Thứ Bảy, 9 tháng 10, 2010

Ngàn Năm Thăng Long - Nguyên Hoàng Bảo Việt


1.
Đêm nay Hà Nội nhớ Thăng Long
Nhớ thời Vua Lý thêm đau lòng
Năm mươi tư Rồng rơi nước mắt
Tiễn dân miền Bắc ra biển Đông


Đêm nay Hà Nội nhớ Thăng Long
Biết Vua thời Lý cũng đau lòng
Bảy mươi lăm Rồng không về nữa
Bay với thuyền nhân ra biển Đông


Đại La thành dựng tượng Lê Ninh
Bá Bạch Quân Thủ Đức hành hình
Ven sông Hồng dân oan đói khổ
Rời Hoa Lư về núi Chí Linh


Nam Quan mất Chi Lăng bỏ ngỏ
Bát men Ngọc Lý cống Bắc triều
Hà Hồi im tiếng trống Ngọc Lũ
Bản Giốc thác buồn nghe quốc kêu


Đêm nay Hà Nội nhớ Thăng Long
Nhớ thời Vua Lý thêm đau lòng
Lê Chiêu Thống thờ trong Văn Miếu
Mưa Hồ Gươm mặn cát Hoàng Sa
Sóng Bạch Đằng khóc voi Trưng Triệu
Cao Nguyên rước Mã Viện vào nhà


Đêm nay Hà Nội nhớ Thăng Long
Biết Vua thời Lý cũng đau lòng
Người đi dưới ánh sao Khuê đó
Vững tin nơi Hồn Thiêng Núi Sông.


2.
Từ chốn lưu đày nhớ Thăng Long
Bà Huyện Thanh Quan cũng đau lòng
Thương xót dân Nam Rồng rơi nước mắt
Khóc bao người mất tích biển Đông


Hà Nội không chỉ nhớ Thăng Long
Nhớ Sài Gòn Huế, nhớ Hải Phòng
Nhớ bạn tù chết trong ngục tối
Nhớ anh chị em tù bất công


Bịt mắt bưng tai giam tiếng nói
Công lý phi nhân luật bạo quyền
Án tù chồng chất tội yêu nước
Vệ binh Mao quý hơn đồng bào
Ai rao bán trẻ con phụ nữ?
Thế giới nhìn Việt Nam hôm nay
Xuất cảng lao nô đảng tỉ phú
Quan tham ô bắt dân kéo cày


Đêm nay Hà Nội nhớ Thăng Long
Nhớ thời Vua Lý thêm đau lòng
Từ buổi kinh đô bị giặc chiếm
Cành Nam bốn mùa chẳng đổi thay
Quanh Trụ Đồng công an tuần rảo
Em ơi Chim Việt có bình yên


Đêm nay Hà Nội nhớ Thăng Long
Biết Vua thời Lý cũng đau lòng
Người đi dưới ánh sao Khuê đó
Vững tin nơi Hồn Thiêng Núi Sông.


Nguyên Hoàng Bảo Việt
(10.2010)

Thứ Sáu, 8 tháng 10, 2010

Hiệp Hội Doanh Nhân Việt Nam: Trong Chiến Lược Tòan Cầu Cộng Sản

Nguyễn Quang Duy


Để kiểm sóat cộng đồng người Việt hải ngọai đảng Cộng sản đã cho ban hành Nghị Quyết 36. Sau đó lại cho trào đời một tổ chức ngọai vi là Hiệp Hội Doanh Nhân Việt Nam tại nước ngòai. Nghị Quyết 36 nêu rõ 4 điều mà đảng Cộng sản đang muốn tận dụng từ người Việt hải ngọai: tiền, trí tuệ, chính trị và ngọai giao (với các chính quyền không cộng sản). Bài viết này xin được vắn tắc phân tích 4 điều nói trên và vai trò của Hiệp Hội Doanh Nhân Việt Nam để hiểu rõ mục tiêu chiến lược của cộng sản giúp đẩy mạnh tiến trình dân chủ tại Việt Nam.


Tiền vào


Theo Phạm Thiếu Hoa, Tổng Thư ký Hiệp Hội Doanh Nhân Việt Nam, hằng năm người Việt hải ngọai đã gởi về Việt Nam từ 8 đến 10 tỷ Mỹ kim và 60 đến 70 phần trăm nguồn tiền này đã được gởi về từ Hoa Kỳ. Nếu thêm vào nguồn tiền chợ đen và số tiền người Việt thăm gia đình mang về thì con số chắc chắn phải trên 10 tỷ Mỹ Kim.


Số tiền khi về đến Việt Nam tạo ra công ăn việc làm cho hằng triệu người. Những người có việc làm dùng lợi tức kiếm được mua sắm lại tạo thêm công ăn việc làm. Cứ thế vòng lưu chuyển của đồng tiền tiếp tục đóng góp vào nền kinh tế quốc dân. Kết quả đóng góp từ cộng đồng hải ngọai vào Tổng thu nhập quốc dân có thể lên đến vài chục phần trăm. Một tỷ lệ đóng góp lớn hơn bất cứ lãnh vực kinh tế nào tại Việt Nam . Lớn hơn cả đóng góp từ những khỏan đầu tư, viện trợ và vay mượn từ người nước ngòai. Những khỏan tiền này lại không phải là những khỏan nợ quốc tế về sau phải trả.


Nói cách khác người Việt hải ngọai đã đóng góp phần không ít cho nền kinh tế Việt Nam . Trước đây có lập luận cho rằng đổi mới kinh tế sẽ dẫn đến đổi mới chính trị. Thực tế chứng minh ngược lại: kinh tế khá hơn giúp đảng Cộng sản ngụy biện về tài lãnh đạo sáng suốt của “Đảng” để tiếp tục nắm giữ độc quyền cai trị, ban phát quyền hành và ra sức đàn áp mọi tiếng nói đối lập đòi tự do, dân chủ và độc lập dân tộc.


Cũng chính vì sự đóng góp to lớn này đảng Cộng sản mới đề ra Nghị Quyết 36 và cho thành lập Hiệp Hội Doanh Nhân Việt Nam để tiếp tục ra sức bòn rút ngọai tệ từ người Việt hải ngọai.


Về đầu tư trực tiếp, Phạm Thiếu Hoa đã xác nhận trong khi người Việt hải ngọai hằng năm chuyển hằng chục tỷ Mỹ kim về Việt Nam thì con số đầu tư trực tiếp từ giới thương gia chỉ khỏang hơn 200 triệu. Vai trò của giới doanh nhân trong việc phát triển kinh tế hết sức quan trọng. Họ vừa chuyển tiền về đầu tư, vừa mang về nước kiến thức kinh doanh, vừa giúp kết nối các doanh nghiệp ngọai quốc và luôn sẵn sàng chấp nhận mọi rủi ro để thành đạt trên thương trường.


Giới doanh nhân hải ngọai không về nước đầu tư vì họ hiểu quá rõ thực trạng tại Việt Nam : môi trường cạnh tranh thiếu lành mạnh, độc quyền kinh tế, độc quyền chính trị, tham nhũng có hệ thống, chính sách bất nhất, luật pháp thiếu nghiêm minh…


Giới doanh nhân cũng là người Việt tỵ nạn cộng sản, cũng yêu chuộng tự do, dân chủ và độc lập dân tộc như đại đa số đồng bào hải ngọai. Không ít thương gia hải ngọai cũng ước mong một Việt Nam Tự Do để có cơ hội đầu tư tại quê cha đất tổ.


Sự thực không phải tất cả ngọai tệ do người Việt hải ngọai gởi về đều đóng góp vào sự phát triển Việt Nam như đã nói ở bên trên. Một phần ngọai tệ được đảng Cộng sản giữ lại để trang trải các họat động công khai hay lén lúp của cộng sản tại hải ngọai. Hai Quyết Định thành lập Hiệp Hội Doanh Nhân Việt Nam chỉ thấy Hiệp Hội này được kiểm sóat, theo dõi và điều hành từ các cơ quan tình báo cộng sản Tổng Cục II (Bộ Quốc Phòng) và Tổng Cục V, C 13 (Bộ Công An).

Lần này người viết xin phổ biến Quyết Định thứ 3: Quyết định Phê duyệt Điều lệ của Hiệp Hội Doanh Nhân Việt Nam tại nước ngòai do Thứ trưởng Bộ Nội Vụ cộng sản Nguyễn Tiến Dĩnh phê chuẩn. Quyết định này cũng được chuyển đến hai cơ quan tình báo nói trên để kiểm tra theo dõi Hiệp Hội này. (Xin xem Quyết Định đính kèm)


Riêng về bản Điều Lệ, trong Điều 14 về Ban chấp hành Hiệp hội khỏan số 2 ghi rõ “Bộ Ngoại giao - Uỷ ban nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, ... cử người tham gia Ban Chấp hành Hiệp hội với quyền hạn và trách nhiệm như các uỷ viên khác của Ban chấp hành.” Cũng cần biết đa số nhân viên ngọai giao Việt Nam đều đã làm cho Bộ Nội Vụ hay Bộ Công An trước khi gia nhập Bộ Ngọai Giao và được gởi ra phục vụ tại hải ngọai. Cũng dưới chế độ cộng sản tất cả cán bộ, nhân viên và đảng viên ngòai trách nhiệm chuyên môn như ngọai giao còn có bổn phận phải thâu nhặt và báo cáo mọi thông tin đến cấp trên. Nói một cách khác họ đều phải làm công tác gián điệp và họ được đặt trong Ban Chấp Hành Hiệp Hội không ngòai mục đích nêu trên.


Phạm Thiếu Hoa cũng ngầm xác nhận vì cần tiền nên đảng Cộng sản mới khai sinh Hiệp Hội Doanh Nhân Việt Nam ở nước ngoài. Sự khai sinh và công khai họat động của tổ chức ngọai vi này vừa thách thức vừa đe dọa cho an sinh của người Việt hải ngọai.


Tiền Ra


Tiền vào Việt Nam thì cũng phải có tiền rời khỏi Việt Nam . Khỏan tiền rời Việt Nam chưa có thống kê khả tín nhưng chủ yếu phát xuất từ các tập đòan kinh tế do các đảng viên cao cấp đảng Cộng sản nắm giữ. Các khỏan tiền này khi đã được hợp thức hóa thường được đầu tư vào các khu vực đông người Việt sinh sống, nhằm cả hai mục đích kinh tế và chính trị.


