Thứ Bảy, 28 tháng 11, 2009

CSVN QUYẾT TÂM XÂY DỰNG 2 NHÀ MÁY ÐIỆN NT TẠI NINH THUẬN

Tháng 9-1945, nhân loại lần đầu tiên đã biết nếm mùi thảm họa của bom nguyên tử , khi Hoa Kỳ thả hai trái xuống thành phố Quang Ðảo và Trường Kỳ của Nhật. Quá khứ đau khổ vì chiến tranh cũng như những ám ảnh và hậu quả trên thân xác con ngươi, do tác hại của bụi phóng xạ chưa chìm sâu trong đáy huyệt thời gian, thì một tai họa khủng khiếp khác lại tái diễn. Biến cố xãy ra lúc 1giờ 23 phút ngày 26-4-1986, do một trong 4 lò phản ứng của trung tâm nhà máy điện nguyên tử Chernobyl thuộc Liên Bang Xô Viết cũ bị nổ vì sơ suất kỹ thuật làm thoát chất phóng xạ ra ngoài. Tiếp theo là sự kiện Three Mile Island và liên tiếp nhiều nhà máy điện NT ở Pháp và Nhật cũng bị lủng thùng chứa làm thất thoát chất phóng xạ ra ngoài.

Sau cùng vào lúc10 g 35 phút ngày 30-9-1999, nhà máy điện nguyên tử Tokaimura, thuộc tỉnh Ibaraki nằm cách Tokyo (Nhật Bản) khoảng 120 km cũng bị nổ. Theo nhận xét của Cơ Quan Năng Lượng Nguyên Tử Quốc Tế (IAEA), thì đây là một tai nạn phóng xạ nguyên tử nghiêm trọng nhất từ trước tới nay, kể cả hai trái bom nguyên tử mà Mỹ đã thả trên nước Nhật và biến cố tại nhà máy Chernobyl của Liên Xô năm 1986.

Âu Châu, Nhật cũng như Liên Xô.. đều là những quốc gia tiến tiến, có đủ phương tiện thực hiện cũng như bảo trì những nhà máy điện nguyên tử của quốc gia họ. Nhưng trong vài trưòng hợp đặc biệt, cũng phải đành bó tay đứng nhìn tai họa hoành hành. Sau rốt tại hầu hết các nước Á Châu kể cả Nhật Bản, hiện đang chơí với trước hiểm họa thanh toán các chất thải nguyên tử vì chưa có một chương trình nào hữu hiệu, để mà kiểm soát các hoá chất đôc hại và các chất thải vô cùng nguy hiểm, vì một số thùng chứa chất phóng xạ sau 30 năm đã bị ăn mòn. Cấp bách nhất là Năng Lương tại các nhà máy điện nguyên tử, gần như chỉ sạch trên mà bẩn dưới.

Năm 1986 nhà máy điện nguyên tử Bataan tại Phi Luật Tân với hai lò phản ứng, chuẩn bị khánh thành. Ðây cũng là nhà máy điện nguyên tử đầu tiên của vùng Ðông Nam Á. Nhưng thảm họa đã xảy ra tại nhà máy nguyên tử Chernobyl - Liên Xô, vào tháng 6-1986, nên quốc hội nước này, đã quyết định tạm ngưng hoạt động cũng như đình chỉ sự xây dựng kế tiếp một lò phản ứng còn đang dang dở. Một vấn đề chết người là, dù không hoạt động nhưng chính phủ cũng phải bỏ mỗi năm hằng triệu mỹ kim, để bảo toàn và chạy thử máy, nếu không chúng sẽ trở thành khối sắt vụn vô dụng nhưng phải tốn hằng tỷ đô la mới có.

Mười năm qua (1986-1996), trong khi cả thế giới chưa hết kinh hoàng về thảm cảnh trên thì tại Âu Châu, Phần Lan là một nước Bắc Âu đã tiền phong làm sống lại thời vàng son của điện nguyên tử. Một nhà máy và khu chứa chất thải phóng xạ, đã được xây dựng tại vùng rừng núi hoang dã Olkiluoto, cách thủ đô Helsinki, của Phần Lan chừng 350 km. Việc làm trên, lập tức đã bị các nước trong Liên Hiệp Âu Châu như Thụy Ðiển, Ðức, Bỉ .. chỉ trích gay gắt, khiến cho Bộ Trưởng Môi Trường Phần Lan là Satu Hassi phải từ chức. Hiện Pháp, Thụy Ðiển.thì lưỡng lự nhưng nước Ðức vẫn cương quyết, loại các nhà máy điện nguyên tử ra khỏi danh sách nguồn cung cấp năng lượng tại nước này.

Do vấn đề sống còn của đất nước, nhiều quốc gia tiền tiến và đang phát triển, đã gạt bỏ việc bảo vệ mội trường, để phát triển điện nguyên tử, nhằm cung cấp điện năng, phát triển năng lượng. Hiện trên thế giới có 438 nhà máy điện nguyên tử đang hoạt động tại 32 nước gồm : Châu Mỹ (Hoa Kỳ, Canada,Mexico, Argentina, Brazil), Tây Âu (Ðức, Bỉ, Tây Ban Nha,Phần Lan, Hà Lan, Anh, Pháp, Thụy Ðiển, Thụy Sĩ), Ðông Âu (Bảo, Hung,Tiệp Khắc, Lỗ, Nga,Slovakia, Ukaraine,Armenia) , Phi Châu (Nam Phi) vá Châu Á (Trung Cộng, Ðài Loan, Ðại Hàn, Ấn Ðộ, Ba Tư, Nhật và Pakistan).

Hiên nay trước tình hình sôi động của thế giới nhất là vùng Trung Ðông, Trung Á, thêm vào đó là sự cạn kiệt dần mòn các mỏ dầu trên đất liền cũng như ngoài thềm lục địa, khiến cho giá dầu tăng vọt như tên bắn. Thêm vào đó năng lượng của gió còn quá đắt, không thể thay thế nguồn năng lượng dầu được. Cho nên chỉ có điện nguyên tử, mới cung ứng nổi nhu cầu của nhân loại hiện nay.

Qua hai kinh nghiệm đã xảy ra tại Liên Xô và Nhật Bản, cho ta một bài học về tính thành thật trách nhiêm. Ở Nga biến cố xảy ra vì nhân viên thiếu trình độ, cẩu thả và vô trách nhiệm. Tại Nhật trái lại, tai nạn do kỹ thuật không báo trước. Về phương diện giải quyết cấp cúu, do đã chuẩn bị sẵn sàng, nên người Nhật đã kịp thời phần nào chận được thảm họa, trái lại Liên Xô chỉ biết chờ đợi sự giúp đỡ của các nước ngoài, trong lúc chỉ giải quyết cho có lệ.

Ngày nay, Pháp là nước xuất cảng điện nguyên tử và công nghệ làm lò phản ứng nhiều nhất trên thế giới, đem về lợi nhuận hằng năm cho ngân sách quốc gia tới 2,6 tỷ Euro. Hơn 3/4 nguồn điện cả nước Pháp, được cung cấp từ 59 lò phản ứng thuộc Công ty Ðiện lực EdF , cung cấp khoảng 420 tỷ Kwh. Sự phát triển các nhà máy điện nguyên tử tại Pháp, bắt đầu từ năm 1974, nhằm giải quyết sự khan hiếm dầu khí lúc đó, vì Pháp không có tài nguyên thiên nhiên về dầu mõ, giúp Pháp là nước có giá điện rẽ nhất tại Âu Châu.

Về kinh phí để xây dựng một nhà mấy điện nguyên tử, căn cứ vào tài liệu của nước Pháp là một quốc gia tiền tiến giàu có nhưng cũng thật là nhiêu khê, chứ không phải chuyện làm lấy lệ. Năm 1993, phải cần một kinh phí khoảng 400 tỷ FF đó là tiền vốn chưa kể lãi suất phải trả theo khoản vay ngân hàng.

Hiện Pháp đã chuyển giao công nghệ lò phản ứng dạng PWR, dựa vào khả năng làm giàu chất Uranium mới , cho các nước Bỉ, Nam Phi, Nam Hàn và Trung Cộng. Tóm lại, xây dựng một nhà máy điện nguyên tử, ngoài việc phải tuân thủ theo những luật lệ được qui định của Cơ quan an toàn nguyên tử (ASN), có trách nhiệm bảo đãm sự kiểm soát an toàn về tác hại nguyên tử và chất phóng xạ, để bảo vệ sinh mệnh của con người, cùng môi trường của những quốc gia đã xữ dụng điện hạt nhân.

Tóm lại điều quan trọng nhất hiện nay trong vấn đề xữ dụng điện nguyên tử, không phải là vấn đề thực hiện mà là bảo trì , tức là vận hành tốt, an toàn cho người dân. Tuy Pháp từ trước tới nay chưa bị một biến cố nghiêm trọng nào từ các nhà máy điện nguyên tử như đã từng xãy ra tại Three Mile Isaland (Hoa Kỳ) vào năm 1979, Chemobyl (Ukraine) năm 1986, Tokai (1999) và Mihama(2004) tại Nhật và Sellafiels (Anh ) vào tháng 5-2005. Với các nước tiền tiến giàu có Âu Mỹ và Nhật vẫn chưa tạo đủ niềm tin trong giới chuyên gia khoa học và đồng bào về sự an toàn tuyệt đối của nhà máy điện NT.

Xem như thế, chừng nào CSVN mới có đủ phương tiện và nhất là trách nhiệm trong vấn đề bảo trì tốt một nhà máy điện NT, đó là chưa nói tới sự kiện VC tham nhũng, ăn xén tiền bạc để hoàn thành một nhà máy điện NT dõm, chừng đó không biết bao nhiêu là hậu quả kinh khiếp đối vời đồng bào cả nước, chứ không phải riêng gì các tỉnh Ninh- Bình Thuận và vùng phụ cận.

