CÔNG KHÓ CỦA TỔ TIÊN TRONG VIỆC
MỞ NƯỚC VỀ PHƯƠNG NAM
(Chiến tranh giửa Chiêm Thành và Đại Việt)
Ngày hôm nay Việt tộc chúng ta đang thừa hưởng một di sản qúi báu của tiền nhân để lại là một mảnh đất hình cong chử S chạy dài từ Ải Nam Quan tới mủi Cà Mau bao gồm Hoàng Sa và Trường Sa, là phải nhớ ơn công trình mở nước về phương nam của tổ tiên chúng ta qua 10 thế kỷ. Mọi công dân nước Việt đều phải cố gắng giử gìn, đó là một thứ nhiệm vụ thiêng liêng mà tổ tiên đã giao phó cho các thế hệ đi sau. Không một ai có thể nhân danh hay dùng bất cứ quyền lực gì để dâng bán cho ngoại bang đều bị kết tội là phản bội tổ quốc. Không có luật pháp nào có thể tha thứ hoặc xử nhẹ cho tội tày trời này. Hôm nay những người cộng sản vì tham vọng nhuộm đỏ toàn vùng Đông Nam Á, theo lệnh quan thầy Nga Xô, tức đệ tam quốc tế đã nhận viện trợ từ súng đạn Nga Tàu để bắn giết đồng bào miền bắc và nam, sau đó phải trả lãi bằng cách cắt đất, biển, đảo dâng cho Tàu Cộng để trả nợ. hành động này được ghi nhận từ thời hồ chí minh rồi tiếp đến các đời cộng sản cầm quyền sau này như: Nguyễn văn Linh, Đổ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh, Nguyễn Phú Trọng...đây chính là những tội đồ của Việt tộc đang được sự che chở của băng đảng Mafia csVN, đang ngang ngược thách thức với toàn dân VN về tội bán nước cho Tàu Cộng mà tập đoàn csVN đang vi phạm. Căn nhà VN, không phải do hồ chí minh và đảng cs tạo dựng ra, đó là di sản của tiền nhân để lại cho con dân nước Việt, nó không phải tài sản của đảng hay của họ "hồ". Thế nên những người cầm quyền không được phép được cắt nhượng cho đàn anh Tàu Cộng. Tất cã mọi người đều có bổn phận phải giữ gìn tài sản chung này.
Cái nhà là nhà của ta
Công khó ông cha lập ra
Cháu con phải gìn giữ lấy
Muôn năm với nước non nhà
Xóm làng là làng của ta
Xương máu ông cha làm ra
Chúng ta phải gìn giữ lấy
Muôn năm với nước non nhà
(bài hát cộng đồng)
BỐI CẢNH THỜI KỲ CHIẾN TRANH CHIÊM THÀNH - ĐẠI VIỆT
Vào thời Trung cổ (tk thứ V tới XV), các quốc gia muốn tồn tại đều phải dùng chiến tranh để giải quyết cho sự sống còn của quốc gia và dân tộc mình. Đây là những thế kỷ có sự hiện diện của Chăm Pa và VN chúng ta ở phương Đông. Vào thời này mọi quốc gia trên thế giới từ Âu đến Á đều phải hiểu ngầm: muốn tồn tại thì phải chiến đấu để vươn lên. Qui luật đó tuy không có văn bản nhưng các nước đều tuân thủ triệt để, thế nên vùng địa lý chính trị trên thế giới luôn thay đổi, các đường biên giới đều được vẽ bằng máu. Chiến tranh đâu đâu cũng có rất khốc liệt tàn nhẩn dùng đế hủy diệt lẩn nhau. Trong bài viết này tên gọi của nước Champa còn được gọi là Tương Lâm, Lâm Ấp, Chiêm Thành theo từng thời gian biến động của lịch sử.
Thời đại có sự hiện hữu của Đại Việt và Chiêm Thành là thời kỳ mà mọi quốc gia trên thế giói đều tuân thủ một quy luật “Quốc gia nào thích nghi tốt nhất sẽ là quốc gia trường tồn”. Quy luật này sau đó đã được Darwin hình thành" thuyết Tiến Hóa"vào thế kỷ 19. Các nhà khoa học cho rằng các chủng tộc trong loài người cũng giống như các loài động vật phải biết đấu tranh sinh tồn, trong đó kẻ mạnh sẽ thống trị và tiêu diệt kẻ yếu. Thế nên địa lý thế giới về đường phân chia ranh giới các quốc gia thay đổi không ngừng. Nước nào mạnh về quân sự là đem quân đi thôn tính các quốc gia khác. Ngày xưa nếu như Đại Việt chúng ta không mạnh về quân sự, thì từ lâu đã không còn mảnh đất để gọi là VN.
Trong quá khứ người Chàm không đũ sức vượt qua được các thế lực mạnh chung quanh để vươn lên thì bị quật ngã và xóa sổ. Không thể trách và càng không nên nguyền rủa là Việt tộc đã chiếm hữu nước Chiêm Thành, để rồi ngày nay gặp một quả báo, đó là sự cai trị của loài qủi đỏ csVN. Nói thư thế là gán ép tôn giáo vào việc chính trị thời trung cổ, thời mà tư tưởng con người chưa phát triển cao, con người chỉ biết lấy sức mạnh để giải quyết tồn vong của quốc gia và dân tộc mình, trong đó có các dân tộc như: Đại Việt, Chân Lạp và Chiêm Thành cùng nhau tranh sống.
Việc chiếm hữu đất đai để vẽ ra lằn ranh biên giới quốc gia là một sự đấu tranh cần thiết trong giai đoạn phát triển chủ nghĩa đế quốc và dân tôc cực đoan mà tất cã các quốc gia trên thế giới tứ Âu sang Á đều phải dọn mình để bước vào sân chơi này. Đại Việt, Trung Hoa, Chân Lạp, Chiêm Thành đều thấu hiểu nguyên tắc sinh tồn này trong thời trung cổ trước khi có Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc ra đời vào năm 1945 sau khi chiến tranh thế giới lần II chấm dứt.
Chiêm thành và Đại Việt đều sẳn sàng cho cuộc thư hùng và phải mất trên 14 thế kỷ mới chấm dứt. Giai đoạn đầu của cuộc thư hùng gần 7 thế kỷ (từ thứ III đến thứ X), nước VN đã nhiều lần bị quân Cham Pa sang tấn công cướp phá tại Giao Châu, Nhật Nam, Cửu Chân...Đây là thời gian mà VN đang bị Tàu đô hộ lần II đất nước dưới sự cai quản của các quan Thái Thú. Sự chống trả với quân Chiêm Thành do quân Tàu đãm trách. Cho đến khi VN lấy lại được chủ quyền đất nước vào năm 939, từ đây các triều đình của Đại Việt mới tính đế chuyện dẹp giặc Chiêm Thành để bảo đảm an ninh cho dân tộc Đại Việt sống trong yên bình. Giao Châu (chữ Hán: 交州) là tên một châu hoặc phủ thời xưa, bao trùm vùng đất miền Bắc Việt Nam ngày nay. Ban đầu Giao Châu còn bao gồm một phần đất Quảng Tây và Quảng Đông thuộc Trung Hoa. Sau khi Sĩ Nhiếp chết (226), Đông Ngô đã chia Giao Châu ra làm hai châu: Quảng Châu gồm các quận Nam Hải, Uất Lâm, Thương Ngô cho Lữ Đại (Lã Đại) làm Thứ sử và Giao Châu (mới) gồm các quận Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam
Việc Chiêm Thành mất nước vào tay Đại Việt là một điều tất yếu của lịch sử trong một giai đoạn. Người viết tuy là con dân nước Đại Việt nhưng không hề đứng trên quan niệm cúa phe thắng cuộc để nhìn và phê phán. Chỉ đưa ra những bối cảnh và những quy luật sống còn vào giai đoạn mà Đại Việt và Chiêm Thành cùng nhau tranh sống một cách quyết liệt. Số phận Chiêm Thành rơi đúng vào thời trung cổ để rồi bị xóa sổ trong thời đại mà mọi quốc gia đều dùng vũ lực làm kim chỉ nam trong mọi việc giành độc lập hay vẽ đường biên giới địa lý quốc gia. Đôi bên khi tham chiến đều phải thừa biết "không thắng thì thua", mà khi thua là mất hết.
