Thứ Sáu, 2 tháng 7, 2021

= BƠ VƠ GIỮA CHỢ ĐỜI = - VIỆT DƯƠNG NHÂN

 = BƠ VƠ GIỮA CHỢ ĐỜI =

Trời rạng đông, hơn năm giờ sáng, gió thổi hiu hiu, sương khuya lành lạnh. Tới giờ nhóm chợ, những người buôn bán quảy gánh dóng, rau cải và nhiều loại súc vật như gà, vịt, heo con... Những tiếng kêu cờ lóc cờ lóc, cạp cạp, en éc. Còn mấy bà bán thức ăn sáng đang xắp xếp chén, dĩa, nồi, soong nghe rổn rảng. Họ bán sương xăm, sương xáo, chè, xôi, bánh, trái, cháo lòng, cơm tấm... Họ nói cười ồn ào với mấy ông bạn hàng.

Quang cảnh náo nhiệt như bầy ong vỡ tổ. Mai Ly vẫn nằm ngủ mê man, những tiếng ồn ào kia không hề đá động gì đến giấc ngủ của em.
Một ông trạc tuổi năm mươi, vóc người mập mập, đầu bịt khăn rằn, mặc quần xà lỏn đen, bụng lệ phệ, áo ngắn tay không gài nút. Ông đến gần Mai Ly quát lên :
- Ê, nhỏ ! Ý, thằng nhỏ hay con nhỏ vậy kìa ? Dậy mầy. Con nhà ai, sao mầy ngủ ở đây ? Dậy không ? Nếu không dậy tao sẽ chặt ra từng khúc bán chung với thịt bây giờ à !
Đó là tiếng la hét của chú Tư Thái, chủ của thớt thịt. Mai Ly giựt mình thức dậy đưa bàn tay lên dụi mắt, vừa sợ vừa nói :
- Dạ, dạ để con dậy chú ơi !
- Mau đi mầy !
- Dạ, con tuột xuống liền đây nè. Xin chú đừng chặt con tội nghiệp !
Chú Tư Thái nhìn Mai Ly rồi giựt mình chăm chú nhìn kỹ hơn. Sau vài phút, chú thấy Mai Ly quen quen... Tích tắc chú nhận ra ngay :
- À, há ! Tao biết mầy rồi !
- Chú đừng làm con sợ tội nghiệp con chú ơi !
- Mầy có phải là em Hai Hà, con chú Bộ Hùng, cháu nội ông Cả Hạnh, không vậy mậy ?
- Dạ, đúng.
- Trời ơi ! Sao mầy ngủ đây ?
Mai Ly gật đầu mà đôi mắt em rưng rưng, còn miệng mếu máo nói :
- Dạ, thưa chú Tư. Anh Hai con đuổi con đi hai đêm rồi !
- Hai đêm ! Vậy tối hôm qua mầy ngủ đâu ?
- Dạ, con ngủ với ba con.
- Hả ! Ngủ với ba mầy ? Trời đất ơi ! Con nhỏ nầy nó điên rồi ! Ba mầy đã chết từ lâu.
Chú Tư Thái đếm ngón tay và nói lảm nhảm : "Coi... nay là bao lâu... À, chú Bộ Hùng mất nay cũng được sáu bảy năm rồi, mà nó nói nó ngủ với ba nó coi có phải là điên không đây chớ ? "
- Không phải đâu chú Tư ơi ! Con ngủ kế bên mả ba con.
- Mầy không sợ ma hả ?
- Dạ, không. Vì có ba con mà.
Chú Tư Thái bắt đầu thấy tội nghiệp Mai Ly. Hai tay chú xắp thịt ra để treo lên từng hàng theo thứ tự mà chú lắc đầu thở ra, chú nhìn em và hỏi :
- Sao mầy không đến nhà mấy cô, chú mầy ? Thôi, để tao nhắn cô chú mầy ra đây rước mầy về nghe hôn ?
Chú lẩm bẩm : "Con nhà cũng khá giả, chớ có phải con ăn mày đâu mà kỳ cục như thế này !" Chú quay sang và tiếp :
- Mầy phải đi về nhà. Mầy không được đi lưu linh như vầy nghe hôn ?
- Không được đâu chú Tư ơi !
- Tại sao không ?
- Vì ở với chú thì có thím dâu. Còn ở cô lại có dượng rể. Thôi, khó lắm chú ơi ! Họ không có thương con đâu.
- Thiệt, cái con nhỏ này, đàng nào mầy cũng không chịu. Chớ mầy muốn gì. Rồi đây mầy sẽ ở đâu ?
- Dạ, con chẳng biết sẽ ở đâu ? Nhưng con phải đi...
- Đi đâu hả nhỏ ? Mầy còn con nít mà đi đâu, đi bậy bạ người ta bắt bán Nhà Số là tiêu đời à !
- Nhà Số là gì hả chú Tư ?
Chú Tư nói lớn tiếng như ra lệnh :
- Thôi, đừng hỏi lộn xộn. Mầy phải về nhà.
- Không. Con không về nhà đâu. Con đi. Con đi...
Mai Ly định chạy đi nhưng nghe bụng cào cấu, vì cả ngày hôm qua em chỉ lót dạ có hai trái chuối rục. Thấy chợ đã đông người, em liền hỏi nhanh chú Tư :
- Chú, chú. Chú có gì ăn cho con miếng, con đói bụng quá chú ơi !
- Hả ! Mầy đói à ! Nè, tao chia cho trái chuối.
Tư Thái thò tay bẻ trái chuối vứt xuống đất. Mai Ly tuy đói bụng nhưng thấy sự bố thí miệt khinh, lòng em bị chạm tự ái và tủi thân nên không thèm lượm lên ăn mà xách cái túi rút và ôm cặp táp bỏ đi thật nhanh.

Chợ buổi sáng đã đông người. Những chiếc nón lá nhô lên như một đám nấm lớn. Mai Ly len lén đi lòng vòng quanh chợ, em cố tránh người quen hoặc người nhà. Rồi vào một tiệm tạp hóa hỏi xin việc làm. Nhưng ở chợ Bình Chánh hầu hết ai ai cũng biết gia đình em, nên không ai dám mướn và cũng chẳng ai dám chứa chấp. Mãi đến trưa chợ thưa dần người ta quét rác, rửa chợ. Mai Ly đi lòng vòng, mắt nhìn vào đống rác xem coi còn gì có thể ăn được không. Nhưng em hoàn toàn thất vọng. Quá mỏi mệt vì đói khát, em đến góc chợ ngồi dựa lưng vào cột và thiếp đi. Chiều hôm đó, Mai Ly bị cảm nặng vì hai đêm em ngủ thiếu chăn chiếu.


Một người đàn bà trạc tuổi bốn mươi, có vóc dáng cao ráo, nước da trắng hồng, mặt mũi khá đẹp, tóc búi kiểu bánh tiêu, mặc chiếc áo dài phong đen nổi những đóa hoa bông bụp màu hồng rực rỡ, quần sa ten trắng, mang giày cao gót, trang điểm son phấn đơn sơ. Bà đến gần Mai Ly đưa tay rờ trán, vuốt tóc và gọi :

- Mai Ly ! Dậy đi con. Má đây nè !
Mai Ly mở mắt nhìn thấy mẹ, em ôm chầm mẹ và khóc nức nở, mẹ em cũng ứa lệ, bà bảo :
- Con lên Bình-Điền ở với má. Chớ con đừng đi lang thang như vầy nữa nha !
Mai Ly ngẩng đầu lên, nghẹn ngào hỏi :
- Ông đó chết chưa ?
- Ông nào ?
- Ông chồng của má đó, ổng chết chưa ? Con ghét ổng lắm...
- Thôi, con đừng có nói bậy. Con đi với má nghe.
Bà Hùng cảm thấy không êm. Bà liền dụ em đường khác :
- Nè, con lên Bình Điền vài hôm rồi sau đó má đưa con lên nhà dì Ba ở chợ Bà Hom. Dì dượng Ba sẽ cho con đi học lại, dì dượng không có con, mà giàu có, dì dượng sẽ cưng con nhiều.
Bé Mai Ly nghe khoái tai, nên chịu đi. Bà Hùng dẫn Mai Ly qua tiệm thuốc Bắc mua thuốc cảm cho em uống và đưa qua tiệm hủ tiếu cho em ăn cháo. Sau đó, hai mẹ con bà Hùng đón xe đò lên Bình Điền.
Vào nhà, bà Hùng lật đật đem Mai Ly đi tắm thay đồ xong, bà liền đón xe đi lên chợ Bà Hom. Trên xe bà căn dặn Mai Ly :
- Con nhớ lễ phép và ngoan với dì dượng nghe con !
- Dạ, con nhớ. Dì dượng Ba sẽ cho con đi học lại phải không má ?
- Ờ.

Xe đã đến bến chợ Bà Hom, hai mẹ con Mai Ly đi đến một biệt thự khá đẹp vừa xây cất xong không lâu lắm. Bà Hùng đưa tay mở cổng vào trong sân vườn rộng có trồng đầy hoa kiểng, cây trái, như xoài, ổi, mít, dừa, hai cây trứng cá, một bụi mía Tây có nhiều cây đứng cây ngả, màu vàng rực, một hàng so đũa bên hông nhà, hai cây khế gần ao nuôi cá và thêm một khoảng đất trồng huệ trắng nằm kế bên đám vạn thọ vàng khè cùng mấy hàng cau tơ sau nhà.

Mai Ly nắm tay mẹ. Bà Hùng gọi :
- Chị Ba ! Anh Ba ! Có ở nhà không ? Em và bé Mai Ly đây nè !
Ông bà Hòa bước ra cửa, trên gương mặt rất vui vẻ niềm nở đón tiếp hai mẹ con bà Hùng. Vô nhà, tất cả ngồi trên bộ ván gỗ mun, bà Hòa hỏi bà Hùng :
- Cháu Mai ly năm nay bao nhiêu tuổi rồi em ?
- Dạ, nó được mười hai tuổi rồi, thưa chị !
Bà Hòa quay sang hỏi Mai Ly :
- Năm nay con học lớp mấy rồi ?
- Dạ, thưa dì. Con đang học lớp nhứt.
- Ờ, ở đây với dì dượng rồi kỳ nhập học tới này, dì sẽ cho con đi học trở lại .
Mai Ly nghe dì nói thế trong lòng phơi phới và đầy hy vọng. Ăn bữa cơm tối xong bà Hùng ở lại ngủ với Mai Ly một đêm. Đã từ lâu em không được ngủ chung với mẹ. Sáng hôm sau, thức dậy ăn điểm tâm, rồi ăn bữa cơm trưa xong, bà Hùng từ giã ra về.
Mai Ly ở lại rảo bước ra vườn xem mấy cây trái. Em nhìn ra ngoài cổng thì thấy một bé gái trạc tuổi minh. Em lấy làm lạ, vì con bé kia sao gương mặt hầm hầm mà còn mở cửa vào nhà một cách tự nhiên. Bé đến gần hỏi Mai Ly :
- Ê, chị kia ! Chị là ai. Làm gì ở đây ?
Mai Ly điềm nhiên trả lời :
- Tôi là cháu ruột của dì tôi, còn chị là ai mà vô đây vậy?
Bé kia không thèm trả lời mà bỏ vào nhà một cách phách lối và gọi :
- Ông ơi ! Bà ơi ! Có ai ở ngoài vườn mình đó ?
Ông bà Hòa nghe giọng gọi khó chịu của con bé. Bé là con nuôi của ông bà Hòa, nhưng em gọi ông bà Hòa bằng ông bà. Trong nhà bà Hòa hỏi ra :
- Cái gì đó con ? Con mới về đó hả ?
- Con hỏi ai ở ngoài vườn nhà mình kìa ?
- Ha, Mai Ly ! Con phải gọi bằng chị, vì nó lớn hơn con một tuổi, là cháu ruột của bà.
- Con biết rồi !
- Sao con biết ?
- Chỉ vừa nói với con .
- Nè con, Mai Ly ở đây cho con có bạn.
Bé Thúy có vẻ không bằng lòng, dậm chân mạnh và đi nhanh vô phòng. Mai Ly có linh tính dường như bé Thúy ganh với em, nên lòng nghe buồn buồn, lo lo, tự nhủ : "Thây kệ, đến đâu hay đến đó. Mình biết đi đâu nữa bây giờ ? Vì từ ngày má mình có chồng khác, tính đến nay đã hơn sáu năm. Mình cứ ôm cặp táp và xách cái túi rút đi lòng vòng nhà này tới nhà nọ, hết cô đến chú, chỗ nào thân mình cũng bị đọa đày và mắng nhiếc. Không lẽ cuộc đời mình cứ bị xui hoài hay sao ?"
Mai Ly tủi cho thân phận, đôi mắt rưng rưng và lòng buồn vô hạn.

(ct...)
VIỆT DƯƠNG NHÂN






SẮC ĐẸP

 Bạch CúcTôn Kính Phật

19 giờ 
SẮC ĐẸP
Một người phụ nữ sở hữu dung mạo xinh đẹp tuy nhiên tính cách không tốt, tu dưỡng không đủ, chưa chắc nhìn họ đã xinh đẹp. Nếu bạn may mắn có một khuôn mặt xinh đẹp, thì bạn cần ghi nhớ đây chính là một khảo nghiệm đối với tâm hồn bạn.
Còn nhớ một nữ diễn viên người Anh từng nói:
Nếu muốn có một thân hình đẹp hãy chia đồ ăn của bạn cho những người đói khát.
Nếu muốn có một đôi môi đẹp, hãy nói những lời thân thiết.
Nếu muốn có một đôi mắt khả ái hãy nhìn vào điểm tốt của người khác.
Nếu muốn có một phong thái trang nhã, khi đi đường hãy nhớ rằng trên đường không chỉ có mình bạn.
Kỳ thực, ở đời không có vẻ đẹp và cái xấu vô duyên vô cớ. Một người có gương mặt xinh đẹp, nhưng tính cách không tốt, tu dưỡng không đủ, chưa hẳn trông họ đã xinh đẹp. Tướng mặt của bạn chính là phong thuỷ của bạn.
Tướng mặt thể hiện tình cảm, tính cách của bạn
Trong cuộc sống thường có hiện tượng rằng: Một người lướt qua thì thấy dung mạo vô cùng tuyệt vời, song nhìn lâu lại thấy bình thường.
Một người liếc nhìn thấy bình thường, nhưng sau này càng nhìn lại càng thấy thuận mắt, càng nhìn càng lại thấy cuốn hút.
Sở dĩ như thế phần lớn là vì trên khuôn mặt đã thể hiện tâm hồn của người đó. Tâm hồn cũng ảnh hưởng tới dung mạo. Tính cách của một người được viết trên khuôn mặt của họ. Tính cách qua ngày rộng tháng dài sẽ dần thay đổi dung mạo của chúng ta.
Người xưa có câu rằng “Tướng do tâm sinh”, ý muốn nói với chúng ta rằng, dung mạo của một người sẽ thay đổi theo tâm niệm của họ.
Nếu bạn sống khoan dung, trên khuôn mặt của bạn sẽ hiện lên vẻ đẹp của sự an nhiên.
Bạn sống đơn giản, khuôn mặt sẽ có nét cười của trẻ thơ. Bạn thân thiện, khoé môi của bạn tự nhiên sẽ hướng lên trên như đang mỉm cười. Bạn giả dối, đôi mắt bạn sẽ lộ vẻ gian xảo. Bạn nóng nảy, đôi lông mày sẽ vô tình nhíu lại
Thực ra, trạng thái tinh thần của một người, nếu có những biến đổi tích cực, thì toàn thân người ấy sẽ toát nên sức sống. Sự kiên nhẫn, tự tin, không chỉ thay đổi dung mạo, mà còn khiến khí chất thăng hoa.
Do đó, nếu muốn có một dung mạo xinh đẹp, ắt phải nuôi dưỡng tâm hồn mình. Chỉ khi tâm hồn rạng rỡ, đáng yêu, bạn mới có thể tạo được vẻ đẹp mỹ lệ bền lâu.
Tướng mạo chính là thói quen của bạn
Người đời thường nói, thời nay là xã hội nông cạn, nhìn mặt mà bắt hình dong. Kỳ thực, đôi khi đánh giá con người qua dung mạo cũng rất công bằng. Dung mạo này không chỉ là tỷ lệ về khuôn mặt, mà còn dung hoà nhiều phương diện như tướng mặt, ánh mắt, cử chỉ, nói năng, khí chất
Một người sống tốt hay không nhìn ngoại hình của họ sẽ có thể biết được điều đó. Có một cuộc điều tra như sau: Những người có tướng mạo ưa nhìn thường có mức lương cao hơn những người có tướng mạo bình thường 15%.
Điều này không chỉ vì trông họ xinh đẹp hơn nên được cấp trên để mắt tới, đa phần những người có tướng mạo ưa nhìn, thường có rất nhiều ưu điểm.
Phía sau một người phụ nữ có khuôn mặt tuyệt đẹp, ắt hẳn là một lối sống chỉn chu, tinh tế. Họ lựa chọn đồ ăn kỹ lưỡng, nghỉ ngơi đúng giờ, chăm chỉ đọc sách, kiên trì rèn luyện thân thể… Dung mạo của bạn chính là dáng vóc mà cuộc sống ban cho bạn.
Một tướng mạo xinh đẹp cần được trời phú, nhưng dung mạo khiến người khác cảm thấy thư thái, dễ chịu, lại xuất phát từ những con người sống có kỷ luật, biết yêu thương và chăm sóc bản thân và mọi người xung quanh. Mỗi người chúng ta đều phải chịu trách nhiệm về dung mạo của chính mình.
Tướng mặt thể hiện trải nghiệm sống của bạn
Nếu bạn có một khuôn mặt khả ái xinh đẹp, thì bạn cần lưu tâm rằng đây chính là một khảo nghiệm đối với tâm hồn mình. Nếu tâm hồn bạn dung tục, thì sự dung tục này sẽ thể hiện trên khuôn mặt bạn, khiến vẻ đẹp ấy cũng trở nên dung tục.
Đặc biệt là một người phụ nữ đã qua tuổi 30, khi vẻ đẹp tự nhiên đã phai tàn, lúc này vẻ đẹp tu dưỡng của cá nhân mỗi người càng nổi bật hơn. Xinh đẹp hay không hết thảy đều do bản thân quyết định.
Một tiểu thư sinh ra nơi gia đình danh giá, từng trải qua những tháng năm sống nay chết mai. Khi còn trẻ bà đã bị đưa tới lao động tại nông trường, nhưng dẫu khổ thế nào, bà vẫn ăn vận tinh tế, cố gắng giữ gìn sự ung dung và trang nhã của mình. Mãi cho tới những năm xế chiều, bà vẫn là một thục nữ trang nhã.
Có một lần, khi 86 tuổi, bà ra ngoài dùng bữa cùng 3 cô gái trẻ. Nhưng người ta lại có cảm giác như 3 quý ông cùng đi với một mỹ nhân đắm say lòng người, chứ không phải ba cô gái đi cùng một bà lão.
Đây chính là khí chất kết tinh qua những nỗi khổ bà đã trải qua, những chuyện thế sự mà bà đã bao dung. Những tháng năm đã qua đều đã tôi luyện sự thông tuệ ,ưu nhã, dịu dàng và khí chất của bà, chúng được bộc lộ ngay trên gương mặt.
Suy cho cùng, xinh đẹp đâu chỉ là vẻ diễm lệ bề ngoài, mà còn là tố chất ẩn sâu trong nội tâm của một người sau khi bóc đi lớp vỏ bên ngoài. Dẫu ở giữa một biển người chỉ cần liếc mắt nhìn qua, chúng ta cũng vẫn có thể nhìn thấy dáng dấp ấy, linh hồn ấy.
Tướng mặt của một người, không chỉ liên quan tới hiện tại của bạn, mà còn quyết định tương lai của bạn, xin hãy tin rằng tướng mạo có thể dần thay đổi từng bước một.” Bertrand Russell, một nhà văn người Anh từng nói.
Chính vì thế, sống lương thiện, chất phác, tích cực, lạc quan, trong nội tâm tràn đầy tình yêu và lòng biết ơn, tâm hồn con người sẽ trở nên phong phú hơn. Từ đó tâm thái bạn cũng lạc quan hơn và trở nên độc đáo hơn. Chắc chắn rằng bạn sẽ ngày càng xinh đẹp hơn.
——————————
Nhân gian tô vẽ hình hài
Em ngồi soi lại một đài gương tâm
Xin thường tâm niệm điều thiện, nói lời tốt, làm việc lành
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
(fb Lời dạy Đức Phật)
🙏🙏🙏
CúcNguyễn st
Bạn và 1,7K người khác
144 bình luận
110 lượt chia sẻ
Yêu thích
Yêu thích
Bình luận
Chia sẻ

Thứ Năm, 1 tháng 7, 2021

CÔNG KHÓ CỦA TỔ TIÊN TRONG VIỆC MỞ NƯỚC VỀ PHƯƠNG NAM (Chiến tranh giửa Chiêm Thành và Đại Việt)

 

Anh Kim Le cùng với Nhung Truong và 58 người khác.

CÔNG KHÓ CỦA TỔ TIÊN TRONG VIỆC
MỞ NƯỚC VỀ PHƯƠNG NAM
(Chiến tranh giửa Chiêm Thành và Đại Việt)
Ngày hôm nay Việt tộc chúng ta đang thừa hưởng một di sản qúi báu của tiền nhân để lại là một mảnh đất hình cong chử S chạy dài từ Ải Nam Quan tới mủi Cà Mau bao gồm Hoàng Sa và Trường Sa, là phải nhớ ơn công trình mở nước về phương nam của tổ tiên chúng ta qua 10 thế kỷ. Mọi công dân nước Việt đều phải cố gắng giử gìn, đó là một thứ nhiệm vụ thiêng liêng mà tổ tiên đã giao phó cho các thế hệ đi sau. Không một ai có thể nhân danh hay dùng bất cứ quyền lực gì để dâng bán cho ngoại bang đều bị kết tội là phản bội tổ quốc. Không có luật pháp nào có thể tha thứ hoặc xử nhẹ cho tội tày trời này. Hôm nay những người cộng sản vì tham vọng nhuộm đỏ toàn vùng Đông Nam Á, theo lệnh quan thầy Nga Xô, tức đệ tam quốc tế đã nhận viện trợ từ súng đạn Nga Tàu để bắn giết đồng bào miền bắc và nam, sau đó phải trả lãi bằng cách cắt đất, biển, đảo dâng cho Tàu Cộng để trả nợ. hành động này được ghi nhận từ thời hồ chí minh rồi tiếp đến các đời cộng sản cầm quyền sau này như: Nguyễn văn Linh, Đổ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh, Nguyễn Phú Trọng...đây chính là những tội đồ của Việt tộc đang được sự che chở của băng đảng Mafia csVN, đang ngang ngược thách thức với toàn dân VN về tội bán nước cho Tàu Cộng mà tập đoàn csVN đang vi phạm. Căn nhà VN, không phải do hồ chí minh và đảng cs tạo dựng ra, đó là di sản của tiền nhân để lại cho con dân nước Việt, nó không phải tài sản của đảng hay của họ "hồ". Thế nên những người cầm quyền không được phép được cắt nhượng cho đàn anh Tàu Cộng. Tất cã mọi người đều có bổn phận phải giữ gìn tài sản chung này.
Cái nhà là nhà của ta
Công khó ông cha lập ra
Cháu con phải gìn giữ lấy
Muôn năm với nước non nhà
Xóm làng là làng của ta
Xương máu ông cha làm ra
Chúng ta phải gìn giữ lấy
Muôn năm với nước non nhà
(bài hát cộng đồng)
BỐI CẢNH THỜI KỲ CHIẾN TRANH CHIÊM THÀNH - ĐẠI VIỆT
Vào thời Trung cổ (tk thứ V tới XV), các quốc gia muốn tồn tại đều phải dùng chiến tranh để giải quyết cho sự sống còn của quốc gia và dân tộc mình. Đây là những thế kỷ có sự hiện diện của Chăm Pa và VN chúng ta ở phương Đông. Vào thời này mọi quốc gia trên thế giới từ Âu đến Á đều phải hiểu ngầm: muốn tồn tại thì phải chiến đấu để vươn lên. Qui luật đó tuy không có văn bản nhưng các nước đều tuân thủ triệt để, thế nên vùng địa lý chính trị trên thế giới luôn thay đổi, các đường biên giới đều được vẽ bằng máu. Chiến tranh đâu đâu cũng có rất khốc liệt tàn nhẩn dùng đế hủy diệt lẩn nhau. Trong bài viết này tên gọi của nước Champa còn được gọi là Tương Lâm, Lâm Ấp, Chiêm Thành theo từng thời gian biến động của lịch sử.
Thời đại có sự hiện hữu của Đại Việt và Chiêm Thành là thời kỳ mà mọi quốc gia trên thế giói đều tuân thủ một quy luật “Quốc gia nào thích nghi tốt nhất sẽ là quốc gia trường tồn”. Quy luật này sau đó đã được Darwin hình thành" thuyết Tiến Hóa"vào thế kỷ 19. Các nhà khoa học cho rằng các chủng tộc trong loài người cũng giống như các loài động vật phải biết đấu tranh sinh tồn, trong đó kẻ mạnh sẽ thống trị và tiêu diệt kẻ yếu. Thế nên địa lý thế giới về đường phân chia ranh giới các quốc gia thay đổi không ngừng. Nước nào mạnh về quân sự là đem quân đi thôn tính các quốc gia khác. Ngày xưa nếu như Đại Việt chúng ta không mạnh về quân sự, thì từ lâu đã không còn mảnh đất để gọi là VN.
Trong quá khứ người Chàm không đũ sức vượt qua được các thế lực mạnh chung quanh để vươn lên thì bị quật ngã và xóa sổ. Không thể trách và càng không nên nguyền rủa là Việt tộc đã chiếm hữu nước Chiêm Thành, để rồi ngày nay gặp một quả báo, đó là sự cai trị của loài qủi đỏ csVN. Nói thư thế là gán ép tôn giáo vào việc chính trị thời trung cổ, thời mà tư tưởng con người chưa phát triển cao, con người chỉ biết lấy sức mạnh để giải quyết tồn vong của quốc gia và dân tộc mình, trong đó có các dân tộc như: Đại Việt, Chân Lạp và Chiêm Thành cùng nhau tranh sống.
Việc chiếm hữu đất đai để vẽ ra lằn ranh biên giới quốc gia là một sự đấu tranh cần thiết trong giai đoạn phát triển chủ nghĩa đế quốc và dân tôc cực đoan mà tất cã các quốc gia trên thế giới tứ Âu sang Á đều phải dọn mình để bước vào sân chơi này. Đại Việt, Trung Hoa, Chân Lạp, Chiêm Thành đều thấu hiểu nguyên tắc sinh tồn này trong thời trung cổ trước khi có Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc ra đời vào năm 1945 sau khi chiến tranh thế giới lần II chấm dứt.
Chiêm thành và Đại Việt đều sẳn sàng cho cuộc thư hùng và phải mất trên 14 thế kỷ mới chấm dứt. Giai đoạn đầu của cuộc thư hùng gần 7 thế kỷ (từ thứ III đến thứ X), nước VN đã nhiều lần bị quân Cham Pa sang tấn công cướp phá tại Giao Châu, Nhật Nam, Cửu Chân...Đây là thời gian mà VN đang bị Tàu đô hộ lần II đất nước dưới sự cai quản của các quan Thái Thú. Sự chống trả với quân Chiêm Thành do quân Tàu đãm trách. Cho đến khi VN lấy lại được chủ quyền đất nước vào năm 939, từ đây các triều đình của Đại Việt mới tính đế chuyện dẹp giặc Chiêm Thành để bảo đảm an ninh cho dân tộc Đại Việt sống trong yên bình. Giao Châu (chữ Hán: 交州) là tên một châu hoặc phủ thời xưa, bao trùm vùng đất miền Bắc Việt Nam ngày nay. Ban đầu Giao Châu còn bao gồm một phần đất Quảng Tây và Quảng Đông thuộc Trung Hoa. Sau khi Sĩ Nhiếp chết (226), Đông Ngô đã chia Giao Châu ra làm hai châu: Quảng Châu gồm các quận Nam Hải, Uất Lâm, Thương Ngô cho Lữ Đại (Lã Đại) làm Thứ sử và Giao Châu (mới) gồm các quận Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam
Việc Chiêm Thành mất nước vào tay Đại Việt là một điều tất yếu của lịch sử trong một giai đoạn. Người viết tuy là con dân nước Đại Việt nhưng không hề đứng trên quan niệm cúa phe thắng cuộc để nhìn và phê phán. Chỉ đưa ra những bối cảnh và những quy luật sống còn vào giai đoạn mà Đại Việt và Chiêm Thành cùng nhau tranh sống một cách quyết liệt. Số phận Chiêm Thành rơi đúng vào thời trung cổ để rồi bị xóa sổ trong thời đại mà mọi quốc gia đều dùng vũ lực làm kim chỉ nam trong mọi việc giành độc lập hay vẽ đường biên giới địa lý quốc gia. Đôi bên khi tham chiến đều phải thừa biết "không thắng thì thua", mà khi thua là mất hết.
Chiêm Thành bị xóa sổ vào giai đoạn mà chủ nghĩa đế quốc thịnh hành, khi mà vấn đề nhân quyền còn là chuyện hoàn toàn xa lạ với mọi người trên thế giới.
Khái niệm Nhân Quyền bắt đầu phát triển vào thế kỷ 18, nước Pháp là nước được coi là cái nôi về Nhân Quyền. Năm 1789 khi cuộc cách mạng đòi nhân quyền đầu tiên trên thế giới xảy ra, đó là lúc nhân dân bị trị đứng dậy đòi quyền sống phá ngục Bastil. Rồi cũng chính tại cái nôi về nhân quyền của thế giới, một thời gian không lâu sau đó, người Pháp đã xua quân sang VN để biến nước ta thành một thuộc địa của Pháp. Vậy thì, cho tới ngày Chiêm Thành bị xóa sổ vào năm 1832, được coi đó như là điều tất yếu của sử thế giới đã dành cho số phận một quốc gia không may mắn.
Cũng như bao quốc gia khác Đại Việt muốn tồn tại được trong một khu vực chung quanh toàn là hổ báo, thì Việt tộc hơn bao giờ hết phải hết sức cố gắng vươn lên để sống để bảo vệ bời cõi. Một đất nước bé nhỏ luôn chuẩn bị nội lực để chống lại các đàn hổ báo hung tợn (Trung Hoa, Chân lạp, Chiêm Thành) mà sinh tồn. Như thế mới biết công khó của tổ tiên Đại Việt trong bảo vệ và mở mang bờ cỏi về phương nam lớn lao và khó nhọc biết chừng nào.
Việt tộc đã bị người Trung Hoa cai trị gần 1000 năm, trong thời gian này người Việt phải nhịn nhục sống để rồi vươn lên lấy lại được những gì đã mất, chứ không hề oán than hay đổ lỗi là phạm vào luật nhân quả như người Chàm khi bị mất nước. Nên, khi ai nói người Việt chúng ta đang bị nhân quả báo ứng, đó là câu nói hoàn toàn sai lạc. Nếu ai là người nói đến luật nhân quả báo ứng của Phật Giáo trong việc Đại Việt xóa sổ Chiêm Thành, xin hãy cho biết: VN đã trải qua 3 lần quốc nạn là bị người Trung Hoa đô hộ 3 kéo dài gần 1000 năm, Việt tộc trước đó đã làm gì ác mà phải gặp quả báo như vậy?? Nếu không có câu trả lời, thì xin hãy từ bỏ ngay lập tức những suy nghỉ thiếu luận cứ khoa học và đầy ác ý nhằm khích động hận thù giửa hai dân tộc Việt - Chiêm, trong đó có một số sử gia thiếu tính khách quan người Chiêm khi viết về đoạn sử đẩm máu của Đại việt và Chiêm Thành. Người viết ghi lại hết quá trình lịch sử của Chiêm Thành trước và khi bị xóa sổ một cách khách quan bằng chứng liệu có trong sử Việt, Chiêm Thành, Pháp và Trung Hoa để ra đưa ra nhận định riêng của người viết.
Việt tộc khi bị đế quốc Trung Hoa chiếm đóng đã phải lấy máu mình để đổi lấy nền độc lập nếu một khi đã đũ mạnh, còn không lấy lại được độc lập thì vĩnh viển bị xóa sổ như các quốc gia Phù Nam, Chàm... Dân tộc VN, trong tương lai còn phải xóa bỏ sự cai trị của cộng sản trên quê hương VN. Trong khi đó người Do Thái phải mất 2000 năm mới về lại nơi quê hương đã mất. Đó là những hình ảnh của một thời mạnh được yếu thua. Trong thời đại này khi phê phán một hiện tượng từng xảy ra trong lịch sử không nên nhìn sự việc qua lăng kính tôn giáo, rồi cố tình gán ép vào cho một cái tội không phù hợp với thời trung cổ, vì chính các tôn giáo cũng đã từng đem quân đi chiếm hữu đất đai và diệt người Hồi Giáo như cuộc Thập Tự Chinh (không liên tục giữa năm 1095 và 1291 và tiếp tục vào thế kỷ XV ở tây Ban Nha và Đông Âu)
Người Chiêm Thành nguyền rủa Việt tộc sau khi mất nước, nhưng họ quên một điều quan trọng, đó là bản chất của người Chiêm Thành vào thời trung cổ rất hiếu chiến, khi nào họ mạnh liền đưa quân sang VN để đánh phá và chiếm đất. Họ đã nhiều lần tấn công vào đất Việt, trong khi đất nước chúng ta đang bị người Tàu đô hộ lần II. Từ lúc mới dựng nước, Chiêm Thành đã từng đưa quân sang tấn công và cướp phá nước ta liên tục. Bối cảnh VN trong lúc đó là một nước bé luôn bị các nước láng giềng rình rập để đem quân vào cướp phá. Chiêm Thành là mối nguy hiểm lớn cho các triều đình VN, sức ép về quân sự của Chiêm Thành không thua gì Trung Hoa. VN trước thế kỷ thứ X chỉ là một nước nhỏ bé hơn tất cã các nước có đường biên giới chung. Nghe bản nhạc " Hận Đồ Bàn" để thấy sự tự hào và hảnh diện về một thời cường thịnh của Chiêm Thành. Vào lúc mà họ tự hào thì Việt tộc chúng ta phải chịu cảnh lầm than khổ sở vì sự chém giết cướp bóc phá hoại của người Chiêm Thành trên quê hương của Đại Việt, nhiều lần Vua quan nhà Trần phải bỏ Thăng Long để đi lánh nạn.
"....Về kinh đô
Ngàn thớt voi uy hiếp quân giặc thù ...
Triền sóng xô
Muôn lớp quân Chiêm tiến như tràn bờ ...
Tiệc liên hoan
Nhạc tấu vang trên xứ thiêng Đồ Bàn
Dạ yến ban
Cung nữ dâng lên khúc ca Về Chàm.
Một thời oanh liệt
Người dân nước Chiêm
Lừng ghi chiến công
Vang khắp non sông...."
Người Việt quốc gia khác với người Chiêm Thành, khi nước VNCH mất, họ không than thân trách phận, coi thất bại là một bài học cho tương lai, họ không lấy luật nhân quả của Phật giáo để lồng vào cái thất bại của người đi trước. Sau tháng 4/1975 khi di tản ra ngoại quốc lánh nạn, 42 năm qua, lớp người đi trước tìm đũ mọi cách vừa tham gia tích cực trên các mặt trận cứu quốc vừa chiến đấu vừa xây dựng một đội ngũ cho công cuộc giải thể tập đoàn Mafia csVN bằng một chiến lược lâu dài. Thành quả này của người dân nước VNCH rồi đây chắn sẽ họ sẽ nhìn thấy lại quôc gia của mình bị mất.
CHIÊM THÀNH ĐÁNH CHÂN LẠP TÀN PHÁ DI TÍCH ANGKOR WAT
Sau khi được thành lập nước, vua Ayuthya của Chiêm Thành tiến đánh Chân Lạp, cai trị Chân Lạp trong 5 năm (1352-1357). Năm 1353 Ayuthya lại đánh Chân Lạp và chiếm Angkor Wat. Một ông hoàng thân của Chân Lạp trốn thoát về Ba-san (Kongpong Cham) xây dựng căn cứ, tổ chức lực lượng và giải phóng Angkor năm 1396. Các cuộc xâm lược của Chiêm Thành liên tiếp do Ayuthya chỉ huy đã triệt phá Angkor Wat. Năm 1432, cảm thấy không đủ sức lực chống lại Ayuthya, vua Ponhea Yat của Chân Lạp bỏ Angkor, về lập đô ở căn cứ Ba-san rồi ở Chakdomut (bốn mặt sông) ở địa điểm Phnôm Penh hiện nay. Thời kỳ Angkor Wat của Chân Lạp đến đây chấm dứt. Năm 1520 kinh đô lại dời về Lôvếch trước sự xâm chiếm của Chiêm Thành. Xin cho biết nhân quả báo ứng nào cho việc làm này của người Chàm?
CHAMPA VÀ NHỮNG LẦN ĐÁNH PHÁ VN
Nước Champa đầu tiên có quốc hiệu là Tương Lâm, rồi sau đó là Lâm Ấp, Hoàn Vương, sau cùng là Chiêm Thành.
Đời vua Hóa Đế vào năm Nhâm dần 102 ( Nhà Đông Hán) có người của huyện Tượng Lâm hay sang quấy phá. Tượng Lâm là tiền thân của nước Lâm Ấp tức Chiêm Thành. Trong đời Tam Quốc, những người Lâm Ấp thường hay sang cướp phá và quấy nhiểu quận Nhật Nam và quận Cữu Châu. Thế nên vua nhà Hán mới cử một quan đến để giử gìn an ninh cho vùng này ( Sử Trần Trọng Kim , tr.49)
Năm Quí Sữu 353, người Lâm Ấp, đời vua Mục Đế đời Đống Tấn, thứ sử Giao Châu là Nguyễn Phu, đánh vua Lâm Ấp là Phạm Phật.
Đến năm Kỷ Hợi 399, Phạm Bồ Đạt, cháu của Phạm Phật mang quân sang đánh lấy hai quân Nhật Nam và Cữu Chân. Nhưng sau đó bị quan Thái Thú Giao Chỉ là Đổ Viện đánh đuổi người Lâm Ấp lấy lại hai Châu đó.
Đến năm 413 Phạm Bồ Đạt lại đem quân sang phá quận Cữu Chân. Con của Đổ Viện là Đổ Tuệ Độ làm thứ sử Giao Châu đem binh đánh đuổi và chém được tướng Lâm Ấp là Phạm Kiện, bắt được hơn 100 người (Sử Trần Trọng Kim , tr.50).
Dòng dỏi Phạm Bồ Đạt làm vua truyền được mấy đời, sau đó bị một quan Lâm Ấp là Phạm Chư Nông cướp mất ngôi, rồi truyền lại cho con là Phạm Dương Mại. Lúc đó bên Tàu phân ra Nam Triều và Bắc Triều, nhân cơ hội đó Phạm Dương Mại đem quan sang quấy phá Giao Châu. Lúc bấy giờ Giao Châu thuộc Nam Triều-Nhà Tống.
Đến đời Văn Vũ Đế năm 433, Phạm Dương Mại thấy nước Tàu loạn lạc nên sai sứ sang triều cống nhà Tống và xin được cai trị xứ Giao Châu chúng ta, nhưng vua Tống không chấp thuận lời yêu cầu của Phạm Dương Mai.( Sử Trần Trọng Kim , tr.51). Từ đó nước Lâm Ấp thường xuyên quấy phá Giao Châu ở mạn Nhật Nam và Cữu Chân. Vua Tống sai thứ sử Đàn Hòa Chi và Tông Xác là phó tướng đem quân đi đánh Lâm Ấp. Phạm dương Mại đem quân ra chống. Nhưng thua, cùng với con chạy thoát được. Hai tướng Tàu vào Lâm Ấp chiếm được nhiều vàng bạc của cải.
Đến đời Lý Bôn năm 543, người lâm Ấp lại đưa quân sang quấy phá quân Nhật Nam của Giao Châu. Lý Bôn sai tướng Phạm Tu đánh vào Cữu Đức ( Hà Tĩnh), người Lâm Ấp thua chạy về nước.
Đến năm Nhâm Tuất 602 vua nhà Tùy sai tướng Lưu Phương sang đánh Nam Việt hậu Lý Nam Đế là Lý Phật Tử sợ đánh không lại nên ra hàng. Từ đấy nước ta bị bắc thuộc thêm 336 năm nửa.
Đến đời nhà Đường bên Tàu 618-907, đời Đường Thái Tông, Lâm Ấp lúc đó có vua mới là Phạm Đầu Lê tên là Chư cát Địa lên ngội và đổi tên Lâm Ấp thành -Hoàn Vuơng Quốc. Từ đó Chiêm Thành với cái tên mới là Hoàn Vương. Và vua mới này hay đưa quân sang đánh phá Giao Châu và chiếm giữ Châu Hoa và Châu Ái.
Năm Mậu tý 808 đời vua Đường Hiến Tông, quan đô hộ là Trương Chu đem quân sang đánh nước Hoàn Vương, vua nước Hoàn Vương lui về Quảng Tĩnh, tức Quảng nam và Quãng Nghĩa bây giờ và đổi quốc hiệu là Chiêm Thành. Nước việt chúng ta vào thời nhà Đường không những bị Chiêm Thành cướp phá thường xuyên mà bị nước Nam Chiếu cũng thường sang cướp phá giết hại người Giao Châu chúng ta rất nhiều .( Sử Trần Trọng Kim , tr.65). Nước Nam Chiếu có quốc hiệu là Đại Mông quốc rồi lại đổi là Đại Lễ, ở phía nam Trung Hoa https://vi.wikipedia.org/wiki/Nam_Chi%E1%BA%BFu
.
Nước VN chúng ta tới thời Ngô Quyền (939 - 965) thì đánh đuổi được Tàu, giành độc lập về cho xứ sở. Trong thời gian này quân Hoàn Vương không thấy sang cướp phá nước ta.
Đến năm Qúi Tị 993 nhà Tống phong cho Lê Đại Hành làm Giao Chỉ Quận Vương. Rồi đến năm 997 phong cho là nam Bình Vương. Bấy giờ sứ nhà Tống thường hay đi lại trong nước ta, vua Lê Đại Hành tiếp chiếu mà không lạy, lấy cớ đi đánh giặc bị ngã ngựa chân đau không qùi hành lễ. Vua Tống biết nói dối nhưng đành làm ngơ.
Đời vua Lê Đại Hành lúc mới lên ngôi năm 980 nước có cử 2 sứ sang Hoàn Vương ( Chiêm Thành), nhưng vua Chiêm Thành lúc bấy giờ bắt giử hai sứ của nước ta. Đến khi vua Lê Đại Hành đánh xong quân nước Tống sang xâm lăng nước ta. Phía bắc nước ta đã tạm ổn,vua Lê Đại Hành thân chinh cầm quân sang đánh Hoàn Vương, đây là lần đầu tiên, sau ngày Ngô Quyền lấy lại được độc lập cho VN vua mới đem quân sang đánh Hoàn Vương để trả thù, Vua chiếm được kinh đô, từ đó Chiêm Thành mới chịu khuất phục và triều cống cho VN.( Sử Trần Trọng Kim , tr.91)
Rồi các cuộc đánh phá của Chiêm Thành và các nước Chân Lạp vẩn thường xuyên xảy ra trên đất Đại Việt một khi họ mạnh hơn Đại Việt. Vua quan nước Đại Việt xem Chiêm Thành là một nước khó thể sống chung lâu dài sau nước Tàu. Trong suốt Thế kỷ thứ 3 cho đến đời nhà Lý gần 700 năm, nước Chiêm Thành luôn đem quân sang đánh và cướp phá nước ta mặc dù VN còn đang bị đô hộ bởi quân Tàu. Người Chiêm đã nhiều lần cướp phá trên đất Việt thì không nên trách Đại Việt đem quân sang Chiêm để trừng phạt.
Từ năm 939 sau tây lịch, Đại đế Ngô Vương Quyền chém đầu thái tử Hoàng Thao trên Bạch Đằng Giang, đuổi quân Nam Hán chạy về Tàu, chấm dứt vĩnh viễn 1000 năm Bắc thuộc, bắt đầu nền độc lập cho cháu con Hồng Lạc và tổ quốc VN. Từ đó, mới có các sự chuẫn bị chinh phạt Chiêm Thành và công cuộc nam tiến mới được tiến hành qua các nhà Hậu Lý, Trần, Hậu Lê và các chúa Nguyễn ở Đàng Trong liên tục trên 600 năm, mới thành tựu.
NGƯỜI CHÀM TRONG CHẾ ĐỘ VNCH
Trong thời VNCH (1955-1975), chính phủ có một bộ phát triển sắc tộc, dành riêng cho các sắc dân thiểu số trong đó có người Chàm.
Ngay từ thời Pháp thuộc, vua Bảo Đại có ban hành bộ luật Hoàng Việt Trung Kỳ hộ luật, nhưng vẫn cố tránh làm đảo lộn nếp sống cổ truyền của đồng bào thiểu số, trong đó có người Chàm, nên đả ban hành thêm đạo luật số 51 ngày 25-5-1943 với đặc ân cho người thiểu số, trong đó có Chàm khỏi thi hành. Vì vậy cho nên với pháp luật thời đó, chỉ áp dụng luật Chàm để xử họ và tôn trọng chế độ mẫu hệ bao đời.
Thời VNCH (1955-1975), tại các tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận có đông người Chàm cư ngụ. Trong sự tế nhị và nâng đỡ, chính phủ đã bổ nhiệm các quận trưởng và phó quận, phần lớn là người Chàm, để dễ dàng hành sử với đồng bào của họ, vì các Quận Trưởng Chàm đều kiêm nhiệm chánh án tòa sơ thẳm trong vùng. Ngày nay đọc lại danh sách các viên chức hành chánh cao cấp của tỉnh Bình Thuận, tính đến ngày 30-4-1975, ta mới thấy tình người giữa Việt-Chiêm, thật ấm áp và đầy ý nghĩa.
- Quận Trưởng Phan Lý Chàm: Thiếu Tá Đặng Chánh Anh. Phó QT là đốc sự Ya Pha (còn sống tại VN).
- Quận Trưởng Hàm Thuận: Trung Tá Dụng văn Đối.
- Quận Thiện Giáo: Phó QT, đốc sự Nguyễn Trọng Chống (còn ở VN).
- Quận Hải Ninh: Phó QT, đốc sự Đắc Hữu Thiên (ở Mỹ).
- Quận Tuy Phong: Phó QT, đốc sự Lâm Quang Chân (đã chết trong tù cải tạo VC).
- Quận Hải Long: Phó QT, đốc sự Mai Tường (ở Mỹ).
- Đác văn Kiết, Tham sự hành chánh, Trưởng Ty Phát triển sắc tộc Bình Tuy.
- Nhiều Sĩ Quan giữ các chức vụ quan trọng tại TK.Bình Thuận, Ninh Thuận. Nổi tiêng nhất tại địa phương, có ai sánh nổi Thiếu Tá Thô Thêm, Tiểu Doàn Trưởng TD 230 ĐPQ/BT hay Đại Uý Đặng Phiên, ĐĐT/ĐPQ đã cùng với một số sĩ quan ĐPQ. Bình Thuận, trong đó có Đại Uý Nguyễn Văn Ba, Cựu học sinh Trung Học PBC, xuất thân sĩ quan Lực Lượng Đặc Biệt, đã mất tích, trong khi vượt traị tù VC ở Lương Son, quận Hòa Đa, Bình Thuận.
- Nhiều công chức, cán bộ và giáo chức..
Tất cả những viên chức trên đều là người Chàm.
Những cái nhìn tiêu cực đầy thiên vị và không phân biệt được trắng đen của một ít người khi viết những trang sử cận đại, xét cho cùng một phần do sự mâu thuẩn địa phương, mà thời nào cũng có trong xã hội người Việt.
Nghỉ đến công khó của tổ tiên trong việc mở mang bờ cõi phương Nam, với 10 thế kỷ đi vẽ lằn ranh biên giới với các quốc gia xung quanh đã nói lên được một sự hy sinh vô bờ bến của hàng triệu sinh linh. Chỉ đáng tiếc một điều là cho tới nay vẩn còn những lời phê bình về hành động này của tổ tiên Việt tộc hoàn toàn không trung thực và không khách quan của một số người Việt lẩn người Chiêm.
Ngày nay, Việt tộc còn phải chứng kiến những đứa con hoang csVN đang ngày đêm phá hoại các di sản về vật chất của tiền nhân đã để lại cho con cháu, chúng dâng đất, dâng biển phản bội lại tổ tiên và Việt tộc.
Bài viết được tham khảo từ nhiều nguồn khác nhau trên Internet. Vì là bài viết về lịch sử nên còn khá dài, xin mời xem tiếp tại Blog:
Anh Kim Le 1.7.2017
Bạn, Jenny Quan, Thái An Vu và 1 người khác
Yêu thích
Yêu thích
Bình luận