Thứ Bảy, 29 tháng 10, 2011

Phát hiện chất độc trong cốm làng Vòng

Tháng Mười 30, 2011

Theo GDVN
Đoàn kiểm tra liên ngành TP.Hà Nội đang kiểm tra cốm Làng Vòng.

Kết quả kểm nghiệm cho thấy, mẫu cốm lấy tại hai cơ sở sản xuất cốm ở làng Vòng có chứa chất nhuộm màu cực độc malachite green với hàm lượng rất cao.
Trước thông tin cốm làng Vòng có sử dụng phẩm màu để tạo màu xanh cho sản phẩm, mới đây, trong đợt kiểm tra bất ngờ các cơ sở sản xuất cốm tại làng Vòng, Sở Y tế Hà Nội đã lấy hai mẫu cốm ngẫu nhiên trên thị trường và gửi đến Viện Kiểm nghiệm vệ sinh an toàn thực phẩm – Bộ Y tế.
Theo đó, kết quả cho thấy, mẫu cốm lấy tại hai cơ sở sản xuất của ông Đỗ Văn Luyến và Nguyễn Văn Sáng (ở phường Dịch Vọng Hậu, quận Cầu Giấy) có chứa chất nhuộm màu bị cấm: malachite green với hàm lượng 5,9 mg/kg và 1,5 mg/kg.
Ngay sau khi có thông tin trên, Sở Y tế Hà Nội đã đình chỉ sản xuất cốm tại hai cơ sở này.
Cục An toàn vệ sinh thực phẩm cho biết malachite green là hóa chất có chứa đồng trong thành phần, được sử dụng để nhuộm màu vi khuẩn trong phòng thí nghiệm, xử lý nước diệt nấm trong nuôi trồng thủy sản. Từ năm 2005, chất này đã bị đưa vào danh mục hóa chất, kháng sinh bị cấm trong sản xuất kinh doanh thủy sản, do có nhiều nguy cơ với sức khỏe người sử dụng như có thể gây rối loạn chuyển hóa, gây tổn thương chức năng gan, thận…
Theo PGS TS Nguyễn Duy Thịnh – Viện công nghệ thực phẩm Đại học Bách Khoa, Hà Nội – một chuyên gia về phụ gia thực phẩm, malachite green là một dạng chất màu xanh, rất độc đã bị cấm từ lâu không được sử dụng. Hàm lượng như trên có trong sản phẩm cốm làng Vòng là quá cao. Người sử dụng ăn phải sẽ gây tổn hại khó lường cho cơ thể nếu hấp thụ trong thời gian dài với liều lượng tương đối.
Malachite green đã bị các nước như Hoa Kỳ, Anh cấm sử dụng trong thực phẩm. Một số nước châu Âu có hệ thống kiểm soát chặt chẽ quy định giới hạn cho phép của chất này chỉ là 2 mcg/kg. Trong khi đó, kết quả kiểm nghiệm hai mẫu cốm từ làng Vòng có hàm lượng cao hơn gấp hàng ngàn lần giới hạn châu Âu.
Hiện Sở Y tế Hà Nội đã có văn bản yêu cầu các quận, huyện kiểm tra thực phẩm có dùng phụ gia, đặc biệt là quận Cầu Giấy và huyện Từ Liêm, nơi có nhiều cơ sở sản xuất cốm.
Trước đó, Đoàn thanh tra liên ngành TP.Hà Nội đã kiểm tra bằng các test thử định tính phẩm màu trong cốm tại tại đình nhà bà Nguyễn Thị Xuân và một vài hộ bán cốm rong ở Hà Nội nhưng không phát hiện phẩm màu công nghiệp.
Tuy nhiên, ông Lê Anh Tuấn – Giám đốc Sở Y tế Hà Nội cũng khẳng định: Nếu sản phẩm an toàn sẽ tuyên truyền cho người dân còn thực sự ảnh hưởng đến sức khỏe của người tiêu dùng, Sở sẽ đình chỉ các cơ sở này. Cái khó cho các cơ quan chức năng là việc sản xuất cốm làng Vòng chỉ là tự phát, manh mún, không phải là hộ kinh doanh cá thể, không biển bảng nên không quản lý được

 TTXVA

Aung San Suu Kyi có thể ra ứng cử dân biểu Quốc hội Miến Điện

Thứ bảy 29 Tháng Mười 2011

Bà Aung San Suu Kyi tại tư gia hồi tháng 11/2010 (REUTERS)
Bà Aung San Suu Kyi tại tư gia hồi tháng 11/2010 (REUTERS)

Minh Anh
Gương mặt tiêu biểu của phong trào đối lập tại Miến Điện, có thể sẽ ra tranh chức dân biểu trong Quốc hội mới tại nước này trong khuôn khổ các cuộc bầu cử bổ sung sắp tới đây. Trên đây là lời xác định của ông Nyan Win, phát ngôn viên của Liên Đoàn Quốc gia vì Dân chủ, đảng của bà Aung San Suu Kyi.

Theo hãng tin Anh Reuters, từ nay đến cuối năm, một số các cuộc bầu cử bổ sung vào Quốc hội mới của Miến Điện sẽ được tổ chức. Cách nay không lâu, bà Aung San Suu Kyi đã cho hãng tin Anh biết là bà đang đợi Ủy ban chấp hành của đảng Liên Đoàn Quốc gia vì Dân chủ bật đèn xanh, trước khi quyết định xem có ra tranh cử hay không.
Trả lời câu hỏi của Reuters về khả năng này vào hôm nay, ông Nyan Win cho biết : XIN TRÍCH « Tôi nghĩ rằng bà Aung San Suu Kyi sẽ ra tranh cử, và bản thân tôi, tôi mong muốn là bà sẽ làm điều đó ».
Xin nhắc lại là lãnh tụ đối lập Miến Điện, giải Nobel Hòa bình năm 1991, đã từng phải trải qua 15 năm quản thúc tại gia vì đã đấu tranh đòi dân chủ cho Miến Điện, chống lại chế độ quân sự cầm quyền tại nước này. Bà chỉ được trả tự do vào tháng 11 năm ngoái.
Khả năng bà ra ứng cử dân biểu Quốc hội Miến Điện đã được đặt ra sau khi quân đội nước này, đã cho bầu ra một quốc hội mới, rồi trao quyền lại cho một chính quyền dân sự do nghị viện cử ra. Chính phủ mới của Tổng thống Thein Sein đã có một số biện pháp mở cửa chính trị.
Nổi bật nhất là vào tháng 10 vừa qua, gần 300 tù nhân chính trị Miến Điện, trong đó có nhiều nhà đối lập, đã được trả tự do.

tags: Châu Á - Miến Điện

Ngoại giao 'nhà nước' thay 'nhân dân?'

Cập nhật: 13:25 GMT - thứ bảy, 29 tháng 10, 2011

Nhà văn Võ Thị Hảo
Tác giả nhấn mạnh chính quyền không nên hạn chế lòng yêu nước của người dân trong đấu tranh chủ quyền với Trung Quốc.
Theo dõi các diễn biến mới đây về các chuyến thăm nước ngoài của các lãnh đạo đảng, nhà nước, quân đội liên quan tới Biển Đông, nhiều trang mạng của người Việt Nam trong nước và hải ngoại nhận xét rằng có vẻ chính quyền đang cố gửi đi một thông điệp kép về “đối ngoại.”
Mặt thứ nhất, đảng và nhà nước dường như muốn tỏ ra đang “làm đối ngoại” theo cách của “nhà nước” với các chuyến ngoại giao con thoi.
Lúc thì Thủ tướng chủ trì tiếp đại diện phương Tây như người tương nhiệm phía Đức ở Hà Nội, dự kiến thăm Nhật Bản ở Đông Bắc Á.
Lúc thì Chủ tịch Nước ghé thăm khu vực tại Ấn Độ, rồi hội đàm với Philippines. Còn Tổng Bí thư viếng thăm Trung Quốc, sau hàng loạt đoàn tiền trạm từ quân sự tới dân sự.
Các trang mạng và dư luận còn bàn tán tới các khác biệt trong tuyên bố hay hành xử lúc này thì “đa phương hóa,” lúc khác lại tuyên bố “song phương” v.v… về câu chuyện Biển Đông.
Nhưng mặt thứ hai, với đối nội, thông điệp đối ngoại này, vẫn theo các cư dân mạng, có vẻ cho thấy một bộ phận lãnh đạo trong nội bộ đảng, quân đội, nhà nước muốn người dân “hãy nằm im” để nhà nước lo liệu “an ninh quốc gia” theo lối của mình.
Và chính quyền nhiều cấp tiếp tục có dấu hiệu “dè chừng,” “giơ đèn đỏ” đối phó với “ngoại giao nhân dân” mà một trong các đối tượng rõ nhất, như nhiều trang mạng và dư luận trong nước bàn luận, là các cuộc “biểu tình, tuần hành yêu nước.” Nhiều đơn thư, khiếu nại, kêu oan và thậm chí cả đơn kiện của họ đã bị “lờ đi” hoặc “bị bác bỏ” thẳng thừng.
Nhưng liệu “ngoại giao nhà nước” do Đảng lãnh đạo có thay thế được “ngoại giao nhân dân” có từ ngàn năm với những vai trò, ý nghĩa và thế mạnh riêng của nó hay là không?
“Bạo lực, thô lỗ”
Quân đội Trung Quốc
Trung Quốc đang tăng cường thế và lực trên trường quốc tế không chỉ qua kinh tế mà còn bằng quân sự.
Chưa biết hiệu quả của các chuyến thăm ngoại giao con thoi, lúc “đa phương”, lúc “song phương” của lãnh đạo đảng, quân đội và nhà nước tới đâu, nhưng người dân không thể không khỏi thận trọng khi nghe thấy những gì mà người đồng chí Trung Quốc cho truyền thông của họ phản hồi.
Gần đây nhất, tờ Hoàn Cầu Thời Báo (Global Times) một trong những cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Trung quốc, trung tuần tháng Mười, không lâu sau chuyến thăm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm Bắc Kinh, cho đăng một bài báo «đe dọa» các nước thách thức chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Đông một cách không dè dặt và úp mở.
Bài báo đại ý “hăm dọa” rằng bất cứ quốc gia nào dám cả gan như thế sẽ phải dè chừng nếu không muốn ngửi mùi «thuốc súng,» điều ngay lập tức đã bị Philippines, không giống Việt Nam, phản đối ngay lập tức và kịch liệt cả chính thức lẫn trên mạng và cho đó là hành vi, phát ngôn đầy «bạo lực và thô lỗ.»
Trước đó, cũng tờ Hoàn Cầu Thời báo này ngày 27/9/2011 đăng một bài đằng đằng sát khí mang tựa đề đại loại là “Thời cơ tốt để có hành động quân sự tại Nam hải” của tác giả ký tên Long Tao.
Bài báo này, nằm trong một chuỗi vô số những bàì báo được cho là « chuẩn bị tinh thần, tâm thế », nhằm thúc đẩy Trung Quốc đánh chiếm Việt Nam «càng sớm càng tốt.»
"Rồi đây, khi cuộc chiến vệ quốc bất đắc dĩ phải xảy ra, ai sẽ là người dám đứng lên bảo vệ tổ quốc?"
Võ Thị Hảo
Và người đọc không thể không có những liên tưởng mang tính cập nhật. Có người thì cho rằng, Trung Quốc đưa ra thông điệp để nắn gân, rồi giành phiếu nội bộ v.v…
Thế nhưng nếu Trung Quốc đánh chiếm Việt Nam thật, thì sẽ ra sao? Vị Tổng Bí thư nào, vị Thủ tướng nào và vị Trung tướng, Đại tướng nào có thể đảm bảo điều đó dứt khoát sẽ không xảy ra? Họ đảm bảo bằng gì ? Hay là bằng cách tiếp tục chế áp «ngoại giao nhân dân» chăng?
Nếu bây giờ tiếp tục đàn áp, bôi nhọ những người biểu tình chống ngoại xâm, người phản biện, người dám nói lên sự thật, vu cáo họ - trong đó có những nhân sĩ trí thức yêu nước rất đáng kính trọng là “ phản động”, là “chà đạp lên lòng yêu nước chân chính của nhân dân”....thì rồi đây, khi cuộc chiến vệ quốc bất đắc dĩ phải xảy ra, ai sẽ là người dám đứng lên bảo vệ tổ quốc?
Mặt khác, các cư dân mạng cũng đặt ra câu hỏi, khi chính quyền được cho là đã, đang quy chụp tội “phản động” như vậy với dân, họ có làm dân mất lòng không? Và nếu người dân không chịu đựng được hơn nữa, họ trở nên phẫn nộ thì hậu quả sẽ ra sao?
Và khi nội bộ Việt Nam rối loạn giữa dân và nhà nước, thì Trung Quốc có để yên cho Việt Nam hay là không ? Hoàng Sa đã mất trong hoàn cảnh nào ? Và Trường Sa hay nhiều thác Bản Giốc, Ải Nam Quan khác nữa có yên thân với họ hay là không?
Hẳn rằng bên kia biên giới, những người luôn mềm nắn, rắn buông với ‘dã tâm’ và âm mưu ‘hàng trăm, hàng nghìn năm’ thôn tính Việt Nam có thể đã và đang vô cùng hởi lòng hởi dạ với cách thức «ngoại giao nhân dân» mà thực chất là lòng dân yêu nước được coi là đang bị chính quyền Việt Nam "hạn chế" và "hạ thấp một cách tệ hại".
'Trả lại công bằng'
Biểu tình yêu nước
Nhà văn Nguyên Ngọc (phải) cùng Giáo sư Huệ Chi (trái) và trí thức, nhân sỹ tham gia biểu tình chống TQ Hè 2011.
Nhà văn Nguyên Ngọc - một người yêu nước có công trạng lớn, hiện đã và đang là một trong số nhiều nạn nhân của sự thể bị ‘đè nén và hạ thấp’ này.
Trong một thư ngỏ gửi Bí thư thành ủy Phạm Quang Nghị ngày 25/8/2011, liên quan tới một phóng sự của truyền hình Hà Nội được cho là «hạ thấp ngoại giao nhân dân», ông viết:
“... Họ còn sử dụng một thủ đoạn ti tiện mà tôi nghĩ ở tuổi ông hẳn có thể đã từng được biết, vào thời Cải cách ruộng đất và Nhân văn giai phẩm, dùng những người không được bất cứ ai cử ra nhưng lại được coi là “đại biểu của quần chúng nhân dân” lớn tiếng vu khống và chửi bới chúng tôi trên một phương tiện truyền thông chính thức của Đảng bộ và chính quyền Hà Nội...”.
"Sự hành xử trái Hiến pháp và pháp luật Việt Nam ở một số tổ chức và cá nhân chính quyền các cấp gần đây là không thể tưởng tượng nổi và hy vọng chỉ có thể giải thích điều đó là một sự nhầm lẫn, manh động nhất thời"
Võ Thị Hảo
Cần nhắc lại rằng sự vu cáo, bôi nhọ, đàn áp những người yêu nước, người bất đồng chính kiến, những người tham gia biểu tình ôn hòa đang làm nhiều người dân Việt Nam phẫn nộ, trong khi kẻ thù ngoại bang có thể rất “hài lòng”.
Bởi vì phen dậu quan trọng và mạnh nhất bảo vệ quốc gia là lòng dân, điều mà lịch sử Việt Nam đã từng chứng minh, nay được cho là đang bị chính chính quyền, rồi một số cơ quan truyền thông quan trọng làm cho ‘suy yếu’ và ‘tổn thương.’
Sự hành xử trái Hiến pháp và pháp luật Việt Nam ở một số tổ chức và cá nhân trong chính quyền các cấp gần đây là không thể tưởng tượng nổi và hy vọng chỉ có thể giải thích điều đó là một sự nhầm lẫn, manh động nhất thời.
Chứ lẽ nào điều đó lại được chỉ đạo bởi những người đứng đầu Đảng, Nhà nước, Công an và Quân đội?
Nhưng bất kỳ sự manh động, nhầm lẫn, thậm chí sai lầm ‘chỉ đạo nào’ dù đến từ đâu, bởi ai, mà làm cho nước mất sẽ mãi mãi bị lịch sử quốc gia và dân tộc trê trách, con cháu và hậu thế lên án, "nếu" chúng ta vẫn còn giữ được tên của Tổ quốc và dân tộc của mình toàn vẹn trên tấm bản đồ thế giới mai sau.
Bài viết thể hiện quan điểm riêng và văn phong của nhà văn, nhà báo, họa sỹ Võ Thị Hảo, người đang sinh sống tại Hà Nội.

Thêm về tin này

Đan Mạch bị tố cáo mở đường cho Trung Quốc thao túng vùng Bắc Cực

Thứ bảy 29 Tháng Mười 2011

Đại sứ Đan Mạch tại Bắc Kinh Friis Arne Peterson (DR)
Đại sứ Đan Mạch tại Bắc Kinh Friis Arne Peterson (DR)

Trọng Nghĩa
Hôm qua 28/10/2011, Đại sứ Đan Mạch tại Trung Quốc đã tuyên bố ủng hộ việc cấp cho Bắc Kinh quy chế quan sát viên thường trực tại Hội đồng Bắc Cực cho dù Trung Quốc không có bờ biển chung với vùng này. Lập trường của Đan Mạch đã lập tức bị báo chí Canada phản đối, cho rằng các nước có liên can cần phải cảnh giác với tham vọng của Bắc Kinh.

Theo nhật báo Canada – The Vancouver Sun – số ra đề ngày 28/10/2011, đại sứ Đan Mạch Friis Arne Peterson vào hôm qua đã tuyên bố với một nhóm nhà báo tại Bắc Kinh là Trung Quốc có "lợi ích kinh tế và khoa học tự nhiên và hợp pháp ở Bắc Cực" cho dù nước này không có bờ biển với vùng cực bắc địa cầu. 
Theo ông, chính quyền Copenhagen mong muốn Bắc Kinh được hưởng quy chế quan sát viên thường trực tại Hội đồng Bắc Cực, hiện gồm tám thành viên : Canada, Nga, Đan Mạch, Phần Lan, Iceland, Thụy Điển và Hoa Kỳ. Trung Quốc đã nộp đơn xin làm quan sát viên từ lâu. Đại sứ Đan Mạch cho rằng các thành viên khác trong Hội đồng Bắc cực cũng cùng quan điểm như nước ông. 
Tuyên bố của Đại sứ Đan Mạch tuy nhiên đã bị phê phán. Theo báo Vancouver Sun, giới học giả và chuyên gia phân tích về Bắc Cực đã cho rằng các giả định của đại diện chính quyền Copenhagen rất đáng ngờ. Một số cho là Đại sứ Đan Mạch không chỉ cố gắng tận dụng vai trò của Đan Mạch trong Hội đồng Bắc Cực, mà còn tìm cách tranh thủ nguồn đầu tư của Trung Quốc để giúp Đan Mạch khai thác tài nguyên thiên nhiên vùng Greenland. 
Cũng theo giới quan sát, tuyên bố của đại sứ Đan Mạch cũng phản ánh mối quan tâm của Trung Quốc trong việc tìm cách giành quyền khai thác tài nguyên vùng Bắc Cực, cũng như tăng cường ảnh hưởng địa chính trị của Bắc Kinh. 
Ông David Bercuson, một nhà sử học tại Đại học Calgary và chuyên gia nghiên cứu cao cấp tại Học viện Quốc phòng và Ngoại giao Canada lo ngại : "Nhìn từ góc độ của họ, thì Trung Quốc muốn tự mình tìm xem nguồn tài nguyên tiềm tàng dưới Bắc cực là gì và họ sẽ lên tiếng đòi hỏi phần mình vì lẽ họ sẽ không để cho Canada, Nga và Mỹ chia riêng cho nhau." 
Ngay từ năm 2010, giáo sư lịch sử David Wright thuộc Đại học Calgary đã viết : "Vùng Bắc Cực thuộc Canada có tất cả những gì Trung Quốc muốn : Tài nguyên thiên nhiên và khả năng khai thông một tuyến đường vận chuyển hàng hải quan trọng mới". 
Theo vị giáo sư này, "Dù không chắc rằng Trung Quốc sẽ có tham vọng trở thành một thế lực vũ trang can dự vào một cuộc chiến tranh trong tương lai về Bắc Cực, hoặc tuyên bố chủ quyền của họ trong khu vực, thế nhưng, có thể dự báo ​​rằng Bắc Kinh sẽ trở nên quyết đoán và cứng rắn hơn trong hồ sơ Bắc Cực", đặc biệt khi xem xét các đòi hỏi chủ quyền của các thành viên trong Hội đồng Bắc Cực. 
Theo giáo sư Wright, các học giả Trung Quốc đang xem xét kỹ lưỡng tuyên bố chủ quyền lịch sử trên Bắc Cực của Canada, đặc biệt là phần liên quan đến Tuyến đường Tây bắc Northwest Passage. Trung Quốc, theo ông, muốn Bắc Cực, với các tuyến hàng hải đi qua đó, cũng như nguồn dầu mỏ và khí đốt tự nhiên, khoáng sản và nguồn cá, phải mang quy chế lãnh thổ quốc tế hoặc "di sản chung của nhân loại." 
Tuy nhiên, giới phân tích cho rằng Trung Quốc cần phải cẩn thận trong việc khẳng định các đòi hỏi của họ ở Bắc Băng Dương. Quan điểm cho rằng vùng này phải được “quốc tế hóa” có thể quật ngược lại lập luận của Bắc Kinh liên quan đến các nơi khác. Trung Quốc hiện đang tuyên bố chủ quyền trên hầu hết Biển Đông, trên quần đảo Senkaku / Điếu Ngư đang do Nhật Bản kiểm soát, và thậm chí trên cả Đài Loan.
tags: Châu Á - Phân tích - Quốc tế - Trung Quốc - Đan Mạch

WTO bác đơn của Trung Quốc kiện châu Âu về thuế chống phá giá

Thứ bảy 29 Tháng Mười 2011

Giày giá rẻ của Trung Quốc tràn ngập thị trường châu Âu (AFP)
Giày giá rẻ của Trung Quốc tràn ngập thị trường châu Âu (AFP)

Thụy My
Hôm qua (28/10/2011) Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã công bố kết luận về vụ Bắc Kinh kiện Liên hiệp châu Âu đã áp đặt thuế chống phá giá lên giày Trung Quốc xuất khẩu qua thị trường này. Tuy cho rằng các quy định của châu Âu là không phù hợp, nhưng WTO cũng bác đơn kiện của Trung Quốc.

Tổ chức Thương mại Thế giới cho rằng các quy định của Liên hiệp châu Âu, theo đó quyền áp đặt thuế chống phá giá được thông báo cho quốc gia cung ứng nhưng không thông báo cho công ty sản xuất, là đi ngược lại với quy tắc quốc tế. Hơn nữa, Bruxelles đã không tôn trọng các nghĩa vụ liên quan đến việc xử lý các thông tin mật về các biện pháp chống phá giá. 
Tuy nhiên Tổ chức Thương mại Thế giới cũng đã bác bỏ các đơn kiện Liên hiệp châu Âu của Trung Quốc, đặc biệt là các vụ liên quan đến những cuộc điều tra được tiến hành trước khi áp dụng các biện pháp chống phá giá, vốn đã kết thúc vào tháng 3/2011. 
Chính quyền Bắc Kinh cho rằng việc Bruxelles quyết định gia hạn thêm 15 tháng việc đánh thuế chống phá giá lên giày mũ da có xuất xứ từ Trung Quốc và Việt Nam, là không phù hợp với các quy tắc thương mại quốc tế. Thuế này đánh vào giày mũ da xuất khẩu của Việt Nam ở mức 10%, còn giày Trung Quốc từ 9,7% đến 16,5%, bắt đầu được áp dụng từ tháng 10/2006 trong thời hạn hai năm. 
Theo thống kê của châu Âu, các loại giày nhập khẩu từ Trung Quốc và Việt Nam bị áp thuế kể trên, chiếm khoảng 30% thị trường châu lục này. Liên hiệp châu Âu đã áp đặt hạn ngạch nhập khẩu lên giày Trung Quốc từ năm 1995 đến năm 2005. Sau đó EU đã bãi bỏ hạn ngạch, thay vào đó là một cuộc điều tra, và kết quả là việc áp đặt thuế chống bán phá giá từ tháng 10/2006. Hai bên có quyền kháng cáo trong vòng 60 ngày kể từ khi phán quyết được công bố.
tags: Châu Á - Kinh tế - Quốc tế

Ra đi bằng mọi giá! - Song Chi

Posted on by DaVang

Sat, 10/29/2011 – 13:22 — songchi

Sau khi cuộc chiến tranh ở Việt Nam kết thúc, hai miền Bắc Nam thống nhất được một thời gian không lâu, thì người Việt Nam-chính xác là người miền Nam bắt đầu bỏ nước ra đi. Hàng trăm ngàn rồi hàng triệu người, vượt biên theo đường biển và cả đường bộ qua biên giới Campuchia. Nhưng chủ yếu là đường biển. Cao điểm là giai đoạn 1979-1982. Thế giới chứng kiến một trong những cuộc di dân lớn nhất trong thế kỷ XX và có lẽ, cả trong lịch sử nhân loại. Hai chữ “boat people”-thuyền nhân cũng ra đời từ đó. Cứ trung bình một người đến được bờ thì một người bỏ xác ngoài biển khơi làm mồi cho cá, chưa kể những người chết vì bị đói, kiệt sức trong những ngày con thuyền lang thang trên biển hoặc bị hải tặc đánh đập, cướp bóc, hãm hiếp…
Hành trình kinh khủng của những người bỏ nước ra đi tìm tự do, chấp nhận thà chết còn hơn ở lại đã đánh động lương tâm của cả thế giới. Không thiếu những cá nhân, tổ chức phi chính phủ, thậm chí những quốc gia trước đó hết lời ủng hộ, ca ngợi “cuộc chiến tranh chính nghĩa và chiến thắng to lớn” của những người cộng sản Bắc Việt đã giật mình tỉnh ngộ. Còn nói như nhà văn Dương Thu Hương:

Danh từ “Thuyền nhân” sẽ mãi mãi vĩnh định trong tất cả các cuốn tự điển của nhân loại, để ghi nhận khả năng độc ác và sự man rợ của con người đối với con người, một hiện tượng được liệt kê sau các lò thiêu Do Thái của Đức và quần đảo Goulag của Nga. Ở các nước châu Âu, nơi cuộc chiến tranh chống Mỹ được nêu lên như bằng cớ về tinh thần bất khuất của dân tộc Việt, thì tiếp theo đó, danh từ “Thuyền nhân” trở thành biểu tượng của thần tượng sụp đổ, của tội ác bị lộ diện, nói cách khác: mặt trái của tấm mề đay.
(“Để gọi tên sự vật một cách rõ ràng”, DVC online)
36 năm sau ngày thống nhất đất nước.
Người Việt Nam vẫn tiếp tục bỏ nước ra đi, không phải bằng con đường vượt biển như trước nhưng bằng muôn ngàn cách khác nhau.
Một, đi bằng con đường “xuất khẩu lao động”. Từ nhiều năm nay, theo chính sách xuất khẩu lao động nhằm mục đích vừa tạo công ăn việc làm cho người lao động trong nước, vừa thu được ngoại tệ về cho quốc gia, nhà nước Việt Nam đã ký kết thỏa thuận với nhiều quốc gia khác nhau để đưa người lao động Việt Nam sang làm việc tại các nước đó. Con số người lao động Việt Nam rời nước ra đi làm thuê lên đến hàng chục ngàn người mỗi năm. Thực tế, trong rất nhiều trường hợp, việc đưa người đi lao động ở nước ngoài trong điều kiện còn những kẽ hở về luật pháp như lâu nay đã dẫn đến tình trạng nô lệ lao động mới và nạn buôn người để bóc lột sức lao động.
Vào cuối tháng 6.2010, Hoa Kỳ đã đưa VN vào danh sách những quốc gia cần phải quan tâm theo dõi về nạn buôn người. Và nếu trong vòng hai năm mà Hoa Kỳ xét thấy VN vẫn không thực hiện những thay đổi đáng kể thì VN sẽ tự động bị rớt xuống hạng ba tức là hạng chót về tình trạng buôn người và lúc đó sẽ tự động bị chế tài theo luật chống buôn người của Hoa Kỳ. Tổ chức CAMSA, Liên minh bài trừ nô lệ mới ở Á Châu đã từng giúp đỡ rất nhiều người VN là nạn nhân của nạn buôn người lao động này.
Khi tôi có dịp đến Berlin, Praha, Warsaw…tôi đã gặp gỡ, tiếp xúc với rất nhiều người VN ra đi theo con đường xuất khẩu lao động. Hầu hết đều vì nghèo quá, ở VN làm công nhân, nông dân, làm thuê đủ việc cũng không đủ sống nên phải cầm cố nhà cửa ruộng vườn lấy tiền nộp cho các công ty tuyển dụng người lao động ở VN, chấp nhận đi làm thuê ở xứ người, chấp nhận bị bóc lột tàn tệ để kiếm chút tiền trả nợ, sau đó dành dụm gửi về nuôi gia đình. Phía sau mỗi người là một câu chuyện đời, hoàn cảnh khác nhau nhưng đều mang những nỗi buồn nhiều hơn vui.
Thỉnh thoảng lại đọc thấy thông tin từ báo chí, cho thấy người lao động VN đi làm thuê ở khắp nơi, trong muôn ngàn nỗi cực nhọc. Khi một chiếc tàu cá của Hàn Quốc bị chìm ở Bắc Cực ngày 12.12.2010, trong số 42 thủy thủ được cho là đã chết, cũng có 11 thủy thủ là người VN. Khi chiến sự nổ ra tại Lybia, cũng có hàng trăm người lao động VN đang làm việc tại đó được di tản gấp về nước, trong nỗi vui mừng được an toàn trở về, là nặng trĩu lo âu vì công việc bỏ nửa chừng, nợ nần chồng chất chưa trả được v.v…
Hai, đi bằng con đường hôn nhân. Báo chí VN đã đăng tải bao nhiêu câu chuyện buồn về những người con gái VN đi lấy chồng xa xứ. Từ câu chuyện hàng trăm cô gái trẻ xếp hàng cho mấy người đàn ông Hàn Quốc chọn như chọn những món hàng. Những dòng quảng cáo lấy vợ Việt giá rẻ mang đầy tính xúc phạm trên một số tờ báo của Singapore, Trung Quốc…Những cuộc hôn nhân gấp gáp sáng xem mặt chiều cưới tối vào khách sạn, những cuộc hôn nhân như đôi đũa lệch giữa một bên là những cô thôn nữ tuổi đôi mươi, căng đầy sức sống bên cạnh những ông chồng Đài chồng Hàn tuổi già gấp đôi, chân đi khập khiễng hoặc có tiền sử về tâm thần…
Và những bi kịch chết người. Như câu chuyện cô Huỳnh Mai, bị chồng là người Hàn Quốc đánh gãy 18 xương sườn chết năm 2007. Cô Thạch Thị Hoàng Ngọc bị người chồng có tiền sử tâm thần đánh chết khi mới sang Hàn Quốc được một tuần vào tháng 7.2010. Cô dâu họ Hoàng bị chồng bị người chồng họ Im đâm tổng cộng 53 nhát dao chết tháng 5.2011. Cô Trần Thị Lan, 22 tuổi, người Cần Thơ lấy chồng Hàn Quốc, đã nhảy lầu tự vẫn ngày 6.2.2008, đúng vào chiều 30 Tết, khi mới sang nhà chồng chưa đầy một tháng. Cô Hà Cẩm Tú tự tử bằng khí than ngày 7.7.2011 tại Ðài Loan sau 7 năm định cư tại đây v.v…
Hay bài viết “Hàng trăm cô dâu Việt tại TQ bị mất tích bí ấn” trên trang VietnamNet 22.8.2011 cho biết:
Cảnh sát Trung Quốc đang tiến hành điều tra vụ mất tích bí ẩn của hơn 100 cô dâu Việt, những người được tin là đã bị bán sang Trung Quốc để làm vợ.
Theo tin từ Tân Hoa Xã, những phụ nữ này sống tại một ngôi làng hẻo lánh ở huyện Hồ Nam (Trung Quốc). Cảnh sát địa phương và thân nhân những phụ nữ này cho biết sau khi họ biến mất, một số ông chồng đã nhận được điện thoại yêu cầu họ trả một khoản tiền chuộc nếu không vợ của họ sẽ bị bán đi lần nữa. Tuy nhiên, các nhà chức trách địa phương không đưa ra bình luận gì về vụ việc trên cũng chưa có thông tin nào đề cập tới thời gian những người phụ nữ này biến mất.
Và còn biết bao nhiêu cô dâu Việt khác nữa đang sống tủi nhục, cô đơn nơi xứ người, trong khi con số may mắn được hạnh phúc từ những cuộc hôn nhân xa xứ, gấp gáp vội vàng, là rất hiếm hoi?
Vì sao những cô gái Việt Nam tuổi đời còn rất trẻ, xinh xắn và khỏe mạnh, phần lớn chưa từng kết hôn bao giờ lại chấp nhận lấy chồng một cách lạ lùng, liều lĩnh như vậy? Câu trả lời đơn giản: chỉ vì nghèo, vì hy vọng sẽ có một đời sống tốt đẹp hơn và có thể gửi tiền về giúp đỡ gia đình. Ôi cái giá rẻ mạt cho một cuộc đời con gái-nhiều gia đình sau khi trừ đi chi phí đám cưới chỉ còn cầm được vài ba triệu bạc tiền VN!
Các cô gái ở nông thôn ít học thì chấp nhận lấy chồng theo con đường môi giới kiểu như vậy, ở phía Nam thì thường là lấy chồng Đài Loan, Hàn Quốc, còn phía Bắc, những tỉnh, thành sát biên giới thì phụ nữ thường lấy chồng người Trung Quốc. Trong khi đó các cô gái ở các thành phố lớn, có nhan sắc, có ít chữ, nếu có nghĩ đến việc lấy chồng ngoại thì thường là nhắm đến các nước Mỹ và phương Tây. Tất nhiên, vẫn có những cuộc hôn nhân thật sự vì tình nhưng nhìn chung, lấy chồng ngoại kiều hay việt kiều, là một trong những con đường để được đi định cư ở một nước khác.
Ba, ra đi bằng con đường du học. Khi đời sống của một bộ phận người dân VN trở nên khá hơn, ngày càng nhiều gia đình cho con đi du học tự túc ở nước ngoài, trong đó chủ yếu là các quốc gia có đời sống kinh tế phát triển, có nền giáo dục chất lượng cao như Mỹ, Anh, Úc, Canada, New Zealand, Pháp, Đức…Nếu như trước đây phần lớn học sinh VN đi du học sau khi đã tốt nghiệp phổ thông trung học thì bây giờ cha mẹ cho con đi học ngày càng sớm, từ khi mới lớp 9, lớp 10. Hết tị nạn chính trị, tị nạn kinh tế, bây giờ lại đến tị nạn giáo dục.
Chỉ riêng tại Hoa Kỳ, theo thống kê mới nhất từ báo cáo thường niên Open Doors 2009 của Viện Giáo dục Quốc tế IIE, với gần 13 ngàn sinh viên hiện đang du học tại Mỹ, Việt Nam nằm trong top 10 quốc gia có số lượng sinh viên du học tại Hoa Kỳ nhiều nhất trên thế giới.
Và có bao nhiêu phần trăm trong số những du học sinh đó sau khi học xong sẽ trở về nước hay hầu hết sẽ tìm cách kiếm việc hoặc kết hôn với người bản xứ/người có quốc tịch tại nước đó để được ở lại?
Đó là chưa kể những con người vẫn phải ra đi vì lý do tị nạn chính trị, những người tìm cách nhập cư lậu vào các quốc gia phát triển bằng nhiều con đường khác nhau, chấp nhận sống không giấy tờ, bất hợp pháp trên xứ người với nguy cơ có thể bị bắt, bị trục xuất tống khứ về nước bất cứ lúc nào.
Có một dạo phóng sự truyền hình trên BBC về “Người Rơm”-người Việt nhập cư trái phép vào nước Anh đã gây xôn xao dư luận nước Anh và thế giới, khiến các đảng phái chính trị ở Anh phải tranh cãi về việc có nên trục xuất người Rơm hay ân xá và hợp pháp hóa giấy tờ cho họ có điều kiện được đóng góp và hội nhập với xã hội Anh. Ở Ba Lan, mới đây, ngày 26.8.2011, Tổng thống Komowski đã ký ban hành luật ân xá, hợp pháp hóa việc cư trú của người nước ngoài đang sinh sống bất hợp pháp ở Ba Lan, luật này theo đánh giá là sẽ tác động đến hơn 20.000 người Việt ở Ba Lan.
Có thể nói không ngoa rằng bây giờ đi đến bất cứ nơi nào trên thế giới, từ châu Á, châu Âu, châu Mỹ, châu Úc, châu Phi…cũng đều có thể bắt gặp người VN.
Câu hỏi đặt ra là vì sao suốt 36 năm sau khi chiến tranh đã kết thúc, đất nước đã thống nhất và hòa bình, vậy mà rất nhiều người VN vẫn phải bỏ nước ra đi bằng mọi giá?
Vì sao cái mảnh đất yêu thương cong cong hình chữ S với nhiều người đã trở thành một nơi xa thì thương nhớ cồn cào nhưng vẫn không thể ở, không thể sống nổi?
Song Chi.

(Visited 13 times, 13 visits today)
This entry was posted in Bình Luận and tagged , , , , , . Bookmark the permalink.

One Response to Ra đi bằng mọi giá!

avatar Nguyên Thạch says:
Biển nhớ ngậm ngùi
Đêm ra biển nhớ ngậm ngùi
Nắm xương sâu thẳm
Có vui đáy mồ ?.

Thuyền nhấp nhô
Biển sóng xô
Thân em trinh nữ lõa lồ giá băng

Thâm sâu có ngắm cung hằng ?
Hay chìm vũng tối
Lạc trăng oán hờn

Từ đi miên viễn cô đơn
Hiện thăm thủy thủ chập chờn dáng trinh

Đêm nay trên chuyến hải trình
Mây khuya chợt hiện bóng hình năm xưa
Em tà áo trắng đong đưa
Theo anh ấp ủ
Tình chưa vẹn đường.

Xác xưa vùi đáy đại dương
Chưa về Âu Mỹ trọn đường tự do.

Ru em biển vắng điệu hò
Xác sâu biển thẳm nằm co muôn trùng
Từ xa,đàn nghẹn ngang cung
Cung khuya trổi nhịp
Cung chùng dây tơ
Hoang vu gởi sóng niềm mơ
Men say thủy thủ vật vờ cố nhân.

Phong ba,tôi bước đường trần
Âm dương
Nay thoáng cũng gần ba mươi
Năm xưa
Yêu mắt em cười
Còn trong tôi mãi dáng người thiên thu.

Nguyên Thạch

Các ông lớn ở châu Á đụng độ trên biển

Tác giả: Jaswant Singh (Project-syndicate, Mỹ, 24/10/2011)
Biển Đông, nơi chồng chéo những tranh chấp

NEW DELHI – Ngay cả trong thời đại của những bản tin lan khắp hoàn cầu trong suốt 24 giờ mỗi ngày mà một số sự kiện quan trọng cũng chỉ sáng tỏ sau khi đã có đủ bằng chứng. Một chuyện tương tự như thế đã xảy ra vài tháng trước đây trên vùng biển Nam Hải (South China Sea) [Biển Đông] – và có thể định hình quan hệ giữa Trung Quốc và Ấn Độ, hai nước đông dân nhất thế giới – trong tương lai.
Cuối tháng 7, trên đường trở về từ chuyến thăm hữu nghị tới Việt Nam, trong khi đang đi trên vùng biển quốc tế, một tàu chiến của Ấn Độ đã được “cảnh báo” bằng loa phát thanh và khuyên nên “ra khỏi” biển Nam Hải [Biển Đông]. Mặc dù đụng độ hải quân giữa Trung Quốc và các lân bang – đặc biệt là Việt Nam, Nhật Bản và Philippines – không phải là chuyện hiếm, nhưng đây là lần đầu tiên Ấn Độ bị dính vào.
Tại sao Trung Quốc tìm cách cản trở một con tàu đang đi giữa biển khơi? Đây có phải “chỉ là” sự khẳng định vô căn cứ chủ quyền của Trung Quốc trên toàn bộ Nam Hải hay còn là một hành động ác ý hơn nữa?
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc giải thích như sau: “Chúng tôi phản đối sự tham gia của bất kỳ quốc gia nào vào việc khai thác dầu khí trên những vùng biển nằm dưới quyền tài phán của Trung Quốc”. Sau đó, làm như vô tình, ông ta nói thêm: “Chúng tôi hy vọng những nước nằm ngoài khu vực… sẽ tôn trọng và ủng hộ các nước trong khu vực” trong những cố gắng “nhằm giải quyết… những tranh chấp của họ thông qua các cuộc thương lượng tay đôi”.
Chính phủ Ấn Độ phản ứng ngay lập tức: “Sự hợp tác của chúng ta với Việt Nam hay với bất kỳ quốc gia nào khác luôn luôn tuân theo luật pháp, tiêu chuẩn và thỏa ước quốc tế”, và tuyên bố: “Hợp tác với Việt Nam trong lĩnh vực năng lượng là rất quan trọng”. Thực vậy, các công ty Ấn Độ đã đầu tư khá nhiều và đang tìm cách mở rộng hoạt động của họ trong vùng này.
Mặc dù tuyên bố của Ấn Độ là rất rõ ràng, nhưng những mối ngờ vực cũng vẫn còn. Có phải hai nước chỉ nói về vấn đề là ai sẽ khai thác những nguồn năng lượng chưa được khai thác ở Nam Hải hay chúng ta đang đối mặt với sự khởi đầu của một cuộc đấu tranh nhằm tranh giành khu vực ảnh hưởng?
Muốn tìm câu trả lời cần phải xem xét các tiêu chuẩn của hai nền văn minh trái ngược nhau, tức là những tiêu chuẩn được phản ánh trong những trò chơi trí tuệ mà những nước đó thích. Ấn Độ từ xưa đã thích trò chơi gọi là chaupad (bốn bên), hay shatranj (cờ tướng), tức là những trò chơi hướng tới sự ganh đua, chinh phục và khuất phục. Nhưng Trung Quốc lại có wei qui (trong tiếng Nhật là go – cờ vây), một trò chơi hướng tới bao vây chiến lược. Cách đây nhiều thế kỷ, Tôn Tử đã khuyên: “Cao thủ nhất… không phải là thắng từng trận đánh, mà là đánh bại quân địch mà không cần phải đánh trận nào”.
Báo cáo gần đây của Bộ Quốc phòng Mỹ: “Sự phát triển của lực lượng quân sự và an ninh Trung Quốc” khẳng định rằng: “Chính sách của Trung Quốc trên “vùng biển gần” đã làm cho không chỉ Ấn Độ, mà cả Nhật Bản, Australia, Mỹ và các nước ASEAN lo lắng”. Bộ Quốc phòng Trung Quốc trả lời bằng tuyên bố như sau: “Trung Quốc và Ấn Độ không phải là kẻ thù, không phải là đối thủ, mà là láng giềng và đối tác”.
Thế thì vấn đề là gì? Rõ ràng là Ấn Độ – sau nhiều năm hợp tác với Việt Nam trong lĩnh vực khai thác dầu khí – sẽ không ngấm ngầm chấp nhận yêu sách của Trung Quốc đối với Nam Hải [Biển Đông]. Hơn nữa, ngay khi việc khai thác bắt đầu, một bị vong lục giữa Việt Nam và Ấn Độ sẽ được ký vào cuối năm nay. Có nhiều khả năng là Trung Quốc sẽ phản ứng với những sự kiện đó bằng cách lên án Ấn Độ xâm phạm lãnh hải của họ.
Đối với Ấn Độ, cảm tưởng cho rằng cuộc đấu tranh giành ngôi bá chủ khu vực đang ngày càng gia tăng. Hoạt động của Trung Quốc ở Pakistan và Myanmar, việc Trung Quốc ký thêm nhiều thỏa thuận về hải cảng ở Ấn Độ Dương (gọi là “chuỗi ngọc trai”) và hoạt động gia tăng của hải quân Trung Quốc ở Ấn Độ Dương đã làm cho bộ máy thu thập tin tức an ninh của Ấn Độ phải dỏng tai lên. Thực vậy, tờ Global Times, một tờ báo chính thức của Trung Quốc, đã thay đổi quan điểm trước đây của họ. Gần đây tờ báo này đã kêu gọi ngăn chặn các kế hoạch về năng lượng của Ấn Độ trong khu vực này. “Lý lẽ có thể được sử dụng trước, nhưng nếu Ấn Độ cứ khăng khăng làm chuyện đó thì Trung Quốc phải sử dụng mọi phương tiện có thể để ngăn chặn… không cho điều đó xảy ra”, tờ báo này viết như thế.
Sau đó cũng bài báo này đã quăng cho Tây Tạng một loạt cáo buộc. “Xã hội Trung Quốc đã và đang phẫn nộ trước việc Ấn Độ can thiệp vào vấn đề Dalai [Lama]”, tờ báo này viết. Họ còn cảnh báo Ấn Độ “phải nhớ” rằng “các hoạt động của họ ở Nam Hải [Biển Đông] sẽ đẩy Trung Quốc đến giới hạn”. Theo tờ Global Times thì: “Trung Quốc hoan nghênh tình hữu nghị giữa Ấn Độ và Trung Quốc, nhưng điều đó không có nghĩa là Trung Quốc đánh giá nó cao hơn tất cả những thứ khác”.
Còn có một thông điệp khái quát hơn, đáng ngại hơn, làm người ta nghi ngờ giọng điệu chính thức của Trung Quốc về hài hòa: “Chúng ta không được để cho thế giới có cảm tưởng rằng Trung Quốc chỉ tập trung phát triển kinh tế, chúng ta cũng không được theo đuổi danh tiếng” của “một siêu cường yêu hòa bình mà chúng ta phải trả giá đắt”.
Henry Kissinger gọi đấy là chính sách đối ngoại “huênh hoang” (triumphalist), mà Ấn Độ phải đối đầu. Kissinger viết trong cuốn sách mới của mình dưới nhan đề On China như sau: “Cách tiếp cận của Trung Quốc với trật tự thế giới khác với hệ thống “cân bằng ngoại giao sức mạnh” của phương Tây”, trước hết là vì Trung Quốc chưa bao giờ “có những giao tiếp bền vững với người khác…” trên cơ sở quan niệm về “sự bình đẳng về chủ quyền của các dân tộc”. Như Kissinger, một người thân Trung Quốc, đã chỉ rõ: “Việc đế chế Trung Hoa phải đứng cao hẳn lên được coi là quy luật của tự nhiên, là ý Trời”.
Có thể Ấn Độ và các quốc gia khác phải đấu tranh với thái độ hống hách của Trung Quốc bằng cách lưu ý đến lời khuyên của Tôn Tử: “Ngăn chặn đối thủ bằng cách làm cho lân bang của đối thủ thành kẻ thù của nó”. Đang khi Trung Quốc giúp đỡ Pakistan, liệu việc Ấn Độ càng ngày càng thân mật với Việt Nam có phải là nước phản đòn trên bàn cờ chiến lược Á châu hay không?
Có thể lắm. Xét cho cùng, sau khi Ấn Độ đã công nhận quyền lợi sống còn của Trung Quốc ở Tây Tạng và Đài Loan, phải có sự đáp lại bằng cách công nhận các quyền lợi quốc gia của Ấn Độ. Trung Quốc phải hiểu rõ rằng mọi cố gắng nhằm thiết lập vòng vây chiến lược với Ấn Độ đều sẽ bị đáp trả. Đấy là đòi hỏi của nền an ninh của dân tộc Ấn Độ. Cho nên kiềm chế và hợp tác cũng đúng đối với cả Trung Quốc nữa.
Bản Anh ngữ: project-syndicate.org
————————————————
Jaswant Singh, là cựu Bộ trưởng Tài chính, cựu Bộ trưởng Ngoại giao, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Ấn Độ, ông còn là tác giả cuốn Jinnah: India – Partition – Independence.
Nguồn: Blog Phạm Nguyên Trường
THEO DÒNG SỰ KIỆN:
  1. Cuba mở chiến dịch bắt bớ đối lập trên quy mô lớn
  2. Vụ xử CHHV trên báo chí nước ngoài
  3. Việc thiết lập ‘vùng cấm bay’ trên bầu trời Libya
  4. Giấc mơ hoà bình vẫn là trên hết
  5. Cái bẫy để Mỹ mất thể diện tại Á Châu?
  6. Sự khác biệt giữa chủ nghĩa Cộng sản Châu Âu và Châu Á

Thi nhau bán nước qua cửa Song Phương

Chuyến đi Tàu vừa qua của ông Nguyễn Phú Trọng, người đứng đầu đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN), đã đạt được một “thành tựu” là bản thoả thuận những nguyên tắc giải quyết vấn đề biển Đông giữa hai đảng cộng sản Tàu và Việt. Một văn kiện chứa đựng đầy ngôn ngữ mập mờ để che dấu những chỉ thị mà Trung Quốc bắt CSVN phải thi hành để hợp thức hoá sự cưỡng chiếm biển đảo của Việt Nam sắp tới qua màn kịch “giải quyết song phương” giữa hai đảng cộng sản. Cách giải quyết này đã được phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao CSVN Lương Thanh Nghị tái xác nhận trong buổi họp báo ngày 20/10 vừa qua.
Trước sự kiện CSVN lựa chọn đi theo con đường Trung Quốc đã vạch sẵn để thoà thuận thương thảo song phương với Bắc Kinh, trong tư thế của một nước đàn em hèn nhược đối với một nước đàn anh to lớn để mong chờ sự che chở cho chiếc ghế quyền lực của mình, dù biết rằng nước đàn anh đó thừa sự tráo trở và cũng chẳng cần che đậy tham vọng bành trướng của họ; khiến người ta thấy rõ ngay quyền lợi của của đất nước và dân tộc Việt Nam được đặt ở đâu trong vở kịch thương thảo song phương này. Thế nhưng, để chuẩn bị cho vở kịch “song phương” đó diễn ra được suông sẻ, nhiều nhân vật tai to mặt lớn của chế độ Hà Nội đã lên sân khấu “đóng tuồng giáo đầu” trước những đối tượng liên quan đến vấn đề chủ quyền biển đảo của Việt Nam.
Với đối tượng là nhân dân Việt Nam, chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã khẳng định chắc nịch rằng “Chủ quyền quốc gia là bất khả xâm phạm“; Thủ Tường Nguyễn Tấn Dũng cũng có những lời tuyên bố cương quyết không kém: “Nhân dân Việt Nam có đủ ý chí quyết tâm và sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc để giữ gìn, bảo vệ các vùng biển và hải đảo của mình”. Cụ thể hoá lời tuyên bố của ông Nguyễn Tấn Dũng, nguyên phát ngôn viên bộ ngoại giao là bà Nguyễn Phương Nga nói rằng:“Hải Quân Việt Nam sẽ làm mọi việc cần thiết để bảo vệ vững chắc hòa bình, độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam”. Tướng Nguyễn Chí Vịnh, thứ trưởng quốc phòng cũng nổ không kém: “Nhân dân ta rất yêu nước, sẵn sàng làm tất cả để bảo vệ Tổ quốc!”, “Quyết giữ toàn vẹn lãnh thổ”.
Đối với đàn anh Trung Quốc thì có lẽ ngoài ông Tố Hữu ngày xưa, chẳng ai hơn ông Nguyễn Chí Vịnh về tài nịnh hót, qua câu nói của ông ta tại Bắc Kinh: “ nếu Việt Nam cần sự ủng hộ, đồng cảm, hợp tác và phát triển thì còn có ai hơn một nước Trung Quốc Xã hội chủ nghĩa láng giềng, Việt Nam luôn coi trọng quan hệ đại cục với Trung Quốc”.
Với đối tượng là những người Việt Nam yêu nước có những lời nói, hành động cụ thể để hỗ trợ cho những tuồng giáo đầu của các ông Trương Tấn Sang, Nguyễn Tấn Dũng, bà Nguyễn Phương Nga đã được đề cập ở trên, thì công an đàn áp, bắt bớ, trù dập thực sự và rất tận tình, chứ không tuyên bố đóng tuồng như các ông bà quan chức lớn của đảng.
Với đối tượng quốc tế, sự đóng tuồng của tướng Phùng Quang Thanh, bộ trưởng quốc phòng cũng thật là hoàn hảo qua lời tuyên bố: “việc tăng cường hiệu lực của các cơ chế hiện hữu và xuất hiện các cấu trúc an ninh mới như Cấp cao Đông Á (EAS) với sự tham gia của Nga và Mỹ, hay ADMM+ cũng cho thấy nhu cầu và triển vọng hợp tác giữa ASEAN với các nước đối tác có chung lợi ích trong khu vực, nó sẽ đem lại một tương lai tốt đẹp…“. Song song với những tuyên bố phường chèo này, Hà Nội thực hiện nhiều cuộc đối thoại về chiến lược an ninh – quốc phòng, ký biên bản ghi nhớ, hợp tác quốc phòng với nhiều nước như Ấn Độ, Trung Quốc, Australia, New Zealand, Cuba và Mỹ; và trong chuyến viếng thăm Ấn Độ vừa qua ông Trương Tấn Sang đã cho ký kết thỏa thuận giữa công ty dầu khí quốc doanh ONGC Videsh của Ấn Ðộ với Tập đoàn dầu khí PetroVietnam.
Tất cả những phát biểu và động thái của lãnh đạo Hà Nội nêu trên thoạt nhìn người ta tưởng rằng Hà Nội lại dùng chiến thuật đi dây, như kiểu đi dây giữa Nga và Tàu mà lãnh đạo CSVN rất tự hào trong thế kỷ trước.
Nhưng khi ông Nguyễn Phú Trọng khệ nệ ôm những chỉ thị của trung Quốc về, dưới cái tên bản “Thỏa thuận những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Đông giữa hai nước”, thì người ta biết CSVN chẳng đi dây gì cả, mà chỉ bám chặt lấy Trung Quốc. Điều này cũng làm người ta hiểu rõ hơn những lời lẽ của thứ trưởng ngoại giao Hồ Xuân Sơn sau chuyến đi Tàu chuẩn bị cho chuyến đi của ông Nguyễn Phú Trọng, qua lời tuyên bố “đã có thoả thuận rồi”. Câu nói mập mờ đã từng được nhắc đi nhắc lại nhiều lần:“nhận thức chung đã có giữa lãnh đạo cấp cao hai Đảng” cũng được hàm ý rất rõ trong những chỉ thị của Trung Quốc qua bản thoả thuận những nguyên tắc cơ bản……”. Cụ thể, người ta có thể đọc được từ thực tế những chỉ thị này là: Việt Nam không được đòi biển đảo, tài nguyên trong vùng “lưỡi bò” nữa, còn bên ngoài vùng này thì Trung Quốc và Việt Nam “khai thác chung”. Nếu Trung Quốc có hành động hay lời nói nào khiến Việt Nam bị thiệt hại, thì Việt Nam phải câm miệng lại chấp nhận, không được phản đối. Đó chính là cách bảo tồn “quan hệ thiêng liêng của hai đảng” dưới ánh sáng 16 chữ vàng, 4 tốt.
Có lẽ vì thế mà ngay từ lúc ông Nguyễn Phú Trọng còn ở bên Tàu thì báo chí Trung Quốc đã lớn tiếng đòi phải hủy ngay sự hợp tác khai thác dầu hoả trên biển Đông giữa Ấn Độ và Việt Nam. Rồi hải quân Trung Quốc loan báo vừa thiết lập một trạm xá quân y gần đảo Đá Chữ Thập, thuộc quần đảo Trường Sa, mà Bắc Kinh coi là “phần lãnh thổ không thể tách rời” của Trung Quốc; và mới đây, hôm 25/10, bài bình luận của tờ Hoàn Cầu Thời Báo, tiếng nói bán chính thức của đảng Cộng Sản Trung Quốc cho rằng “chính sách, chiến lược của Việt Nam đã đe dọa ‘lợi ích lâu dài của Trung Quốc về chủ quyền lãnh thổ’”, và “ Việt Nam cần phải chuẩn bị nghe tiếng đại bác trên biển, vì đó là cách duy nhất giải quyết tranh chấp trên biển…”. Phía nhà nước CSVN đã giữ đúng thỏa thuận mà ông Nguyễn Phú Trọng vừa ký, đó là tiếp tục im lặng.
Rốt cuộc thì người ta thấy rằng, lãnh đạo Hà Nội nói với dân một đàng, bàn với quốc tế một nẻo, rồi dấm dúi ký kết với Tàu hoàn toàn ngược lại.
Có thể nói hầu như toàn bộ chuyến đi của ông Nguyễn Phú Trọng đều đã được công luận đoán trước rất chính xác. Duy chỉ có một chuyện lạ trong việc ký kết, đó là thay vì Nguyễn Phú Trọng ký kết như các đời Tổng bí thư trong quá khứ về “hướng giải quyết” giữa 2 đảng, thì lại đùn đẩy xuống cấp thứ trưởng Hồ Xuân Sơn đặt bút ký. Phải chăng Nguyễn Phú Trọng đã học bài học kinh nghiệm của Lê Khả Phiêu thời 1999 là không muốn lãnh trách nhiệm bán nước một mình. Ông ta muốn chia đều lên đầu các thành viên của tập đoàn Bộ Chính Trị CSVN?
Nhưng dù gì đi nữa thì cả hệ thống cán bộ lãnh đạo của chế độ hiện nay đều theo cùng một hướng:
- Cán bộ cấp cao: thoản thuận bán nước rồi núp sau thuộc cấp.
- Cán bộ cấp trung: tiến hành bán nước, nhận các quyền lợi, và chuẩn bị nơi hạ cánh ở nước ngoài.
- Cán bộ cấp thấp: ra sức trấn áp nhân dân được thêm ngày nào biết ngày ấy và sẵn sàng ngụy biện là “chỉ theo lệnh trên”.
Tóm lại, cơn dịch bán nước và thẳng tay trấn áp những ai phản đối đã lan khắp mọi cấp và đang là “chính sách lớn” của lãnh đạo đảng và nhà nước. Họ bán tất cả những gì có thể bán được trước ngày bỏ đi.
Đăng trong Nguyễn Thanh Văn

One Response to Thi nhau bán nước qua cửa Song Phương

Không Biết Nhục
Cú Lừa Lịch Sử. Người Việt Lừa ngươì Việt để bán nước. Thật thảm thương thay cho sự ngu dại của dân Việt.

BTQ

Thấy gì sau “tuần lễ tồi tệ” của tiền đồng việt nam

Vũ Hoàng, phóng viên RFA

2011-10-28
Tính cho đến cuối tuần rồi, đồng nội tệ được nhiều chuyên gia cho là có một tuần tồi tệ nhất trong vòng 2 tháng qua.
RFA
Tiền đô la Mỹ và tiền đồng Việt Nam

Cụ thể là Ngân hàng nhà nước đã hạ tỷ giá quy đổi giữa đồng Việt Nam và đô la 4 lần trong vòng một tuần. Vậy vì sao Nhà nước lại thực hiện việc này và từ giờ đến cuối năm, tỷ giá dự kiến sẽ ra sao?. Vũ Hoàng tìm hiểu và trình bày.

Tiến đồng mất giá nguyên nhân xa gần

Theo giá niêm yết khi đóng cửa hôm cuối tuần rồi, tỷ giá giữa đồng Việt Nam và đô la Mỹ là 20.953 đồng trên 1 đô la, tiền đồng giảm 0,5% so với đầu tuần và được coi là mức giảm nhiều nhất kể từ hơn 2 tháng nay. Sự can thiệp này của Ngân hàng Nhà nước được đánh giá là nhằm giảm sức ép do thâm hụt thương mại tăng và các khoản nợ đô la đáo hạn lên tiền đồng.
Về nguyên tắc cơ bản trong thương mại quốc tế, khi đồng tiền của một nước mất giá (hay xuống giá) nghĩa là hàng hoá nước đó rẻ hơn một cách tương đối so với hàng hoá các nước khác. Điều này đồng nghĩa là hàng hoá Việt Nam sẽ trở nên rẻ hơn và cạnh tranh hơn, dẫn đến việc xuất khẩu gặp thuận lợi.
Về nguyên tắc cơ bản trong thương mại quốc tế, khi đồng tiền của một nước mất giá (hay xuống giá) nghĩa là hàng hoá nước đó rẻ hơn một cách tương đối so với hàng hoá các nước khác. Điều này đồng nghĩa là hàng hoá Việt Nam sẽ trở nên rẻ hơn và cạnh tranh hơn, dẫn đến việc xuất khẩu gặp thuận lợi.
Từ đó, cải thiện phần nào tình trạng nhập siêu của Việt Nam. Hiện tượng này cũng được nhìn thấy qua cuộc chiến thương mại đang diễn ra giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ, khi Hoa Kỳ cáo buộc Trung Quốc ấn định không đúng tỷ giá thực, khiến hàng hoá Trung Quốc rẻ, tràn ngập trên thị trường Hoa Kỳ và làm điêu đứng nhiều doanh nghiệp của Mỹ.
Lý do thứ hai mà Ngân hàng Nhà nước quyết định hạ giá đồng Việt Nam là nhằm giảm áp lực các khoản nợ đô la đến kỳ trả nợ, thường rơi vào dịp cuối năm. Vì thông thường khi các doanh nghiệp vay đô la từ các ngân hàng để trả tiền nhập khẩu hoặc thanh toán các khoản mua hàng trả chậm từ bên người bán nước
Bộ tài chính Việt Nam. RFA
Bộ tài chính Việt Nam. RFA
ngoài, cuối năm là thời điểm đáo hạn. T.S Nguyễn Minh Phong, trưởng phòng Nghiên cứu, Viện Phát triển - Kinh tế xã hội Hà Nội cho biết:
Nhưng từ nay đến cuối năm vẫn có những dấu hiệu áp lực tăng tỉ giá Việt Nam theo nghĩa, nếu các khoản vay ngoại tệ của các doanh nghiệp Việt Nam tới hạn cuối năm phải trả và qui mô này tăng rất nhanh, rất mạnh từ đâu năm tới nay so với dư nợ tín dụng bằng nội tệ, thì nó sẽ tạo ra áp lực mua ngoại tệ rất lớn để trả nợ và điều này sẽ gây ra những đột biến về cung cầu. Nếu không chủ động và không có nguồn thực sự thì sẽ gây ra những biến động áp lực tăng tỷ giá.
Ngoài ra T.S Nguyễn Minh Phong cũng giải thích thêm nhu cầu về đồng đô la cũng tăng lên bởi thông thường vào dịp cuối năm, các doanh nghiệp phải tăng cường tìm kiếm đô la để nhập khẩu phục vụ cho việc sản xuất kinh doanh vào dịp Tết. Vì thế, nguồn đô la nếu không đủ thì áp lực này cũng sẽ tạo ra một sự chênh biệt và sẽ gây ra áp lực lên tỉ giá.
các doanh nghiệp Việt Nam tới hạn cuối năm phải trả và qui mô này tăng rất nhanh, rất mạnh từ đâu năm tới nay so với dư nợ tín dụng bằng nội tệ, thì nó sẽ tạo ra áp lực mua ngoại tệ rất lớn để trả nợ và điều này sẽ gây ra những đột biến về cung cầu.

T.S Nguyễn Minh Phong
Bên cạnh đó, tỷ giá giữa đồng VN và đô la tăng là do nhiều doanh nghiệp cần đô la để thu gom mua vàng từ nước ngoài, trong đợt sốt vàng vừa qua, đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến đồng đô la trở nên khan hiếm.
Trong một bài phỏng vấn gần đây trên báo Nhịp Cầu Đầu Tư, T.S Võ Trí Thành, phó Viện trưởng Viện nghiên cứu quản lý Kinh tế Trung ương cho rằng tỉ giá tại Việt Nam có nhiều sức ép do lạm phát cao hơn nhiều các nước đối tác thương mại, nên đồng tiền mất giá nhanh hơn; thâm hụt thương mại còn lớn, tạo áp lực đến thị trường ngoại hối, vì thế dẫn đến tình trạng mất cân bằng cung cầu ngoại tệ.

Không thể chủ quan khi muốn khống chế tỷ giá tiền đồng

Cũng xin nhắc lại, ông Nguyễn Văn Bình khi mới lên giữ chức Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hồi cuối tháng 8 có cam kết là sẽ khống chế tỷ giá không để đồng Việt Nam mất giá hơn 1% so với đồng đô la Mỹ, sau khi đồng Việt Nam mất giá đến 9% hồi đầu năm nay.
nhu cầu về đồng đô la cũng tăng lên bởi thông thường vào dịp cuối năm, các doanh nghiệp phải tăng cường tìm kiếm đô la để nhập khẩu phục vụ cho việc sản xuất kinh doanh vào dịp Tết

T.S Nguyễn Minh Phong
Đô la Mỹ và tiền đồng
Đô la Mỹ và tiền đồng. RFA
Nhưng xem chừng lời tuyên bố này rất khó trở thành hiện thực. Mới chỉ sau hơn 2 tháng, tỷ giá đã tăng liên tục, mặc dù chưa đến mức 1% nhưng xem ra ngưỡng này có thể bị phá bất kỳ lúc nào. Với những giả định tuyệt đối, thì khả năng này có thể thực hiện được, tuy nhiên, còn nhiều nhân tố mà Việt Nam không thể làm chủ được, chắc chắn sẽ tác động đến giá trị đồng nội tệ. T.S Nguyễn Minh Phong phân tích:  
Yên tâm với 1% thì điều này chúng tôi chỉ cho là đúng với những giả định rất căn bản. Thứ nhất là tất cả hệ thống ngân hàng bình ổn, không có những hiện tượng về nợ quá hạn quá lớn. Thứ hai là các đồng tiền trên thế giới ổn định một cách căn bản như hiện nay, nếu các đồng tiền khác thay đổi thì đồng tiền Việt Nam rất khó để không thay đổi theo, không có chuyện ổn định được và thứ ba là giả định không có thiên tai, địch hoạ biến động lớn.
Cho nên, theo chúng tôi, tuyên bố trên phải dựa trên rất nhiều những tiền đề căn bản mà những tiền đề này không hoàn toàn do Việt Nam làm chủ. Chúng tôi cho rằng không thể chủ quan đối với vấn đề tỷ giá của Việt Nam từ giờ cho đến cuối năm.
Có thể nhận thấy, chuyện đồng tiền lên xuống giá chỉ là một hiện tượng phản ánh những dao động trong nền kinh tế. Tuy nhiên, với những diễn biến hiện nay, có thể nhìn nhận “tuần lễ tồi tệ” của đồng Việt Nam vẫn chưa phải là “tuần lễ tồi tệ” cuối cùng
Nhiều nhà phân tích kinh tế cho rằng khi Ngân hàng Nhà nước cố ép tỷ giá dưới mức dao động 1%, Việt Nam sẽ rất dễ rơi lại tình trạng 2 giá của đồng đô la: một là của thị trường chính thức, khi tỉ giá bị “nén” lại và hai là của thị trường tự do, thể hiện đúng giá trị thực của đồng tiền. Và rồi chuyện các doanh nghiệp mua đô la sẽ lại gặp phải khó khăn khi hạch toán khoản chênh lệch giữa giá đô la niêm yết và giá trị thực của nó là điều có thể tiên đoán được. Đây là thách thức lớn “một nền kinh tế có 2 dòng máu” mà Chính phủ đang cố gắng dẹp bỏ suốt thời gian qua, giờ đang quay trở lại.
Có thể nhận thấy, chuyện đồng tiền lên xuống giá chỉ là một hiện tượng phản ánh những dao động trong nền kinh tế. Tuy nhiên, với những diễn biến hiện nay, có thể nhìn nhận “tuần lễ tồi tệ” của đồng Việt Nam vẫn chưa phải là “tuần lễ tồi tệ” cuối cùng. Việc không thể chủ quan với tỷ giá như T.S Phong nhận xét hẳn sẽ còn được nhắc đến nhiều trong thời gian tới. Với những thay đổi như vậy, chuyện điều hành “ép” tỷ giá của ông thống đốc Bình sẽ càng khiến thị trường tiền tệ rơi vào vòng khó kiểm soát hơn.

Theo dòng thời sự:

Mỹ-Philippines tập trận đổ bộ

Cập nhật: 14:57 GMT - thứ sáu, 28 tháng 10, 2011
Thủy quân lục chiến hai nước trong cuộc tập trận
Được biết Phiblex là cuộc tập trận thường niên
Hôm thứ Năm 27/10, thủy quân lục chiến Mỹ và Philippines đã thực hiện đổ bộ lên đảo Palawan gần Biển Đông trong cuộc tập trận thường niên.
Cuộc đổ bộ này được cho là gây chú ý nhất trong khuôn khổ đợt tập trận Phiblex vì nó diễn ra gần khu vực tranh chấp giữa nhiều quốc gia trong khu vực.
Khoảng 3.000 binh lính của cả Philippines và Mỹ đã tham gia hoạt động kéo dài trong hai ngày, một phần trong cuộc tập trận 12 ngày năm nay.
Mục đích được nói là tăng khả năng tác chiến ở trên cạn và dưới biển của thủy quân lục chiến.
Chỉ huy thủy quân lục chiến Philippines, Trung tướng Juancho Saban được hãng Reuters dẫn lời nói cuộc tập trận giúp tăng cường quan hệ đồng minh để sẵn sàng đối phó nhu cầu.
Ông Saban cũng nói ông cho rằng vị trí thực hiện tập trận sẽ không ảnh hưởng gì tới quan hệ với các quốc gia khác trong Asean và với Trung Quốc.
Cho tới nay, Bắc Kinh chưa đưa ra phản đối chính thức về hoạt động tập trận của Hoa Kỳ và Philippines tại Biển Đông.
Tuy nhiên mới đây một số cơ quan truyền thông của Trung Quốc đã lên tiếng cảnh báo các quốc gia liên quan tranh chấp chủ quyền trong khu vực.
Tờ Hoàn Cầu Thời báo nói các nước cần sẵn sàng nghe tiếng đạn đại bác nếu như không thay đổi chính sách đối với Trung Quốc.

Sẵn sàng đối phó

Lời đe dọa này đã gây phản ứng bất bình từ dư luận nhiều quốc gia.
Thứ Sáu 28/10, quân đội Philippines ra tuyên bố nói sẵn sàng đương đầu với bất cứ cuộc tấn công nào.
Vẫn chỉ huy lực lượng phía Tây của quân đội nước này, Trung tướng Juancho Saban, cam kết đánh đuổi các hành vi xâm phạm lãnh thổ Philippines.
Ông Saban nói: "Bất cứ đe dọa nào, cuộc xâm phạm lãnh thổ hay vi phạm quy tắc ứng xử nào đều sẽ bị giáng trả vì chúng tôi quyết tâm bảo vệ chủ quyền của Philippines".
"Tên lửa hay đại bác đều không thể làm chúng tôi nhụt chí trong việc bảo vệ lãnh thổ."
Tuy nhiên, ông cũng nói quân đội Philippines sẽ không tấn công trước.
Trung Quốc và Philippines vẫn đang tranh cãi quanh việc Philippines bắt giữ nhiều thuyền câu của Trung Quốc tại khu vực Bãi Cỏ rong ở Biển Đông hôm 18/10.
Bắc Kinh đã yêu cầu hoàn trả số thuyền này, nhưng Manila khước từ.

 BBC