Các tập đòan kinh tế cộng sản với nguồn vốn hết sức dồi dào nên xẩy ra cảnh “cá lớn nuốt cá bé”. Cá bé là những thương gia tỵ nạn, những người buôn bán nhỏ lấy công sức gia đình làm chính. Nếu cá bé lại là những thương gia Việt Nam không chấp nhận cộng sản thì họ sẽ bị chính tập đòan cộng sản tiêu diệt trước tiên. Khi đã tiêu diệt được các thương gia Việt Nam , đảng cộng sản sẽ nắm độc quyền kinh doanh và thao túng, cả kinh tế lẫn chính trị, tại các khu vực đông người Việt sinh sống.


Theo tin từ VietPress USA, ngày 01/10/2010 vừa qua Bộ Trưởng Bộ Kế Hoạch Và Đầu Tư của CSVN, Võ Hồng Phúc dẫn đầu một phái đoàn đến San Francisco Hoa Kỳ để vận động đầu tư. Phái Đoàn Võ Hồng Phúc họp với một số người trong tổ chức Hiệp Hội Doanh Nhân Việt Mỹ để nghe phúc trình của tổ chức nầy và hoạch định kế hoạch sắp tới. Theo bản tin: “Hội nầy có trụ sở chính khai báo tại San Francisco , nhưng nay quyết định sẽ mở văn phòng lớn tại San Jose và Orange County là những nơi có đông người Việt chống Cộng sinh sống tập trung”. Cũng theo bản tin: “… sau chuyến đi nầy của Võ Hồng Phúc, nhóm Việt Kiều tổ chức Hiệp Hội Doanh Nhân Việt Mỹ sẽ thông đồng với Bộ KH&ĐT của CSVN để đặt điều kiện những cá nhân hay công ty nào do Việt Kiều làm chủ mà muốn vào làm ăn kinh doanh với Việt Nam thì buộc phải gia nhập làm hội viên của Hiệp Hội Doanh Nhân Việt Mỹ thì mới được Hà Nội cấp giấy phép cho vào Việt Nam một cách dễ dàng.”


Để bảo vệ môi trường sinh họat tự do, bảo vệ quyền lợi cũng như an sinh, chúng ta không có một chọn lựa khác hơn là phải tích cực và triệt để chống lại mọi sự xâm nhập của cộng sản vào cộng đồng người Việt hải ngoại. Để chống lại không có gì hay hơn là chịu hy sinh giảm bớt về thăm gia đình, giảm bớt gởi tiền về gia đình, giảm bớt việc làm ăn đầu tư với Việt Nam … Đương nhiên sự hy sinh của chúng ta sẽ ảnh hưởng đến đời sống của gia đình chúng ta và của một số đồng bào trong nước. Nhưng ngược lại nhờ sự hy sinh của chúng ta đảng Cộng sản mới thấy rõ hơn sức mạnh của người Việt hải ngọai, đặt biệt người Việt tại Hoa Kỳ. Sức mạnh của ngân kim là một vũ khí quan trọng mà người Việt hải ngọai có được nhưng chưa sử dụng đúng hiệu năng của nó.

Tiếp theo >>

Hiệp Hội Doanh Nhân Việt Nam: Trong Chiến Lược Tòan Cầu Cộng Sản (tt)

Trí Tuệ.


Sau tiền là trí tuệ của trên nửa triệu các chuyên viên kỹ thuật, nghiên cứu, giảng dạy ... được đào tạo và làm việc tại những quốc gia tân tiến nhất thế giới , như Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Úc ..., trong mọi ngành nghề từ kinh tế, xã hội, thương mãi đến nguyên tử không gian. Một lực lượng chuyên gia đủ kỹ năng đưa Việt Nam từ một quốc gia chậm phát triển vươn lên hội nhập vào các quốc gia đang phát triển.


Cho đến nay chỉ một con số thật nhỏ lực lượng chuyên gia hải ngọai cộng tác với đảng Cộng sản. Trong số này có Luật sư Nguyễn Hữu Liêm, một thành viên trong Ban Chấp Hành Hiệp hội Doanh nhân Việt Nam tại Hoa Kỳ. Điều đáng nói là chính luật sư Liêm sau lần về Việt Nam tham dự “Hội Nghị Ngừơi Việt Tòan Thế Giới” đã phải tiết lộ niềm tin mà đảng Cộng sản đã dành cho ông và những người tham dự Hội Nghị. Ông Liêm cho biết công an đón ông tại phi trường, công an đưa vào khách sạn, công an bảo vệ, công an đưa đến Hội Nghị, đầy công an bên trong Hội Nghị và (có thể) ông đã được công an đưa ra phi trường ngay sau khi Hội Nghị bế mạc. Chắc ông Liêm cũng rõ nhưng không dám nói ra cái Hiệp Hội do ông đại diện cũng đầy công an và gián điệp được cài vào.


Vừa rồi việc giáo sư Phạm Minh Hòang, đảng viên đảng Việt Tân , bị bắt tạo thêm sự ngờ vực giữa đảng Cộng sản và tầng lớp chuyên gia hải ngọai. Đảng Cộng sản thừa biết đại đa số chuyên gia hải ngọai là những người trốn cộng sản tìm tự do. Họ lại được đào tạo và sinh họat trong môi trường tự do thì không dễ gì nghe theo Cộng sản.


Ngược lại tầng lớp chuyên gia hải ngọai lại là thành phần năng nổ nhất trên mặt trận đấu tranh chống cộng bảo vệ cộng đồng hải ngọai và đẩy mạnh tiến trình dân chủ hóa Việt Nam . Sinh họat thông tin tòan cầu là thí dụ rõ nét nhất. Hằng chục ngàn chuyên gia hải ngọai ngày đêm giữ mạng, giữ blog, viết bài, phân tích … nhận và chuyển thông tin về Quốc Nội . Việc họ làm buộc đảng Cộng sản phải điên tiết và dùng các thủ đọan hèn hạ nhất đánh phá. Sự đánh phá lại chứng tỏ hiệu năng của mặt trận thông tin và lại hấp dẫn những nhân tố mới tham gia vào mặt trận truyền thông tạo cho lực lượng này càng ngày càng đông hơn.


Với đồng bào Quốc Nội hệ thống tuyên truyền cộng sản luôn dựng lên những “trí thức yêu nước”. Như báo chí trong nước vẫn thông tin về “luật sư” chủ tịch Hội Doanh Nhân Việt Nam – Australia Trần bá Phúc và “Chuyên gia kinh tế” phó chủ tịch Phan văn Danh. Sự thực Trần bá Phúc chưa bao giờ học Đại Học để làm luật sư, còn Phan văn Danh thì có văn phòng kế tóan tại Footscray Victoria .


Chính Trị


Trải qua 35 năm cộng đồng người Việt hải ngọai vẫn là một cộng đồng không chấp nhận cộng sản. Các cộng đồng có đa số đi từ miền Bắc thì bất cộng tác hay không chống đối ra mặt. Còn các cộng đồng đa số đi từ miền Nam thì chống đối ra mặt. Sự tích cực và triệt để chống cộng không phải chỉ từ những người lãnh đạo cộng đồng, mà từ các Hội Đòan và đại đa số đồng hương.


Khi không quyến dụ được những người thuộc thế hệ đầu, Nghị Quyết 36 của đảng Cộng sản lại đề ra việc dụ dỗ các thế hệ nối tiếp. Trên thực tế tại nhiều nơi tinh thần triệt để chống cộng đã chuyển tiếp sang những thế hệ nối tiếp. Như tại Victoria, Úc châu ông Nguyễn văn Bon chủ tịch Cộng Đồng Người Việt Tự Do, cô Nguyễn Lê Thanh Trúc và hầu hết các thành viên Ban Chấp Hành (4 trên 6) là những người trẻ sinh sau 30/4/1975. Cộng Đồng Liên Bang Úc châu thì tòan Ban Chấp Hành đều dưới 50 tuổi, có người chỉ vừa trên 20.


Bài học tại Úc cho thấy người trẻ hải ngọai đã trưởng thành và có đủ tài sức để tranh đấu cho quyền lợi cộng đồng. Những nơi mà quyền lãnh đạo đã được chuyển giao cho thế hệ nối tiếp là những nơi cộng đồng tràn đầy sinh lực để có thể tự vệ và phục vụ cao trào đấu tranh cho độc lập, tự do và dân chủ tại Việt Nam . Cộng đồng hải ngọai sẽ tiếp tục tồn tại và vì vậy nhu cầu trẻ trung hóa sinh họat cộng đồng cần được xem như chiến lược trường kỳ.


Ngọai giao


Ước ao của những người cầm quyền cộng sản là được đồng hương đón tiếp như những người lãnh đạo đất nước và tiếp tay trong quan hệ ngọai giao với nước sở tại. Tại các quốc gia như Úc, Hoa Kỳ, Âu châu, các phái đòan cộng sản thường được đón tiếp bằng những cuộc biểu tình đầy cờ vàng ba sọc đỏ và các phái đòan thường phải chui cửa hậu vì cửa chính đã được đồng bào tỵ nạn đóng chốt.




Để thực hiện ước mong này đảng cộng sản lập ra các Hiệp Hội trá hình như Hội Doanh Nhân Việt Nam . Trên thực tế tổ chức này chỉ là ngọai vi gồm vài cá nhân họăc thân cộng họăc vì quyền lợi bắt tay với cộng sản và cũng chỉ được cộng sản dùng trong giai đọan. Nghị Quyết 36 chính là bằng chứng cụ thể chứng minh rằng đảng Cộng sản đã đang và sẽ trực tiếp đe dọa, phá họai và tham vọng kiểm sóat an ninh công dân và nước sở tại. Cụ thể nhất là các Quyết Định thành lập Hiệp Hội Doanh Nhân với sự kiểm sóat chặt chẽ của các tổ chức tình báo - gián điệp như Tổng Cục II ( Bộ Quốc Phòng ) và Tổng Cục V, C 13 ( Bộ Công An).


Đại đa số người Việt hải ngọai là công dân nước sở tại và đều đã xây dựng một cơ chế đại diện do dân bầu. Việc chống lại Nghị Quyết 36 hay chống lại các tổ chức ngọai vi của đảng Cộng sản không phải chỉ là trách nhiệm của cộng đồng người Việt mà còn là trách nhiệm của các nước sở tại. Bổn phận của cộng đồng là phải lên tiếng và sẵn sàng hợp tác với chính phủ và các cơ quan công quyền để tố cáo những hoạt động phạm pháp, đe dọa đến sự tự do và an ninh của nước sở tại. Nhất là những việc này lại do đảng Cộng sản chủ trương và trực tiếp điều hành.


