June 14, 2014 Bình Luận
Trước khi Chữ Quốc Ngữ[1] xuất hiện vào cuối thế kỷ thứ 16 do các giáo sĩ người Âu Châu sang Việt Nam truyền đạo, Chữ Nôm [2] là
thứ chữ riêng của nước ta dùng để ghi lại tiếng nói của người mình. Chữ
Nôm có phải là văn tự đầu tiên hay trước đó chúng ta đã có một thứ chữ
khác? Đề tài về cổ văn tự được các nhà ngữ học, khảo cổ, học giả bàn
thảo từ nhiều năm qua.
Theo Dương Quảng Hàm[3] “Dân tộc
ta trước khi nội thuộc nước Tàu, có thứ chữ riêng để viết tiếng Nam hay
không; đó là một vấn đề, hiện nay vì không có di tích và thiếu tài
liệu, không thể giải quyết được”.[4] Nghiêm Toản[5] cũng cho rằng “Trước hồi Bắc Thuộc ta vẫn có tiếng nói riêng, còn chữ viết thì không biết ta đã có hay chưa?”[6]
Không
bỏ lửng như Dương Quảng Hàm và Nghiêm Toản, các tác giả khác khác tiếp
tục tìm tòi về cổ văn tự Việt. Kết quả các công trình nghiên cứu cho đến
nay có 2 khuynh hướng trái ngược.
THỜI CỔ VIỆT NAM KHÔNG CÓ CHỮ VIẾT
Một cách gián tiếp, Lê Văn Siêu,[7] khi luận về văn tự đã khẳng định vào đời Hùng Vương, trước khi bị Tàu xâm chiếm, nước ta chưa có chữ viết: “ Sử có chép là nhà vua (Hùng Vương [8] đã
một lần đi đánh miền Nam đến cửa bể Thần Phù, tức là đến Thanh Hóa nơi
gốc cũ, thuyền bị gió cản không đi được, sau có một đạo sĩ xưng là La
Viện xin cỡi thuyền đi trước dẫn đường để tam quân đi sau. Tự nhiên
không có sóng gió gì nữa. Khi tấu khải trở về, La Viện mất. Vua truy
phong là Áp Lãng Chân Nhân, lập đền thờ ở bờ sông để thờ. Lại cũng theo
tục truyền, khi vua Hùng Vương Nam chinh đóng quân ở núi Khả Lao (Thanh
Hóa), có nằm mơ thấy thần bảo rằng “Xin có cái trống đồng và dùi đồng
giúp nhà vua thắng trận”. Đến lúc ra trận thì thấy trên không văng vẳng
có tiếng trống đồng rồi quả nhiên được toàn thắng. Vua bèn sắc phong
thần núi xã Đam Mê là Đồng Cổ Đại Vương, và đền thờ từ đấy gọi là Đồng
Cổ Thần Từ (trong còn một cái trống bằng đồng cổ)”.
Trong phần chú thích, Lê Văn Siêu ghi: “Xin
lưu ý: hồi này chữ Hán chưa được truyền vào Giao Chỉ, làm sao mà vua
Hùng Vương có thể có chữ để phong cho thần là những Áp Lãng Chân Nhân
với Đồng Cổ Đại Vương? Vậy việc đi đánh miền Nam có thể có thực, nhưng
đặt duệ hiệu theo những tiếng Nôm nào đó, còn sự phong tặng chỉ là những
thêm thắt của đời sau.” [9]
Cùng
quan điểm Việt Nam chưa có chữ viết riêng cho tới khi bị người Tàu đô
hộ và chữ Hán là văn tự đầu tiên chúng ta sử dụng, Vũ Thế Ngọc,[10] với nhãn quan khoa học, không chấp nhận lý luận nặng về tình cảm, nhẹ về khảo chứng: “Tự
hào là con dân một nước văn hiến lâu đời, chắc chắn chúng ta đều hãnh
diện khi chứng minh được rằng người Việt đã có chữ viết từ thời lập
quốc. Tuy nhiên sự thật là cho đến nay (1987), chưa có một chứng kiện
nào cho thấy ta có văn tự trước thời Bắc thuộc. Có lẽ chứng kiện còn
đang chôn sâu dưới lòng đất hoặc ở ngay trên hàng ngàn trống đồng nhưng
vì ta chưa tìm được cách đọc chăng?
Sự
việc không có một văn tự ở thời cổ đại không chứng minh một điều nào
hết. Việc có chữ viết dù có là một chứng chỉ đánh dấu trình độ văn minh
của một dân tộc nào đó, nhưng điều đó không bao hàm logic trái ngược.[11]
CÓ MỘT THỨ CHỮ VIỆT THỜI THƯỢNG CỔ
Đa
số các nhà biên khảo, học giả, sử gia đều cho rằng trước thời Bắc
thuộc, khi chưa tiếp xúc với người Tàu và biết chữ Hán, dân tộc ta đã có
một thứ chữ riêng để ghi tả tiếng nói của mình.
Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục của Quốc Sử Quán triều Nguyễn có ghi lời chú: “Dựa theo sách Thông Chí của Trịnh Tiều và sách Cương Mục Tiền Biên của Lý Kim Tường thì đời Đào Đường (2357-2258 TTL)
ở phương Nam có họ Việt Thường qua 2 lần sứ dịch sang chầu dâng rùa
thần. Rùa này có lẽ đã sống đến ngàn năm, mình nó đến hơn 3 thước (96 cm), trên lưng có chữ Khoa Đẩu ghi chép việc từ khi mới mở mang về sau. Vua Nghiêu sai chép lấy gọi là Qui Lịch”.[12]
Hoàng Đạo Thành,[13] tác giả Việt Sử Tân Ước Toàn Thư, tin rằng nước ta đã có chữ viết riêng từ trước thời Bắc thuộc: “Nước Nam đời xưa đáng lý phải có chữ, nếu không thì những việc cũ theo đâu mà ghi nhớ? Lúc Sĩ Thứ Sử (Sĩ Nhiếp)
dạy chữ thì khi ấy mới học văn Hán, dùng chữ Hán vậy. Vì văn Hán thông
dụng đã lâu nên quốc tự không còn truyền, không thể khảo ở đâu được. Thử
xem dân miền núi thượng du đều có chữ dân cùng dùng với nhau, há lại
riêng nước ta không có chữ ru?” [14].
35 chữ cái của lối chữ Châu, Thanh Hóa (tài liệU trong Việt Nam Cổ Văn Học Sử, Nguyễn Đổng Chi)
Nguyễn Đổng Chi[15] và Lương Đức Thiệp[16] cổ
xúy cho lập luận trên, quả quyết trước thời vay mượn chữ Hán, Việt Nam
đã có văn tự riêng nhưng vì trải hơn 1000 năm Bắc thuộc những dấu tích
đã bị người Tàu tàn phá hết.
Lương Đức Thiệp đưa ra ức thuyết “về
thời cổ dù mức sinh hoạt dân chúng Việt Nam còn thấp kém, nhưng khi xã
hội đã bành trướng, có tổ chức, có một số dân khá đông, xã hội Việt Nam
ngay từ buổi đầu bắt buộc phải tạo ra một thứ chữ để ghi chép những
chuyện quan hệ xảy ra trong xã hội, trong gia đình, trong thôn xóm, hoặc
ghi chép những thể lệ một đoàn thể. Thứ chữ ấy sau vì không tiện hoặc
vì ảnh hưởng chính trị văn hóa Trung Quốc mà bị đào thải, nên ngày nay
ta không còn thấy vết tích nào về thứ chữ đó cả.” [17]
Nguyễn Đổng Chi lý luận: “Một
dân tộc đông và tiến hóa như dân tộc Việt Nam lẽ nào lại không có một
văn tự riêng trong khi ba bề bốn bên người Tàu, Lào, Chàm ai nấy đều có
cả”.
Thực
tế thì người Lào, Chàm, Mường, Thổ kém văn minh hơn Việt Nam mà họ đều
có chữ viết riêng để sử dụng từ thời xưa. Ngay như người Mường ở Phủ
Tương, Phủ Quỳ thuộc tỉnh Nghệ An nằm sát cạnh nhau mà cũng có tới 2 thứ
chữ khác nhau. Vương Duy Trinh [18] xác định trong sách Thanh Hóa Quan Phong “ Tỉnh
Thanh Hóa một châu quan có chữ là lối chữ thập châu. Người ta thường
nói “Nước ta không có chữ”. Ta nghĩ rằng không phải vậy. Thập châu vốn
là đất nước ta, trên châu còn có chữ, lẽ nào dưới chợ lại không? Lối chữ
châu là lối chữ nước ta đó”. Nhận định này khả tín vì người Mường
hầu như không bị ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa và là di duệ chính của
người Việt Thường. Lối chữ châu gần với chữ của người Lào hoặc người
Miên, có tổng cộng 35 chữ cái. [19]
Kim Định [20] giải thích lý do tại sao không có dấu vết chữ viết trên trống đồng Đông Sơn: “Không
thể thấy vắng bóng chữ viết trên trống đồng mà cho rằng Lạc Việt chưa
có chữ bởi không viết có thể vì chữ chưa hình thành xong, hoặc tại lý do
hay tin tưởng nào đó, chẳng hạn tin rằng đồ xài lâu năm có hơi hướng
người chủ dính dáng chày ngày sẽ thành ma quỉ phá phách người sống, nên
người không dám viết chữ. Chính vì thế đồ sứ xưa không hề có chữ. Có chữ
ký vào mới xảy ra về sau, từ khi giao thiệp với Tây Phương đòi ghi chú,
cũng như nhiều đồ đồng nhà Thương không có chữ…(Creel, trang 118)”.
Tiếp
theo, căn cứ vào các dữ kiện của những học giả Tây Phương liên quan tới
chữ cổ, Kim Định khẳng định Việt Nam đã có văn tự trước cả người Trung
Hoa “Nhiều học giả nhắc tới thứ chữ cổ xưa và gọi là Điểu Tự,[21] và nơi khác có nói đến con rùa Việt Thường cống vua Nghiêu trên lưng có cổ tự.[22] Hai
điểm trên hợp với lưu truyền xưa nói rằng chữ ban đầu viết theo lối
chân chim hay con quăng. Đó là hình dáng rất hợp cho chữ VĂN ban đầu chỉ
nét rằn ri trên gỗ, đá, ngọc…Vì thế tôi cho rằng Lạc Việt đã có công
đầu trong việc đặt nền tảng cả cho chữ viết, và để ghi công đầu đó, tổ
tiên đã đặt danh hiệu nước là Văn Lang. Đặt danh hiệu đó để nhớ bước đầu
nhưng vẫn tiến và đã tới đợt “TỰ” (thanh), nhưng chưa kịp tiến sang đợt
“THƯ” thì bị nạn xâm lăng, đành bỏ dở việc kiến tạo lại cho người xâm
lăng tiêp nối” [23]
(Khởi thủy chữ dựa trên hình dáng sự vật, giai đoạn bắt đầu này gọi là
VĂN. Đây là chữ tượng hình (pictographique) tức là vẽ ra hình sự vật.
Đợt sơ khởi này còn rất mộc mạc vì hình mới chỉ gợi ra một tượng hình lơ
mơ, chưa gọi tên ra được nên thiếu rõ rệt. Nhiều giống dân như Indiens
hay Mexicains kẹt lại ở giai đoạn này, không tiến lên được đợt TỰ (thanh
âm). Với ý niệm rõ rệt đi theo từng hình cho nên chữ chỉ là tượng hình (pictogramme) mà chưa là tượng ý (Ideogramme).
Tuy nhiên, vì đóng vai trò khai mở quan trọng trên đường bước vào văn
hóa nên được gọi là VĂN mang ý nghĩa bao trùm cả các giai đoạn sau. Dần
dần thêm âm vào hình thì thành đợt TỰ. Từ đó âm và hình nương nhau đẻ ra
nhiều chữ và được viết trên thẻ tre hoặc lụa thì gọi là THƯ).[24]
Gần
đây, trong khi nghiên cứu các đồ đồng Đông Sơn, Hà Văn Tấn đã phát hiện
một số các hình nét là những dấu vết của chữ Việt cổ. Trên lưỡi cày và
khí giới tìm được ở Thanh Hóa, các nhà khảo cổ cũng thấy một số dấu hiệu
có tính cách qui ước mà theo Hà Văn Tấn thì những chữ này tương tự như
các chữ khắc trên chiếc qua tìm thấy ở tỉnh Hồ Nam, Trung Hoa.[25]
Những
hình khắc có tính cách qui ước tìm thấy trên vách đá ở Thượng Phú và
Yên Lạc tỉnh Quảng Bình, Hang Kỳ tỉnh Thái Nguyên, Len Đất tỉnh Lạng
Sơn, Mường Hoa (cao nguyên Tây Bắc) là những chứng tích tượng hình cụ
thể của chữ Việt cổ.[26]
Tháng
10 năm 2011 các chuyên gia của Hội Nghiên Cứu Văn Hóa Lạc Việt tỉnh
Quảng Tây đã phát hiện mấy chục khối mảnh vỡ “xẻng đá lớn” và tấm đá có
khắc đầy chữ Việt cổ tại di chỉ cúng tế “xẻng đá lớn” Cảm Tang
thuộc thị trấn Mã Đầu, huyện Bình Quả, thành phố Bách Sắc. Ngày 19
tháng 12, 2011 chuyên gia lại đến hiện trường tiến hành khảo sát, nghiên
cứu phát hiện khối đá có chữ viết lớn nhất dài 103 cm, rộng 55 cm, trên
bề mặt khắc trên 1000 tự phù, phần lớn là chữ cúng tế và lời chiêm bốc.
Căn cứ vào sự phân bố “xẻng đá lớn” hoàn chỉnh ở bên cạnh phiến đá có
khắc chữ thì thời kỳ xuất hiện của phiến đá có khắc chữ cũng cùng thời
kỳ với “xẻng đá lớn”
Ngoài
ra, vào tháng 11, 2011, hội nghiên cứu trên cũng phát hiện đàn cúng tế
loại lớn của người Lạc Việt cổ trên núi Đại Minh, tỉnh Quảng Tây và tìm
thấy được phù hiệu và bản vẽ. Theo Tưởng Đình Du, Chủ Nhiệm hội Giám
Định Văn Vật Quảng Tây, thì phù hiệu và bản vẽ này khắc về cúng tế của
người Lạc Việt vào “thời đại đồ đá mới”. Sau đó các chuyên gia cũng phát
hiện một số lượng lớn phù hiệu chữ viết cổ khắc trên mảnh xương, đồ
ngọc, đồ đá tại vùng đất có phân bố di chỉ cúng tế của người Lạc Việt
tại huyện Vũ Minh và huyện Long An của thành phố Nam Ninh, huyện Điền
Đông, thành phố Bách Sắc, thuộc tỉnh Quảng Tây. Những phù hiệu (câu bùa)
này rõ ràng là câu đơn hoặc đơn biệt được chuyên gia cho là chữ viết
của thời kỳ đầu.[27]
Trong quá trình tìm hiểu về chữ Việt cổ, Hà Văn Thùy đã thu thập được những dữ kiện sau đây:
- Văn bản chữ tượng hình của người Việt Cổ trên bình gốm tại di chỉ Bán Pha 2,[28] gần thủ phủ Tây An, tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc, có tuổi 12,000 năm.
- Chữ tượng hình khác trên yếm rùa tại di chỉ Giả Hồ, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc, có tuổi 9,000 năm.
- Một số chữ tượng hình cổ phát hiện ở Sơn Đông, nơi cư trú trước đây của người Việt cổ.
- Chữ tượng hình được gọi là chữ Thùy của người Thùy tộc, một bộ lạc Việt xưa, hiện có khoảng 250,000 người sống ở Quí Châu.
So
sánh tự dạng thì chữ tìm thấy mới đây ở Cảm Tang phức tạp hơn chữ tượng
hình ở di chỉ Bán Pha 2 và ở Giả Hồ, nhưng lại đơn giản hơn chữ trên
Giáp Cốt Văn [29] và Kim Văn.[30] Điều
này cho phép giả định, hệ thống chữ Lạc Việt có thể bắt đầu từ Bãi Đá
Sapa đi lên. Vì ở thời kỳ sớm nên chữ ở Bán Pha 2 và ở Giả Hồ còn đơn
giản. Do có tuổi muộn hơn nên chữ ở Cảm Tang phức tạp hơn. Phải chăng
chữ trên giáp cốt và đồ đồng Ân Khư là sự phát triển sau cùng của chữ
tượng hình Lạc Việt.
Theo
lịch sử sự hình thành của dân cư Trung Quốc thì trong thời gian này
trên địa bàn Trung Hoa chỉ có người Việt sinh sống, người Hoa Hạ chưa
hiện diện, chứng tỏ rằng đó là thứ chữ của người Lạc Việt.[31]
KẾT LUẬN
Sự
phát hiện chữ Lạc Việt ở Cảm Tang tỉnh Quảng Tây năm 2011 là chứng tích
rõ ràng cho thấy người Việt đã sáng tạo ra chữ viết từ hơn 4000 năm
trước. Sự kiện này phá bỏ hoàn toàn quan niệm người Lạc Việt không có
chữ viết và lịch sử chữ Hán phải được viết lại.
Chúng
ta đã có văn tự riêng từ thời thượng cổ trước khi bị người Tàu xâm
chiếm. Chữ Lạc Việt xuất hiện vào đầu thời đại “đồ đá mới” và hình thành
vào thời kỳ đỉnh cao của “văn hóa xẻng đá lớn” (từ thế kỷ 40 TTL đế thế
kỷ 20 TTL). Tuy nhiên thứ chữ tối cổ đó còn rất thô sơ mới đang phát
triển và ở trong thời kỳ “Tự” thì phải bỏ dở vì ách thống trị của Tàu
hơn 1000 năm. Cổ tự của Việt Nam đã mai một và bị hủy diệt bởi thế lực
đô hộ của người Tàu (khi Sĩ Nhiếp đem chữ Hán vào nước ta đã cấm người
Việt viết chữ tượng thanh đã quen dùng cho tới ngày đó).[32] Chính
những thành đạt về chữ viết của Lạc Việt đã được người Tàu tiếp nối,
dùng thứ chữ khắc trên Giáp Cốt Văn và Chung Đỉnh Văn của ta làm cơ sở
phát triển và kiện toàn chữ Hán của họ sau này.
TRẦN BÍCH SAN, TS TRẦN GIA THÁI
CHÚ THÍCH
[1] Chữ Quốc Ngữ
(chữ Việt chúng ta sử dụng ngày nay) do các mẫu tự La Tinh ghép thành,
xuất phát từ nhu cầu truyền đạo Thiên Chúa của các giáo sĩ người Âu
Châu. Giáo sĩ có công lớn nhất trong việc sáng chế ra Chữ Quốc Ngữ là
các cố Gaspard de Amaral, Antanio de Barbosa người Bồ Đào Nha, Linh Mục
dòng Tên Alexandre de Rhodes người Pháp.
[2] Chữ Nôm
do chữ Hán (còn gọi là chữ Nho) của Tàu biến thể bằng cách dùng nguyên
hình chữ Nho, hoặc lấy 2, 3 chữ Nho ghép lại. Chữ Nôm rất khó, muốn đọc
và viết chữ Nôm phải tinh thông chữ Hán.
[3] Dương Quảng Hàm (1898-1946): giáo
sư, nhànghiên cứu văn học, hiệu Hải Lương, sinh ngày 15 tháng 01, 1898,
mất tích tại Hà Nội năm 1946, quê làng Phú Thị, tổng Mễ Sở, huyện Khoái
Châu, tỉnh Hưng Yên, tốt nghiệp Cao Đẳng Sư Phạm Đông Dương (1920),
giáo sư trường Trung Học Bảo Hộ (Lycée de Protectorat thường gọi là
trường Bưởi). Anh ruột là Dương Bá Trạc (trong ban biên tập Nam Phong
Tạp Chí), em ruột là Dương Tụ Quán (sáng lập tạp chí Tri Tân).
[4] Việt Nam Văn Học Sử Yếu (Dương Quảng Hàm) trang 113.
[5] Nghiêm Toản (1907-1975):
giáo sư, nhà nghiên cứu văn học, bút hiệu Hạo Nhiên, sinh ngày 05 tháng
03, 1907, mất tại nhà riêng ở Sài Gòn năm 1995, quê ở Nam Định, tốt
nghiệp Cao Đẳng Sư Phạm Đông Dương., giáo sư Đại Học Văn Khoa (Hà Nội
& Sài Gòn), Đại Học Sư Phạm (Sài Gòn)
[6] Việt Nam Văn Học Sử Trích Yếu (Nghiêm Toản) trang 41.
[7] Lê Văn Siêu (1911-1995):
tốt nghiệp trường Công Nghệ Thực Hành ở Hải Phòng, đốc công nhà máy
gạch Đáp Cầu thuộc sở Công Chánh Hà Nội (từ 1932), những năm 1940 hợp
tác với nhóm Hàn Thuyên của Nguyễn Đức Quỳnh, Trương Tửu, Đặng Thái Mai…
[8] Hùng Vương:
sử ghi 18 đời Hùng Vương trị vì từ năm 2879 TTL đến 258 TTL. Niên biểu
này không được chính xác vì một đời vua không thể dài trên 100 năm.
[9] Việt Nam Văn Minh Sử Cương (Lê Văn Siêu) trang 68.
[10]Vũ Thế Ngọc:
tốt nghiệp Cao Học Văn Học Việt Nam, trong nhóm sáng lập và chủ biên
nhật báo Sóng Thần (Sài Gòn), chủ trương nhà xuất bản Eastwest Institute
(California, Hoa Kỳ từ 1980).
[11] Nghiên Cứu Chữ Hán và tiếng Hán Việt (Vũ Thế Ngọc) trang 27.
[12] Quốc Sử Quán, Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, Bộ Văn Hóa Giáo Dục, Sài Gòn 1965, trang 31.
[13] Hoàng Đạo Thành,
sử gia, nguyên họ Cung, khi đi thi Hương đổi ra họ Hoàng, hiệu Cúc Lữ,
quê làng Kim Lũ, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông, đỗ Cử Nhân năm Giáp Thân
1884, làm quan Đồng Tri Phủ, sau xin từ nhiệm về quê, cùng Đào Nguyên
Phổ và các trí sĩ khác hoạt động trong phong trào Duy Tân.
[14] Việt Sử Tân Ước Toàn Thư, nguyên văn: “Việt
quốc tùng cổ đương tự hữu văn tự. Bất nhiên tùng tiền sự duyên hà ký
ức? Sĩ Thứ Sử văn tự chi giáo tắc chí thị thủy học Hán văn. Dụng Hán tự
nhĩ. Hán văn thông hành ký cửu. Quốc tự toại bất phục truyền vô phục khả
kháo. Thí quan, thượng du sơn đổng chi dân các hữu văn tự tương vi hành
dụng khởi ưng quốc trung độc vô hồ?”
[15] Nguyễn Đổng Chi (1915-1984):
nhà nghiên cứu văn học, sinh ngày 06 tháng 01, 1915, mất ngày 20 tháng
07, 1984, quê xã Hậu Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh, viện trưởng Viện
Hán Nôm. Trong thời gian làm việc ở Viện Sử Học đã phát hiện di chỉ đồ
đá Núi Đọ năm 1960.
[16] Lương Đức Thiệp (? – 1946):
nhà nghiên cứu xã hội học, thành viên của nhóm Hàn Thuyên và tạp chí
Văn Mới gồm có Nguyễn Xuân Tái, Trương Tửu, Nguyễn Đức Quỳnh, Lê Văn
Siêu, Đặng Thái Mai, Nguyễn Hải Âu, Phạm Ngọc Khuê…cộng tác với các báo
Tri Tân, Tao Đàn, Thanh Nghị chuyên về văn học, xã hội học VN từ cổ đại
đến hiện đại.
[17] Xã Hội Việt Nam (Lương Đức Thiệp), nxb Hàn Thuyên, Hà Nội, 1942.
[18] Vương Duy Trinh:
tự Từ Cán, hiệu Đạm Trai, Hương Trì, quê làng Phú Diễn, huyện Từ Liêm,
tỉnh Hà Đông, đỗ Cử Nhân năm Canh Ngọ 1870, làm quan đến Bố Chánh, sau
được thăng Tổng Đốc Thanh Hóa.
[19] Việt Nam Cổ Văn Học Sử (Nguyễn Đổng Chi): lục đăng và phiên âm 35 chữ cái của người Mường.
[20] Kim Định (1915-1997):
tên thật Lương Kim Định, sinh tại Nam Định ngày 15 tháng 06, 1915, mất
ngày 25 tháng 03, 1997 tại tiểu bang Missouri, linh mục, triết gia (tác
giả triết thuyết Việt Nho), nhà nghiên cứu văn học, giáo sư Đại Học Văn
Khoa, di tản sang Hoa Kỳ từ 1975.
[21] Điểu Tự (trong
quyển Histoire Général de la Chine, Cordier, trang 68): theo cổ sử
Trung Hoa, sử thần Thương Hiệt đời Hiên Viên Hoàng Đế nhìn vết chân chim
nghĩ ra chữ viết.
[22] Khoa Đẩu:
chữ viết trên lưng rùa của Việt Thường tiến cống vua Nghiêu vào khoảng
thế kỷ thứ 23 TTL. Chữ có hình giống con nòng nọc (lăng quăng) đầu to,
đuôi nhỏ.
[23] Nguồn Gốc Văn Hóa Việt Nam (Kim Định) trang 122, 123.
[24] Thuyết Giải Văn Tự (Hứa Thận): tự điển lâu đời nhất của Tàu, khoảng 100 STL. Giải nghĩa các giai đoạn cấu tạo chữ viết phỏng theo sách này.
[25] Hà Văn Tấn, Một số vấn đề văn hóa phùng nguyên, Nghiên Cứu Lịch Sử, số 112, 1968.
[26] Nguyễn Khắc Ngữ, Nguồn Gốc Dân Tộc Việt Nam, Nhóm Nghiên Cứu Sử Địa, 1985, trang 138-164.
[27] Website:
news.xinhuanet.com (bản tin của Lý Nhĩ Chân đăng ngày 03 tháng 01,
2012). Tin này được dịch và công bố trên mạng Việt Học và trang Lý Học
Đông Phương:
http: //diendan.lyhocdongphuong.org.vn/bai-viet/23954-chu-viet-co-o-nam-duong-tu
[28] Thôn Bán Pha:
di chỉ cổ vào bậc nhất ở Trung Quốc, được gọi chung là nền “Văn Hóa
Ngưỡng Triều”, một nền văn hóa 4000 năm TTL. Trong một số đồ đất có một
số hình vẽ và ký hiệu có thể là cơ sở cho những chữ tượng hình nguyên
thủy.
[29] Giáp Cốt Văn: loại chữ viết trên xương thú vật.
[30] Kim Văn:
còn gọi là Chung Đỉnh Văn, là loại chữ viết trên chuông (chung), đỉnh
(vạc) và các đồ đồng khác, vì vậy gọi là Kim Văn. Loại chữ này xuất hiện
vào cuối đời nhà Thương (khoảng 1300 TTL).
[31] Hà Văn Thùy, Phát Hiện Chữ Việt Cổ ở Quảng Tây, website Việt Thức, ngày 16 tháng 02, 2012 www.vietthuc.org
[32] Terrien de Lacouperie, The Languages of China before the Chinese, tái bản ở Đài Loan năm 1970, page.54.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Dương Quảng Hàm, Việt Nam Văn Học Sử Yếu, Hà Nội, 1944, Bộ Giáo Dục tái bản, Sài Gòn, 1968.
- Hà Văn Tấn, Một Số Vấn Đề Văn Hóa Phùng Nguyên, Nghiên Cứu Lịch Sử, số 112, Hà Nội, 1968.
- Hà Văn Thùy, Phát hiện Chữ Việt Cổ ở Quảng Tây, website Việt Thức, www.vietthuc.org February 16, 2012.
- Kim Định, Nguồn Gốc Văn Hóa Việt Nam, Dân Chúa, Hoa Kỳ, 1982.
- Lê Văn Siêu, Việt Nam Văn Minh Sử Cương, La Bối, Sài Gòn, 1967.
- Lê Văn Siêu, Văn Học Sử Việt Nam, Văn Học, Hà Nội, 2006.
- Lương Đức Thiệp, Xã Hội Việt Nam, Hàn Thuyên, Hà Nội, 1942.
- Nghiêm Toản, Việt Nam Văn Học Sử Trích Yếu, Hà Nội, 1949.
- Nguyễn Đổng Chi, Việt Nam Cổ Văn Học Sử, Hàn Thuyên, Hà Nội, 1942.
- Nguyễn Khắc Ngữ, Nguồn Gốc Dân Tộc Việt Nam, Nhóm Nghiên Cứu Sử Địa, Canada, 1985.
- Nguyễn Q. Thắng, Từ Điển Tác Gia Việt Nam, Văn Hóa, Hà Nội, 1999.
- Quốc Sử Quán, Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, Bộ VHGD, Sài Gòn, 1965.
- Vũ Thế Ngọc, Nghiên Cứu Chữ Hán và Tiếng Hán Việt, Eastwest Institute, Hoa Kỳ, 1998.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét