bằng chứng cho thấy hoạt động kinh tế chủ yếu của dân tộc ta thời ấy là khai thác sông nước, khai thác biển. Sử sách cổ đại đã mô tả nhân dân ta như là những người "thông thạo thủy tánh, bơi lội như rái cá".
Trong khi nhiều dân tộc trên thế giới gọi quốc gia mình là đất, dân tộc Việt Nam có lẽ là dân tộc duy nhất gọi quốc gia mình là nước. Sông, biển không những là không gian sinh tồn quý giá đã nuôi dưỡng giống nòi Việt qua bao đời nay, sông, biển còn là lá chắn của độc lập dân tộc. Trong suốt lịch sử giữ nước, sức mạnh thủy quân Việt Nam, biểu lộ qua những chiến công chói lọi mang tên Bạch Đằng, Như Nguyệt, Chương Dương, Hàm Tử, Rạch Gầm... luôn luôn là yếu tố rất quyết định trong việc đánh bại ngoại xâm, bảo vệ toàn vẹn đất nước.

Ngày nay dân tộc Việt có một dải đất đẹp đẽ rộng trên 330 ngàn cây số vuông nằm ven bờ Biển Đông, tựa lưng vào Trường Sơn, chạy dài từ dãy Nam Quan đến mũi Cà Mau, với gần 3.300 cây số bờ biển. Nhưng có bao nhiêu sách giáo khoa địa lý dạy con em chúng ta rằng Việt Nam còn có biển, có một thềm lục địa rộng trên 2 triệu cây số vuông, gấp bảy lần diện tích của đất liền, có một vùng đặc quyền kinh tế biển rộng trên 1 triệu cây số vuông, rằng chúng ta có trên 4.000 đảo lớn nhỏ, trong đó Phú Quốc có diện tích xấp xỉ Singapore, quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa giàu khoáng sản, dầu lửa, khí đốt. Hình như có lúc nào đó chúng ta đã quên biển và biển đã trở nên xa lạ và thù nghịch.

Có một lúc nào đó, chúng ta chỉ biết cố sức chắt từng giọt sữa từ đất mẹ. Nhưng với 90 triệu dân, chúng ta chỉ có được 7,7 triệu hécta đất canh tác, bình quân mỗi đầu người dân Việt chỉ có 0,085 hécta, mỗi nông dân có 0,2 hécta, thấp xa so với tiêu chuẩn đất canh tác tối thiểu quy định bởi Liên Hiệp Quốc là 0,4 hécta. Hiện nay, chúng ta có thể tự hào là một trong những nước xuất khẩu gạo hàng đầu trên thế giới với 7 triệu tấn gạo xuất khẩu trên tổng sản lượng gạo thu hoạch là 30 triệu tấn trong năm 2011. Tỷ lệ gạo xuất khẩu chiếm 25% trên tổng sản lượng gạo, nhưng so tổng sản lượng lương thực quy thóc thì chỉ chiếm 10% và tỷ lệ này chắc chắn là một tỷ lệ khó vượt.
Giàn khai thác khí Lan Tây của TNK Việt Nam ngoài khơi thềm lục địa Việt Nam. Ảnh Ngọc Nhi
Với diện tích canh tác giới hạn và có xu hướng thu hẹp do phát triển công nghiệp, do biến đổi khí hậu..., sản lượng gạo thặng dư để xuất khẩu có thể giảm dần theo thời gian khi dân số tăng lên. Nếu chỉ dựa vào đất, ai biết được rằng trong bao nhiêu năm nữa, sự gia tăng dân số sẽ "ngốn" hết phần gạo thặng dư sản xuất được để rồi sau đó, mọi nỗ lực của chúng ta sẽ chỉ nhằm tự túc lương thực như những nước đông dân khác đã gặp phải trên bước đường công nghiệp hóa, cho dù cơ cấu bữa ăn có thay đổi?

