Thứ Tư, 10 tháng 2, 2010

Hòa thượng Thích QUẢNG ĐỘ gửi thông điệp: HÃY CÙNG ĐỨNG LÊN



GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT
VIỆN TĂNG THỐNG
Thanh Minh Thiền Viện, 90 Trần Huy Liệu, Phường 15, Quận Phú Nhuận, TP Saigon
———————————————————————————————————-
Phật lịch 2553 Số 01 /VTT/XLTV

THÔNG ĐIỆP HÃY CÙNG ĐỨNG LÊN
XUÂN CANH DẦN - 2010
của Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ

Nam Mô Đương Lai Hoan Hỉ Từ Thị Di Lặc Tôn Phật

Kính bạch Chư Tôn Trưởng lão,
Chư Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức Tăng Ni,
Cùng toàn thể Phật tử và Đồng bào các giới trong, ngoài nước,

Năm cũ qua, năm mới đến.. Nhân danh Hội đồng Lưỡng Viện, tôi xin gửi đến toàn thể chư liệt vị Trưởng lão, Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức Tăng Ni, nam nữ Cư sĩ Phật tử cùng Đồng bào các giới trong và ngoài nước lời cầu chúc một năm an lành, như ý và viên thành Phật sự.

Vì nhớ tưởng mà cây trổ lộc xuân nở hoa, nên Xuân là Mùa Nhớ tưởng. Người dân Việt nhớ tưởng Ông Bà, Tổ tiên đã sinh thành ra nòi giống, quê hương ; người Phật tử nhớ tưởng đức Phật đã trải xuống cõi Diêm Phù Đề con đường giải thoát giác ngộ, đồng lúc nguyện cầu cho Đức Phật Di Lặc thị hiện giữa Mùa Xuân dân tộc, đem tứ vô lượng tâm cải hóa thế giới hận thù, tranh chấp.

Trong Mùa Nhớ tưởng, xin chư liệt vị chớ quên công đức sâu dày của Đức cố Đệ tứ Tăng thống, Đại lão Hòa thượng Thích Huyền Quang. Vì nhờ Ngài mà Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất vẫn còn hiện hữu uy nghi trước thời đại Pháp nhược ma cường. Nhớ tưởng Ngài là đem hết thân tâm thực hiện lời Ngài căn dặn qua bức Thông điệp Xuân Di Lặc, Phật lịch 2544 :

« Làm con Phật là vượt khỏi địa vị phàm phu, phát bồ đề tâm mà bước vào ngôi vị Bồ Tát. Lấy tâm Đại Bi bảo bọc chúng sanh, lấy tâm Đại Từ làm lợi ích cho chúng sanh, lấy tâm Vô Ngại dẹp tan các chướng duyên và áp bức đang đè nặng nhân thế và muôn loài. Bồ đề tâm ở đâu, Bồ tát ở đó ; Bồ tát ở đâu, Phật đạo ở đó ; Phật đạo ở đâu, An lạc và Tự do ở đó. Bồ đề tâm được phát khởi, thì mọi khổ đau mới chấm dứt ; dù đó là đau khổ vì vô minh hay vì tham luyến, đau khổ của bần cùng hay đau khổ vì áp bức. Công năng này chứa sẵn trong mọi người con Phật, chỉ cần chí thành ưu tư, ước vọng an lành cho hết thảy chúng sanh là Bồ đề tâm hoạt dụng và biến hóa khôn lường ».

Trước cảnh đảo điên của thời thế làm phân hóa lòng người, thì chúng ta hãy nhớ tưởng lời Đức Đệ Tam Tăng Thống, Đại lão Hòa thượng Thích Đôn Hậu, như bức cẩm nang giải quyết sự khủng hoảng sa lầy của Tăng đoàn do ngoại nhân độc phá. Ngài dạy :

« Trong lịch sử truyền bá Phật Giáo Việt Nam cũng như thế giới, có lúc rất bi thảm đầy tủi nhục, nhưng cũng có lúc vẻ vang rất đáng tự hào. Lúc bi thảm là lúc bản thể của Tăng bị lu mờ, nội bộ của Tăng bị phân hóa và thành phần của Tăng có nhiều quan điểm dị biệt, giới hạnh suy kém và hiểu biết đạo lý một cách cục bộ, phiến diện. Trái lại, lúc vẻ vang là lúc nội bộ chúng Tăng hòa hiệp, biết gạt bỏ những quyền lợi riêng tư, những ngã chấp tầm thường, để tiến xa trên con đường tịnh hạnh, lấy giác ngộ, giải thoát làm cứu cánh, lấy bản nguyện độ sanh làm sự nghiệp »

Đặc biệt năm nay chúng ta hướng lòng tưởng nhớ Đức cố Đại lão Hoà thượng Thích Tịnh Khiết, Ngài là vị Tăng thống thứ nhất thời cận và hiện đại nối tiếp giai phẩm khởi sự từ thời Đinh, lúc Việt Nam minh định chủ quyền dân tộc sau mười thế kỷ bị Bắc phương uy hiếp. Nhớ Ngài là hiến mình hiện diện trên đất nước còn thương đau hôm nay như một thực thể hòa bình. Trong bức Thông điệp Xuân Kỷ Dậu, Phật lịch 2513, Ngài nhắc nhở ân cần :

« Hòa bình chỉ có ý nghĩa đích thực khi bảo đảm được quyền tự chủ quốc gia và những quyền tự do dân chủ căn bản của dân chúng, trong sinh hoạt cộng đồng thế giới. (…) Chúng ta phải hiện diện như một thực thể tiêu biểu đích thực cho nguyện ước Hòa bình của dân tộc để nói lên tiếng nói phát xuất từ thâm tâm con người và tiềm lực dân tộc. Chúng ta không có quyền trao vận mệnh dân tộc này cho những người phi dân tộc, ngụy dân tộc, phản dân tộc. (…) Chỉ có chúng ta, những người Việt đang sống trên đe dưới búa, đang bị tước đoạt quyền sống và bị phá hoại mới có đủ tư cách để tự biện minh trong mọi quyết định vận mệnh chung cho một thể chế quốc gia dân tộc do chính chúng ta tự quyết mà thôi ».

Nhân dân Việt Nam, trong đó có Phật tử, phải được sống trong an lạc và tự do để phát triển. Phát triển đời sống vật chất cũng như đời sống văn hóa và tâm linh. Vì vậy Giáo hội phải nói lên ngưỡng vọng của 85 triệu người đòi hỏi cuộc sống nhân quyền và dân chủ để phát triển. Hơn nữa, hiện nay chủ quyền dân tộc đang bị uy hiếp bằng những quyền lực cương hay quyền lực nhu của các manh tâm nước lớn. Phật tử là người hiểu thời thông biến, nên không thể nhắm mắt quay lưng trước các ý đồ mãi quốc. Nước mất thì đạo suy. Cho nên giữ nước là con đường dân tộc hai nghìn năm cứu mình, cứu người đưa quê hương thoát ly xâm lăng, nô lệ và cuồng tín.

Tâm tư của người Phật tử ngày nay là tâm tư của kẻ bị dày xéo từ một thế kỷ rưỡi qua vì những thế lực ngoại lai muốn biến Việt Nam thành chiến trường, thành thị trường, thay vì đạo trường. Tâm tư ấy biến thành cuộc vận động không ngưng nghỉ của Phật giáo suốt thế kỷ XX cho đến nay để phục vụ dân tộc, tổ quốc, nhân loại theo sứ mệnh tôn giáo, chứ không theo cương vị chính trị. Vì vậy mà thái độ của Giáo hội đối với nhà đương quyền Xã hội Chủ nghĩa là thái độ của tôn giáo đối với những chính sách sai lầm, những khuynh loát chính trị, những lạm dụng đất nước và quần chúng.

Cụ thể của chính sách sai lầm, khuynh loát chính trị, lạm dụng đất nước và quần chúng vừa được một lần nữa thấy rõ trong những ngày vừa qua. Khi Nhà nước Xã hội chủ nghĩa đưa ra tòa án giả trá những phần tử ưu tú tương lai của đất nước. Những người tay không tấc sắt với tấm lòng ưu tư trước nạn ngoại xâm và đời sống không có nhân quyền dân chủ, mà Nhà nước và Đảng chẳng đoái hoài. Giáng xuống họ những bản án giam tù và quản thúc nặng nề, khiến dư luận trong và ngoài nước công phẫn, khinh miệt. Đây là bản án của Chế độ Thực dân đầu thế kỷ XX đang được tái hồi cho toàn thể dân tộc vào đầu thiên niên kỷ thứ ba.

Hiểu rõ bi kịch đang ngăn cản sự phát triển quốc gia, làm cho văn hóa suy đồi, đạo lý nghiêng ngửa như thế, chư liệt vị Trưởng lão, Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức Tăng Ni, cùng đồng bào Phật tử trong và ngoài nước hãy cùng đứng lên đảm trách sự cứu khổ trừ nguy mà đức Phật trao truyền : Hễ là Chánh đạo thì tiến tới, chỉ sợ bước tới không mau; hễ không phải Chánh đạo thì lui bước, chỉ sợ đi lui không gấp.

Nguyện cầu chư Phật mười phương gia hộ chư Liệt vị năm an lành, thành công viên mãn đại nghĩa bồ đề.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Làm tại Thanh Minh Thiền Viện,
Saigon, ngày 8.2.2010
Xử lý Thường vụ Viện Tăng Thống
kiêm Viện trưởng Viện Hóa Đạo, GHPGVNTN
(ấn ký)
Sa môn Thích Quảng Độ

Thứ Hai, 8 tháng 2, 2010

Hoa Kỳ và Châu Âu không nên lùi bước trước hành động gây căng thẳng của Trung Quốc




Tương quan lực lượng Mỹ-Trung


Dưới tựa đề ngay trên trang bìa : ''Đối phó với Trung Quốc'', tuần báo Anh The Economist đã dành hồ sơ chính để phân tích về tình hình căng thẳng hẳn lên giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, đặc biệt là sau quyết định của Tổng thống Mỹ Barack Obama bán cho Đài Loan 6 tỷ đô la vũ khí.
Nhận xét chung của tuần báo Anh Quốc là tình hình căng thẳng trở lại trong quan hệ Mỹ Trung trên hồ sơ Đài Loan là một điều được mọi người chờ đợi. Từ trước đến nay, Bắc Kinh đều phản ứng gay gắt, mỗi khi Washington bán vũ khí cho Đài Bắc.

Thế nhưng thái độ cứng rắn hẳn lên lần này của Trung Quốc đối với Hoa Kỳ đã tạo ra một số lo ngại là cuộc đọ sức có thể đi quá trớn, gây hại cho sự ổn định của toàn thế giới. Cho dù vậy, Hoa Kỳ và Châu Âu không nên vì thế mà nhân nhượng Trung Quốc một cách quá đáng.

Công nhận vai trò cường quốc không đồng nghĩa với nhượng bộ

''Không nên lẫn lộn giữa việc nhượng bộ với việc dành chỗ cho một siêu cường quốc mới''. Đây là lời khuyên mà The Economist đưa ra cho Hoa Kỳ trong bài xã luận mở đầu hồ sơ về quan hệ Mỹ Trung.

Đối với tuần báo Anh, từ sáu chục năm nay, Đài Loan luôn luôn là điểm gây bất đồng nghiêm trọng nhất giữa Washington và Bắc Kinh. Do đó, có thể xem thái độ gay gắt của Trung Quốc sau quyết định của Hoa Kỳ bán 6 tỷ đô la vũ khí cho Đài Loan là chuyện thường tình. Tuy nhiên, lần này Bắc Kinh đã đi xa hơn là những phản ứng chiếu lệ trước đây.

The Economist đặc biệt ghi nhận hai lời đe dọa của Bắc Kinh : một là sẽ trừng phạt các công ty Mỹ dính líu vào thương vụ bán vũ khí cho Đài Bắc, và hai là đình chỉ hợp tác với Hoa Kỳ trên các vấn đề quốc tế. Thế nhưng, do việc quyền lợi của Trung Quốc sẽ bị tổn hại nặng nề nếu họ thực hiện các lời đe dọa kể trên, rất có thể là động thái của Bắc Kinh chỉ nhằm thuyết phục Tổng thống Mỹ không nên đáp ứng yêu cầu của Đài Loan muốn mua chiến đấu cơ hiện đại.

Cho dù vậy, The Economist nhận định : phản ứng hung hăng một cách bất thường của Trung Quốc lần này phản ánh ba chiều hướng đáng ngại liên quan đến Trung Quốc.

Trước hết là các khó khăn Trung Quốc đang gặp phải trong chính sách Đài Loan. Quan hệ Bắc Kinh - Đài Bắc đã cải thiện đáng kể từ ngày Tổng thống Mã Anh Cửu lên nắm quyền ở Đài Loan, thế nhưng Trung Quốc vẫn chưa thấy nhiều tiến bộ trong chính sách của họ là ''thống nhất lãnh thổ trong hòa bình''. Đa số người Đài Loan vẫn muốn vừa hợp tác kinh tế với Trung Quốc, vừa duy trì độc lập. Chính sách Tây Tạng của Bắc Kinh cũng gặp nguy cơ thất bại, cố gắng mua chuộc người Tây Tạng bằng cách phát triển vùng này cho đến giờ vẫn có vẻ không thành công.

Xu hướng thứ hai là thái độ cứng rắn hơn của Trung Quốc hiện nay trên trường quốc tế. Theo The Economist, sau thành công trong việc đối phó với cuộc khủng hoảng tài chánh cuối năm 2008, Trung Quốc đã trở thành quyết đoán và không chấp nhận bị xem nhẹ, kể cả trên những hồ sơ không bị họ coi là thuộc ''vấn đề nội bộ'' của họ.

Đối với tuần báo Anh, tự mãn với cảm nhận rằng uy lực kinh tế của mình ngày càng gia tăng, Trung Quốc đã tỏ thái độ cứng rắn trên mọi hồ sơ quốc tế. Họ đã đóng một vai trò trung tâm và không hữu ích chút nào trong cuộc đàm phán về biến đổi khí hậu tại Copenhagen, và hiện nay, họ có xu hướng muốn phá vỡ mối đồng thuận giữa các cường quốc trên hồ sơ hạt nhân Iran.

Trong khu vực, trên vấn đề tranh chấp lãnh thổ, họ cũng gia tăng thái độ uy hiếp với các làng giềng Án Độ, Nhật Bản và Việt Nam. Trong mọi hội nghị, các quan chức Trung Quốc cũng luôn luôn muốn có tiếng nói, và muốn mọi người phải chấp nhận ý kiến của họ. Điều này, theo The Economist, phản ánh một chiều hướng nguy hiểm thứ ba.

Đó là quan điểm cho rằng Trung Quốc có một mô hình tốt, không cần phải chạy theo để bắt kip phương Tây giầu có như họ từng suy nghĩ trước đây. Theo The Economist, một số người Trung Quốc cho rằng chủ nghĩa chuyên chế độc đoán là một điều hay hơn là chế độ dân chủ.

Châu Âu cần hậu thuẫn Hoa Kỳ trong cuộc đọ sức với Bắc Kinh

Trong tình hình đó, The Economist cho rằng phương Tây không nên mất tự tin mà chiều lòng Trung Quốc. Hoa Kỳ và Tổng thống Obama cần tỏ thái độ cứng rắn hơn đói với Bắc Kinh. Tăng cường năng lực răn đe quân sự của Đài Loan mà Trung Quốc tiếp tục uy hiếp bằng hàng trăm tên lửa, theo tuấn báo Anh, là phục vụ cho việc duy trì hòa bình.

Vì vậy, Tổng thống Mỹ cấn phải tiếp tục chính sách bán vũ khí cho Đài Loan và các chính quyền Châu Âu cần ủng hộ ông Obama trong hồ sơ này. Nếu một số công ty Mỹ, như Boeing chẳng hạn, bị mất thị trường Trung Quốc vì vấn đề chính trị, theo The Economist, thì các công ty châu Âu không nên tìm cách trám vào chỗ trống.

Bên cạnh đó, cũng theo The Economist, Phương Tây không nên rơi vào tình trạng lo ngại quá đáng để lao vào một cuộc đối đầu không cần thiết với Trung Quốc. Phương án tốt, theo tuần báo Anh, là tìm cách lôi kéo Trung Quốc vào cuộc đề cùng gánh vác công việc điều hành thế giới.

Kim Thúy, một gương mặt mới trên văn đàn Pháp ngữ

Về Việt Nam, tuần báo Pháp Le Nouvel Observateur ở trang điểm sách đã giới thiệu chị Kim Thúy, một nữ văn sĩ người Canada gốc Việt, mà tác phẩm viết bằng tiếng Pháp vừa được nhà xuất bản Pháp Liane Lévy cho ra mắt độc giả. Dù viết bằng Pháp ngữ, nhưng quyển sách của Kim Thúy lại mang một tựa đề tiếng Việt : "Ru".

Tác giả là một người sinh năm 1968 ở Việt Nam, đã cùng gia đình vượt biên sau biến cố 30/04/1975, sống một thời gian trong trại tạm cư ở Malaysia, trước khi đến định cư tại vùng Québec (Canada) khi mới 10 tuổi.

"Ru" là quyển tự truyện trong đó tác giả kể lại cuộc đời sóng gió của mình. Theo Jérôme Garcin, nhà phê bình của tạp chí Le Nouvel Observateur, tập sách này giống như một chiếc bình sơn mài tuyệt đẹp của Việt Nam, đã bị vỡ tan trong một cuộc du hành dài. Nhà văn Kim Thúy là người đã tập hợp và giữ gìn các mảnh vỡ trong hơn ba chục năm.

Ngày nay, với một tâm trạng bình tĩnh khác thường, với tất cả sự khéo léo của một nghệ sĩ, chị đã lắp ráp lại các mảnh kỷ niệm đó mà không cấn chú ý đến trật tự của nguyên bản, chỉ pha thêm vào đó một số màu sắc, tươi vui hơn.

Trong tác phẩm ''Ru'', nhà văn đã không tìm kiềm sự thương hại, tô điểm lại sự ''bần cùng'', không để lộ thái độ hằn học, và coi thường trình tự thời gian. Ngay cả sự khổ đau cũng được chị xử lý một cách nhẹ nhàng. Đối với le Nouvel Observateur, "Ru" là một tác phẩm rất mới lạ.

Lao động nhập cư Trung Quốc gây bất bình tại Ấn Độ

Cũng liên quan đến Trung Quốc, nhưng trong lãnh vực xã hội, tuần báo Pháp Courrier International ở trang châu Á đã nêu bật sự kiện Công nhân Ấn Độ phẫn nộ vì công việc bị lao động Trung Quốc giành giật.

Trích dịch một bài báo trên tờ Outlook, xuất bản tại New Delhi, tạp chí Pháp nêu bật tình hình hiện nay như sau : ''Bất chấp một chính sách nhập cư rất khe khắt, càng lúc càng có thêm nhiều công nhân Trung Quốc đến lao động tại các công trường ở Ấn Độ. Hiện tượng này đã khiến giới công nhân Ấn Độ nổi giận vì họ ngày càng lo ngại cho công ăn việc làm của mình".

Theo ghi nhận của tờ Outlook, tại Ấn Độ, hiện có hàng ngàn công nhân Trung Quốc làm việc trên những công trường xây dựng do các nhà thầu Trung Quốc thực hiện. Theo một số ước tính, số lượng công nhân Trung Quốc lên đến khoảng 25.000 người, và sự hiện diện đông đảo này đã gây nên tình trạng căng thẳng với những người lao động địa phương. Nhiều vụ bạo động mang tính chất bài ngoại đã nổ ra.

Điều khiến người Ấn Độ bất bình, đó là chênh lệch về lương bổng : công nhân bản xứ chỉ được lãnh khoảng 87 roupies (1,30 euro) một ngày, trong lúc lao động Trung Quốc lại được trả đến 1700 roupies (26,30 euro). Tình hình lại thêm tế nhị khi mà đa số các công nhân Trung Quốc lại là những lao động nhập cư trái phép.

Luật nhập cư của Ấn Độ rất khe khắt, không chấp nhận các lao động giản đơn, mà chỉ cho phép thuê muớn công nhân lành nghề. Thế nhưng tại một công trình xây dựng nhà máy thép mà tác giả bài báo đã có dịp đến thăm, đại đa số công nhân Trung Quốc đều làm những công việc đơn giản, không cần đến tay nghề gì cả.

Trọng Nghĩa,RFI
Bài đăng ngày 07/02/2010 Cập nhật lần cuối ngày 07/02/2010 16:34 TU

Chủ Nhật, 7 tháng 2, 2010

Tàu Trung Cộng ồ ạt xâm phạm biển Việt Nam


130 tàu đánh cá trong 3 ngày

HÀ NỘI - Trong vòng 3 ngày, đã có hơn 130 tàu đánh cá Trung Cộng xâm phạm vào vùng biển Việt Nam, đi sát bờ biển các tỉnh từ Quảng Trị đến Ðà Nẵng, theo một bản tin báo điện tử bộ chỉ huy biên phòng Việt Nam.

Trang báo điện tử Biên Phòng hôm Thứ Bảy cho biết, “Liên tục mấy ngày vừa qua, hàng loạt tàu cá Trung Cộng đã tổ chức đánh bắt cá, đi vào sát bờ biển thuộc các tỉnh từ Quảng Trị đến Ðà Nẵng.”

Theo báo này, ngày 2 tháng 2 (2010) có 30 tàu đánh cá Trung Cộng vào sát Ðà Nẵng, Thừa Thiên. Báo này viết, “Ngày 2 tháng 2, bộ đội biên phòng Ðà Nẵng phát hiện 30 tàu cá Trung Quốc vào tận kinh độ 109, vĩ độ 16, cách bờ biển Ðà Nẵng, Thừa Thiên-Huế khoảng 45 hải lý. Sự việc được bộ chỉ huy bộ đội biên phòng báo lực lượng hải quân Vùng C (tại Ðà Nẵng) xử lý.”

Báo Biên Phòng viết thêm về 100 tàu trước đó. “Ngày 29 tháng 1, tại vĩ độ 17, kinh độ 108'30, sát bờ biển Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, bộ đội biên phòng cũng đã phát hiện 100 tàu cá Trung Cộng đang đánh bắt cá. Lực lượng biên phòng và hải quân đã hướng dẫn các tàu cá này rời khỏi vùng biển của Việt Nam.”

Bản tin không đưa ra chi tiết nào nói các tàu đánh cá của Trung Cộng có bị tịch thu ngư cụ, phạt vạ gì không. Thời gian qua, tàu đánh cá Việt Nam đánh cá trong vùng biển Việt Nam nhưng gần quần đảo Hoàng Sa đều bị tàu tuần Trung Cộng bắt giữ, kéo về đòi tiền chuộc. Không trả tiền chuộc thì bị giữ tàu hoặc ít nhất bị tịch thu hết ngư cụ, hải sản đánh được.

Vào cuối năm ngoái, ngày 10 tháng 11 năm 2009, có 17 tàu đánh cá TrungCộng đã vào đánh cá sâu trong hải phận Việt Nam, theo bộ chỉ huy biên phòng Thừa Thiên-Huế. Ðây là vụ xâm phạm hải phận và đánh cá bất hợp pháp nghiêm trọng nhất từ phía Trung Cộng.

Hoàng Xuân Chiến, chỉ huy trưởng biên phòng địa phương cho đài BBC hay các tàu đánh cá Trung Cộng đó “đã vào rất sâu trong vùng biển vịnh Bắc bộ của Việt Nam, cách đường cơ sở 8 hải lý và chỉ cách bờ biển Thuận An có 24 hải lý”.

Ðây là khu vực giữa đảo Cồn Cỏ và cửa biển Thuận An. BBC thuật lời ông Chiến nói đã đuổi 16 tàu ra khỏi hải phận và bắt giữ một tàu.

Báo chí trong nước không nêu nghi vấn có phải các vụ xâm nhập sâu vào hải phận Việt Nam là hành động khiêu khích, thách đố từ phía Bắc Kinh hay không.

Về phía Trung Cộng, ngày 7 tháng 12 năm 2009 tàu tuần nước này đã bắt 3 tàu đánh cá với 43 ngư dân Việt Nam thuộc tỉnh Quảng Ngãi ở vùng biển mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền, tức gần quần đảo Hoàng Sa. Phía Việt Nam can thiệp thì đến ngày 12 tháng 12 năm 2009, Trung Cộng chỉ thả một tàu và toàn bộ ngư dân, còn giữ lại 2 tàu ở đảo Phú Lâm trong quần đảo Hoàng Sa.

Giữa tháng 6 năm ngoái, Trung Cộng bắt về đảo Phú Lâm 3 tàu với gần 40 ngư dân đòi tiền chuộc đến 30 ngàn đô la. Nhà cầm quyền Hà Nội can thiệp thì chỉ được trả 1 tàu và ngư dân, cũng giữ lại 2 tàu và toàn bộ ngư cụ, dụng cụ hải hành, hải sản. Ðó là không kể một số tàu đánh cá Việt Nam đã bị tàu tuần Trung Cộng cố ý đâm chìm.

Hồi cuối tháng 9 năm 2009, một số tàu đánh cá Việt Nam chạy tới đảo Phú Lâm (Trung Cộng gọi là đảo Vĩnh Hưng, một trong 2 đảo lớn nhất của quần đảo Hoàng Sa) tránh bão đã bị lính Trung Cộng trên đảo bắn đuổi. Ngư dân Việt Nam không thể quay ngược ra biển để bị bão nhấn chìm đã liều mạng chạy vào đảo thì bị đánh đập và bị cướp hết hải sản, ngư cụ, trang bị hải hành.

Tuy vậy, ngày 6 tháng 1 năm 2010, Tôn Quốc Tường, đại sứ Trung Cộng ở Việt Nam, họp báo phủ nhận tất cả các hành động của lính Trung Cộng khi nói rằng: “Trung Quốc luôn ứng xử những vấn đề như thế này rất có trách nhiệm. Khi phía Việt Nam nêu vấn đề, chúng tôi đã xác minh, kiểm tra ngay lập tức nhưng kết quả xác minh của chúng tôi lại khác với kết quả của phía Việt Nam”.

Từ giữa tháng 6 đến đầu tháng 8 năm 2009, Trung Cộng đã cấm đánh cá trên biển Ðông, ngay cả những khu vực đang tranh chấp chủ quyền với Việt Nam vào thời gian chính vụ của ngư dân Việt Nam. Sau đó tổ chức nhiều cuộc tập trận hải quân qui mô ở các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, không ngoài chủ đích đe dọa Việt Nam và các nước trong khu vực.
___________