Chiêm Thành bị xóa sổ vào giai đoạn mà chủ nghĩa đế quốc thịnh hành, khi mà vấn đề nhân quyền còn là chuyện hoàn toàn xa lạ với mọi người trên thế giới.
Khái niệm Nhân Quyền bắt đầu phát triển vào thế kỷ 18, nước Pháp là nước được coi là cái nôi về Nhân Quyền. Năm 1789 khi cuộc cách mạng đòi nhân quyền đầu tiên trên thế giới xảy ra, đó là lúc nhân dân bị trị đứng dậy đòi quyền sống phá ngục Bastil. Rồi cũng chính tại cái nôi về nhân quyền của thế giới, một thời gian không lâu sau đó, người Pháp đã xua quân sang VN để biến nước ta thành một thuộc địa của Pháp. Vậy thì, cho tới ngày Chiêm Thành bị xóa sổ vào năm 1832, được coi đó như là điều tất yếu của sử thế giới đã dành cho số phận một quốc gia không may mắn.
Cũng như bao quốc gia khác Đại Việt muốn tồn tại được trong một khu vực chung quanh toàn là hổ báo, thì Việt tộc hơn bao giờ hết phải hết sức cố gắng vươn lên để sống để bảo vệ bời cõi. Một đất nước bé nhỏ luôn chuẩn bị nội lực để chống lại các đàn hổ báo hung tợn (Trung Hoa, Chân lạp, Chiêm Thành) mà sinh tồn. Như thế mới biết công khó của tổ tiên Đại Việt trong bảo vệ và mở mang bờ cỏi về phương nam lớn lao và khó nhọc biết chừng nào.
Việt tộc đã bị người Trung Hoa cai trị gần 1000 năm, trong thời gian này người Việt phải nhịn nhục sống để rồi vươn lên lấy lại được những gì đã mất, chứ không hề oán than hay đổ lỗi là phạm vào luật nhân quả như người Chàm khi bị mất nước. Nên, khi ai nói người Việt chúng ta đang bị nhân quả báo ứng, đó là câu nói hoàn toàn sai lạc. Nếu ai là người nói đến luật nhân quả báo ứng của Phật Giáo trong việc Đại Việt xóa sổ Chiêm Thành, xin hãy cho biết: VN đã trải qua 3 lần quốc nạn là bị người Trung Hoa đô hộ 3 kéo dài gần 1000 năm, Việt tộc trước đó đã làm gì ác mà phải gặp quả báo như vậy?? Nếu không có câu trả lời, thì xin hãy từ bỏ ngay lập tức những suy nghỉ thiếu luận cứ khoa học và đầy ác ý nhằm khích động hận thù giửa hai dân tộc Việt - Chiêm, trong đó có một số sử gia thiếu tính khách quan người Chiêm khi viết về đoạn sử đẩm máu của Đại việt và Chiêm Thành. Người viết ghi lại hết quá trình lịch sử của Chiêm Thành trước và khi bị xóa sổ một cách khách quan bằng chứng liệu có trong sử Việt, Chiêm Thành, Pháp và Trung Hoa để ra đưa ra nhận định riêng của người viết.