Tuy nhiên, điều may mắn là chúng ta còn có biển. Biển không những cho chúng ta nguồn dự trữ lương thực bổ sung dồi dào, biển còn cho chúng ta nguồn tài nguyên và năng lượng quý giá thiết yếu cho tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Dầu khí là bằng chứng cho thấy sự giàu có của thềm lục địa Việt Nam. Theo tài liệu của Tổng công ty Dầu khí, tổng trữ lượng dự báo địa chất của thềm lục địa Việt Nam là khoảng 10 tỉ tấn dầu, trữ lượng khai thác khoảng 4-5 tỉ tấn, trữ lượng khí đồng hành khoảng 200-300 tỉ m3. Đó chính là chỗ dựa của tương lai công nghiệp Việt Nam, buộc chúng ta phải có nhận thức rõ ràng hơn về mối quan hệ gắn bó của biển với lợi ích sinh tử lâu dài của Tổ quốc.
Bốn ngàn năm trước, để giúp nhân dân an toàn khai thác biển, vua Hùng đã chỉ cho kỹ thuật vẽ mình. Ngày nay, trong tình hình mới, chúng ta vừa khai thác biển vừa phải bảo vệ biển. Tình hình mới đặt ra những yêu cầu mới. Chúng ta không chỉ cần công nghệ cao hơn, phương tiện hiện đại tối tân hơn, con người được trang bị kiến thức kỹ năng cao hơn mà còn cần đến ý chí kiên định của toàn thể cộng đồng dân tộc trong việc bảo vệ toàn vẹn lãnh hải, thềm lục địa, bảo vệ an toàn cho ngư dân, cho những người khai thác khoáng sản và dầu mỏ trên thềm lục địa của chúng ta. Cần rút ra được bài học từ sai lầm trong quá khứ.
Hồ sơ Mafia Tàu tại VN Nhóm tội phạm Việt Nam Hot Links về chủ quyền HOT Links về Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng HOT Links về Tướng Nguyễn Văn Hưởng 
Một trăm năm mươi năm trước, vua Tự Đức, quên rằng Việt Nam là một quốc gia biển, đã bỏ ngoài tai những kiến nghị phát triển lực lượng hải quân và thương thuyền của Nguyễn Trường Tộ, tiếp tục theo đuổi chính sách bế quan tỏa cảng, không giao lưu với phương Tây, ôm chặt ảo tưởng về sự an toàn của vương triều đằng sau các bức tường thành khép kín. Chính sách đóng cửa một mặt làm nước ta mất đi một lực lượng hải quân hùng mạnh với những chiến thuyền tuy nhỏ nhưng trang bị hiện đại từng tung hoành ở Biển Đông, đánh bại các hạm đội phương Tây trong suốt hai thế kỷ từ thời Trịnh - Nguyễn phân tranh đến thời Quang Trung hoàng đế, mặt khác làm tan rã giấc mơ - và cơ hội - có một đội thương thuyền lớn ngang dọc trên các đại dương. Cái giá phải trả quá đắt: một trăm năm mất nước và một trăm năm lạc hậu về công nghệ đóng tàu.
Gần hai mươi năm trước, ông Lưu Văn Lợi, nguyên Trưởng ban Biên giới hải đảo của Chính phủ cũng đã đề xuất rằng thế đi lên của nước ta là phải dựa trên hai chân: đất liền và biển. Ông kêu gọi "cần có một kế hoạch hoàn chỉnh phát triển kinh tế, bảo đảm an ninh đất nước, vạch chiến lược biển cũng như vạch một chiến lược cho đất liền".

