Thứ Bảy, 4 tháng 12, 2010

Khi người khổng lồ vấp ngã

Những người to lớn béo phì vấp ngã, sẽ rất khó khăn để gượng dậy, đứng thẳng và đi tiếp.

Đây là hình ảnh để bàn về nước Trung Hoa hiện nay.

Nước Trung Hoa 1 tỷ 300 triệu dân, là nước đông dân nhất, đất rộng thứ nhì (sau nước Nga), được coi là người khổng lồ của thế giới.

Đặng Tiểu Bình là một nhân vật nổi bật của nền chính trị Trung Hoa thời hiện đại. Ông giữ chức Tổng bí thư Đảng CS Trung Quốc rất lâu, 3 lần bị thất sủng, mất chức, cuối cùng là Phó chủ tịch đảng, Chủ tịch Đảng ủy Quân sự trung ương; ông mất năm 1997, tròn 92 tuổi.

Về mặt tư tưởng chính trị, Đặng được người Trung Quốc coi là nhà tư tưởng kiệt xuất thứ 2, chỉ sau Mao. Người ta suy tôn ông là nhà mưu sĩ thượng thặng, là một quân sư xuất chúng. Ông đánh cờ rất cao, chơi bài bridge càng cao, từng sống ở Nga, ở Pháp lâu năm, nói trôi chảy tiếng Pháp, Nga, biết cả tiếng Đức, tiếng Anh.

Trước khi chết ông để lại những lời căn dặn sâu sắc cho toàn đảng, được coi là những lời di chúc quý báu, được các nhà lý luận trẻ đúc kết thành «Mười điều cảnh báo của Đặng Tiểu Bình».

Những cảnh báo quan trọng nhất của ông là:

-phân hóa lưỡng cực giàu nghèo trong xã hội là một nguy cơ cực lớn,
mầm mống của nổi loạn giữa các vùng, các dân tộc, giữa trung ương và các địa phương, khi phân hóa giai cấp trở nên sâu sắc, bất công trong xã hội lan tràn chỉ vì lợi ích phân bổ không đều;

-phải làm cho cả cộng đồng dân tộc cùng hưởng lợi ích của phát triển, của sự giàu có, không để ai quá nghèo, không để ai quá giàu, đó là CNXH mang màu sắc Trung Quốc, không đạt thì nguy;

-để cho phân hóa lưỡng cực xảy ra, gây mầm cho xã hội bất an, cho hỗn loạn, cho sự nổi loạn của quần chúng, sẽ là thất bại hiển nhiên của công cuộc cải cách, đã được cảnh báo trước;

-nông dân vẫn chiếm quá nửa số dân, coi nhẹ phát triển nông thôn, nông nghiệp, nông dân sẽ là một nguy cơ lâu dài tệ hại nhất, là thất bại chiến lược hiển nhiên của cải cách;

-thành tựu trên các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa… đều phải làm cho toàn dân ở khắp nơi cùng hưởng, không đạt thì xã hội thoái hóa nguy hiểm;

-riêng giáo dục là lĩnh vực then chốt, là sự nghiệp lớn nhất, tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội;

-nguy cơ lớn nhất nếu có sẽ là đến từ nội bộ đảng, lãnh đạo không gương mẫu, đảng viên hết tận tụy, mất bản chất cách mạng thì nguy cơ cực lớn;

-cải cách thể chế chính trị không đi song song với cải cách kinh tế, không theo hướng dân chủ và pháp chế, sẽ là nguy cơ sụp đổ của chế độ…

-về đối ngoại, đường lối là mở cửa, là hội nhập. Cần thấy rõ những nhược điểm, yếu kém của ta. So với các nước, tuy ta có tỷ lệ phát triển cao, nhưng chất lượng yếu, tính theo đầu người còn kém rất xa. Cần có 30 năm hay hơn nữa mới kịp họ hiện nay. Về quân sự cũng vậy. Ta có quân đông, bộ binh mạnh, nhưng không quân, hải quân rất nhỏ, yếu. Vài chục năm nữa, ta hãy thu mình lại, nghiến răng mà phát triển. Đừng để lộ ý đồ. Hãy giữ một thế khiêm tốn. Kiêu căng, không lượng sức mình là có hại.

Trong những buổi họp cuối cùng của Đảng ủy Quân sự trung ương năm 1996, Đặng căn dặn kỹ, còn gặp riêng Giang Trạch Dân để nói sát tai, rằng: « Hãy biết tự chế, để không tiết lộ tham vọng và làm cho kẻ khác canh phòng ta»; «ta phải biết nhẫn nhục, che dấu mục đích tối hậu»; «ta phải biết kiên trì chờ đợi thời cơ»; «ta còn phải có mưu cao, nói một đằng làm một nẻo».

Cuối cùng Đặng tóm tắt phương châm đối ngoại là: «Thao quang, dưỡng hối», là che dấu ánh sáng, nuôi dưỡng bóng tối. Nghĩa là làm việc âm thầm, phát triển kín đáo, nghi binh, lừa dối địch thủ cho họ mất cảnh giác, bị bất ngờ, sẽ không kịp trở tay. Đặng khuyên: «Ta phải làm như ta không có tham vọng gì về quân sự, ngân sách quân sự giữ kín, cứ như ta bằng lòng với nguyên trạng…». Có người dịch phương châm trên là «ẩn mạnh, phô yếu», nghĩa là mấy chục năm hãy làm như ta yếu lắm, che dấu chỗ ta mạnh lên.

Đặng cũng có lần răn đe lãnh đạo của đảng CS Trung Quốc rằng kinh nghiệm « Đại nhảy vọt», «Cách mạng văn hóa» thời Mao cho thấy Trung Quốc là người khổng lồ to xác, nếu trượt chân ngã là đau, nguy hiểm, khó gượng dậy như một người bình thường. Lời răn xuất phát từ thực tế sinh động, hiển nhiên, đau xót thời Mao.

Thế mà Hồ Cẩm Đào đã quên lời dặn của quân sư họ Đặng. Kiêm nhiệm cả 3 chức to nhất: Tổng bí thư, Chủ tịch nước, Chủ tịch Đảng ủy Quân sự trung ương, Hồ đã huênh hoang khoác lác, lớn tiếng dọa giải phóng Đài Loan bằng vũ lực, dàn thêm hàng trăm tên lừa dọc bờ biển Quảng Đông, công khai khoe căn cứ hải quân cho tầu ngầm nguyên tử ở phía Tây đảo Hải Nam đã hoàn thành, tuyên bố bừa biển Nam Hải (biển Đông của Việt Nam) là thuộc địa bàn cốt lõi (sinh tử ) của Trung Quốc, không ai được bàn cãi!

Viên tướng Trì Hạo Điền đã về hưu, nhân vật diều hâu nổi tiếng liền viết bài phổ biến trên mạng Sina.com của Tân Hoa Xã huênh hoanh về tham vọng trong tầm tay của Trung Quốc. Nào là «thế kỷ 21 là thế kỷ của Trung Hoa»; «Đảng CS Trung Quốc là lực lượng lãnh đạo thế giới»; nào là «dân tộc Hán là dân tộc siêu đẳng, cao hơn hẳn dân tộc Nhật Nhĩ Man của Đức thời Hitler». Thật là kinh khủng khi tướng Trì hò hét như điên: «Con cháu chúng ta được quyền làm chủ đất Hoa Kỳ để có không gian sống cho một dân tộc siêu đẳng», «dù cho giết 100, hay 200 triệu người Mỹ tuy có tàn nhẫn, nhưng là con đường duy nhất để bảo đảm sinh tồn cho dân ta», «như Mác đã dạy bạo lực là động lực của lịch sử», «chiến tranh là bà Mẹ để đẻ ra kỷ nguyên Trung Quốc lãnh đạo thế giới khi đất Trung Quốc khô cằn chỉ nuôi được 500 triệu dân». Tướng diều hâu này còn dọa là «Trung Quốc đi tắt, không cần đến bom nguyên tử, Trung Quốc đang có vũ khí sinh hóa – vi trùng, chỉ cần những làn gió là giết hàng triệu sinh mạng»!

Thế là Hồ Cẩm Đào và nhóm bộ hạ hiếu thắng, ngựa non háu đá của ông ta đang phản lại những lời di huấn tâm huyết mang tính ngăn ngừa của quân sư thượng thặng Đặng Tiểu Bình. Tất cả các think tank (túi khôn ) ở phương Tây đã và đang nghiên cứu kỹ những động thái chiến lược mới của Bắc Kinh. Vì sao viên đại sứ Tàu ở Hà Nội dám răn đe thẳng ngoại trưởng Phạm Gia Khiêm là «hợp tác thì có lợi, chống đối thì thất bại»? Vì sao Vương Hàn Lĩnh lãnh đạo của Viện khoa học xã hội Trung Quốc đến Việt Nam dám dọa rằng «các anh sẽ hứng chịu xung đột bằng vũ lực và chiến tranh, không tốt cho tương lai», và ngạo mạn khẳng định: «Việt Nam đến năm 1885 vẫn là thuộc quốc của Trung Quốc».

Thế là tự mình Trung Quốc đã phơi bày hết tham vọng ngông cuồng của họ. Họ đã phô bày tất cả ruột gan, tham vọng bá chủ toàn cầu bằng bạo lực hung hãn điên loạn nhất. Họ đã đưa tàu chiến đến biển Đông, đến biển Nhật Bản, đến Ấn Độ Dương, diễu võ dương oai. Họ đã đứng sau lưng hỗ trợ cho Bắc Triều Tiên đánh đám tàu chiến của Nam Triều Tiên. Họ vẫn hỗ trợ, khuyến khích ngầm Bắc Triều Tiên sản xuất vũ khí hạt nhân. Họ còn cho tàu ngầm cắm cờ đỏ 5 sao vàng dưới đáy Thái Bình Dương để xí phần tài nguyên đáy biển một vùng rộng lớn. Họ đã làm cho cả khối Đông Nam Á giật mình, cảnh giác.

Rõ ràng cái phương châm khôn ngoan của quân sư họ Đặng đã bị Hồ Cẩm Đào vứt bỏ, do kiêu ngạo, chủ quan, duy ý chí, ngông cuồng và mạo hiểm khi lực bất tòng tâm, sức quân sự còn quá non, quá yếu, phải chừng 15 năm nữa lực lượng không quân và hải quân mới ngấp nghé bằng Mỹ hiện nay – mà khi ấy lực lượng của Mỹ sẽ tăng đến mức cao nữa.

Do đó những lời đe doạ ngông cuồng của thế lực hiếu chiến chẳng đe, chẳng dọa được ai.

Và gậy ông đã đập lưng ông. Mỹ đã mạnh mẽ khẳng định trở ngay lại biển Đông, trở lại ngay Thái Bình Dương, trở lại ngay Ấn Độ Dương, trở lại ngay châu Á trên thế mạnh. Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ được tăng cường và có mặt thường xuyên ở vùng biển Nhật Bản và Tây Thái Bình Dương.Tổng thống Barack Obama đích thân đi thắt chặt quan hệ chinh trị, kinh tế, quân sự với các nước đồng minh châu Á – Indonesia, Ấn Độ, Nhật Bản và Nam Triều Tiên.

Thế là Trung Quốc bị hố, bị tẽn tò, bị hẫng, bị cô lập.

Cho nên họ phải dịu giọng, phải xuống thang. Họ đã thanh minh, không còn coi bỉển Đông là vùng cốt lõi như Tây Tạng, Đài Loan, mà là vùng quan trọng. Họ phải thuyết phục Bắc Triều Tiên trở lại họp 6 bên. Có thể nói kỳ này người khổng lồ chưa vấp ngã lăn kềnh để khó lòng vươn dậy. Người khổng lồ vừa vấp nhẹ, bị trượt vỏ chuối, mất thăng bằng, bị chúi mũi. Mất tư thế. Đau. Ăn một đòn cảnh cáo nghiêm khắc cho kẻ chưa đỗ ông nghè đã đe hàng tổng, Mất đà, mất sức.

Cũng là một thất bại nặng, rất nặng, hiển nhiên về chính trị, về chiến lược.

Thất bại nặng nhất của Trung Quốc là từ nay Hoa Kỳ không còn coi Trung Quốc là đối tượng hợp tác bình đẳng, chia sẻ trách nhiệm trong công việc chung của thế giới.

Trung Quốc từ nay được nhận định đúng là một đất nước độc đoán, tước đoạt quyền tự do của công dân và là một nhân tố vô trách nhiệm, bành trướng, gây rối, reo rắc mầm chiến tranh trên thế giới, cần giám sát chặt, cần kịp thời ngăn chặn những mưu đồ, tham vọng từ trong trứng.

Chính nhiều học giả, viên chức có trách nhiệm cao ở Trung Quốc đã nhận xét: chưa phải lúc để nhe nanh, múa vuốt, khi nanh còn non, vuốt còn mềm, khi người khổng lồ thật ra còn có đến 10 gót chân A-sin!

Bùi Tín
VOA Tiếng Việt Cập nhật Thứ Sáu, 03 tháng 12 2010 RSS

Nguồn : dongthtran@yahoo.com.au

Thứ Tư, 1 tháng 12, 2010

Đấu Tranh Giữa Lòng Địch

 
Bà Aung San Suu Kyi là một nhà đấu tranh bền bĩ cho dân chủ, nhà đối lập chính của chế độ quân phiệt Miến Điện, nổi tiếng khắp Miến Điện và thế giới. Trong 21 năm đấu tranh Bà bị bắt bớ, giam cầm mất 15 năm. Bà không rời khỏi nước, không xa đồng bào. Sau khi Bà được nhà cầm quyền độc tài quân phiệt trả tự do, Bà rất hoà nhã, không tỏ vẻ hận thù. Bà vẫn tập trung sức lực hàn gắn chia rẽ, kêu gọi đoàn kết dân tộc, đối thoại với nhà nước và tái tập họp đảng của Bà lại.

Hàng mấy chục năm không được gặp con cái ở hải ngoại, chồng chết ở ngoại quốc, Bà cắn răng chịu đựng không đi dự tang lễ vì biết chắc ra đi thì quân phiệt không cho về, sẽ bị nhà cầm quyền nhổ trốc gốc rể quân chúng. Điều đó cho thấy đấu tranh chánh trị trong lòng địch phải hết sức uyển chuyển, mềm dẻo, bám sát địa bàn, chớ không phải nói những lời dao to búa lớn, và làm những chuyện rất nổi, rất nổ để báo chí đăng tin. Để rồi không vào tù thì vô cửa tử bị ám sát hay trục xuất cho đi tỵ nạn chánh trị ở ngoại quốc xa rời quần chúng. Và từ đó mới thấy những nhà tranh đấu ở trong nước nhà VN rất có lý khi bám pháp lý của CS mà đấu lý với nhà cầm quyền CS Hà nội. Và lúc nào cũng dùng phương pháp bất bạo động, thức tĩnh quần chúng dần dần cuộc đấu tranh đi vào lòng dân, vào quần chúng, biến thành phong trào nhân dân về chất cũng như về lượng – đó là lúc kết liểu nhà cầm quyền hại dân hại nước. Sau đây là một số phương cách mà Bà Aung San Suu Kyi đã làm đáng cho người Việt suy gẫm và kinh nghiệm.

Một, kiên trì và dũng cảm bám địa bàn trong nước chớ không phải hải ngoại. Hải ngoại chỉ yễm trợ tinh thần, vật chất, và quốc tế vận thôi. Chính người trong nước là những người nắm vững tinh hình, nhân tính thế thái, quyền biến họp thòi cơ, địa lợi, nhơn hoà, nên là lãnh đạo chỉ huy và hành động sát thực tế dễ đi đến thành công. Nên trong 21 năm đấu tranh Bà Aung San Suu Kyi bị tù dưới nhiều hình thức từ tạm giam, biệt giam, kiên giam, quản thúc tại gia 15 năm, lúc nào Bà cũng ở trong nước. Chồng chết ở ngoại quốc, các con ở ngoại quốc, nhớ thương Bà vẫn cắn răng chịu đựng vì Bà biết quân phiệt muốn tồng khứ Bà ra khỏi lòng dân, khỏi tổ quốc, nếu Bà đi thì họ không bao giờ cho Bà trở lại.

Hai, dù thừa biết kết thúc của đại đa số các công cuộc hay phong trào đấu tranh của nhân dân thường là cuộc cách mạng, tức thay cũ đổi mới khó mà tránh bạo lực. Bạo lực nhiều hay ít thôi dù khi đấu tranh thường phải nói là ôn hoà, bất bạo động. Cũng như khi đấu tranh không tỏ ra hận thù, hằng học, hung hăng, không bạo động, mà luôn hoà dịu. Có thế mới không trái với tập tục ngoại giao. Xu thế thời đại và qui tắc ngoại giao không chủ trương giúp một tổ chức nào lật đổ chánh quyền bằng bạo lực đối với một nước có bang giao.

Nên khi được quân phiệt trả tự do, chính một tướng lãnh đến đọc lịnh thả, sau đó Bà xuất hiện trước đồng bào hàng ngàn người chờ đón, Bà không tỏ vẻ hận thù mà nở nụ cười khoan dung, phúc hậu, chào đồng bào với hoa gài trên mái tóc. Bà chỉ nói đến doàn kết, hàn gắn chia rẽ. Bà không chỉ trích cuộc bầu cử mà cả thế giới chê bai là dàn dựng và không dân chủ, đã loại đảng của Bà và Bà (Đảng của bàì bị giải tán, hơn 2000 đồng chí của bà bị tống giam).
Trái lại Bà kêu gọi thả hơn 2000 tù chánh trị để hoà giải, hàn gắn tình đoàn kết dân tộc. Bà kêu gọi quốc tế giúp mở cuộc “đối thoại» với chính phủ.

Thái độ và hành động đầu tiên của Bà rất êm, nhưng có thể trở thành một đòn rất thấm đau cho nhà cầm quyền quân phiệt. Đối với quốc nội, quân phiệt không đáp ứng thì tỏ thêm sự thiếu thiện chí đoàn kết quốc gia, mất lòng dân hơn nữa. Đối với quốc ngoại, quân phiệt không đáp ứng thí những chế tài của các cuờng quốc đối với Miến Điện càng siết thêm quân phiệt. Việc quân phiệt cấp chiếu khán cho con trai của Bà về thăm Bà ở Miến Điện một phần cũng là một tương nhượng mặc thị của quân phiệt muốn tỏ cho quốc tế thấy.

Ba, nhìn về VN. VN chưa có một lãnh tụ có tầm cỡ quốc nội và quốc tế như Bà Aung San Suu Kyi. Không phải vì thiếu người mà vì CS dùng đủ mọi cách tiêu diệt những lãnh tụ chánh trị và các cuộc đấu tranh chánh trị. Kỹ thuật tiêu diệt của CS cao kỳ, thâm độc hơn quân phiệt. Nhưng từ ngày CS Hà nội tự cứu phải chuyển sang kinh tế thị trường, cho đầu tư ngoại quốc vào, cuộc đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền bắt đầu.

Phong trào đang phát triễn từ điểm là tự do tôn giáo đã sang diện là quần chúng với những vấn đề gai góc của dân sinh, dân quyền. Phong trào nhân dân đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền đã trở thành một tiến trình nhà cầm quyền CS không thể đảo ngược được nữa.

Không những ở ngoài xã hội mà ngay trong hàng ngũ của đảng CS. Thành phần ly khai, đối lập, đối kháng trong Đảng Nhà Nước ban đầu chỉ bằng mặt mà không bằng lòng, bây giờ đã có người dũng cảm nói ra. Trong “báo đài” của Đảng Nhà Nước CS Hà nội cũng có nhiều nhà báo uốn mình qua ngỏ hẹp, “viết lách” nói lên lương tâm VN, nhứt là từ khi phong trào đấu tranh thêm chất men xúc tác là nhà cầm quyền CS Hà nội nhu nhược trước cuộc xâm thực đất và biển của VN.

Đa số những người Việt thương dân yêu nước đều dùng chiến thuật “bám thắt lưng địch” mà đánh. Dùng luật pháp trên danh nghĩa của CS để chứng minh cho nhân dân VN và thế giới thấy Đảng Nhà Nước CS Hà nội là nhà cầm quyền độc tài đảng trị toàn diện, phản dân hại nước./.

Vi Anh
____
MGP

Chủ Nhật, 28 tháng 11, 2010

CÂU CHUYỆN BIỂN ĐÔNG: VỚI MỸ VÀO, CÁC NƯỚC TRONG VÙNG ĐANG HIẾN KẾ


            Tuần này, Ngoại-trưởng Hoa-kỳ, bà Hillary Clinton, lại sang Hà-nội một lần nữa trong vòng bốn tháng để dự Hội-nghị Thượng-đỉnh Đông-Á (EAS, East Asian Summit), tiếp theo buổi họp ADMM+ (Hội-nghị các Bộ-trưởng Quốc-phòng ASEAN + 8 nước ngoài vùng, bắt đầu hôm 12/10) trong đó ông Robert Gates, Tổng-trường Quốc-phòng Mỹ, đã đóng một vai trò khá nổi bật, sau khi ông nói chuyện ở Đại-học Hà-nội về chính-sách của Mỹ ở Á-châu.
            Nhắc lại sự có mặt của Mỹ tại châu Á suốt hơn 150 năm qua, ông Gates khẳng-định là "Mỹ chưa bao giờ quay lưng vào Á-châu trong suốt thời-gian đó."  Theo ông, Á-châu ngày nay là đất đứng của một số quốc gia năng động nhất hoàn-cầu, đặc-biệt trong khu-vực Đông-Nam-Á.
Các quốc gia ĐNÁ nằm ở tuyến đường thương mại toàn-cầu quan trọng, là quê hương của một khối lớn dân-số đa dạng về mặt văn-hóa và tôn-giáo, đóng một vai trò dẫn dắt trong việc thúc đẩy các thiết-chế khu-vực ở châu Á và ngày càng tiến nhanh, tiến mạnh để trở thành những đối-tác an-ninh quan trọng trong khu-vực và thế-giới.  Ngụ ý đến những quốc gia như Thái-lan, Nam-dương, Phi-luật-tân, ông nói: "Mỹ có bạn bè, đối-tác, đồng-minh trong khu-vực. Và Mỹ có lợi ích lâu dài ở khu-vực này."
Theo ông Gates, đó là nền tảng để có thể tin tưởng rằng "Mỹ sẽ tiếp-tục can-dự vào khu-vực như đã từng làm trong thời-gian dài vừa qua," "không chỉ hợp tác kinh tế mà còn cả về quốc-phòng  và quân-sự."  Nói thẳng vào chuyện Việt-nam, ông tuyên-bố: Mỹ và Việt Nam cũng như các quốc gia khác trong khu-vực, cùng chia sẻ lợi ích chung trong an-ninh hàng hải và tự do tiếp cận với những giá trị chung toàn-cầu.”

Mỹ “trở lại” hay Mỹ vẫn ở đó ?

            Có người cho rằng, dựa vào những lời tuyên-bố như của ông Gates và nhất là lời tuyên-bố của bà Ngoại-trưởng Mỹ Hillary Clinton khi bà sang họp ở Singapore vào tháng 10 năm ngoái (“America is back!”), Mỹ đã ra đi sau khi thua trận ở VN vào năm 1975 và Mỹ đã hay đang “trở lại.”  Thật sự không phải vậy dù như bề ngoài, ta có thể thấy Mỹ cũng đã rút lui khỏi Clark Airfield và Subic Bay ở Phi-luật-tân sau khi rút ra khỏi VN.
            Sự thực là Mỹ có tìm cách “tái-phồi-trí” lực-lượng của Mỹ ở châu Á sau sự thất bại ở VN song đây là một sự rút lui chiến-thuật chứ chưa bao giờ là Mỹ đã bỏ vai trò ưu-thế của mình trên Thái-bình-dương, một địa-vị mà Mỹ đã chiếm được ít nhất cũng từ giữa thế-kỷ XIX.  Để hiểu vấn-đề này, ta phải biết là từ khi De Tocqueville viết cuốn De la démocratie en Amérique (1840) người Mỹ đã nhìn ra Hoa-kỳ không phải chỉ là một nước “atlantique,” tức là nhìn ra Đại-Tây-dương, mà còn là một nước Thái-bình-dương nữa, “a Pacific power.”  Từ đó, một sử-gia và lý-thuyết-gia về hải-quân hải-lực, ông Alfred T. Mahan, đã viết cuốn The Interest of America in Sea Power, Present and Future (1897), đề ra một nguyên-tắc chiến-lược của Mỹ là phải giữ được ưu-thế trên biển, cả trên Đại-Tây-dương lẫn Thái-bình-dương, nếu muốn tránh được chiến-tranh sang đến lục-địa Hoa-kỳ.
            Đây là một tầm nhìn có viễn-kiến và trong thực-tế Mỹ đã không còn bị chiến-tranh trên đất mình, ít ra cũng từ cuộc nội-chiến 1861-65, một điều-kiện vô cùng thuận lợi cho sự phát triển kinh tế, xã-hội và chính-trị cho quốc gia dân-chủ hàng đầu này của thế-giới.
            Nhìn từ góc cạnh đó thì Mỹ chưa bao giờ bỏ ý-đồ giữ vững ưu-thế của mình trên Thái-bình-dương và như thế cũng có nghĩa là Mỹ chưa bao giờ bỏ sự hiện diện của mình ở Á-châu và câu “America is back” là thừa.  Vì vậy nên ta chỉ có thể hiểu câu nói của bà Clinton là bà ngụ ý Mỹ “trở lại” một vùng, một khu-vực của châu Á, đó là Đông-Nam-Á sau chiến-tranh VN mà thôi.

Annum mirabilis 1950

            Sự thực thì ai có học về lịch-sử ngoại-giao của Mỹ thì biết, không phải lúc nào Mỹ cũng ở trong thế hiện-tại ở Đông-Á trên bình-diện chiến-lược, nghĩa là có một đoạn vòng cung bao vây Trung-Cộng về phía đông, gồm các đồng-minh Đại-Hàn, Nhật-bản, xuống Đài-loan, và trước kia xuống cả Phi-luật-tân, những quốc gia mà có hiệp-định an-ninh phòng thủ với Mỹ.  Có một lúc, khi Mao mới lên cầm quyền ở Hoa-lục (1949), Hoa-kỳ còn lưỡng lự, không hiểu có nên công-nhận chính-quyền mới này không và như vậy thì không phải tìm cách kềm hãm, be bờ nó lại.  Nhưng Stalin lúc bấy giờ đã nhất quyết lôi Mao vào trong khối Cộng-sản quốc-tế của mình và chỉ hơn một năm sau, Bắc-kinh đã có một chọn lựa không thể đảo ngược, đó là quyết-định đưa một triệu “tình-nguyện-quân” vào chiến-tranh Cao-ly.
            Chính quyết-định này của Trung-Cộng đã làm cho Tổng-thống Truman của Mỹ dứt khoát ủng-hộ Pháp ở VN và củng cố vòng cung nói trên bằng cách giữ cho bằng được sự phân chia Nam-Bắc-Hàn ở vĩ-tuyến 38, ký hiệp-định an-ninh quốc-phòng với Nhật-bản, nhất quyết bảo vệ Đài-loan và sau hiệp-định Genève về Đông-dương, lập ra SEATO (Tổ-chức Liên-phòng Đông-Nam-Á).  Sau này, người ta nhìn lại và thấy cái năm bản lề cho sự đổi thay chính-sách của Mỹ ở Đông-Á đó là năm 1950 mà một số học-giả gọi là “năm phép lạ” (annum mirabilis) vì nó đã cho phép Mỹ giữ vững được vị-thế của mình ở Đông-Á cho đến tận ngày hôm nay.
            Để phá vỡ vòng vây này của Mỹ, đã có một lúc vào giữa thập niên 1960 Bắc-kinh tìm cách dựng nên một liên-minh trục dọc (tung) đi từ Bắc-kinh xuống Hà-nội qua Nam-vang (Phnom Penh) rồi sang đến Jakarta ở Nam-dương, nơi mà Đảng CS Nam-dương có tới hơn nửa triệu đảng-viên.  Chính vì sự đe dọa này, sự đe dọa bẻ gãy được vòng cung bao vây Bắc-kinh ở cái khâu yếu nhất, mà Mỹ và Anh quyết-định ồ ạt nhảy vào ở thời-điểm 1965.  Anh thả nhảy dù xuống Mã-lai và Brunei để bẻ gãy chính-sách Konfrontasi (“Đương đầu”) mà Sukarno, lúc bấy giờ được Cộng-sản Nam-dương và Bắc-kinh xúi giục, tung ra chống lại Mã-lai-á và Mỹ quyết-định đưa một phần tư triệu quân Mỹ đổ bộ vào Việt-nam.  Đây là cái trục ngang, cái trục “hoành” trong thế tung hoành nổi tiếng của Tôn Ngô binh-pháp.
            Thấy tình-hình sắp hỏng, Bắc-kinh thúc đẩy CS Nam-dương làm một cuộc đảo chính chống lại Sukarno để ra nắm luôn chính-quyền.  Song CIA Mỹ đã kịp thời bắt được tin này và cung-cấp cho các tướng lãnh Nam-dương, dẫn đầu bởi mấy tướng Nasution và Suharto, lật ngược thế cờ và trong có một đêm tháng 9/1965 bắt trọn ổ cấp lãnh-đạo của CS Nam-dương, dìm CS xứ này vào một cuộc tắm máu mà có thể đã lên đến nửa triệu người.
            Phải hiểu như thế thì mới rõ được tại sao chính-sách của Mỹ ở VN không thuần-túy là một sự đồng-minh tay đôi với VNCH (cũng không có một văn-kiện chính-thức nào khẳng-định chuyện này) và nó chỉ là một nước cờ trong một bàn cờ rộng lớn, trong đó đúng như ông Thiệu đã có lúc phân-tích hôm ông từ chức: Mỹ bỏ VN là Mỹ chỉ mất một quân cờ trong bàn cờ thế-giới trong khi, trái lại, miền Nam mà mất vào tay CS, đối với người dân miền Nam, là mất tất cả.

Phi-luật-tân hiến kế


            Ông Gates đã nói không sai khi ông cho rằng, trở lại Đông-Nam-Á là Mỹ trở lại một nơi mà Mỹ có “bạn bè, đối-tác, đồng-minh” trong khu-vực.  Người ta kể là ông Dương Khiết Trì đã giận gần mất khôn và bước ra khỏi phòng họp hôm 23/7 ở Hà-nội khi bà Hillary Clinton tuyên-bố biển Đông “là một lợi ích quốc gia” (a national interest) của Hoa-kỳ, rằng Hoa-kỳ muốn được thấy sự hải-hành trên biển này không bị trở ngại cho tàu bè của bất cứ quốc gia nào, và rằng Hoa-kỳ ủng-hộ mọi sự giải-quyết các tranh chấp trên cơ-sở thương lượng hòa-bình.  Nói như vậy là Mỹ rất khôn, muốn làm việc một cách hòa-bình với tất cả mọi người và bảo vệ cho quyền hải-hành của mọi quốc gia—rõ ràng là không ích kỷ.  Trong khi đó thì Trung-Cộng chỉ chấp nhận chơi tay đôi, nghĩa là Trung-Cộng, một nước lớn, chỉ muốn ở một thế có thể ép được nước nhỏ hơn.  Chả trách ngay sau khi bà Clinton phát biểu hôm 23/7 đã có tới 12 quốc gia lên tiếng đồng-ý.
            Thực-sự thì đáng nhẽ Trung-Cộng, nếu không quá chủ-quan, đã phải trông thấy chuyện này tất-yếu xảy ra khi chơi ép mãi các nước nhỏ hơn.  Trung-Cộng rõ ràng là đã ỷ y, VN hay Phi-luật-tân là nước gần trong khi Mỹ ở xa nên rất dễ hù các đàn em.
            Ngay người Việt hải-ngoại khi đi vận-động với Mỹ, Quốc-hội hay Bộ Ngoại-giao, cũng được nhắc rằng nếu chỉ là tay đôi thì Mỹ không thể can-thiệp được.  Nhưng nếu ta ngồi được lại với nhau, tỷ như các nước ASEAN, hay ít nhất cũng mấy nước có cùng quyền-lợi ở Biển Đông, bảo được nhau thì Mỹ có thể ủng-hộ một lập-trường chung như vậy.
            Do đó mà hải-ngoại gần đây đã vận-động cho việc gọi lại tên Biển Đông (hay Biển Nam Trung-hoa) thành Biển Đông-Nam-Á, một việc làm được rất nhiều người ở các quốc gia trong vùng ủng-hộ.  Gọi thế, biển sẽ thành của chung chứ không còn là của riêng của nước nào cả.  Như vậy, ai cũng có quyền lợi để bảo vệ trước sự lấn lướt của Trung-Cộng.
            Từ năm 2002, cả Trung-quốc lẫn các nước ASEAN đã đồng-ý được về một quy-chế ứng-xử (code of conduct) khi có tranh chấp ở Biển Đông, đó là cam kết giải-quyết các sự bất đồng bằng con đường hòa-bình và phối-hợp với nhau khi có những hoạt-động liên-quan đến những vùng đất của nhau.  Nhưng vì quy-chế này không có biện-pháp chế-tài nên đã không có hiệu-quả, chẳng ai, nhất là Trung-Cộng, tôn trọng những cam-kết của chính họ.
            Chính vì thế mà hôm thứ Hai vừa qua, 25/10, Tổng-thống Phi Benigno Aquino III, trước khi lên đường bay sang VN hôm thứ Ba, đã ngỏ ý muốn được thấy một quy-chế ứng-xử mới “có lợi hỗ-tương” (“mutually beneficial”) để tránh “maganda na wala tayongna nagfe-flare up in that area [có thể nổ ra trong vùng].”  Ông nhấn mạnh vào những quyền-lợi kinh tế hỗ-tương.  “Hopefully that will lead to greater stability within the region,” ông nói với báo chí ở Tarlac City: “Mong là như thế chúng ta sẽ có thêm ổn-định hơn ở trong vùng.” hostilities [những đụng chạm]
            Trước đây, vào năm 1999, Trung-Cộng đã bác bỏ một đề nghị quy-chế ứng-xử do Việt-nam và Phi-luật-tân đưa ra, cho rằng quy-chế đó sẽ giúp khẳng-định những đòi hỏi chủ-quyền của các quốc gia khác trong vùng.

Ảnh-hưởng của Trung-Cộng

            Hôm họp ADMM+ ở Hà-nội, dưới áp-lực của Bắc-kinh, Hà-nội đã không dám đưa vấn-đề Biển Đông vào nghị-trình của cuộc họp.  Nhưng rồi, với sự có mặt của ông Robert Gates ở đó, một số quốc gia, không trừ VNCS, cũng đã dám nêu ra vấn-đề Biển Đông như một vấn-đề cần phải quan tâm, dù như không được coi như một mục cá-biệt để đem ra thảo-luận.  Sau đó, Nhật-bản cũng như Mỹ cũng đã nhắc đến vấn-đề hải-hành qua Biển Đông và các tranh chấp này.  Đúng như ông Gates nói ở Đại-học Hà-nội, “Chỉ trông chờ vào các quan hệ song phương là không đủ. Chúng ta cần những thể chế đa phương để đối phó với những thách thức an ninh quan trọng nhất trong khu vực này.”
            Một điểm đáng chú ý là, có lẽ để làm giảm sự căng thẳng về vấn-đề Biển Đông, trong thời-gian họp hội-nghị ở Hà-nội, Bắc-kinh đã tuyên-bố là thả vô điều-kiện 9 ngư-dân VN mà họ đã bắt trước đó và còn đòi tiền chuộc (mà họ gọi là tiền phạt).  Tuy-nhiên, hội-nghị họp xong cả mấy ngày mà vẫn chưa thấy các ngư-dân đó được thả về.  Mãi cả tuần sau mới thấy họ về với lời giải-thích của Trung-Cộng là họ đã bị bão trên đường về nên phải ghé vào trú ở Hoàng-sa.
            Có thể nói là không phải cứ Trung-Cộng không muốn là các quốc gia khác răm rắp làm theo.  Với sự ủng-hộ công-khai của Mỹ cho một giải-pháp đa phương, một giải-pháp khu-vực qua con đường hòa-bình thương lượng thì giờ đây các nước Đông-Nam-Á và cả Nhật-bản cũng trông ra là ta hiện có một cái “thế” mới, có Mỹ ở đằng sau, để ăn nói với Trung-quốc.
            Có lẽ vì thế mà đầu tháng tới này ở Tokyo, Nhật cũng đang chuẩn-bị một hội-nghị để bàn về vấn-đề Biển Đông cũng như các vấn-đề tranh chấp giữa Trung-Cộng và Nhật-bản trong Hoàng-hải (như vụ mấy đảo Senkaku-Điếu ngư đài).  Được biết, tại hội-nghị này ngoài phát biểu của dân-biểu Matsubara thuộc đảng cầm quyền, người ta cũng sẽ còn được nghe G.S. bình-luận-gia nổi tiếng Shigeo Hiramatsu, một chuyên-gia hàng đầu của Nhật, bàn về bản-chất xâm-lược của Trung-quốc thời-gian gần đây.  Nói về tình-hình Biển Đông còn có G.S. Tono Oka và ông Âu Minh Dũng, xoáy thẳng vào vấn-đề Bắc-kinh xâm-lăng lãnh-hải và biển đảo của VN.  Chúng tôi sẽ theo dõi những tin tức về hội-nghị này và xin sẽ có bản tường-trình sau khi ở Nhật về.

Tâm Việt
_____
i_meo