Việt tộc khi bị đế quốc Trung Hoa chiếm đóng đã phải lấy máu mình để đổi lấy nền độc lập nếu một khi đã đũ mạnh, còn không lấy lại được độc lập thì vĩnh viển bị xóa sổ như các quốc gia Phù Nam, Chàm... Dân tộc VN, trong tương lai còn phải xóa bỏ sự cai trị của cộng sản trên quê hương VN. Trong khi đó người Do Thái phải mất 2000 năm mới về lại nơi quê hương đã mất. Đó là những hình ảnh của một thời mạnh được yếu thua. Trong thời đại này khi phê phán một hiện tượng từng xảy ra trong lịch sử không nên nhìn sự việc qua lăng kính tôn giáo, rồi cố tình gán ép vào cho một cái tội không phù hợp với thời trung cổ, vì chính các tôn giáo cũng đã từng đem quân đi chiếm hữu đất đai và diệt người Hồi Giáo như cuộc Thập Tự Chinh (không liên tục giữa năm 1095 và 1291 và tiếp tục vào thế kỷ XV ở tây Ban Nha và Đông Âu)
Người Chiêm Thành nguyền rủa Việt tộc sau khi mất nước, nhưng họ quên một điều quan trọng, đó là bản chất của người Chiêm Thành vào thời trung cổ rất hiếu chiến, khi nào họ mạnh liền đưa quân sang VN để đánh phá và chiếm đất. Họ đã nhiều lần tấn công vào đất Việt, trong khi đất nước chúng ta đang bị người Tàu đô hộ lần II. Từ lúc mới dựng nước, Chiêm Thành đã từng đưa quân sang tấn công và cướp phá nước ta liên tục. Bối cảnh VN trong lúc đó là một nước bé luôn bị các nước láng giềng rình rập để đem quân vào cướp phá. Chiêm Thành là mối nguy hiểm lớn cho các triều đình VN, sức ép về quân sự của Chiêm Thành không thua gì Trung Hoa. VN trước thế kỷ thứ X chỉ là một nước nhỏ bé hơn tất cã các nước có đường biên giới chung. Nghe bản nhạc " Hận Đồ Bàn" để thấy sự tự hào và hảnh diện về một thời cường thịnh của Chiêm Thành. Vào lúc mà họ tự hào thì Việt tộc chúng ta phải chịu cảnh lầm than khổ sở vì sự chém giết cướp bóc phá hoại của người Chiêm Thành trên quê hương của Đại Việt, nhiều lần Vua quan nhà Trần phải bỏ Thăng Long để đi lánh nạn.
"....Về kinh đô
Ngàn thớt voi uy hiếp quân giặc thù ...
Triền sóng xô
Muôn lớp quân Chiêm tiến như tràn bờ ...
Tiệc liên hoan
Nhạc tấu vang trên xứ thiêng Đồ Bàn
Dạ yến ban
Cung nữ dâng lên khúc ca Về Chàm.
Một thời oanh liệt
Người dân nước Chiêm
Lừng ghi chiến công
Vang khắp non sông...."
Người Việt quốc gia khác với người Chiêm Thành, khi nước VNCH mất, họ không than thân trách phận, coi thất bại là một bài học cho tương lai, họ không lấy luật nhân quả của Phật giáo để lồng vào cái thất bại của người đi trước. Sau tháng 4/1975 khi di tản ra ngoại quốc lánh nạn, 42 năm qua, lớp người đi trước tìm đũ mọi cách vừa tham gia tích cực trên các mặt trận cứu quốc vừa chiến đấu vừa xây dựng một đội ngũ cho công cuộc giải thể tập đoàn Mafia csVN bằng một chiến lược lâu dài. Thành quả này của người dân nước VNCH rồi đây chắn sẽ họ sẽ nhìn thấy lại quôc gia của mình bị mất.
CHIÊM THÀNH ĐÁNH CHÂN LẠP TÀN PHÁ DI TÍCH ANGKOR WAT
Sau khi được thành lập nước, vua Ayuthya của Chiêm Thành tiến đánh Chân Lạp, cai trị Chân Lạp trong 5 năm (1352-1357). Năm 1353 Ayuthya lại đánh Chân Lạp và chiếm Angkor Wat. Một ông hoàng thân của Chân Lạp trốn thoát về Ba-san (Kongpong Cham) xây dựng căn cứ, tổ chức lực lượng và giải phóng Angkor năm 1396. Các cuộc xâm lược của Chiêm Thành liên tiếp do Ayuthya chỉ huy đã triệt phá Angkor Wat. Năm 1432, cảm thấy không đủ sức lực chống lại Ayuthya, vua Ponhea Yat của Chân Lạp bỏ Angkor, về lập đô ở căn cứ Ba-san rồi ở Chakdomut (bốn mặt sông) ở địa điểm Phnôm Penh hiện nay. Thời kỳ Angkor Wat của Chân Lạp đến đây chấm dứt. Năm 1520 kinh đô lại dời về Lôvếch trước sự xâm chiếm của Chiêm Thành. Xin cho biết nhân quả báo ứng nào cho việc làm này của người Chàm?