Một chiến lược biển lâu dài, đó là điều hết sức sinh tử cho sự cường thịnh của tổ quốc, nhưng để hoàn thành được các mục tiêu chiến lược cho từng giai đoạn lịch sử, chúng ta phải nhanh chóng xây dựng, ngay từ hôm nay, nguồn tài chính cộng đồng cho chiến lược biển. Chúng ta cần có một Quỹ Biển Đông.
Thử hình dung mỗi người dân Việt mỗi ngày dành dụm đóng góp vào Quỹ Biển Đông chỉ một ngàn đồng, sau năm năm, Quỹ Biển Đông sẽ có được một số tiền không nhỏ là trên 150 ngàn tỉ đồng. Với số tiền này, cùng với Nhà nước và các doanh nghiệp Việt Nam, chắc chắn Quỹ Biển Đông sẽ chung sức làm được nhiều việc: huấn luyện ngư dân và đào tạo đội ngũ khai thác tài nguyên biển, trang bị máy móc, thiết bị hiện đại cho đánh bắt và khai thác tài nguyên trên biển và trong thềm lục địa, tổ chức nghiên cứu biển, thềm lục địa, xây dựng một đội thương thuyền Việt Nam xứng đáng với tầm cỡ một quốc gia biển, phát triển lực lượng hải quân, không quân cùng hệ thống phòng thủ và bảo vệ lãnh thổ, lãnh hải trên các hải đảo và ven biển, bảo vệ môi trường và sự đa dạng sinh học biển... Nhưng điều quan trọng của Quỹ Biển Đông không chỉ là nguồn tài chính. Sự ra đời của Quỹ Biển Đông khẳng định sự đoàn kết, thống nhất ý chí của toàn thể cộng đồng dân tộc Việt cả trong nước lẫn ngoài nước trong quyết tâm bảo vệ và phát triển đất nước, tiến đến một tương lai cường thịnh.

Những sự tranh chấp gần đây ở Biển Đông cho thấy tham vọng về lãnh thổ - thực chất là tham vọng về nguồn năng lượng dầu hỏa - và chính sách pháo hạm của Trung Quốc đang đe dọa thổi bùng lò lửa chiến tranh ở Biển Đông. Chiến tranh chắc hẳn là một điều chẳng lành và không ai muốn, nhưng hòa bình ở Biển Đông cũng chắc chắn không thể có được bằng sự nhượng bộ đơn phương của một bên yếu hơn. Một sự lùi bước như thế về lâu về dài sẽ trở thành điều kiện dẫn đến chiến tranh sau này, khi mọi sự tức nước vỡ bờ. Lý thuyết về cửa sổ phá vỡ cho thấy rằng bất cứ một cửa sổ vỡ nào cũng cần được vá lại ngay, trước khi cửa sổ thứ hai bị ném vỡ.
Mỗi nước trong vùng cũng cần có ý chí và hành động kiên quyết bảo vệ từng tấc đất, từng hòn đảo thuộc lãnh thổ, lãnh hải của mình, cũng là góp phần bảo vệ luật pháp, công ước quốc tế về Biển Đông. Cuộc tranh chấp trên Biển Đông hiện nay phảng phất mô hình chiến lược đối kháng Liên Hoành - Hợp Tung thời Chiến quốc giữa Tần và sáu nước Tề, Ngụy, Triệu, Hàn, Yên, Sở mà thành công của Hợp Tung phải dựa vào sự đồng tâm hiệp lực và đoàn kết nhất trí của các nước nhỏ hơn liên kết lại. ASEAN và mỗi quốc gia Biển Đông trong ASEAN có thể sẽ cùng nhau bảo vệ được hòa bình và chủ quyền lãnh thổ lãnh hải của mình nếu học được kinh nghiệm đáng giá đó.

