Thứ Bảy, 12 tháng 12, 2009

Biểu tình chống TQ: Soi sáng những chủ trương bán nước tinh vi

Tuesday, December 08, 2009
Biểu tình chống Trung Quốc ở Hà Nội, 9 tháng 12, 2009.


Hai cô gái trẻ trong một dịp tình cờ mà chúng tôi gặp ở nhà một người đàn ông cũng trẻ tuổi đời nhưng đã là một nhạc sĩ nổi tiếng. Một cô nói giọng Quảng thản nhiên hỏi tôi, “Bao giờ nước mình thuộc về Trung Quốc hở thầy? Tôi chưa đủ thời gian tìm câu trả lời thì chính người bạn của cô nói, ‘Ðã thuộc về rồi chứ bao giờ gì nữa.’”

Rồi cô gái, vốn kiếm sống tạm qua ngày bằng nghề viết kịch bản phim truyền hình, hướng về tôi nói tiếp, “Em chỉ hy vọng mình được tự trị, chớ biến thành một tỉnh như dân Tân Cương khổ chết luôn.” Cô gái nói giọng Quảng góp lời, “Tụi Trung Quốc muốn lấy đâu thì lấy, chỉ mong chừa Sài Gòn ra, mất Sài Gòn uổng lắm thầy ơi!”

Anh nhạc sĩ quay qua tôi, “Không chỉ hai đứa này nghĩ vậy đâu anh, trong cơ quan của vợ em, hễ nói về chuyện Trung Quốc ai cũng nói chuyện kiểu đó. Còn vì sao họ cứ cho rằng nước mình đương nhiên là thuộc về Trung Quốc thì không hiểu nổi.”

Mẩu chuyện có thật về số phận dân tộc trước hiểm họa Trung Quốc kể ở trên tuy chỉ là những ý kiến nhỏ của một vài cá nhân, nhưng đã phần nào đó cho thấy được tâm trạng bi quan chân thật của những người trẻ tuổi. Nguyên nhân đưa thế hệ trẻ Việt Nam đến tình trạng này cũng không khó tìm. Người ta chỉ cần nhìn lại những người trẻ tuổi bị vùi dập vì yêu nước và có trách nhiệm với vận mệnh quốc gia khi tham gia sự kiện biểu tình chống Trung Quốc (9 Tháng Mười Hai 2007) ở Sài Gòn-Hà Nội là biết. Một khi chính quyền này đã đối xử tệ hại với họ thì điều xấu xa đó chỉ có nghĩa dập tắt lửa nhiệt huyết của thanh niên ôn hòa chống Trung Quốc, đối xử với người yêu nước như tội phạm đã là câu trả lời cho thấy bản chất của thể chế hiện hành.

Ngày 5 Tháng Mười Hai 2009 tờ Tuổi Trẻ, báo có số phát hành lớn ở Việt Nam , có loạt bài: “Thác Bản Giốc-Báu Vật Muôn Ðời.” Tuy loạt bài này mới đăng kỳ một, nhưng khi đọc người ta nhận thức là bài báo này chỉ cung cấp những thông tin rón rén về một nửa sự thật của việc cấm mốc biên giới Việt-Trung.

Ngay khi tờ báo này phát hành, một người bạn trẻ tuổi, dễ cả tin nói qua điện thoại di động, “Anh đọc chưa. Xúc động lắm anh, tôi đoán rằng hiện tại trong đảng có hai phe, phe viết bài báo này chắc là chống Trung Quốc đó anh.”

Chúng tôi vội vã mua báo đọc, và một điều rõ ràng là bài báo này ngoài những tính từ hoa mỹ diễn đạt tình cảm yêu nước mẹ, yêu từng tấc đất biên cương hải đảo, toàn bộ phần nội dung còn lại chỉ cho thấy ý đồ mớm cho mỗi công dân Việt Nam phải chấp nhận một hiệp đinh biên giới được đảng và thể chế này an bài. Việc úp úp-mở mở đảo lộn trắng đen nhằm lừa dân chấp nhận Ải Nam Quan, nửa thác Bản Giốc và hàng ngàn cây số miền biên cương được gầy dựng bằng xương máu tổ tiên thuộc về chủ mới là một chủ trương bán nước tinh vi.

Từ bất hạnh nào của dân tộc mà nay lại sinh ra quân bán nước và bọn bồi bút trí trá đến mức tinh vi quái lạ! Tin tức từ các hãng tin nước ngoài vừa cho biết, Trung Quốc sẽ cho tiền để xây cung hữu nghị Việt-Trung ở Hà Nội và Sài Gòn. Ngay ngày hôm sau, ông chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết nói với cử tri và đồng đội kháng chiến cũ của ông là, “Cho tới giờ một tấc đất của quê hương cũng không nhân nhượng cho ai.” Không thấy báo chí tường thuật là lúc nói câu đó cử tọa có vỗ tay hay không, nhưng một điều chắc là những kẻ cuồng tín của đảng hẳn sẽ yên tâm hơn, vì ông chủ tịch và cả Bộ Chính Trị của họ vẫn giữ đúng nguyên tắc, “vận mệnh của đảng luôn ở trên dân tộc.”

Hai năm sau từ ngày nổ ra biểu tình chống Trung Quốc của thanh niên-sinh viên. Báo chí và cả người phát ngôn Bộ Ngoại Giao chế độ bắt đầu có giọng phản ứng theo kiểu lừa mị trước thói đại ca đỏ và của Trung Quốc. Không ai tin là giọng tuyên truyền của bộ máy nhà nước đổi chiều. Họ không thay đổi gì cả mà chỉ phát ngôn sao cho lừa được người nghe và hơn hết là nói sao cho thường dân đang bị bưng bít thông tin càng lúc càng mù mờ hơn. Trong thế kỷ 21, “nghệ thuật” tuyên truyền của chế độ Cộng Sản Việt Nam biến thái đã tới mức yêu quái.

Tuy cần lừa dân về chuyện hiểm họa Trung Quốc, nhưng không vì thế mà họ cho phép những Việt kiều hùa ở hội nghị Việt kiều vừa qua tham gia vào nội dung này. Không hề có một dòng tường thuật nào về nội dung chủ quyền biên cương hải đảo trong hội nghị được khoa trương là “Hội nghị Diên Hồng nhỏ.” Những cá nhân trí thức Việt kiều ngờ nghệch đến mức đáng thương như Nguyễn Hữu Liêm, Trần Thanh Vân... đã có những lý lẽ ngang hàng với bọn tội phạm bán nước khi dùng nước bọt của mình tô vẽ cho thể chế.

Những người nhân danh trí thức hải ngoại dự phần vào việc “đánh bùn sang ao” vốn không mới mẻ gì. Ai cũng biết không phải họ được đi xe có còi hụ, được hất mặt trên màn ảnh tivi mà thoát khỏi số phận của một thứ giẻ rách chùi tay theo thời vụ của đảng. Nếu họ tình nguyện là một thứ giẻ rách thoang thoảng chút dầu thơm nước ngoài như trường hợp của một gã ở Canada đem tiền và đem thơ về nước toan tính lau chùi bộ mặt bẩn thỉu của mình, những gã như trường hợp này đảng sẽ bố thí được gì. Một tay chiến sĩ văn nghệ của chế độ nói, “Tội lắm anh, đãi đằng chạy chọt khắp nơi, thôi thì hắn đã hèn đến thế thì tiếc gì cái giấy phép in sách, của đáng tội ấy mà.”

Từ nhiều nguồn dư luận ở trong nước khác nhau được tung lên mạng, những người quan tâm biết rằng, tới đây sẽ có những phiên tòa xử những người yêu nước tự do. Những Lê Công Ðịnh, Trần Anh Kim, Nguyễn Tiến Trung... đang sẵn sàng chờ ra tòa để nói lên tiếng nói yêu nước chân chính của một thế hệ mới. Dư luận cũng hé lộ rằng nhà cầm quyền Trung Quốc đang tăng áp lực với tay sai trong nước để có một bản án thật nặng. Người ta tin rằng trong mọi vấn đề, mọi sự kiện ở Việt Nam lúc này đều có yếu tố Trung Quốc. Bàn tay hắc ám trong bóng tối của Trung Quốc thật sự đã phủ trùm lên đời sống và khát vọng tự do-dân chủ của mỗi người Việt Nam .
Phùng Thức/Người Việt

Thứ Ba, 8 tháng 12, 2009

BẢN TUYÊN NGÔN QUỐC TẾ NHÂN QUYỀN MÀ NHÀ NƯỚC "CHXHCNVN" ĐÃ LONG TRỌNG KÝ KẾT THỰC HIỆN (nhưng không bao giờ tuân theo)



Xét rằng: Sự công nhận nhân phẩm của tất cả con người trong đại gia đình nhân loại và những quyền bình đẳng không thể tước đoạt của họ là nền tảng của tự do, công lý và hòa bình trên thế giới.

Xét rằng: Hành vi xem thường và chà đạp nhân quyền đã dẫn đến những hành động man rợ, xúc phạm đến lương tâm nhân loại. Việc tiến đến một thế giới trong đó tất cả mọi người được hưởng sự tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, không còn lo sợ hãi và nghèo khó, phải được tuyên xưng như là ước vọng cao nhất của con người.

Xét rằng: Nhân Quyền cần phải được bảo vệ bằng luật pháp, để con người không bị bắt buộc phải sử dụng đến biện pháp cuối cùng là vùng dậy chống lại độc tài và áp bức.

Xét rằng: Mối quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia cần được khuyến khích và mở rộng.

Xét rằng: Trong Hiến Chương, các dân tộc của cộng đồng Liên Hiệp Quốc đã lại một lần nữa xác định niềm tin vào những quyền căn bản của con người, vào nhân phẩm và giá trị con người, vào quyền bình đẳng nam nữ và cũng đã quyết định cổ vũ cho các tiến bộ xã hội và cải tiến mức nhân sinh trong bối cảnh ngày càng tự do hơn.

Xét rằng: Các quốc gia hội viên đã cam kết hợp tác với Liên Hiệp Quốc, nhằm cổ vũ việc tôn trọng nhân quyền và các quyền tự do căn bản.

Xét rằng: Sự hiểu biết chung về nhân quyền và tự do là điều tối quan trọng để có thể thực hiện đầy đủ sự cam kết trên.

Do đó, Ðại Hội Ðồng Liên Hiệp Quốc long trọng công bố Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền này như là một khuôn mẫu chung cần đạt tới của mọi dân tộc và quốc gia, nhằm giúp cho mọi cá nhân và thành phần của xã hội luôn luôn theo sát tinh thần của Bản Tuyên Ngôn, dùng sự truyền đạt và giáo dục, để nỗ lực phát huy sự tôn trọng các quyền tự do này.

Mặt khác, bằng những phương thức tiến bộ trong phạm vi quốc gia cũng như quốc tế, phải bảo đảm sự thừa nhận và tuân hành Bản Tuyên Ngôn một cách có hiệu lực, trong các dân tộc của các nước thành viên, và ngay cả trong những người dân sống trên các phần đất thuộc quyền cai quản của các nước đó.

Ðiều 1: Mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về nhân phẩm và quyền. Mọi người đều được phú bẩm về lý trí và lương tâm và vì thế phải đối xử với nhau trên tinh thần bác ái.

Ðiều 2: Mọi người đều được hưởng tất cả những quyền và tự do được công bố trong Bản Tuyên Ngôn này và không có một sự phân biệt nào, như chủng tộc, màu da, phái tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hay tất cả quan điểm khác, quốc tịch hay nguồn gốc xã hội, tài sản, nơi sinh, hay tất cả những hoàn cảnh khác. Hơn nữa, cũng không được có sự phân biệt nào đối với con người sống trên một quốc gia hay trên một lãnh thổ, căn cứ trên cơ chế chính trị, nền tảng luật pháp hay quy chế quốc tế của quốc gia hay lãnh thổ đó. Cho dù quốc gia hay lãnh thổ này độc lập hay dưới sự bảo hộ, không được tự trị hay ở trong tình trạng bị hạn chế về chủ quyền.

Ðiều 3: Mọi người đều có quyền sống, quyền tự do và an toàn cá nhân.

Ðiều 4: Không ai bị cưỡng bức làm nô lệ hay tôi đòi. Chế độ nô lệ và buôn bán nô lệ dưới mọi hình thức đều bị nghiêm cấm.

Ðiều 5: Không một người nào phải chịu cực hình, tra tấn, hay bất kỳ hình thức đối xử, hoặc trừng phạt bất nhân, hay có tính cách lăng nhục.

Ðiều 6: Ở bất cứ nơi nào, mỗi người đều có quyền được công nhận tư cách con người của mình trước pháp luật.

Ðiều 7: Tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, và phải được bảo vệ một cách bình đẳng, không kỳ thị phân biệt. Tất cả đều được quyền bảo vệ ngang nhau, chống lại mọi kỳ thị vi phạm Bản Tuyên Ngôn này, cũng như chống lại mọi kích động dẫn đến kỳ thị như vậy.

Ðiều 8: Mọi người đều có quyền được bảo vệ và bênh vực bởi các cơ quan tư pháp quốc gia có thẩm quyền về các hành vi vi phạm các quyền căn bản, do Hiến Pháp và Luật Pháp quy định.

Ðiều 9: Không một ai bị bắt bớ, cầm tù hay lưu đày một cách độc đoán.

Ðiều 10: Mọi người đều có bằng nhau quyền được phân xử công khai và công bằng, trước một tòa án độc lập và vô tư, để được phán quyết về các quyền lợi và nhiệm vụ của mình, hay về những tội phạm mà mình bị cáo buộc.

Ðiều 11:

(1) khi truy tố trước pháp luật, mọi người được xem là vô tội, cho đến khi pháp luật chứng minh là có tội, trong một phiên tòa công khai và tòa án này phải cung ứng tất cả mọi bảo đảm cần thiết cho quyền biện hộ của đương sự.

(2) Không ai có thể bị kết án khi có những hành động hay sơ suất xảy ra vào lúc mà luật pháp của quốc gia hay quốc tế không qui định đó là một hành vi phạm pháp. Tương tự như vậy, không được áp đặt một hình phạt nào nặng hơn hình phạt được ấn định vào lúc hành vi phạm pháp xảy ra.

Ðiều 12: Không một ai bị xâm phạm một cách độc đoán về đời sống riêng tư, gia đình, nhà ở, hay thư tín, cũng như bị xúc phạm danh dự hay tiếng tăm của mình. Mọi người đều có quyền được luật pháp bảo vệ, trước những xâm phạm và xúc phạm như vậy.

Ðiều 13:

(1) Mọi người có quyền tự do di chuyển và cư trú, trong phạm vi biên giới của quốc gia.

(2) Mọi người đều có quyền rời khỏi lãnh thổ bất kỳ nước nào, kể cả nước của mình, và quyền trở về xứ sở

Ðiều 14:

(1) Trước sự ngược đãi, mọi người đều có quyền tị nạn và tìm sự dung thân tại các quốc gia khác.

(2) Quyền này không được kể đến, trong trường hợp bị truy nã thật sự vì các tội phạm không có tính chính trị, hay do những hành vi trái với những mục tiêu và nguyên tắc của Liên Hiệp Quốc.

Ðiều 15:

(1) Mọi người đều có quyền có quốc tịch.

(2) Không một ai bị tước bỏ quốc tịch, hay bị từ chối quyền thay đổi quốc tịch, một cách độc đoán.

Ðiều 16:

(1) Nam và nữ trong tuổi trưởng thành có quyền kết hôn và lập gia đình, mà không bị hạn chế về lý do chủng tộc, quốc tịch hay tôn giáo. Nam nữ đều có quyền bình đẳng lúc kết hôn, trong đời sống vợ chồng và lúc ly hôn.

(2) Hôn nhân chỉ có thể tiến hành khi cả hai đều được tự do quyết định và đồng ý thật sự.

(3) Gia đình phải được xem là một đơn vị tự nhiên và căn bản của xã hội, và được quyền bảo vệ của xã hội và quốc gia.

Ðiều 17:

(1) Mọi người đều có quyền sở hữu tài sản cá nhân cũng như tập thể.

(2) Không ai có thể bị tước đoạt tài sản của mình một cách độc đoán.

Ðiều 18: Mọi người đều có quyền về tự do tư tưởng, nhận thức và tôn giáo. Quyền này bao gồm cả quyền tự do thay đổi tôn giáo hay tín ngưỡng, cũng như quyền tự do biểu lộ tôn giáo hay tín ngưỡng của mình, với tư cách cá nhân hay tập thể, ở nơi công cộng hay nơi chốn riêng, bằng sự truyền dạy, thực hành, thờ phượng và áp dụng các nghi thức đạo giáo.

Ðiều 19: Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ quan điểm. Quyền này bao gồm sự tự do quan điểm mà không bị xen vào quấy rầy và được tự do tìm kiếm, thu nhận và quảng bá tin tức và tư tưởng qua mọi phương tiện truyền thông bất kể biên giới.

Ðiều 20:

(1) Mọi người đều có quyền tự do hội họp và lập hội, một cách ôn hòa .

(2) Không một ai có thể bị cưỡng bách gia nhập vào một đoàn thể.

Ðiều 21:

(1) Mọi người đều có quyền tham gia vào việc điều hành xứ sở của mình, một cách trực tiếp hay qua các đại biểu được tuyển chọn một cách tự do.

(2) Mọi người đều có quyền đón nhận những dịch vụ công cộng của quốc gia một cách bình đẳng.

(3) Ý muốn của người dân phải là nền tảng của quyền lực chính quyền. Ý muốn này phải được thể hiện qua các cuộc bầu cử định kỳ và thực sự , bằng phiếu kín, qua phương thức phổ thông và bình đẳng đầu phiếu, hay các phương thức tương đương của bầu cử tự do.

Ðiều 22: Vì là thành viên của xã hội, mỗi người đều có quyền an ninh xã hội, qua các cố gắng của quốc gia và hợp tác quốc tế, dựa theo phương cách tổ chức và tài nguyên của mỗi nước. Quyền này được đặt trên căn bản của sự thụ hưởng những quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa, cần thiết cho nhân phẩm và sự phát triển tự do của mỗi cá nhân.

Ðiều 23:

(1) Mọi người đều có quyền làm việc, quyền tự do chọn việc làm, quyền được hưởng các điều kiện làm việc chính đáng và thuận lợi đối với công việc, và quyền được bảo vệ chống thất nghiệp.

(2) Mọi người, không vì lý do kỳ thị nào, đều có quyền được hưởng lương bổng như nhau cho cùng một công việc.

(3) Mọi người làm việc đều được quyền hưởng thù lao một cách công bằng và thích hợp, khả dĩ bảo đảm cho bản thân và gia đình mình một cuộc sống xứng đáng với nhân phẩm, cũng như được trợ giúp nếu cần, qua các phương thức bảo vệ xã hội khác.

(4) Mọi người đều có quyền thành lập và tham gia vào các nghiệp đoàn, để bảo vệ quyền lợi của mình.

Ðiều 24: Mọi người đều có quyền nghỉ ngơi và giải trí, kể cả việc hạn chế hợp lý số giờ làm việc, và các ngày nghỉ định kỳ có trả lương.

Ðiều 25:

(1) Mọi người đều có quyền được hưởng một mức sống phù hợp với sức khỏe và sự no ấm cho bản thân và gia đình bao gồm: thực phẩm, quần áo, nhà ở, y tế và các dịch vụ xã hội cần thiết, quyền an sinh trong lúc thất nghiệp, đau ốm, tàn tật, góa bụa, tuổi già hay các tình huống thiếu thốn khác do các hoàn cảnh ngoài khả năng kiểm soát của mình.

(2) Các bà mẹ và trẻ con phải được hưởng sự chăm sóc và trợ giúp đặc biệt. Tất cả mọi trẻ con, sinh có hôn thú hay không, đều được xã hội bảo vệ một cách bình đẳng.

Ðiều 26:

(1) Mọi người đều có quyền được giáo dục. Giáo dục phải được miễn phí, ít nhất là ở bậc tiểu học và căn bản. Giáo dục tiểu học phải bắt buộc. Giáo dục kỹ thuật và chuyên nghiệp phải được mở rộng và giáo dục đại học phải được mở rộng bình đẳng cho mọi người, trên căn bản tài năng xứng đáng.

(2) Giáo dục phải được điều hướng để phát triển đầy đủ nhân cách, và củng cố sự tôn trọng nhân quyền và các quyền tự do căn bản. Giáo dục phải nhằm cổ vũ sự cảm thông, lòng khoan dung, và tình hữu nghị giữa mọi quốc gia, mọi nhóm chủng tộc hoặc tôn giáo, và hỗ trợ việc phát triển các sinh hoạt của Liên Hiệp Quốc nhằm duy trì hòa bình.

(3) Cha mẹ có quyền ưu tiên chọn lựa phương cách giáo dục dành cho con cái mình.

Ðiều 27:

(1) Mọi người đều có quyền tự do tham gia sinh hoạt văn hóa cộng đồng, thưởng thức các bộ môn nghệ thuật, và cùng chia xẻ các tiến bộ khoa học cũng như các lợi ích của khoa học.

(2) Mọi người đều có quyền được bảo vệ về tác quyền, trên bình diện tinh thần cũng như quyền lợi vật chất, đối với các tác phẩm khoa học, văn chương, hay nghệ thuật.

Ðiều 28: Mọi người đều có quyền đòi hỏi được sống trong một trật tự xã hội và trật tự quốc tế, trong đó các quyền và các tự do được đề cập trong Bản Tuyên Ngôn này có thể được thể hiện đầy đủ.

Ðiều 29:

(1) Mọi người đều có bổn phận đối với cộng đồng nào mà chỉ trong đó mới có thể phát triển toàn vẹn và tự do nhân cách của mình.

(2) Trong việc hành xử nhân quyền và thụ hưởng tự do, mọi người chỉ phải chịu những hạn chế do luật định, và những hạn chế này chỉ nhằm mục tiêu bảo đảm sự thừa nhận và tôn trọng nhân quyền, và quyền tự do của những người khác, cũng như nhằm thỏa mãn những đòi hỏi chính đáng về luân lý, trật tự công cộng, và nền an sinh chung trong một xã hội dân chủ.

(3) Trong bất cứ trường hợp nào, nhân quyền và những quyền tự do này cũng không được hành xử trái với những mục tiêu và nguyên tắc của Liên Hiệp Quốc.

Ðiều 30: Không một điều nào trong Bản Tuyên Ngôn này được hiểu và hàm ý cho phép một nước, một nhóm hay một cá nhân nào được quyền có những việc làm hay hành động nhằm hủy diệt nhân quyền và tự do được thừa nhận trong bản Tuyên Ngôn này.

Liên Hiệp Quốc, ngày 10 tháng 12 năm 1948.