CHAMPA VÀ NHỮNG LẦN ĐÁNH PHÁ VN
Nước Champa đầu tiên có quốc hiệu là Tương Lâm, rồi sau đó là Lâm Ấp, Hoàn Vương, sau cùng là Chiêm Thành.
Đời vua Hóa Đế vào năm Nhâm dần 102 ( Nhà Đông Hán) có người của huyện Tượng Lâm hay sang quấy phá. Tượng Lâm là tiền thân của nước Lâm Ấp tức Chiêm Thành. Trong đời Tam Quốc, những người Lâm Ấp thường hay sang cướp phá và quấy nhiểu quận Nhật Nam và quận Cữu Châu. Thế nên vua nhà Hán mới cử một quan đến để giử gìn an ninh cho vùng này ( Sử Trần Trọng Kim , tr.49)
Năm Quí Sữu 353, người Lâm Ấp, đời vua Mục Đế đời Đống Tấn, thứ sử Giao Châu là Nguyễn Phu, đánh vua Lâm Ấp là Phạm Phật.
Đến năm Kỷ Hợi 399, Phạm Bồ Đạt, cháu của Phạm Phật mang quân sang đánh lấy hai quân Nhật Nam và Cữu Chân. Nhưng sau đó bị quan Thái Thú Giao Chỉ là Đổ Viện đánh đuổi người Lâm Ấp lấy lại hai Châu đó.
Đến năm 413 Phạm Bồ Đạt lại đem quân sang phá quận Cữu Chân. Con của Đổ Viện là Đổ Tuệ Độ làm thứ sử Giao Châu đem binh đánh đuổi và chém được tướng Lâm Ấp là Phạm Kiện, bắt được hơn 100 người (Sử Trần Trọng Kim , tr.50).
Dòng dỏi Phạm Bồ Đạt làm vua truyền được mấy đời, sau đó bị một quan Lâm Ấp là Phạm Chư Nông cướp mất ngôi, rồi truyền lại cho con là Phạm Dương Mại. Lúc đó bên Tàu phân ra Nam Triều và Bắc Triều, nhân cơ hội đó Phạm Dương Mại đem quan sang quấy phá Giao Châu. Lúc bấy giờ Giao Châu thuộc Nam Triều-Nhà Tống.
Đến đời Văn Vũ Đế năm 433, Phạm Dương Mại thấy nước Tàu loạn lạc nên sai sứ sang triều cống nhà Tống và xin được cai trị xứ Giao Châu chúng ta, nhưng vua Tống không chấp thuận lời yêu cầu của Phạm Dương Mai.( Sử Trần Trọng Kim , tr.51). Từ đó nước Lâm Ấp thường xuyên quấy phá Giao Châu ở mạn Nhật Nam và Cữu Chân. Vua Tống sai thứ sử Đàn Hòa Chi và Tông Xác là phó tướng đem quân đi đánh Lâm Ấp. Phạm dương Mại đem quân ra chống. Nhưng thua, cùng với con chạy thoát được. Hai tướng Tàu vào Lâm Ấp chiếm được nhiều vàng bạc của cải.
Đến đời Lý Bôn năm 543, người lâm Ấp lại đưa quân sang quấy phá quân Nhật Nam của Giao Châu. Lý Bôn sai tướng Phạm Tu đánh vào Cữu Đức ( Hà Tĩnh), người Lâm Ấp thua chạy về nước.
Đến năm Nhâm Tuất 602 vua nhà Tùy sai tướng Lưu Phương sang đánh Nam Việt hậu Lý Nam Đế là Lý Phật Tử sợ đánh không lại nên ra hàng. Từ đấy nước ta bị bắc thuộc thêm 336 năm nửa.
Đến đời nhà Đường bên Tàu 618-907, đời Đường Thái Tông, Lâm Ấp lúc đó có vua mới là Phạm Đầu Lê tên là Chư cát Địa lên ngội và đổi tên Lâm Ấp thành -Hoàn Vuơng Quốc. Từ đó Chiêm Thành với cái tên mới là Hoàn Vương. Và vua mới này hay đưa quân sang đánh phá Giao Châu và chiếm giữ Châu Hoa và Châu Ái.