Xây dựng một Biển Đông hòa bình cũng chính là xây dựng một Biển Đông thịnh vượng ở đó các công ước và luật quốc tế cần được tôn trọng và thực thi, chủ quyền và quyền chủ quyền hợp pháp chính đáng của mỗi nước cần được các nước khác tôn trọng căn cứ vào lịch sử, đạo lý chứ không phải dựa trên sức mạnh. Cuối cùng, các quốc gia có lợi ích trong khu vực sẽ cùng nhận thức một cách đúng đắn rằng nguồn năng lượng mà họ cần sẽ có được dễ dàng hơn, hiệu quả hơn và phù hợp với đạo lý hơn với tư cách một người bạn hàng, một đối tác chứ không phải một kẻ xâm lược. Tiến hành chiến tranh để chiếm đoạt nguồn năng lượng của người khác chắn chắn sẽ tốn kém hơn rất nhiều lần chi phí mua nó một cách sòng phẳng và công bằng.
Hậu duệ của những người con vua Rồng ngày nay đang hướng về biển. Lịch sử lặp lại, nhưng với một tầm vóc mới. Ngày xưa, biển đã che chắn, ấp ủ những hạt giống văn minh đầu tiên của dân tộc Việt. Bây giờ, biển đang cung cấp những nguồn năng lượng quý giá cần thiết cho sự đâm chồi, nảy lộc của những hạt giống đó. Một bình minh công nghiệp của Việt Nam đang ló dạng từ Biển Đông. Biển Đông, đó là tương lai của chúng ta.
Theo Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần

Thực tế là Trung Quốc chiếm đảo của Việt Nam bằng vũ lực

Trần Trung Sơn (CATP) - Là người được đào tạo chuyên sâu về luật pháp quốc tế ở các trường đại học chuyên ngành luật danh tiếng của Đức, Mỹ, từ năm năm nay dành thời gian nghiên cứu sâu các vấn đề liên quan đến biển Đông, luật sư Trương Trọng Nghĩa phân tích thấu đáo giá trị của những tấm bản đồ đối với chủ quyền của một quốc gia.

Luật sư Trương Trọng Nghĩa - ủy viên Ủy ban Tư pháp của Quốc hội 

NĂM YẾU TỐ CHỨNG MINH CHỦ QUYỀN 

Để chứng minh chủ quyền của một quốc gia thì phải có chứng cứ, biển Đông cũng không ngoại lệ. Có nhiều phương thức, nhiều phương pháp để thu thập chứng cứ. Cho đến nay, có năm phương thức, phương pháp hay năm loại chứng cứ chứng minh chủ quyền của một quốc gia trên biển. 

Thứ nhất, phải căn cứ hành động thực tế diễn ra trong lịch sử. Trong thời nhà Nguyễn và triều Nguyễn của Việt Nam, chính quyền đã có hành động thực tiễn là chiếm hữu và khai thác trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa một cách hòa bình và liên tục với tư cách nhà nước, khi chưa có bất cứ nước nào tuyên bố chủ quyền ở đó. Chứng cứ hiện nay còn được lưu giữ là các bản chiếu lệnh cử các đội Hoàng Sa, Bắc Hải ra khai thác, bảo vệ hai hòn đảo của ta. Năm 1816, vua Gia Long còn cho thượng cờ trên đảo Hoàng Sa. Trong khi đó, hành động thực tế của Trung Quốc là dùng vũ lực chiếm quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam vào các năm 1956 và 1974 trong thế kỷ XX, sau khi nhà nước Việt Nam đã hiện diện, khai thác và quản lý đảo hơn 200 năm. Đó là những hành động với chứng cứ không thể chối cãi. 

Thứ hai, căn cứ vào các tài liệu viết, sách báo ấn hành từ trước tới nay. Ví dụ, các tài liệu, sách cổ nước ta từ thế kỷ XVII đã ghi chép việc Việt Nam đã khai thác hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ thế kỷ XV và chính thức kéo cờ thực thi chủ quyền từ năm 1816. Nhiều sách báo, tài liệu cổ nước ngoài cũng ghi nhận chủ quyền của Việt Nam từ thế kỷ XVII trên hai quần đảo này. 

Thứ ba là các bản đồ (chiếm vị trí đặc biệt trong số các chứng cứ về chủ quyền) được phát hành một cách chính thức của nhà nước, thể hiện lãnh thổ mà quốc gia đó thừa nhận là đang có chủ quyền. 