Trước khi kết thúc xin được nói về xuất xứ của ba Quyết Định thành lập Hiệp Hội Doanh Nhân Việt Nam là do một người hướng dẫn người viết vào một “web site” của nhà cầm quyền Hà Nội lấy xuống. Người này làm với mục đích gì ? chống cộng ? diễn biến hòa bình ? hay chỉ mượn tay người viết đấm đá nội bộ ?


Trong lần Đại Hội Đảng trước đây, năm 2006, Bộ Ngoại Giao đã không được một ghế nào trong Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng. Bộ Ngọai Giao nay lại vội vã và cẩu thả cho ra mắt “Hiệp Hội Doanh Nhân Việt Nam tại nước ngòai”. Vội vàng vì ngay cả cái tên tiếng Việt của Hội tại Úc châu cũng chưa có. Báo trong nước tờ thị gọi là “Hội Doanh Nhân Việt Kiều” còn tờ khác biết chuyện hơn gọi là “ Hội Doanh Nhân Việt Nam – Australia ”. Còn cẩu thả vì cả ba Quyết Định quan trọng và bí mật như thế lại để lộ ra và lãnh chịu phản ứng. Xin đón xem kết qủa Đại Hội lần này.


Ngày 25/9/2010 vừa qua hằng ngàn người Việt – Úc đã tập trung tại trung tâm Footscray - Victoria và sau đó diễn hành quanh khu vực để tố cáo trước dư luận sự thật về cái gọi là “ Hội Doanh Nhân Việt Nam – Australia ”. Đòan diễn hành đã ngừng lại tại cửa hiệu của chủ tịch “luật sư” Trần Bá Phúc và phó chủ tịch “chuyên gia kinh tế” Phan văn Danh để phản đối và lên án việc làm sai trái của những cá nhân này.


Việc hằng ngàn người tham dự cuộc diễn hành tự nó đã nói lên một điều là đại đa số người Việt hải ngọai không chấp nhận các tổ chức ngọai vi của đảng Cộng sản tại khu vực họ đang sống, tại đất nước sở tại họ đang sống, cũng không chấp nhận cộng sản trên quê hương Việt Nam và khẳng định chỉ chấp nhận một chính phủ Việt Nam dân chủ do tòan dân bầu lên và dưới sự kiểm sóat của Quốc tế.


Như đã nói bên trên, ngay khi cuộc diễn hành tại Úc kết thúc, Bộ Trưởng Bộ Kế Hoạch Và Đầu Tư của CSVN, Võ Hồng Phúc dẫn đầu một phái đoàn đến Hoa Kỳ gặp Ban Chấp Hành Hiệp Hội Doanh Nhân Việt Mỹ để ra quyết định sẽ mở văn phòng lớn tại San Jose và Orange County là những nơi có đông người Việt sinh sống. Sự kiện này cho thấy sự quan trọng của Hiệp Hội Doanh Nhân Việt Nam trong chiến lược tòan cầu cộng sản .


Sau cuộc diễn hành người Viết đã nhận được một góp ý cho rằng cuộc đấu tranh chống Nghị Quyết 36, chống Hiệp Hội Doanh Nhân Việt Nam, cần vận động quần chúng về nhiều mặt (không nên chỉ có biểu tình), cần tính chuyện lâu dài và nhất là cần “thừa thắng xông lên” đồng lọat khắp nơi trên thế giới nơi có đông người Việt sinh sống. Rất đồng ý và mong thay.


Nguyễn Quang Duy
Melbourne, Úc Đại Lợi
6/10/2010
Các bài liên hệ:


Nguyễn Quang Duy, 2010, “Hiệp Hội Doanh Nhân Việt Nam: Một Sản Phẩm Của Nghị Quyết 36 ?”
Nguyễn Quang Duy, 2010, “Hiệp Hội Doanh Nhân Việt Nam: Cút! Cút! Cút!”


Nguyễn Quang Duy, 2010, “Úc Châu Trong Sứ Mạng Dân Chủ Hóa Việt Nam”


Nguyễn Thế Phong , 2010, “Nghị Quyết 36 và Những Thủ Đọan của CSVN trên Cộng Đồng Người Việt Hải Ngọai”.


i - meo

Thứ Năm, 7 tháng 10, 2010

Bản Tình Ca Của Một Người Tị Nạn

tự truyện tìm Tự Do của tác giả Nguyễn Văn Luận


*
Hai năm sau ngày đất nước chia đôi, từ miền Bắc hoang tàn, tôi lặn lội tới vùng giới tuyến mong vượt thoát vào miền Nam tự do.


Lần tới gần sông Bến Hải, đêm tối âm u bờ Bắc, tôi đã nhìn thấy cầu Hiền Lương vì bờ Nam rực sáng ánh đèn. Trên cột cờ cao vút, bóng cờ vàng sọc đỏ lung linh. Giọng ca ngọt ngào từ loa treo vọng về miền Bắc:


"...sông Bến Hải là nơi chia cắt đôi đường...
hỡi ai... lạc lối... mau quay... về đây ...!"


Tôi đứng đó chơi vơi định hướng, đăm đăm nhìn cờ vàng bên kia bờ sông lịch sử, uống từng lời ca trong cơn đói khát, rồi bừng tỉnh, lao lên phía trước. Từ đâu đó, mấy cái nón cối xông ra. Tôi bị trói hai tay bằng sợi thừng oan nghiệt, theo nón cối về lại địa ngục trần gian.


Mười chín tuổi, lao tù đầy đọa, tôi đã mất mẹ, mất cha, bị qui là tư sản, xa vắng họ hàng vì chia rẽ giai cấp. Tôi mất Hà nội là nơi tôi sinh ra làm người Việt Nam. Không có tang cha khi cha gục xuống, không có tang mẹ khi mẹ xuôi tay, không hy vọng có đám cưới đời mình.


Bạo quyền cộng sản Việt Nam bắn giết hàng trăm ngàn người, bị qui là địa chủ. Nhiều trăm ngàn người bị tập trung lên rừng, để lại vợ con không nhà không đất. Thời gian làm ngưng nước mắt, oán than cũng vô ích, chỉ còn tiếng kêu vang vọng khắp miền: "Chúng tôi muốn sống!"


Hai mươi lăm năm sau (1981) tôi vượt biển, thoát tới Hong Kong. Bốn mươi tư năm từ lúc chào đời, tôi thành người tị nạn cộng sản.


Ngày tiếp kiến phái đoàn Mỹ xin đi định cư, một ông Mỹ dáng nghiêm trang, nghe tôi trả lời, đột nhiên hỏi "Anh có biết nói tiếng Pháp?". Tôi nhìn ông, giọng run run: "L'exilé partout est seul!" (Kẻ lưu đày nơi đâu cũng cô độc).


Ông gật đầu hiểu cả tiếng Tây, hiểu lòng tôi đau xót. Xưa tôi học trường Albert Sarraut, Hà Nội.
*

Đứng bên rào kẽm gai, sau dãy nhà tôn của trại tị nạn Hong Kong, một mình, suy tư thân phận. Tôi sẽ đến nơi xứ lạ là nước Mỹ xa xôi, tìm quê hương mới, chỉ trở về khi đất nước Việt Nam tự do, không còn cộng sản.


Đứa bé chừng 5, 6 tuổi, tung trái banh, toan bắt thì trượt chân trên sân trại. Tôi đã kịp giang tay đỡ cháu khỏi ngã thì người đàn bà chạy tới, đứng im, lặng lẽ nhìn tôi.


Tiếng trẻ thơ kêu "Má", tôi nhìn nàng... Sự thầm lặng và ánh mắt trao nhau là chân tình của người tị nạn Việt Nam nhẫn nhục, khổ đau, nói được nhiều hơn lời nói. Rồi những ngày sau đó, tâm sự, nỗi niềm, tôi đã cùng Mai kết thành bạn đường và bạn đời, đi Mỹ định cư.


Chồng Mai là người lính Cộng Hòa hiên ngang dưới lá cờ vàng ba sọc đỏ, quyết bảo vệ quê hương. Anh tử trận, mang thân đền nợ nước, để lại con thơ. Mai trở thành góa phụ, miền quê Đà Nẵng, cuốc đất trồng khoai, nuôi mẹ già con dại. Sau năm 1975, mất nước. Mẹ già khuất núi, con chậm lớn vì cháo loãng, bo bo thay cho sữa mẹ và cơm.


Một đêm mưa bão, Mai bị tên Việt cộng trưởng công an xã cưỡng hiếp, du kích xã canh gác quanh nhà. Mai phải sống vì con mới lên ba, mất cha còn mẹ. Người dân Đà Nẵng ra đi, đã mang theo vợ con người lính chiến tới Hong Kong năm 1981. Đứa con lên sáu không biết tiếng gọi "Ba"!


Tôi mang nặng tủi nhục, đọa đày triền miên từ đất Bắc đi tìm tự do. Mai gánh những thương đau, mất mát, cơ cực của miền Nam, bồng con đi tị nạn. Lấy dĩ vãng chia xẻ cùng nhau, chúng tôi sắp xếp lại hành trang cho bớt gánh đoạn trường, đi Mỹ.


Con đã có Má, có Ba. Má bồng con, Ba xách túi. Con có đồ chơi, cầm chiếc máy bay vẫy chào các chú, hai người lính chiến Quảng Nam đưa tiễn. Tôi nhìn con tự nhủ: "Ba sẽ dạy con tiếng "Cha", chỉ cho con hình người lính Cộng Hòa, ở bất cứ nơi đâu đều là Cha con đó!".


Mai đã nhất định không đi kinh tế mới. Tôi đã trốn công trường, vào tù chịu đựng, bây giờ dù bỏ lại quê hương nhưng còn Tổ quốc Việt Nam. Bốn ngàn năm lịch sử, thăng trầm, người dân nước Việt sẽ không trở thành Cộng sản.


Quê hương mới của chúng tôi là vùng đông bắc nước Mỹ. Căn apartment hai phòng, hai chiếc giường nệm, một chiếc bàn con, đã cho tôi ấn tượng đẹp những ngày đầu tới Mỹ.


Lúc tôi khôn lớn, không có chiếc giường làm nơi cư trú, vì đã thành vô sản. Rồi tôi hiểu, vô sản cũng vẫn còn giai cấp. Phải lên rừng, một miếng nylon bọc vài manh vải gọi là quần áo, thì mới thành "người vô sản chân chính"!


Nhìn con ngon giấc ngủ thần tiên, vợ chồng tôi thao thức, không phải lo âu mà thì thầm những dự định tương lai. 18 tháng welfare trợ cấp, đủ thời gian cho mình đi học tiếng Anh. Đọc dòng thư hội M&RS nhắc trả nửa tiền nợ vé máy bay sang Mỹ "Xin bạn trả dần 12 tháng, giúp cho người sau bạn định cư", theo ý Mai, ý nghĩ nhân hậu của người đàn bà làm mẹ, "mình trả ngay từ tháng thứ hai".


Việc đơn giản là tại sao người ta không khấu trừ vào trợ cấp, lại đòi riêng. Mai chỉ nhẹ nhàng "nợ thì mình trả, ở hiền sẽ gặp lành", nhưng tôi lại suy nghĩ mung lung. Đây là bước đầu thử thách, cái thước đo lòng người tị nạn. 72 đô tiền nợ một tháng, có thể không trả và quên đi. Một lần để lòng vẩn đục sẽ trở thành bất lương. Cha mẹ bất lương con cái sẽ chẳng nên người .


Một sáng mùa Xuân, "bé Nam" gọi Má, gọi Ba, chỉ bông hoa mầu vàng mầu đỏ đung đưa bên vườn hàng xóm, kêu lên "hoa tu-líp". Bà già người Mỹ đứng trên thềm, giơ tay vẫy vẫy. Mai đã nói "Thank you", ngọt ngào, mạnh dạn, tay chỉ trỏ, diễn tả được những gì muốn nói.


Bà Jenny hiểu chút ít về "chiến tranh Việt Nam" qua tivi, sách báo hồi bà còn dạy học. Bà đã thấy "Boat people", những thuyền nhân tị nạn, nhưng lần đầu bà thấy một gia đình người Việt đến vùng này, lại là hàng xóm nên bà có cảm tình. Đây là ứng nghiệm "Ở hiền gặp lành" hay là sự may mắn cho gia đình tôi? Nói thế nào thì cũng đúng vì vài nơi trên đất Mỹ vẫn còn kỳ thị chủng tộc.


Thời gian trôi đi nhưng hai tiếng "lần đầu" lặp lại: lần đầu ra nhà Bank, lần đầu tới Post Office. Có những lần đầu chưa biết, nhưng có hai lần đầu quan trọng: "bé Nam" đi học, chúng tôi xin được việc làm. Bà Jenny cùng chúng tôi đưa "cháu" tới trường, bà cho chiếc mũ baseball và đôi giầy sneaker trắng muốt, khen "Cháu cute." Vợ chồng nhìn nhau, không hiểu, lát nữa về tra tự điển.


"Từ nay chúng mình có Má, bé Nam có Bà...!" Mai thốt lên khi chúng tôi đồng lòng nhận "Má Nuôi". Bà Jenny thành "Má Jen". Chuyện xảy ra vào ngày Lễ Tạ Ơn (Thanksgiving), 17 năm về trước.


Sống một mình trong căn nhà rộng rãi, bà Jenny vốn là cô giáo nên rất yêu trẻ. Bà mời "cả nhà" sang ăn turkey.


Bé Nam lên bảy, đi học, hiểu nhiều về Thanksgiving hơn Má và Ba. Ăn uống vui vẻ, vợ chồng tôi nói chuyện với bà, có lúc ngồi im lặng hơi lâu vì vốn tiếng Anh ít ỏi. Bỗng bé Nam kêu "Má...!", bà Jenny toan đứng dậy thì Mai buột miệng nói: "Má... let me do it!".


Nghe tiếng "Má" lỡ lời của Mai, tiếng Việt, vừa lạ, vừa thích, bà bâng khuâng giây lát.
Mai kể chuyện xưa, miền Đà Nẵng cuốc đất trồng khoai, nuôi mẹ già con dại... Tôi góp phần thông dịch, bớt thêm: Người Việt Nam coi việc chăm sóc cha mẹ già là bổn phận, dù chịu nhiều cơ cực cũng cố gắng đền ơn sinh thành, dưỡng dục.


Bà suy nghĩ mấy ngày, bỏ dự định chuyển về Florida, tỏ ý muốn nhận gia đình tôi làm Con, làm Cháu.
Chúng tôi dọn nhà sang ở chung với "Má Jen", điều này ít thấy trong các gia đình người Mỹ có con trưởng thành. Các con nhờ Má, nói được tiếng Anh. Cháu quấn quít bên Bà, xem chú chuột Mickey. Mùa đông buốt giá nhưng trong nhà nồng ấm tình người. Má vui tươi hơn trước, thích ăn bánh xèo và phở Việt Nam.


Mai vẫn cặm cụi hàng ngày, làm những chiếc ví tay của phụ nữ. Mấy người bạn Việt Nam đặt cho Mai biệt danh "Bà đầm hãng bóp" vì "giỏi việc, lại biết tiếng Anh," nhiệt tình giúp đỡ bà con.


Cũng như Má Jen, Mai không thích sa hoa, theo Má vào tiệm sách trong Mall nhiều hơn vào tiệm bán phấn son, make up. Việc từ thiện đã thành sở thích, Mai gửi 200 đôla, mỗi lần, giúp đồng bào bão lụt miền Trung, miền Bắc, vì lương tâm, đạo lý. Kẻ cầm quyền ăn chặn của dân, như đám cướp, có bao giờ được mãn kiếp yên thân. Đức Phật từ bi dạy Mai lòng độ lượng.


Tôi làm technician, ngành điện tử. Nhớ xưa, học sửa radio bị nghi làm gián điệp. Bộ công an Hà nội lấy công nông lãnh đạo, coi "điện tử" là CIA. Mười bẩy năm trong ngành điện tử, nay chắc tôi thành CIA ngoại hạng!


Bây giờ, ngồi trước máy computer, nối vào mạng Net, đọc Website tiếng Anh, tiếng Việt, thông tin thế giới bằng email, việc hãng, việc nhà, công tư hòa vào nhau từng ngày làm việc, tôi đã có cuộc sống an hòa, hạnh phúc, một gia đình thật sự yêu thương.

"Ngày mai, chúng mình đi New York thăm con".
Mai nắm tay tôi, hân hoan về ngày mai.


Ngày mai là tương lai của bé Nam ngày trước, giờ là một thanh niên cao 6 feet, đầy nghị lực bước vào đời. Xong đại học, Nam Nguyen trở thành chuyên viên tài chánh, làm việc trong văn phòng, tầng thứ 32 của một nhà "chọc trời" New York.


Ngày con ra trường là ngày vui trọn vẹn, ngày con nhận việc mới là niềm sung sướng của Má, của Ba, của Gia Đình tị nạn, mong ước từng ngày cho Con thành Người.*


Lâu lắm rồi, tôi mới có một đêm không ngủ để nhìn lại đời mình. Tháng chín, trời sang Thu se lạnh vùng đông bắc nước Mỹ. Tôi đã sống nơi đây 18 năm tị nạn, không thất vọng mà tin tưởng vào tương lai.


Người cộng sản muốn làm hung thần cai quản địa cầu, dựng lên Địa Ngục. Dựng được vài phần thì sụp đổ, sót lại từng mảnh vỡ điêu tàn. Hung thần đã chết.


Thoát kiếp lưu đày làm người tự do, tôi kính cẩn tri ân người phá ngục: người lính Cộng Hòa, giương cao lá cờ vàng ba sọc đỏ, chính nghĩa Quốc Gia . Việt Nam, từ tinh thần đến lãnh thổ.


Người lính chiến Cộng Hòa hiên ngang đi làm Lịch Sử. Không có Anh, tôi đã không có niềm tin để sống sót, đã thành nấm mộ hoang trên rừng xơ xác. 21 năm kiên cường giữ vững miền Nam, Anh đối mặt hung thần, cứu sống thêm hàng triệu người vô tội.


Người lính của miền Nam tự do tử trận. Anh để lại người Vợ hiền, cuốc đất trồng khoai, chúng vẫn không tha, chà đạp nhân phẩm. Tôi lê bước chân vô định, gặp Mai làm Bạn Đường, nhìn mắt con thơ thấy hình người lính chiến.


Anh đã để lại Con Thơ cho tôi được làm "Ba" mang tròn trách nhiệm. Con đã trưởng thành, mai này sẽ góp phần xây dựng lại Quê Hương. Tôi muốn níu lại thời gian để được thương vợ, thương con nhiều hơn nữa.


Đã quá nửa đêm về sáng. Nhìn Mai ngon giấc ngủ thần tiên như "bé Nam" ngày đầu tới Mỹ, tôi ngồi im lặng bên bàn viết, đợi chờ sớm mai để được nhìn bình minh bừng sáng Phương Đông, được nhìn Mai thức dậy, mỉm cười, âu yếm nhìn chồng.


Cuộc sống an vui. Ngót 20 năm rồi, không biết khóc, đêm nay tôi nhỏ từng dòng lệ, xúc động, bùi ngùi.
Tôi đang sống và đang viết Bài Tình Ca của Một Người Tị Nạn.

tudo NGUYỄN VĂN LUẬN
9/2000

i - meo

HỒI KÝ CỦA MỘT NGƯỜI HÀ NỘI

http://www.blogger.com/email-post.g?blogID=1186858313346900325&postID=960534672745075587



Với bút hiệu tựdo ‒ chữ thường, viết liền ‒ ông Nguyễn Văn Luận là tác giả bài “Người tìm tự do và tượng thần tự do” đã được bình chọn trúng giải chính thức trong giải sơ kết 3 tháng Giải Thưởng Việt Báo Viết Về Nước Mỹ. Tác giả sinh năm 1937, hiện cư ngụ tại Worcester, Massachusetts. Sau đây là bài viết mới nhất của ông.

Một đám cưới của người Hà Nội những năm đầu thế kỷ 20 \Nguồn: media.tinmoi.vn

tự do

Ông Hòa là cựu sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa, bị Cộng sản bắt đi tù năm 1975, sang Mỹ theo diện HO. Tôi gặp ông tại một tiệc cưới, trở thành bạn, thường gặp nhau bởi cùng sở thích, nói chuyện văn chương, thời thế, dù trong quá khứ ông sống tại miền Nam, tôi ở xứ Bắc.

Một lần tới thăm, cháu Thu Lan, con ông Hòa, hỏi tôi, “Bác ở Hà Nội mà cũng đi tị nạn à...?”

Nghe hỏi tự nhiên nên tôi chỉ cười, “Cái cột đèn mà biết đi, nó cũng đi, ...nữa là bác!”

Thực ra tôi đã không trốn thoát được từ lần đầu “vượt tuyến” vào miền Nam. Rồi thêm nhiều lần nữa và 2 lần “vượt biển”, vẫn không thoát. Chịu đủ các “nạn” của chế độ cộng sản trong 27 năm ở lại miền Bắc, tôi không tị nạn, mà đi tìm Tự Do, trở thành thuyền nhân, đến nước Mỹ năm 1982.