Năm Mậu tý 808 đời vua Đường Hiến Tông, quan đô hộ là Trương Chu đem quân sang đánh nước Hoàn Vương, vua nước Hoàn Vương lui về Quảng Tĩnh, tức Quảng nam và Quãng Nghĩa bây giờ và đổi quốc hiệu là Chiêm Thành. Nước việt chúng ta vào thời nhà Đường không những bị Chiêm Thành cướp phá thường xuyên mà bị nước Nam Chiếu cũng thường sang cướp phá giết hại người Giao Châu chúng ta rất nhiều .( Sử Trần Trọng Kim , tr.65). Nước Nam Chiếu có quốc hiệu là Đại Mông quốc rồi lại đổi là Đại Lễ, ở phía nam Trung Hoa https://vi.wikipedia.org/wiki/Nam_Chi%E1%BA%BFu .
Nước VN chúng ta tới thời Ngô Quyền (939 - 965) thì đánh đuổi được Tàu, giành độc lập về cho xứ sở. Trong thời gian này quân Hoàn Vương không thấy sang cướp phá nước ta.
Đến năm Qúi Tị 993 nhà Tống phong cho Lê Đại Hành làm Giao Chỉ Quận Vương. Rồi đến năm 997 phong cho là nam Bình Vương. Bấy giờ sứ nhà Tống thường hay đi lại trong nước ta, vua Lê Đại Hành tiếp chiếu mà không lạy, lấy cớ đi đánh giặc bị ngã ngựa chân đau không qùi hành lễ. Vua Tống biết nói dối nhưng đành làm ngơ.
Đời vua Lê Đại Hành lúc mới lên ngôi năm 980 nước có cử 2 sứ sang Hoàn Vương ( Chiêm Thành), nhưng vua Chiêm Thành lúc bấy giờ bắt giử hai sứ của nước ta. Đến khi vua Lê Đại Hành đánh xong quân nước Tống sang xâm lăng nước ta. Phía bắc nước ta đã tạm ổn,vua Lê Đại Hành thân chinh cầm quân sang đánh Hoàn Vương, đây là lần đầu tiên, sau ngày Ngô Quyền lấy lại được độc lập cho VN vua mới đem quân sang đánh Hoàn Vương để trả thù, Vua chiếm được kinh đô, từ đó Chiêm Thành mới chịu khuất phục và triều cống cho VN.( Sử Trần Trọng Kim , tr.91)
Rồi các cuộc đánh phá của Chiêm Thành và các nước Chân Lạp vẩn thường xuyên xảy ra trên đất Đại Việt một khi họ mạnh hơn Đại Việt. Vua quan nước Đại Việt xem Chiêm Thành là một nước khó thể sống chung lâu dài sau nước Tàu. Trong suốt Thế kỷ thứ 3 cho đến đời nhà Lý gần 700 năm, nước Chiêm Thành luôn đem quân sang đánh và cướp phá nước ta mặc dù VN còn đang bị đô hộ bởi quân Tàu. Người Chiêm đã nhiều lần cướp phá trên đất Việt thì không nên trách Đại Việt đem quân sang Chiêm để trừng phạt.
Từ năm 939 sau tây lịch, Đại đế Ngô Vương Quyền chém đầu thái tử Hoàng Thao trên Bạch Đằng Giang, đuổi quân Nam Hán chạy về Tàu, chấm dứt vĩnh viễn 1000 năm Bắc thuộc, bắt đầu nền độc lập cho cháu con Hồng Lạc và tổ quốc VN. Từ đó, mới có các sự chuẫn bị chinh phạt Chiêm Thành và công cuộc nam tiến mới được tiến hành qua các nhà Hậu Lý, Trần, Hậu Lê và các chúa Nguyễn ở Đàng Trong liên tục trên 600 năm, mới thành tựu.
NGƯỜI CHÀM TRONG CHẾ ĐỘ VNCH
Trong thời VNCH (1955-1975), chính phủ có một bộ phát triển sắc tộc, dành riêng cho các sắc dân thiểu số trong đó có người Chàm.