Bản đồ của nhà Thanh Trung Quốc thể hiện rõ ràng ranh giới cực Nam của họ là đảo Hải Nam 

Thứ tư là các hiệp ước, hiệp định giữa các quốc gia ký với nhau. 

Thứ năm là các văn bản, văn kiện nhà nước chính thức của mỗi quốc gia. Ví dụ, các châu bản triều Nguyễn, các chỉ dụ của vua chúa Việt Nam và Trung Hoa hay các quan chức chính quyền địa phương. 

TRUNG QUỐC VỐN RẤT NGẠI RA BIỂN 

Trong năm loại chứng cứ trên, bản đồ có vị trí đặc biệt quan trọng về mặt pháp lý. Có bản đồ do nhà nước chính thức phát hành, hoặc các bản đồ lập nên bởi các nhà hàng hải, các công ty hoạt động thương mại trên biển. Ngoài ra còn có các bản đồ do chính quyền địa phương của mỗi quốc gia thực hiện. Tấm Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ của nhà Thanh (Trung Quốc) ấn hành năm 1904 vừa được công bố là rất quan trọng, cho thấy lãnh thổ Trung Hoa từ xa xưa không hề có hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa như nhà nước Trung Quốc hiện nay tuyên bố. 

Ngoài tấm bản đồ này, hiện có nhiều nhà nghiên cứu của nước ta và quốc tế đã sưu tầm và lưu giữ rất nhiều bản đồ liên quan đến lãnh thổ, lãnh hải của Trung Quốc, do chính Trung Quốc phát hành, cho thấy nước Trung Hoa không hề có hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. 

Trung Quốc là một quốc gia có kỹ nghệ bản đồ phát triển khá sớm. Một loạt bản đồ về lãnh thổ Trung Hoa cho đến năm 1917 không có Hoàng Sa, Trường Sa mà đều ghi điểm cực Nam Trung Quốc chỉ tới đảo Hải Nam. Đến năm 1917, bản đồ Trung Hoa dân quốc tân khu vực đồ ghi thêm đảo Hoàng Sa bằng một ô vuông phụ, nhưng vẫn chưa có quần đảo Trường Sa. Có nhiều bản đồ của Trung Quốc thể hiện giống như Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ, và Trung Quốc cũng như nhiều nước khác hiện vẫn còn lưu giữ những bản đồ như vậy. Thạc sĩ Chử Đình Phúc (Viện Khoa học xã hội Việt Nam) tìm thấy tám bản đồ Trung Quốc ấn hành từ năm 1905 đến 1935 đều thể hiện cực Nam Trung Quốc chỉ đến đảo Hải Nam và không có Hoàng Sa, Trường Sa. Một số lượng không nhỏ bản đồ của Trung Quốc, từ cổ đại, cận đại và hiện đại, đều không hề có hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Cho nên, lý lẽ của Trung Quốc về “chủ quyền lịch sử” của họ trên hai quần đảo này là không thể chấp nhận được. 