Thế nhưng tại phien họp của quốc hội VC ở Hà Nội vừa qua, được báo chí quốc doanh trong nước loan tin có 77,48 % số phiếu chấp thuận, Vì vậy đảng ta đã ‘ nhất trí theo ý dân ‘ thiết lập hai nhà máy điện nguyên tử tại tỉnh Ninh Thuận. Tin trên cũng được hảng thông tấn Ðức (DPA) xác nhận là CSVN đã quyết tâm xây dựng 2 nhà máy điện NT, mỗi cái gồm 2 lò phản ứng với tổng công suất lên tới 4000 MW. Nhà máy thứ nhất xây tại xã Phươc Ðinh huyện Ninh Phước khởi công năm 2014 và hoàn thành năm 2020. Còn nhà máy thứ hai xây tại xã Vĩnh Hải, huyên Ninh Hải. Chi phí dự kiến lên tới 200.000 tỉ đồng tiền Hồ (khoảng 17 tỉ USD) mà 75% là tiền vay nợ hay góp vốn của ngoại quốc.

Trong lúc đó Nguyễn Hồng Quân, chủ tịch hội đồng nghiệm thu của đảng, qua báo cáo số 2472 cho biết hiện trạng nhà máy loc dâù Dung Quất (Quảng Ngãi) vẫn còn tới 2800 điểm trục trạc chưa được giải quyết. Còn tờ Businesstimes cũng lên tiếng báo động về những lo lắng khi nghe tin CSVN bất chấp dư luận phản đồi cũng như nhiều lời khuyên can của hầu hết mọi người trong ngoài nước, về việc đảng độc đoán muốn có hai nhà máy điện nguyên tử để hù dọa thiên hạ, trong khi thực tế VN không đủ tài chánh, nhân lực và luật lệ quốc tế để xây dựng, bảo trì cũng như thanh toán những chất thải độc hại từ các lò phản ứng.

+ NHÀ MÁY ÐIỆN NGUYÊN TỬ VIỆT NAM :

Sau khi được tham dự hai hội nghị quốc tế 1986 và 1994, do cơ quan năng lượng quốc tế tổ chức. Thêm vào đó vào tháng 10-1995, một hội nghị nguyên tử quốc tế, cũng đã diễn ra tại Hà Nội khiến cho đảng phát sinh ý tưởng , muốn bắt chước các nước giàu có Âu Mỹ, Nhật, Ðài Loan.. đem điện nguyên tử vào VN. Tuy nhiên mộng du trên đã bị dập tắt ngay, vì dư luận trong đảng, trong nhóm chia năm xẻ bậy, đa số nói rằng điện nguyên tử nguy hiểm bởi chất phóng xạ, chất thải, nổ máy và nổ bom nguyên tử.

.Nhưng thực tế trước mắt là VN lúc đó và ngay cả bây giờ, vẫn không có vốn cũng như nhân lực và các cơ sở hạ tầng, cần thiết trong khi xây dựng cũng như điều hành nhà máy. Hiện nay, việc xây dựng các nhà máy điện nguyên tử tại những nước đang phát triển, đều trông cậy vào các nước văn minh tiền tiến. Ác nổi VC từ trước tới nay, mọi sự đều nhắm vào Nga-Tàu hay các nước Ðông Âu củ, một phần là cá mè một lứa cùng biết tẩy nhau, cho nên dễ dàng trong sự giao kèo, mua bán , đổi chác. Những phanh phui liên tiếp trong mấy năm qua, về vụ đảng mua máy móc, tàu bè, tăng pháo.. cũ kỹ mốc rêu hư hại của Trung Cộng-Liên Xô.. đem sửa sơn, rồi về nước, tính như đồ mới, là chuyện nhỏ xưa nay.

Xây dựng nhà máy điên nguyên tử lại là chuyện lớn, có liên quan tới quốc tế. Do trên các nước ký giao kèo rất khó, ngoài ra nuớc sở quan, phải chứng minh được là mình đã chuẩn bị mọi sự liên tục suốt thời gian pháp định, là 15 năm. Một yếu tố đầu tiên cũng không thể thiếu , đó là có số tiền sơ khởi chỉ 2 tỷ đô la. Ðây là chuyện khó đối với VN, hiện đã mang quá nhiều nợ nần vay mượn.. va trên hết kinh tế đang tuột dốc không biết chừng mới hồi phục.

Nhưng Nguyễn Tiến Nguyên viện trưởng viện năng lượng nguyên tử của VC, lại to miệng tuyên bố là VN đã tìm được căn bệnh gây ra các tai họa thảm khốc tại các nhà máy điện NT Liên Xô, Pháp cũng như Nhật. Vì vậy các đỉnh cao mới quyết tâm xây dựng một nhà máy điện nguyên tử vào năm 2010. Tuy nhiên còn phải chờ đảng vay tiền nước ngoài với lãi suất thương mại như BOT-BOO ..

Trong lúc khắp nước còn nhiều công trình khác cần thiết hơn để xây dựng.Nói chung, nếu VC vô tâm, vô lương, vô trách nhiệm, vì ham tiền chia chác, nhập khẩu một NHÀ MÁY ÐIỆN NGUYÊN TỬ HƯ CỦ CUẢ NGA, TRUNG CỘNG hay bất cứ một quốc gia nào khác, là đồng nghĩa rước về quê hương nước VIỆT, một thảm kịch Chernobyl hay hai trái bom nguyên tử mà Mỹ đã thả trên nước Nhật vào tháng 8-1945. Ðó chưa nói tới. NỢ NẦN CHÚA CHỔM .mà các thế hệ VN phải gánh trả cho các nước giàu, hiện nay cũng như đời đời kiếp kiếp, do đảng VC vay mượn suốt 70 năm qua.

+ NINH THUẬN : ÐỊA ÐIỂM XÂY DỰNG NHÀ MÁY ÐIỆN NT .

NINH THUẬN Là phần đất phía bắc của Bình Thuận xưa. Năm 1922 thành Ðạo Ninh Thuận và trở thành tỉnh từ năm 1943. Vì là phần đất cuối cùng của vương quốc Chiêm Thành nên hiện nay còn lưu lại nhiều đền, tháp Chàm như Ba Tháp, Hòa Lai (Po Klong Garai), Po Romé. Ninh Thuận là quê hương của Phan Trung vị tướng lãnh đồng chí của Trương công Ðịnh, Nguyễn Thông, cũng là quê của danh sĩ Nguyễn thị Bích, tức Nguyễn nhược Thị, tác giả tập truyện ký bằng quốc âm ‘Hạnh Thục Ca’, thuật lại giai đoạn lịch sử nhiễu nhương của đất nước trong năm 1885, khi kinh thành Huế thất thủ, Tôn thất Thuyết phò vua Hàm Nghi xuất bôn, ban hành huyết thư Cần Vương chống Pháp.

Ninh Chữ cách tỉnh lỵ Phan Rang chừng 6 km, bãi biển đẹp và thơ mộng với rừng dương liễu đó đây, cũng là sinh quán của cố Tổng Thống Ðệ Nhị Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn văn Thiệu (1967-1975). Ninh Thuận có nhiều núi cao như Hòn Chàm, Truân, Gia Rích, núi Oạng, Hòn Bà.. có sông Dinh (Koong Binh) vói nhiều phụ lưu như Krong Pha, Ma Lâm, Quao, Lu.. chảy ra cửa Phan Rang.

Trong tỉnh ngoài người Kinh còn có nhiều người Chàm, Raglai, Churu, Kôhô.. Theo tài liệu HES năm 1956, Tỉnh Ninh Thuận có diện tích 3422km2 và dân số 191.435 người, gồm 5 quận An Phước (xã Diêm Hải, Ðại Phước, Ðịnh Hải, Hậu Phước, Hữu Phước, Phước Hải, Tà Dương, Thái Sơn), Bửu Sơn (An Sơn, Mỹ Sơn, Phú Sơn, Phước Sơn, Tân Sơn, Tri Phước), Du Long (Cam Ly, Cam Thọ, Cát Hải, É Lâm hạ), Sông Pha (xã Bửu Lâm, É Lâm thượng) và Thanh Hải (xã An Hải, Ðông Hải, Hộ Hải, Khánh Hải, Mỹ Hải, Phan Rang ‘4.3km2 - 35.167 người’, Tân Hải và Vĩnh Hải). Thị xã Cam Ranh với diện tích 459km2 - 106.904 người cũng trực thuộc tỉnh Ninh Thuận. Năm 1993, Ninh Thuận tách ra khỏi Thuận Hải và thành Tỉnh với thị xã Phan Rang - Tháp Chàm và các huyện Ninh Sơn, Ninh Hải, Ninh Phước.

Ninh Thuận nằm vào vĩ độ khô hạn nhất trên thế giới (11-12), nên ở đây mưa ít nên chỉ có xương rồng, bàn chải mới thiên thu với tuế nguyệt. Người Phan Thiết đi xa về, dù bằng gì chăng nữa trên khô dưới nước, khi tới Cà Ná thì thở phào nhẹ nhõm, coi như đã bước vào nhà dù thực tế còn hơn trăm cây số đường đất. Marcel Monier ngày xưa trong chuyến hải hành vòng ngang Châu Á, đã viết trong ‘Le tour d’Asie’ nức nở khen vẽ đẹp của chốn này. Nay Dufiel cũng chẳng tiếc lời khi hạ bút nói Cà Ná là miền biển đẹp nhất Ðông nam Á, với những đợt sóng mỹ lệ phù trầm đâu có thua gì biển xanh Ðịa trung Hải.

Tóm lại dù hiện nay người Chàm chỉ còn là một sắc tộc nhỏ, trong đại gia đình dân tộc VN nhưng ảnh hưởng của họ về mọi phương diện vẫn bàng bạc trong cuộc sống của người Việt suốt miền Trung. Theo báo chí loan tải, từ tháng chạp năm ngoái Ninh Thuận là trung tâm khô hạn của VN, vì đây là chốn đã nổi tiếng muôn đời của nắng,gió và cát động. Nắng đã biến toàn thể sông suối, kênh rạch, ao hồ trong tỉnh hầu như khô quánh tới tận đáy. Nắng đã biến đồng ruộng vụ mùa đông-xuân tại các thôn làng trở thành xơ xác, đến nổi cỏ cũng không thể mọc được, làm cho người và súc vật đã khổ vì đói gạo lại thêm khốn đốn trăm chiều bởi khát nước. Ruộng đồng xơ xác vì thiếu mưa, khiến cho sông ngòi không còn nước chảy vào các Hồ chứa Thành Sơn, Ông Kính (Ninh Hải) , Tân Giang (Ninh Phước),vốn là nguồn tưới của hầu hết đất đai canh tác cả tỉnh, trong số này nông dân Chàm chiếm đa số.

Việc xây dựng nhà máy điện nguyên tử tại VN, hiện vẫn là một đề tài còn tranh cải sôi nổi dù đảng độc tài độc đoán tự quyết định và công bố sẽ thưc hiện qua cái gọi là ‘ nhất trí’ của quốc hội. Nguyên do sự chống đối trong nước là điều ai cũng thấy : Ðó là nổi lo sợ những tai nạn nguyên tử mà người dân VN phải gánh chịu, vì bọn VC chóp bu tham nhũng, mua lại những thiết bị cũ, quá đáp, hư hỏng của các nhà máy điện NT đã xài lâu năm , trong đó tệ nhát là đồ của Nga và Tàu đỏ, lại là nước hy vọng trúng thầu.

Vào lúc 12 giờ trưa ngày thứ tư (23-7-2008) đã có hằng trăm phụ nữ Chàm, biểu tình phản đối và chận giữ đoàn xe chở Thủ tướng VC Nguyễn tấn Dũng khi tới khảo sát khu vực dự định xây dựng ‘ Nhà máy điện nguyên tử ‘ nằm trong khu vực Sơn Hải, xã Phước Ninh, Huyện Ninh Phước, Tỉnh Ninh Thuận. Cũng theo nguồn tin được phổ biến thì chiếc xe chở Dũng vì đi sau nên chạy thoát được về Phan Rang. Sau đó tỉnh ủy đã điều động một lực lượng quân sự hùng hậu gồm công an võ trang, bộ đội dân phòng và xe cơ giới tới hiện trường để giải vây cho đồng bọn đang bị đồng bào bắt giữ làm con tin, để đòi Dũng phải trả lại đất đai vườn ruộng của họ mà dảng đã cướp giựt công khai từ trước. Cuộc biểu tình kéo dài tới hai ngày mới dứt do đồng bao tự động giải tán,làm nghẽn quốc lộ 1 từ Cà Ná về Phan Rang nhiều giờ.

Trước đây ngày 12-3-2006 không biết vì lý do gì cũng đã có cuộc xung đột trầm trọng, giữa ít người Việt tại thôn Hòa Thủy và người Chàm ở thôn Thành Tín, cùng thuộc Huyện Ninh Phước, Tỉnh Ninh Thuận. Nhưng dựa theo báo chí trong và ngoài nước, thì đầu giây mối nhợ của nội vụ, chẳng qua cũng do sự uất ức của đồng bào Chàm địa phương, bị Cộng sản Hà Nội tìm đủ mọi cách đánh đuổi ra khỏi nơi quê làng chôn nhau cắt rún bao đời, để chiếm đất của họ làm địa điểm xây dựng Nhà Máy Ðiện Nguyên Tử Ninh Thuận. Dàn dựng một cuộc ấu đã có chết người, bạo động.. để vin cớ đem cả hai tiểu đoàn công an vây hãm cô lập làng Chàm Thành Tín và ép buộc đồng bào phải ra đi, để bọn cán bộ đảng từ nhỏ tới lớn, được dịp chia phần trong dịch vụ béo bở sắp trở thành hiện thực.

Trên đất nước VN hiện nay còn không biết bao nhiêu công việc , mà nhà nước cần phải làm , để cải thiện cuộc sống vô cùng thiếu thốn của đồng bào, nhất là sau những trận bảo kinh hoàng bat vía đã tàn phá miền Trung vừa qua. Mới đây trên truyền hình được trực tiép từ VN sang, qua các hình ảnh người nghèo trong nước , xếp hàng chờ nhận mười ký gạo bố thí của nhà thờ, do tiền của các Việt Kiều mua tặng. Trong lúc đó, xen vào hầu hết là các chương trình quảng cáo các tour du lịch khắp nước thật là hào nhoáng. Rồi thì không biết bao nhiêu phim ảnh, những sản phẩm văn nghệ của Việt kiều thực hiện, toàn nói lên cảnh giàu sang văn minh đổi đời trong nước hiện nay, làm mờ mắt người Việt đang sống lưu vong nơi hải ngoại, khiến ai cũng ao ước được trở về, để chia sẻ với quê hương mình cảnh thanh bình, hạnh phúc đang có trong phim ảnh được chiếu hàng ngày.

Nhưng hỡi ôi đó chỉ là cảnh ảo trong cuộc đời thật, hay đúng hơn là cảnh thật của một thiểu số thuộc tầng lớp đảng đang cầm quyền hiện tại. Tất cả được tuyên truyền bằng phim ảnh, son phấn, đại hội này nọ.. chứ mặt thật đời sống của tuyệt đại đồng bào trong nước, đang cùng khổ, lầm than không còn một bực thang nào để đem ra so sánh, Nguyên do vì tất cả kế hoạch kinh tế mà nhà nước đã và đang thực hiện theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đều thất bại gần như hoàn toàn, từ việc nuôi tôm, cá fish, trong cà phê, hàng may mặc, nuôi gia cầm, các đồ án xây cất khách sạn, văn phòng cho mướn.. đả khiến cho cả nước phá sản vì tính cách nửa vời, làm thiệt ăn giả và nhất là sự tham nhũng của mọi tầng lớp đảng. Mặt khác, đảng đã thực sự đầu hàng Trung Cộng, nên bất chấp mọi hậu quả, đã mở hết mọi cánh cửa biên giới, để cho hàng Trung Cộng tràn ngập cả nước, đè bẹp sản phẩm nội đia, khiến cho người dân cả nước bị sạt nghiệp, tay trắng, vì không thể cạnh tranh được với hàng ngoại quốc, vừa rẽ lại được đảng công khai khuyến khích quảng cáo.

Cuối cùng là biển Ðông không còn nữa và Cao Nguyên Trường Sơn cũng dân bán cho giặc Tàu qua chiêu bài ‘ khai thác quặng Bauxit’ cho nên đâu có lạ, khi thấy người Việt cả nước lại ùn ùn kéo nhau xuất ngoại đưới đủ mọi hình thức như làm công nhân, làm cô dâu tại Trung Cộng, Ðài Loan, Nam Hàn, Nhựt Bổn,Tân Gia Ba .. và bi thảm nhất là lao vào con đường bán thịt nuôi thân trong nước.

Làm đường, cầu, đập nước, nhà cửa.. có bị ăn chận, thiệt hại cũng chỉ là sự hạn chế nhưng nếu xây dựng Một Nhà Máy Ðiện Nguyên tử mà cẩu thả sơ xuất, thì hậu quả về nhân mạng không biết đâu mà lường được. Rồi hoàn thành hoạt động nhưng không bảo trì tốt như Nga, thì chừng đó chẳng những người sống quan vùng chịu chết, mà cả nước chắc gì được an toàn với bụi phóng xạ ?. Ðó là chưa nói đến nợ vay nước ngoài, hiện chồng chất tới mức chỉ nhìn vào đã mù mắt. Chỉ riêng nhà máy lọc dầu Dung Quất-Quảng Ngãi đã tiêu phí tỷ tỷ đô la nhưng đâu vẫn còn đó, nay lại muốn làm thêm một công trình vỹ đại gấp ngàn lần dự án củ.

Ðó chẳng phải là chuyện mơ mơ màng màng hay sao ? và trên hết nợ nần như núi của VC ngày nay do đảng nhắm mắt làm liều vay mượn tứ xứ, mai này ai sẽ trả khi có một cuộc đổi đời lần nửa. Nhưng VC bây giờ đang cai trị cả nước nên ai dám ngăn cản ? .

Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di

Tháng 11-2009

Nguồn : MƯỜNG GIANG

Thứ Tư, 25 tháng 11, 2009

MỘT SỐ CẢM NHẬN VỀ HAI CHỮ “DÂN CHỦ”


Nguyễn Đại

Xin tự giới thiệu, người viết bài này chỉ là một kẻ ham mê đọc sách, ham mê tìm hiểu lịch sử. Về chính trị, người viết hoàn toàn thờ ơ và thậm chí “không ưa” gì lắm.

Tất cả những gì tôi viết ra dưới đây, đều chỉ xuất phát từ lòng yêu nước, yêu dân tộc Việt Nam và đảm bảo, được viết ra từ suy nghĩ thật của lòng mình, nghĩ sao nói vậy. Tôi muốn bày tỏ chính kiến của riêng bản thân mình với ước mong sao cho nước nhà sớm có dân chủ, tự do, thịnh vượng thật sự mà thôi.

Trước tiên, muốn có cảm nhận về hai chữ “DÂN CHỦ” thì phải hiểu “Dân Chủ là gì?”. Đây là một câu hỏi không dễ trả lời, nhất là đối với những người “phi chính trị” (dân làm kỹ thuật, dân hoạt động kinh doanh, dân công chức văn phòng…vv…chẳng hạn). Chính vì vậy mà thay vì dùng những từ ngữ quá to lớn, tôi chỉ xin trình bày cách hiểu của tôi về khái niệm thế nào là “dân chủ” dưới góc nhìn của một thường dân. Qua đó, hy vọng ngay cả dân trong giới “phi chính trị” cũng nắm được cơ bản khái niệm nhạy cảm này.

“Dân Chủ”, nói ngắn gọn là một hình thức xã hội mà “Toàn bộ Quyền Lực nằm trong tay người dân, bộ máy quyền lực của nhà nước, chính quyền do nhân dân trực tiếp điều hành. Và nhà nước ấy phải là nhà nước pháp trị thật sự. Các quyền dân chủ tự do, nhân quyền của nhân dân trong toàn xã hội được nhà nước pháp quyền ấy thực thi và tôn trọng một cách đầy đủ, toàn diện nhất…”.

Tuy nhiên, trong thực tế, mọi chuyện lại không đơn giản như vậy. Để xác định một đất nước có dân chủ hay không thì phải xem xét nhiều vấn đề. Người dân được làm gì và không được làm gì? Quan hệ giữa người dân và nhà nước, chính quyền là quan hệ gì? Trên thế giới hiện nay, nước nào là có mức dân chủ cao nhất ? Nước nào hoàn toàn không có, mà thể chế chính trị của họ chỉ thực ra là bản chất một chế độ độc tài mà thôi? Nước nào chỉ hô hào ta có Dân Chủ, nhưng trên thực tế thì mức độ dân chủ rất thấp hoặc không hề có chút dân chủ tự do gì cả? Và đời sống “dân chủ” trong một xã hội có cần thiết không? Một quốc gia không có “dân chủ” có phát triển được hay không ? Hoặc “dân chủ” có gây rối loạn cho xã hội không? Dân chủ có xâm hại đến chủ quyền đất nước và an ninh quốc gia hay không? Dân chủ có gây mất đoàn kết không, có làm chia rẽ dân tộc không?...vv và vv… Có biết bao câu hỏi được đặt ra liên quan xoay quanh khái niệm này mà trong suy nghĩ của người viết và cũng như của biết bao bạn đọc cứ lởn vởn trong tâm trí của tôi và của biết bao người quan tâm đến giá trị thiêng liêng này…

Theo ý kiến của riêng tôi thì có ba lập luận mà chúng ta thường nghe và cần làm rõ như sau :

Lập luận thứ nhất là : “Tại đất nước Việt Nam hiện nay, vì dân trí còn thấp, do đó chưa nên có dân chủ, nếu có dân chủ sẽ loạn mất, sẽ làm mất ổn định chính trị dẫn đến môi trường xã hội bị hỗn loạn thì làm sao có cơ hội cho mở mang và phát triển đất nước nữa…”. Nếu vậy, thì có lẽ chúng ta cần phải đặt ra một số vấn đề tiếp theo để thử đi sâu phân tích chẳng hạn như sau:

Đầu tiên, giả sử lập luận trên là đúng thì có nghĩa, là khi dân trí cao hơn mới được quyền thực thi dân chủ, tự do. Vậy dân trí cao là cao cỡ nào? Phải quy định mức nào là mức dân trí cao, để đặt ra mục tiêu mà còn phấn đấu cho bằng được. Nếu không có chuẩn cụ thể thì mai mốt dân trí đã cao lắm rồi, chúng ta vẫn nói “chưa cao” thì biết đâu mà lần. (?!) Đồng thời, trách nhiệm nâng cao dân trí chính là trách nhiệm của các nhà lãnh đạo đất nước chứ không phải trách nhiệm ấy của người dân hay ai đó chung chung vô hình. Vậy các nhà lãnh đạo quốc gia phải cam kết với xã hội, với nhân dân trong bao nhiêu năm nữa thì dân trí sẽ cao đến mức cả xã hội sẽ được hưởng quyền có dân chủ, tự do…? Không thể nói chung chung mà phải nói rõ cụ thể là trong bao lâu nữa. Nếu cứ thả nổi thì một trăm, thậm chí một nghìn năm sau chúng ta vẫn nói: “Vì dân trí trong xã hội còn rất thấp nên chưa nên có dân chủ, chưa thể thực thi dân chủ được…”. Như vậy là, với lập luận kiểu cách này thì có nghĩa là nhà cầm quyền chỉ muốn biện minh cho việc từ chối mãi mãi không trao trả lại cho nhân dân, cho cả dân tộc quyền được sống trong một xã hội có tự do, dân chủ thật sự mà thôi. Cũng có thể nói rằng, nếu cứ kéo dài tình trạng đó lâu dài, thì chính lãnh đạo mãi mãi vẫn nợ nhân dân món nợ dân chủ, tự do. Và đó là bi kịch buồn thật “vĩ đại”, bởi vì chính nhân dân, chứ không phải ai khác, đã dùng xương máu, mồ hôi để xây dựng nên Nhà Nước “của dân, do dân và vì dân” hiện nay.

Dù sao thì đó cũng chỉ là giả sử lập luận trên đúng thôi. Thật ra lập luận trên cũng không thuyết phục lắm. Vì chính dân trí Việt Nam trước đây so với các nước ngay trong khu vực Đông Nam Á là hoàn toàn không thua kém. So với các nước như Mã Lai, Thái Lan, Inđônêxia, Philippin… tôi cho rằng từ xa xưa, dân trí nước ta nếu không cao hơn thì cũng bằng dân trí của nhân dân các quốc gia trên đây. Trong khi ở các nước đó, từ lâu rồi, mức độ dân chủ của họ cao hơn của nước ta, và hiện nay, dân trí xã hội ta đã tụt hậu khá xa so với họ. Do đó, nói vì dân trí thấp nên chưa thể có dân chủ là không cơ sở. Ngược lại, vì thiếu dân chủ nên giáo dục (và kể cả mọi mặt) của ta đang tụt hậu rất đáng buồn. (đọc bài : “Giáo dục – cho tôi được nói thẳng” của giáo sư Hoàng Tụy). Từ đó dẫn đến dân trí nước ta cũng càng ngày tụt hậu so với các nước ngay trong khu vực và các nước dân chủ, văn minh khác trên toàn thế giới. Vì vậy nếu nói là: “Ở Việt nam ta, vì mức độ dân chủ chưa cao nên dân trí bị thấp so với các nước ngang hàng” thì nghe đúng hơn, thuyết phục hơn.

Nói đến đây tôi xin dẫn chứng đôi dòng để chúng ta liên hệ so sánh mới rút ra được kết luận dứt khoát là: “Thể chế chính trị văn minh, tự do dân chủ sẽ là môi trường và bối cảnh tốt đẹp, đầy thuận lợi để mỗi cá nhân con người phát triển thăng hoa rạng rỡ như thế nào. Ngược lại nếu con người phải sống, phải tồn tại trong hoàn cảnh một đất nước có thể chế độc tài, không dân chủ thì con người sẽ ắt bị thui chột tài năng, thậm chí các quyền con người, quyền công dân bị chà đạp, bị xâm phạm nghiêm trọng…vv…”. Từ đó chúng ta sẽ thấy đời sống dân chủ cho một xã hội vô cùng quan trọng, cần thiết và có ý nghĩa sống còn như thế nào đối với xã hội và mọi công dân.

Chúng ta đều biết trên thế giới ngoài các nước trong hệ thống các quốc gia dân chủ có truyền thống lâu đời như ở Châu Âu, Bắc Mỹ và Ca na đa, Úc Châu…không kể đến, thì chúng ta còn chứng kiến biết bao các nước khác tuy có nền kinh tế còn chậm phát triển, thậm chí rất nghèo nàn lạc hậu như Việt Nam, có nước còn kém cả Việt Nam. Thế nhưng xã hội và nhân dân nước họ đều đang được hưởng dân chủ, tự do, nhân quyền thực sự, đang từng bước được hoàn thiện và đương nhiên đất nước họ đang hội nhập toàn diện vào sinh hoạt của cộng đồng nhân loại tiến bộ. Trong danh sách các quốc gia này có các nứơc ở Châu Á, Châu Phi, Mỹ La tinh như: Ấn Độ, Philipin, Paksitan, Băngđalet, Nê Pan, Dămbia, Kênia, Nigiêria, Brazil, Argentina…. nhiều lắm nhiều lắm không thể thống kê hết. Còn trường hợp của nước Cu Ba XHCN thì sao ? Chính Việt Nam ta còn phải viện trợ gạo cho họ để cứu đói, tặng họ máy tính (computer) để góp phần xóa mù thông tin!!!

Lập luận thứ hai là: “Ở Việt Nam ta vẫn có dân chủ chứ, nhưng nhân dân không thể tự lãnh đạo nên Đảng Cộng Sản thay mặt nhân dân lãnh đạo đất nước để thực thi dân chủ cho toàn thể xã hội…”. Điều này thật ra chỉ đúng ở điểm “nhân dân không thể tự lãnh đạo” nhưng lại sai ở rất nhiều các điểm khác rất căn bản.

Ở bất kỳ quốc gia nào cũng vậy, không làm gì có chuyện người dân tự lãnh đạo quốc gia được. Luôn luôn phải có người đại diện đứng ra để lãnh đạo đất nước. Người này tất nhiên có quyền lực rất lớn (vẫn trong khuôn khổ luật pháp), nhưng trách nhiệm cũng rất nặng. Ta sẽ nhìn nhận bản chất vấn đề này thông qua việc xem xét một vấn đề nhỏ hơn như sự phân tích dưới đây để sáng tỏ thì sẽ thấy rất rõ.

Ở các công ty cổ phần, người chủ thật sự của công ty là Ban Quản Trị. Những người này bỏ vốn (tiền bạc, tài sản…) để thành lập công ty kinh doanh. Vì là một Ban nhiều người nên họ phải chọn ra một người đại diện để lãnh đạo công ty đó. Người được chọn (Tổng Giám Đốc - TGD) là người chịu trách nhiệm điều hành toàn bộ hoạt động và kết quả lợi nhuận của công ty. Nhưng TGD không phải là chủ công ty. Chủ thật sự của công ty là Ban Quản Trị. Khi ông ta làm việc không hiệu quả, Ban Quản Trị quyết định họp lại và cách chức ông ta. Điều quan trọng nhất là chỗ này. Người lãnh đạo công ty (Tổng Giám Đốc) hoàn toàn có thể bị chủ nhân của công ty (Ban Quản Trị) sa thải để thay thế vị TGĐ khác tài năng hơn, điều hành công việc làm ăn của công ty có hiệu quả hơn.

Nói ví dụ vậy cho dễ hiểu. Ở một quốc gia cũng tương tự vậy. Nếu mức độ dân chủ đủ cao, thì ông chủ của đất nước là nhân dân, tương tự như Ban Quản Trị của một công ty. Nhân dân bỏ vốn (tài nguyên, trí lực, con người…) và chọn ra người đại diện để lãnh đạo đất nước. Người lãnh đạo này giống như là Tổng Giám Đốc của công ty vậy. Nếu ông này lãnh đạo kém, đưa đất nước tụt hậu thì sẽ bị Nhân Dân thay thế, và chọn người khác, thông qua tự do bầu cử.

So sánh như vậy để thấy rằng, người dân làm chủ đất nước, thì phải được quyền chọn, được quyền bầu ra người lãnh đạo cho họ. Nếu nhân dân không được chọn người thay mặt dân lãnh đạo thì chưa thể là dân chủ mức độ cao được.

Lập luận thứ ba là: “Sau hơn 34 năm thống nhất đất nước, chúng ta đã phát triển về mọi mặt. Và nếu so sánh tình hình nước ta hiện nay với cách đây 34 năm, kết luận rằng đất nước chúng ta đang được ĐCSVN lãnh đạo đi rất đúng hướng, không cần thiết bàn về dân chủ nữa”…


Đúng và hoàn toàn đúng là hiện nay, đất nước chúng ta có những mặt lớn mạnh hơn 34 năm trước rất nhiều. Nhưng nếu vì vậy mà cho rằng chúng ta đang đúng hướng là không ổn chút nào và khá chủ quan.

Hãy lấy ví dụ để liên hệ so sánh thì lập luận trên đây sẽ khó lòng đứng vững được, chẳng hạn, một đứa trẻ sinh ra, được cho ăn cháo loãng, ăn củ mì, ăn cơm độn bo bo thì đứa trẻ ấy vẫn sống, vẫn lớn lên. Sau 34 năm, đứa trẻ ấy rồi cũng trở thành một thanh niên, và chắc chắn anh thanh niên kia khỏe hơn, lớn hơn chính đứa trẻ đó 34 năm trước. Nhưng không có nghĩa là chúng ta đã nuôi đứa trẻ đúng hướng được!

Một đứa trẻ khác được nuôi đúng hướng, được chăm sóc y tế chu đáo, được cho uống sữa giàu dinh dưỡng, được ăn thịt, ăn cá, ăn đủ chất xơ… Nó còn được giáo dục, được học hành tử tế, nhân cách, phẩm chất đạo đức được phát triển toàn diện có nền nếp. Khi đó, sau hơn 34 năm, bảo đảm đứa trẻ sẽ thành anh thanh niên tuyệt vời hơn anh thanh niên kia rất nhiều. Nói đến đây chúng ta hãy liên tưởng đến một vài các sự kiện gần đây được các cơ quan truyền thông quốc tế, hải ngoại và cả trong nước loan tin khá ấn tượng. Đó là mới rồi sự kiện lần đầu tiên ở ngay tại CHLB Đức thống nhất, trong chính phủ của nữ thủ tướng Angela Merke đã lựa chọn ông Philipp Roesler 36 tuổi, một thanh niên gốc Việt trở thành Bộ trưởng y tế mà ông này vốn nguồn gốc từ hơn 3 thập niên trước đã được xin về từ trại trẻ mồ côi ở Long Khánh thuộc tỉnh Khánh Hoà khi cha mẹ bé đều đã chết cả vì bom đạn trong chiến tranh. Thế mà, nhờ được sự nuôi duỡng, chăm sóc y tế, giáo dục trong môi trường tốt, đầy đủ tại nước Đức hùng cường nên tài năng con người này đã được bộc lộ và phát triển đến kỳ diệu như thế đó.

Trường hợp khác là trung tá Lê Bá Hùng, chỉ huy hạm trưởng hải quân Hoa Kỳ rất tối tân với hơn 300 sĩ quan và thủy thủ đoàn thì viên sĩ quan trẻ này cũng chỉ từ một đứa bé lúc 5 tuổi được tầu chiến Mỹ vớt lên trên biển Đông khi cả gia đình anh trôi dạt ngoài khơi sau khi cuộc chiến tại Nam Việt Nam kết thúc sau ngày 30/4/1975. Ấy thế mà cũng chỉ sau hơn 34 năm từ số phận một đứa bé cùng cả gia đình thuyền nhân khốn khổ này tưởng như phải bỏ mạng giữa đại dương thì nay do được nuôi dưỡng, giáo dục trong môi trường một quốc gia thịnh vượng, dân chủ như Hoa Kỳ mà anh đã học hành thành đạt để trưởng thành lên một sĩ quan của hải quân một siêu cường hùng mạnh bậc nhất trên thế giới…vv…

Một trường hợp khác nữa khá danh tiếng, đó là vị dân biểu trong Quốc Hội Liên bang Hoa Kỳ gốc người Việt Nam duy nhất thuộc đảng Cộng hòa - Josheph Cao Quang Ánh của Hạ viện trong nhiệm kỳ hiện nay. Ông hiện là một trong những tiếng nói quan trọng trong cơ quan lập pháp của quốc gia giàu mạnh nhất trên địa cầu. Tên tuổi ông là niềm kiêu hãnh và tự hào lớn lao của cộng đồng người Việt định cư tại cường quốc số 1 này, cũng như của chung những người Việt tỵ nạn khắp nơi trên thế giới. Ai đâu có thể ngờ rằng, hơn 34 năm về trước vị dân biểu này chỉ là đứa trẻ lên 8 tuổi phải xa gia đình, xa cha mẹ để vượt biển rời miền Nam Việt Nam đi tỵ nạn chính trị. Thế mà sau mấy chục năm được nuôi dưỡng, giáo dục, học tập trong môi trường lành mạnh, đầy đủ tiện nghi nên ông đã trưởng thành vượt bậc để vượt qua biết bao những chính trị gia sừng sỏ, đầy kinh nghiệm, cả những trí thức gốc da trắng lừng danh khác để có mặt trên chính trường nước Mỹ đầy quyền uy như hiện nay…

Còn vô số những trường hợp khác trong cộng đồng người Việt định cư ở hải ngoại đã thành đạt, thành danh trên đủ các lãnh vực từ chính trị, quân sự, khoa học kỹ thuật, văn hoá, nghệ thuật…. không sao kể hết trong khuôn khổ bài viết ngắn này. Chính họ đã làm vẻ vang rạng rỡ truyền thống văn hiến ngàn đời của dân tộc ta. Thật đáng tự hào biết bao về con người Việt Nam, về Con Hồng Cháu Lạc ! Nói đến các ví dụ này càng thấy rõ vấn đề được nêu lên là đứa trẻ được nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục thì sẽ có sự phát triển đúng hướng, rất tốt, còn ngược lại chỉ là sự phát triển què quặt trong hoang dã thiếu sự chăm lo, quan tâm vun xới của con người mà thôi. Và từ đó mới thấy rằng các yếu tố lãnh đạo, môi trường, thể chế chính trị của một quốc gia thật vô cùng quan trọng và hết sức cần thiết như thế nào trong sự nghiệp phát triển đất nước nói chung và của con người nói riêng.

Vậy, khi muốn xem xét, ta phải xem trên 3 yếu tố:

Một là, trong cùng khoảng thời gian hơn 34 năm, đất nước người ta đã phát triển như thế nào, so với đất nước chúng ta. (chỉ so với các nước trong khu vực thuộc khối ASEAN thôi, không cần so với Nhật, Mỹ, Pháp, Anh…)

Hai là, trong cùng khoảng thời gian hơn 34 năm đó, với tố chất của dân tộc Việt, nếu chúng ta đi đúng hướng, thì chúng ta sẽ phát triển nhanh gấp mấy lần so với thực tế đã qua. Rất đơn giản, chúng ta so tốc độ phát triển trong 10 năm trước đổi mới (1975-1986) với khoảng thời gian sau đổi mới là thấy rõ quan điểm này.

Ba là, với sự phát triển như kiểu hiện nay, ai là người hưởng lợi nhiều nhất. Sự phát triển đó có đồng đều giữa nông thôn và thành thị không ? Giữa trí thức và lao động tay chân ? Giữa dân thường và cán bộ nhà nước ra sao?

Ba câu hỏi trên thuộc lĩnh vực mà tôi cũng không thể trả lời thỏa đáng được. Cần một nghiên cứu, thống kê, thu thập số liệu ở tầm quốc gia để trả lời. Ở đây, tôi chỉ có ý muốn nói rằng lập luận “sau hơn 34 năm thống nhất đất nước, chúng ta đã phát triển về mọi mặt. Và so sánh tình hình nước ta hiện nay với cách đây 34 năm, kết luận rằng chúng ta đang đi rất đúng hướng” là không thỏa đáng, không chính xác và không thuyết phục lắm.

Tạm kết luận

Khái niệm về “Dân Chủ” là một hình thức xã hội mà “Toàn bộ Quyền Lực nằm trong tay người dân”, tức Người Dân là chủ thực sự đất nước thông qua Tổng tuyển cử tự do trong minh bạch, công bằng và có cạnh tranh lành mạnh.

Một số lập luận không chặt chẽ, dễ gây ngộ nhận và mang tính ngụy biện giả trá. Vì thế rất cần có câu trả lời rõ ràng, khoa học hơn.

Tiến trình dân chủ hóa đất nước ta hiện nay nhất là trong mấy năm gần đay cũng có chút đỉnh tiến bộ và theo hướng tích cực, nhưng quá chậm chạp và không đáp ứng được nhu cầu lành mạnh, chính đáng của đại bộ phận nhân dân trong toàn xã hội. Và tiến trình này cũng không theo kịp các chuyển biến tích cực của bối cảnh quốc tế và trào lưu tiến bộ của thời đại đòi hỏi bức thiết trong quá trình hội nhập của nước ta vào sinh hoạt của cộng đồng quốc tế văn minh tiến bộ. Do đó, tốc độ phát triển của nước ta vừa chậm chạp, vừa không toàn diện, vừa không chắc chắn và không được đảm bảo bền vững lâu dài.

Quyền nổi bật nhất thể hiện cho được một xã hội có “Dân chủ” chính là quyền nhân dân được tự do chọn người lãnh đạo, tự do ứng cử và bầu cử. Khi chưa có quyền này thì mọi chuyện khác đều không có ý nghĩa gì cả.

Nguyễn Đại

Email : ngusilam@gmail.com This e-mail address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it
Điện thoại liên hệ tạm thời : 0199 – 865 - 1432

Viết xong ngày 20/11/2009, hoàn chỉnh ngày 24/11/2009
Chân thành cảm ơn nhà báo Nguyễn Khắc Toàn – tại Hà Nội đã thảo luận, đóng góp những ý kiến hết sức quý giá, chân thành, rất thực tế để bài viết thêm sinh động và hoàn chỉnh.
____________________________________
Đôi nét về người viết
Họ Tên: Nguyễn Đăng Cao Đại, còn gọi tắt là Nguyễn Đại
Sinh năm: 1975
Nơi ở hiện nay: số nhà 184/42, đường Phạm Văn Hai, quận Tân Bình, Sài Gòn (tức TP – Hồ Chí Minh ngày nay).
Nghề nghiệp: Kỹ sư Xây Dựng
Học vấn: Đang học Cao học “Công Nghệ Thi Công và Quản Lý Xây Dựng” thuộc Đại học Bách Khoa TP- HCM thì nghỉ ngang vì cho là chương trình không thực tế!

Xuất xứ: Sao Trắng



Thứ Ba, 24 tháng 11, 2009

Phóng sự Hội nghị Việt kiều lần thứ nhất tại Hà Nội

Tuesday, November 24, 2009, 11:29 AM
Điếuvăn

Hôm qua tìm cách vào trong hội nghị nhưng không được vì các đại biểu điều có danh sách, có thẻ mới vào được. Xe vào phải có bản Hội Nghị. Xe ôm tuyệt đối chỉ được đậu ngoài xa. Nghe nói buổi chiều có văn nghệ lớn miễn phí cho VK tiếc không vào xem được. Mấy khách sạn lớn tha hồ mà chém, 500 USD một đêm là chuyện nhỏ.
Muốn làm một phóng sự nho nhỏ như là một chuyện kể lại cho những người bạn của DV rên Xcafe thì mình cần phải tốn công và tốn rất nhiều. Tôi và cô bạn gái thân thương phải chạy xe máy ngược xuôi trong hai ngày nay để tìm hiểu sự kiện lịch sử nầy, để trực tiếp tai nghe mắt thấy để phân tích cho các bạn chưa biết ở nước ngoài biết được sự thật. Có một số VK nhưng rất ít đến từ các nước như Mỹ, Canada, Úc, Anh, Pháp, theo tôi họ chẳng qua là những người "tham dự đại hội cho thỏa tính tò mò xem cái comedy nầy vui " như anh CaFeDen nhận xét. Tôi có hỏi vài vị VK, sau "Đại Hội" nầy họ có đi tham quan? họ trả lời sẽ đi Tuần Châu chơi. Như vậy mục đích của VK từ các nước Tư Bản về là chỉ đi chơi, đi tham quan chứ không phải về làm Đại Biểu, hội họp với nhà nước ta rồi phổ biến thông tin lại cho cộng đồng bên đó như quảng cáo mà đảng đưa ra hay nói đúng là đảng đang đánh lừa dư luận.
Viếng lăng Bác không phải trả tiền
Có mấy trăm bác Việt Kiều thế mà cũng làm náo loạn Hà Nội mấy ngày nay, khách sạn thì hết phòng, giá bèo của nhà nghỉ cũng trên 1 triệu.
Từ sớm mấy bác VK khăn gói sắp hàng tới thăm Lăng Hồ Chủ Tịch, tôi lén phéng cũng quen được một bác VK khoảng trên 60 bó. Tôi chen chân theo chân mấy bác ấy thể hiện tình yêu đối với Bác Hồ. Tội cho mấy bác đại biểu VK, từ 50 bó tới 60 bó chiếm hết 70% có một số bác tuổi thượng tuần cũng trên 70 bó chứ không ít, một số VK khác trẻ hơn thì gương mặt ngơ ngác chắc là người nhà của mấy bác đi chung, số còn lại là phóng viên, công an chìm nổi. Phái đoàn đại biểu VK cao cấp thì đi trước rất xa chung với lãnh đạo nước ta, họ phải đeo cái thẻ to tổ bố trước ngực, có tên tuổi và quốc gia nào đến. Phái đoàn đi sau thì tạp nhạp đủ thành phần, con cháu bà con VK. Phái đoàn thiếu nhi Bác Hồ, phái đoàn Thanh Niên CS, phái đoàn bóng đá, phái đoàn phường khóm cũng được mời tới sắp hàng tiếp theo dài trên mấy cây số để VK nước ngoài biết được là nhân dân ta rất mang ơn Bác Hồ kính yêu.
Việt Kiều xa xứ lâu ngày mà nhiều người nói giọng Hà Nội, Thanh Hóa vẫn còn rất chuẩn. Muốn vào thăm Hồ Chủ Tịch khó lắm chứ không phải dễ. Các đại biểu VK phải đứng sắp hàng gần cả tiếng bên ngoài đường để nhân dân biết là VK cũng yêu bác Hồ lắm chứ. Có bác công an mặc đồ vét tông đưa tay làm dấu lúc nào thì chúng ta tiếng bước, lúc nào chúng ta phải chờ. Tội cho mấy bác đại biểu tuổi cao, đứng lâu chân mõi mà không dám ngồi. Đi qua quày gửi đồ miễn phí, máy hình, máy ảnh, bao bị không được đem vào lăng phải gửi lại quày. Mấy cô lớn tuổi làm việc ở quày gửi đồ hôm nay thay bằng lớp gái trẻ, mặc áo dài xanh đồng phục trông rất đẹp mắt.Đi qua trạm gửi đồ thì đoàn quân VK đi, chung lòng với Bác, chưa xong, tưởng là đi tiếp được, không ngờ phải ghé dừng chân tại một căn nhà để xem phim bác Hồ vĩ đại chiếu trên TV với cuộn băng nhão. Có bác VK gật gật ca ngợi công ơn bác Hồ. Xem xong phim là các đại biểu phải bước qua máy khám bom. Có lẽ công an muốn tìm xem có bọn phản động nào trong đám nầy.
Thế là từng bước thầm bước đi.., trên một cây số rồi mà vẫn chưa được vào Lăng, phái đoàn phải đi vòng cho nhân dân chiêm ngưỡng cái đã. Chà may quá tới được gần Lăng rồi nhưng chưa hết phải chờ các chiến sĩ bảo vệ Lăng đồ trắng cầm Hoa dẫn đầu phái đoàn VK cấp cao đi trước. Xa quá không nhìn thấy chữ trên vòng hoa thì chắc là chữ "Kính Viếng Chủ Tịch HCM" như thường lệ.
Tới được bật thang rồi mà còn phải dừng lại, bác công an nhìn chăm từng người một xem có bọn phản động nào âm mưu gì không. Thế là xong, bước vào bật cấp đi lên vào Lăng, trong nầy mát lạnh, đường đi hai bên tường là đá Hoa Cương được xây cất như một đường hầm trú bom, quẹo sang phải tầng trên phái đoàn đi chậm lại vì phía trên kia là cái hòm bằng kính đựng xác bác Hồ, ánh đèn mờ mờ ảo ảo. Bốn chiến sĩ áo trắng đứng nghiêm chung quanh hòm kính, đoàn người bị bác công an đứng gần đó thúc dục đi nhanh không được nhìn bác Hồ, ai ngắm quá lâu hay dừng lại để ngắm thì bị đuổi đi ngay... chắc là sợ biết xác giả thì tai tiếng cho đảng ta.
Sắp hàng thì gần 2 tiếng, đi gần 2 cây số đường vòng mà chỉ được nhìn thấy Bác Hồ vài giây ngắn ngủi. Đoàn người lủi thủi ra về tới quày hàng lấy đồ để về Trung tâm hội nghị quốc gia Mỹ Đình. Xe taxi đậu đầy chờ khách, đại biểu thì có xe riêng đưa rước còn con cháu đi theo thì phải đi Taxi, muốn đi nhanh hơn thì có mấy bác xe ôm mặc đồng phục xanh nhạt đứng chờ đầy phía sân sau.
Tôi có gặp một VK trong dịp nầy, anh ta tên là Thomas, một VK ở Canada khoảng trên 30, hay mặc vét tông, đeo mắt kính. Người nầy đã về VN lâu rồi vì tôi đã gặp anh ấy cách đây 2 năm ở Hà Nội. Anh Thomas nói với tôi là ảnh đại diện cho hãng IBM tại VN, là một giám đốc người Việt nhưng rất lất cất, tiếng Anh nói lặp bặp, hay thích khoe khoang. Hôm qua đọc trên tờ báo Lao Động có viết "Thomas 34 tuổi, là VK bên Pháp lần nầy về để đại diện cho IBM", tôi rất ngạc nhiên điều nầy. Thomas là một người tôi biết là do tình cờ vì tôi làm thông dịch Anh ngữ cho một cuộc hội thảo. Tờ Lao Động được chỉ thị đăng tầm bậy để người đọc có cảm giác là VK sau lần đại hội nầy sẽ về làm ăn. Mục đích của đảng là khuyến dụ người khác theo nghị quyết Ba Sáu.
Trong số VK lần nầy có những người mà nhiều người biết như ông Lê Trọng Văn theo mẹ tôi cho biết ông Văn từng làm xướng ngôn viên cho đài BBC tiếng Việt trước năm 1975. Người khác là vợ chồng Nguyễn Cao Kỳ từ Tuần Châu tới... Còn 898 đại biểu VK còn lại là "Vô Danh Tiểu Tốt".
Chống Cộng cực đoan tung danh sách Việt kiều giả
Các bác chống cộng lại lợi dụng chuyện Đại Hội Việt Kiều để tung danh sách giả lên nhằm đánh phá ngay chính những người trong cộng đồng. Nếu chúng ta chê VC thủ đoạn thì người chống cộng nên tránh dùng thủ đoạn để đánh người khác. Có thể những người trong danh sách đã từng về VN kinh doanh hay có những liên quan, lời phát biểu tới nhà nước thì lập tức được đưa vào danh sách phát cho họ cái nón cối miễn phí. Trước đây tại Indonesia, cũng dựa vào những danh sách "thân cộng", không cần kiểm chứng, mỗi ngày trên 3000 người bị "chống cộng" giết chết.
Phương áng chống cộng lùa người dân theo cộng sản là một phương áng thất bại ngay từ bước đầu. Trước đây trong chế độ VNCH đã có chương trình chiêu hồi, những người VC chính gốc cũng được hưởng qui chế đối xử công bình. Những người thân cộng, về VN làm ăn kinh doanh, chưa chắc họ là VC, họ chỉ là những người dân bình thường như bao người khác. Các nhà trí thức khi họ về VN giúp đở cho người nghèo hay có những chương trình giúp trẻ em tàn tật như chị Huỳnh Thị Mận trước đây cũng bị chụp cho cái nón cối vì chị được ông Lê Khả Phiêu đứng chụp hình chung.
Người Việt chống cộng kết luận quá vội vàng như vậy thì bắt buộc con số người dân theo VC ngày càng tăng chứ không giảm. Nếu chúng ta chỉ căn cứ là bất cứ người nào chụp hình chung với VC là VC làm tôi nhớ tới chuyện trong phim Outbreak do tài tử Dustin Hoffman đóng, "ai gần người nhiễm vi rút là phải bị triệt tiêu". Trong thành phố số người nhiễm vi rút rất ít nhưng cả T.P đã bị cho vào danh sách thủ tiêu tập thể.
Dựa trên tư duy của người chống cộng cực đoan, không cần phải chụp hình chung với VC mới là VC, ai về VN là VC, ai tổ chức văn nghệ cho ca sĩ VN hát là VC, ai về VN giúp trẻ em tàn tật là VC, những vị tăng ni nào không nằm trong tổ chức Phật Giáo Thống Nhất là VC, ai đi nghe ông Nguyễn Minh Triết hay bất cứ ông nào VC nói chuyện sẽ trở thành VC... Nếu như vậy thì qua dễ để trở thành VC.
Nếu chúng ta dựa theo cảm tính để làm một bản thống kê thì ở Hải Ngoại có nhiều VC hơn người "chống cộng" mà không ai biết. Tôi đưa ví dụ trường hợp cô Huỳnh Thị Mận là một phụ nữ hiền lành ở Bắc Cali, cô về VN để giúp mở những ngôi nhà tình thương giúp trẻ em tàn tật và cô Mận được Phòng Thương Binh Xã Hội ca ngợi, cô được báo đăng hình và Lê Khả Phiêu có dịp đi ngang qua và chụp hình chung với cô Mận thì cô Mận trở được người chống cộng cho cái nón là VC là đảng viên CSVN. Chuyện chưa hết ngang đây. Cô Mận về lại Mỹ và đi chơi hội chợ Tết chung với những người bạn, trong đó có một thành viên Việt Tân và sau đó anh thành viên Việt Tân nầy được đưa lên báo trở thành VC và chưa hết những người bạn thân của cô Mận cũng được vinh dự thành VC.
Trong những người bạn đó của cô Mận có cô kỹ sư Đỗ Anh Thư, chị Đỗ Anh Thư trước đây là một người Việt Hải ngoại chống cộng nhưng bị chụp cho cái mũ VC nên sau đó chị Đỗ Anh Thư về theo chị Mận để giúp luôn cho trẻ mồ côi bên VN. Chỉ trong nháy mắt, chỉ đi chơi chung thôi mà trở thành VC chứ đừng nói là chụp hình chung với VC mới là VC. Đây có phải là sự quá nhạy cảm của người "chống cộng" ? Bao giờ thì người dân trong nươc mới mong người chống cộng giúp cho họ thoát khỏi bàn tay VC. Nếu người chống cộng hô hào nào là VC là tàn ác, tham ô, xấu xa thì sao "chống cộng" cứ đẩy những người dân vô tội về với VC, đây có phải là sự mâu thuẩn hay không ? Cái danh sách "Việt Kiều" giả mà những kẻ xấu đã lợi dụng để đưa danh sách những người mà họ "ghét" vì những lý do mà tôi đã nêu trên mục đích là triệt hạ uy tính của những người nầy. Đây là một chuyện nếu dựa theo pháp luật chụp mũ bậy bạ là phạm pháp (Defamation, Libel and Slander Law) còn theo đạo đức thì người chống cộng làm một viê.c thiếu lương tâm và trách nhiệm.
Danh sách nầy được phổ biến khắp nơi, trên các forum yahoo và DCVonline cũng như tại đây.

Kết thúc một "Hội Nghị Diên Hồng"
Trong ngày Hôm qua, phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan đã trao Huân chương Hồ Chí Minh cho Ủy ban Nhà nước về người VN ở nước ngoài. Chương trình diễn ra ngay tại sân khấu của Trung Tâm Hội Nghị Quốc Gia Mỹ Đình.Các báo chí ca ngợi thành tích của Ủy ban Nhà nước về người VN ở nước ngoài dựa trên những tự nhiên của xã hội. Ủy ban Nhà nước về người VN ở nước ngoài có xứng đáng được nhận Huân chương Hồ Chí Minh không ? Theo tôi là không vì "thành tích" chẳng qua là sự tự nhiên của xã hội.
Trong thành tích đó có đoạn cho rằng Việt Kiều Nước Ngoài đã gửi tiền về VN trong năm 2008 tăng trên 7 tỉ USD - Nếu không có Ủy Ban thì số tiền gửi vẫn thế vì họ gửi tiền cho thân nhân bà con bên VN không có nghĩa là họ nghe theo lời của Ủy Ban, ngay cả những VK về làm kinh doanh bên VN cũng chỉ là cho chính cá nhân họ chứ không phải nghe theo lời ai mà về. Nếu Huân chương Hồ Chí Minh cho Ủy ban Nhà nước về người VN ở nước ngoài dựa trên yếu tố là Ủy Ban nầy tổ chức được một hội nghị "Diên Hồng" cho 800 VK ở 101 quốc gia về tham dự Hội Nghị là một thành tích thì tôi không tán thành việc nầy.

Phản Luận:
Con số VK về tham dự lần nầy là không do chính họ tình nguyện mà do sự sắp xếp của các lãnh sứ quán của nước ta. Con số đưa ra 800 VK cho 101 quốc gia về tham dự nhưng trên thực tế những VK ở những quốc gia như Mỹ, Úc, Pháp, Anh về quá ít nên những VK ở các nước như Thái, Campuchia, Lào, Nam Triều Tiên đưa về số đại biểu gần 400, gần quá bán con số 101 quốc gia. Các đại biểu VK ở các quốc gia Tây Phương về tham dự chỉ là những người dân về VN tham quan với con số rất ít là những nhà trí thức. Đây là một sự thất bại của Nhà nước về người VN ở nước ngoài không đạt được tiêu chuẩn mời gọi.
Thất bại lớn nhất là 800 đại biểu VK và hơn 400 đại biểu các ủy ban Mặt Trận Tổ Quốc được đưa vào ở những khách sạn sang trọng dưới sự đài thọ của ngân sách nhà nước. Ước lượng tổng số tiền chi tiêu cho đại hội trong 3 ngày gồm các cước phí bao Khách sạn, ăn uống, xe đưa rước, tiền âm thanh, ánh sáng, trang trí, chưng bày, sách báo, tài liệu. Nội tiền mướn ca sĩ thật là lãng phí như ca sĩ Quang Linh chỉ về hát mấy bài lại được trả 4,000 USD đó là chưa nói tới những ca sĩ khác. Theo ước tính của tôi cho một đại hội không đạt kết quả, hoặc kết quả giả tạo nhằm tuyên truyền cho đảng và nhà nước phải tốn ít nhất là 10 triệu USD. Con số nầy dùng để giúp cho những nạn nhân bão lụt, những căn nhà tình thương thì hay biết mấy.
Ủy ban Nhà nước về người VN ở nước ngoài đã không tiết kiệm tiền thuế của nhân dân lại đem tiêu xài lãng phí một cách vô trách nhiệm thì không thể được vinh dự lãnh nhận Huân Chương Bác Hồ. Huân chương Hồ Chí Minh và Huân Chương Sao Vàng trước đây cũng đã được trao cho đồng chí Lê Khả Phiêu, một người có công bán nước cho Trung Quốc như vậy đảng và nhà nước ta trực tiếp trao Huân Chương HCM cho những người bán nước, tham ô, lãng phí thì còn ý nghĩa gì nữa ?
ST

Thứ Hai, 23 tháng 11, 2009

1.000 năm Vương triều Lý và kinh đô Thăng Long: Một triều đại văn trị, võ công

Chủ Nhật, 22/11/2009, 11:47

TP - Ngày 21/11, tại Hà Nội, nhiều nhà khoa học trong nước và quốc tế đã tham dự hội thảo 1.000 năm Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long.

Tượng Vua Lý Thái Tổ tại Hà Nội. Ảnh: T.L

65 tham luận tập trung đánh giá cao các triều vua Lý từ văn học nghệ thuật, kiến trúc, hình tượng rồng, đến chính sách ngoại giao, quân sự, pháp luật.
Học giả nước ngoài: Triều Lý không tập quyền
Trong bài viết Bản chất của vương triều Lý, GS.TS Yu Insun - Đại học Quốc gia Seoul - Hàn Quốc cho rằng, việc Lý Công Uẩn dời đô đến Thăng Long dường như cho thấy nhà vua có ý định xây dựng một chính quyền trung ương mạnh để cai quản toàn bộ lãnh thổ đất nước.
Tuy nhiên, nhiều học giả nước ngoài lại tin rằng triều Lý không phải là một nhà nước tập quyền. Theo học giả Nhật Bản Sakurai Yumio, chỉ có khu vực Thăng Long và vùng đất phía tây nam của nó là do nhà Lý trực tiếp quản lý. Toàn bộ khu vực phía ngoài châu thổ đều nằm dưới quyền kiểm soát của các dòng họ địa phương có thế lực mạnh.
“Nhưng dù thế nào chăng nữa thì rõ ràng nhà Lý là triều đại đầu tiên đã kéo dài suốt hơn 200 năm trong tiến trình lịch sử VN và thành công trong việc bảo vệ nền độc lập đất nước trước sự xâm lăng của nhà Tống vào năm 1076. Điều này cho thấy Vương triều Lý có những nền tảng vững chắc ở bên trong” - GS Yu Insun nói trước khi khẳng định văn hóa Trung Hoa không có những ảnh hưởng sâu đậm lên Đại Việt thời Lý trong so sánh với những đặc trưng Đông Nam Á, nhất là Phật giáo.
GS.TS Nguyễn Quang Ngọc - Chủ tịch Hội Sử học Hà Nội cũng nói, chính quyền quân chủ tập quyền không phải ngay từ đầu đã kiểm soát được toàn bộ lãnh thổ. Lý Thái Tổ một mặt tìm cách lôi kéo các tù trưởng miền biên viễn, mặt khác kiên quyết trừng trị các thế lực ngoan cố cát cứ và chống đối triều đình. Ông là vị hoàng đế đầu tiên trong lịch sử VN thi hành chính sách nhu viễn, dùng quan hệ hôn nhân để ràng buộc các châu mục, tù trưởng thế lực. Còn với nhà Tống -Trung Quốc, Đại Việt duy trì quan hệ triều cống và mối quan tâm chung thường là biên giới.
Bởi vậy, như Ths Hoàng Văn Tuấn (ĐH Thái Nguyên) chứng minh, biên giới đông bắc nước ta trải qua ngàn năm, từ triều Lý đến nay không nhiều thay đổi- một đóng góp lớn của vương triều văn trị võ công bậc nhất lịch sử dân tộc. Cũng nhờ thế, khu vực tây bắc được kiểm soát về quân sự và giao thương, nhất là từ thời Lý Thái Tông.

Những con người khác

Nhắc đến sự kiện đăng quang của Lý Công Uẩn phải nói tới Thiền sư Vạn Hạnh và Đào Cam Mộc. Thời Tiền Lê, Phật giáo giữ vai trò quan trọng trong đời sống xã hội. Cùng với lực lượng quân đội do Đào Cam Mộc đứng đầu, lực lượng Phật giáo mà Vạn Hạnh là thiền sư tiêu biểu chính là cánh tay phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị.
Vạn Hạnh trụ trì chùa Cổ Pháp, nhận nuôi nấng dạy dỗ Lý Công Uẩn từ lúc 7- 8 tuổi. Sau này, Vạn Hạnh với nhãn quan tinh tường đã đoán trước tương lai của Ngọa triều Lê Long Đĩnh và khuyên Lý Công Uẩn soán ngôi. Công Uẩn được Vạn Hạnh và Đào Cam Mộc đưa lên ngôi một cách êm thấm kịp thời.
Từ năm 1010 đến khi viên tịch, Vạn Hạnh ít được mô tả trong tư liệu, ngoài hình ảnh ông thường chống gậy thăm thú kinh thành Thăng Long và câu thơ của Lý Nhân Tông: Quê hương tên Cổ Pháp/Chống gậy đất kinh kỳ. Đến giờ vẫn không biết ông sinh năm bao nhiêu, năm mất thì không thống nhất: chính sử ghi mất năm 1025, tư liệu khác lại viết 1018.
Với không khí Phật giáo được truyền thụ từ người thầy Vạn Hạnh, Lý Công Uẩn có những quyết sách hợp lòng người, chẳng hạn xuống chiếu cho những người 70 - 80 tuổi, 10 - 15 tuổi và những người ốm yếu... phạm tội thì cho chuộc bằng tiền, nếu phạm tội thập ác (mười điều ác áp dụng theo mười điều giới luật của Phật giáo) thì không theo lệ này.
Cánh tay thứ hai của Lý Công Uẩn là Đào Cam Mộc, người xuất thân thôn Tràng Lang - Yên Định - Thanh Hóa, tương truyền sức khỏe hơn người. Ông được Thái tổ Lý Công Uẩn tin dùng, phong làm Nghĩa Tín hầu và con gái trưởng là công chúa An Quốc.
Đền Đô ở Đình Bảng - Bắc Ninh thờ tám vị vua Lý, hai bên là Văn Chỉ và Võ Chỉ. Hậu cung của Văn Chỉ thờ Lý Đạo Thành và Tô Hiến Thành. Nhà Võ Chỉ thờ Đào Cam Mộc, Lê Phụng Hiểu, Lý Thường Kiệt. Với bài viết mang dụng ý đặt tên Đào Cam Mộc cho một đường phố ở Hà Nội, PGS Hà Đình Đức chưa đưa ra được nhiều tư liệu về nhân vật này.
* Về Hoàng thành Thăng Long - nơi phát lộ những giá trị rực rỡ của các triều Lý, Trần, Lê, Nguyễn, GS Phan Huy Lê - Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử VN, nói: “Hồ sơ đề cử được đánh giá có chất lượng tốt. Vừa rồi, chuyên gia thẩm định của ICOMOS đã đến khảo sát thực địa, trao đổi với cơ quan quản lý và chuyên gia VN. Khả năng được công nhận di sản văn hóa thế giới đang mở ra với nhiều triển vọng nhưng phải chờ đánh giá chính thức của ICOMOS và sự biểu quyết của Ủy ban Di sản thế giới sẽ họp vào cuối tháng 6/2010”.
* Tại hội thảo, tỉnh Bắc Ninh cho biết, quê hương nhà Lý đang chuẩn bị cho nhiều hoạt động 1.000 năm Thăng Long: tu bổ một số di tích thờ phụng các vua và hoàng tộc nhà Lý như chùa Phật Tích, chùa Ứng Tâm, đền Rồng. Năm sau, Bắc Ninh sẽ rước bài vị của vua Lý Thái Tổ về Thành cổ Hà Nội.
Trần Thanh
......
Bọn Đại Hán tung đòn làm hoang mang, nhằm phá vỡ hình ảnh vị vua đầu tiên của Thăng Long:
Người Trung Quốc ?
Ngữ Thiên
viết cho BBCVietnamese.com từ Hà Nội

Tượng Lý Thái Tổ được thờ ở Đền Đô (Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh)
Trong những ngày gần đến đợt kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, dư luận nói nhiều tới Lý Công Uẩn, vị vua đầu tiên của nhà Lý.
Bên cạnh các nguồn tư liệu và những kết quả nghiên cứu từ Việt Nam cho rằng Lý Công Uẩn quê ở hương Diên Uẩn, châu Cổ Pháp - (Từ Sơn, Bắc Ninh ngày nay). Tư liệu Trung Quốc lại có những ghi chép cho rằng dòng họ vua Lý Công Uẩn có nguồn gốc đến từ đất Mân (Phúc Kiến, Trung Quốc).
Một số nhà nghiên cứu Trung Quốc căn cứ vào các tư liệu này cũng tiếp tục cho rằng dòng họ lập nên triều Lý của quốc gia Đại Việt vốn gốc tích từ vùng Mân, sau mới di cư xuống phía Nam.
Những ghi chép sớm nhất, biên soạn dưới thời Tống, đề cập đến vấn đề gốc tích Lý Công Uẩn là Mộng Khê bút đàm của Thẩm Quát và Tốc thuỷ ký văn của Tư Mã Quang.
Mộng Khê bút đàm biên chép những hiểu biết của tác giả trên khá nhiều lĩnh vực, gồm cả những ghi chép của tác giả về những lưu truyền trong dân gian, được Thẩm Quát thu thập trong lúc giao du, thăm thú các địa phương, gặp gỡ với bạn bè.
Mộng Khê bút đàm có nhiều lầm lẫn về tên người, niên đại, sự kiện. Chỉ một trang trong quyển 25, khi lược thuật tình hình biến động chính trị Đại Việt thời Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, các nhân vật được Thẩm Quát nhắc đến có tới ba người tên họ chép không chính xác: Lê Hoàn, chép thành Lê Uy, Lý Thường Kiệt ghi thành Lý Thượng Cát , Ỷ Lan thành Yến Loan...
Cũng như Mộng Khê bút đàm, Tốc thuỷ ký văn của Tư Mã Quang là tác phẩm dã sử viết theo thể bút ký, tản văn.
Sách ghi chép nhiều nội dung khác nhau, từ chuyện tình bí sử chốn cung đình đến những việc vụn vặt mà tác giả nghe kể từ dân gian... Có lẽ vì thế, ngay từ thời Tống, Tốc thuỷ ký văn đã bị liệt vào hạng "cấm thư". Tốc thuỷ ký văn ghi lại sự "nghe nói" của Từ Bách Tường về nguồn gốc người Mân của "tiên thế" vua Lý và không có thêm bình luận gì!
Đến thời Thanh, Cố Tổ Vũ trong Độc sử phương dư kỷ yếu tiếp tục nói lại chuyện này, nhưng cũng không có gì mới hơn so với các sách thời Tống.

Người gốc Trung Quốc sáng lập ra Thăng Long?
Gần đây, các nhà nghiên cứu Trung Quốc như Hàn Chấn Hoa, Lý Thiên Tích vẫn cho rằng nguồn gốc dòng họ vua Lý Công Uẩn đến từ vùng đất Mân.
Tư liệu của các tác giả này chủ yếu dựa vào các tài liệu địa phương, được biên soạn, bổ sung thông tin rất muộn sau này. Tác giả Lý Thiên Tích khi dẫn những tài liệu cho rằng "vô cùng quý giá", song cũng nhận định "trong phả có nhiều chỗ sai lầm".
Bắt đầu chỉ từ những lưu truyền dân gian với nhiều điểm nghi ngờ, chưa được làm sáng tỏ, cũng rất khó kiểm chứng, và những ghi chép đầu tiên cũng chỉ xuất hiện trong các bút ký, tản văn, các tác giả Trung Quốc đã đưa chuyện Lý Công Uẩn nguồn gốc Mân vào ghi chép của mình.
Các nhà nghiên cứu Việt Nam cũng sớm biết những ghi chép về nguồn gốc Mân của họ Lý. Từ đầu thế kỷ XIV, An Nam chí lược do Lê Tắc biên soạn, biết chuyện có sách cho rằng Lý Công Uẩn người gốc Mân, đã quả quyết: "Lý Công Uẩn, người Giao Châu, có kẻ bảo là người Mân, không đúng"[1].
Từ thập niên 40 của thế kỷ XX, học giả Hoàng Xuân Hãn trong công trình khảo cứu rất nổi tiếng Lý Thường Kiệt lịch sử ngoại giao và tông giáo triều Lý, khi dẫn giải vấn đề nguồn gốc, quê hương của vị vua sáng lập ra triều Lý, có nhắc đến các ghi chép của Thẩm Quát, Tư Mã Quang hay Lý Đào... nhưng chưa đưa ra kết luận mà chỉ coi đó là những thông tin nên lưu ý, một hướng giả thuyết trong việc tìm hiểu gốc tích của Lý Công Uẩn.
Những năm gần đây, trên cơ sở phân tích nguồn tài liệu thư tịch và khảo sát địa phương, kết quả nghiên cứu của các tác giả Trần Quốc Vượng (2001), Nguyễn Quang Ngọc (2009)... đều tập trung, hướng sự chỉ dẫn về vùng đất sinh thành, quê hương, nơi gắn bó cùng tuổi thơ Lý Công Uẩn ở vùng Kinh Bắc.
Vùng này rộng lớn, có thể tương đương với thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, mà trung tâm là các phường Tân Hồng, Đình Bảng hiện nay.
--------------------------------------------------------------------------------
[1] Lê Tắc: An Nam chí lược, bản Tứ khố toàn thư, Sử bộ, Tải ký loại, Q.12, tờ 1a; bản dịch An Nam chí lược của Viện Đại học Huế, 1961, tr.201).

---------------------------------------------------------------
Sự bạc nhược và hèn hạ của Đảng CSVN trong việc đối ngoại, cùng với sự ngu dốt trong lãnh đạo, liên tục đem lại nhục nhã cho dân tộc Việt, tạo cơ hội cho bọn Đại Hán phương bắc "thâu tóm" Việt Nam.
Đã đến lúc 80 triệu dân Việt phải đứng lên, cùng đứng chung một chiến tuyến để giải thể Đảng Cộng Sản, trước khi chúng bàn giao Việt Nam cho bọn Trung Quốc .
Viettin
TGNV