Ngay từ thời Pháp thuộc, vua Bảo Đại có ban hành bộ luật Hoàng Việt Trung Kỳ hộ luật, nhưng vẫn cố tránh làm đảo lộn nếp sống cổ truyền của đồng bào thiểu số, trong đó có người Chàm, nên đả ban hành thêm đạo luật số 51 ngày 25-5-1943 với đặc ân cho người thiểu số, trong đó có Chàm khỏi thi hành. Vì vậy cho nên với pháp luật thời đó, chỉ áp dụng luật Chàm để xử họ và tôn trọng chế độ mẫu hệ bao đời.
Thời VNCH (1955-1975), tại các tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận có đông người Chàm cư ngụ. Trong sự tế nhị và nâng đỡ, chính phủ đã bổ nhiệm các quận trưởng và phó quận, phần lớn là người Chàm, để dễ dàng hành sử với đồng bào của họ, vì các Quận Trưởng Chàm đều kiêm nhiệm chánh án tòa sơ thẳm trong vùng. Ngày nay đọc lại danh sách các viên chức hành chánh cao cấp của tỉnh Bình Thuận, tính đến ngày 30-4-1975, ta mới thấy tình người giữa Việt-Chiêm, thật ấm áp và đầy ý nghĩa.
- Quận Trưởng Phan Lý Chàm: Thiếu Tá Đặng Chánh Anh. Phó QT là đốc sự Ya Pha (còn sống tại VN).
- Quận Trưởng Hàm Thuận: Trung Tá Dụng văn Đối.
- Quận Thiện Giáo: Phó QT, đốc sự Nguyễn Trọng Chống (còn ở VN).
- Quận Hải Ninh: Phó QT, đốc sự Đắc Hữu Thiên (ở Mỹ).
- Quận Tuy Phong: Phó QT, đốc sự Lâm Quang Chân (đã chết trong tù cải tạo VC).
- Quận Hải Long: Phó QT, đốc sự Mai Tường (ở Mỹ).
- Đác văn Kiết, Tham sự hành chánh, Trưởng Ty Phát triển sắc tộc Bình Tuy.
- Nhiều Sĩ Quan giữ các chức vụ quan trọng tại TK.Bình Thuận, Ninh Thuận. Nổi tiêng nhất tại địa phương, có ai sánh nổi Thiếu Tá Thô Thêm, Tiểu Doàn Trưởng TD 230 ĐPQ/BT hay Đại Uý Đặng Phiên, ĐĐT/ĐPQ đã cùng với một số sĩ quan ĐPQ. Bình Thuận, trong đó có Đại Uý Nguyễn Văn Ba, Cựu học sinh Trung Học PBC, xuất thân sĩ quan Lực Lượng Đặc Biệt, đã mất tích, trong khi vượt traị tù VC ở Lương Son, quận Hòa Đa, Bình Thuận.
- Nhiều công chức, cán bộ và giáo chức..
Tất cả những viên chức trên đều là người Chàm.
Những cái nhìn tiêu cực đầy thiên vị và không phân biệt được trắng đen của một ít người khi viết những trang sử cận đại, xét cho cùng một phần do sự mâu thuẩn địa phương, mà thời nào cũng có trong xã hội người Việt.
Nghỉ đến công khó của tổ tiên trong việc mở mang bờ cõi phương Nam, với 10 thế kỷ đi vẽ lằn ranh biên giới với các quốc gia xung quanh đã nói lên được một sự hy sinh vô bờ bến của hàng triệu sinh linh. Chỉ đáng tiếc một điều là cho tới nay vẩn còn những lời phê bình về hành động này của tổ tiên Việt tộc hoàn toàn không trung thực và không khách quan của một số người Việt lẩn người Chiêm.
Ngày nay, Việt tộc còn phải chứng kiến những đứa con hoang csVN đang ngày đêm phá hoại các di sản về vật chất của tiền nhân đã để lại cho con cháu, chúng dâng đất, dâng biển phản bội lại tổ tiên và Việt tộc.
Bài viết được tham khảo từ nhiều nguồn khác nhau trên Internet. Vì là bài viết về lịch sử nên còn khá dài, xin mời xem tiếp tại Blog: