Thứ Bảy, 18 tháng 1, 2014

lưu nguyễn đạt: NÓI VỀ THƠ

January 4, 20146 B�nh Luận
NÓI
VỀ THƠ
Nói về thơ gần như sống trong thơ một lần nữa.  Đó cũng là cảm nhận dây chuyền, khi tình cờ gần gũi với dòng thơ.  Thơ, vốn nội tâm, là niềm vui, nỗi buồn từ cuộc sống.  Thơ vào đời và đời cũng nhập thơ.  Như dòng nước với nụ cười; như hơi thở của sóng vơi.
Trong thơ, biển cả đã đổi màu, huyền biến vu vơ, trong tầm mắt và chiều sâu của hồn người thi sĩ.  Tình yêu cũng vậy, qua lời lẽ ẩn vùi nhiệt độ, đã hoá chất thơ thành thứ ánh sáng tuyệt mỹ, sau và trước cả mọi bình minh, như tia nắng cuối cùng giữa lòng đêm và ngọn lửa rừng vừa chợt tắt, khi vạn vật còn hoang mê, chìm đắm, và chữ nghĩa còn lang bạt, lạnh nguồn.
Thơ đôi khi cũng yêu sách, đòi hỏi.  Đòi hỏi mình và yêu sách cả cuộc đời. Đòi dòng sông nhập thành biển cả.  Hỏi sao nguồn cảm hứng ngược dòng khơi.  Yêu hạt sương tích tụ thành mây.  Và sách cả niềm tin từ giọt nước mắt loài người.  Từ nỗi đau triền miên quanh thế giới.  Từ giọng hát vào đời, bỗng chia đôi.  Còn yêu sách, đòi hỏi gắt gao hơn thế nữa, chẳng qua vì đáy lương tâm còn nguyên vẹn, hay đam mê chưa tắt hẳn mà thôi.
Thơ huyền biến, lúc hiền hoà, lúc độc ác.  Như vị cay, vị ngọt cuối làn môi.  Có lúc say đắm vô hạn.  Có lúc hạn hẹp, chua xót, cạn vơi.  Hư hư, thực thực.  Ngập tràn trong dấu tích, xa cách trong buộc ghép ngàn nơi.  Nhà thơ phải lòng chữ nghĩa.  Phải lòng cuộc đời trọn vẹn, dang dở – ngay trong bạt xiêu, tuyệt vời.
Thơ là cơ thể và sức sống.  Là đứa trẻ nghịch đùa với dòng sông như môi yêu với tình tứ.  Là giọt máu buốt đau và mảnh da quằn quại.  Thơ đấu tranh, đòi quyền sống trong nhu yếu vô thường, và bất lực trong đổi chác căn cơ.  Bất lực, dù vĩnh cửu từ vắng vợi đời người.
Thơ vô hình, vô dạng.  Thơ ở ngoài sách vở, ngoài hiện thực, vu vơ, miệt mài, lạc lõng.  Thơ thất lạc ngay trong lòng thơ.  Thất lạc ngay trong tâm hồn người thi sĩ – ngoài tầm giao cảm với đối nhân.  Thơ đã trở thành đứa con tư sinh vô thừa nhận.  Xiêu vẹo, nghiêng ngửa ngay tại dòng chữ nghiệt ngã, keo kiệt.  Bị chèn ép trong nhịp bước trần gian, thơ cô đơn trong cảnh vọng trần tục, trong toang vỡ trần truồng.  Vì thế, thơ không ai dám nhận, dám tin, dám hỏi.  Và cũng ít ai đủ khả năng nuôi dưỡng, gả gấm, hoặc đủ bản lĩnh gạ gẫm nàng thơ.
Nhưng cũng có lúc thơ là tặng dữ cuối cùng trong cuộc đời, là niềm vui còn sót lại đêm qua.  Những lúc tận cùng vời vợi đó, làm thơ tức là nhặt chữ nối nguồn, là đãi cát tìm vàng, là đào khởi lòng than âm u, tì tích, để tìm hạt kim cương tinh khiết, xuất chúng.  Thơ sẽ gạt bỏ bạc bẽo để sưởi ấm lòng đau.  Sẽ quét sạch đường đời và khởi sắc vạn nơi: thơ chiết xuất thơm tho từ ô uế, tiếp nhựa sống vào thân cây, và đặt niềm tin trong lòng người.
Vì thế, thơ là con đường văn chương hoá dạng: nửa nọ, nửa kia; nửa sáng nửa tối; nửa vui, nửa buồn; nửa người, nửa vật.  Một thế giới bâng quơ, lơ lửng, ngược xuôi, xuôi ngược.  Liên tục trong trí nhớ, lại có lúc cách quãng trong u uẩn, trước sau muôn mặt, thiên hình, vạn trạng.  Có cũng như không, không rồi lại có.  Tất cả là khát vọng, hay thất vọng, trong bao dung, toàn bích.  Là hào hứng trong phân mảnh, tuyệt vời.
Thơ trong sạch hay bụi bậm là do lòng người tìm kiếm chất thơ. Thơ không mùi không vị, không tình không nghĩa, mà chỉ mượn mùi thơm ngọt từ cỏ cây, vị say từ hơi thở nồng nàn, và tình nghĩa từ ánh mắt cô liêu, đắm đuối.  Người thi sĩ nhìn và nhớ vạn vật chung quanh câm nín, hoang sơ.  Thơ nguyên vẹn, mong manh trong dấu vết xa gần.  Thơ bừng khởi trong tiềm thức sơ sinh, bao bọc.  Ta đã khoác lên vai, lên tóc và vết tích nó những bụi bậm, tanh hôi của thân phận làm người.  Thơ lạc lõng vì hồn người lạc lõng.  Thơ chảy máu vì tế bào người u uẩn, cắt, vùi.  Thơ tì ố, tàn tạ như chiếc áo kẻ tù đày.  Thơ cũng trong sáng như ánh mắt thơ ngây, trong bình minh vĩnh cửu của vạn vật luân lưu, muôn thuở tái thế.
Thơ nổi chìm, sâu sắc.  Thuyên chuyển từ tế bào này sang tế bào nọ.  Như giọt tình, giọt nước mắt ngấm lòng người, ngấm lòng vạn vật.  Thơ cũng là những câu hỏi không để trực tiếp trả lời, hay trả lời để hỏi lại.  Trong vô hạn, mong manh, như những công án thiền định:
nếu mọi dòng sông đều ngọt ngào biển cả lấy muối mặn từ đâu ?
if all rivers are sweet where does the sea get its salt ?[1]
Ý thơ và bóng chữ đã đôi lúc chung tình, giao hợp để cùng nhau thoả ước, khép mở, mật thiết lẫn nhau.  Thơ cố gắng trả lời sành sỏi.  Nhưng nhiều lúc thơ lại vụng về, giả định, vu vơ, vì tạm bợ, không chủ đích.  Tới nơi mà không biết.  Lạc lõng mà không hay.  Ngay lúc tuyệt độ trong cơ bản tâm tình. Ngay lúc phá thể trầm trọng để xây dựng lại một trật tự mới, khác với trật tự hiện hữu. Ngay trong cách sống vô vi, vô thường:
sáng trăng vời vợi xa bao ngả xa cách lòng tình xa nguyệt nga ?
how far is the light of the moon from the moon ?[2]
Nhà thơ không chịu trả lời gọn gàng, minh bạch, chỉ tủm tỉm cười, rồi trì hoãn vu vơ, hay giải đáp trong hững hờ, cởi, mở.  Thành thử câu hỏi vẫn mãi mãi nguyên vẹn trong lòng người còn tìm, còn kiếm.  Nguyên vẹn từ đầu, bất tận về sau.
Thơ có lúc vắng dấu chân người, mà chỉ còn là vết tích của đá, của hoa, cỏ lạ, nguồn, khơi. Trong những lúc khô khan tuyệt tích, cạn hơi, cạn hứng, người thi sĩ đã tìm đường về một địa hạt xa xăm siêu thực, như tìm đường lên nơi thần linh hay đất cấm, nơi dư âm, hoài cảm hay huyền thoại, hư vô.  Thi sĩ đã thu ngắn lại, buộc nối lại con đường cũ đưa dẫn về nhà trời, xuyên qua hình dáng mong manh, mở đón của tạo hoá, của cỏ cây, của tảng đá dẫn lộ.  Đó không phải là những cảnh vật vô tri vô giác, những khối tảng ù lì, cục mịch, mà là những hồn đất, hồn cây, nhữnh tảng đá từ không gian lạc vào lòng đất, nhưng vẫn biết bay bổng, vẫn nhớ bay bổng, thu hút; biết gọi nắng từ mưa; biết nghe tiếng thì thầm của những tâm hồn kiệt quệ, khát khao.  Đó cũng là những hạt đá quý, những lệ đá xanh, những tâm linh ẩn náu cạnh thân thể người yêu:
khi em vuốt ve ngọc biếc ngọc biếc vuốt ve em
when you touch topaz topaz touches you[3]
Như vậy thơ có thế giới riêng biệt của nó, trong công cuộc tìm lại lòng người, tìm lại lòng nguyên thủy của đất trời, thiên nhiên, của tiếng nói đầu tiên từ trí nhớ nhân loại, từ huyền thoại của ý nghĩa ẩn vùi trong lãng quên tập thể.  Thơ dẫn đường vào toàn bích, hé mở thành tôn giáo bỏ ngỏ, hoang vu.  Thơ tìm nguồn để tạo lại cội nguồn, tạo lại tông tích siêu thoát. Thơ hy vọng cả trong nỗi tuyệt vọng.
Thơ là cuộc hành trình qua thân phận làm người.
Lưu Nguyễn Đạt
[Lời Của Cát --- Paroles De Sable]
www.vietthuc.org

[1] Pablo Neruda, The Book of Questions, (El libro de las preguntas), Copper Canon Press: Port Towsend, 1991.  Câu hỏi có chiều sâu thách đố tuyệt đối như những công án (koan) xuất phát từ tâm thức các thiền sư.
[2] Pablo Neruda, The Book of Questions. Nhận định như trên.
[3] Pablo Neruda, Stones of The Sky, (Las pierdas del cielo), Copper Canon Press: Port Towsend, 1987.

6 Comments »

  • Dung Dung says:
    “Trong vô hạn, mong manh, như những công án thiền định:
    nếu mọi dòng sông đều ngọt ngào
    biển cả lấy muối mặn từ đâu ? ”

    Kính thưa Tiến Sĩ,
    Công án trên thì chẳng có gì để bàn. Tuy nhiên, xin phép đựoc hỏi Tiến Sĩ một câu : Trước lúc có sông có biển thì là cái gi?

    Xin chân thành cảm ơn Tiến Sĩ.
    Trân trọng,
    DungDung

  • Viet Thuc says:
    Phải chăng đó là cái không trong cái có; cái có trong cái không; cái mất trong cái được; cái được trong cái mất: những câu trả lời không sao trả lời; trả lời để hỏi lại…
    Trân trọng, Lưu Nguyễn Đạt
  • Dung Dung says:
    Kính thưa Tiến Sĩ,
    Thực ra công án Thiền không phải là những câu hỏi để trả lời. Chỉ cần ngay đó kiến Tánh ngộ Đạo mà thôi.
    Xin kính chúc Tiến Sĩ luôn mạnh khỏe, an vui trong năm mới 2014.
    Trân trọng,
    DungDung
  • Viet Thuc says:
    1. Tuy nhiên, xin phép đựoc hỏi Tiến Sĩ một câu: Trước lúc có sông có biển thì là cái gi?
    2. Thực ra công án Thiền không phải là những câu hỏi để trả lời. Chỉ cần ngay đó kiến Tánh ngộ Đạo mà thôi.

    Như vậy chỉ cần hỏi là đủ. Quý vị đã tự trả lời cho câu hỏi của chính mình: cái biết ngay trong cái [ảo] không biết.
    Nên câu hỏi tự nó cũng-bằng-thừa/cũng-bằng-không. Không cần thiết từ căn bản “kiến tánh”: Hỏi-như-Không.
    Gần như câu “To be, or not to be, that is the question: một bản thể “kiến tánh” hai mặt/sáng và tối.
    Cho nên cái ngộ đôi khi kết sinh/biến dạng thành “ngộ nhận”, “ngộ tín”; cũng như “Foi” và “mauvaise foi”. Do đó, theo Sartre, hiện sinh [existence] là buồn nôn, là “nausée“.
    Vì mấy ai “kiến Tánh ngộ Đạo”? Hay chỉ “kiến Tánh ngờ Đạo”?
    Chúng ta chỉ cần mở mắt đã thấy hằng ngày tình trạng “tôn giáo” [nói chung] lâm cảnh “pháp nạn” ngay trong hàng ngũ tối cao, “chỉ đạo”.
    Ai ngộ, ai không? Foi & mauvaise foi? To be, or not to be? Ý nghĩa gì?
    Những câu hỏi như thế cũng đã là thừa…Xin lỗi quý vị.
    Đa tạ, LND
  • Dung Dung says:
    Kính thưa Tiến Sĩ,
    Đây là công án Thiền :
    “nếu mọi dòng sông đều ngọt ngào
    biển cả lấy muối mặn từ đâu ?”

    Đây là câu hỏi nêu ra :
    “Trước lúc có sông có biển thì là cái gi?”

    Đây là câu trả lời của Tiến Sĩ :
    “Phải chăng đó là cái không trong cái có; cái có trong cái không; cái mất trong cái được; cái được trong cái mất: những câu trả lời không sao trả lời; trả lời để hỏi lại…”

    Đây là hồi đáp :
    “Thực ra công án Thiền không phải là những câu hỏi để trả lời. Chỉ cần ngay đó kiến Tánh ngộ Đạo mà thôi.!

    Vì sao có câu hồi đáp như thế ?
    Do câu trả lời của Tiến Sĩ vẫn còn phân vân ” Phải chăng…”
    Rất tiếc, Tiến Sĩ đã không thông cảm được câu hồi đáp.
    Xin khẳng định : Đây không phải trò đùa !
    vì thế, xin lắng nghe kiến giải của các vị uyên bác để học hỏi .
    Trân trọng,
    DungDung

  • Chân thành cám ơn TS, LS Lưu Nguyễn Đạt cho vdn thưởng thức bài viết: “NÓI VỀ THƠ”.
    Trước thềm năm mới, vdn kính chúc LS và bảo quyến HẠNH PHÚC AN KHANG THỊNH VƯỢNG.
    Trân trọng
    vdn
    Tb:
    Vdn đọc lại câu này : “Thơ là cuộc hành trình qua thân phận làm người.” vdn chợt nhớ bài “Tôn Vinh ‘Thơ’” mà vdn làm đã khá lâu. Xin kính đăng lên đây.

    Tôn Vinh ”Thơ”
    Mến gởi đến những tâm hồn đồng điệu

    Thơ là tiếng “kêu tụ” lòng người,
    Nói lên những lúc lệ sầu rơi.
    Thơ là vị thuốc thần an ủi,
    Ve vuốt hồn ta lúc chán đời !

    *
    Thơ là nhật-nguyệt “Thường” soi
    Cõi lòng chất đọng sự đời của ta.
    Thơ là tiếng nói xót xa,
    Nấc lên tự đáy lòng đà nát đau.

    Thơ là bất luận giàu nghèo,
    Đói no không bận, thoáng vèo bay qua.
    Thơ là tay “phóng bút” ra,
    Dệt vần thơ nhỏ thiết tha tặng đời.

    Thơ là nhặt chữ, kết lời,
    Vẽ tranh, đan thảm gởi người dấu yêu.
    Thơ là cảnh đẹp những chiều…
    Mây hồng, nắng tỏa mỹ miều hoàng hôn.

    Thơ là tán tụng, vinh tôn :
    Hiền nhân, những bậc “Anh Hùng” thế gian.
    Thơ là dịu ngọt “Chàng, Nàng”,
    Dìu nhau qua đoạn lầm than khốn cùng.

    Thơ là ngọn chổi tâm hồn,
    Quét đau thương sạch cõi lòng của ta.
    Thơ là “Thuyền” rộng bao la,
    Đưa dùm những kẻ muốn qua biển sầu.

    Thơ là muôn sắc, vạn màu,
    Hiện trăm ngàn ảnh, ẩn bao nhiêu hình ?
    Thơ là khối đọng chân tình,
    Từ sâu thăm thẳm lòng mình vụt lên.

    Thơ là liều thuốc thần-tiên,
    Cứu người thoát cảnh ưu phiền khổ đau.
    Tạ ơn “Thơ” biết là bao,
    Đã lau dòng lệ tuôn trào bấy lâu.


    Việt Dương Nhân

Trên Đường Chia Tay Với Hủ Lậu — Tìm Đến Một Tư Tưởng Chính Trị Việt Nam Mới - Trần Thanh Hiệp, LS

January 18, 20140 Bình Luận

Cáo Hủ Lậu Văn
Thương thay! Thuơng thảy! Thương thay!

Ngắn than, dài thở, sự này tại ai? Người sao trời rộng đất dài, Ta sao co quắp một nơi thế mà! Người sao nhẹ thẳng bay xa Ta sao co kéo xó nhà với nhau? Người sao làm chủ hoàn cầu, Ta sao nô lệ cúi đầu làm tôi? Người sao sáng sủa đầy trời, Ta sao hôm tối như ngưòi đi đêm! Lấy gương thử ngắm mà xem, Ra gì mặt mũi mà đem khoe đời!
Đăng Cổ Tùng Báo
số 808 năm 1907
2013 0CT 16 CROP 300 LOGO COQUILLAGE
LỜI DẪN NHẬP TỔNG QUÁT

Đọc thấy chữ “hủ lậu” tất có thể có người không vừa lòng và cho là quá đáng. Nhưng nếu hiểu theo sát nghĩa của chữ này, như được ghi trong từ điển Việt Nam đương thời, thì ”hủ lậu” chỉ là “cũ kỹ chật hẹp, không hợp thời”. Đương nhiên, trước thời đại mới, trên đất nước, nay không còn những cũ kỹ chật hẹp của đầu thế kỷ thứ XX. Nhưng lại có những cũ kỹ chật hẹp của những năm 2000. Theo tác giả những dòng đưới đây, câu chuyện “hủ lậu” của ngươi Việt Nam, ở vào thời điểm đầu thiên niên kỷ thứ ba, cũng cần phải đem ra bàn như đã bàn ở vào đầu thế kỷ trước. Mục Tư Tưởng Chính Trị trên Việt Thức là một “Cáo Hủ Lậu Văn” mới, với một nội dung hoàn toàn mới.
Vì phải thỏa mãn các nhu yếu của cuộc sống mà con người đã phải thường xuyên vận dụng khả năng suy nghĩ để quan sát thiên nhiên và xã hội, để tự hỏi mình về số phận của chính mình cũng như của tập thể. Ai là người được coi là xứng đáng để lãnh đạo xã hội? Những gì có thể cho là lợi ích chung, chính đáng và cao nhất của tập thể? Quyền chỉ huy, quyền chế tài, trong đời sống chung, phải dựa trên nền tảng nào, phải được hành sử trong những giới hạn nào v.v…? Đó là một số trong nhiều câu hỏi khác nữa, luôn luôn phải đặt ra và không thể không đặt ra, để được trả lời và tìm thấy những giải đáp đúng nhất, tốt nhất. Người ta gọi đó là tư tưởng chính trị.
Lịch sử loài người cho thấy từ hàng triệu năm trước đây, tư tưởng chính trị, dưới nhiều hình thức khác nhau, đã xuất hiện cùng với con người. Trên thế giới, ngày nay, tư tưởng chính trị không phải chỉ là những hoạt động thuần cá nhân mà còn được giảng dạy, sản xuất, tàng trữ tại các trư ờng đại học.
Ở Việt Nam, cần tìm hiểu vì sao hiện nay tư tưởng chính trị vẫn chưa tranh thủ được tầm quan trọng đó.
Mục Tư Tưởng Chính Trị trên Việt Thức (TTCT) không tự trao cho nó trách nhiệm học thuật của một giáo trình đại học hay một công trình nghiên cứu thâm sâu, một học thuyết về tư tưởng chính trị. Nó chỉ là những bước đi mở đường cho một cuộc khởi hành mới, tiếp tục cuộc hành trình Duy Tân mà thế kỷ trước, vì bị mất phương hướng. đã bị gián đoạn. Cuộc chia tay với Hù Lậu do đó chưa có cơ thực hiện. Bây giờ, một đoàn người lữ hành mới lại lên đường. Tất yếu sẽ phải có hành trang mới, động cơ mới, sức đẩy mới để, nếu có thể được, tránh lãng phí thời gian, thâu ngắn đoạn đường chót dẫn tới đích là Văn Minh Tiến Bộ.
Trong dụng đích bàn về cuộc hành trình mới này, Mục Tư Tưởng Chính Trị trên Việt Thức phải chọn một cách nhìn vấn đề riêng biệt để một mặt, nhận diện được – một cách tổng quan nhưng chỉ sơ lược – quá trình diễn tiến của TTCT nói chung trên thế giới và, mặt khác, TTCT nói riêng ở Việt Nam. Ngoài ra, TTCT còn phải hợp nhất sự quan sát ở cấp độ lý thuyết với sự quan sát ở cấp độ thực tiễn, để chụp bắt cho đầy đủ tư tưởng chính tri Việt Nam. Đằng khác, Mục Tư Tưởng Chính Trị trên Việt Thức cũng không thể không khép mình vào trong khuôn khổ – dĩ nhiên không phải không có hạn chế – mà Việt Thức đã dành cho nó. Sau cùng, tuy người đọc sẽ dễ dàng nhận thấy rằng tinh thần chủ đạo của Mục Tư Tưởng Chính Trị trên Việt Thức là tự do tư tưởng và đa nguyên, nhưng người viết vẫn phải nhắc lại rằng kiến thức của khoa học nhân văn, khoa học xã hội không thể tuyệt đối khách quan, chính xác như kiến thức của khoa học tự nhiên. Nói như vậy để cảnh báo trước rằng nếu người đọc có thể còn gặp ít nhiều hiện tượng chủ quan, và từ đó, sai lầm, nhất là trong cách chọn lựa góc độ tiếp cận vân đề cũng như trong các nhận định về giá trị, thì người viết xin nhận trách nhiệm hoàn toàn về phần mình.
Tất cả những điều kiện thực tế kể trên đã trực tiếp có ảnh hưởng quyết định đến nội dung của Mục Tư Tưởng Chính Trị trên Việt Thức, tạm thời dự kiến sẽ gồm có 4 phần như sau:
I. Lược sử tư tưởng chính trị trên thế giới II. Lựơc sử tư tưởng chính trị tại Việt Nam III. Cuộc chia tay với Hủ Lậu IV. Chân trời mới của tư tưởng chính trị Việt Nam.
Phần lược sử tư tưởng chính trị trên thế giới sẽ do Trần Thanh Hiệp viết.  
Phần lược sử tử tư tưởng chinh trị tại Việt Nam là sáng tác chung của Trần Thanh Hiệp và Đoàn Viết Hoạt, dưới sự sắp xếp của Đoàn Viết Hoạt.
Một số thân hữu trong giới trước tác, nghiên cứu tư tưởng chinh trị sẽ được mời viết cho Mục Tư Tưởng Chính Trị trên Việt Thức.
Hai phần cuối sẽ là một sáng tác của nhiều người.
LS. Trần Thanh Hiệp

Mục Tư Tưởng Chính Trị
Phối Hợp Viên LS. Trần Thanh Hiệp: tranthanhhiep@gmail.com

www.vietthuc.org

QuanLamBao: “Đảng ta” thắng “Ngụy” nhưng sợ Việt Nam Cộng Hòa - Đỉnh Sơn Trà

Wednesday, January 15, 2014


Đỉnh Sơn Trà (Danlambao) - Trước 1975, dù rằng chẳng mấy khi phải nghe hoặc dùng đến chữ “ngụy” nhưng mỗi lần nghe hoặc đọc phải chữ đó thì cũng có thể hiểu được với cái nghĩa nôm na là “giả mạo”, hoặc có trường hợp là “không chính thống”. Nhưng sau 1975 thì hầu hết những gì ở miền Nam Việt Nam đều bị cho là “ngụy”: chính quyền ngụy, lính ngụy, gia đình ngụy, nhạc ngụy, sách vở ngụy, văn hóa Mỹ - Ngụy, v.v... Trong khi chính bản thân mình lại đã từng sống trong cái xã hội toàn là “ngụy” đó chứ chẳng phải là bị tuyên truyền hoặc nghe ai đó nói lại cho nghe. Điều đặc biệt hơn nữa là ngay cả cha mình cũng là một con người bằng xương bằng thịt mà cũng bị gọi là “ngụy”. Hết biết! Thành thử bây giờ mà có ai đó hỏi tôi “Ngụy nghĩa là gì? “ thì tôi cũng... anh rê o ngo anh rê ngong nặng ngọng! Dù có biết cũng phải thành không biết, bởi người dân, nhất là những thế hệ sinh từ thập niên 1970 trở về sau, đã quen với chữ “Ngụy” theo cách dùng của người Cộng Sản, mình trả lời dù có đúng cũng có thể có phần nào đó ngược lại với những gì họ đang có sẵn hoặc đã quen nghe.

Đến nay nữa là đã 40 năm kể từ ngày Trung Cộng đánh chiếm Hoàng Sa, trên mạng có vẻ nhộn nhịp với những tin tức sẽ có những buổi lễ tưởng niệm đánh dấu sự kiện đau buồn này của dân tộc Việt. Tôi đã cố gắng tìm xem có ai đó dùng từ Ngụy khi viết hoặc đề cập đến sự kiện này đối với 74 người lính thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) đã xả thân trong trận chiến đó hay không, nhưng hoàn toàn chưa gặp. Đâu đó cũng có gặp một vài nhân vật của hàng lãnh đạo đảng CSVN có đề cập tới sự kiện đó nhưng không thấy dùng chữ Ngụy mà cũng chẳng thấy nhân vật nào đủ “can đảm” để dùng đến danh từ Việt Nam Cộng Hòa.

Nếu Chính phủ VNCH là Ngụy thì đồng nghĩa với việc CSVN không thừa nhận quần đảo Hoàng Sa là của Việt Nam. Nếu điều này trở thành hiện thực thì đảng CSVN sẽ bị toàn dân Việt Nam “tru di tam tộc”. Còn ngược lại thì những người CSVN không thể nào còn có thể mở miệng gọi Chính phủ VNCH trước đây là Ngụy được nữa. Thực tế cho thấy là với tinh thần quốc gia và dân tộc người Việt Nam không ai chấp nhận để mất quần đảo Hoàng Sa của mình mà bằng mọi giá sẽ phải lấy lại, trong khi đảng CSVN đã thể hiện sự bất lực hoàn toàn ở vấn đề này.
 
Theo tin tức loan truyền trên mạng thì ngày 19/01/2014 này sẽ có những buổi lễ diễn ra ở Sài Gòn và Hà Nội để tưởng niệm và vinh danh những người lính Ngụy đã bỏ mình vì Tổ Quốc. Điều đáng nói là những người ở Hà Nội là những người chưa từng là công dân của Chính phủ Ngụy của miền Nam.

Thêm vào đó, hình ảnh về chiến trận Hoàng Sa năm 1974 cho thấy những người lính Ngụy đã hoàn toàn chủ động và quyết định cái chết của mình cho giang sơn Tổ Quốc - họ đánh tới cùng, biết là tàu sẽ chìm, biết là sẽ chết nhưng họ không rời tàu và sắn sàng đến với cái chết v.v... Cái chết của họ cho thấy hoàn toàn xứng đáng và mang trọn cái nghĩa của hai chữ Oanh Liệt. 

Còn một đoạn tài liệu về cuộc tấn công xâm lược của Trung Cộng vào đảo Gạc Ma thuộc Trường Sa năm 1988 đã làm người coi không thể nào tránh khỏi những cảm giác đau xót, ngậm ngùi, uất hận bởi cái chết của những người lính dưới sự lãnh đạo của đảng CSVN đó có cái gì đó rất là mập mờ, oan uổng và vô nghĩa. Những người lính như là những tấm bia giữa một bãi trống hoang, hoàn toàn không có một sự che chắn, không có một điều kiện để chủ động tiến thoái hoặc khả năng chống trả nào, để bọn lính Trung Cộng tha hồ bắn và nhìn từng con ngươi Việt Nam gục xuống giữa trùng dương. Đau đớn hơn nữa là những người lính Việt Nam đó bị lệnh cấm, không được bắn trả lại. Không có một hình ảnh nào để nói lên rằng họ chiến đấu để bảo vệ cái gì cả. Và càng không thể nào cho đó là một trận đánh. Họ như là những con vật bị trói chân rồi đem quăng ra đó để tế cho Thiên triều của đảng CSVN. Coi đoạn phim đó tôi chi có một cảm giác rất là đau đớn và oan uổng cho những người con của Việt Nam đã bị giết tươi một cách rất là oan uổng trên bãi Gạc Ma năm 1988.
 
Tôi tin rằng sự kiện này đã nằm trong những mưu đồ và thỏa hiệp giữa đảng CSVN và đảng Cộng Sản Thiên triều của họ.
 
Ngày nay càng nhiều người Việt Nam, mặc dù có người chưa từng là công dân của Việt Nam Cộng Hòa bao giờ, biết được những sự thật về Hoàng Sa và những người lính VNCH đã xả thân ở Hoàng Sa năm 1974 như thế nào, thì đảng CSVN tuy đã huênh hoang là chiến thắng càng cảm thấy sợ và không dám nhắc đến bốn chữ Việt Nam Cộng Hòa.

Rất nhiều lý do, không có gì là khó hiểu cả!
 
QLB

QuanLamBao: "Đừng nghe cộng sản nói, hãy nhìn cộng sản làm" (TT NVT)

Friday, January 17, 2014

QLB
Lê Diễn Đức (RFA) - Khi các tờ báo như Thanh Niên, Tuổi Trẻ, VN xpress, Tiền Phong... đồng loạt đăng các bài viết về cuộc hải chiến Hoàng Sa cách đây 40 năm, ngàz 17-01-1974, cái ngày Trung Quốc mở cuộc tấn công xâm chiếm quần đảo và 74 chiến sĩ của quân lực Việt Nam Công Hoà (VNCH) đã anh dũng hy sinh trong cuộc đọ súng không cân sức, cho ta cảm giác rằng, sau 40 năm dương như có điều gì đó biến chuyển trong tư duy của những người lãnh đạo cao nhất của Đảng Cộng Sản Việt Nam (ĐCSVN).

Khi viết bài '"Hãy để các anh là "ngụy'''tôi đã phân tích và cảnh báo rằng, để giữ vững sự tồn tại và độc quyền cai trị, ĐCSVN không từ bỏ bất kỳ âm mưu, thủ đoạn nào, kể cả đưa dân tộc vào vòng Hán hoá. Đây là chinh sách, chủ trương liên tục, xuyên suốt và nhất quán của ĐCSVN.
Không thể tách 74 chiến sĩ Hoàng Sa ra khỏi hàng chục ngàn tử sĩ khác đã bỏ mình nơi chiến trận để bảo vệ tự do, chống lại sự xâm lăng, nhuộm đỏ miền Nam của cộng sản miền Bắc. Các anh chẳng thể là một thiểu số đặc biệt để mong "được" chế độ vinh danh "liệt sĩ". Bất luận gì đi nữa, không cần chế độ cộng sản vinh danh, các anh vẫn sẽ sống mãi trong lịch sử, trong lòng dân.
Cân phải nói rằng, do áp lực đòi hỏi và đòi hỏi của xã hội, nhất là trước tinh thần chống ngoại xâm quật cường của dân tộc, các nhà lãnh đạo ĐCSVN có lúc,có nơi đã không quên phương thức mị dân, dối trá.
Ông Nguyễn Tấn Dũng từng huyênh hoang tuyên bố chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa tại Nha Trang hay Quốc hội, rốt cuộc cũng chỉ là một thứ ve vuốt, xoa dịu dư luận.
Trong thực tế, những điều ông ta làm đi ngược hoàn toàn với lời nói. Các dự án tổng thầu EPC lớn nhất của Việt Nam lần lượt lọt vào tay Trung Quốc. Hàng ngàn quân Trung Quốc sống và làm việc trên mái nhà Đông Dương - Tây Nguyên, vị trí an ninh chiến lược của Việt Nam, trong dự án khai thác bauxite không mang lại hiệu quả kinh tế, phá nát môi trường.
Các chuyến thăm viếng Hà Nội- Bắc Kinh vẫn diễn ra đều đặn giữa các nhà lãnh đạo hai nước. Trong chuyến công du của Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân hồi 5/2013, qua Bắc Kinh dự dự phiên họp thứ 6 của Ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương Việt Nam - Trung Quốc, Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường nói "coi Việt Nam là bạn bè, là đồng chí chân thành, chính phủ Trung Quốc coi sự phát triển của Việt Nam chính là cơ hội phát triển của Trung Quốc"!!!
Khi tập đoàn Bắc Kinh coi tập đoàn Hà Nội là "bạn bè", là "đồng chí chân thành", thì mọi động thái của nhà cầm quyền Hà Nội trở nên dễ hiểu.
Vì thế, được biết Ban Tuyên giáo Trung ương đã chỉ thị cho ban biên tập các tờ báo chính thống chấm dứt đưa tin về Hoàng Sa và từ ngày 18/01 không tiếp tục đăng tải thông tin về kỷ niệm 40 năm ngày Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa nữa.
Thì ra, một số tờ báo đăng bài về Hoàng Sa là do tiếng gọi của lương tri và trách nhiệm của ban biên tâp và một số anh chị em phóng viên can đảm, nhưng có vẻ họ đã sắp vượt qua lằn ranh mà nhà cầm quyền giới hạn.
Chương trình thắp nến tri ân các chiến sĩ đã hy sinh vì bảo vệ Hoàng Sa 1974 và Trường Sa 1988 tại Công viên Biển Đông ở Thành phố Đà Nẵng cũng đã phải huỷ bỏ.
Cuộc triển lãm Hoàng Sa - Trường Sa tại Bảo tàng Đà Nẵng vào sáng 19/1 cho phép được tiếp diễn nhưng sẽ không truyền hình trực tiếp và cấm nói "40 năm Trung Quốc cưỡng chiếm Hoàng Sa".
Sẽ chưa biết cuộc xuống đường ôn hoà để tưởng niệm những chiên sĩ đã bỏ mình vì Tổ quốc, mà anh chị em nhóm NO U - FC kêu gọi vào Chủ nhật ngày 19/01 sẽ ra sao? Liệu nhà cầm quyền sẽ lại dùng vũ lực trấn áp để duy trì "trật tự công cộng" và mọi việc để đảng và nhà nước lo?
Nhà nuớc Cộng sản Việt Nam áp dụng chính sách ngoại giao ôn hoà hay thực chất là sự đầu hàng, nhu nhược, khi Trung Quốc ngang nguợc đòi hỏi các nước láng giềng phải xin phép bắt cá trên vùng Biển Đông từ ngày 01/01/2014?
Không phải thế! Bởi vì như nhà nghiên cứu sử Nguyễn Đình Đầu đã nhận định “Tình đồng chí giữa những người Cộng sản lúc đó còn lớn hơn lãnh thổ”.
Cho nên, lãnh thổ đất nuớc có thể bị mất, chủ quyền đất nước bị đe doạ nghiêm trọng, nhưng Trung Quốc là cái ô che chắn và bảo vệ cho sự tồn tại của ĐCSVN và duy trì quyền cai trị của nó. Cái giá mà Hà Nội đổi chác là như thế, không có gì bàn cãi thêm.
Băng đảng thống trị này, vì lợi ích nhỏ nhen và thiện cận, đã chà đạp lên quyền lợi thiêng liêng của đất nước, phản bội lại công lao xây dựng và giữ nước của Tổ tiên.
Đừng bao giờ tin vào những điều họ nói. Nói xong rồi nhổ ra, liếm vào là bản chất của những kẻ trí trá, bất lương.
"Đừng nghe cộng sản nói, hãy nhìn cộng sản làm!", câu nói của cố Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu chính xác hoàn toàn trong mọi trường hợp.
Lê Diễn Đức

Hoàng Trường Sa và lòng yêu nước của người Việt Nam. - Bảo Giang

Hoàng Trường Sa và lòng yêu nước của người Việt Nam.
Tôi dừng lại khi ánh mắt chạm vào dòng chữ “ Hoàng Sa và Hoà Giải Quốc Gia” là tựa đề một bài viết của Huy Đức, đăng trên mạng.

Thoạt nhìn, cái tựa như một gợi ý ôn hòa, tạo ra một phong cách, một góc nhìn nghiêm chỉnh cho vấn đề, hay ít ra cũng là một phương thế nào đó mà tác giả muốn nói đến, hoặc muốn trình bày. Nhưng khi nhìn xuống dưới, tôi giật mình, kinh hãi. Hóa ra không phải là như thế. Vì ngay dòng đầu tiên của bài viết đã là những chữ có sức mạnh công phá dữ dội vào trong tiềm thức của người đọc. Nó phá hủy toàn bộ ý thức nghiêm chỉnh, đứng đắn do việc tác giả đem lòng yêu nước của phía bên này ra định lượng và coi đó là mẫu mực là thước đo để đánh giá về phía bên kia! Tệ hơn, nó còn tạo ra sự ngăn cách, khác biệt từ một câu nói vô ý thức của môt Nguyễn đăng Quang nào đó, được dùng làm mệnh đề chính yếu cho một bài viết rơi đúng vào thời điểm nhạy cảm. Đó là thời điểm mà những người từ miền nam đang tổ những nghi thức tù gia đình, hay tập thể để tưởng nhớ đến những con dân của Việt Nam đã hy sinh trong cuộc chiến chông Trung cộng xâm lược ở Trường Sa vào ngày 17-1-1974.

Ngày đó, những người chiến binh Việt Nam Cộng Hòa đã lấy chính máu xương của mình ra để bảo vệ vùng trời, và biển đảo của quê hương. Sự hy sinh của họ đối với dân tộc Việt Nam là một sự hy sinh vô bờ bến. Một sự hy sinh phải được ghi vào trong sử sách. Một sự hy sinh mà mọi người khi nghe nhắc đến phải cúi đầu, nghiêng mình kính cẩn cảm phục, chứ không phải là một sự hy sinh được đùa giỡn và bày vẽ ra bằng một thứ ngôn ngữ thiếu văn hóa và lễ giáo mà Huy Đức viết lại là: "Hóa ra họ cũng có ý thức bảo vệ đất nước không hề kém chúng ta”. Phải khi Trung Quốc đánh Hoàng Sa, 19-1-1974, ông Nguyễn Đăng Quang - một thành viên của phía Hà Nội trong "Phái đoàn liên hiệp quân sự 4 bên" thi hành Hiệp định Paris (1973) mới nhận ra diều này. Họ ở đây là các sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa, bên mà cho đến nay, nhiều người vẫn gọi là phía "ngụy"! ( hết trích) Và chữ “chúng ta”, dĩ nhiên, được hiểu là bao gồm tất cả hàng ngũ cán cộng nhớn nhỏ từ trung ương đến địa phương. Không có một người dân Việt Nam nào ở trong chữ chúng ta này.

Tại sao tôi phải làm công việc phân biệt rõ ràng như thế sau khi tác giả HD giải thích về chữ “ họ”!

Trước hết, thử hỏi xem. nếu không có chữ “ hóa ra” người miền nam lại là ai đây? Họ (phía người cộng sản) đã đứng ở cứ điểm nào, tựa vào những văn bản làm nền tảng nào để tự đề cao lòng “ yêu nước” của phía mình, rồi ung dung, đánh giá hoặc phỉ báng lòng yêu nước của phía bên kia và gọi họ là “ngụy”? Xin nhớ, chữ “ngụy” ở đây được họ dùng theo một ý nghĩa cực kỳ xấu sa, đểu cáng, là ám chỉ cả miền nam là những tay sai cho thực dân, đế quốc, là những kẻ bán nước cầu vinh, tàn xát đồng bào mình. Còn họ đã tự cho họ là ai đây? Là những ngưòi “ yêu nước”, là một bầy đàn nô lệ hay phản bội tổ quôc, phản bội dân tộc Việt Nam?

Tôi không viết ra câu trả lời có sẵn về họ là ai. Nhưng xin trích ra một vài bản văn nền tảng trong kho tàng lịch sử và tài liệu của họ, bao gồm những bản văn định nghĩa về lòng yêu nước thương nòi của những lãnh tụ vĩ đại của họ như Hồ chí Minh, Phạm văn Đồng ,Trường Chinh viết ra, để thay cho câu trả lời. Đây là những văn bản lịch sử, được coi là bảo vật, là linh hồn của đảng rồi trở thành nền tảng trong tư duy và hành động của họ. Nó là kim chỉ nam trong mọi sinh hoạt của họ. Hơn thế, là sự tự hào về lòng yêu nưóc, thương nòi khác người của họ đấy..

1. Bản văn về chuyện ra đi tìm đường cứu nước, hay đi xin làm công cho ngoại bang của HCM.

Người Việt Nam đã được nghe đảng cộng sản ra rả tuyên truyền về chuyện ra đi tìm đường cứu nước của HCM . Nhưng thực tế chuyện tìm đường cứu nước ấy ra sao, chưa có mấy người nắm vững. Ở đây, xin mời qúy độc giả đọc vài văn bản do HCM viết về hành trình “cứu nước” của ông ta, xem nó thê lương, ảm đạm như thế nào. Và rồi nó được đảng cộng sản đánh bóng lừa phỉnh ngưòi dân ra sao.

Thư Hồ chí Minh xin được trả lương $100 đô la Mỹ một tháng. gủi BCH quốc tế cộng sản.
Từ lúc tôi tới Mátxcơva đã có quyết định rằng sau 3 tháng lưu lại ở đây, tôi sẽ đi Trung Quốc. Bây giờ đã là tháng thứ chín tôi lưu lại và tháng thứ sáu tôi chờ đợi, vậy mà việc lên đường của tôi chưa được quyết định. Vậy chuyến đi sẽ là một chuyến đi để khảo sát và nghiên cứu.
A- Thiết lập những quan hệ giữa Đông Dương và Quốc tế Cộng sản.
B- Thông báo cho Quốc tế Cộng sản về tình hình chính trị, kinh tế và xã hội của thuộc địa này.
C- Tiếp xúc với các tổ chức đang tồn tại ở đó, và
D- Tổ chức một cơ sở thông tin và tuyên truyền.
Tôi hành động thế nào để hoàn thành nhiệm vụ này? Số tiền cần thiết cho sự ăn ở của tôi sẽ là bao nhiêu? - Hẳn là tôi sẽ phải đổi chỗ luôn, duy trì những mối liên hệ với các giới khác nhau, trả tiền thư tín, mua những ấn phẩm nói về Đông Dương, tiền ăn và tiền trọ, v.v., v.v.. Tôi tính rằng, sau khi tham khảo ý kiến các đồng chí người Trung Quốc phải có một ngân sách xấp xỉ 100 đôla Mỹ mỗi tháng, không kể hành trình Nga - Trung Quốc (vì tôi không biết giá vé).Ngày-4-1924 Hồ chí minh toàn tập, tập 2.

Vậy mà đảng ta cứ vênh váo tuyên truyền là “ bác” đi tìm đường cứu nước. Ai ngờ “ bác” đi làm công và xin được trả lương tháng là 100 đô la Mỹ. Mà lại xin tiền Mỹ chứ không phải là tiền Liên Sô hay là nhân dân tệ mới lạ! Xin hỏi nhà văn Huy Đức là, theo tinh thần của lá thư này, tác giả lá đơn xin việc này là kẻ đi làm thuê đánh mướn haylà người đi tìm đưòng cứu nước đây?

Kế đến, Thư ngày 06-6-1938, Hồ gởi Stalin. “Đồng chí hãy phân tôi đi đâu đó, hay là giữ tôi ở lại đây. Hãy giao cho tôi một việc làm gì mà theo đồng chí cho là có ích. ( Với Stalin vào thời điểm ấy, việc giết người hàng loạt cũng là việc có ích?)( HCM toàn tập, tập 3 trang 90). Nếu lá thư trên chưa dủ chứng minh Hồ là kẻ xin đánh mướn chém thuê, thì lá thư này có đủ khả năng chứng minh cho công việc ấy hay không? Khiếp thật! Lãnh tụ nhớn đã vào nghề như thế, hậu duệ của y thế nào đây nhỉ?

2. Bản văn cốt cán trình bày về lòng yêu nước thương nòi của HCM.

Vào ngày 31-10-1952 . Hồ chí Minh đã nổi tiếng khắp năm châu với lá thư sau: “Đồng chí Stalin kính mến, Tôi gởi cho đồng chí đề án cải cách ruộng đất của đảng Lao Động Việt Nam ( tên của đảng cộng sản lúc bấy giờ). Đề án này tôi đã hoàn thành với sự giúp đỡ của hai đồng chí Liu Shaoshi và Van szia-Sian. Đề nghị đồng chí tìm hiểu và đưa ra chỉ thị về đề án này”.

Lá thư này đã chứng minh rõ ràng và sắc nét nhất về lòng yêu nước thương dân của Hồ chí Minh. Bạn đã rùng mình dợn tóc gáy lên chưa? Hỏi thử xem, khi viết lá thư này, Hồ có coi tập thể người Việt Nam là đồng bào với Y hay không? Hay mạng sống của người dân Việt sẽ tuỳ thuộc vào việc Hồ được trả tiền lương là 100 đô la Mỹ hay là nhiều hơn hoặc ít hơn như Y đã xin. Tôi không biết rõ ông ta đuợc trả lương tháng là bao nhiều, nhưng biết chắc cái kết quả xem ra là vô cùng thảm khốc cho dân mình. Bởi vì kế haọch cải cách ruộng đất sau khi được chấp thuận, chỉ có hơn 270000 ngàn người Việt Nam chết trong vụ tổng đấu tố theo đơn xin của Hồ với sự phụ giúp của hai “ quan” cố vần Trung Cộng thôi. Còn việc nướng hàng triệu thanh niên vào cuộc chiến đánh miền nam cho Trung Cộng và liên Sô theo lời của Lê Duẩn là chưa tính tới! Nay bạn đã hiểu rõ lòng yêu nước thương nòi của “ bác” chưa?

3. Bản văn về việc bảo vệ vẹn toàn lãnh thổ.

Trên là những lá thơ yêu nước nồng nàn của HCM. Và đây, văn bản của thủ tướng thuộc phe của tác gỉa Huy Đức đã nêu cao phương cách bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ của đất nước cho toàn đảng noi theo đây:

“CHÍNH PHỦ NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ CÔNG NHẬN QUYẾT ĐỊNH VỀ HẢI PHẬN CỦA TRUNG-QUỐC
Thưa đồng chí Chu Ân-lai,
Tổng lý Quốc vụ viện nước Cộng hoà nhân dân Trung-hoa,
Chúng tôi xin trân trọng thông báo tin để đồng chí Tổng lý rõ:
Chính phủ nước Việt-nam dân chủ cộng hoà ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng hoà nhân dân Trung-hoa, quyết định về hải phận của Trung-quốc.
Chính phủ nước Việt-nam dân chủ cộng hoà tôn trọng quyết định ấy và chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung-quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà nhân dân Trung-hoa trên mặt biển.
Chúng tôi xin kính gửi đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng.
Hà Nội, ngày 14 tháng 9 năm 1958
PHẠM VĂN ĐỒNG”

4. Bản văn xác định về chủ quyền và Độc Lập của Tổ Quôc của cộng sản VN.

Và đây, văn bản chính thức trình bày về việc xác định sự độc lập cho tổ quốc CHXHCHVN do TBT đảng cộng sản ấn ký. Nó là bản văn nền tảng hướng dẫn cho mọi sinh hoạt của đảng sau này để cho Việt Nam mau chóng được thu nhận là một chư hầu cho ngoại bang và đưa toàn dân Việt Nam ta vào vòng nô lệ cho Tàu khựa đây. Nó cũng chính là lòng tự hào, và là niềm hãnh diện to lớn nhất của đảng, của tất cả mọi thế hệ đoàn đảng viên CS và cán bộ của nhà nưóc CHXHCHVN đấy!

Việt Minh Vận Động cho Việt Nam làm Chư Hầu Trung Quốc
ỦY BAN HÀNH CHÁNH KHÁNG CHIẾN VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG Hòa
Hỡi đồng bào thân mến!
Tại sao lại nhận vào trong nước Việt Nam yêu mến của chúng ta, là một nước biết bao lâu làm chư hầu cho Trung quốc, cái thứ chữ kỳ quặc của bọn da trắng Tư Bản đem vào! Tại sao ta lại truyền bá trong dân chúng từ ải Nam Quan đến mủi Cà Mau, cách viết chữ dị kỳ của tên thực dân Alexandre de Rhodes đã đem qua xứ mình như thế ?
Không, đồng bào của ta nên loại hẳn cách viết theo lối âu tây ấy – một cách viết rõ ràng có mau thật đấy – và ta hãy trở về với thứ chữ của ông bà ta ngày trước, là thứ chữ nho của Trung Quốc.
Vả chăng, người Trung Hoa, bạn của ta – mà có lẽ là thầy của chúng ta nữa, ta không hổ thẹn mà nhìn nhận như thế – có phải là dân tộc văn minh trước nhất hoàn cầu không?
Còn nói gì đến y khoa của Âu Mỹ: Chúng chỉ cắt, đục, khoét, nạo! Có thế thôi! Hỡi đồng bào yêu mến! Chúng ta hãy gạt bỏ cách chữa bệnh của bọn Ðế quốc phương Tây đem qua xứ ta! Ta hãy bỏ nhà bảo sinh của chúng, bỏ bệnh viện của chúng, ta hãy dùng thuốc dán của ông cha ta để lại và nhất là dùng thuốc Tàu danh tiếng khắp cả hoàn cầu. Ta hãy trở về phương pháp này, trước nữa để ủng hộ các bạn Trung Hoa, sau nữa để loại ra khỏi nước Việt Nam yêu mến của ta bao nhiêu những đồ nhập cảng thực dân như là khoa hoc, phát minh v.v.
Ta hãy quét sạch lủ “trí thức” đã xuất thân ở các trường Âu Mỹ, đế quốc và thực dân! Chúc “Tổng phản công” và “Thi hành mọi phương pháp bài trừ thực dân”.
Trường Chinh , Tổng thư ký đảng Lao Ðộng ( cộng sản)”

Sử sách sau này sẽ bình luận ra sao về lòng yêu nước của cộng sản đặt nền tảng vào lý thuyết tam vô và những bản văn dẫn chứng này? Họ là thế, nhưng phía ngưòi miền nam nói riêng, ngưòi Việt Nam nói chung, lòng yêu nước của họ đặt trên những nền tảng nào?

5. Những bản văn liên quan đến lòng yêu nước thương nòi của miền nam từ 1954-1975.

Diễn văn của Tổng Thống Ngô Đình Diệm phát biểu nhân dịp khánh thành Đập Đồng Cam ở Tuy Hòa vào ngày 17 tháng Chín, 1955:

Ở đây, tôi xin mở một dấu ngoặc là. Tôi có thể trân trọng và viết đầy đủ dòng chữ Tổng Thống Ngô Đình Diệm nhưng không bao giờ viết đầy đủ, chức vụ cũng như cái tên của Hồ chí Minh, không phải tôi là người kỳ thị, có đôi xử không công bằng. Nhưng, một kẻ đã viết thư xin phép ngoại bang để di giết dân Việt Nam thì thật không dáng để cho tôi viết ra cái tên ấy với chút lòng trân trọng, nên những Trường Chinh , Phạm văn Đồng cũng thế)

“Chúng ta hiện nay đang tiếp tục cuộc chiến đấu lớn lao để hoàn thiện nền độc lập của quốc gia chúng ta và để đảm bảo tự do của nhân dân chúng ta. Cuộc đời của chúng ta, tự do của chúng ta, hạnh phúc của chúng ta và cuộc đời, tự do, và hạnh phúc của con cháu chúng ta đều phụ thuộc vào cuộc chiến đấu này. Nếu Việt Minh thắng trong cuộc đấu tranh này, quốc gia thân yêu của chúng ta sẽ biến mất và nước chúng ta sẽ chỉ được đề cập đến như là một tỉnh phía nam của Trung Cộng. Hơn nữa nhân dân Việt Nam sẽ mãi mãi sống dưới ách độc tài do Mạc Tư Khoa, Trung cộng tạo ra và sẽ bị tước mất tôn giáo, tổ quốc và gia đình.” Nguồn: Major Policy Speeches by President Ngo Dinh Diem

6. Và đây là một nhận xét của người ngoài nói về vị nguyên thủ này và về HCM nữa.

TT R. Nixon viết: Không giống Hồ, Diệm là một người yêu nước chân chính. Diem quyết tâm duy trì độc lập chủ quyền và thường phản bác hoặc không quan tâm đến những ý kiến của các cố vấn người Mỹ. Nói chung, ông tự hào là một người quốc gia không chịu nghe theo những chỉ thị đến từ người Mỹ cũng như trước đây từ phía người Pháp. No more Viet Nam, Richard Nixon 57-62

Phần TT Thiệu, Tuy không có được cái nhìn sâu sắc như TT Diệm, nhưng ông đã để lại cho đời, không phải chỉ cho Việt Nam thôi đâu, mà cho tất cả, một câu nói đủ làm vốn sống cho mọi ngưòi. Bởi vì nó còn đúng cho đến vạn vạn đời là: “Đừng nghe những gì cộng sản nói, nhưng hãy nhìn kỹ những gì chúng làm”?

Lạ qúa. Tôi tìm kiếm mãi, mà không phải chỉ có một mình tôi, nhưng có lẽ tất cả mọi nhà văn nhà báo trên thế giới, kể cả những bút nô cực bỉ tiện của CS, cũng không ai, hay không có thư viện nào ghi, lưu lại được một câu nói, một văn bản nào của TT Diệm để người ta có thể hiểu ra rằng ông ta cũng đi xin việc, van lạy ngoại nhận thu nhận như một kẻ làm công và hứa, nếu được chủ nhân trả tiền thì ông ta có thể làm bất cứ diều gì mà chủ nhân cho là có ích như HCM đã làm, Nhưng chỉ thấy sử, sách còn ghi. Ông ta đã từ bỏ chức Thượng Thư bộ lại vào năm 31 tuổi với số tiền lương bổng lên đến 400 đồng bạc ( có thể tiền lương này lớn gấp mười lần lương của một quan huyện vào lúc bấy giờ?) chỉ vì phản đối sự chuyên quyền của viên Công Sứ Pháp! Rồi cũng không có bất kỳ người nào ghi nhận được hay tìm ra vài chữ trong các văn bản của ông ký với cái lời lẽ, hay có chút nội dung như Hồ đã trình với Sta lin. Trái lại, chỉ thấy ông cam nhận cái chết để bảo toàn sự Độc Lập, chủ quyền của đất nước.

Rồi với TT. Thiệu cũng thế. Không ai có thể tim ra bất cứ một mẫu văn bản bán nưóc nào như Phạm văn Dồng đã viết. Hoặc gỉa, cũng không thể tìm ra bất cứ một câu một chữ nào xin làm chư hầu, làm nô lệ cho ngoại bang như như Trường Chinh đã viết thay mặt cho đảng của Y. Như thế, nếu chỉ đem vài điểm này ra so sánh thì HCM với NĐD khéo là một cách biệt đối kháng tuyệt đối. Một bên là con cú đầy hôi hám trong bóng tối và một bên như phượng hoàng giữa lưng mây nhỉ? Tuy tế, tôi không cho rằng, những bản văn này là nền tảng tạo nên tư duy, hay là kim chỉ nam cho lòng yêu nước của người miền nam. Trái lại, đó chỉ là một phản ảnh tích cực trong tinh thần yêu nước của người miền nam Việt Nam mà thôi.

Như tôi đã viết ở trên và cộng sản cũng từng hãnh diện và tuyên truyền là. “Yêu nước là yêu xã hội chủ nghĩa” . Nghĩa là lòng yêu nước của họ dựa vào những điểm tất yếu của chủ nghĩa tam vô. Vô gia đình vô tôn giáo vô tổ quốc của K. Mark.và được thực hiện bởi chủ nghĩa bạo tàn và gian trá của Lê Hồ Mao. Với họ, chỉ có một thế giới đại đồng mà thôi. Đó là lý do, Lê Duẩn tuyên bố khi đi Bắc Kinh là: “cuộc chiến này là đánh cho Liên Sô, đánh cho Trung quốc, cho xã hội chủ nghĩa”. Nhưng mỉa mai thay, nó lại được chôn vùi dưới một chiêu bài vô đạo để lừa dối người dân miền bắc là đi“ chống Mỹ cứu nước”. Nên từ bản chất lòng yêu nước của họ đã là giối trá. Bởi vì, nếu Hồ chí Minh, Lê Duẫn công bố những bản văn trên cho toàn dân miền bắc biết. Và phát lại trên đài phát thanh, được loan truyền rộng rãi trên báo chí tại miền bắc cùng hay. Hỏi xem, có một ngưòi Việt Nam nào gia nhập vào đoàn sinh bắc tử nam hay không? Tôi cho là sẽ không có một ngưới nào cả, và CS miền bắc cũng không có đủ khả năng làm nhà tù để giam giữ những người thanh niên Việt Nam nhất quyết không lên đường vào đánh miền nam cho Trung cộng và cho Liên Sô. Bởi vì, người Việt Nam yêu tổ quốc bằng truyền thống bằng lịch sử, bằng dòng mau hào hùng chống ngoại xâm của cha ông. Nên có khi nào họ vào đánh miền nam để mở đầu cho cuộc làm nô lệ cho Trung cộng theo ý của tập đoàn gian trá này?

Trong khi đó, lòng yêu nươc của của đồng bào và của quân cán chinh miền nam sáng tỏ như ánh đèn trời cao sang. Đặt trên nền tảng của lương tri và quán tính của dân tộc. Bắt nguồn từ dòng lịch sử có từ hơn bốn ngàn năm trước. Lòng yêu nươc của họ khởi đi từ dòng máu hào hùng của tiền nhân. Bước đi của họ được soi sáng, được dẫn lối bằng những tấm gương xả thân cho đại nghĩa. Họ noi theo dấu chỉ của những anh hùng Trần bình Trọng, Lý thuờng Kiệt đến những đấng quân vương như Ngô Quyền, hai bà Trưng. Như đức Hưng Đạo Vương, đức Lê thái Tổ, Đức Quang Trung, tất cả chỉ vì tiền đồ của Tổ Quốc và sự trường tồn của dân tộc Việt mà tiến bước. Đơn giản hơn, lòng yêu nước của họ “ vươn cao trên đỉnh thác trảm Hoàng Thao”. Họ yêu thanh bình, trọng đạo nghĩa, giữ trọn luân thường đạo lý, bảo tồn nền văn hóa nhân bản của dân tộc. Biên cương đã có định phận. Họ không xâm lấn ai, nhưng mảnh đất của tiền nhân để lại, cũng không để một kẻ nào có thể xâm phạm. Họ được tôi luyện bằng ý chí quật cường theo truyền thống của cha ông. Họ đã sống, họ đã yêu vì cuộc sống trường tồn của nòi giống. Họ sống và yêu nước bằng lối sống thuần lương, trung hậu của dân tộc.

Như thế,, lòng yêu nước của miền nam nói riêng và của người Việt Nam noi chung, hoàn toàn khác biệt và đối kháng với cái lòng yêu nước của tập đoàn cộng sản. Một bên là duy lý dối trá và biện chứng duy vật. Một bên là lương tri chân thật và tinh thần nhân bản. Sự khác biệt này giống như nước với lửa. Như trời với đất. Như thiên đàng và địa ngục. Nên dù cộng sản có cưỡng đoạt ngôn từ và gọi xã hội của họ là thiên đường cộng sản thì nó vẫn là một thứ địa ngục khủng khiếp có thật trên trần gian. Nó khủng khiếp đến nổi mọi người đều muốn xa lánh nó. Vì ở đó chỉ có đảng quyền, đảng lợi. Không bao giờ có dân quyền và dân lợi và dân sinh.

Đã là một khác biệt đối kháng nhau như thế, làm sao có thể đem ra so xánh? Làm gì có chuyện ” hoá ra họ cũng có ý thức bảo vệ đất nước không hề kém chúng ta”. Nói thế là sai rồi, muốn so sánh thì câu nói ấy phải là: “ Hóa ra, chúng ta chỉ là một lũ bạo tàn, không tim óc. Không hề biết đến lòng yêu nước theo nhân bản tính như họ!”. Đó mới là một phản ảnh đứng đắn. Ngoài ra chỉ là giả dối, lừa gạt. là kệch cỡm, vô tri luận.

Vì không biết mình, cũng chẳng biết ngưòi, chỉ tựa vào chủ nghĩa hung tàn nên họ đã mở ra cuộc đấu tố tàn sát hàng trăm ngàn người dân vô tội. Một cuộc tàn sát thô bạo, man rợ đáng nguyền rùa thì HCM lại vênh váo là một chiến thắng long trời lở đất! Hỡi ơi, Giết hàng trăm ngàn ngưòi dân mà công bố là một chiến thắng long trời lở đất thì thật khó mà chứng minh cho cái tư duy và hành động ấy là của một con ngưòi!

Cũng thế, chính vì khác biệt trong nền tảng của lòng yêu nước nên mới có hàng chục Nghĩa trang liệt sỹ Trung cộng với tường cao, tượng đài lừng lẫy, đứng sừng sững giữa lòng đất Việt Nam và được các cấp lãnh đạo của họ cúng tế đủ bốn mùa. Trong khi đó, hàng hàng chiến binh Việt Nam bị tàn phế vì cuộc chiến 1979 lê la ở đầu đường đường xó chợ để khất thực qua ngày. Và người chết thì không có mồ chôn thây, hoặc giả, chỉ có hàng hàng lớp bia tàn nhang lạnh! Hoặc chỉ thấy con cháu của Hưng Đạo Vương, Quang Trung của hai bà Trưng như Điếu Cày, Công Nhân, Nguyễn văn Đài, Minh Hạnh, Hà Vũ, Công Định, Duy Thức hay Việt Khang, Nguyên Kha, thậm chí một em bé 20 tuổi đời như Phương Uyên phải lê la trong chốn nhà lao của bác đảng vì chống Tàu tranh đấu cho Công Lý và Nhân Quyền! Nhìn những cảnh lạ này, không biết tác giả của “ Hoàng Sa và Hoà Giải Quốc Gia” và phía bên kia có hãnh diện và tự hào về lòng yêu nước với bác đảng không?

Tiếc rằng, nhiều người Việt Nam cứ tưởng sau nhiều năm, được tinh thần nhân bản của miền nam giáo hóa, cái tư duy bán nước, xin làm nô lệ của những tập thể đi trước sẽ cùn dần đi trong lớp đến sau. Nhờ đó, họ sẽ khá hơn đôi chút. Nào ngờ, vẫn một cái mũ cối úp chụp lấy mặt và họ vẫn hãnh diện đi theo cái giây rợ nô lệ dẫn đường! Như thế, con đường Hóa Giải duy nhất cho vấn đề của Việt Nam hôm nay là con đường mà TT Boris Yelsin đã vạch ra “ Cộng sản không thể sửa chữa, nhưng phải đạp đổ nó”. Nóí cách khác, chỉ có một con đường Hóa Giải duy nhất cho những tồn đọng của dân tộc Viêt Nam từ mấy chục năm qua là phải Chôn Nó Đi.

Hãy Chôn Nó Đi. Vì lúc chôn nó đi cũng là lúc tống táng tất cả những văn bản man rợ làm nền tảng cho cái chế độ ấy đi. Để từ đó, tất cả mọi ngưòi Việt Nam đều có cơ hội chung tay xây dựng lại một Việt Nam trong thanh bình. Ở đó là một chế Cộng Hòa. Ở đó là Tự Do Dân Chủ. Ở đó là một quốc gia Độc Lập có chủ quyền. Ở đó, quyền tự do Tôn Giáo, quyền tư hữu của tập thể, của cá nhân được luật pháp tôn trọng và bảo vệ. Ở đó Công Lý, Nhân Quyền được luật pháp minh danh thực thi. Để ở đó, yêu nước là sự thể hiện tình yêu thương đồng bào, là yêu nghĩa dân tộc, là bảo vệ chủ quyền và sự vẹn toàn lãnh thổ của Quốc Gia. Là “ bầu ơi thương lấy bí cùng”, đồng thời cũng là sự thể hiện nền văn hóa nhân bản hiền hoà, hiếu khách của dân tộc ta bằng phong cách ôn nhu và ngôn từ đạo lý.

Đó chính là con đường Hóa Giải duy nhất, đòi buộc chúng ta, không trừ ai, phải thực hiện một cách đứng đắn trong thời của chúng ta. Khi chúng ta thực hiện con đường Hóa Giải này thì cũng chính là lúc chúng ta cử hành nghi thức truy điệu anh linh các bậc tiền nhân, những người đã hy sinh vì Tổ Quốc một cách nghiêm chỉnh nhất, hoàn thiện nhất. Và đó cũng chính là sự thể hiện lòng yêu nước của chúng ta.

Xương trắng tiền nhân xây đất mẹ,
Máu hồng con cháu giữ quê hương

Bảo Giang
17-1-2014. 
 http://www.thegioinguoiviet.net/showthread.php?t=26608