Nhà nghiên cứu Hồ Bạch Thảo đã chứng minh được rằng theo các sử chí Trung Hoa, gồm cả chiếu chỉ, chỉ dụ của các hoàng đế Trung Quốc, tới thế kỷ 18, vùng biển Việt Nam chiếm gần hết vịnh Bắc Bộ, sát đảo Hải Nam. Do năng lực hàng hải của họ hạn chế, hoặc đã từng tham gia khai thác biển nhưng không thành công, Trung Quốc đã từng có chính sách không hướng ra biển. Suốt hai triều đại Minh, Thanh, Trung Quốc chỉ phòng thủ trên bờ và ven biển, không màng đến biển cả. Ngay cả đảo lớn giàu tài nguyên như Đài Loan, Bành Hồ, cũng từng được liệt vào hàng ngoại quốc trong Minh Sử. Sử sách các thời Càn Long, Quang Tự của họ thừa nhận biên giới biển của Việt Nam về phía bắc là biển Bạch Long Vĩ (không phải đảo Bạch Long Vĩ của Việt Nam) tiếp giáp với Long Môn cảng trấn thuộc vịnh Quỳnh Châu, và về phía đông thì tiếp với đảo Vi Châu (Trung Quốc), phía bắc của đảo Hải Nam, nghĩa là vùng biển Việt Nam chiếm phần lớn vịnh Bắc Bộ hiện nay. Sau Hòa ước Thiên Tân (1885) và các hòa ước Pháp - Thanh sau đó, chính Pháp giao lại cho triều đình nhà Thanh (Trung Quốc) vùng biển Bạch Long Vĩ của Việt Nam. Nghĩa là cho đến Hòa ước Thiên Tân, sử chí của Trung Quốc ghi nhận biên giới biển của Trung Quốc chưa hề quá đảo Hải Nam, nói gì đến vùng biển Đông rộng lớn và đặc biệt là không hề có hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. 

LÀ TÀI LIỆU CỦA NHÀ NƯỚC THÌ KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN 

Là một luật sư có quan tâm nghiên cứu về công pháp quốc tế, tôi khẳng định, tấm Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ mà chúng ta vừa công bố, cùng với hàng loạt bản đồ khác tương tự của Trung Quốc là chứng cứ có giá trị pháp lý. Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ là bản đồ được lập ra bởi các giáo sĩ và nhân sĩ Trung Hoa và ngoại quốc được chỉ định bởi vua Khang Hy, sau đó được ấn hành bởi một cơ quan nhà nước và lưu hành chính thức, do đó đây là một tài liệu mang tính chất nhà nước. 

Tuy nhiên, chúng ta phải hết sức thận trọng, thông minh và tỉnh táo khi công bố, phổ biến và sử dụng các bản đồ. Phải thu thập tất cả các loại bản đồ cổ và cận đại của Việt Nam, của Trung Quốc và của các nước khác có mô tả biển Đông hay biên giới biển Việt - Trung. Phải mau chóng, nhất thiết có được và gìn giữ kỹ những tài liệu gốc, càng nhanh, càng nhiều càng tốt. Nếu không có tài liệu gốc, phải tổ chức sao chụp một cách chính xác, khoa học để sử dụng như một chứng cứ pháp lý. Phải tổ chức hệ thống hóa, nghiên cứu, phân tích các loại bản đồ khác nhau của Trung Quốc, kể cả các bản đồ có nội dung khác hay mâu thuẫn nhau, trên quan điểm khoa học và pháp lý. Công việc này cần có sự phối hợp, các cơ quan nhà nước và các nhà nghiên cứu, học giả, luật sư và giới sưu tập tư nhân, trong đó nhà nước giữ vai trò nòng cốt. 

Quan điểm nhà nước Việt Nam là giải quyết tranh chấp chủ quyền trên biển Đông dựa trên luật pháp quốc tế, nhất là Công ước về Luật Biển của Liên hợp quốc năm 1982, và không loại trừ việc đấu tranh tại tòa án quốc tế. Hiện nay, Trung Quốc khước từ tòa án quốc tế, bác bỏ vai trò của quốc tế và phương thức giải quyết đa phương. Tuy nhiên, rất có thể Trung Quốc từ lâu đã và đang tích cực chuẩn bị cho cuộc đấu tranh pháp lý này. Họ là một nước lớn có thực lực về chính trị, tài chính và chuyên gia. Việt Nam phải chuẩn bị để giành thắng lợi trong cuộc chiến pháp lý này, để làm sáng tỏ một sự thật trước toàn thế giới: Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam, đã bị Trung Quốc xâm lược bằng vũ lực và chiếm đóng trái phép. Đây cũng là trách nhiệm của thế hệ chúng ta đối với con cháu mai sau.