Trà Mi (VOA) -
Một cuộc thi hát hết sức đặc biệt, không đem về danh lợi cho người
thắng giải, không hứa hẹn một giải thưởng giá trị về vật chất hay một sự
nổi tiếng, mà ngược lại còn có thể mang lại cho người tham gia những
rắc rối, khó khăn với chính quyền. Một điểm đặc biệt khác nữa là các thí
sinh không cần phải xuất hiện trước ban giám khảo vì cuộc thi được tổ
chức và diễn ra trên mạng internet. Cuộc thi này còn đặc biệt ở chỗ do
người trẻ tổ chức, thành phần thí sinh tham dự là thanh niên trong nước,
và những bài hát họ trình bày bao gồm các ca khúc yêu nước mà hầu hết
là của các nhạc sĩ trẻ, những tác phẩm mà trong mắt chính quyền Việt Nam
có thể bị xem là nhạy cảm. Và đặc biệt hơn nữa là cuộc thi này nhằm
vinh danh một cô gái trẻ trong độ tuổi đôi mươi đang bị cầm tù về tội
danh “phá rối an ninh trật tự nhằm chống lại chính quyền nhân dân” vì
những hoạt động tranh đấu, cổ võ cho quyền lợi của người công nhân. Cuộc
thi Tiếng hát Dòng nhạc yêu nước-Đỗ Thị Minh Hạnh.
Thí sinh tham gia sẽ trình bày và tự ghi âm một ca khúc trong danh sách
các bài nhạc yêu nước được đề nghị, rồi tải lên các trang mạng như
Youtube, Multiply, nhaccuatui.com, hay mp3.zing.vn, hoặc post lên các
trang xã hội như Facebook, Google plus để cư dân mạng bình chọn. Sau đó,
thí sinh gửi các đường link này về cho ban tổ chức để ban tổ chức chọn
ra phần dự thi có số người yêu chuộng nhiều nhất, tức được nhiều người
bấm Like nhất từ 2 nguồn link khác nhau.
Các bài hát ban tổ chức đưa ra bao gồm tác phẩm Việt Nam tôi đâu, Anh Là
Ai của nhạc Sĩ Việt Khang, Trái Tim Việt Nam, sáng tác của nhạc Sĩ Tuấn
Khanh, Này người anh em của nhạc Sĩ Trần Lê Quỳnh, Việt Nam quê hương
ngạo nghễ của Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang, Đáp lời Sông Núi của nhạc sĩ
Trúc Hồ, và ca khúc Bữa cơm tù.
Phần thưởng khích lệ dành cho thí sinh đoạt giải nhất là 10 triệu đồng.
Giải nhì trị giá 5 triệu, giải ba 2 triệu, cùng ba giải khuyến khích mỗi
giải 1 triệu đồng. Ngoài các giải nhất, nhì, ba do người nghe trên mạng
bình chọn, ban tổ chức cũng mời một số nhạc sĩ giúp chọn ra một giải
đặc biệt về năng khiếu ca nhạc trị giá ít nhất 2 triệu đồng.
Người phát động cuộc thi lấy tên hiệu là ‘Đường đời sỏi đá’ cho biết:
“Mình muốn mượn âm nhạc, đưa các bài nhạc yêu nước tới các bạn trẻ Việt
Nam để khơi dậy lòng yêu nước đang tiềm ẩn trong mỗi người. Đất nước
chúng ta hiện giờ đang rất cần những người có tấm lòng, có trái tim yêu
nước vì chúng ta đang đứng trước hiểm họa xâm lăng từ phương Bắc. Đây
cũng là món quà tinh thần mà mình muốn tặng làm quà sinh nhật cho Đỗ Thị
Minh Hạnh đang ở trong tù, tiếng hát từ trái tim của những người yêu
nước, khơi dậy lòng yêu nước từ những bài nhạc có ca từ rất trong sáng.
Rất mong các bạn trẻ đừng vô cảm trước hiện tình đất nước. Đó là ý chính
mà mình muốn tổ chức cuộc thi này. Đây là cuộc thi xuất phát từ tấm
lòng của mình, không nhân danh một tổ chức,nhóm, hay đảng phái nào cả.”
Một thí sinh từ Sài Gòn tên Thành chia sẻ lý do khiến bạn không ngần
ngại đăng ký tham gia cuộc thi này dẫu biết rằng có thể không được chính
quyền hoan nghênh:
“Đỗ Thị Minh Hạnh bị bắt giam với một bản án rất nặng, 7 năm tù. Lý do
khiến Hạnh bị giam là đòi hỏi quyền cho người công nhân, một việc làm
mình cảm thấy rất đúng đắn. Mình mến Hạnh vì hành động của Hạnh. Hạnh là
một người yêu ca hát. Trong trại giam Hạnh cũng hay sáng tác và hay
hát. Cuộc thi hát những ca khúc yêu nước, mình không quan trọng giải
thưởng, nhưng mình thấy nội dung nó hay. Mình mong muốn đây là món quà
nhỏ tặng cho Hạnh. Và việc giao tiếp với nhau, tặng một ca khúc và hát
với nhau một ca khúc, mà hơn nữa đó là một ca khúc yêu nước, mình nghĩ
đây là việc rất bình thường. Hạnh có chung với người trẻ và các anh em
một tinh thần yêu nước. Mình tham gia không để nhận giải thưởng mà tham
gia để hưởng ứng tinh thần. Có thể mình sẽ bị làm khó vì hát những bài
hát yêu nước, nhưng đó cũng là một vinh hạnh cho mình.”
Anh Nguyễn Bắc Truyển, nguyên Giám đốc Công ty vận tải quốc tế
Việt-Thịnh-Phát, từng bị 3 năm rưỡi tù giam vì các hoạt động bị chính
quyền Việt Nam tố cáo là “tuyên truyền chống phá nhà nước” nhưng giới
ủng hộ dân chủ gọi là cổ võ cho dân chủ-nhân quyền. Anh là một trong
những người đầu tiên hăng hái đăng ký dự thi. Anh nói về Cuộc thi Tiếng
hát Dòng nhạc yêu nước-Đỗ Thị Minh Hạnh:
“Đỗ Thị Minh Hạnh là một cô gái trẻ có tinh thần dấn thân cho công cuộc
đấu tranh vì tự do, dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam, đấu tranh cho quyền
lợi của người công nhân. Tôi rất mến phục. Anh Việt Khang là một nhạc sĩ
đã vắt tim óc của mình để viết hai bài hát rất nổi tiếng: Anh là ai và
Việt Nam tôi đâu. Đối với hai người bạn trẻ này, tôi dành một tình cảm
rất đặc biệt. Khi có cuộc thi này, tôi thấy mình nên tham gia. Ngoài
những thông cảm giữa những tù nhân chính trị với nhau, tôi còn muốn hát
lên rằng lời ca của Việt Khang trong bài Việt Nam tôi đâu, từng chữ từng
lời trong đó, tôi thấy không thừa một chữ, đã nói lên tất cả hiện tình
và những nỗi lòng của người dân đang ưu tư trong tim óc mình. Cho nên,
tôi muốn hát lên để nói với mọi người rằng tôi cũng đang có những tâm
trạng như vậy.”
Ban tổ chức cho biết cuộc thi đã thu hút nhiều mạnh thường quân trong
nước. Trong số này có Tiến sĩ Vật lý Nguyễn Thanh Giang ở Hà Nội, mộtnhà
bất đồng chính kiến được nhiều người biết đến. Ông nói ông vui mừng khi
thấy cuộc thi này được phát động:
“Mừng trước hết vì thấy các anh em trẻ bây giờ vẫn quan tâm đến tình
hình chính trị đất nước. Cái mừng thứ hai khi thấy tình người giữa các
bạn trẻ dù trong hay ngoài nước vẫn rất thắm thiết. Dù đã luống tuổi,
nhưng tôi thấy cuộc thi này, tôi rất sung sướng. Cho nên, tôi hưởng ứng
ngay. Mặc dù bây giờ về mặt tài chính tôi cũng chỉ có lương hưu là
chính, nhưng tôi sẵn sàng đóng góp một phần nhỏ vào đấy với hy vọng động
viên những việc làm như thế này của các anh em trẻ, đồng thời để kích
thích mọi người cũng hưởng ứng quỹ này. Còn về cuộc thi này có mang tính
nhạy cảm hay không, đối với tôi, Đỗ Thị Minh Hạnh không có tội. Việc bỏ
tù người con gái đáng quý đã xả thân vì giai cấp công nhân Việt Nam mà
bỏ tù họ là một điều vô đạo lý. Cho nên, tôi không xem cuộc thi này là
nhạy cảm mà sẵn sàng đứng ra để bênh vực và lúc nào cũng sẵn sàng vinh
danh những người trẻ biết nghĩ đến nhân dân, đặc biệt là giai cấp công
nhân hiện vẫn là những người lao khổ tại Việt Nam.”
Cuộc thi Tiếng hát Dòng nhạc yêu nước-Đỗ Thị Minh Hạnh được phát động từ
giữa tháng 3 và hạn chót đăng ký là ngày 5/5. Kết quả sẽ được công bố
ngay ngày Nhân Quyền Việt Nam 11/5.
Địa chỉ email để các mạnh thường quân và các thí sinh liên lạc về cuộc thi này là: duongdoisoida@gmail.com.
Ban tổ chức cho biết các bạn có thể dùng nickname hay số thứ tự của thí
sinh tùy theo nhu cầu an ninh cá nhân. Ngoài ra, nếu thí sinh cần hỗ
trợ kỹ thuật, ban tổ chức cũng sẽ giúp các thí sinh tải phần dự thi của
mình lên các trang mạng. Thí sinh chỉ cần email phần dự thi của mình về
địa chỉ email vừa kể.
Ban tổ chức nói ngoài các phần thưởng tượng trưng cho các thí sinh, số
tiền còn lại từ nguồn quỹ do các mạnh thường quân đóng góp cho Cuộc thi
Tiếng hát Dòng nhạc yêu nước-Đỗ Thị Minh Hạnh sẽ được chuyển tặng cho
Minh Hạnh.
Các bạn có thể tìm hiểu mọi chi tiết về cuộc thi và thưởng thức phần dự
thi của các thí sinh trên trang Facebook: Cuộc Thi Tiếng Hát Dòng Nhạc
Yêu Nước Đỗ Thị Minh Hạnh (ĐTMH).
Tạp chí Thanh Niên xin chia tay với quý vị tại đây và hẹn đón tiếp quý
vị và các bạn trên làn sóng phát thanh của đài VOA trong chương trình 10
giờ tối thứ sáu và chủ nhật hằng tuần cũng như trên trang web
voatiengviet.com, trong phần Chuyên mục-Tường trình đặc biệt ngay trang
chính.
- Những phản hồi sử dụng "Nặc danh/Ẩn danh"sẽ không được xuất hiện. Các bạn có thể chọn một nickname cho mình khi phản hồi bằng cách sử dụng các chức năng : "Tên/Url", hoặc bằng tài khoản Google
- Nếu nội dung phản hồi quá dài sẽ bị máy chủ BlogSpot hiểu lầm là
Spam (không cho hiện lên), xin bạn vui lòng chia nội dung thành nhiều
phần, hoặc chờ Dân Làm Báo cho xuất hiện lại phản hồi
- Phản hồi sẽ bị xóa nếu : viết chữ Việt không dấu, hoặc sử dụng quá nhiều chữ IN HOA
Đây
mới đúng là 3 nhà yêu nước chân thật bằng tấm lòng, sao không thấy ai
ủng hộ giúp đỡ tiền bạc cho họ. còn Bùi Thị Minh Hằng sao tui thấy bà ấy
không thiện cảm lắm, tui nghi ngờ về lòng yêu nước của bà ấy.
"Trong một xã hội đã kéo dài hơn nửa thế kỷ về sự mê muội dân trí, về
sự độc tài về chính trị, sự lừa dối, sự đầu độc để có sự đồng thuận về
vụ NVGP và các nhân vật của nó thật khó như đáy bể mò kim… Nhưng trong
đêm tối không phải không có những người đã nhìn thấy ánh sáng của chân
lý.” - Lê Hoài Nguyên
Cuối năm 1973, nhà văn Bùi Ngọc Tấn được thả khỏi tù. Lúc đến văn
phòng làm thủ tục giấy tờ phóng thích, ông chợt nhìn thấy một tác phẩm
của mình trên bàn giấy của những nhân viên công an ở trại:
“Tên hắn in trên bìa sách chứng tỏ điều đó. Như có một ma lực, hắn bước đến chỗ ấy. Hắn buộc miệng kêu to như gặp lại con mình:
-Thưa các ông các bà, đây là sách tôi viết.
Mọi người ngơ ngác...
-Cái gì? Anh nói cái gì?
Hắn cầm lấy cuốn truyện. Bìa có đóng ấu trại. Hắn nhìn mãi vào những
tên hắn in trên bìa sách. Thật không tin được. .. Hắn lắp bắp như người
ngẹn thở:
-Quyển sách này của tôi.
Cô trung sĩ nhìn giấy tờ của hắn. Rồi lại nhìn tên hắn in trên bìa
sách. Cô đưa tờ lệnh tha cho ông Thanh Vân đọc. Ông ngẩn lên nhìn hắn
chăm chú từ đầu đến chân. Rồi với giọng hiểu biết:
-Anh lại Nhân văn Giai Phẩm chứ gì?
Báo cáo ông, Nhân văn Giai Phẩm có từ năm 1956, tôi bị bắt năm 1968. -Thế anh bị bắt về tội gì?
( Bùi Ngọc Tấn. Chuyện Kể Năm 2000, tập I. CLB Tuổi Xanh, Hoa Kỳ: 2000, 127- 129).
Từ 1956 đến 1973 là một khoản thời gian khá dài, đủ dài để nhà nước
VNDCCH biến bốn chữ “Nhân Văn Giai Phẩm ” thành một ... tội danh:
Anh lại Nhân văn Giai Phẩm chứ gì?
Và thêm mười năm sau nữa thì “Nhân Văn đã hoàn toàn bị tẩy sạch” – theo như tường thuật nhà phê bình văn học Thụy Khuê, trong phần lời tựa tác phẩm (*) mới nhất của bà:
“Năm 1984, khi trở về Hà Nội, tôi muốn tìm lại, dù chỉ một dấu vết
nhỏ, chứng minh sự hiện diện của Nhân Văn Giai Phẩm trong lòng người dân
Bắc. Nhưng vô ích. Tất cả đều đã bị xóa sổ. Kín đáo dò hỏi những người
thân trong gia đình sống ở Hà Nội, thuộc thế hệ ‘phải biết’ Nhân Văn,
xem có ai còn nhớ gì không? Nhưng không, tuyệt nhiên chẳng ai ‘nghe nói’
đến những cái tên như thế bao giờ: linh hồn Nhân Văn đã bị xóa trong ký
ức quần chúng, và như vậy, ‘nọc độc’ Nhân Văn đã hoàn toàn bị tẩy sạch.
Ðó là lý do chính khiến vài năm sau, khi thực sự bước vào nghề cầm
bút, tôi đã coi Nhân Văn Giai Phẩm là một trong những nghi vấn văn học
hàng đầu, cần phải tìm hiểu. Bài viết đầu tiên của tôi về phong trào
Nhân Văn Giai Phẩm, đăng trên nguyệt san Văn Học, California, số 27,
tháng 4 năm 1988; tiếp theo là những buổi phát thanh trên đài RFI, trong
nhiều chương trình từ 1991 đến 2004, trong số đó có những buổi phỏng
vấn các tác nhân chính của phong trào: Lê Đạt, Hoàng Cầm và Nguyễn Hữu
Đang.
Cuốn sách này tổng kết công việc tìm kiếm và thu thập các dữ kiện
xung quanh phong trào Nhân Văn Giai Phẩm trong hơn 20 năm, từ 1988 đến
ngày nay.”
Thụy Khuê mô tả thành quả “công việc tìm kiếm và thu thập các dữ kiện xung quanh phong trào Nhân Văn Giai Phẩm trong hơn 20 năm”
của mình bằng tên gọi (khiêm tốn và giản dị) chỉ là một cuốn sách. Thực
ra, đây là một công trình biên khảo (dầy đến 957 trang giấy) và chỉ cần
xem qua thư mục cũng như phần phụ lục – gồm 164 trang – cũng đủ khiến
cho bất cứ ai còn quan tâm đến phong trào Nhân Văn cảm thấy ấm lòng, và
bồi hồi xúc động.
Trong buổi tọa đàm bỏ túi – tại toà soạn Diễn Đàn Giáo Dân, vào sáng hôm
03/ 03/2112 – những người hiện diện (Trần Văn Cảo, Nguyễn Đình Cường,
Nguyễn Chí Thiện, Trần Nguyên Thao, Trần Phong Vũ ... ) đều lặng nhìn
tác phẩm, còn thơm mùi mực của Thụy Khuê, với rất nhiều xúc cảm. Cái cảm
xúc của những kẻ được chứng kiến cảnh một chiếc tầu chìm (mang theo
hàng ngàn sinh mạng, cùng với những di sản vô giá) đã nằm im lìm dưới
lòng đại dương – hơn nửa thế kỷ qua – vừa được trục vớt ra khỏi biển
sâu.
Nhờ vào sự tận tụy của Thụy Khuê, và một số những đồng nghiệp của bà
(trong cũng như ngoài nước: Lại Nguyên Ân, Phạm Thị Hoài ...) những
tiếng kêu uất nghẹn và những mảnh đời oan khuất – tưởng đã tiêu trầm với
thời gian (nay) vẫn còn tươi rói và nguyên vẹn, gần như không thiếu một
ai (**).
Thụy Khuê chia tác giả của Nhân Văn Giai Phẩm ra làm hai thành phần khác biệt:
“Loạt bài chính luận trực tiếp định hướng tư tưởng của các nhà trí
thức và loạt bài sáng tác dấn thân nói lên khát vọng tự do của các văn
nghệ sĩ. Hai thể loại này đan cài và bổ sung cho nhau, tạo nên làn sóng
đấu tranh toàn diện cho tự do dân chủ và tự do tư tưởng.”
Cả hai, tất nhiên, đều phải trả giá bằng những đòn thù hung bạo và ti
tiện như nhau. Trong khuôn khổ của một trang sổ tay, chúng tôi xin phép
sẽ không nhắc đến tên những hung thủ hay thủ phạm (họ không đáng gì để
chúng ta phải bận tâm) và chỉ ghi lại đôi nét chính, về vài ba nhân vật (theo thứ tự alphabetique) mà số phận bi đát nhất so với những người đồng cảnh, qua ngòi bút của Thụy Khuê:
- “Thụy An (1916
- 1989) là một khuôn mặt nổi trội, bị kết án nặng nề nhất. Trường hợp
của bà giống như một bi kịch Hy Lạp, và cho đến nay, chưa mấy ai hiểu
được những khúc mắc ở bên trong.. “
“Thụy An là ai?
“Là phụ nữ duy nhất, không viết bài cho NVGP, nhưng tên bà bị nêu lên hàng đầu trong ‘hàng ngũ phản động’, bà bị quy kết là ‘gián điệp quốc tế’, lãnh án 15 năm tù cùng với Nguyễn Hữu Đang...”
“Về việc bà chọc mù mắt, dư luận chính thức loan rằng bà bị tai nạn ở
mắt, khi đi lao động cải tạo. Chúng tôi hỏi nhà thơ Lê Đạt, người rất
thân với bà trong suốt hành trình Nhân Văn Giai Phẩm: có phải trong Hỏa
Lò chị Thụy An tự chọc mù mắt ? Lê Đạt lặng lẽ gật đầu, không thêm một
lời nào cả...”
“Tháng 10/1974 Thụy An được thả theo diện ‘Đại xá chính trị phạm trong
hiệp định Paris’, cùng với Nguyễn Hữu Đang. Bà bị trả về quản thúc ở Hoà
Xá. Trên đường giải về làng, khi bị đẩy xuống xe tù, bà bị ném đá. Bà
mất ngày 10/6/1989, tại nhà riêng ở đường Lê Văn Sỹ, Sài gòn.”
- “Phùng Cung(1928-1998)
đại diện cho tất cả những người bị tù không có án, thậm chí không có lý
do, hoặc lý do mơ hồ, khó hiểu, trong danh sách hàng trăm người bị xử
lý nặng, hoặc hàng ngàn người, đã ‘liên hệ’ xa gần với NVGP, với nhóm
‘Xét lại chống đảng’ những năm sáu mươi.
Mỗi cá nhân là một trường hợp, là một chân dung bị xoá, bị đưa đi biệt tích, trong cô đơn, đau khổ...”
*
Nguyễn Chí Thiện (trái) và Phùng Cung. Ảnh:trenews.net
“Dưới mắt Phùng Cung, chính sách đấu tranh giai cấp của đảng cộng sản, được mô tả dưới dạng phân chia giai cấp giữa Chó và Người. Giai cấp mà ông gọi là chó thuộc thành phần những kẻ ‘úp mặt hôn mê liếm lộc’, những kẻ ‘cưỡng bức ngữ ngôn’, những kẻ ‘tình nguyện trọn kiếp bút nô’, những kẻ ‘ngợi ca tội ác’… Và trong bối cảnh, chó đô hộ người,
các công tác dò thám, hãm hại, thủ tiêu, đạt đỉnh điểm. Sự triệt tiêu
văn hoá trở thành quốc sách. Chưa một ngòi bút nào đi xa đến thế trong
việc mô tả xã hội độc trị...”
“Bài Nghe đêm gói trọn nỗi cô đơn cuối đời của con người bị lưu đầy, vì chữ nghiã, từ tuổi thanh niên đến lúc đầu bạc:
Đêm chợt nghe
Trong gối vọng tiếng ru
Lắng tai mới rõ
Tiếng tóc mình chuyển bạc ...
Đó là sự cô đơn của kẻ một mình một ngựa trên hành trình mở nước và dựng nước về phía văn hóa, tình nước và tình người.”
- “Nguyễn Hữu Đang
(1913-2007) là một trong những khuôn mặt trí thức dấn thân tranh đấu
cho tự do dân chủ can trường nhất trong thế kỷ XX. Là cột trụ của phong
trào Nhân Văn Giai Phẩm, Nguyễn Hữu Đang đã bị bắt, bị cầm tù, bị quản
thúc và mất quyền tự do phát biểu trong 59 năm, từ tháng 4/ 1958 đến
tháng 2/2007, khi ông mất...”
“Sau thời kỳ quản thúc ở Thái Bình, được về sống tại Cầu Giấy, ngoại ô
Hà Nội, ông vẫn bị ‘chăm sóc’ kỹ càng. Điện thoại của ông, cũng như của
các thành viên cựu Nhân Văn đều bị kiểm soát, nhưng riêng ông, ông không
được phục hồi quyền phát biểu, tức là không được quyền trả lời phỏng
vấn công khai như những người khác...”
“Nguyễn Hữu Đang là một khuôn mặt chính trị, văn hoá và đấu tranh, hiếm
có trên chính trường Việt Nam dưới chế độ cộng sản. Một người theo đảng
từ lúc 16 tuổi, hiểu rõ hơn ai hết quy luật tuân thủ của một cán bộ cộng
sản. Nhưng ông đã đi ra ngoài trật tự ấy. Nguyễn Hữu Đang luôn luôn giữ
vị trí tự do trong hành động cũng như tư tưởng của mình. Chính trong tư
thế tự do ấy, ông đã đứng lên lãnh đạo phong trào Nhân Văn Giai Phẩm,
đã tạo được một thời kỳ sôi nổi, trong vòng bốn tháng, trí thức và văn
nghệ sĩ, dám nói, dám viết những điều mình nghĩ, dám chủ trương cải tiến
xã hội Việt Nam thành một nước dân chủ theo đà tiến của thế giới bên
ngoài.”
“Nhưng Nguyễn Hữu Đang đã thất bại. Sự thất bại của Nguyễn Hữu Đang cũng
là sự thất bại chung của một dân tộc. Và hậu quả kéo dài đến ngày nay:
nước Việt là một trong những nước cuối cùng, ở thế kỷ XXI, vẫn còn chưa
biết nhận diện, để đòi hỏi những quyền cơ bản và tất yếu nhất của con
người, đầu tiên là quyền tự do tư tưởng.”
Công trình biên khảo của Thụy Khuê không chỉ giới hạn vào phong trào Nhân Văn. Trong phần lời tựa, bà cho biết thêm:
“Trong quá trình làm việc, có những ngã rẽ bất ngờ: khảo sát về Phan
Khôi, tôi thấy sau khi đi Pháp về, Phan Châu Trinh giao cho Phan Khôi
nhiệm vụ viết lại lịch sử đời mình, từ đó, phải tìm hiểu về những ngày
Phan Châu Trinh ở Pháp, dẫn đến mối tương quan giữa Phan Châu Trinh và
Nguyễn Ái Quốc/Hồ Chí Minh, người tự nhận là lãnh tụ đầu tiên của phong
trào Việt kiều Yêu Nước.”
“Tôi tìm đọc nguyên văn tiếng Pháp các bài viết ký tên Nguyễn Ái Quốc,
mới thấy tác giả những bài viết này phải là người biết tiếng Pháp rất
sâu và có văn tài; không thể là người mà Trần Dân Tiên mô tả trong cuốn
hồi ký ‘Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch’. Vậy có một
sự giả mạo lịch sử quan trọng cần phải tìm hiểu đến nguồn cội. Đó là lý
do tại sao có phần biên khảo về Vấn đề Nguyễn Ái Quốc trong cuốn sách
này.”
“Sự giả mạo lịch sử quan trọng” này, và công việc “tìm hiểu đến nguồn
cội” của Thụy Khuê đã đưa đến lời khẳng định của bà, ở đầu chương 16,
như sau:
“Tiểu sử Hồ Chí Minh là một bí mật. Chỗ nào ông muốn viết (hoặc sai
người viết), chỗ nào giấu đi hoặc thêm thắt vào, đều có chủ đích rõ
ràng. Và ông không hề ngần ngại nhận mình là tác giả những bài viết và
những công trình không phải của ông. Trong phạm vi khảo luận này ... chỉ
chú ý đến thời kỳ Nguyễn Tất Thành ở Pháp, từ 1919 đến1923. Thời gian
này, ông tự nhận mình là Nguyễn Ái Quốc và chính những bài báo ký tên Nguyễn Ái Quấc/Quốc đã xây dựng nên huyền thoại Hồ Chí Minh.”
Về cú “knockout” vô cùng ngoạn mục này của Thụy Khuê (kể như đã chấm dứt
vĩnh viễn sự nghiệp giả trá của một nhân vật lịch sử vào bậc quan trọng
nhất ở Việt Nam) chúng tôi xin được phép để dành cho những trang sổ tay
kế tiếp, cũng trên diễn đàn này.
(*) Nhân Văn Giai Phẩm & Vấn Đề Nguyễn Ái Quốc, biên khảo của Thụy
Khuê, sách dầy 976 trang, bìa cứng, Tiếng Quê Hương xuất bản năm 2012,
giá bán 40 M.K, có thể đặt mua theo địa chỉ sau:
-Tủ Sách Tiếng Quê Hương
P.O.Box 4653
Fall Church, VA 22044- Email: uyenthaodc@gmail.com
(**) Theo chỗ hiểu biết của chúng tôi, trong công trình biên khảo này,
chị Thụy Khê đã không nhắc đến một số tên tuổi quen thuộc khác, cũng có
liên quan ít nhiều đến phong trào Nhân Văn như Bùi Quang Đoài, Thanh
Châu, Hoàng Huế, Hoàng Yến, Hữu Loan, Tạ Hữu Thiện ... Tuy nhiên, nếu
nói theo Lê Đạt (“...ở đất nước Việt Nam, những người đau khổ vì Nhân
Văn chắc rất nhiều, không thể đếm xuể được”) thì sự sai sót – dù vì bất
cứ lý do gì – là điều rất khó tránh khỏi.
Cảm
ơn tác giả Thụy Khuê và Dân làm báo Blog đã cho bạn đọc thấy 1 phần nỗi
thống khổ của nền văn hóa dân tộc dưới ách đô hộ của 1 đám mặt người dạ
thú và sự tiêu diệt triệt để nền văn hóa dân tộc của đcsvn.
Còn
toàn bộ dân chúng chỉ được nghe loa phóng thanh tập thể; có nghĩa là
chỉ được nghe một tiếng nói. Vào Nam tôi mới hiểu rằng, chế độ ngoài Bắc
là chế độ man rợ vì nó chọc mù mắt con người, bịt lỗ tai con người.
Trong khi đó ở miền Nam người ta có thể nghe bất cứ thứ đài nào, Pháp,
Anh, Mỹ… nếu người ta muốn. Ðó mới là chế độ của nền văn minh.
"Một góc thành làm tâm chứng quỷ. Ðua một lòng ích kỷ hại nhân Bốn phương rời rỡ hồng trần Làng khua mõ cá lãng phân điếm tuần"
[Sấm Trạng]
mõ
cá : ví như cái loa phóng thanh. Mõ cá (là một con cá gỗ treo ở góc
đình), thứ mà người ta dùng để gọi cả dân làng mỗi khi có dịp đặc biệt. (
tìm được trên internet)
hồng trần: bụi đỏ, sự tranh dành, cuộc sống vật lộn đầy sóng gió bụi đỏ.
Làng
khua mõ cá lãng phân điếm tuần: dùng mõ để khua vang cả làng nhưng
không phải để lo an ninh phân công làm việc, mà là dạy nhau làm tâm
chứng quỉ.
"Tiếc là những xuất dân làm bạo. Khua dục loài thỏ cáo tranh nhau. Nhân danh trọn hết đâu đâu Bấy giờ thiên hạ âu sầu càng ghê"
"xuất dân làm bạo", "Khua dục loài thỏ cáo tranh nhau" đều nói lên giai cấp đấu tranh, đấu tố giết người. "Nhân
danh trọn hết đâu đâu": cái tập đoàn này mượn danh, cướp danh, nhân
danh nhân dân để xúi dục nhân dân thù hận chia rẽ hành hạ nhau.
Cám ơn bác Litebreeze đã đưa link cuộc phỏng vấn cuả ĐQAT với bà Dương Thu Hương, rất hay. Mời các bạn vào đọc cho biết. Cũng
nhắc bác tí, nhờ vào đọc mới biết đoạn "Còn toàn bộ dân chúng chỉ được
nghe loa phóng thanh tập thể..." là cuả DTH, chứ ban đầu cứ tưởng cuả
bác. Lần sau, khi trích, bác nhớ để trong ngoặc kép, hoặc chữ nghiêng
cho đọc giả dễ phân biệt. Chúc bác "xấm chạng" luôn vui.
bà
Thuỵ An trong "biên khảo" và bà Thuỵ An thật HOÀN TOÀN KHÔNG NHƯ THẾ
!!! " Chúng tôi hỏi nhà thơ Lê Đạt, người rất thân với bà trong suốt
hành trình Nhân Văn Giai Phẩm: có phải trong Hỏa Lò chị Thụy An "tự chọc
mù mắt "? Lê Đạt lặng lẽ gật đầu, không thêm một lời nào cả...” CHUYỆN
TÀO LAO NHƯ THẾ MÀ NÓI ĐƯỢC ! Hẳn phải gửi tranh Giải Bốc Phét năm nay
mất !!! thập niên 20,30 của thế kỷ trước, 1 phụ nữ cạo lông mày bén như
dao cạo,hút thuốc lá như ống khói, nói năng như dân tàu biển,bồ bịch
thay như thay áo - mà Tạ Thu Thâu -đệ tứ cộng sản quốc tế nằm trong số
đông ấy- bọn Việt minh bắt bà ta là "nữ gián điệp " nhưng vì dính líu 1
số đảng viên cộng sản cao cấp nên chúng nhập chung NVGP. Mong tác giả
viết chính xác hơn hầu giúp các thế hệ sau biết sự thật của đất nước
đừng vì chút liên hệ cá nhân ! NHỮNG NGƯỜI CÓ BIẾT VỀ BÀ NÀY DÙ QUÁ GIÀ
NHƯNG VẪN CÒN CHÚT TRÍ NHỚ VÀ ĐANH Ở VIRGINIA ĐẤY !
Xin
chào cậu công an mạng ''bao dong ba con''. Cậu xuất thân thấp hèn sao
hiểu được người cao quý như bà Thụy An. Nhưng cậu cứ viết bình luận chửi
đi, vì nếu cậu không viết, nhà nước sẽ không trả lương cho cậu, rồi vợ
con cậu lại khổ lây. Chúc cậu an lành.
(trích
lời nhà thơ Lê Đạt nói về bà Thụy An): Tôi có thể bảo đảm 100% chị ấy
không phải là gián điệp. Tại vì thế này: Nếu là gián điệp thì phải có
chứng cớ chứ! Chị nhận tiền của ai? Nhận tiền ở đâu? Liên lạc với ai?
Cho đến bây giờ tôi vẫn thấy đó là một câu hỏi mà nhà nước chưa trả lời
tôi được. Chưa có chứng cớ thì làm sao có thể kết luận người ta là gián
điệp được. Thì cứ cho tôi là người mù mờ đi, tôi bị chị mua chuộc đi.
Tôi nhớ lại tất cả cuộc đời của tôi, thì chị ấy chưa mua chuộc tôi lần
nào cả. Và chị ấy chỉ giúp đỡ tôi rất nhiều. Cho nên đến bây giờ tôi
thấy là: Riêng về trường hợp chị Thụy An, tôi vẫn rất ân hận. Tại vì
chúng tôi đã được phục hồi nhưng chị Thụy An chưa được phục hồi gì cả.
Mà một trong những tội lớn nhất của chị ấy là mua chuộc tôi. Thì như các
bạn đã biết, tôi chưa từng cảm thấy bị mua chuộc mà chắc cũng chưa ai
mua chuộc được tôi. Cho nên tôi thấy riêng tôi bây giờ nói những dòng
này, tôi vẫn khao khát và thiết tha có một dịp nào đó, người ta phục hồi
chị Thụy An một cách chính thức. Không có thì riêng tôi, tôi đối với
chị Thụy An, tôi vẫn cho là món nợ... (nguồn:
http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%A5y_An)
"thập
niên 20,30 của thế kỷ trước, 1 phụ nữ cạo lông mày bén như dao cạo,hút
thuốc lá như ống khói, nói năng như dân tàu biển,bồ bịch thay như thay
áo - mà Tạ Thu Thâu -đệ tứ cộng sản quốc tế nằm trong số đông ấy- bọn
Việt minh bắt bà ta là "nữ gián điệp " nhưng vì dính líu 1 số đảng viên
cộng sản cao cấp nên chúng nhập chung NVGP."
Bác có dẫn chứng gì
về nhận định của bác không? Tối thiểu bác cho bạn đọc xin đường links
dẫn tới những nhận định đó của bác để bạn đọc có thể tự mình kiểm tra.
Kính thưa quý thân hữu, quý chiến hữu cùng quý Niên trưởng,
Vào đầu tuần tháng Tư Đen 2012 tại Úc Châu, tôi được một diễn
đàn người Úc, “The Humanist Forum”, gồm một số chính trị gia, giáo sư đại học,
những Applynhân vật phản chiến cũ, mời thuyết
trình về đề tài “Sự tồn tại của Con Người qua Niềm Tin”, trong đó có phần nói
về chiến tranh VN trước 1975, lý do tại sao miền Nam Cộng Hòa bị cộng sản Bắc
Việt cưỡng chiếm và đời sống tinh thần - vật chất của tù nhân chính trị VNCH bị
cộng sản giam cầm, đời sống lưu vong của người Việt tỵ nạn cộng sản khắp nơi
trên thế giới. Suốt hơn hai tiếng đồng hồ nói chuyện, có cả phần giải đáp
thắc mắc của cử tọa, tôi đã mở đầu buổi hội thảo bằng cách đặt trên mặt bàn một
khúc cây khô tôi đã nhặt sau vườn. Mọi người nhìn tôi im lặng, không hiểu tôi
sẽ nói gì với hình tượng khúc cây khô đó.
... “Sau khi vượt biển đến Mã Lai và được định cư tại Úc vào năm
1976, một buổi sáng tôi lang thang đi trên vĩa hè thành phố Sydney xa lạ, xung
quanh tôi toàn là ngoại nhân đang rộn rịp ngược xuôi, tôi chẳng quen biết ai và
cũng chẳng ai quan tâm đến tôi, một kẻ lưu vong mất nước, thẩn thờ bước đi với tâm
trạng lạc loài nơi xứ lạ, kỷ niệm quê hương cội nguồn âm thầm chảy len vào từng
huyết quản. Tôi chợt thấy trong thùng rác bên vệ đường có ai vứt bỏ một khúc
cây khô, trơ trụi lá cành. Tôi nhặt lên, vào một góc công viên ngồi yên lặng
nghĩ suy về dòng sinh mệnh Dân Tộc, về thân phận nhỏ nhoi của tôi, đang đi đâu,
về đâu ? Và tôi đã viết bài thơ đầu tiên nơi xứ người “Bài Ca Hoài Quốc” trong
đó có hai câu diễn tả tâm trạng tôi lúc bấy giờ : “Góc công viên thành tượng
đá, tôi ngồi – Ai có hỏi, xin trả lời : Mất Nước” ! . Tôi lại nhớ đến gia đình,
bạn bè anh em đồng đội, những người đã chết trên biển Đông, phụ nữ bị hải tặc
hãm hiếp rồi quăng thây xuống biển, xác trẻ thơ bồng bềnh nổi trôi trên sóng
nước... Đồng thơi, tôi cũng nhớ lại lời của tên thủ tướng cộng sản Phạm Văn
Đồng đã sĩ nhục nhân dân miền Nam, đặc biệt là những người đã vượt biển vượt
biên ra đi tìm Tự Do, là :’Những tên ma cô, đĩ điếm, mang tội ác với nhân dân,
phản bội Tổ Quốc, đầy tớ đế quốc Mỹ...”. Tôi đem khúc cây khô về trại tạm cư
(Westbridge Hostel, Villawood) làm kỷ niệm, bỏ vào ly nước đặt trên bàn cạnh
giường ngũ. Mỗi ngày tôi vẫn tưới thêm nước vào thân cây khô, và một vài tháng
sau, tôi chợt thấy khúc cây hồi sinh, đâm rễ và mọc ra một vài lá non, tuy chỉ
sống nhờ nước chứ không có đất. Sau cùng thì có một đóa hoa nhỏ nụ vàng
cạnh chòm lá nở ra. Tôi vui mừng và đặt tên đóa hoa nhỏ đó là Hoa Tự Do
của đời tôi”...
Từ hình tượng khúc cây khô, tôi đã mở đầu buổi thuyết trình với
cử tọa người Úc, nói về chiến tranh VN, sự phản bội trong thế chiến lược toàn
cầu của các cường quốc, sự bức tử miền Nam, đời sống lưu đày của tù nhân VNCH,
kiếp sống lưu vong của người tỵ nạn cộng sản... và Niềm Tin tất thắng của chính
nghĩa Dân Tộc VN, từ thân cây khô đã bị vứt bỏ vào thùng rác nhân loại, nhất định
sẽ vươn mình lên và sẽ nở ra những đóa Hoa Tự Do Nhân Bản trong một mùa Xuân
nhất định phải đến trên vòm trời quê hương, không còn bóng tối của chế độ cộng
sản bạo tàn và gian dối, đã đưa Dân Tộc VN vào hố thẳm diệt vong, cúí đầu dâng
hiến Tổ Quốc cho Tàu Cộng.
Trong lúc này, Cộng Đồng Người Việt Tự Do tại Úc Châu đang chuẩn
bị tổ chức tưởng niệm ngày 37 năm Quốc Hận, sẽ có biểu tình trước tòa đại sứ
cộng sản VN tại thủ đô Canberra. Tôi lại liên tưởng đến Sức Mạnh của Cộng Đồng
Lưu Vong của các sắc dân tại Úc, và những nơi tôi đã có dịp sinh hoạt trên
những ngả đường công tác đấu tranh tại hải ngoại. Tôi nhớ lại thời gian qua,
súng đạn và khói lửa từ cuộc chiến Iraq lan dần đến các cuộc vùng dậy ở Trung
Đông, đặc biệt là tại Lybia, Ai Cập và Syria, được chiếu trên các đài truyền
hình ngoại quốc, đã gợi lại trong tâm não tôi biết bao cảnh tượng hào hùng xen
lẫn tang thương của cuộc chiến Việt Nam, tưởng rằng đã đi vào quá khứ lãng
quên, nhưng vẫn còn ẩn hiện đâu đây qua từng nhịp thở của kiếp sống lưu vong.
Như trước đây, khi lực lượng dân quân cách mạng phối hợp với đồng minh Anh-Mỹ
tiến vào thủ đô Baghdad, dân chúng đã hò reo nhảy múa, kéo sập tượng đài Saddam
Hussein đã từng ngạo nghễ đứng nơi công viên thành phố suốt mấy chục năm. Rồi
đến tổng thống Ai Cập, tổng thống Lybia, kẻ thì bị bắt giữ, người thì bị tiêu
diệt, gia đình tan nát, chế độ độc tài sụp đổ toàn diện.Những người mẹ già phủ
kín khăn đen cài lên chiếc áo trận của dân quân vùng dậy từng nhánh hoa dại,
các em bé khẳng khiu ôm hôn người lính cách mạng với nụ cười ngây thơ còn sót
lại trên môi. Trong khói lửa vẫn chan hòa nước mắt của mừng vui được thấy Tổ
Quốc hồi sinh. Các cộng đồng Á Rập lưu vong tại các nơi trên thế giới cũng vội
vã ra đường phất cao ngọn cờ quê hương cội nguồn, mừng reo chiến thắng bạo tàn,
cầm tay nhau mà ước hẹn ngày về, trong vinh quang của người dân Tự Do chứ không
phải thân phận của du khách ngay trên quê hương mình.
Nhất định, với Niềm Tin và sự Đoàn Kết cùng chung góp công và
Đại Cuộc phụng sự Chính Nghĩa Dân Tộc, với Tâm Rộng Nghĩa Sâu và Chí Bền Dạ
Sáng, các cộng đồng Quốc Gia của chúng ta khắp nơi trên thế giới sẽ có một ngày
vinh quang như các cộng đồng Á Rập lưu vong.
Hiện nay tại Úc Châu, cái gọi là Nghị Quyết 36 của cộng sản VN
đang được một số người cố gắng dùng mọi phương tiện từ văn nghệ, đến sinh hoạt
lén lút, tuyên truyền xảo quyệt, phát tán tin tức sai lầm, tung những bài viết
xuyên tạc mạ lỵ hạ cấp cộng đồng Người Việt Tự Do (danh xưng chính thức và duy
nhất từ mấy chục năm qua của cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản tại đây) và
các nhân vật đấu tranh chân chính trên mạng lưới điện tử. Các tòa đại sứ, tổng
lãnh sự của CSVN đã sử dụng những tên tay sai nằm vùng, bịa danh, những người
với căn cước tỵ nạn trước đây đã quên đi danh dự và liêm sĩ để cam tâm làm
thân cây tầm-gửi sống tạm qua ngày với danh xưng mới là “Việt kiều yêu nước”,
bám vào nghị quyết 36, để mong làm lũng đoạn hàng ngũ Quốc Gia của chúng ta.
Hiện tượng này đã xảy ra trong các cộng đồng hải ngoại Người Việt Quốc Gia khắp
nơi trên thế giới. Thậm chí chúng còn mập mờ tạo dựng ra những hội đoàn, những
cộng đồng “ma”, cũng mang danh xưng như cộng đồng chúng ta, để gây hoang mang,
xáo trộn, nghi ngờ chia rẽ, với mục đích duy nhất làm mất Niềm Tin của quần
chúng, phá tan tinh thần Đoàn Kết trong cộng đồng. Nhưng chúng đã và sẽ thất
bại trước Sức Mạnh của chúng ta là những người đấu tranh chân chính, quyết tâm
giữ vững thành trì chống cộng tại hải ngoại. Cộng đồng Người Việt Tự Do Úc Châu
vẫn vững mạnh tiến bước với cơ cấu thống nhất từ liên bang đến tiểu bang, không
có một ai hoặc thế lực nào cản trở được bước tiến Đoàn Kết và Niềm Tin vào thế
tất thắng của Chính Nghĩa Dân Tộc, và trước danh dự của Cộng Đồng đối với chính
quyền và nhân dân bản xứ. Những bước chân âm thầm của những người Nghĩa Sĩ Phục
Quốc xuyên rừng từ thập niên 80, tưởng rằng đã bị vùi chôn trong quên lãng,
nhưng vẫn còn sống với núi sông. Những tiếng thét oán hờn trong ngục tù cộng
sản giam cầm những con người thực sự yêu Nước, tưởng rằng sẽ bị bốn vách xà lim
khổ nhục vây kín, nhưng vẫn còn hiện hữu với Hồn Thiêng Tổ Quốc. Máu của người
dân oan thấm dần trên mảnh đất quê hương dưới sự chà đạp của bạo lực thống trị,
tưởng rằng sẽ bị xóa tan, nhưng vẫn còn luân chuyển dòng mạch trong Lòng Đất Mẹ
và trong lòng cộng đồng Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản chúng ta.
Chúng ta đã biết rõ tử huyệt của chế độ cộng sản hiện nay để xác
định ý nghĩa của Lòng Yêu Nước và Hành Động Cứu Nước trong khi những biến
chuyển về tôn giáo và lòng dân quốc nội đang tạo ra nhiều cơ hội thuận lợi cho
công cuộc đấu tranh chung vì Tự Do Dân Chủ, Nhân Quyền. Con đường Hành Động của
người Việt yêu Nước chân chính, nếu không được hướng dẫn bởi Ý Thức Cứu Nước,
với Công Tâm Đoàn Kết và giữ vững Niềm Tin trong cộng đồng hải ngoại, nếu không
được trải bằng Hạnh Hy Sinh, không được soi bằng Đạo Sống Việt, thì chỉ là
những đường đi không tới đích. Thế giới không có một trường học nào dạy ta cứu
Nước, cũng không có cường quốc nào vô tư giúp ta cứu Nước. Người cộng sản đã
đồng hóa Lòng Yêu Nước với Yêu Đảng, Yêu Xã Hội Chủ Nghĩa. Kết quả là họ đã đưa
Toàn Dân vào hố thẳm diệt vong hôm nay, đã làm cho Dân Tộc phải chia lìa, về
mọi phương diện từ vật chất đời sống đến tâm linh đạo lý làm Người trên quê
hương chúng ta, và manh tâm làm lủng đoạn hàng ngũ cộng đồng hải ngoại. Người cộng
sản biết rõ cộng đồng Người Việt Quốc Gia chúng ta tại các châu (Âu-Mỹ-Úc) là
thành trì chống cộng, là kho tàng của tài năng chất xám, là nguồn cung cấp dồi
dào về ngoại tệ mỗi năm, là thành tựu của các công tác ngoại vận vạch trần các
vi phạm nhân quyền dưới chế độ bạo lực và gian dối của họ, là sức mạnh yểm trợ
tinh thần cho các nhà đấu tranh trong nước, cho nên một mặt họ vẫn tìm mọi cách
o bế, chiêu dụng, mặt khác vẫn âm mưu phá tan Niềm Tin và sự Đoàn Kết của chúng
ta. Từ những câu sĩ nhục chúng ta là “Ma cô đĩ điếm, phản bội Tổ Quốc...”, đến
nay thì lại gọi là “Khúc ruột thân thương xa nghìn dặm, một bộ phận không thể
tách rời của Dân Tộc...”, cũng chỉ vì hơn 10 tỷ đô la Mỹ nhận được mỗi năm để
gián tiếp nuôi sống chế độ thống trị của họ.
Tử huyệt của chế độ cộng sản có thể khái quát nhìn thấy là : --
Mất lòng dân vì đã để lộ chân tướng tuyên truyền lừa bịp, không còn ai muốn lao
vào cuộc chiến một cách cuồng nhiệt, bất chấp mọi hy sinh như trước đây -- Ở
vào thế thủ vì phải lo bảo vệ những tài sản đã cướp đoạt được, vì lẽ đó đã mất
đi quyền chủ động trong mọi cuộc đấu tranh -- Đảng cộng sản đã bị đồng đô la
của Mỹ phá hoại ngay từ ngày gọi là Đổi Mới đến nay, tranh chấp nội bộ vì quyền
lợi ngày càng trầm trọng, không còn là một “khối độc thể” có sức mạnh như
trước, dù đó chỉ là sức mạnh của bạo lực -- Giá trị chiến đấu “Vì Đảng”
của đảng viên ngày càng sụt giảm, vào đảng để kiếm quyền lợi chứ không phải vì
lý tưởng. Trước đây họ không có gì cho nên cần phải chiến đấu để có. Đến nay
thì lại có quá nhiều tài sản riêng tư, do tham nhũng hối lộ, đặc quyền đặc lợi,
cho nên chỉ lo bảo vệ những gì đã tước đoạt được từ người dân, từ miền Nam.
Tham nhũng đã trở thành “quốc nạn”, thậm chí đã tạo ra tư tưởng : “Tham nhũng
từ đảng mà ra, diệt tham nhũng là diệt đảng”, cho nên họ chỉ còn cố bám víu vào
đảng để được tiếp tục tham nhũng, chứ không phải bị nhồi sọ về ý thức hệ của
đảng -- Mất điểm tựa vững chắc là khối cộng sản quốc tế từ khi Liên Sô và Đông
Âu sụp đổ, Bắc Hàn và Cu-Ba thì đang hấp hối, đói nghèo kiệt quệ. Họ phải dựa
vào Trung Cộng để sống còn, cam tâm làm chư hầu để bảo vệ quyền lợi của đảng,
và vì như thế, họ càng để lộ mặt hèn hạ Bán Nước, gây căm phẫn trong lòng Dân.
Đây chỉ là những suy nghĩ đại cương trong ngày tưởng niệm Quốc
Hận 37 năm, không phải là một bài nghiên cứu tường tận về hiện tình đất nước và
cộng đồng hải ngoại. Nhập vào khí thế hăng say của đồng hương tại Úc đang chuẩn
bị mọi công tác cần thiết biểu dương tinh thần Yêu Nước và Cứu Nước, đánh dấu
37 năm lìa xa Tổ Quốc, tôi luôn nghĩ và tin rằng Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia
là một thành trì vững mạnh có thề góp công tích cực cùng Toàn Dân vùng lên đấu
tranh đòi lại Lẽ Sống của người dân Việt, trong thế liên hoàn Hải Ngoại - Quốc
Nội.
Vì đại nghĩa Dân Tộc, vì niềm tự hào chính đáng và danh dự của
người tỵ nạn cộng sản, chúng ta có thể bỏ qua các tỵ hiềm ganh ghét cá nhân nếu
có, những gay cấn nhất thời cục bộ trong mọi tập hợp, để cùng chung lòng bảo vệ
Sức Mạnh của chúng ta. Với tấm lòng trong sáng, và để đối đầu với mọi âm mưu
của cộng sản và tay sai rình rập phá hoại sự Đoàn Kết của Cộng Đồng Tự Do,
chúng ta cần khai thác thêm thế Mạnh mà chúng ta đã và đang có : --
Nắm được Chính Nghĩa Dân Tộc, có thể huy động được sức mạnh của Lòng
Người, Lòng Dân -– Chúng ta trưởng thành trong đau khổ, trong tù đày, trong uất
hận, trong ly tán gia đình, trong cảnh lưu vong tủi nhục. Không bị mê hoặc bởi
những lời tuyên truyền lừa bịp, những lời ngon ngọt dối trá. Đây là bài học quý
giá giúp cho chúng ta tiếp tục chiến đấu để tự cứu mình, góp công cứu Người và
cứu Nước -- Từ hải ngoại, chúng ta khai thác được sức mạnh của truyền thông để
phá vỡ sự bưng bít thông tin của chế độ cộng sản -- Thấm nhuần được tư tưởng và
nếp sống đích thực của nền Tự Do Dân Chủ để tiếp nhận thêm những ý kiến chân
chính, hướng dẫn hành động tập thể -- Giao tiếp được với các chính quyền sở
tại, Quốc Hội, các cơ quan truyền thông ngoại quốc, để trình bày với đầy đủ
bằng chứng xác thực về các vi phạm nhân quyền của CSVN, làm thức tỉnh được
lương tâm nhân loại, trong các công tác Quốc Tế vận...
Nhưng muốn đạt được thành công, giữ vẹn Niềm Tin và sức mạnh
Đoàn Kết, tôi thiển nghĩ mọi kế hoạch và chiến thuật hành động đều phải phát
xuất từ căn bản cái TÂM trong sáng vì Dân Tộc chứ không phải vì tham vọng cá
nhân hay phe nhóm tổ chức. Ý nguyện của mỗi người không phải chỉ biết “Muốn
thành công” mà không chịu “Hành động” chính đáng, và cũng không bao giờ đặt cái
Ta lên trên Tổ Chức chân chính (cần phải có để tạo Thế và Lực chung) và đừng
bao giờ dám nghĩ đặt Tổ Chức lên trên Tổ Quốc.
35 năm về trước, với số người tỵ nạn cộng sản ít oi đầu tiên đặt
chân lên đất tạm dung này từ các đảo xa xôi, anh em chúng tôi đã huy động tổ
chức Ngày Quốc Hận Đầu Tiên tại Sydney. Không phải là một cuộc biểu tình, mà là
một buổi Diễn Hành Im Lặng với mấy trăm người bịt khăn tang trắng, sắp hàng
nghiêm chỉnh đi khắp các đường chính trong thành phố. Chúng tôi có yêu
cầu xe cảnh sát dẫn đầu. Chúng tôi và đồng hương từ các “hostels” đã đi xe lửa
về thành phố Sydney, nhiều người ngơ ngác lạc đường, dáo dát tìm nhau, tay cầm
cờ Vàng Ba Sọc Đỏ Quốc Gia làm bằng giấy, đầu chit khăn tang, lặng lẽ tập họp
tại địa điểm đã được anh em hướng dẫn đến, và im lặng tuần hành, cảnh tượng
thật nao lòng, ngậm ngùi, đầy uất hận. Lúc bấy giờ, 35 năm về trước, tất cả
đồng hương tỵ nạn đều sống trong các trại tạm cư, làm gì có nhà cửa xe cộ riêng
tư, đời sống sung túc phương tiện như bây giờ. Đây là lần đầu tiên người bản xứ
Úc thấy được cảnh tượng này, không hiểu chuyện gì đã xảy ra, không biết nhóm
người chit khăn tang tuần hành im lặng này là ai, họ đứng lại bên đường nhìn
chúng tôi đi qua, các cơ quan truyền thông ngoại quốc ráo riết quay phim, tường
thuật. Đến khi tan hàng tại công viên Hyde Park trong thành phố, dân chúng Úc
đã đổ xô đến hỏi chúng tôi : “ Anh là Ai ? Có phải Thuyền Nhân không ?”. Tôi đã
đại diện đồng hương, hãnh diện trả lời : “Chúng tôi là những người Việt Nam đã
bị cộng sản cướp mất quê hương, đang xin tỵ nạn tại đây, mong tìm được Tự Do
Dân Chủ trong đời sống mới. Chúng tôi đã dùng phương tiện là những chiếc
thuyền, chiếc ghe đánh cá để vượt biển thoát khỏi chế độ cộng sản, đồng bào
chúng tôi đã chết trên biển Đông... Danh từ “Thuyền Nhân – Boat People – là do
các cơ quan truyền thông ngoại quốc đã tự đặt tên gọi cho chúng tôi, xin quý vị
hãy gọi chúng tôi một cách chính đáng là “Người Việt Nam Tỵ Nạn Cộng Sản” ...
Thời gian vừa qua, tôi lại được nghe câu hỏi “Anh là Ai ?”,
trong một bối cảnh khác. Đấy là câu hỏi của người nhạc sĩ trẻ tuổi Việt Khang
trong nước, đang sống dưới chế độ bạo quyền cộng sản, đã bị bắt giam vì dám
ngang nhiên dùng sáng tác âm nhạc để hỏi thẳng vào mặt những tên cộng sản đầy
bạo lực : - Các anh là ai mà sao lại đánh tôi, chửi tôi, bắt tôi, khi tôi chẳng
làm điều gì sai, tôi chỉ có lòng yêu Nước, tôi chỉ muốn chống Tàu xâm lược...”.
Lời ca tiếng nhạc của Việt Khang, tiếng thét của người dân oan, lời tuyên xưng
bất khuất của những nhà đấu tranh quốc nội, thực sự là những viên đạn đúc bằng
Máu Tim của nhiều thế hệ đang bắn vào thành trì độc tài cộng sản trên quê hương
chúng ta. Những viên đạn không phải đúc bằng sắt thép, vì cho dù là sắt thép
cũng sẽ bị hao mòn bởi thời gian, và sắt thép vô tri có thể được con người sử
dụng để tạo thành chiến tranh hủy diệt, làm vũ khí cho những kẻ Ác Tâm đàn áp
đồng loại. Những viên đạn đúc bằng Máu Tim là những viên đạn đúc bằng Máu Nhân
Bản, bằng lửa nung kiên cường, bằng ý chí bất khuất, bằng sự đòi hỏi Công Bằng
và Tự Do. Những viên đạn này không phải là khí cụ bạo lực để trả thù bạo lực,
không dùng ác tâm để tạo thêm hận thù, mà chỉ dùng máu của quả tim yêu chuộng
Tự Do Nhân Bản để đòi hỏi Lẽ Sống chính đáng của Con Người.
Với Sức Mạnh của Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia, với Niềm Tin và
sự Đoàn Kết trong tinh thần bất khuất của những người con của Mẹ Việt Nam thực
lòng yêu Nước, cho dù sống lưu vong nơi xứ lạ quê người hoặc đang bị đày đọa
ngay trên quê hương mình, nhất định Chính Nghĩa Dân Tộc sẽ chiến thắng Bạo Lực
và Dối Trá, Độc Tài toàn trị. Lịch sử nhân loại và lịch sử của Tổ Quốc chúng ta
đã chứng minh điều đó.
Tôi tin rằng với quyết tâm cùng nhau bảo vệ và phát huy Sức Mạnh
của Cộng Đồng Người Việt Tự Do của chúng ta tại Úc cũng như các Cộng Đồng Người
Việt Quốc Gia tại hải ngoại, chúng ta sẽ không bao giờ nghe nhạc sĩ Việt Khang
hoặc bất cứ thế hệ Trẻ nào trong nước chuyển đổi lời ca tiếng hát, hoặc cất lên
tiếng hỏi chúng ta, từ quốc nội gửi ra : - “Các Anh là Ai ? Sao lại thờ ơ, “vô
cảm”, trước nỗi khổ đau tang tóc của đồng bào nơi quê hương cội nguồn ? Sao lại
thản nhiên nhìn đất nước đang bị họa diệt vong ? Sao lại cất tiếng cười vang trên
cảnh lầm than của Tổ Quốc ? Sao lại đùa vui trên thân em gầy guộc chỉ bằng tuổi
cháu con ?”. ...
Chúng ta sẽ không bao giờ phải cúi mặt, nghẹn lời, trước các Thế
Hệ mai sau.
Vụ
Ô. Bạc Hy Lai ngày 15 tháng Ba bị CS Bắc Kinh cất chức Bí thư Thành ủy
Trùng Khánh, đình chỉ chức vụ ủy viên Bộ Chính trị, và vợ ông, bà Cốc
Khai Lai, bị cáo buộc giết doanh nhân người Anh Neil Heywood - là vụ án
kỷ luật thanh trừng làm chấn động Trung Cộng và gây nhiều dư luận trên
thế giới. Có nhiều tin đồn loan truyền ở TQ, sẽ có đảo chính. Báo chí
Tây Phương và dư luận trên các trang mạng tư nhân ở Trung Quốc bình luận
liên tục nhiều tuần, tốn rất nhiều giấy mực, thời lượng phát thanh,
phát hình, và nhiều chỗ trên các trang mạng trên Internet. Đảng Nhà Nước
CS
Bắc Kinh ra sức thắt chặt kiểm soát tin tức trên internet trong thời
gian qua, đóng cửa vài chục trang web, xóa hàng trăm ngàn bài đăng trên
các trang mạng xã hội, và bắt giữ hàng chục người loan truyền thông tin,
nghị luận liên quan đến vụ Bạc Lai Hy và đảo chánh. Thực ra vụ Bạc Hy
Lai chẳng có gì mới lạ trong sinh họat chánh trị kín hơn hội kín, trong
xã hội bế tắc của Đảng Nhà Nước CS. Đó là hệ quả tất yếu của một số luật
chết cứng, trước sau như một của Đảng CS dù CS ở Âu hay Á.
Thực
vậy, sau khi Liên xô sụp đổ, ở Trung Quốc cũng như ở VN, Đảng CS có
nhiều thay đổi. Chủ nghĩa CS có chuyển hệ tư duy về kinh tế sang kinh tế
thị trường, mở cửa cho đầu tư ngọai quốc vào. Cán bộ đảng viên lên đồ
lớn, đi xe sang, có người du
học ngọai quốc rất cao. Thời đại CS đã đến thế hệ thư ba hay tư, nhiều
hòang tử đỏ. Cán bộ đảng viên CS đã thành một giai cấp mới, tư bản đỏ ở
thành thị và cường hào ác bá đỏ ở nông thôn.
Nhưng có một điều
không đổi trong đảng CS. Trời gầm Đảng CS cũng không nhả, không thay
đổi; đó là luật thanh trừng nội bộ. Luật thanh trừng tàn bạo, ác nghiệt
vô cùng, điều mà ông giáo làng sau lên làm vua CS Tàu là Mao trạch Đông
đã thường ví von “đả lạc thủy cẩu» (khi con chó rơi xuống nước thì đó là
lúc phải đánh nó).
Xã hội CS theo xã hội học là một xã hội bế
tắc. Họ giải quyết mâu thuẫn, xung đột phe đảng bằng cách “thịt” nhau.
Làm tiêu sinh mạng chánh trị hay mạng sống của nhau, chớ không có vấn đề
tương
nhượng thỏa hiệp như trong chánh trị tự do, dân chủ, cởi mở, minh bạch.
Trong
vòng bố thiết, tuyệt đối không khai phóng đó của CS, hỏi phe đảng theo
tư tưởng Đặng tiểu Bình, như Hồ cẩm Đào, Ôn gia Bảo và người sắp kế
nghiệp là Tập cận Bình làm sao để cho một người như Bạc Hy Lai chủ
trương, phát biểu và hành động làm sống lại tư tưởng Mao trạch Đông. Và
tối kỵ nhứt là gây thanh thế cá nhân bằng kiểu ấy để chen vào Thường Vụ
Bộ Chánh trị Đảng CS Trung Quốc.
Tuy bề ngòai phe Đặng tiểu Bình
và những người kế nghiệp bằng mặt vẫn treo hình Mao Trạch Đông để giữ
thế chánh thông công quyền nhưng bên trong đâu có bằng lòng thái độ và
hành động của Mao trạch Đông, người đã hãm hại, ám hại bao người cụ thể
như Ô.
Đăng tiểu Bình.
Những người đang ở ngôi cửu ngũ, là chín người
thường vụ của Bộ Chánh trị là những người từng bị Mao đày đọa, cách mạng
Văn Hóa của Ô. Mao truy quét làm sao để Ô. Bạc hy Lai mới là ủy viên Bộ
Chánh trị lại tự tung tự tác chủ trương trở lại thời Mao, khơi lại Cách
mạng Văn hóa.
Cũng như ở VNCS, làm sao những người như Nguyễn
tấn Dũng, Nguyễn minh Triết, Trương tấn Sang và một số khác ở Miển Bắc
để cho Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ tuy là một hòang tử đỏ nhưng dám “giỡn mặt
với tử thần”, đòi kiện, đòi Quốc hội bất tín nhiệm Thủ Tường Nguyễn tấn
Dũng. Bộ Chánh trị bằng nhiều cách, trong đó có cách dơ dáy là phao vu
Tiến sĩ “quan hệ bất chánh” đối với phụ nữ để bước dầu bắt giam và sau
đó
đổi tội danh đại hình “lợi dụng tự do tuyên truyền chống phá nhà nước,
lật đổ chánh quyền, và xử “tù mọt gông”. Việc quan hệ bất chánh là việc
làm như cơm bữa của đảng viên cán bộ CS có chức có quyền. Ô Hồ làm đối
với gái vị thành niên khăn quàng đỏ và làm rồi cho người giết để bịt
miệng người mà Ông đã thòa mãn sắc dục. Ô Lê Duẫn, Ô. Lê đức Thọ cũng
làm thời Việt Minh khi vào Nam chỉ đạo phong trào kháng chiến. Nhà văn
Vy Thanh nói nhiều lần trên truyền hình, viết rất rõ trong tác phẩm “Lớn
Lên Với Đất Nước”. Bộ Chánh trị của Đảng CSVN làm đối với Ts Vũ so vai
vế và chức vụ, còn mạnh và bạo hơn TC làm đối với Bạc Hy Lai.
Bạc
hy Lai tiêu diêu sinh mạng chánh trị vì là một bánh xe nhưng không vận
hành theo
guồng máy và đà máy chạy của Đảng CS. Ông dám tạo uy tín cá nhân bằng
hành động thân dân, trừ gian, diệt bạo trong hàng ngũ mafia trong đảng
nhà nước. Ông gây thanh thế cá nhân để "vận động tranh cử" vào Thường Vụ
Bộ Chánh Trị, chớ không chịu “xếp hàng chờ ngày” theo “biên chế” trong
chế độ CS vẫn vận hành theo kiểu đồng thuận, bí mật.
Thành ra
những người theo dõi và có kinh nghiệm CS không lấy làm lạ khi thấy
trong vụ Bạc hy Lai bị Đảng CS nhổ cỏ thỉ nhổ tận gốc. Chính Ô Bạc hy
Lai cũng làm thế đối với cánh tay phải của Ông là ông Vương Lập Quân
trong chiến dịch thanh lọc Đảng Nhà Nước ở Trùng Khánh để gây uy tín
trong dân cho Ô Bạc hy Lai. Lúc bấy giơ Ông Quân là người nắm ngành công
an, mật vụ, nhân vật số ba trong
thường vụ tỉnh và thành ủy Đảng Trùng Khánh. Ông Quân bị chuyển qua làm
Phó Chủ Tịch Ủy Ban mà cũng không yên. Ông phải chạy vào tòa tổng lãnh
sự Hoa Kỳ ở Thành Đô, được cho là xin tị nạn và nhưng bị bắt đưa về Đảng
xét xử. Tin đài VOA tiếng nói chánh thức của chánh quyền Mỹ ngày 16-4
cho biết Ô. Quân vào tòa tổng lãnh sự Mỹ rất bối rối, lo sợ, xin tỵ nạn
chánh trị. Các giới chức của cơ quan đại diện Mỹ này tranh luận gay go
nên hay không nên cho, và sau đó Bộ ngọai Giao Mỹ quyết định từ chối
nhưng không giao Ô. Quân cho công an Trùng Khánh mà giao cho nhà cầm
quyền CS Bắc Kinh. Ô Quân sợ người “thủ trưởng” chí thân của mình là Ô
Bạc lai Hy “thịt” vì một lý do giản dị do chính trung ương Đảng sau này
khui ra, Ô. Quân biết vợ Ông
Hy dính líu với cái chết của doanh gia Anh đội lốt tình báo.
Trong
chế độ CS, trong đảng CS và trong bộ máy công quyền nhà nước CS, cán bộ
đảng viên chỉ là con ốc, bánh xe của guồng máy mà máy cái là Bộ Chánh
trị gom lại một số ít là thường vụ Bộ chánh trị, ở TC chỉ có 9 người
trong ngôi cửu ngũ như của Vua Tàu ngày xưa.
Bất cứ ai đi khác
cách vận hành, chệch hướng của guồng máy, có sáng kiến, có phương pháp
cá nhân vươn lên khác lối mòn của Đảng là bị guồng máy cán nát dù cá
nhân đó là hòang hay thái tử đỏ..
Một sai lầm lớn của những chánh
tri gia Tây Phương là coi trọng cá tính, quan niệm riêng của người lãnh
đạo CS. Sai lầm kế tiếp là nghe những lời tuyên bố có tính phong trào
của CS. Nhiều khi đó là những lời
tuyên truyền hay khai khiếu cho trăm hoa đua nở, để cho những người bất
mãn xì xú páp rồi sau đó bắn phe mạnh trong Đảng sẽ diệt ngầm. Người có
kinh nghiệm CS thường nói, CS nói vậy, chớ không phải vậy, mà còn tệ
hơn vậy nữa; nên đừng nghe những gì CS nói mà hãy nhìn những gì CS
làm./.