Sinh trưởng tại Hà Nội, những năm đầu sống ở Mỹ, tôi đã gặp nhiều câu hỏi như cháu Thu Lan, có người vì tò mò, có người giễu cợt . Thời gian rồi cũng hiểu nhau.

Tôi hằng suy nghĩ và muốn viết những giòng hồi tưởng, vẽ lại bức tranh Hà Nội xưa, tặng thế hệ trẻ, và riêng cho những người Hà Nội di cư.

Người dân sống ở miền Nam trù phú, kể cả hàng triệu người di cư từ miền Bắc, đã không biết được những gì xảy ra tại Hà Nội, thời người cộng sản chưa vận com-lê, đeo cà-vạt, phụ nữ không mặc áo dài.

Hiệp định Geneva chia đôi nước Việt. Cộng sản, chưa lộ mặt là Cộng sản, tràn vào miền Bắc tháng 10 năm 1954. Người Hà Nội đã “di cư” vào miền Nam, bỏ lại Hà Nội hoang vắng, tiêu điều, với chính quyền mới là Việt Minh, đọc tắt lại thành Vẹm. Vì chưa trưởng thành, tôi đã không hiểu thế nào là ...Vẹm!
Khi họ tiếp quản Hà Nội, tôi đang ở Hải phòng. Dân đông nghịt thành phố, chờ tầu há mồm để di cư.

Trước Nhà Hát Lớn, vali, hòm gỗ, bao gói xếp la liệt. Lang thang chợ trời, tôi chờ cha tôi quyết định đi Nam hay ở lại. Hiệp định Geneva ghi nước Việt Nam chỉ tạm thời chia cắt, hai năm sau sẽ “Tổng tuyển cử” thống nhất. Ai ngờ cộng sản miền Bắc “tổng tấn công” miền Nam!

Gia đình lớn của tôi, không ai làm cho Pháp, cũng không ai theo Việt Minh. Cha tôi làm chủ một hãng thầu, nghĩ đơn giản là dân thường nên ở lại. Tôi phải về Hà Nội học.

Chuyến xe lửa Hà Nội “tăng bo” tại ga Phạm Xá, nghĩa là hai chính quyền, hai chế độ, ngăn cách bởi một đoạn đường vài trăm mét, phải đi bộ hoặc xe ngựa. Người xuống Hải phòng ùn ùn với hành lý để đi Nam, người đi Hà Nội là con buôn, mang xăng về bán. Những toa tầu chật cứng người và chất cháy, từ chai lọ đến can chứa nhà binh, leo lên nóc tầu, bíu vào thành toa, liều lĩnh, hỗn loạn ...
 
Tới cầu Long Biên tức là vào Hà Nội. Tầu lắc lư, người va chạm người. Thằng bé ù chạc 15 tuổi, quắc mắt nhìn tôi, “Ðề nghị đồng chí xác định lại thái độ, lập trường tư tưởng!” Tôi bàng hoàng vì thứ ngoại ngữ Trung quốc, phiên âm thành tiếng Việt, nghe lần đầu không hiểu, để rồi phải “học tập” suốt 20 năm, “ngoại ngữ cộng sản”: đấu tranh, cảnh giác, căm thù và ... tiêu diệt giai cấp! (Thứ ngôn ngữ này ghi trong ngoặc kép).

Hà Nội im lìm trong tiết đông lạnh giá, người Hà Nội e dè nghe ngóng từng “chính sách” mới ban hành. “Cán bộ” và “bộ đội” chỉ khác nhau có ngôi sao trên mũ bằng nan tre, phủ lớp vải mầu cỏ úa, gọi là “mũ bộ đội”, sau này có tên là “nón cối”. Hà Nội “xuất hiện” đôi dép “Bình Trị Thiên”, người Bắc gọi là “dép lốp”, ghi vào lịch sử thành “dép râu”. Chiếc áo dài duyên dáng, thướt tha của thiếu nữ Hà Nội được coi là “biểu hiện” của “tư sản, phong kiến”, biến mất trong mười mấy năm sau, vì “triệt để cách mạng”. Lần đầu tiên, “toàn thể chị em phụ nữ” đều mặc giống nhau: áo “sơ mi”, quần đen. Hãn hữu, như đám cưới mới mặc sơ mi trắng vì “cả nước” không có xà phòng.

Chơi vơi trong Hà Nội, tôi đi tìm thầy xưa, bạn cũ, hầu hết đã đi Nam. Tôi phải học năm cuối cùng, Tú tài 2, cùng một số “lớp Chín hậu phương”, năm sau sẽ sát nhập thành “hệ mười năm”. Số học sinh “lớp Chín” này vào lớp không phải để học, mà là “tổ chức Hiệu đoàn”, nhận “chỉ thị của Thành đoàn” rồi “phát động phong trào chống văn hóa nô dịch!” Họ truy lùng... đốt sách! Tôi đã phải nhồi nhét đầy ba bao tải, Hiệu đoàn “kiểm tra”, lục lọi, từ quyển vở chép thơ, nhạc, đến tiểu thuyết và sách quý, mang “tập trung” tại Thư viện phố Tràng Thi, để đốt. Lửa cháy bập bùng mấy ngày, trong niềm “phấn khởi”, lời hô khẩu hiệu “quyết tâm”, và “phát biểu của bí thư Thành đoàn”: tiểu thuyết của Tự Lực Văn Ðoàn là ... “cực kỳ phản động!” Vào lớp học với những “phê bình, kiểm thảo...cảnh giác, lập trường”, tôi đành bỏ học. Chiếc radio Philip, “tự nguyện “ mang ra “đồn công an”, thế là hết, gia tài của tôi!

Mất đời học sinh, tôi bắt đầu cuộc sống đọa đày vì “thành phần giai cấp”, “sổ hộ khẩu”, “tem, phiếu thực phẩm”, “lao động nghĩa vụ hàng tháng”. Ðây là chính sách dồn ép thanh niên Hà Nội đi “lao động công trường”, miền rừng núi xa xôi. Tôi chỉ bám Hà Nội được 2 năm là bị “cắt hộ khẩu”, ...đi tù!

Tết đầu tiên sau “tiếp quản”, còn được gọi là “sau hòa bình lập lại”, Hà Nội mơ hồ. Những bộ mặt vàng võ, áo quần nhầu nát, xám xịt, thái độ “ít cởi mở”, từ “nông thôn” kéo về tiếp quản chiếm nhà người Hà Nội di cư. Người Hà Nội ở lại bắt đầu hoang mang vì những tin dồn và “chỉ thị”: ăn Tết “đơn giản, tiết kiệm”. Hàng hóa hiếm dần, “hàng nội” thay cho “hàng ngoại”.

Âm thầm, tôi dạo bước bên bờ Hồ Gươm, tối 30 Tết. Tháp Rùa, Cầu Thê Húc nhạt nhòa, ảm đạm, đền Ngọc Sơn vắng lặng. Chỉ có Nhà Thủy Tạ, đêm nay có ca nhạc, lần cuối cùng của nghệ sĩ Hà Nội. Ðoàn Chuẩn nhớ thương hát “Gửi người em gái miền Nam”, để rồi bị đấu tố là phong cách tiểu tư sản, rạp xinê Ðại Ðồng phố Hàng Cót bị “tịch thu”. Hoàng Giác ca bài “Bóng ngày qua”, bị kết tội thành “tề ngụy”, hiệu đàn nhỏ phố Cầu Gỗ phải dẹp, vào tổ đan mũ nan, làn mây, sống “tiêu cực” hết đời trong đói nghèo, khốn khổ. Danh ca Minh Ðỗ, Ngọc Bảo, nhạc sĩ Tạ Tấn, sau này làm gì, sống ra sao, “phân tán”, chẳng ai còn dám gặp nhau, sợ thành “phản động tụ tập”.

“Chỉ thị Ðảng và Ủy ban Thành” “phổ biến rộng rãi trong quần chúng” là diệt chó. “Toàn dân diệt chó”, từ thành thị đến “nông thôn”. Gậy gộc, giây thừng, đòn gánh, nện chết hoặc bắt trói, rồi đầu làng, góc phố “liên hoan tập thể”. Lý do giết chó, nói là trừ bệnh chó dại, nhưng đó là “chủ trương”, chuẩn bị cho đấu tố “cải tạo tư sản” và “cải cách ruộng đất”. Du kích, công an rình mò, “theo dõi”, “nắm vững tình hình” không bị lộ bởi chó sủa. Mọi nơi im phăng phắc ban đêm, mọi người nín thở đợi chờ thảm họa.

Hà Nội đói và rách, khoai sắn chiếm 2 phần tem gạo, 3 mét vải “cung cấp” một năm theo “từng người trong hộ”. Mẹ may thêm chiếc quần “đi lao động “ thì con nít cởi truồng. Người thành thị, làm cật lực, xây dựng cơ ngơi, có ai ngờ bị quy là “tư sản bóc lột”? nhẹ hơn là “tiểu tư sản”, vẫn là “đối tượng của cách mạng”.

Nông dân có dăm sào ruộng đất gia truyền vẫn bị quy là “địa chủ bóc lột, cường hào ác bá ”! Giáo sư Trương văn Minh, hiệu trưởng trường Tây Sơn, ngày đầu “học tập”, đã nhẩy lầu, tự tử.

“Tư sản Hà Nội” di cư vào Nam hết , chẳng còn bao nhiêu nên “công tác cải tạo được làm “gọn nhẹ” và “thành công vượt mức”, nghĩa là mang bắn một, hai người “điển hình”, coi là “bọn đầu xỏ” “đầu cơ tích trữ”, còn thì “kiểm kê”, đánh “thuế hàng hóa”, “truy thu”, rồi “tịch thu” vì “ngoan cố, chống lại cách mạng!”

Báo, đài hàng ngày tường thuật chuyện đấu tố, kể tội ác địa chủ, theo bài bản của “đội cải cách” về làng, “bắt rễ” “bần cố nông”, “chuẩn bị thật tốt”, nghĩa là bắt học thuộc lòng “từng điểm”: tội ác địa chủ thì phải có hiếp dâm, đánh đập, bắt con ở đợ, “điển hình” thì mang thai nhi cho vào cối giã, nấu cho lợn ăn, đánh chết tá điền, hiếp vợ sặc máu ...! Một vài vụ, do “Ðảng lãnh đạo”, “vận động tốt”, con gái, con dâu địa chủ, “thoát ly giai cấp”, “tích cực” “tố cáo tội ác” của cha mẹ . Cảnh tượng này thật não nùng! Lời Bác dạy suốt mấy mươi năm: “Trung với Ðảng, hiếu với dân ...” là vậy!

“Bần cố nông” cắm biển nhận ruộng được chia, chưa cấy xong hai vụ thì phải “vào hợp tác”, “làm ăn tập thể”, ruộng đất lại thu hồi về “cộng sản”.

“Toàn miền Bắc” biết được điều “cơ bản” về Xã hội chủ nghĩa là... nói dối! Mọi người, mọi nhà “thi đua nói dối”, nói những gì Ðảng nói. Nói dối để sống còn, tránh bị “đàn áp”, lâu rồi thành “nếp sống”, cả một thế hệ hoặc lặng câm, hoặc nói dối, vì được “rèn luyện” trong xã hội ngục tù, lấy “công an” làm “nòng cốt” chế độ.

Ở Mỹ, ai hỏi bạn: “How are you?”, bạn trả lời: “I’m fine, thank you”. Ở miền Bắc, thời đại Hồ chí Minh, “cán bộ” hỏi: “công tác” thế nào? Dù làm nghề bơm xe, vá lốp, người ta trả lời, “...rất phấn khởi, ra sức thi đua, lập thành tích chào mừng... các nước anh em!”

Bị bắt bên bờ sông Bến Hải, giới tuyến chia hai miền Nam Bắc, năm 19 tuổi, tôi bị “bộ đội biên phòng”giong về Lệ Thủy, được “tự do” ở trong nhà chị “du kích” hai ngày, đợi đò về Ðồng Hới. Trải 9 trại giam nữa thì về tới Hỏa Lò Hà Nội, vào xà lim. Cảnh tù tội chẳng có gì tươi đẹp, xã hội cũng là một nhà tù, không như báo, đài hằng ngày kêu to “Chế độ ta tươi đẹp”.

Cơ hàn thiết thân, bất cố liêm sỉ, người tù “biến chất”, người tứ chiến kéo về, nhận là người Hà Nội, đói rét triền miên nên cũng “biến chất”! Ðối xử lọc lừa, gia đình, bè bạn, họ hàng, “tiếp xúc” với nhau phải “luôn luôn cảnh giác”. Hà Nội đã mất nền lễ giáo cổ xưa, Hà Nội suy xụp tinh thần vì danh từ “đồng chí”!

Nằm trong xà lim, không có ngày đêm, giờ giấc, nghe tiếng động mà suy đoán “tình hình”. Ánh điện tù mù chiếu ô cửa sổ nhỏ song sắt, cao quá đầu, tôi đứng trên xà lim, dùng ngón tay vẽ chữ lên tường, “liên lạc” được với Thụy An ở xà lim phía trước.

Thụy An là người Hà Nội ở lại, “tham gia hoạt động “Nhân Văn Giai Phẩm, đòi tự do cho văn nghệ sĩ, sau chuyển lên rừng, không có ngày về Hà Nội. Bà phẩn uất, đã dùng đũa tre chọc mù một mắt, nói câu khí phách truyền tụng: “Chế độ này chỉ đáng nhìn bằng nửa con mắt!”

Người du lịch Việt Nam, ít có ai lên vùng thượng du xứ Bắc, tỉnh Lào Cai, có trại tù Phong Quang hà khắc, có thung lũng sâu heo hút, có tù chính trị chặt tre vầu theo “định mức chỉ tiêu”. Rừng núi bao la, tiếng chim “bắt cô trói cột”, nấc lên nức nở, tiếng gà gô, thức giấc, sương mù quanh năm.

Phố Hàng Ðào Hà Nội, vốn là “con đường tư sản”, có người trai trẻ tên Kim, học sinh Albert Sarraut. Học trường Tây thì phải chịu sự “căm thù đế quốc” của Ðảng, “đế quốc Pháp” trước kia và “đế quốc Mỹ” sau này. Tù chính trị nhốt lẫn với lưu manh, chưa đủ một năm, Kim Hàng Ðào “bất mãn” trở thành Kim Cụt, bị chặt đứt cánh tay đến vai, không thuốc, không “nhà thương” mà vẫn không chết.

Phố Nguyễn công Trứ gần Nhà Rượu, phía Nam Hà Nội, người thanh niên đẹp trai, có biệt danh Phan Sữa, giỏi đàn guitar, mê nhạc Ðoàn Chuẩn, đi tù Phong Quang vì “lãng mạn tiểu tư sản”. Không hành lý nhưng vẫn ôm theo cây đàn guitar. Chỉ vì “tiểu tư sản”, không “tiến bộ”, không có ngày về...! Ba tháng “kỷ luật”, Phan Sữa hấp hối, khiêng ra khỏi Cổng Trời cao vút, gió núi mây ngàn, thì tiêu tan giấc mơ Tình nghệ sĩ!

Người già Hà Nội chết dần, thế hệ thứ hai, “xung phong”, “tình nguyện” hoặc bị “tập trung” xa rời Hà Nội. Bộ công an “quyết tâm quét sạch tàn dư đế quốc, phản động”, nên chỉ còn người Hà Nội từ “kháng chiến” về, “nhất trí tán thành” những gì Ðảng ... nói dối!

Tôi may mắn sống sót, dù mang lý lịch “bôi đen chế độ”, “âm mưu lật đổ chính quyền”, trở thành người “Hà Nội di cư”, 10 năm về Hà Nội đôi lần, khó khăn vì “trình báo hộ khẩu”, “tạm trú tạm vắng”. “Kinh nghiệm bản thân”, “phấn đấu vượt qua bao khó khăn, gian khổ”, số lần tù đã quên trong trí nhớ, tôi sống tại Hải phòng, vùng biển.

Hải phòng là cơ hội “ngàn năm một thuở” cho người Hà Nội “vượt biên” khi chính quyền Hà Nội chống Tầu, xua đuổi “người Hoa” ra biển, khi nước Mỹ và thế giới đón nhận “thuyền nhân” tị nạn.

Năm 1980, tôi vào Sài Gòn, thành phố đã mất tên sau “ngày giải phóng miền Nam”. Vào Nam, tuy phải lén lút mà đi, nhưng vẫn còn dễ hơn “di chuyển” trong các tỉnh miền Bắc trước đây. Tôi bước trên đường Tự Do, hưởng chút dư hương của Sài gòn cũ, cảnh tượng rồi cũng đổi thay như Hà Nội đã đổi thay sau 1954 vì “cán ngố” cai trị.

Dân chúng miền Nam “vượt biển” ào ạt, nghe nói dễ hơn nên tôi vào Sài Gòn, tìm manh mối. Gặp cha mẹ ca sĩ Thanh Lan tại nhà, đường Hồ Xuân Hương, gặp cựu sĩ quan Cộng Hòa, anh Minh, anh Ngọc, đường Trần Quốc Toản, tù từ miền Bắc trở về. Ðường ra biển tính theo “cây”, bảy, tám cây mà dễ bị lừa. Chị Thanh Chi (mẹ Thanh Lan) nhìn “nón cối” “ngụy trang” của tôi, mỉm cười: “Trông anh như cán ngố, mà chẳng ngố chút nào!”

“Hà Nội, trí thức thời Tây, chứ bộ...!. Cả nước Việt Nam, ai cũng sẽ trở thành diễn viên, kịch sĩ giỏi!”

Về lại Hải Phòng với “giấy giới thiệu” của “Sở giao thông” do “móc ngoặc” với “cán bộ miền Nam” ở Saigòn, tôi đã tìm ra “biện pháp tốt nhất” là những dân chài miền Bắc vùng ven biển. Ðã đến lúc câu truyền tụng “Nếu cái cột điện mà biết đi....”, dân Bắc “thấm nhuần” nên “nỗ lực” vượt biên.

Năm bốn mươi tư tuổi, tôi tìm được Tự Do, định cư tại Mỹ, học tiếng Anh ngày càng khá, nhưng nói tiếng Việt với đồng hương, vẫn còn pha chút “ngoại ngữ Việt cộng” năm xưa.

Cuộc sống của tôi ở Việt Nam đã đến “mức độ” khốn cùng, nên tan nát, thương đau. Khi đã lang thang “đầu đường xó chợ” thì mới đủ “tiêu chuẩn” “xuống thành phần”, lý lịch có thể ghi là “dân nghèo thành thị”, nhưng vẫn không bao giờ được vào “công nhân biên chế nhà nước”. Tôi mang nhẫn nhục, “kiên trì” sang Mỹ, làm lại cuộc đời nên “đạt kết quả vô cùng tốt đẹp”, “đạt được nguyện vọng” hằng ước mơ!

Có người “kêu ca” về “chế độ tư bản” Mỹ tạo nên cuộc sống lo âu, tất bật hàng ngày, thì xin “thông cảm” với tôi, ngợi ca nước Mỹ đã cho tôi nhân quyền, dân chủ, trở thành công dân Hoa kỳ gốc Việt, hưởng đầy đủ “phúc lợi xã hội”, còn đẹp hơn tả trong sách Mác Lê về giấc mơ Cộng sản.
Chủ nghĩa cộng sản sụp đổ rồi. Cộng sản Việt Nam bây giờ “đổi mới”. Tiếng “đổi” và “đổ” chỉ khác một chữ “i”. Người Việt Nam sẽ cắt đứt chữ “i”, dù phải từ từ, bằng “diễn biến hòa bình”. Chế độ Việt cộng “nhất định phải đổ”, đó là “quy luật tất yếu của lịch sử nhân loại”.

Ôi! “đỉnh cao trí tuệ”, một mớ danh từ ...!

>>>>>


Người Tìm Tự Do và Tượng Thần Tự Do

Khu Mahattan với những tòa nhà chọc trời, ngước mắt trông lên, cảm thấy mình nhỏ bé. Khách du lịch ngỡ ngàng nhìn ngó khắp nơi, thán phục nước Mỹ tự do có tượng thần Tự Do.


Theo dòng người, tôi bắt đầu từ Battery Park, quẹo vào Castle Clinton, xưa là pháo đài chống quân Anh, nay là nơi bán vé ferry (phà).


Qua cửa Castle là ra bờ biển đợi phà. Xa xa, nhìn thấy tượng thần giơ cao ngọn đuốc Tự Do trên làn sóng nhấp nhô của Đại Tây Dương bát ngát.


Tượng thần Tự Do là thần tượng của di dân tứ xứ, người mất tự do trên trái đất này tìm tới nước Mỹ tị nạn. Ai cũng biết tượng thần Tự Do với tên Statue of Liberty, dễ nhớ, không dài như tên nguyên thủy là Liberty Enlighting the World.


Thời gian chờ đợi xuống phà, đây đó vài người thầm lặng suy tư. Đó là những người mới tới Mỹ. Ngồi bên gốc cây, gió hiu hiu, xào xạc lá, tôi nhìn ra đại dương bao la nhớ lại mảnh đời dĩ vãng.


*


Tôi lớn lên tại Hànội, được ăn học đầy đủ trước khi khôn lớn. Năm 14 tuổi, tôi học trường Văn Hóa, ngôi trường định mệnh, sát Hỏa Lò, góc phố Hàng Bông Thợ Nhuộm. Thầy dạy Anh văn, ông Nguyễn Khang, có dáng tài tử xi nê hơn là thầy giáo, ngoài dạy học còn làm ở phòng Thông tin Mỹ, phố Tràng Tiền.


Năm 1953, phó tổng thống Mỹ Richard Nixon sang thăm Hànội, đã đến thăm trường tôi do thầy Khang mời.


Ngồi bàn đầu và là học sinh giỏi, thầy bảo tôi đại diện lớp. Sau khi bắt tay trả lời ông Nixon "I am fine, thank you", thầy vui, ông Nixon hài lòng, tôi được nhận quà tặng là một post card tượng thần Tự Do. Sau này vì tấm post card, tôi bị vào xà lim số 8 Hỏa Lò Hànội, dù chẳng ai biết ông Nixon đã tặng tôi.


Tôi đã tìm được tự do sau 28 năm đọa đày từ khi đất nước chia đôi, khi bức màn tre che kín miền Bắc, tăm tối âm u.


Cha tôi làm chủ một hãng thầu tại Hải phòng trong khi gia đình vẫn ở Hà Nội. Khi người lính quốc gia cuối cùng rút sang bên kia bờ Bến Hải, cha tôi và gia đình kẹt lại do không hiểu gì về cộng sản và tài sản, cơ ngơi còn đó.


Đỗ Mười về tiếp thu Hải phòng nói rằng các nhà tư sản vẫn được làm ăn bình thường. Một tháng sau, cha tôi bị tịch thu tài sản. Trở về Hànội, trắng tay, cả nhà sống trong túp lều ở ngoại ô, cha tôi đi đánh giậm, vớt tôm tép trong các ao hồ, rau cháo nuôi vợ con.


Đấu tố, cải tạo, chửi rủa, cha tôi ngày một tiều tụy hơn những người tiều tụy bị qui là tư sản còn lại trong thành phố. Lời trăn trối khi cha tôi khi nằm xuống là "Cha đã bị lừa, con hãy tìm đường vào miền Nam tự do".


17 tuổi tôi đi tìm tự do, bị bắt. Chiếc thuyền vượt tuyến giạt vào bờ bắc vĩ tuyến 17. Trải qua 11 trại giam, tôi bị giong về Hỏa Lò Hà Nội, trong xà lim số 8, mỗi xà lim giam một người. Văn nghệ sĩ Nhân Văn-Giai Phẩm chật cứng 4 dãy xà lim.


Biệt giam, tra hỏi, ép cung, làm sao tôi trả lời được những câu hỏi về chính trị lúc tôi còn nhỏ!


Từ trường học sang Hoả Lò, tôi chỉ còn nung nấu trong đầu hai tiếng Tự Do. Tôi sẽ đi tìm Tự Do suốt cuộc đời này! Từ đó tôi mang cái "mác": Trốn vào Nam theo địch, rồi dần dần thêm từng dòng "Âm mưu lật đổ chính quyền, phản động, làm tay sai CIA".


Lý lịch như vậy, sống trong thời điểm khốc liệt nhất của cộng sản Việt Nam, đời tôi còn quãng dài oan nghiệt. Tôi đã lên rừng, xuống biển, sang biên giới Việt Lào, vào miền trung để vượt tuyến vào Nam. Những tháng năm tù tội làm tôi hiểu cặn kẽ về cộng sản. Điều cha tôi đau khổ nói trước khi chết "Cha đã bị lừa..." nay tôi mới hiểu hết.


Năm 1981, tôi vượt biển lần thứ hai, bằng thuyền buồm đánh cá của một gia đình nghề chài, đi từ Hải phòng tới HongKong sau 26 ngày sóng gió. Định cư tại Mỹ năm 1982, tôi đã tìm thấy Tự Do .


Mãi suy tư nên lỡ chuyến ferry, phải đợi thêm nửa giờ, chuyến tới. Tôi không bận tâm vì chờ đợi, tôi đã đợi chờ gần nửa đời người, ba mươi phút chỉ là khoảnh khắc .


Sầu tủi đã trôi đi, chỉ còn vui tươi, hạnh phúc. Tôi còn có thể đợi chờ ngày vui tươi, hạnh phúc trên quê hương không còn cộng sản.


*


Xuống ferry (phà), mũi tầu chiếu thẳng Liberty Island, mươi phút, nhìn phía sau, khu Manhattan lô nhô nhà chọc trời mờ dần trong nắng chiều New York, trời xanh lơ không một bóng mây mù. Xa xa, những con tầu lướt sóng, những cánh buồm nhiều mầu sắc đu đưa khiến tôi, trong giây phút, liên tưởng đến hàng trăm tầu thuyền tới cảng, một ngày tị nạn của người Việt Nam.


Trên ferry người người, tay bắt tay, chào hỏi nhau, mặt rạng rỡ niềm tin, nụ cười chia xẻ. Người ta nói với nhau bằng nhiều thứ tiếng, hiểu nhau bằng chỉ trỏ.


Những con hải âu bay lượn quanh phà, mấy em bé ngây thơ tung mẩu bánh mì cho chim sà xuống, đôi cánh trắng vẫy chào.


Phà vào bến, tôi bước lên bờ, thêm kích thích vì cảnh tượng trên đảo. Trước hết là tượng thần Tự Do cao lừng lững trên một building tức là phần bệ đá. Người xếp hàng thành hai cánh cung bao bọc cột cờ, dựng trên sân gạch hình tròn.


Theo mũi tên và đường dây căng, mất thêm ba phút mới vào được tới bệ, rồi vào khu bảo tàng, giới thiệu công trình trùng tu năm 1980, kiến trúc và lịch sử tượng thần Tự Do. Cô gái Á đông xinh đẹp, tươi cười chào mọi người và kể chuyện. Tôi dừng lại đây lâu hơn một chút, không hiểu hết những gì cô nói, nhưng nhìn sơ đồ, thống kê tài liệu, biết được nhiều điều về pho tượng hình phụ nữ mặc áo choàng này.


Tượng thần Tự Do hoàn thành năm 1876, do nhà điêu khắc Frederic Auguste Bartholdi tạo hình, cùng kỹ sư Alexandre Gustave Eiffel thiết kế, xây dựng, là món quà của người Pháp tặng nước Mỹ.


Tính từ mặt đất, tượng cao 305 feet (92,99 m), riêng thân tượng cao 151feet (46,50 m) . Bên trong có hai lối lên đỉnh tượng: cầu thang máy lên hết phần bệ đá, cho người già hoặc ai không thích leo từng bậc thang (192 bậc). Còn leo từ đầu, cả thảy 354 bậc thang xoắn ốc. Đầu tượng đội chiếc nón có 7 cánh nhọn xòe ra, tượng trưng cho biển và lục địa ( thời đó chưa biết 5 châu, bốn biển, mới có 7). Vành nón có 25 cửa sổ, đại diện cho 25 viên kim cương quí tìm được trên trái đất. Tay mặt thần giơ cao ngọn đuốc, đêm đêm rực sáng, tay trái giữ tấm bảng trông như quyển sách ghi chữ số La Mã: "July 4th, 1776", ngày thành lập Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, ta quen gọi là Mỹ.


Rất ít người dùng thang máy, đa số leo thang bậc lên tới vành nón, chặng cuối của hành trình. Tôi thận trọng bước lên bậc thang thứ nhất, lòng hân hoan khó tả. Mỗi bước leo lên vòng thang xoắn ốc, tới khoảng giữa thân tượng, cảm thấy như vào động tiên.


Ánh đèn mờ ảo phản chiếu bộ khung sắt chằng chịt, đủ sáng cho ta leo lên, càng cao, phần tượng nhỏ dần vì sắp tới đầu. Bậc thang chỉ vừa một người nên không chen lấn. Trên tôi là cô gái gốc Poland (Balan), tóc vàng óng ánh, người sau tôi là đàn bà Phi châu, trang sức, váy chùng sặc sỡ. Chỉ có tiếng rì rầm vọng từ vách tượng như tiếng kinh cầu bí ẩn. Dòng người lên, xuống như đàn kiến vòng vèo, êm ả trong không khí dịu mát của máy điều hòa nhiệt độ.


Từ cửa sổ vành nón tượng thần, tôi nhìn ra cánh tay thần Tự Do giơ cao ngọn đuốc soi sáng tinh thần Tự Do cho nhân loại, và rồi nhìn ra Đại tây Dương, nghìn trùng xa cách, nửa vòng trái đất là nước Việt Nam của tôi chưa có Tự Do.


Chuyến phà về, trở lại Manhattan, trời chiều lắng dịu. Trên phà cũng lắng dịu tiếng người như để tận hưởng một ngày ý nghĩa trong đời là đến tượng thần Tự Do, ghi lại bằng nhiều tấm hình kỷ niệm.


Người trèo lên đỉnh núi Himalaya hoặc theo khí cầu bay vòng quanh thế giới để lập một kỷ lục, tôi leo lên đỉnh tượng thần Tự Do để trọn vẹn một ước mơ từ nhỏ.


Hòa nhập vào dòng người New York, tôi đi nốt quãng đời yên vui còn lại của một người đi tìm Tự Do, tìm được Tự Do trên đất Mỹ.


-----------------------------------------------------

Thứ Ba, 5 tháng 10, 2010

Cận cảnh hoàng thành Thăng Long xa xưa

Toàn cảnh Hoàng thành nhìn từ Đoan Môn.

Những góc khác nhau của Hoàng thành Thăng Long.

Toàn cảnh bên trong Hoàng thành.

Những góc khác nhau của Hoàng thành Thăng Long.




Cửa Đông Hoàng thành.

Cửa Tây Nam Hoàng thành.

Cửa Bắc Hoàng thành.

Điện Kính Thiên trong Cấm thành.


Những hình ảnh về thềm Điện Kính Thiên.

Cổng vào Cấm thành phía Tây.



Đường bên trong thành khi đã có sự chiếm đóng của Pháp.

Miếu thờ trong Cấm thành.


Góc tường ngoài Hoàng thành.
Chợ họp ngay ngoài cửa Đông.



Cột Cờ ở những góc chụp khác nhau.

(Ảnh trong bộ sưu tập Ký ức Hà Nội xưa)

"GIẢI PHÓNG” Nổi Kinh Hoàng Của Người Dân Nam Việt

Tiến Sỹ Lê Hiển Dương Hiệu Trưởng - Đại Học Đồng Tháp



Ngày nay hầu như nhân loại trên khắp hoàn cầu đều lấy năm Chúa Ki Tô giáng sinh làm mốc định thời gian, chúng ta đang ở vào năm 2010, tức là 2010 năm kể từ ngày Chúa giáng thế. Nhiều sự kiện khoa học hay lịch sử cũng được xác định dựa trên mốc thời gian này cho dù những dữ kiện đó hoàn toàn không liên quan gì đến niềm tin tôn giáo hay tín ngưỡng. Chẵng hạn nhà toán học Pythagore sinh năm 580 và mất năm 500 trước Công Nguyên, Tề Hoàn Công trị vì từ năm 685 đến năm 643 trước Công Nguyên…, Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng xãy ra năm 42 sau Công Nguyên… Các văn bản bằng Tiếng Anh thì dùng BC (before Christ) hoặc AD (Anno domini) để chỉ những sự kiện xãy ra trước hoặc sau Thiên Chúa giáng thế. Riêng người Việt nam chúng ta từ trong Nam ngoài chí Bắc từ sau 30 tháng tư năm 1975 lại có một mốc định thời gian mới: “hồi trước giải phóng” hay “hồi sau giải phóng”, tất nhiên người Việt mình nghe mãi rồi quen tai và không thấy gì phản cảm khi dùng hoặc nghe cụm từ này… Nhưng khi tôi vô tình dùng nó lúc nói chuyện với một đồng nghiệp người nước ngoài rằng “…after the liberation of the south…” thì ông ta sững sốt hỏi ngay rằng “… liberation from what?...” – Giải phóng khỏi cái gì? Thì tôi mới hốt hoảng với cách dùng cụm từ này để định mốc thời gian của người Việt … bởi đối với hầu hết người Việt, nhất là người miền Nam hoặc đối với cả đồng bào miền bắc di cư vào Nam năm 1954 nữa, thì “giải phóng” là một nỗi ám ảnh trong cả đời người…
"Giải Phóng Miền Nam"



 

Còn nhớ ngày 30 Tư năm 1975, lúc đó chúng tôi còn là sinh viên của đại học sư phạm Vinh đã hồ hỡi, phấn khởi hò reo meeting nhiều đêm ngày để mừng miền Nam được hoàn toàn giải phóng, bởi chúng tôi tin rằng từ đây đồng bào Miền nam ruột thịt của chúng tôi sẽ không còn đói rách lầm than và không còn sống trong cảnh “ngụy kềm, Mỹ hãm” nữa… Họ đã được đảng và Bác cùng nhân dân miền Bắc chúng tôi giải phóng. Và những tháng tiếp theo đó chúng tôi được tận mắt nhìn thấy hàng đàn hàng lủ bọn ngụy quyền ác ôn bị sự trừng phạt của chính quyền cách mạng, của nhân dân miền Bắc và của chính chúng tôi… Số là mỗi tuần một lần. chúng tôi được chính quyền và Ban Giám Hiệu nhà trường thông báo vào những ngày giờ có những ô tô của cục quân pháp chuyển tù cải tạo là những sỹ quan, ngụy quyền ác ôn của chính quyền Mỹ Thiệu đi ngang qua địa phương để đến các trại cải tạo ở mạn ngược. Cùng với đồng bào địa phương, mỗi sinh viên chúng tôi phải chuẩn bị đầy đủ cơ số đã trứng nhặt từ đường ray xe lửa để khi đoàn xe tù đi ngang qua là hô hào toàn dân trút những trận mưa đá lên đầu những tên ngụy quyền ác ôn này, bởi chúng có quá nhiều nợ máu với nhân dân, với đất nước…Và sau mỗi lần trừng trị bọn ngụy quyền ác ôn đó, chúng tôi đều có hội họp, báo công và được tuyên dương khen thửơng, được kết nạp vào đoàn, được vinh dự đứng vào hang ngũ của đảng vì đã đả thương được bao nhiêu sỹ quan ngụy quyền đó. Tất nhiên là cũng có nhiều buổi họp báo công, chúng tôi cũng bị phê bình kiểm điểm vì đã không có trường hợp thương vong nào được ghi nhận trong những vụ “tập kích” đó…



Kết thúc 4 năm đại học với vô số những cuộc tập kích để ném đá vào những xe chuyển tù, rồi chúng tôi cũng tốt nghiệp đại học, rồi được đảng và nhà nước chi viện vào miền Nam để mang ánh sáng văn hóa vào cho đồng bào miền Nam ruột thịt bao năm qua sống trong u tối lầm than vì cứ liên miên bị ngụy kềm, Mỹ hãm chứ đâu có được học hành gì…







[b]Hai triệu đồng bào miền Bắc phải di cư vào Nam sau khi miền Bắc được "giải phóng"[/b]



Chúng tôi thực sự choáng ngợp khi xe qua khỏi vùng chiến sự Quảng Trị, đến Huế, đến Đà Nẵng.. rồi Nha Trang, Sài gòn rồi về Miền Tây, đến thị trấn Cao Lãnh, đâu đâu cũng lầu đài phố xá chứ có tường đất mái tranh như ở thành phố Vinh chúng tôi đâu!



Nhận xong nhiệm sở từ Ty giáo dục Đồng Tháp, chúng tôi được đưa về công tác tại trường Trung Học Sư Phạm Đồng Tháp ngay tại trung tâm của thị trấn Cao Lãnh, và tại đây, trong suốt nhiều năm liền chúng tôi được bố trí ở tại khách sạn Thiên Lợi mà chính quyền cách mạng đã tịch biên từ tên tư sản Thiên Lợi… Chúng tôi đi từ choáng ngợp này đến choáng ngợp khác, bởi đây là lần đầu tiên chúng tôi biết được thế nào là “Khách Sạn”, biết được thế nào là Lavabo là hố xí tự hoại, bởi cả thành phố Vinh, cả tỉnh Nghệ An chúng tôi hay thậm chí cả miền Bắc XHCN lúc bấy giờ chỉ sử dụng hố xí lộ thiên, để còn dùng nguồn “phân Bắc” này để canh tác, để tăng gia sản xuất theo sáng kiến kinh nghiệm cấp nhà nước của đại tướng Nguyễn Chí Thanh mà được Bác Hồ khen thưởng và có thơ ca ngợi rằng:

“Hoan hô anh Nguyễn Chí Thanh
Anh về phân Bắc, phân xanh đầy nhà”…



Thậm chí ở xã Hưng Lĩnh, Hưng Nguyên quê tôi lúc bấy giờ còn có cả những vụ án các tập đoàn viên, các hợp tác xã viên can tội trộm cắp phân bắc từ các hố xí của láng giềng để nộp cho hợp tác xã… Tôi thấm thía hơn với những câu thơ ca ngợi miền Bắc đi lên XHCN của Tố Hữu mà ngoài sinh viên học sinh chúng tôi ra thì hầu như cả nhân dân miền Bắc lúc bấy giờ ai cũng thuộc nằm lòng:



“Dọn tí phân rơi nhặt từng ngọn lá
Mỗi hòn than mẫu thóc cân ngô
Hai tay ta gom góp dựng cơ đồ…”



Tôi bắt đầu nghi ngờ với cụm từ “giải phóng miền nam” … Rồi những trận đổi tiền để đánh tư sản, rồi nhiều nhà cửa của đồng bào bị tịch biên, rồi hàng triệu đồng bào bắt đầu bỏ nước ra đi, nhiều giáo sinh của trường chúng tôi cũng vắng dần theo làn sóng đi tìm tự do đó… tôi bắt đầu hiểu đích thực ý nghĩa của cụm từ “giải phóng niền nam” và bắt đầu cảm thấy xấu hổ cho bao nhiêu năm sống trong niềm ảo vọng mù quáng của bản thân… mà dù ở chừng mực nào cũng được xem là thành phần trí thức trong xã hội…


Giải Phóng Mặt Bằng ở Cồn Dầu



Dần dần tôi hiểu sâu hơn cái sự mĩa mai chua chát của hai từ “GIẢI PHÓNG” đang được dùng trong kho tàng Tiếng Việt của nước nhà… “Giải phóng miền nam” thực sự có mang lại niềm vui, niềm hạnh phúc vô biên và cả sự thịnh vượng nữa với gia sản có thể đột ngột tăng lên cả 16 tấn vàng ròng… những tất nhiên chỉ cho một thiểu số trong xã hội, chỉ chừng 16 người trong tổng số non 50 triệu dân lúc bấy giờ thôi… Còn lại thì “giải phóng” đồng nghĩa với cảnh côi cút vì "sinh bắc tử nam" mất con, mất chồng, mất cha, mất anh mất em bởi họ đã vào chiến trường và không bao giờ trở về nữa… Giải phóng cũng có nghĩa là tù đày, là cải tạo nơi rừng thiêng nước độc, là mất vợ.. mất con, mất nhà cửa ruộng vườn, mất bao nhiêu người thân trên biển cả và mất hết tự do dân chủ nhân quyền và mất luôn cả tổ quốc! Rồi “giải phóng mặt bằng” cũng chỉ mang nguồn lợi lớn lao cho một nhóm quan phương, nhưng lại là nỗi ám ảnh nỗi hãi hùng của muôn dân, bởi sau "giải phóng mặt bằng" là hàng trăm đồng bào lại phải vô tù ra khám bởi tội “chống người thi hành công vụ”, bởi sau giải phóng mặt bằng là cái chết của thiếu niên Lê Xuân Dũng, là thương tật của nông dân Lê Thị Thanh và Lê Hữu Nam…
Giải phóng mặt bằng ở Loan Lý

Chẳng biết người dân Việt nam từ nay còn dùng cụm từ “trước ngày giải phóng” hay “sau ngày giải phóng” để định mốc thời gian nữa không… Riêng tôi, tôi cảm thấy quá căm thù nhân loại bởi đã bịa ra từ ngữ “giải phóng” và “giải phóng mặt bằng” mà chi để dân Việt chúng tôi vì nó mà phải khổ lụy đến dường này.


Đồng Tháp ngày 29 tháng 5 năm 2010
Tiến sỹ Lê Hiển Dương
Văn bản của Công an tỉnh Thanh Hóa báo cáo về vụ


việc ngày 25/5 tại xã Tĩnh Hải, huyện Tĩnh Gia
Giải Phóng mặt bằng ở Nghi Sơn, Thanh Hóa-Em Lê Xuân Dũng bị bắn chết ngay tại chỗ >>

loc.lam@mekong.com.au