Thứ Năm, 4 tháng 6, 2009

Dự án bô-xít Tây Nguyên: Suy nghĩ của một người Việt Nam ở nước ngoài

Dự án khai thác mỏ bô-xít trên Tây Nguyên ở Việt Nam đã gây nên dư luận chống đối mạnh mẽ từ nhiều giới trong và ngoài nước kể từ sau khi hai lá thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, một gửi Thủ tướng Chính phủ ngày 14/01/2009 nhưng không được hồi đáp, và một gửi cho khoá Hội thảo về bô-xít ngày 09/04, nhưng đã được Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải, người chủ trì hội thảo, kết luận là dự án vẫn được chính phủ đánh giá cao và tiếp tục tiến hành. Ngày 12/04, một Thư Kiến nghị do ba nhà trí thức trong nước là Nguyễn Huệ Chi, Nguyễn Thế Hùng và Phạm Toàn soạn thảo đã được gửi đến Chủ tịch Nước, Chủ tịch Quốc hội và Thủ tướng Chính phủ ngày 17/04/2009, với sự ủng hộ của 135 trí thức trong và ngoài nước. Lá thư này cho đến nay đã có tổng cộng trên 1.800 người đồng ký tên.

Thư Kiến nghị khẳng định “việc khai thác tài nguyên của đất nước, trong đó có tài nguyên bauxite, là việc làm cần thiết, nhưng đó không thể là việc làm bằng mọi giá.” Thư Kiến nghị dẫn chứng những nhận định của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và của các chuyên gia, khoa học gia và những nhà nghiên cứu độc lập, cho thấy những nguy cơ về chính trị, quốc phòng, kinh tế, môi trường, và những sai phạm khó chấp nhận trong chủ trương làm dự án bauxite này. Cuối cùng lá thư đưa ra ba kiến nghị cụ thể:

1) Phải đưa vấn đề dự án bauxite Tây Nguyên ra trước Quốc hội và mọi chủ trương liên quan phải được Quốc hội quyết định;

2) Dự án bauxite Tây Nguyên phải chính thức dừng ngay lại, có giám sát chặt chẽ cho tới khi Quốc hội xem xét toàn bộ báo cáo tiền khả thi và đưa ra những phê chuẩn thích hợp;

3) Những nghiên cứu tiền khả thi với vấn đề bauxite Tây Nguyên cần được dư luận rộng rãi tham gia và theo dõi.

Tóm lại, đây là một lá thư của những trí thức và công dân có tinh thần trách nhiệm bày tỏ với những nhà lãnh đạo sự lo lắng khôn cùng về một dự án có tầm chiến luợc sống còn của đất nước, và thẳng thăn đề nghị trong tinh thần xây dựng, hoàn toàn phù hợp với chủ trương của Nhà nước là “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra.”

Ngày 25 tháng 4, Bộ Chính trị đưa ra một Thông báo Kết luận về dự án bauxite, chủ yếu là hướng dẫn việc triển khai các dự án phải “trên cơ sở hiệu quả tổng thể, gồm cả hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội” vì việc khai thác bô-xít, sản xuất alumin “có tác động lớn đến môi trường”, nếu không được quản lý tốt sẽ gây ra “hậu quả nghiêm trọng mà việc khắc phục phải mất nhiều năm với chi phí tốn kém lớn.” Bộ Chính trị yêu cầu phải sử dụng “thiết bị và công nghệ hiện đại” trên thế giới, quan tâm đến đời sống và giữ gìn bản sắc văn hoá các dân tộc Tây Nguyên, sử dụng lao động nước ngoài phải đúng quy định của pháp luật. Kết luận của Bộ Chính trị nhấn mạnh: “Tây Nguyên là khu vực nhạy cảm, cần đặc biệt quan tâm đến vấn đề an ninh, quốc phòng cho cả trước mắt và lâu dài, đến môi trường tự nhiên và môi trường văn hoá”.1

Qua Thông báo Kết luận này, Bộ Chính trị đã gián tiếp trả lời Đại tướng Võ Nguyên Giáp và nhóm trí thức trong và ngoài nước, chia sẻ những quan tâm chính đáng về các dự án bô-xít Tây Nguyên, đồng thời có những hướng dẫn xác đáng cho việc triển khai các dự án này. Tuy nhiên, Bộ Chính trị vẫn chủ trương tiến hành khai thác bô-xít theo quy hoạch thay vì khuyến cáo ngưng các dự án này cho đến khi có kết quả nghiên cứu toàn diện vấn đề bô-xít Tây Nguyên, đáp ứng những quan tâm chung đã nêu trên.

Gần một tháng sau ngày thư kiến nghị được gửi đến ba cơ quan đầu não của chính quyền,

GS Nguyễn Huệ Chi mới nhận được hồi âm từ một nơi là Quốc hội, dưới hình thức của một mẫu in sẵn thư trả lời “đơn khiếu nại” của dân chúng. Người ký tên trên mẫu thơ in sẵn này không phải là Chủ tịch Quốc hội mà là Phó chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội. Ngoài ra, trong thư trả lời cũng như ngoài bì thư, tên của GS Nguyễn Huệ Chi đều bị ghi là Nguyễn Thị Huệ. Trước phản ứng của dư luận chi trích cách trả lời bất xứng, phi văn hoá này, ngày 23 tháng 5, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Quốc hội đã gửi văn thư xin lỗi GS Chi về “những sai sót” trong công văn nói trên.

Sau khi ký tên trên Thư Kiến nghị, tôi vẫn theo dõi tin tức liên quan đến dự án bauxite qua trang mạng bauxitevietnam. info với ý định đóng góp ý kiến khi cần. Ngày 24 vừa qua, tôi được đọc bản Báo cáo của Chính phủ gửi Quốc hội, và ngày 26 được đọc lời bình luận bước đầu của các tác giả trang mạng bauxitevietnam. info. Trong ngày 25, tôi cũng đã được đọc những email trao đổi ngày 24 giữa Giáo sư Nguyễn Huệ Chi và Kiến trúc sư Trần Thanh Vân về nhu cầu phản biện “những sai trái cố tình hoặc do cảm tính trong bản báo cáo ấy”. Cả chị Vân và anh Chi đều kêu gọi những người đã ký tên trên Thư Kiến nghị hoặc mời chuyên gia quen biết cùng lên tiếng phản biện.

Đặc biệt trong email của anh Nguyễn Huệ Chi trả lời chị Trần Thanh Vân có câu: “Còn chị hình dung đến cái nguy cơ kẻ thù truyền kiếp của chúng ta sẽ lật mặt gây hấn nay mai với thế thượng phong thì chúng tôi cũng nghĩ gần như chị, không khác gì chị. Đó là linh cảm, trực giác của anh trí thức hàng ngày gắn với thực tiễn đất nước, chứ trí thức Việt kiều đôi khi không cảm được cái nguy cận kề đó nên vẫn còn ung dung tranh luận bàn tròn. Tôi đã từ ít lâu nay không muốn làm kẻ sophiste nữa.”

Cũng trong ngày 24, có hai trí thức Việt kiều đã góp ý về lời phát biểu của anh Chi. Người thứ nhất là anh Trương Phước Trường ở Úc (hay Đức?). Anh Trường thông cảm với “sự khó nhọc phải chạm trán rất gần với các ‘thực tiễn của đất nước’ của anh Chi, nhưng dù ở xa với “thực tiễn của đất nước” anh “cũng không vì thế mà muốn mình là kẻ sophiste.” Anh Trường có một ý kiến rất hay là “để giúp cho tiếng nói chung có hiệu quả, Việt kiều ở nước ngoài có khi cần có tiếng nói không giống với trong nước, để thể hiện những cách nhìn khác nhau, tuy cùng về một hướng. Đó là sự bổ sung, chứ không phải là ‘tranh luận’. Ví dụ như, trong khi trong nước có thể quan tâm về kết quả của một kiến nghị, về nội dung hay kết luận của một bản báo cáo, một Việt kiều ở ngoài nước muốn góp ý cho vấn đề có khi cần chú trọng nhiều đến phương pháp hơn là vấn đề ‘kết quả’, như thế mới có sự bổ sung thiết thực cho trong nước, dù là ‘Vấn đề đã cấp bách lắm rồi’.”

Việt kiều thứ hai là anh Phạm Xuân Yêm ở Pháp. Anh Yêm cũng qui chiếu vào lời phát biểu của anh Nguyễn Huệ Chi về trí thức sophiste để cho thấy anh muốn góp ý kiến thiết thực về một vấn đề quan trọng khác được đề cập trong đoạn cuối của Thư Kiến nghị: “chúng tôi cũng kêu gọi người Trung Hoa nhất là giới trí thức hãy ủng hộ dân tộc Việt Nam, giúp cho môi trường sống của nước láng giềng phía Nam được trong lành, giúp cho nhiều vấn đề còn dở dang giữa hai quốc gia được giải quyết trong hoà bình và hữu nghị.” Anh Yêm nói rõ sự cần thiết phải “phân biệt một bên là hai chính quyền Trung Quốc và Việt Nam với bên kia là đa số nhân dân bình thường (trong đó có thành phần trí thức) của hai nước, họ ít nhiều là nạn nhân bị lôi kéo vào vòng kim cô.” Anh Yêm cũng hoàn toàn đồng ý với nhận xét của anh Chi về ý kiến của chị Trần Thanh Vân cho rằng người Trung Quốc trong Cách mạng Văn hoá đã bộc lộ hết những nét xấu mà dân tộc ta không có. Anh Chi viết: “Tôi thì tôi nghĩ dân mình cũng có đủ các nết xấu ấy, có khi còn xấu hơn, song xét từ cội rễ thì cái xấu này chính là do sự xảo quyệt của những người cầm lái bên trên muốn khai thác và khuếch đại nó lên, chứ nông dân Việt Nam cũng như Trung Quốc vốn dĩ bản chất rất tốt và cũng có những cố tật như nhau, chẳng ai hơn ai kém đâu.”

Anh Yêm bàn thêm: “Cũng như cảm tính âm ỷ “bài Việt (yuon), kẻ thù truyền kiếp” của một số người Miên, hay “bài Nhật, “kẻ thù truyền kiếp” của một số người Triều Tiên, do cả một quá trình lịch sử phức tạp, bi thảm của bao quốc gia trên thế giới, mà cũng chẳng riêng gì châu Á. Thiết nghĩ ta phải vượt qua cái xenophobie, không liên kết cái cảm tính “bài Hoa” tìềm tàng lúc lên lúc xuống trong tâm thức của một số người Việt với những vấn đề ô nhiễm môi sinh, kinh tế, kỹ thuật, xáo trộn xã hội của Bauxite.”

Trở lại với lòng mong đợi của anh Nguyễn Huệ Chi là trong số 135 người được anh liên lạc sẽ có người lên tiếng phản biện hoặc mời giùm những nhà chuyên môn tiếp tay phản biện bản báo cáo của Bộ Công Thương, tôi xin nói ngay rằng tôi không thể phản biện với tư cách một chuyên gia về bô-xít. Nhưng điều tôi muốn nói ở đây không phải là nhu cầu phản biện mà không nên phí thì giờ để phản biện thêm nữa, vì tất cả những lời cảnh báo về dự án bô-xít của các nhà khoa học môi trường, các chuyên gia kinh tế và xã hội, các nhà ngoại giao, tướng lãnh về an ninh, quốc phòng, từ trước và sau bản Báo cáo của Bộ Công Thương đã quá đủ rồi.

Vấn đề chính là có thể ngưng tiến hành dự án bô-xít Tây Nguyên để làm một cuộc tổng duyệt mọi khía cạnh kỹ thuật, kinh tế, xã hội, và an ninh quốc phòng-trước mắt và lâu dài-để cho việc quy hoạch và triển khai dự án đạt được lợi ích mong muốn hay không?

Câu hỏi này thật ra đã được Bộ Chính trị trả lời trong bản Thông báo Kết luận, lưu ý chính phủ về những điều phải quan tâm nhưng “chỉ đạo tiếp tục thực hiện chủ trương triển khai 2 dự án ở Tân Rai (Lâm Đồng) và Nhân Cơ (Đắc Nông) do Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam làm chủ đầu tư, đồng thời chưa chủ trương bán cổ phần cho tổ chức và cá nhân nước ngoài.”2

Ngày 20 tháng 5, Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết lá thư thứ ba, lần này gửi Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị, kiến nghị “dừng các dự án khai thác bô-xít ở Tây Nguyên, kể cả khai thác thí điểm”, và “đề nghị Trung ương, Bộ Chính trị, Quốc hội hãy nêu cao trách nhiệm to lớn trước toàn Đảng, toàn dân thực hiện sự lãnh đạo, chỉ đạo một cách dân chủ, khoa học… Làm như vậy là để tránh đuợc quyết định sai lầm, gây nên tai hoạ lớn cho đất nước.”

Cho đến lúc này, tôi không thấy có lý do nào để tin rằng những kiến nghị của Đại tướng sẽ được Bộ Chính trị đáp ứng tích cực. Về phía Quốc hội thì trước khi mở diễn đàn cho các đại diện dân cử phát biểu ý kiến, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội đã quả quyết với báo chí là “chắc chắn Quốc hội sẽ hoàn toàn ủng hộ các dự án bô-xít Tây Nguyên.” Mặc dù đã có ba dân biểu Dương Trung Quốc, Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Lân Dũng lên tiếng chia sẻ quan điểm của ĐT Võ Nguyên Giáp và những người ký Thư Kiến nghị, tôi không có ảo tưởng rẳng đa số trong Quốc hội sẽ có quyết định khác với chỉ đạo chính phủ của Bộ Chính trị. Tôi cầu mong là tôi sẽ lầm, nhưng nếu đúng như vậy thì tất cả những lá thư tâm huyết của Đại tướng anh hùng Điện Biên Phủ đều bị coi là vô giá trị, và Thư Kiến nghị của nhóm trí thức yêu nước sẽ trở thành thơ ngây vì đã đặt niềm tin vào một Quốc hội “rubber stamp” dưới chế độ hiện hành. Tôi tin chắc GS Chi và những người bạn của anh không phải là những người ngây thơ và có lý do để làm chuyện này, nhưng nếu thất bại thì vẫn không tránh khỏi bị mang tiếng chủ quan.

Trong thư trả lời KTS Trần Thanh Vân, GS Nguyễn Huệ Chi đã cho biết anh “cầm chắc phần thua keo này dù trực giác cho tôi thấy chúng ta hoàn toàn đúng khi đòi hỏi dừng dự án bauxite.” Nói “thua keo này” tức là có hàm ý sẽ “bày keo khác”. Nhưng nếu chỉ kêu gọi thêm ý kiến phản biện thì thế nào cũng lại thua để lại phải bày keo khác nữa, nếu chưa chịu bỏ cuộc. Tôi không “hàng ngày gắn với thực tiễn đất nước” nên khó có thể góp ý về phương cách nào khác thích hợp với anh em ở trong nước, ngoài đề nghị thực tế là, bằng mọi cách, phải phổ biến các thông tin cần thiết về dự án bô-xít thật mau chóng và sâu rộng mà không cần khích động tới mọi giới trong quần chúng, nhất là mọi thành phần trong quân đội nhân dân là lực lượng chủ yếu bảo vệ nền độc lập của tổ quốc.

Nhưng tôi thấy rõ được một điều là trí thức và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có thể hỗ trợ đắc lực cho những nỗ lực của trí thức và các giới nhân dân ở trong nước. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố tâm lý và chính trị phức tạp trong quan hệ giữa trong và ngoài nước, không chỉ từ 1975 mà từ sau ngày đất nước bị chia đôi năm 1954, sự hỗ trợ cần thiết này chỉ có thể thực hiện nếu cả hai bên đều hiểu biết được những khác biệt và trở ngại còn tồn tại, không chỉ giữa hai bên mà ngay cả trong nội bộ mỗi bên. Người bên ngoài cần hiểu rằng những người yêu nước ở bên trong đang phải thường xuyên chịu đựng mọi hành động theo dõi, khuyến cáo và đe dọa của lực lượng an ninh, do đó không thể tự do phát biểu và đòi hỏi như những công dân trong một xã hội dân chủ. Cũng do đó, cần tránh cho người trong nước bị qui chụp là cấu kết với các tổ chức phản động ở bên ngoài và âm mưu nổi loạn. Mặt khác, người trong nước thuộc phe thắng trận cũng cần hình dung được những nỗi đau của hàng trăm ngàn người cũng vì lòng yêu nước mà đã bị hành hạ tàn nhẫn trong những trại tù cải tạo, của trên dưới hai triệu người đã phải rời bỏ quê cha đất tổ, bỏ hết cả tài sản và sự nghiệp đã xây dựng được, nhất là phải chịu những gian khổ và mất mát quá lớn trong những cuộc vượt thoát bằng đường biển hay đường bộ, để có thể hiểu được lòng căm hận đối với những người và chế độ đã gây tai họa cho họ. Sau mấy chục năm qua, với sự nghiệp vững chãi và thành tích vẻ vang của thế hệ con em tại quốc gia định cư, lòng thù hận của những nạn nhân này đáng lẽ đã có thể được đẩy vào dĩ vãng nếu nhà cầm quyền trong nước thật tâm hoà giải và thật tâm theo đuổi những mục tiêu đã đề ra là “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.”

Điều quan trọng cần nhận rõ là đại đa số trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài-kể cả đa số trong những người cực đoan-chống chế độ ở trong nước không còn vì hận thù quá khứ mà vì những chính sách cai trị độc tài, chà đạp nhân quyền và bóp nghẹt những khao khát về một xã hội công bằng và dân chủ. Trong khi chính quyền chỉ nói mà không làm thì tệ nạn tham nhũng và bất công xã hội đã gia tăng đến mức chưa từng có trong lịch sử dân tộc. Như vậy thì rốt cuộc nhân dân trong nước và cộng đồng ngoài nước đều giống nhau về mục tiêu, chỉ khác nhau về phương pháp. Do bị hạn chế bởi những điều kiện khắc nghiệt và những đe dọa thường trực, người trong nuớc phải giữ cái thế hợp pháp của mình nên rất e ngại, và có thể kinh sợ khi được sự ủng hộ và tiếp cận của những lực lượng tranh đấu “quá khích.” Tất nhiên không thể có sự kết hợp giữa hai phương pháp trái ngược, nhưng thực tế là phương pháp bên ngoài lại có hiệu quả hỗ trợ chứ không chống đối phưong pháp bên trong, hay nói như trí thức “Việt kiều” Trương Phước Trường, đây chính là sự “bổ sung” chứ không phải là “tranh luận”. Thôi thì trong lúc này, hãy cứ để cho mỗi bên sử dụng phuơng cách thích hợp với mình, hãy để cho hiệu quả hỗ trợ hay bổ sung của bên ngoài đến một cách tự nhiên.

Không nên né tránh vấn đề cốt lõi

Trở lại vấn đề bô-xít Tây Nguyên, tôi thấy cốt lõi của vấn đề không hẳn là những quan tâm chính đáng nhưng ôm đồm nói trên mà chính là mối lo ngại về tham vọng bành trướng của Trung Quốc, cụ thể là mưu đồ của giới lãnh đạo nước này muốn đưa Việt Nam vào quỹ đạo kiểm soát của Trung Quốc. Cho đến nay, vì những lý do tế nhị đối với láng giềng phương Bắc, tất cả những kiến nghị dừng dự án bô-xít ở trong nước, kể cả những lá thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đều chỉ lồng vấn đề an ninh, quốc phòng vào trong những vấn đề quan tâm chung, và vẫn phải nấp sau tấm bình phong khoa học, kỹ thuật. Tôi thấy rằng nếu cả hai phía chính quyền và nhân dân cứ tiếp tục tranh biện về những vấn đề phụ mà né tránh vấn đề chính, một bên vì muốn bảo vệ quyền lực và quyền lợi, một bên muốn giải quyết vấn đề trong hoà bình, và nếu bên ngoài thiếu thận trọng trong việc hỗ trợ cho bên trong, thì đất nước sẽ không tránh khỏi nguy cơ lọt vào vòng bảo hộ của Trung Quốc trong một tương lai không xa.

Những cuộc vận động độc lập ở trong và ngoài nước đòi hỏi ngưng dự án bô-xít Tây Nguyên vì những quan tâm về môi trường, kinh tế, lao động, văn hoá sắc tộc… vẫn cần được tiếp tục, có thể phải vận động sự can thiệp của UNESCO căn cứ vào Công ước Bảo vệ Di sản Văn hoá Phi Vật thể (Convention of the Intangible Cultural Heritage), ngày 3 tháng 11 năm 2003 mà Việt Nam có ký kết. Việc bảo vệ văn hoá phi vật thể ở Việt Nam bao gồm “Không gian Văn hoá Cồng Chiêng “(Space of Gong Culture) ở Cao nguyên Trung phần Việt Nam (nay gọi là Tây Nguyên). Một số trí thức trẻ ở nước ngoài đang chuẩn bị làm công việc vận động này nhưng còn phải được nghiên cứu kỹ hơn về tính thích hợp và khả năng can thiệp của UNESCO.

Sự hỗ trợ thích hợp nhất của người Việt Nam ở nước ngoài cho cuộc vận đông ngưng dự án bô-xít của người trong nước là chú trọng vào đối tượng Trung Quốc. Cần tập trung các nỗ lực vào chiến dịch vận động các chính phủ sở tại, các quốc gia và tổ chức quốc tế đang chia sẻ nỗi lo âu về sự kiện Trung Quốc gia tăng tham vọng bá quyền trong khu vực và tranh thủ địa vị siêu cường trong cộng đồng thế giới. Đây là một tầm nhìn chiến lược đòi hỏi một kế hoạch vận động ngoại giao không chính thức nhưng có bài bản thích hợp và có tính thuyết phục với từng đối tượng, do đó cần có sự trao đổi kinh nghiệm và hợp tác giữa những nhà nghiên cứu, những giáo sư chính trị học và bang giao quốc tế, những chuyên gia đã và đang làm việc với các chính phủ và cơ quan quốc tế, những người am hiểu tình hình chính trị khu vực và toàn cầu. Số người này trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài không phải là nhỏ.

Thư Kiến nghị của nhóm Nguyễn Huệ Chi được chấm dứt bằng một lời kêu gọi hướng về phương Bắc: “Nhân dịp này, chúng tôi kêu gọi người Trung Hoa nhất là giới trí thức hãy ủng hộ dân tộc Việt Nam, giúp cho môi trường sống của nước láng giềng phía Nam được trong lành, giúp cho nhiều vấn đề còn dở dang giữa hai quốc gia được giải quyết trong hoà bình và hữu nghị.”

Lòi kêu gọi này xuất phát từ nỗi lo ngại chính đáng về một cuộc đối đầu với Trung Quốc bằng vũ lực mà Việt Nam cần phải tránh. Trực diện với tham vọng của Trung Quốc không phải để gây chiến mà để tìm mọi cách bảo vệ sự sống còn của dân tộc trong hoà bình. Một trong những cách này là kêu gọi giới trí thức Trung Hoa ủng hộ và vận động cho việc giải quyết những vấn đề còn tồn tại giữa hai nước trong hoà bình và hữu nghị. Tôi tán thành lời kêu gọi này nhưng tôi không kỳ vọng vào hiệu quả tích cực của nó, vì đồng thời với công cuộc tranh thủ địa vị siêu cường, lãnh đạo Trung Quốc cũng đang làm thức dậy niềm tự hào dân tộc. Trong những nỗ lực này, trí thức Trung Quốc chắc chắn phải có phần đóng góp quan trọng. Chúng ta không chống lại sự phục hồi niềm tự hào và danh dự của dân tộc Trung Hoa do những hành động xâm lăng và hạ nhục trong quá khứ của những nước Tây phương và Nhật Bản. Chúng ta cũng không chống lại những cố gắng tranh thủ vị thế siêu cường của Trung Quốc, nhưng chúng ta cũng như các dân tộc yêu chuộng dân chủ chống lại những nỗ lực này chỉ vì Trung Quốc là một nước độc tài toàn trị có tham vọng bá quyền trong khu vực và toàn cầu. Giả thử Trung Quốc là một nước dân chủ, tôn trọng chủ quyền và đối xử bình đẳng với Việt Nam và các nước trong khu vực thì nhất định chúng ta sẽ ủng hộ hết lòng.

Tới đây, tôi xin chia sẻ một câu chuyện trong lần tôi gặp cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt ở Việt Nam hồi tháng Mười 2007. Trong cuộc đàm luận có sự hiện diện của nhà báo Huy Đức ghi chép cho ông Kiệt, khi đề cập đến vấn đề quan hệ Việt-Trung, tôi kể rằng hồi tôi còn dạy ở Đại học Johns Hopkins, tôi có gặp một học giả Trung Quốc trong một bữa ăn ở Washington DC để nghe bài nói chuyện về Việt Nam của Đại sứ Mỹ Burkhardt. Học giả này còn trẻ, khoảng chưa tới 50, tên là Wu Bao Cai (Ngô Bảo Thái?) thuộc Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế Đương đại ở Bắc Kinh được học bổng nghiên cứu của Phân khoa Chính trị học, Đại học Virginia. Khi trao đổi danh thiếp, ông có vẻ chú ý tới chức vụ cũ của tôi ở Trung tâm Tác vụ Đông Nam Á (SEARAC). Ít lâu sau, tôi được ông điện thoại cho hay vợ chồng ông sắp về nước và ông muốn gặp tôi để phỏng vấn trước ngày lên đường. Tôi mời hai ông bà đến ăn trưa ở nhà tôi. Bà vợ, cũng nói giỏi tiếng Anh, làm thư ký ghi chép. Ông hỏi thăm tôi về các hoạt động của Trung tâm SEARAC, về công cuộc định cư và hội nhập xã hội Mỹ của người tị nạn Việt Nam, về các tổ chức cộng đồng và quan hệ giữa cộng đồng người Mỹ gốc Việt với Việt Nam. Sau cùng, ông xin phép hỏi tôi một câu tế nhị và mong tôi thẳng thắn trả lời. Câu hỏi là: Trung Quốc đã hết lòng viện trợ quân sự và kinh tế cho Việt Nam, nhờ đó Việt Nam đã thắng được cả hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, như vậy tại sao Việt Nam lại thù ghét Trung Quốc? Tôi đáp: “Ông hiểu biết nhiều về lịch sử của cả hai nước, vậy trước khi trả lời câu hỏi của ông chúng ta hãy kiểm điểm xem từ thời thượng cổ đến nay, trừ một cuộc hành quân của Lý Thường Kiệt đòi lại đất đai bị mất, có khi nào Việt Nam xâm lăng hay gây chiến với Trung Quốc hay không, hay chỉ đúng trong trường hợp ngược lại?”

Trở về với câu hỏi của ông Wu, tôi trả lời ông là, nói cho đúng, Việt Nam không ghét nhưng sợ Trung Quốc. Là một nước nhỏ ở phía Nam biên giới, Việt Nam chỉ mong muốn có hoà bình và giao hảo với Trung Quốc, nhưng khi lãnh thổ bị xâm lăng thì toàn dân đều một lòng chiến đấu bảo vệ tổ quốc. Tôi nhắc lại thời Đông Chu, Trung Quốc gồm có mấy chục nước luôn luôn tìm cách chinh phục lẫn nhau, số thương vong quân cũng như dân nhiều không kể xiết. Việt Nam vì là một nước biệt lập ở bên kia biên giới nên không bị lôi cuốn vào cảnh cốt nhục tương tàn của Trung Quốc, nhưng vẫn phải đối phó với những triều đại lớn như Hán, Tống, Nguyên , Minh, Thanh. Vì vậy, nếu Trung Quốc không có ý đồ thôn tính hay áp đặt chính sách ở Việt Nam thì chắc chắn sẽ được Việt Nam tôn trọng như một nước đàn anh. Trong thời đại toàn cầu hoá ngày nay, thế giới chia thành khối vừa hợp tác vừa đua tranh phát triển, nếu Trung Quốc có thể gây được niềm tin, không chỉ đối với Việt Nam mà cả với các nước trong khu vực thì khối Đông Á sẽ phát triển bền vững và chung sống hòa bình thịnh vượng lâu dài. Trước khi chia tay, ông Wu hỏi tôi nếu được Viện Nghiên cứu Quốc tế ở Bắc Kinh mời sang nói chuyện thì tôi có nhận lời không. Tôi cho biết là tôi sẽ rất hân hạnh nhận lời, nhưng từ đó không thấy có tin tức gì. Tôi nghĩ rằng ông Wu, một trí thức được đào tạo ở ngoại quốc và có nhiều cơ hội trao đổi với bên ngoài, thuộc thành phần thiểu số trí thức tiến bộ ở Bắc Kinh.

Chúng ta khó trông cậy vào sự ủng hộ của trí thức Trung Hoa ở trong nước nhưng chúng ta có thể hi vọng được sự ủng hộ của trí thức Trung Hoa ở nước ngoài. Vì cùng được đào tạo và sinh hoạt trong những môi trường tự do dân chủ, trí thức Việt Nam và Trung Hoa hải ngoại có tư duy thông thoáng về quan hệ quốc tế, quen với lề lối đối xử bình đẳng, hợp tác trong hoà bình và công lý, do đó dễ tạo được sự thông cảm và hỗ trợ lẫn nhau. Ngoài ra trí thức người Việt ở nước ngoài, với sự hậu thuẫn của cộng đồng, cũng có điều kiện tự do phát biểu ý kiến, trực tiếp hay gián tiếp, với các nhà làm chính sách ở Việt Nam và Trung Quốc, viết bài và tham gia các diễn đàn về bang giao quốc tế, đóng góp những lý luận thuyết phục với chính phủ và nhân dân các nước trong khu vực về việc xây dựng lập trường chung đối với Trung Quốc trong việc giải quyết hoà bình vấn đề tranh chấp lãnh hải. Đó là những công tác hết sức khó khăn nhưng không thể không làm và không thể không trông cậy vào sự đóng góp của người Việt ở hải ngoại.

Nhân tài Việt Nam ở nước ngoài, không chỉ gồm những trí thức, chuyên gia gốc tị nạn mà gồm cả những cựu sinh viên du học từ trước năm 1975 và những sinh viên du học cấp tiến sĩ trong những năm gần đây đã quyết định ở lại bên ngoài để làm việc trong khi chờ đợi những điều kiện ở trong nước được cải thiện. Đội ngũ nhân tài người Việt hải ngoại, hầu hết là người trẻ, được ước tính có khoảng trên ba trăm ngàn chuyên gia đủ mọi ngành. Đội ngũ đó nếu có cơ hội và điều kiện thuận tiện để hợp tác với đội ngũ trí thức tiến bộ ở trong nước sẽ chắc chắn giúp cho Việt Nam sớm trở thành một quốc gia giàu mạnh và dân chủ, xứng đáng ngang hàng với những con rồng, con cọp ở Á châu. Tạp chí The Economist gần đây cho thấy Ấn Độ đã nhờ cậy rất nhiều vào khối trí thức của họ ở hải ngoại để phát triển kinh tế, và đã bắt đầu đảo ngược trào lưu thoát não (brain drain) của xứ này. Giữa 2003 và 2005, khoảng 5.000 chuyên gia ưu tú Ấn Độ có trên 5 năm kinh nghiệm làm việc ở Hoa Kỳ đã trở về nước và tăng cường liên doanh hợp tác với các tập đoàn công nghệ cao của Mỹ. Về Trung Quốc, bản báo cáo này cũng cho thấy Trung Quốc, dù có những trở ngại về Anh ngữ và sự lũng đoạn của các công ty quốc doanh, đã sử dụng được tối đa khối chuyên gia người Mỹ gốc Hoa, đặc biệt từ thung lũng điện tử (Silicon Valley). Trong những năm gần đây, số người Hoa ở nước ngoài trở về nước gia tăng đến độ đã trở thành một trào lưu được mệnh danh là B2C (back to China).3

Nhu cầu hợp tác của trí thức trong và ngoài nuớc trong tiến trình đổi mới và phát triển đã được cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đưa lên hàng quốc sách để thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Một dự án thành lập một viện nghiên cứu chiến lược phát triển như một loại “think tank” ở các quốc gia tiến bộ, với sự phối hợp của trí thức, chuyên gia trong và ngoài nước, đã được thành hình và đề nghị từ hai năm trước với các lãnh đạo cấp cao nhất. Dự án đã được chấp thuận trên nguyên tắc nhưng đã bị lặng lẽ bỏ rơi.

Một tháng sau ngày ông Võ Văn Kiệt qua đời, tôi có viết bài “Thông điệp chính trị Võ Văn Kiệt“. Tôi đã kết luận bằng nhận định: “Trước lịch sử, nhà cách mạng Sáu Dân Võ Văn Kiệt phải chịu phần trách nhiệm không nhỏ về những chính sách sai lầm của Đảng và Nhà nước, nhất là ở miền Nam sau khi thống nhất. Nhưng lịch sử cũng ghi nhận ông là một người yêu nước, một lãnh tụ cộng sản sớm giác ngộ nhất, có tầm nhìn chiến lược và những bước chiến thuật rất thực tế trong những giới hạn của cơ chế độc tài toàn trị vào một thời điểm nhất định trong lịch sử.”

Tôi cũng nhấn mạnh rằng ông Kiệt đã để lại một công trình dang dở của một chính trị gia giàu kinh nghiệm và nhiều trăn trở với đất nước, đòi hỏi những người đang nắm giữ vận mệnh quốc gia phải lãnh nhận và tiếp tục thực hiện để cho quốc gia Việt Nam sớm đuổi kịp các con rồng con cọp trong khu vực, đem lại tự do và hạnh phúc cho nhân dân.

Ông Võ Văn Kiệt đã ra đi được một năm. Công trình dang dở của ông chẳng những không đuợc thực hiện mà triển vọng đất nước còn tối tăm hơn. Tôi cầu nguyện vong linh ông phù hộ cho những người lãnh đạo còn có lương tri và cho những nỗ lực của toàn dân trong công cuộc bảo vệ chủ quyền quốc gia và xây dựng xã hội công bằng, dân chủ được thành công.

2 tháng Sáu 2009

© 2009 Lê Xuân Khoa

© 2009 talawas blog

03/06/2009 6:00 sáng
Tác giả: Lê Xuân Khoa
Chuyên mục:
Bauxite Tây Nguyên, Chính trị - Xã hội
Thẻ:
Kết hợp trí thức trong và ngoài nước > Võ Văn Kiệt

Thứ Tư, 3 tháng 6, 2009

Bài học giữ Đất & Nước của Tổ Quốc


Độc Lập Hoàn Toàn và Toàn Vẹn Lãnh Thổ là lập trường tranh đấu bất di bất dịch của Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Chính vì lập trưởng này mà ông đã nhiều lần từ chối lời mời của Pháp, của Quốc Trưởng Bảo Đại, đứng ra thành lập Chính phủ. Giữ vững lập trường này, ông đã từ chối đề nghị của Thủ Tướng Chu Ấn Lai, sau khi Hiệp định Geneva được ký kết: Trung Quốc sẵn sàng nhìn nhận Chính phủ Miền Nam Việt Nam; hai bên sẽ thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai quốc gia độc lập. Khi cầm quyền, ông đã rất cứng rắn và khôn khéo giữ gìn, không chịu để mất một tấc đất của Tổ Quốc. Cuối cùng thì ông đã chấp nhận cái chết, không để cho cường lực xâm phạm đến Chủ quyền Quốc gia, tức là nền độc lập hoàn toàn của Tổ quốc.

Ngày nay, trước nỗi đau đất nước đang bị bọn “Thái Thú” của Tàu cộng, mang tên Việt, ăn cơm từ lúa gạo của đồng ruộng Việt, uống nước từ sông, suối Việt, cắt đầu này, xén đầu kia dâng cho quan thầy. Thiết tưởng chúng ta nên ôn lại bài học này. Dĩ nhiên với một sự kiện đã xảy ra cách nay hơn nửa thế kỷ, nếu cần, điều chỉnh cho hợp tình hợp cảnh hầu có thể thực hiện tinh thần ấy cho phù hợp với thời thế ngày nay.

1. Tại Biên giới phía Tây.

Tháng 5-1958, bắt đầu có những rắc rối xảy ra trên đường biên giới phía Tây, quân đội Cam Bốt ngang nhiên dời cột mốc biên giới sang đất Việt Nam 3 cây số ở vùng Pleiku và một số vùng khác như Tây Ninh, Hà Tiên, Kiến Tường v.v... Tiếp theo là những vụ cướp phá xảy ra tại các làng trong những vùng này. Được báo cáo về tình hình này, Tổng Thống Diệm liền yêu cầu Bộ Tổng Tham Mưu biệt phái về Phủ Tổng Thống một sĩ quan Pháo binh có khả năng. Sĩ quan được biệt phái là Đại úy Lê Châu Lộc, đang là huấn luyện viên tại trường Đại Học Quân Sự. Ông được Tổng Thống đích thân giao nhiệm vụ đi cắm lại các cột mốc suốt dọc đường biên giới Việt Nam-Cambodia, theo bản đồ từ thời Pháp thiết lập, và quan sát đất đai, sinh hoạt của dân chúng sống hai bên đường biên giới. Với một xe jeep, một hạ sĩ quan truyền tin và hai hộ vệ, khởi sự từ tháng 6-1958, ông đi kiểm tra lại các cột mốc phân ranh suốt từ Hà Tiên đến Pleiku, cắm lại tất cả những cột đã bị di dời. Nhưng nhiệm vụ ông được giao, không dễ dàng được hoàn thành, vì sự ngoan cố của phía Cam Bốt. Những cột mốc bị dời sai đường ranh theo bản đồ, lấn sang đất của ta, được di đến đúng đường ranh. Nhưng khi trở lui kiểm soát, thì thấy chúng lại đã bị dời về địa điểm cũ, trên phần đất bị lấn chiếm, và dĩ nhiên, chúng lại được di về đúng trên đường ranh. Hai bên cứ giằng co di đi, dời lại như thế hai ba lần. Cuối cùng ông được phép dùng biện pháp mạnh, gài lựu đạn dưới những cột mốc đã được cắm lại. Kết quả là người của quân đội Cam Bốt đến dời cột mốc về lại đia điểm lấn chiếm, đã bị thương hoặc tử vong.

Vì lập trường chính trị không đồng nhất, sự giao hảo giữa Việt Nam và Cam Bốt vốn không được tốt đẹp lắm, dù hai nước đã thiết lập quan hệ ngoại giao đến cấp Đại sứ. Nay thêm hậu quả của vụ tranh chấp biên giới này, phong trào chống người Việt Nam được thổi bùng lên tại Camb Bốt. Nam Vang ồ ạt biểu tình đả kích Việt Nam, hành hung Việt kiều, chính phủ Cam Bốt hạn chế giờ dạy tiếng Việt trong các trường Việt Nam trên đất Cam Bốt chỉ còn 2 giờ một tuần v.v…

Nhằm ngăn chặn tình hình trở nên xấu thêm và để tỏ thiện chí, Tổng Thồng Ngô Đình Diệm gửi lời mời Quốc Trưởng Sihanouk qua Sài Gòn hội đàm, và gửi Cố vấn Ngô Đình Nhu sang Nam Vang thảo luận về chương trình đàm phán giữa đôi bên. Ông Sihanouk nhận lời mời sang Việt Nam, nhưng họ đã nạp đơn khiếu nại tại Tòa án quốc tế La Haye về đường biên giới giữa Việt Nam và Cam Bốt. Kết quả họ bị thua kiện.

Về nhiệm vụ quan sát đất đai và sinh hoạt của dân chúng sống hai bên đường biên giới. Đại úy Lộc đã báo cáo với Tổng Thống về một vùng đất rộng mênh mông dọc theo con đường nhỏ thường được gọi là Piste Kinda chạy ra đường 13, đi về Banmêthuột, đất đỏ rất mầu mỡ. Vùng đất này trước kia là mật khu của Việt cộng, chúng vẫn còn có người khai thác trồng hoa màu bắp (ngô), khoai, sắn (khoai mì) rất tốt. Sau khi cho nghiên cứu, Tổng Thống Diệm đã thành lập tại khu này một tỉnh mới: Tỉnh Phước Long. Chính phủ khuyến khích, kêu gọi dân chúng, và có chính sách giúp đỡ cho những người đến đây lập nghiệp. Về sau, tại tỉnh Phước Long, dân chúng làm ăn rất phát đạt, ngoài hoa mầu còn có những đồn điền cao su rất thành công.

2. Qua biên giới phía Đông.

Ở phía Đông, nước Việt Nam ta tuy nhỏ, nhưng thiên nhiên ưu đãi dành cho một biên giới phía Đông dải cả ngàn cây số với vùng biển Thái Bình Dương tương đối hiền hòa, bao la nước, trời. Tài nguyên biển chúng ta giầu có, lại được hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, của chìm (dầu lửa, khí đốt), của nổi (cát trắng, phân chim), kích thích sự thèm muốn của nhiều nước xung quanh, gây nên nhiều tranh chấp, nhất là từ khi các mỏ dầu được tìm thấy, như chúng ta chứng kiến hiện nay.

Từ thời xa xưa, người Anh và các nước Âu Châu đã sớm nhìn ra ưu điểm nước, trời, của biển cả, đã dốc hết tâm trí khai thác, xử dụng sức mạnh này, nhờ vậy mà họ đã chinh phục gần trọn cả thế giới. Với Việt Nam chúng ta, tiếc rằng, người xưa chưa ý thức được để khai thác, xử dụng sức mạnh trời cho: Trên một ngàn cây số bờ biển thênh thang với hai pháo đài ngoài khơi và một vịnh Cam Ranh tuyệt đẹp và an toàn nhất thế giới!

Dưới thời Việt Nam Cộng Hòa I, mỏ dầu chưa được phát hiện, nhưng ta đã khai thác mỏ cát trắng, loại cát dùng để chế biến thành thủy tinh, pha lê. Công ty Catraco được thành lập để khai thác nguồn tài nguyên này. Tuy rằng, vì kỹ thuật và phương tiện khai thác còn thô sơ, thiêu thốn, số lượng cát được khai thác chưa được nhiều, nhưng ta cũng đã xuất cảng khá đều đặn loại cát này sang thị trưởng Nhật Bản. Cùng trong thời gian này, công việc nghiên cứu giá trị kinh tế của mỏ phân chim trong khu vực hai quần đảo đang được tiến hành tốt đẹp.

Từ đó cả Trung Hoa Dân Quốc và Trung Cộng đều nhảy vào tranh chấp, bên nào cũng tuyên bố hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của họ. Riêng với Trung Hoa Dân Quốc, đang có mối quan hệ rất tốt đẹp với Việt Nam, cá nhân hai vị Tổng Thống cũng quý mến và kính trọng nhau đặc biệt đến nỗi, khi hay tin Tổng Thống Diệm bị sát hại, Tổng Thống Tưởng Giới Thạch đã nói: “Một trăm năm nữa Việt Nam chưa có được một người như Ngô Đình Diệm”.

Chính phủ Việt Nam sau nhiều lần chính thức công bố xác nhận chủ quyền của mình trên hai quần đảo này, Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã có một cử chỉ bày tỏ chủ quyền của Việt Nam một cách rất đặc biệt: Ông mặc Quốc Phục ra kinh lý đảo Lý Sơn, thường được gọi là cù lao Ré, nơi có miếu Hoàng Sa. Trong suốt chín năm cầm quyền, đây là lần duy nhất ông mặc quốc phục khi đi kinh lý. Đến năm 1961, Tổng thống Ngô Ðình Diệm ban hành sắc lệnh số 174 NV, thành lập một xã mới với tên gọi là là xã Ðịnh Hải, bao gồm trọn quần đảo Hoàng Sa, trực thuộc quận Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam, do một phái viên hành chánh trông coi.

Và từ đó cho đến hết thời Việt Nam Cộng Hòa I, không thấy có những tuyên bố nhận chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ các nước chung quanh nữa.

Đất nước Việt Nam tuy nhỏ, dân không đông, nhưng tinh thần hào hùng bất khuất thì không thiếu. Nhờ có tinh thần hào hùng, bất khuất mà từ ngày lập quốc, cha ông ta, tuy phải triều cống người láng giềng khổng lồ phương Bắc, nhưng lời chỉ dạy của các bậc Minh Vương như vua Trần Nhân Tôn dưới đây, luôn được con cháu muôn đời ghi tâm khắc cốt và thực hiện chu toàn:

"Các người chớ quên, chính nước lớn mới làm những điều bậy bạ, trái đạo. Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo.

Cho nên cái họa lâu đời của ta là họa Trung Hoa.

Chớ coi thường chuyện vụn vặt xảy ra trên biên ải. Các việc trên, khiến ta nghĩ tới chuyện khác lớn hơn. Tức là họ không tôn trọng biên giới quy ước. Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp. Không thôn tính được ta, thì gậm nhấm ta. Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích. Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn:

"Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác.

Ta cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu."


Nguyễn Văn Minh
>> nguồn : MGP

Chủ Nhật, 31 tháng 5, 2009

QUỐC KỲ và QUỐC CA VIỆT NAM


Sau năm 1975, đồng bào Việt Nam ở hải ngoại đã nhiều lần nghe những ý kiến phát biểu bằng lời nói hay bằng những bài báo về quốc kỳ và quốc ca Việt Nam. Trong những dữ kiện và ý kiến được trình bày, có cái không đúng sự thật, có cái đúng sự thật nhưng gây ra một số thắc mắc và hoang mang. Viết bài này, tác giả chỉ có mục đích trình bày một số dữ kiện lịch sử xác thật về quốc kỳ và quốc ca Việt Nam và đánh tan những luận điệu có thể làm cho người quốc gia Việt Nam thắc mắc và hoang mang về lá quốc kỳ và bài quốc ca của chúng ta.

I. QUỐC KỲ VIỆT NAM

A. SỰ XUẤT HIỆN CỦA Ý NIỆM QUỐC KỲ TRONG LỊCH SỬ NHƠN LOẠI

Việc dùng một mảnh hàng hay vải có màu sắc và hình thức nhứt định để biểu tượng cho một nhơn vật, một gia tộc lãnh đạo hay một cộng đồng chánh trị đã có từ ngàn xưa. Trong các cuộc giao tranh dữ dội trên các bãi chiến trường cổ kim, binh sĩ hai bên đối đầu nhau đều lấy cờ của bên mình làm điểm hội tập và đều tận lực tranh đấu, thường khi phải hy sinh cả tánh mạng để bảo vệ nó. Trong lịch sử quân sự của mọi cộng đồng chánh trị, việc cắm được cờ của mình trên đất địch hay cướp đoạt được cờ của quân lực địch đều được xem là một chiến công rạng rỡ. Tuy nhiên, trước cuộc Cách Mạng Pháp năm 1789, phần lớn các nước trên thế giới đều theo chế độ quân chủ, hoặc là quân chủ chuyên chế trong đó chỉ có một nhà vua nắm trọn quyền lãnh đạo và được xem là sở hữu chủ duy nhứt của quốc gia, hoặc là quân chủ phong kiến trong đó bên dưới nhà vua còn có những nhà quí tộc làm chủ các lãnh địa, và có khi có những thị xã tự trị trong đó quyền điều khiển thuộc một nhóm người hào phú địa phương. Một số cộng đồng chánh trị nhỏ thời đó đã theo chế độ cộng hòa hay dân quốc. Với chế độ này, quyền lãnh đạo cộng đồng thuộc về một vài thế gia cự tộc. Các cộng đồng chánh trị kể trên đây đều độc lập hoàn toàn hay phải tùy thuộc một cộng đồng chánh trị lớn hơn đều có lá cờ làm biểu hiệu cho mình. Nhưng vì cộng đồng được xem là vật sở hữu của một gia tộc hay một thiểu số gia tộc lãnh đạo nên lá cờ của cộng đồng cũng được xem như là lá cờ của gia tộc hay các gia tộc đó. Ý niệm quốc kỳ biểu tượng cho toàn thể quốc dân chỉ mới xuất hiện với cuộc Cách Mạng Pháp năm 1789. Với cuộc cách mạng này, quốc gia không còn được xem là vật sở hữu của một gia tộc, mà là vật sở hữu chung của toàn thể mọi ngưoi sống trong cộng đồng. Hệ luận của quan niệm mới này là lá cờ một nước không còn là biểu tượng của gia tộc lãnh đạo, mà là biểu tượng của toàn thể quốc dân. Người Pháp đã dùng từ ngữ drapeau national để chỉ loại cờ này. Quan niệm của người Pháp lần lần được người các nước khác chấp nhận và người thuộc các dân tộc nói tiếng Anh đã dùng từ ngữ national flag khi nói đến lá cờ của mình. Drapeau national của Pháp và national flag theo tiếng Anh đã được người Việt Nam chúng ta dịch là quốc kỳ. Về mặt thực hiện cụ thể thì lá quốc kỳ đầu tiên trên thế giới là cờ tam sắc của Pháp gồm ba màu xanh, trắng, đỏ, xếp ngang nhau theo thứ tự kể trên đây. Sự hình thành của lá cờ này là kết quả của một sự thương lượng giữa hoàng gia Pháp và nhơn dân thị xã Paris. Lá cờ tiêu biểu cho hoàng gia Pháp từ nhiều đời vốn nền trắng trên có thêu một hoa huệ màu vàng. Thời quân chủ Pháp, Paris là một thị xã được hưởng quyền tự trị và có lá cờ riêng gồm hai màu xanh và đỏ xếp ngang nhau. Khi người dân Paris nổi lên làm cách mạng đòi hỏi chánh quyền cải tổ chế độ, họ vẫn còn chấp nhận nền quân chủ. Nhà vua Pháp lúc đó là Louis XVI một mặt vì nhu nhược, một mặt vì thiếu phương tiện nên không dùng võ lực đối phó một cách quyết liệt với phong trào cách mạng và chịu chấp nhận các yêu sách của nhơn dân Paris. Do đó, hai bên đã đồng ý nhau lấy cờ của hoàng gia và cờ của thị xã Paris trộn lại làm huy hiệu cho nước Pháp. Nhà vua là quốc trưởng nắm quyền Hành Pháp nên màu trắng của cờ hoàng gia được đặt ở giữa, hai màu xanh đỏ của cờ thị xã Paris được ghép hai bên thành một huy hiệu tam sắc. Huy hiệu này lần lần được phổ biến khắp nơi trong nước, và đến năm 1793, Quốc Ước Hội Nghị đã chánh thức biểu quyết lấy cờ tam sắc làm quốc kỳ cho nước Pháp. Phải nói rằng về mặt thẩm mỹ, cờ tam sắc này rất đẹp. Mặt khác, Cách Mạng Pháp thời đó lấy làm tiêu ngữ ba khẩu hiệu Liberté – Égalité – Fraternité là Tự Do – Bình Ðẳng – Bác Ái. Ba màu của quốc kỳ Pháp được xem là tiêu biểu cho ba tiêu ngữ trên đây: màu xanh tiêu biểu cho Tự Do, màu trắng tiêu biểu cho Bình Ðẳng và màu đỏ tiêu biểu cho Bác Ái. Cờ tam sắc của Pháp đã đẹp mà còn được giải thích một cách đầy đủ ý nghĩa tượng trưng rất phù hợp với lý tưởng chung của nhơn loại nên quốc dân Pháp đã nhiệt liệt hoan nghinh nó và chấp nhận nó làm biểu tượng cho mình. Về sau, nhiều nước Tây Phương khác chịu ảnh hưởng của Cách Mạng Pháp đã chọn ba màu xanh, trắng, đỏ, làm quốc kỳ với những giải thích hơi khác nhau, nhưng vẫn dùng ba màu này làm tiêu biểu cho các lý tưởng tự do, bình đẳng và bác ái là nền tảng chung của các xã hội dân chủ tự do.

B. CÁC LÁ CỜ ÐÃ XUẤT HIỆN Ở VIỆT NAM VỚI TƯ CÁCH LÀ QUỐC KỲ

1. Quốc kỳ xuất hiện đầu tiên: cờ long tinh của Hoàng Ðế Bảo Ðại Ở Việt Nam trước đây cũng như ở các nước quân chủ cổ thời khác, các lá cờ được dùng để biểu tượng cho một nhà lãnh đạo. Hiệu kỳ của một vị tướng cầm đầu một đạo quân thường có màu phù hợp với mạng của vị tướng đó: người mạng kim thì cờ màu trắng, người mạng mộc thì cở màu xanh, người mạng thủy thì cờ màu đen, người mạng hỏa thì cờ màu đỏ, người mạng thổ thì cờ màu vàng. Màu cờ của các triều đại thì được các nhà sáng lập chọn lựa theo sự tính toán dựa vào thuyết của học phái Âm Dương Gia nghiên cứu về sự thạnh suy của ngũ hành lưu chuyển trong vũ trụ sao cho triều đại mình hợp với một hành đang hưng vượng. Ngoài cờ chung của triều đại, mỗi nhà vua đều có thể có lá cờ riêng của mình. Nhưng các lá cờ này chỉ để biểu tượng cho hoàng gia. Về ý niệm quốc kỳ biểu tượng cho cả dân tộc Việt Nam, nó chỉ xuất hiện ở nước ta khi dân tộc ta bị lọt vào ách thực dân Pháp. Tuy nhiên, trong gần suốt thời kỳ Pháp thuộc, dân Việt Nam vẫn chưa có quốc kỳ. Lúc ấy, Nam Việt (được gọi là Nam Kỳ) là thuộc địa Pháp và phải dùng cờ tam sắc của Pháp, Bắc Việt và Trung Việt (được gọi là Bắc Kỳ và Trung Kỳ) trên lý thuyết là lãnh thổ của nhà Nguyễn. Các nhà vua Việt Nam thời đó đều có lá cờ biểu tượng cho mình như thời còn độc lập, nhưng cờ này chỉ được treo nơi nào có nhà vua ngự đến chớ không phải ở mọi nơi trong nước và dĩ nhiên không có tánh cách một quốc kỳ. Mãi đến thời Thế Chiến II, Hoàng Ðế Bảo Ðại mới ấn định quốc kỳ đầu tiên. Nguyên lúc đó, người Pháp đã thua Ðức và rất suy kém. Họ không còn đủ quân lực để bảo vệ các thuộc địa xa xôi. Riêng ở Ðông Dương thì người Nhựt lợi dụng sự suy kém của Pháp đòi quyền đem binh vào chiếm đóng đất này để lấy nó làm bàn đạp phong tỏa phía nam Trung Quốc và tiến đánh Ðông Nam Á Châu với dụng ý chinh phục cả Á Châu. Chánh phủ Pháp không thể từ chối lời đòi hỏi của Nhựt và viên Toàn Quyền thời đó là Ðề Ðốc Decoux có nhiệm vụ phải chịu hợp tác với quân chiếm đóng Nhựt, đồng thời cố gắng đến tối đa để bảo vệ quyền lợi Pháp ở Ðông Dương. Ý thức rằng chánh sách thực dân Pháp trước Thế Chiến II làm bất mãn người Việt Nam mọi giới, Toàn Quyền Decoux đã áp dụng một chánh sách hai mặt: một mặt triệt để đàn áp các phần tử cách mạng chống Pháp, một mặt xoa dịu người Việt Nam nói chung. Trong khuôn khổ của mặt thứ nhì trong chánh sách này, ông đã có những biện pháp nâng cao uy tín của các nhà vua Ðông Dương. Hoàng Ðế Bảo Ðại nhơn cơ hội này đã đưa ra một vài cải cách và ban chiếu ấn định quốc kỳ của nước Ðại Nam. Quốc kỳ này tên là cờ long tinh, nền vàng với một sọc đỏ nằm vắt ngang ở giữa, bề ngang của sọc đỏ này bằng 1/3 bề ngang của cả lá cờ. Cờ long tinh được dùng trên lãnh thổ Ðại Nam, nghĩa là ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ, vì Nam Kỳ lúc đó vẫn là thuộc địa Pháp và vẫn phải dùng lá cờ tam sắc của Pháp.

2. Quốc kỳ thứ nhì: cờ quẻ Ly của chánh phủ Trần Trọng Kim Chánh quyền thuộc địa Pháp ở Ðông Dương đã bị quân đội Nhựt lật đổ ngày 9 tháng 3 năm 1945. Hai ngày sau, Hoàng Ðế Bảo Ðại tuyên bố độc lập. Chánh phủ độc lập đầu tiên được thành lập ngày 17 tháng 4 năm 1945 do nhà học giả Trần Trọng Kim cầm đầu. Quốc hiệu được đổi là Ðế Quốc Việt Nam và theo chương trình hưng quốc được chánh phủ Trần Trọng Kim ban bố ngày 8 tháng 5 năm 1945 thì quốc kỳ được chọn gọi là cờ quẻ Ly. Cờ này cũng nền vàng, ở chính giữa có một quẻ Ly màu đỏ. Ly là một trong 8 quẻ của bát quái và gồm một vạch liền, một vạch đứt và một vạch liền, bề rộng của các vạch này chỉ bằng một phần bề rộng chung của lá cờ. Cờ quẻ Ly trên nguyên tắc là cờ của cả nước Việt Nam gồm có ba kỳ. Nhưng trong thực tế, nhà cầm quyền quân sự Nhựt đã không trao trả Nam Kỳ ngay cho triều đình Huế. Việc trao trả này chỉ thực hiện ngày 14 tháng 8 năm 1945, nghĩa là 4 ngày sau khi chánh phủ Nhựt quyết định đầu hàng Ðồng Minh và 10 ngày trước khi Hoàng Ðế Bảo Ðại thoái vị. Do đó, đại diện của triều đình Huế chưa bao giờ được thật sự cầm quyền ở Nam Việt và cờ quẻ Ly đã không được dùng ở đó. Trong thời gian từ ngày Nhựt đảo chánh Pháp cho đến khi Việt Minh củng cố được chánh quyền cộng sản ở Nam Việt thì cả lãnh thổ này không có quốc kỳ. Lá cờ là điểm hội tập các phần tử quốc gia Nam Việt quyết tâm tranh đấu cho nền độc lập của Việt Nam thời đó là cờ của Thanh Niên Tiền Phong, một tổ chức được thành lập ngày 21 tháng 4 năm 1945, sau khi Nhựt đảo chánh Pháp, để giúp vào việc cứu trợ những nạn nhơn của các cuộc oanh tạc của Ðồng Minh và sau đó, tiếp tay vào việc giúp đỡ đồng bào miền Bắc bị nạn đói. Cờ của Thanh Niên Tiền Phong nền vàng, chính giữa có ngôi sao đỏ. Nó không hề được xem là quốc kỳ, nhưng vì nó là cờ huy động các thanh niên ái quốc Nam Việt cầm tầm vông vạt nhọn đứng lên tranh đấu với Quân Ðội Viễn Chinh Pháp đến xâm chiếm Nam Việt trở lại nên tôi thấy có nhiệm vụ phải nhắc đến nó trong bài khảo cứu này về các lá cờ đã được dùng ở Việt Nam.

3. Cờ đỏ sao vàng của tập đoàn Cộng Sản Việt Nam (CSVN) Khi cướp chánh quyền ở Bắc Việt hồi tháng 8 năm 1945, tập đoàn CSVN dưới tên Việt Minh đã dùng cờ đỏ sao vàng. Cờ này sau đó được họ dùng ở những nơi họ chiếm đoạt được và cho đến nay, vẫn được họ tiếp tục xem là quốc kỳ.

4. Cờ của Nam Kỳ Cộng Hòa Quốc Khi chiếm lại được các thành phố lớn ở Nam Việt, chánh quyền Pháp đã khuyến khích phong trào Nam Kỳ tự trị. Ngày 26 tháng 3 năm 1946, họ đã cho thành lập Nam Kỳ Cộng Hòa Quốc, tên Pháp là République de Cochinchine và Cộng Hòa Quốc này đã có một quốc kỳ nền vàng, với 5 sọc vắt ngang ở giữa gần như quốc kỳ của ta hiện tại, nhưng thay vì ba sọc đỏ và hai hai sọc vàng như quốc kỳ của ta, nó gồm ba sọc xanh và hai sọc trắng chen nhau. Xét về mặt thẩm mỹ, cờ này rất khó coi. Bởi đó, trong những bài trào phúng trong báo Ðuốc Việt là cơ quan ngôn luận bán chánh thức của Xứ Bộ Nam Việt Ðại Việt Quốc Dân Ðảng lúc ấy, tôi đã đặt cho nó cái biệt danh là lá cờ sốt rét.

5. Quốc kỳ của chúng ta hiện nay Quốc kỳ của chúng ta hiện nay do một họa sĩ nổi tiếng thời Thế Chiến II là Lê Văn Ðệ vẽ và đã được Cựu Hoàng Bảo Ðại chọn trong nhiều mẫu cờ khác nhau được trình cho ông trong một phiên họp ở Hongkong năm 1948, gồm có ông và đại diện các đoàn thể chánh trị và tôn giáo cùng một số thân hào nhơn sĩ về phía người quốc gia Việt Nam. Như mọi người đều biết, nó có nền vàng với ba sọc đỏ và hai sọc vàng chen nhau nằm vắt ngang ở giữa, bề ngang của mỗi sọc đỏ và vàng này bằng nhau và bề ngang chung của năm sọc bằng 1/3 bề ngang chung của lá cờ. Cờ vàng ba sọc đỏ đã được dùng làm quốc kỳ cho quốc gia Việt Nam khi chánh phủ lâm thời Việt Nam được thành lập ngày 2 tháng 6 năm 1948 dưới sự chủ tọa của Tướng Nguyễn Văn Xuân. Nó đã tiếp tục được dùng suốt thời Ðệ Nhứt và Ðệ Nhị Cộng Hòa Việt Nam, cho đến ngày nay.

C. Ý NGHĨA CỦA LÁ CỜ ÐÃ ÐƯỢC DÙNG LÀM QUỐC KỲ

Trong các lá cờ mô tả trên đây, cờ vàng sao đỏ không hề được xem là quốc kỳ, cờ sốt rét của Nam Kỳ Cộng Hòa Quốc chỉ là cờ của một chánh phủ bù nhìn dùng trên bộ phận của nước Việt Nam. Vậy, đúng danh nghĩa quốc kỳ chỉ có bốn lá cờ: cờ long tinh, cờ quẻ Ly, cờ đỏ sao vàng của tập đoàn CSVN và cờ vàng ba sọc đỏ của người quốc gia Việt Nam. Lúc cờ vàng ba sọc đỏ ra đời, một số người đã gọi chung bốn lá cờ trên đây là cờ tứ linh: cờ long tinh dĩ nhiên là cờ long, chữ ly trong cờ quẻ Ly đồng âm với ly là con lân, cờ của tập đoàn CSVN được xem là qui vì nó có ngôi sao 5 nhánh y như con rùa ló đầu và bốn chơn ra và quốc kỳ của chúng ta là phụng vì nó có ba sọc đỏ nằm song song nhau như đuôi chim phụng.

1. Ý nghĩa và màu sắc của bốn lá cờ được dùng làm quốc kỳ

Ðiều đáng để ý là cả bốn lá cờ được dùng làm quốc kỳ Việt Nam đều gồm hai màu vàng và đỏ. Tuy nhiên, màu sắc của lá cờ CS nền đỏ sao vàng có ý nghĩa hoàn toàn khác ba lá cờ về phía người quốc gia Việt Nam.

a. Ý nghĩa lá cờ đỏ sao vàng của tập đoàn CSVN

Ðảng kỳ của Cộng Sản Ðệ Tam Quốc nền đỏ trên có búa và liềm màu vàng. Quân Ðội Cộng Sản Nga lúc nổi lên cướp chánh quyền thì lấy ngôi sao đỏ làm biểu hiệu. Quốc kỳ của Liên Sô gồm huy hiệu của Ðảng và Quân Ðội nên cũng nền đỏ trên có búa liềm vàng và ngôi sao đỏ. Nhưng muốn cho ngôi sao đỏ hiện được trên nền đỏ của lá cờ, Cộng Sản Liên Sô đã phải dùng một viền màu vàng bao quanh nó. CSVN đã phỏng theo cờ Liên Sô để làm quốc kỳ. Nhưng năm 1945, họ còn phải giấu tánh chất cộng sản của họ nên không dám để búa liềm trên quốc kỳ này và chỉ dùng ngôi sao tượng trưng cho quân lực cộng sản. Ðiểm khác với Liên Sô là ngôi sao tượng trưng cho quân lực CSVN màu vàng chớ không phải màu đỏ viền vàng. Chúng ta không nên quên rằng hai điều căn bản trong điều lệ của Ðảng Cộng Sản Ðệ Tam Quốc Tế do Lenin thành lập là người tuyên thệ vào đảng này phải xem Liên Sô là tổ quốc số một của mình và phải triệt để tuân lịnh cơ quan lãnh đạo của Ðảng đặt tại Liên Sô. Lấy cờ đỏ sao vàng làm quốc kỳ, Hồ Chí Minh và tập đoàn CSVN đã biểu lộ ý muốn xem lực lượng quân sự Việt Nam là một lực lượng phục dịch cho Quân Ðội Liên Sô, và như vậy thì dĩ nhiên nước Việt Nam Cộng Sản phải là một nước chư hầu của Liên Sô. Ý muốn này đã được thực hiện hoàn toàn sau năm 1975. Lúc CSVN chiếm được Miền Nam Việt Nam, Hoa Kỳ đã rút lực lượng quân sự khỏi Ðông Nam Á Châu và sẵn sàng bắt tay với họ. Trung Cộng tuy không còn là thân hữu và có những hành động chống đối họ, nhưng không có sự uy hiếp quân sự đáng kể. Nếu CSVN giữ thái độ trung lập giữa Trung Cộng và Liên Sô, đồng thời tỏ ra hòa hoãn với Hoa Kỳ, họ đã có thể nhờ sự giúp đỡ của Hoa Kỳ để phát triển kinh tế và dựa vào cả Hoa Kỳ lẫn Liên Sô để hóa giải áp lực Trung Cộng. Nhưng tập đoàn CSVN đã công khai đứng về phía Liên Sô để gây hấn với Trung Cộng và cho Liên Sô dùng Việt Nam làm một căn cứ quân sự chống lại Trung Cộng, đồng thời uy hiếp lực lượng Hoa Kỳ ở Thái Bình Dương. Hiện nay, mọi người đều thấy rõ nước Việt Nam Cộng Sản là một chư hầu của Liên Sô và lực lượng quân sự của CSVN chỉ là lực lượng phụ dịch của Hồng Quân Liên Sô. Tuy những điều kể trên đây chỉ mới thể hiện sau này, nhưng ý đồ của tập đoàn CSVN đã biểu lộ ngay từ lúc họ lấy cờ đỏ sao vàng làm quốc kỳ. Vậy, cờ đỏ sao vàng là biểu tượng của tinh thần vọng ngoại chấp nhận làm thuộc hạ của Liên Sô. Nó hàm ý để cho Liên Sô có quyền can thiệp vào nội bộ Việt Nam. Ðối với những ai cho rằng Ðảng Cộng Sản Ðệ Tam Quốc Tế đã bị giải tán năm 1943 nên Liên Sô không có quyền can thiệp vào việc nội bộ các nước cộng sản chư hầu, chúng tôi xin nhắc lại rằng Ông Brezhnev, Tổng Bí Thư Ðảng Cộng Sản Liên Sô khi biện minh cho việc Liên Sô can thiệp vào việc nội bộ của các nước cộng sản Ðông Âu trong thập niên 1960 đã công khai nêu trước cộng đồng thế giới thuyết chủ quyền hạn chế theo đó một nước xã hội chủ nghĩa đàn anh (tức là Liên Sô) có quyền can thiệp vào việc nội bộ của các nước xã hội chủ nghĩa đàn em (trong đó dĩ nhiên là có Việt Nam) để bảo vệ các nguyên lý của xã hội chủ nghĩa.

b. Ý nghĩa của màu vàng và màu đỏ của những quốc kỳ về phía người quốc gia

Màu vàng và đỏ của các quốc kỳ về phía người quốc gia thì có một ý nghĩa hoàn toàn khác. Theo một số người Việt Nam, hai màu của các quốc kỳ về phía người quốc gia biểu tượng cho dân Việt Nam da vàng máu đỏ. Tư tưởng này có lẽ đã bị ảnh hưởng ít nhiều lối giải thích về ý nghĩa lá cờ nửa vàng nửa đỏ mà Việt Nam Quốc Dân Ðảng đã dùng trong cuộc khởi nghĩa Yên Báy năm 1930. Nhưng lối giải thích trên đây không đúng đối với các quốc kỳ Việt Nam về phía người quốc gia. Các quốc kỳ này thật sự có một ý nghĩa sâu sắc hơn, liên hệ đến cả vũ trụ quan của dân tộc Việt Nam. Trong vũ trụ quan này, có sự liên hệ mật thiết giữa các màu sắc, phương hướng và ngũ hành. Màu vàng thuộc hành thổ và ở vị trí trung ương. Vì thế, nó vừa tượng trưng lãnh thổ, vừa tượng trưng cho uy quyền của nhà lãnh đạo tối cao được xem là sở hữu chủ của lãnh thổ này. Các nhà vua Trung Hoa xưa kia cho mình là kẻ làm chủ cả thiên hạ. Bởi đó, họ tự xưng là hoàng đế đứng trên các vị quốc vương làm vua một nuớc, và nắm giữ độc quyền dùng màu vàng làm y phục. Các nhà vua Việt Nam xưa kia vì thế yếu hơn các nhà vua Trung Hoa và không muốn có những cuộc chiến tranh liên miên với họ chỉ vì vấn đề danh phận nên đã phải chấp nhận làm chư hầu của hoàng đế Trung Hoa với tước hiệu quốc vương. Nhưng trái với các nhà vua Triều Tiên dùng tước hiệu quốc vương trong mọi trường hợp và không bao giờ dám mặc y phục màu vàng, các nhà vua Việt Nam chỉ dùng tước hiệu quốc vương trong sự giao thiệp với Trung Quốc, còn đối với thần dân trong nước và đối với các nước láng giềng khác, họ đã tự xưng là hoàng đế. Mặt khác, họ đã mặc y phục màu vàng y như nhà vua Trung Hoa. Như thế, trong tâm thức tự ngàn đời của dân tộc Việt Nam, việc dùng màu vàng là biểu tượng cho một chủ quyền nguyên vẹn của quốc gia, một nền độc lập hoàn toàn đối với Trung Quốc. Cũng trong vũ trụ quan Việt Nam và Trung Hoa thời trước, màu đỏ thuộc hành hỏa và chỉ phương nam. Do đó, dùng màu đỏ làm biểu tượng là nhấn mạnh trên chỗ dân tộc ta là một dân tộc ở phương nam, đối chiếu với dân tộc Trung Hoa ở phương bắc. Cùng với việc dùng màu vàng, nó nói lên quan điểm của người Việt Nam tự xem mình là một dân tộc nắm trọn chủ quyền của nước mình và ngang hàng với dân tộc Trung Hoa. Quan điểm trên đây đã được Nguyễn Trãi nêu ra rất rõ trong đoạn đầu của bài Bình Ngô Ðại Cáo: “Như ngã Ðại Việt chi quốc, thực vi văn hiến chi bang. Sơn xuyên chi cương vực ký thù, Nam Bắc chi phong tục diệc dị. Tự Triệu Ðinh Lý Trần chi triệu tạo ngã quốc, dữ Hán Ðường Tống Nguyên nhi các đế nhứt phương”. Ý nghĩa chánh xác của đoạn văn trên này là: “Như nước Ðại Việt ta quả là một nước văn hiến. Bờ cõi núi sông (của nước ta và Trung Quốc) đã phân biệt nhau mà phong tục (của chúng ta là) dân phương nam cũng khác với phong tục (của người Trung Hoa là) dân phương bắc. Từ nhà Triệu, nhà Ðinh, nhà Lý, nhà Trần xây dựng nước ta, (các vua ta đã cùng các vua Trung Quốc của) nhà Hán, nhà Ðường, nhà Tống, nhà Nguyên mỗi bên đều làm hoàng đế một phương.” Trong bài này, chúng ta có thể nhận thấy rằng Nguyễn Trãi đã xem nhà Triệu là một triều đại Việt Nam, mặc dầu theo phần lớn các sử gia hiện tại, đó là một triều đại do người Trung Hoa thành lập. Như thế là vì Triệu Ðà là người đầu tiên áp dụng nguyên tắc nhận làm chư hầu của Trung Hoa để tránh việc tranh chiến, nhưng bên trong nước, vẫn tự xưng là hoàng đế, nghĩa là tự xem mình ngang hàng với nhà vua Trung Hoa. Dầu quan điểm của chúng ta đối với nhà Triệu như thế nào thì lập trường chung của dân tộc Việt Nam về sự độc lập hoàn toàn và chủ quyền nguyên vẹn của quốc gia cũng đã được nêu rõ trong bài Bình Ngô Ðại Cáo và được thể hiện rõ rệt với hai màu vàng và đỏ dùng trong các quốc kỳ được phía người quốc gia chọn lựa. Vậy, hai màu vàng và đỏ của các quốc kỳ này khác hẳn ý nghĩa của cờ đỏ sao vàng được tập đoàn CSVN dùng làm quốc kỳ. Hai màu vàng và đỏ của các quốc kỳ về phía người quốc gia đặt nền tảng trên bài Bình Ngô Ðại Cáo, một bản văn được một nhà ái quốc Việt Nam viết lên sau khi nước ta được giải phóng khỏi ách đô hộ của người Trung Hoa và biểu lộ tinh thần độc lập của dân tộc. Trong khi đó, cờ đỏ sao vàng của tập đoàn CSVN biểu lộ tinh thần nô lệ, thần thuộc nước ngoài vì đặt nền tảng trên nguyên tắc tổ chức của Cộng Sản quốc tế ngày nay được nêu rõ trong thuyết chủ quyền hạn chế của nhà lãnh tụ Liên Sô Brezhnev, theo đó, Liên Sô có quyền can thiệp vào việc nội bộ của các nước theo xã hội chủ nghĩa để bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa.

2. Ý nghĩa đặc biệt của cờ quẻ Ly và cờ vàng ba sọc đỏ

Ngoài ý nghĩa chung về màu sắc nói trên đây, cờ quẻ Ly và cờ vàng ba sọc đỏ còn có những ý nghĩa riêng cũng rất sâu sắc.

a. Ý nghĩa cờ quẻ Ly
Như chúng tôi đã nói trên đây, Ly là một quẻ của bát quái. Cũng như màu đỏ, nó tượng trưng cho phương nam. Trong vũ trụ quan của Việt Nam và Trung Hoa thời trước, màu đỏ thuộc hành hỏa, tượng trưng cho mặt trời hay lửa; quẻ Ly cũng tượng trưng cho mặt trời, cho lửa, cho ánh sáng, cho nhiệt lực và về mặt xã hội thì tượng trưng cho sự văn minh. Về hình dạng thì quẻ Ly trên cờ của chánh phủ Trần Trọng Kim gồm một vạch đỏ liền, một vạch đỏ đứt và một vạch đỏ liền. Do đó, bên trong quẻ Ly, hiện lên một nền vàng gồm hai vạch liền và một vạch đứng nối liền hai vạch ấy. Trong Hán văn, đó là chữ Công. Chữ công này được dùng trong các từ ngữ công nhơn, công nghệ để chỉ người thợ và nghề biến chế các tài nguyên để phục vụ đời sống con người. Vậy, ngoài ý nghĩa văn minh rạng rỡ, quẻ Ly còn hàm ý ca ngợi sự siêng năng cần mẫn và sự khéo léo của dân tộc Việt Nam trong các ngành hoạt động sản xuất kỹ nghệ.

b. Ý nghĩa cờ vàng ba sọc đỏ

1/ Ý nghĩa chánh trị
Trong lá quốc kỳ, nền vàng tượng trưng cho quốc gia và dân tộc Việt Nam nói chung và ba sọc đỏ tượng trưng cho ba kỳ. Vậy, ba sọc đỏ name trên nền vàng hàm ý là nước Việt Nam gồm cả ba kỳ và dân tộc Việt Nam gồm người của cả ba kỳ. Ngày nay, sự thống nhứt của quốc gia và dân tộc Việt Nam là một điều không ai phủ nhận được nên người Việt Nam hiện tại không ý thức được sự gay go của cuộc tranh đấu đòi thống nhứt trong thập niên 1940, nhứt là ở Nam Việt. Trong ngôn ngữ Việt Nam, chữ kỳ có nghĩa là một phần đất của một quốc gia chớ không hàm ý một lãnh thổ biệt lập. Các từ ngữ Bắc Kỳ, Nam Kỳ thật sự đã được triều đình Huế dùng lúc nước Việt Nam chưa bị người Pháp xâm lăng để chỉ hai địa phương của một quốc gia thống nhứt. Sau khi xâm chiếm Việt Nam, người Pháp mới tách Nam Kỳ ra khỏi lãnh thổ Việt Nam, rồi dùng từ ngữ Trung Kỳ để chỉ phần đất ở hai phía bắc và nam của kinh đô Huế. Nam Kỳ được Pháp trực tiếp cai trị như một phần đất của Pháp. Bắc Kỳ và Trung Kỳ được xem là lãnh thổ của nhà Nguyễn chịu sự bảo hộ của Pháp, nhưng từ năm 1897, Pháp lại ép nhà vua Việt Nam phải giao quyền đại diện mình cho một Thống Sứ Pháp thành ra Pháp đã can thiệp vào sự cai trị đất này một cách trực tiếp hơn ở Trung Kỳ. Trong hệ thống tổ chức của Pháp trước Thế Chiến II, ba kỳ của Việt Nam đã được xem như là ba lãnh thổ biệt lập. Sau Thế Chiến II, kế hoạch của Pháp là thành lập một Liên Bang Ðông Dương gồm 5 nước là ba kỳ của Việt Nam, Cam Bu Chia và Lào. Trong 5 nước này, Nam Kỳ là đất mà Pháp tha thiết muốn nắm giữ dưới quyền thống trị của mình hơn hết vì nó đã được họ trực tiếp cai trị từ năm 1867, lại là phần đat thạnh vượng trù phú nhứt. Bởi đó, họ đã nhứt định không chấp nhận một nước Việt Nam thống nhứt gồm cả ba kỳ. Tháng 3 năm 1946, họ đã cho thành lập Nam Kỳ Cộng Hòa Quốc. Thiểu số người Việt Nam theo họ lúc đó đã chống lại quan niệm Việt Nam thống nhứt một cách mạnh mẽ. Các phần tử quá khích trong nhóm này đã xem đồng bào gốc Bắc Việt cư trú ở Nam Việt trong thời kỳ đó là người của một nước địch và thường hành hung đối với các đồng bào ấy. Trong các cuộc bố ráp hay chận đường xét giấy căn cước, họ thường bắt người dân nói ba tiếng “Tân Sơn Nhứt”, người nào không nói đúng giọng Miền Nam thì bị họ đánh đập một cách tàn nhẫn. Sau mấy năm tác chiến ở Ðông Dương, người Pháp ý thức rằng họ không thể áp đặt ở Việt Nam một chế độ thống trị theo khuôn khổ họ đặt ra. Vì cần dùng sự giúp đỡ của Hoa Kỳ để có phương tiện tài chánh đối phó với CSVN, họ phải chấp nhận điều kiện của Hoa Kỳ là nhìn nhận nền độc lập của Việt Nam. Bởi đó, họ đã tiếp xúc và thương thuyết với Cựu Hoàng Bảo Ðại. Tuy nhiên, họ chỉ muốn cho Việt Nam hưởng một nền độc lập hình thức, và thực quyền vẫn còn nằm trong tay họ. Mặt khác họ không chấp nhận sự thống nhứt của Việt Nam và tìm mọi cách giữ riêng Nam Kỳ dưới quyền cai trị trực tiếp của họ. Nhờ được Anh Nguyễn Tôn Hoàn từ Trung Hoa về cho biết về tình thế và nhận chân rằng chỉ có Cựu Hoàng Bảo Ðại mới có thể đại diện cho người quốc gia Việt Nam trong cuộc thương thuyết với Pháp nên Xứ Bộ Nam Việt của Ðại Việt Quốc Dân Ðảng đã phát động phong trào đòi thi hành giải pháp Bảo Ðại với một nước Việt Nam độc lập và thống nhứt. Lúc ấy, người Pháp đã đàn áp phong trào này ở Nam Việt một cách mạnh mẽ. Một số đồng chí của tôi trong đó có Anh Dương Quang Tiếp (sau này phục vụ trong Quân Ðội và trong ngành cảnh sát với cấp bực đại tá và đã từ trần trong trại tù cộng sản) đã bị Pháp bắt và đánh đập tàn nhẫn khi rải truyền đơn đòi thi hành giải pháp Bảo Ðại. Tuy được sự yểm trợ của Hoa Kỳ trong cuộc thương thuyết, Cựu Hoàng Bảo Ðại không nắm được ưu thế hoàn toàn đối với Pháp vì lúc đó, Trung Cộng đã thắng thế hơn Trung Hoa Dân Quốc và CSVN có triển vọng được Trung Cộng giúp đỡ trong tương lai. Người Pháp đã cho Cựu Hoàng Bảo Ðại biết rằng nếu không thỏa thuận được với ông, họ sẽ thương thuyết với Hồ Chí Minh. Nhận thấy thời gian không thuận lợi cho mình, Cựu Hoàng Bảo Ðại đã phải nhượng bộ cho Pháp về mặt độc lập, nghĩa là chấp nhận để cho Việt Nam ở trong Liên Hiệp Pháp với những mối liên hệ chặt chẻ với Pháp, nhưng cương quyết đòi Pháp phải nhận cho Việt Nam thống nhứt. Người Pháp đã phải nhượng bộ ông về vấn đề này. Nhưng ngay đến lúc chánh phủ Pháp chấp nhận cho Nam Kỳ được sáp nhập vào lãnh thổ Việt Nam, đám thực dân ở Nam Việt vẫn chưa chịu thua và nhiệt liệt chống lại việc ay. Vì Nam Kỳ được xem là một lãnh thổ của Pháp mà theo nền pháp lý của Pháp thì mọi quyết định liên hệ đến qui chế của đất này phải có sự chấp thuận của một hội nghị địa phương tên là Hội Ðồng Lãnh Thổ Nam Kỳ (Assemblée Territoriale de Cochinchine), thực dân Pháp đã dự liệu bỏ ra một số tiền lớn để mua chuộc những người Pháp và người Nam Kỳ có quốc tịch Pháp được bầu vào Hội Ðồng đó biểu quyết chống lại việc sáp nhập Nam Kỳ vào lãnh thổ Việt Nam. Chúng tôi đã biết được kế hoạch này và đã nhiệt liệt chỉ trích nó trên hai tờ báo Ðuốc Việt (cơ quan ngôn luận bán chánh thức của Xứ Bộ Nam Việt Ðại Việt Quốc Dân Ðảng) và Thanh Niên (cơ quan ngôn luận chánh thức của một tổ chức do Xứ Bộ này thành lập là Thanh Niên Bảo Quốc Ðoàn). Sự tố cáo của chúng tôi làm cho người Pháp rất căm tức. Tướng Boyer de la Tour du Moulin, Ủy Viên Cộng Hòa Pháp ở Nam Kỳ lúc đó đã mời một đồng chí của tôi là Anh Ðỗ Văn Năng, Thủ Lãnh Thanh Niên Bảo Quốc Ðoàn, đến gặp ông và bảo rằng: “Xin ông nhớ cho rằng tôi là người Pháp có nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi của nước Pháp. Các hoạt động của đoàn thể ông có hại cho quyền lợi này. Các ông phải chấm dứt nó hay ít nhứt cũng giảm thiểu nó, nếu không, tôi buộc lòng phải đối phó một cách quyết liệt. Tôi sẽ rất tiếc nếu phải làm như vậy, vì tôi lúc nào cũng tôn trọng ông là người mà tôi nhìn nhận là rất đứng đắn”. Anh Ðỗ Văn Năng đã điềm tĩnh trả lời: “Tôi rất cám ơn ông đã tỏ ra thành thật với tôi, và tôi thấy có nhiệm vụ cũng phải thành thật đối với ông. Xin ông hiểu giùm cho rằng ông yêu nước Pháp như thế nào thì tôi yêu nước Việt Nam như thế ấy và ông có quyết tâm bảo vệ quyền lợi Pháp như thế nào thì tôi cũng có quyết tâm bảo vệ quyền lợi nước Việt Nam như thế ấy”. Sau đó, chúng tôi vẫn tiếp tục chiến dịch tố cáo các âm mưu của thực dân Pháp ở Nam Việt tìm cách phá hoại các giao ước giữa chánh phủ Pháp với Cựu Hoàng Bảo Ðại về vấn đề thống nhứt Việt Nam. Mặt khác, Cựu Hoàng Bảo Ðại lúc ấy còn ở Âu Châu đã cho biết rằng ông chỉ chịu về nước lãnh đạo chánh phủ nếu việc tái nhập Nam Kỳ vào lãnh thổ Việt Nam được xác định một cách rõ rệt. Cuối cùng, các hội viên của Hội Ðồng Lãnh Thổ Nam Kỳ đã không dám chống hẳn lại việc thống nhứt Việt Nam. Họ chỉ ghi thêm trong quyết nghị biểu quyết ngày 23 tháng 4 năm 1949 chấp nhận để Nam Kỳ được sáp nhập vào lãnh thổ Việt Nam một điều kiện là nếu có sự thay đổi trong mối liên hệ giữa Việt Nam với Liên Hiệp Pháp thì Nam Kỳ sẽ lại được quyền tự quyết định về số phận mình. Ðám thực dân Pháp ở Nam Kỳ rất thù hận chúng tôi về việc đã chống lại họ một cách mãnh liệt về vấn đề thống nhứt Việt Nam. Do đó, họ ngầm thông đồng với bọn công tác thành của CSVN và để cho một cán bộ trong bọn công tác này là La Văn Liếm hạ sát Anh Ðỗ Văn Năng ở Sài Gòn vào những tháng đầu năm 1950. Ngoài anh ra, chắc hẳn còn có nhiều người Việt Nam khác thuộc các tổ chức ái quốc đã bị Pháp sát hại vì cuộc tranh đấu cho Việt Nam thống nhứt. Vậy, đồng bào gốc Bắc Việt vào cư trú Nam Việt trước 1945 và người Nam Việt chủ trương thống nhứt đã phải tranh đấu rất gay go, có người phải thiệt mạng vì chủ trương này. Bởi đó, sọc đỏ thứ ba trên quốc kỳ tượng trưng cho Nam Việt thật sự đã được tô bằng máu của nhiều nhà ái quốc và điều này làm cho cờ vàng ba sọc đỏ có một ý nghĩa chánh trị sâu xa mà nhiều người Việt Nam hiện nay không thấy được. Một quyết định khác của Quốc Trưởng Bảo Ðại khi ông mới về nước năm 1949 cũng có một ý nghĩa chánh trị ít ai được biết là việc chọn Sài Gòn làm thủ đô. Vì là người kế thừa nhà Nguyễn nên Quốc Trưởng Bảo Ðại rất muốn đặt chánh phủ thống nhứt của Việt Nam ở Huế là kinh đô cổ truyền của triều đại mình. Nhưng lúc ấy, nhà cách mạng lão thành Trần Văn Ân đã bàn với ông là nếu ông lấy Huế làm thủ đô, việc sáp nhập Nam Kỳ vào lãnh thổ Việt Nam không được thể hiện rõ rệt đối với người Việt Nam và người ngoại quốc và nền thống nhứt thâu hoạch được một cách gay go sẽ không vững chắc. Ðặt thủ đô ở Sài Gòn để cho mọi chánh lịnh ban hành trong toàn quốc Việt Nam phát xuất từ Nam Việt thì tánh cách thống nhứt của nước Việt Nam từ mũi Cà Mau đến ải Nam Quan hiển hiện trước mắt và trong tâm thức mọi người thành ra không ai còn hoài nghi hay phủ nhận sự thống nhứt đó được nữa. Quốc Trưởng Bảo Ðại tán thành ý kiến trên đây của Ông Trần Văn Ân và quyết định lập chánh phủ thống nhứt ở Sài Gòn, mặc dầu ông không thích ở Sài Gòn vì chánh quyền Pháp lúc đó chịu giao Phủ Cao Ủy ở Hà Nội cho ông mà lại giữ Phủ Cao Ủy ở Sài Gòn là Dinh Norodom (sau này gọi lại là Dinh Ðộc Lập) thành ra tại Sài Gòn, Phủ Thủ Tướng của Việt Nam kém bề thế hơn Phủ Cao Ủy của Pháp.
2/ Ý nghĩa triết lý Về mặt triết lý, trong bát quái, ba vạch liền là quẻ Càn, tượng trưng cho trời, cho vua, cho cha và cho quyền lực. Ngày nay, chúng ta sống trong chế độ dân chủ và quẻ Càn trên quốc kỳ có thể dùng để tượng trưng cho quốc gia và dân tộc Việt Nam và sức mạnh của toàn dân ta.

3. Cờ vàng ba sọc đỏ và cờ đỏ sao vàng

a. So sánh cờ vàng ba sọc đỏ và cờ đỏ sao vàng về mặt thẩm mỹ

Nói chung thì trên một lá cờ gồm hai màu, một đậm, một lợt thì nếu màu đậm quá nhiều và làm nền còn màu lợt quá ít và làm dấu hiệu phụ thuộc thì màu lợt bị màu đậm tràn ngập và lá cờ trở thành tối. Trái lại, nếu màu lợt nhiều hơn và làm nền còn màu đậm ít hơn và làm dấu hiệu phụ thuộc thì màu đậm in rõ lên nền màu lợt và cả hai màu đều sáng chói. Quốc kỳ của tập đoàn CSVN gồm một ngôi sao vàng nhỏ trên nền đỏ, màu vàng của ngôi sao bị nền đỏ sậm hơn tràn ngập nên chỉ hiện lean như một tia sáng yếu ớt và cả lá cờ xem rất tối. Quốc kỳ của người quốc gia chúng ta trái lại, dùng màu vàng làm nền và ba sọc đỏ sậm hơn đã hiện rõ lên nền vàng này thành ra cả hai màu đều tươi sáng. Vậy, chỉ xét riêng về mặt thẩm mỹ, quốc kỳ của chúng ta tươi đẹp hơn quốc kỳ của tập đoàn CSVN rất nhiều. Ðiều đó cũng không có chi lạ. Quốc kỳ của chúng ta do một họa sĩ nổi tiếng vẽ ra, còn cờ của tập đoàn CSVN chỉ là sự mô phỏng nô lệ cờ một đế quốc có chủ trương sắt máu và không có ý thức gì về cái đẹp.

b. So sánh cờ vàng ba sọc đỏ với cờ đỏ sao vàng về mặt triết lý

Nếu lấy nền triết lý cổ truyền của dân tộc Việt Nam làm căn bản để phán đoán thì cờ vàng ba sọc đỏ của chúng ta cũng có một ý nghĩa tốt đẹp hơn cờ đỏ sao vàng nhiều. Theo quan niệm cổ của dân tộc Việt Nam, màu vàng thuộc hành thổ và màu đỏ thuộc hành hỏa và vì hỏa sanh thổ nên hai màu này rất hợp với nhau. Nhưng trên cờ đỏ sao vàng, màu đỏ quá nhiều, màu vàng quá ít, cũng như khối lửa lớn hay một ánh nắng gay gắt nung đốt một hòn đất nhỏ thành ra hòn đất bị khô cằn đi. Trong khi đó, trên cờ vàng ba sọc đỏ, ba sọc đỏ nhỏ như những tia nắng rọi xuống một mặt đất rộng rãi làm cho mặt đất này ấm áp và có điều kiện thuận lợi cho cây cỏ mọc lên được. Ý nghĩa về triết lý trên đây thật ra cũng phù hợp với bản chất của chế độ chánh trị hai bên. Chế độ cộng sản là một chế độ độc tài toàn diện đè ép nhơn dân, phủ nhận các quyền lợi căn bản của con người, làm thui chột các sáng kiến nên không thể phát triển được. Dưới quyền của tập đoàn CSVN, nước Việt Nam đã trở thành một mảnh đất cằn cỗi không sinh khí và xã hội Việt Nam lọt vào sự đói khổ cùng cực. Chế độ quốc gia dung nạp sự tự do, tôn trọng các quyền lợi căn bản của con người và khuyến khích sáng kiến nên mặc dầu các nhà lãnh đạo về phía quốc gia đã phạm nhiều lỗi lầm trầm trọng, mặc dầu CSVN đã gây nhiều tàn sát và phá hoại, phần lãnh thổ Việt Nam do người quốc gia điều khiển đã là một mảnh đất đầy sinh khí và nhơn dân Việt Nam trên lãnh thổ này đã hưởng một nếp sống tương đối tự do và trù phú hơn.

D. VẤN ÐỀ THAY ÐỔI QUỐC KỲ

1. Các lập luận đưa ra để phủ nhận cờ vàng ba sọc đỏ
Sau năm 1975, trong cộng đồng Việt Nam hải ngoại có một số người chủ trương phủ nhận lá cờ vàng ba sọc đỏ. Trong số những người này, có kẻ bảo rằng đó là cờ thua trận, có kẻ bảo rằng đó là một lá cờ của một chế độ tham nhũng thúi nát, có kẻ cho rằng đó là cờ của Bảo Ðại, cờ của Ông Ngô Ðình Diệm hay cờ của Ông Nguyễn Văn Thiệu là những người lãnh đạo mà họ cho là không xứng đáng.

2. Quan niệm chung của người các nơi trên thế giới về quốc kỳ
Thật sự thì quốc kỳ một nước thường có ý nghĩa sâu xa liên hệ đến văn hóa và lịch sử dân tộc. Dầu cho nó do ai chọn lựa và chọn lựa như thế nào thì một khi đã được dùng làm quốc kỳ, nó cũng không còn có thể được xem là của cá nhơn nào mà phải được xem là của toàn thể nhơn dân trong nước. Bởi đó, số phận quốc kỳ không thể cột buộc vào số phận một nhà lãnh đạo, vào những ưu khuyết điểm của một chế độ hay vào sự thắng bại trong một cuộc tranh đấu. Trong lịch sử thế giới, không ai chủ trương phủ nhận quốc kỳ của mình hay thay đổi nó vì các lý do trên. Việc thay đổi quốc kỳ chỉ được đặt ra khi trong nước có những quan niệm chánh trị mới hoàn toàn khác quan niệm làm căn bản cho chế độ quốc gia. Như chúng tôi đã nói trên đây, lá quốc kỳ đầu tiên được dùng trên thế giới là cờ tam sắc của Pháp. Nó là kết quả một sự tương nhượng giữa hoàng gia Pháp và nhơn dân thị xã Paris. Sau đó, nhà vua Louis thứ XVI của Pháp đã chống lại Cách Mạng và bị xử tử, nhưng chánh phủ cách mạng Pháp vẫn chánh thức lấy lá cờ tam sắc làm quốc kỳ. Lúc dòng vua chánh thống của Pháp được đưa lên ngôi báu trở lại, họ đã dùng lá cờ trắng có hoa huệ vàng của hoàng gia làm quốc kỳ, nhưng cờ này chỉ được dùng từ năm 1816 đến năm 1830. Với cuộc Cách Mạng 1830, dòng Orléans được đưa lên thay dòng vua chánh thống và cờ tam sắc đã được dùng làm quốc kỳ trở lại. Năm 1848, dòng Orléans lại bị lật đổ. Một số nhà cách mạng tả khuynh thời đó đã chủ trương dùng cờ đỏ thay cờ tam sắc làm quốc kỳ, nhưng sau một bài diễn văn cảm động của thi hào Lamartine, người Pháp đã quyết định giữ cờ tam sắc. Lúc ấy, người Pháp lập Ðệ Nhị Cộng Hòa. Nhưng người đầu tiên được bầu làm Tổng Thống của nền cộng hòa này lại là cháu của Hoàng Ðế Napoléon thứ I. Năm 1850, ông đảo chánh để lên ngôi hoàng đế với danh hiệu Napoléon thứ III. Ðến năm 1870, vì gây chiến với Ðức và bị thảm bại nên ông phải thoái vị. Quốc Hội Pháp được bầu vào lúc đó gồm nhiều người bảo hoàng muốn tái lập chế độ quân chủ và tôn làm quốc vương Bá Tước Chambord, người lãnh đạo dòng vua chánh thống từ năm 1836. Nhưng Bá Tước Chambord đòi hỏi phải bỏ cờ tam sắc để lấy cờ trắng thêu hoa huệ vàng làm quốc kỳ. Những người bảo hoàng nhiệt tâm nhứt đều biết rằng quốc dân Pháp lúc đó không chấp nhận cờ trắng thêu hoa huệ vàng thay cờ tam sắc nên cố thuyết phục Bá Tước Chambord bỏ ý định của ông. Thống Chế Mac Mahon là một lãnh tụ bảo hoàng đã bảo rằng: “Nếu dùng lá cờ trắng thay lá cờ tam sắc thì không cần ai bấm cò, súng cũng tự nổ”. Vì Bá Tước Chambord vẫn khăng khăng phủ nhận lá cờ tam sắc nên cuối cùng phe bảo hoàng phải từ bỏ chủ trương tái lập chế độ quân chủ. Thời Thế Chiến II, Thống Chế Pétain đã chịu đầu hàng người Ðức trong khi Tướng De Gaulle chạy sang Anh kêu gọi người Pháp kháng chiến. Lúc ấy, có hai lực lượng Pháp đối đầu nhau và cả hai đều dùng lá cờ tam sắc. Ðể phân biệt hai bên, Tướng De Gaulle chỉ dùng một cây thánh giá Lorraine gồm hai nhánh ngang và một nhánh dọc đặt trên cờ để làm hiệu kỳ cho Lực Lượng Pháp Quốc Tự Do (LLPQTD) của ông. Ðến khi giải phóng được nước Pháp, ông đã không vì cớ cờ tam sắc đã bị Thống Chế Pétain dùng trong khi đầu hàng Ðức để xin thay đổi nó. Do đó, cờ tam sắc vẫn là quốc kỳ của Pháp và lá cờ có dấu thập tự Lorraine chỉ được xem là hiệu kỳ của LLPQTD. Nói chung lại thì từ năm 1789, ở Pháp có ba quan niệm chánh trị căn bản thể hiện bằng ba lá cờ: quan niệm quân chủ chánh thống với cờ trắng thêu hoa huệ vàng, quan niệm cách mạng tả phái với cờ đỏ và quan niệm dân chủ tự do với cờ tam sắc. Cờ tam sắc biểu tượng được lý tưởng chung của đa số dân Pháp nên đã được chọn làm quốc kỳ và các mưu toan thay đổi nó đều không thành tựu được.

3. Nhiệm vụ người quốc gia Việt Nam đối với quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ
Người quốc gia Việt Nam ta may mắn có một lá quốc kỳ rất đẹp và oai hùng. Phải thấy cờ này bay phấp phới trên một nền trời trong xanh mới thấy hết cái đẹp oai hùng đó. Mặt khác, cờ vàng ba sọc đỏ mang nhiều ý nghĩa triết lý và chánh trị tuyệt hảo, hơn hẳn lá cờ đỏ sao vàng chống đối lại nó. Từ khi Quốc Gia Việt Nam được công nhận là một nước độc lập, cờ vàng ba sọc đỏ đã được nhiều quốc gia trên thế giới biết. Tại Việt Nam, nó đã là biểu tượng hội tập nhiều triệu chiến sĩ quân nhơn cũng như dân sự tranh đấu cho sự tự do của dân tộc Việt Nam. Nó đã được dùng để phủ lên áo quan của nhiều trăm ngàn người đã chết vì Tổ Quốc Việt Nam. Như vậy, nó là một bảo vật thiêng liêng đối với mọi người chúng ta. Hiện nay, quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ không còn được chánh thức dùng bên trong nước Việt Nam, nhưng mọi người Việt Nam ở quốc nội đều biết rằng nó là lá cờ tượng trưng cho nền độc lập và tự do của Tổ Quốc, chống lại chế độ cộng sản tàn ác, phi nhơn và nô lệ ngoại bang. Bên ngoài Việt Nam, nó cũng được người ngoại quốc xem là biểu tượng của phía người Việt Nam chống lại Cộng Sản. Không biểu tượng nào khác có thể thay thế cờ vàng ba sọc đỏ về các mặt này. Vậy, việc tỏ lòng tôn trọng quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ và dùng nó một cách rộng rãi ở nơi nào có người quốc gia Việt Nam là một công cuộc đóng góp lớn vào việc giải phóng đất nước khỏi ách Cộng Sản. Việc một hội đoàn Việt Nam dùng làm hiệu kỳ một lá cờ nền vàng ba sọc đỏ trên có biểu tượng riêng cho mình là một điều hữu ích cho công cuộc tranh đấu chống lại Cộng Sản. Khi Liên Minh Dân Chủ Việt Nam (LMDCVN) áp dụng nguyên tắc trên đây và thêm 5 ngôi sao 5 nhánh màu xanh trên cờ vàng ba sọc đỏ để làm đoàn kỳ của mình, một số người đã chỉ trích vì cho rằng như vậy là bất kính đối với quốc kỳ. Nhưng sự thật không phải như vậy. Việc dùng một biểu hiệu thêm vào quốc kỳ để làm hiệu kỳ cho một tổ chức tranh đấu cho Tổ Quốc là một điều mà người các nước đã từng làm. Như trên đây đã nói, khi thành lập LLPQTD để chống lại chánh phủ Pétain, Tướng De Gaulle đã dùng một cây thập tự Lorraine thêm vào quốc kỳ Pháp. Vậy, việc đoàn kỳ của LMDCVN là một quốc kỳ trên có 5 ngôi sao 5 nhánh màu xanh chỉ hàm ý rằng LMDCVN là một tổ chức của VNCH tranh đấu dưới lá quốc kỳ Việt Nam, và 5 ngôi sao 5 nhánh màu xanh chỉ để phân biệt nó với những tổ chức tranh đấu khác nhưng cùng một mục tiêu chung. Trong khi chưa giải phóng được Việt Nam và chưa làm cho nó được chánh thức dùng trở lại trên toàn cõi Việt Nam, nhiệm vụ người Việt Nam ở hải ngoại là làm cho cờ này vẫn được sử dụng ở mọi nơi có người quốc gia Việt Nam, đặc biệt là trong những hoạt động có liên hệ đến người ngoại quốc. Về mặt này, chúng ta phải ghi công cố Ðại Tá Ðỗ Ðăng Công, nguyên Tổng Thư Ký của Phân Bộ Việt Nam trong Liên Minh Thế Giới Chống Cộng (LMTGCC). Sau năm 1975, lúc CSVN vừa chiếm được Miền Nam Việt Nam, ban tổ chức của liên minh này đã không còn dùng cờ vàng ba sọc đỏ trong các phiên họp của họ. Nhưng bằng những lời lẽ hợp lý, cương quyết và cảm động, cố Ðại Tá Ðỗ Ðăng Công đã làm cho họ thay đổi ý kiến và từ đó, quốc kỳ của chúng ta đã được long trọng dùng chung với cờ của các nước hội viên khác của LMTGCC ở mọi nơi. Ngoài ra, còn có những người khác cũng có những công tác tương tự. Khi đến thuyết trình về vấn đề Việt Nam ở Viện Ðại Học OSU (Oregon State University) tại Cornvallis ngày 30 tháng 11 năm 1987, tôi được biết rằng các anh chị em sinh viên Việt Nam ở Viện Ðại Học này đã hai lần tranh đấu với ban giám đốc để cho cờ vàng ba sọc đỏ vẫn được treo với tư cách là quốc kỳ Việt Nam ở một hội trường trưng bày cờ các nước. Phía Canada thì Cộng Ðồng Việt Nam đã tranh đấu để cho thị xã Toronto chấp nhận để cho quốc kỳ Việt Nam được treo lên một tuần lễ mỗi năm tại kỳ đài của thị xã vào dịp 30 tháng 4. Tại Los Angelès (California) thì Cộng Ðồng Việt Nam đã được chấp nhận cho xây dựng một kỳ đài để quốc kỳ Việt Nam sẽ được treo liên tục suốt năm. Tại San Jose (California), Cộng Ðồng Việt Nam cũng sẽ xây dựng một kỳ đài tương tự*. Ngoài ra, trong dịp Tết Mậu Thìn, quốc kỳ Việt Nam đã được treo trong suốt một tuần lễ ở trụ sở các tỉnh Santa Clara, thị xã San José và thị xã Milpitas. Có lẽ trên thế giới còn có những nơi mà đồng bào Việt Nam đã tranh đấu và thành công trong việc làm cho quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ được cộng đồng quốc tế chấp nhận treo lên mà chúng tôi không được biết nên không nêu ra đây được. Riêng Ủy Ban Quốc Tế Yểm Trợ Việt Nam Tự Do (UBQTYTVNTD) thì dĩ nhiên là chánh thức công nhận quốc kỳ này. Ngày 4 tháng 12 năm 1986, khi tổ chức buổi hội thảo công khai đầu tiên của Ủy Ban, Ông Chủ Tịch Paul Vankerkhoven đã đích thân kiểm soát việc trang trí phòng hội thảo. Tại phòng này, quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ đã được treo chung với cờ các quốc gia trong Cộng Ðồng Âu Châu và đặc biệt là được treo ở chỗ danh dự là ngay bên hữu cờ Bỉ là cờ của nước chủ nhà. Chắc chắn là trong mọi cuộc hội họp công cộng của UBQTYTVNTD mà có treo cờ thì quốc kỳ của chúng ta sẽ được treo chung với cờ các nước khác. Việc quốc kỳ của chúng ta lần lần tái hiện bên cạnh cờ các quốc gia khác trên thế giới là một dấu hiệu cho thấy rằng công cuộc tranh đấu để giải phóng Việt Nam khỏi ách Cộng Sản có những tiến triển khả quan. Hiện nay, quốc kỳ này là biểu hiệu hội tập mọi người quốc gia Việt Nam: dầu có bất đồng ý kiến, dầu có những hiềm khích đối với nhau, mọi người quốc gia đều nên tôn trọng quốc kỳ và nếu mọi người đều quyết tâm tranh đấu chung nhau hay ít nhứt cũng song song nhau thì một ngày không xa lắm, quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ sẽ phấp phới bay trên mọi nóc nhà Việt Nam từ mũi Cà Mau cho đến ải Nam Quan.

II. QUỐC CA VIỆT NAM

A. SỰ XUẤT HIỆN CỦA Ý NIỆM QUỐC CA TRONG LỊCH SỬ NHƠN LOẠI

Ý niệm quốc ca đã từng xuất hiện một lượt với ý niệm quốc kỳ. Từ ngàn xưa, loài người đã có dùng những bản nhạc hay bài ca để đánh dấu sự có mặt của một nhơn vật lãnh đạo. Nhưng thời trước, với chế độ quân chủ, các bản nhạc hay bài hát loại này được xem là biểu tượng riêng của cá nhơn nhà vua, nhá quí tộc hoặc nhà đại diện cho các cự tộc cầm đầu cộng đồng. Về nội dung, nó có thể là một bài để cho nhơn vật lãnh đạo này cầu nguyện trời hay thần linh phù hộ ông, một bài chúc tụng ông, đề cao công nghiệp của ông hay của gia tộc ông, hay một bài mô tả cảnh thái bình thạnh trị, hoặc sự cường thạnh của cộng đồng mà ông là chủ nhơn. Chỉ với cuộc Cách Mạng Pháp năm 1789, khi quốc gia được xem là sở hữu của toàn thể mọi người sống trong cộng đồng mới có bài hát được dùng làm biểu tượng chung cho toàn thể quốc dân. Người Pháp đã dùng từ ngữ hymne national để chỉ loại bài hát này. Quan niệm của người Pháp lần lần được người nước khác chấp nhận và người thuộc các dân tộc nói tiếng Anh đã dùng từ ngữ national anthem khi nói đến bài hát tiêu biểu cho nước mình. Hymne national của Pháp hay national anthem theo tiếng Anh đã được người Việt Nam chúng ta dịch là quốc thiều nếu nhấn mạnh trên phần âm nhạc, hay quốc ca khi nhấn mạnh trên phần lời nói. Về phần thực hiện cụ thể thì bản quốc ca đầu tiên trên thế giới là bài Marseillaise của Pháp. Bài này do một đại úy công binh Pháp tên Rouget de Lisle làm năm 1792 với tên là Chiến Ca Của Lộ Quân Sông Rhin (Chant De Guerre Pour l’Armée Du Rhin). Nhưng sau đó, nó được nổi tiếng khi được một tiểu đoàn chí nguyện quân gồm người gốc ở thị xã Marseille hát trong lúc kéo từ Marseille lên thủ đô Paris nên có tục danh là bài Marseillaise. Bài hát này đã được phổ biến rộng rãi ở Pháp từ năm 1792 và đến năm 1795, nó đã được chánh thức chọn làm quốc ca của Pháp. Sau khi người Pháp tung ra ý niệm quốc ca, nhiều nước khác đã chấp nhận ý niệm này và đều có quốc ca. Có khi quốc ca được chọn là một bài đã được dùng để đánh dấu sự hiện diện của nhà vua. Ðó là trường hợp bài God Save The King (Trời Phù Hộ Ðức Vua) hay God Save The Queen (Trời Phù Hộ Nữ Hoàng) nếu quốc trưởng là một nữ hoàng. Bài này đã được dùng ở Anh từ trước Cách Mạng Pháp, nhưng đến năm 1825 mới được chánh thức xem là quốc ca của nước Anh.

B. CÁC BẢN NHẠC ÐÃ XUẤT HIỆN Ở VIỆT NAM VỚI TƯ CÁCH LÀ QUỐC THIỀU VÀ QUỐC CA

1. Quốc ca xuất hiện đầu tiên: bản Ðăng Ðàn Cung của Hoàng Ðế Bảo Ðại Ở Việt Nam trước đây, cũng như ở các nước quân chủ cổ thời khác, có những bản nhạc và bài hát được dùng trong các lễ long trọng để đánh dấu sự hiện diện của nhà vua. Về ý niệm quốc thều hay quốc ca, nó chỉ xuất hiện ở nước ta khi dân tộc ta bị lọt vào ách thực dân Pháp. Tuy nhiên, trong gần suốt thời kỳ Pháp thuộc, dân Việt Nam vẫn chưa có quốc thiều và quốc ca. Nam Kỳ lúc ấy là thuộc địa Pháp và khi có các cuộc lễ lớn thì bản nhạc được dùng là bài Marseillaise của người Pháp. Ở Huế thì triều đình nhà Nguyễn có một số bản nhạc được dùng khi có sự hiện diện của nhà vua. Nhưng các bản nhạc trên đây không phải là quốc thiều hay quốc ca theo đúng nghĩa kim thời của nó. Ðến thời Thế Chiến II, Hoàng Ðế Bảo Ðại mới ấn định quốc thiều và quốc ca một lượt với quốc kỳ. Bản quốc thiều và quốc ca này là bản Ðăng Ðàn Cung. Ðó là một bản nhạc cổ điển của Việt Nam và được triều đình Huế dùng khi nhà vua ngự đến đài Nam Giao để đại diện cho tất cả thần dân làm lễ tế trời. Lễ này ba năm cử hành một lần và được xem là cuộc lễ quan trọng hơn hết của triều đình. Do đó, bản Ðăng Ðàn Cung được xem là bản nhạc trang nghiêm nhứt. Vì vậy, Hoàng Ðế Bảo Ðại đã dùng nó làm quốc thiều và quốc ca trong khi cờ long tinh được chọn làm quốc kỳ. Cũng như cờ long tinh, bản Ðăng Ðàn Cung chỉ được dùng trên lãnh thổ Ðại Nam tức là Trung Kỳ và Bắc Kỳ, còn ở Nam Kỳ bị xem là lãnh thổ Pháp thì bản Marseillaise vẫn phải được dùng.

2. Quốc ca thứ nhì: bản Việt Nam Minh Châu Trời Ðông thời chánh phủ Trần Trọng Kim Sau khi Nhựt đảo chánh Pháp và Việt Nam tuyên bố độc lập, chánh phủ Trần Trọng Kim đã ban bố một chương trình hưng quốc ngày 8 tháng 5 năm 1945, trong đó bản Việt Nam Minh Châu Troi Ðông của nhạc sĩ Hùng Lân được chọn làm quốc ca. Lời ca của bản nhạc này như sau:

Việt Nam, minh châu trời Ðông!
Việt Nam, nước thiêng Tiên Rồng!
Non sông như gấm hoa uy linh một phương,
Xây vinh quang ngất cao bên Thái Bình Dương.
Từ ngàn xưa tài danh lừng lẫy khắp nơi.
Tiếng anh hùng tạc ghi núi sông muôn đời.
Máu ai còn vương cỏ hoa
Giục đem tấm thân xẻ với sơn hà.
Giơ tay cương quyết, Ta ôn lời thề ước.
Hy sinh tâm huyết, Ta báo đền ơn nước.
Dầu thân này nát tan tành gói da ngựa cũng cam,
Thề trọn niềm trung thành với sơn hà nước Nam.

Bản quốc ca này được dùng chung với cờ quẻ Ly ở Bắc và Trung Việt, nhưng không được dùng ở Nam Việt vì Nam Việt đã bị người Nhựt thay người Pháp điều khiển một cách trực tiếp và chỉ được trả cho triều đình Huế lúc Hoàng Ðế Bảo Ðại đã sắp thoái vị rồi. Vậy, trong thời kỳ từ khi người Nhựt đảo chánh Pháp cho đến khi Mặt Trận Việt Minh củng cố được chánh quyền của nó ở Nam Việt, cả lãnh thổ này không có quốc ca. Bài hát được người quốc gia ở Nam Việt dùng khi đứng lên tranh đấu cho nền độc lập của Việt Nam thời đó là bài Thanh Niên Hành Khúc hay Tiếng Gọi Thanh Niên của Thanh Niên Tiền Phong, chung với cờ vàng sao đỏ cũng của tổ chức này. Như chúng tôi sẽ trình bày sau đây, bản nhạc của bài Thanh Niên Hành Khúc hay Tiếng Gọi Thanh Niên này chính là bản nhạc của bài quốc ca mà chúng ta đang dùng.

3. Quốc ca thứ ba: bản Tiến Quân Ca của tập đoàn CSVN Khi cướp được chánh quyền, tập đoàn CSVN đã dùng làm quốc ca bản Tiến Quân Ca của nhạc sĩ Văn Cao. Bản nhạc này đã được họ bắt đầu dùng khi tổ chức các đơn vị võ trang đầu tiên và cho đến nay, vẫn được họ dùng làm quốc ca.

4. Quốc ca của Nam Kỳ Cộng Hòa Quốc
Khi Nam Kỳ Cộng Hòa Quốc thành lập năm 1946, những người cầm đầu phong trào Nam Kỳ Tự Trị đã dùng làm quốc ca một bản phổ nhạc của mấy câu thơ đầu trong Chinh Phụ Ngâm Khúc mà tác giả là Giáo Sư Võ Văn Lúa, một giáo sư trung học thời Pháp thuộc. Sau đó, Nam Kỳ Cộng Hòa Quốc lại dùng một bản nhạc khác cũng của vị giáo sư này làm quốc ca, nhưng về nhạc và lời, bản sau này cũng chẳng hơn gì bản trước. Các bản quốc ca quái đản trên đây thật xứng với lá cờ sốt rét dùng làm quốc kỳ cho Nam Kỳ Cộng Hòa Quốc. Nó đã là một đề tài chế giễu của ngưoi dân Nam Việt lúc đó và ngày nay nhắc lại nó, chúng tôi không biết nên cười hay nên khóc vì tuy hết sức lố bịch, nó đã được dùng làm biểu tượng cho một tổ chức chống lại nền thống nhứt của Việt Nam và đã gây nhiều đau khổ chết chóc cho những người tranh đấu cho nền thống nhứt này.

5. Quốc ca của chúng ta ngày nay Bản quốc ca của chúng ta hiện nay có một lịch sử đặc biệt. Người sáng tác bản nhạc là Lưu Hữu Phước, một cựu học sinh trường trung học Pétrus Ký và cựu sinh viên Viện Ðại Học Hà Nội. Nếu tôi không lầm thì bản nhạc này đã được soạn ra lúc Lưu Hữu Phước còn học ở trường Pétrus Ký. Năm 1942, anh ta là sinh viên của Viện Ðại Học Hà Nội. Thời Thế Chiến II, Viện Ðại Học này là Viện Ðại Học duy nhứt của các nước Ðông Dương. Nó có khoảng 800 sinh viên trong đó phân nửa là người Việt Nam, còn lại là người Khmer, người Lào, người Pháp và ngay cả người một số nước láng giềng như Trung Quốc và các nước Ðông Nam Á Châu. Vì là Viện Ðại Học duy nhứt của Ðông Dương nên Viện Ðại Học Hà Nội đã họp tập tất cả sinh viên Việt Nam thời đó. Các sinh viên ái quốc gia nhập các chánh đảng cách mạng tranh đấu cho nền độc lập của Việt Nam đã tổ chức những tổ bí mật tại đó. Ðặc biệt Ðại Việt Quốc Dân Ðảng có đảng trưởng Trương Tử Anh và một cán bộ nồng cốt là Anh Nguyễn Tôn Hoàn học tại Viện Ðại Học Hà Nội thời Thế Chiến II. Anh Nguyễn Tôn Hoàn là người giỏi về nhạc nên được bầu làm Trưởng Ban Âm Nhạc của Tổng Hội Sinh Viên Ðông Dương (Association Générale des Étudiants Indochinois) và anh đã lãnh nhiệm vụ bí mật hướng dẫn các sinh viên hoạt động về văn hóa theo chiều hướng tranh đấu chống thực dân. Chiều ngày 15 tháng 3 năm 1942, Tổng Hội Sinh Viên Ðông Dương (THSVÐD) đã tổ chức tại Ðại Giảng Ðường của Viện Ðại Học Hà Nội một buổi hát để lấy tiền giúp các bịnh nhơn nghèo của các bịnh viện được dùng làm nơi thực tập cho các sinh viên Khoa Y Dược. Các sinh viên Việt Nam đóng vai tuồng chủ động trong Tổng Hội đã quyết định nhơn cơ hội này tung ra một bản nhạc đặc biệt là Sinh Viên Hành Khúc, tên Pháp là Marche des Étudiants. Anh Nguyễn Tôn Hoàn được ủy nhiệm chọn bản nhạc dùng vào công việc đó. Lúc ấy, Lưu Hữu Phước đã đưa cho anh một số bài nhạc do anh ta soạn. Anh Nguyễn Tôn Hoàn nhận thấy rằng trong tất cả các dự thảo của Lưu Hữu Phước, bản nhạc mà chúng ta hiện dùng làm quốc thiều có tánh cách khích động tinh thần tranh đau hơn hết nên đã chọn nó làm nhạc cho Sinh Viên Hành Khúc. Sau đó, một ủy ban soạn lời ca cho bản nhạc này đã được thành lập với Ðặng Ngọc Tốt, Mai Văn Bộ, Huỳnh Văn Tiểng, Phan Thanh Hòa, Hoàng Xuân Nhị. Lời ca này gồm ba đoạn với một điệp khúc chung:

I. Này sinh viên ơi! Ðứng lên đáp lời sông núi!

Ðồng lòng cùng đi, đi, mở đường khai lối.

Vì non sông nước xưa, truyền muôn năm chớ quên,

Nào anh em Bắc Nam! Cùng nhau ta kết đoàn!

Hồn thanh xuân như gương trong sáng,

Ðừng tiếc máu nóng, tài xin ráng!

Thời khó, thế khó, khó làm yếu ta,

Dầu muôn chông gai vững lòng chi sá.

Ðường mới kíp phóng mắt nhìn xa bốn phương,

Tung cánh hồn thiếu niên ai đó can trường.

(Ðiệp khúc) Sinh viên ơi! Ta quyết đi đến cùng!

Sinh viên ơi! Ta thề đem hết lòng!

Tiến lên đồng tiến! Vẻ vang đời sống! Chớ quên rằng ta là giống Lạc Hồng!

II. Này sinh viên ơi! Dấu xưa vết còn chưa xoá!

Hùng cường trời Nam, ghi trên bảng vàng bia đá!

Lùa quân Chiêm nát tan, thành công Nam tiến luôn,

Bình bao phen Tống Nguyên, từng ca câu khải hoàn.

Hồ Tây tranh phong oai son phấn, Lừng tiếng Sát Thát Trần Quốc Tuấn.

Mài kiếm cứu nước nhớ người núi Lam,

Trừ Thanh, Quang Trung giết hằng bao đám.

Nòi giống có khí phách từ xưa chớ quên,

Mong đến ngày vẻ vang, ta thắp hương nguyền.

(Trở lại điệp khúc)

III. Này sinh viên ơi! Muốn đi đến ngày tươi sáng,

Hành trình còn xa, chúng ta phải cùng nhau gắng!

Ngày xưa ai biết đem tài cao cho núi sông,

Ngày nay ta cũng đem lòng son cho giống dòng.

Là sinh viên vun cây văn hoá, Từ trước sẵn có nhiều hoa lá.

Ðời mới kiến thiết đáp lòng những ai Hằng mong ta ra vững cầm tay lái.

Bền chí quyết cố gắng làm cho khắp nơi Vang tiếng người nước Nam cho đến muôn đời!

(Trở lại điệp khúc)

Các lời ca tiếng Việt như trên đây được dùng cho sinh viên Việt Nam và có mục đích thúc đẩy người Việt Nam tranh đấu cho đất nước Việt Nam. Nhưng vì như trên đã nói, Viện Ðại Học Hà Nội lúc ấy còn có nhiều sinh viên không phải Việt Nam nên ngoài lời ca tiếng Việt, lại còn có lời ca tiếng Pháp để mọi sinh viên của Viện đều có thể dùng nó được. Lời ca tiếng Pháp này dĩ nhiên là không thể nói riêng về Việt Nam mà phải nói đến cả Ðông Dương để cho phù hợp với tên THSVÐD. Lời ca tiếng Pháp cũng do ủy ban nói trên đây soạn ra:

Étudiants! Du sol l’appel tenace

Pressant et fort, retentit dans l’espace.

Des côtes d’Annam aux ruines d’Angkor,

À travers les monts, du sud jusqu’au nord,

Une voix monte ravie: Servir la chère Patrie!

Toujours sans reproche et sans peur

Pour rendre l’avenir meilleur.

La joie, la ferveur, la jeunesse

Sont pleines de femmes promesses.

(Ðiệp khúc) Te servir, chère Indochine,

Avec coeur et discipline, C’est notre but, c’est notre loi

Et rien n’ébranle notre foi!

Buổi hát chiều ngày 15 tháng 3 năm 1942 đã đưa đến những kết quả mỹ mãn và bản Sinh Viên Hành Khúc tên Pháp là Marche des Étudiants đã được chánh thức công nhận là bản nhạc của THSVÐD. Mùa hè năm đó, Tổng Hội này lại tổ chức một buổi lễ mãn khoá tại Nhà Hát Lớn Hà Nội. Lần này, có Toàn Quyền Ðông Dương và nhiều viên chức cao cap Pháp khác đến dự. Bản Sinh Viên Hành Khúc được dàn nhạc của Hải Quân Pháp trình tấu. Âm điệu hùng hồn của nó đã làm mọi ngưoi khích động và khi nó được trổi lên, tất cả mọi ngưoi tham dự lễ mãn khoá năm 1942 của Viện Ðại Học Hà Nội, kể cả các viên chức cao cấp Pháp, đều đã nghiêm chỉnh đứng dậy để chào nó. Sau đó, nó được phổ biến khắp nơi. Các sinh viên Pháp, Khmer và Lào dĩ nhiên là theo lời ca Pháp. Về phía Việt Nam thì các sinh viên chỉ lo đi học chớ không có nhiệt tâm tranh đấu chánh trị cũng chỉ biết có lời ca Pháp. Phần các sinh viên Việt Nam có nhiệt tâm tranh đấu cho nền độc lập của dân tộc thì đem ra phổ biến ở khắp cả ba kỳ trong kỳ nghỉ hè năm đó với lời ca tiếng Việt, nhứt là đoạn I nói trên đây. Vì thế, từ năm 1943, bài Sinh Viên Hành Khúc đã được người Việt Nam ở cả ba kỳ biết. Năm 1945, sau khi Nhựt đảo chánh Pháp, Thanh Niên Tiền Phong được thành lập ở Nam Việt và lấy bản nhạc trên đây làm đoàn ca. Tên bản nhạc được đặt lại là Thanh Niên Hành Khúc hay Tiếng Gọi Thanh Niên. Về lời thì hai chữ sinh viên được thay bằng hai chữ thanh niên. Lúc người Pháp trở lại chiếm Nam Việt cuối năm 1945, Thanh Niên Tiền Phong đã huy động người ái quốc Việt Nam ở Nam Việt đứng lên chống lại họ dưới lá cờ vàng sao đỏ và bản Thanh Niên Hành Khúc hay Tiếng Gọi Thanh Niên. Năm 1948, trong phiên họp lịch sử ở Hongkong giữa Cựu Hoàng Bảo Ðại và một số thân hào nhơn sĩ cùng đại diện các đoàn thể chánh trị và tôn giáo ở Việt Nam, Anh Nguyễn Tôn Hoàn đã đề nghị lấy bản nhạc của Thanh Niên Hành Khúc làm quốc thiều cho Quốc Gia Việt Nam. Hội nghị đã đồng ý và tên bản nhạc được đặt lại là Quốc Dân Hành Khúc hay Tiếng Gọi Công Dân. Về lời ca, đoạn I của bài Thanh Niên Hành Khúc nói trên đây đã được dùng, với hai chữ công dân thay cho hai chữ thanh niên. Ngày 2 tháng 6 năm 1948, chánh phủ lâm thời Việt Nam được thành lập với Tướng Nguyễn Văn Xuân làm Thủ Tướng và Quốc Dân Hành Khúc hay Tiếng Gọi Công Dân được chánh thức dùng làm quốc ca. Lúc Ông Ngô Ðình Diệm lật đổ Quốc Trưởng Bảo Ðại để thành lập chế độ cộng hoà, Quốc Hội Lập Hiến được bầu năm 1956 đã có đặt vấn đề chọn một bài quốc ca khác. Tuy nhiên, lúc đó, phần lớn các bản nhạc được đề nghị dùng làm quốc ca đều không đủ tiêu chuẩn để được chấp nhận. Bài duy nhứt được xem là xứng đáng làm quốc ca chính là bài Việt Nam Minh Châu Trời Ðông của nhạc sĩ Hùng Lân đã được chánh phủ Trần Trọng Kim chọn làm quốc ca năm 1945. Tuy nhiên, hai Ông Ngô Ðình Diệm và Ngô Ðình Nhu cuối cùng đã không chấp nhận việc dùng bản Việt Nam Minh Châu Trời Ðông làm quốc ca vì một lý do đặc biệt. Năm 1945, hai Ðảng Việt Nam Quốc Dân Ðảng (VNQDÐ) và Ðại Việt Quốc Dân Ðảng (ÐVQDÐ) đã sáp nhập lại làm một với tên chung là Quốc Dân Ðảng và Ðảng này đã lấy bài Việt Nam Minh Châu Trời Ðông làm đảng ca. Sau đó, VNQDÐ và ÐVQDÐ lại tách nhau ra, nhưng cả hai đều giữ đảng ca Việt Nam Minh Châu Trời Ðông. Vì biết được việc này nên hai anh em Ông Diệm đã không chấp nhận bản nhạc này làm quốc ca. Rốt cuộc, Quốc Hội Lập Hiến năm 1956 đã quyết định giữ lại bản Quốc Dân Hành Khúc hay Tiếng Gọi Công Dân làm quốc ca, nhưng đổi lời lại như sau:

Này công dân ơi! Quốc gia đến ngày giải phóng.

Ðồng lòng cùng đi, hy sinh tiếc gì thân sống!

Vì tương lai quốc dân, cùng xông pha khói tên,

Làm sao cho núi sông từ nay luôn vững bền.

Dầu cho thây phơi trên gươm giáo,

Thù nước lấy máu đào đem báo.

Nòi giống lúc biến phải cần giải nguy,

Ngưoi công dân luôn vững bền tâm trí,

Hùng tráng quyết chiến đấu làm cho khắp nơi

Vang tiếng người nước Nam cho đến muôn đời!

(Ðiệp khúc) Công dân ơi! Mau hiến thân dưới cờ!

Công dân ơi! Mau làm cho cõi bờ

Thoát cơn tàn phá, vẻ vang đời sống

Xứng danh ngàn năm dòng giống Lạc Hồng.

Bản nhạc và lời ca này đã được dùng suốt thời Ðệ Nhứt và Ðệ Nhị Cộng Hòa cho đến ngày nay.

C. VẤN ÐỀ THAY ÐỔI QUỐC CA

Nói tóm lại, trừ các bản nhạc vô duyên đã được Nam Kỳ Cộng Hòa Quốc dùng làm quốc ca, nhưng thật sự không thể xem là quốc ca được, dân tộc Việt Nam có cả thảy bốn bản nhạc xứng đáng với danh nghĩa quốc ca là Ðăng Ðàn Cung, Việt Nam Minh Châu Trời Ðông, Tiến Quân Ca và Quốc Dân Hành Khúc hay Tiếng Gọi Công Dân. Bốn bản quốc ca này đã được dùng song song với bốn lá quốc kỳ: bản Ðăng Ðàn Cung với cờ long tinh, bản Việt Nam Minh Châu Trời Ðông với cờ quẻ Ly, bản Tiến Quân Ca với cờ đỏ sao vàng và bản Quốc Dân Hành Khúc hay Tiếng Gọi Công Dân với cờ vàng ba sọc đỏ

. 1. So sánh các bản quốc ca với nhau
Bản Ðăng Ðàn Cung là bản nhạc cổ điển Việt Nam thuộc loại nhã nhạc. Loại nhạc này có tánh cách nghiêm trang và ôn hòa, trái với dâm nhạc là loại nhạc biểu lộ tình cảm một cách nồng nhiệt và chỉ được dùng trong việc giải trí hay hội họp vui chơi. Bản Ðăng Ðàn Cung là một bài nhã nhạc dùng trong lễ tế Nam Giao của nhà vua. Do đó, nó có tánh cách trang trọng, nhưng không hùng hồn và không khích động được tinh thần người nghe. Bản Việt Nam Minh Châu Trời Ðông là một bản tân nhạc có tánh cách khích động hơn bản Ðăng Ðàn Cung, nhưng cái hùng của nó là loại trầm hùng nên không khích động tinh thần người nghe bằng bản Quốc Dân Hành Khúc hay Tiếng Gọi Công Dân. Vì là một hành khúc, bản quốc ca hiện nay của chúng ta khích động tinh thần người nghe một cách mạnh mẽ hơn. Mặt khác nữa, hoàn cảnh lịch sử đã làm cho nó đóng một vai tuồng tích cực trong cuộc tranh đấu cho nền độc lập và tự do của dân tộc Việt Nam. Thời Thế Chiến II, với tên là Sinh Viên Hành Khúc, nó đã được dùng để đánh thức tinh thần tranh đấu của nhơn dân Việt Nam. Ðến lúc người Pháp đem binh đến để tái chiếm Nam Việt, dưới tên Thanh Niên Hành Khúc hay Tiếng Gọi Thanh Niên, nó đã được dùng để thúc đẩy các chiến sĩ cầm tầm vong vạt nhọn đứng lên tranh đấu với Quân Ðội Viễn Chinh Pháp. Khi nước Pháp chánh thức nhìn nhận nền độc lập và thống nhứt của Việt Nam, nó đã thành bản quốc ca với tên là Quốc Dân Hành Khúc hay Tiếng Gọi Công Dân. Bản Tiến Quân Ca của CSVN cũng có tánh cách khích động tinh thần người nghe như bản quốc ca của chúng ta. Nhưng về lời ca thì từ hình thức Sinh Viên Hành Khúc qua Thanh Niên Hành Khúc đến Quốc Dân Hành Khúc, bản quốc ca của chúng ta nhiều lắm là nói đến “thù nước lay máu đào đem báo”, còn Tiến Quân Ca với lời “thề phanh thây uống máu quân thù” rõ là sắt máu quá và có thể làm cho thế giới xem dân tộc Việt Nam là dã man. Về mặt chánh trị, bản Thanh Niên Hành Khúc đã được dùng để thúc đẩy các thanh niên ái quốc Nam Việt cầm tầm vông vạt nhọn chống lại Quân Ðội Viễn Chinh Pháp trong khi bản Tiến Quân Ca đã được trổi lên để chào đón Quân Ðội này lúc họ đổ bộ ra Bắc Việt theo sự thoả thuận với Hồ Chí Minh trong Sơ Ước ngày 6 tháng 3 năm 1946. Sau đó, nó đã được dùng khi bộ đội Việt Minh cùng với bộ đội Pháp hợp tác nhau trong Ban Liên Kiểm Việt-Pháp để tiến đánh các chiến khu của Ðại Việt Quốc Dân Ðảng, Việt Nam Quốc Dân Ðảng và Việt Nam Cách Mạng Ðồng Minh Hội.

2. Lý luận của những người muốn đổi quốc ca
Những người muốn đổi quốc ca đã đưa ra nhiều lý luận khác nhau. Trong các lý luận được đưa ra, chỉ có một cái đáng cho chúng ta lưu ý. Lý luận này đặt nền tảng trên chỗ tác giả bản nhạc được chúng ta dùng làm quốc ca là Lưu Hữu Phước, hiện là một cán bộ cộng sản, và Lưu Hữu Phước đã lên tiếng sỉ vả người quốc gia Việt Nam là vô liêm sỉ khi lấy bản nhạc của anh ta và đặt lại lời ca để dùng. Một số người quốc gia Việt Nam đã tỏ ra khó chịu về việc này và những người muốn thay đổi quốc ca đã dựa vào đó để kêu gọi mọi người bỏ bản quốc ca hiện tại.

a. Nhận định về cá nhơn Lưu Hữu Phước
Vì lý luận trên đây dựa vào cá nhơn Lưu Hữu Phước nên chúng ta cần phải biết về cá nhơn này trước khi phán đoán. Thời Thế Chiến II, Lưu Hữu Phước là một sinh viên có tinh thần quốc gia và cũng như nhiều sinh viên khác của Viện Ðại Học Hà Nội, chỉ có chủ trương giành độc lập cho Việt Nam mà không gia nhập đoàn thể chánh trị nào. Lúc CSVN chưa cướp được chánh quyền, Lưu Hữu Phước đã hoạt động với Anh Nguyễn Tôn Hoàn là một cán bộ của Ðại Việt Quốc Dân Ðảng tại Viện Ðại Học Hà Nội. Lúc CSVN cướp được chánh quyền, Lưu Hữu Phước và một số sinh viên khác gia nhập Ðảng Tân Dân Chủ, một chánh đảng hợp tác với CSVN trong Mặt Trận Việt Minh, nhưng lúc đầu phân biệt với Ðảng CSVN và nhiều khi cạnh tranh lại đảng này. Tuy nhiên, bằng cách vừa mua chuộc, vừa lấn ép, CSVN đã lôi phần lớn các đảng viên Tân Dân Chủ vào Ðảng CS và chỉ còn dùng tên Ðảng Tân Dân Chủ làm một nhãn hiệu để làm cho người ta lầm tưởng rằng chế độ họ xây dựng lên không phải là chế độ độc đảng. Lưu Hữu Phước thuộc thành phần đảng viên Tân Dân Chủ bị lôi kéo vào Ðảng CS. Anh ta không đủ khí phách để chống lại việc đó và bị loại ra khỏi trường chánh trị như Ðặng Ngọc Tốt, cũng không đủ tinh thần sắt máu để được CSVN tin dùng như Huỳnh Tấn Phát, Huỳnh Văn Tiểng, Trần Bửu Kiếm. Mặt khác, anh ta không có một khả năng đặc biệt về chánh trị mà CSVN có thể khai thác được như Mai Văn Bộ. Trước sau, Lưu Hữu Phước chỉ là một nhạc sĩ. Do đó, CSVN đã dùng anh ta như một văn công, sản xuất nhạc theo lịnh Ðảng và lên tiếng về các vấn đề khác những khi Ðảng thấy cần. Nói tóm lại, Lưu Hữu Phước đã sáng tác bản nhạc của Quốc Dân Hành Khúc hay Tiếng Gọi Công Dân lúc còn là một sinh viên có tinh thần quốc gia. Ngày nay, anh ta là một văn công của CSVN và mọi lời phát biểu của anh ta chỉ là do Ðảng CSVN mớm cho.

b. Quan niệm chung của người các nơi trên thế giới về quốc ca
Nhưng dầu cho lúc sáng tác bản nhạc của Quốc Dân Hành Khúc, Lưu Hữu Phươc đã là một đảng viên cộng sản rồi và việc chỉ trích chúng ta dùng bản nhạc đó là do ý anh ta, chúng ta cũng không phải bận tâm về vấn đề này, vì theo quan niệm chung của người các nơi trên thế giới về quốc ca thì khi một bản nhạc đã được quốc dân nhận làm quốc ca, nó không còn của riêng ai nữa mà là của toàn dân. Do đó, cá nhơn người sáng tác bản nhạc cũng như người chọn bản nhạc làm quốc ca không thành một vấn đề đem ra thảo luận. Chúng ta có một tiền lệ đáng lưu ý về việc này. Ðó là trường hợp bản Marseillaise được dùng làm quốc ca Pháp. Bản quốc ca này được một nhà quí tộc Pháp là Rouget de Lisle sáng tác năm 1792. Lúc ấy, Vua Louis thứ XVI còn trị vì và Rouget de Lisle là một sĩ quan trong Quân Ðội Pháp. Năm 1793, Vua Louis thứ XVI bị xử tử và Rouget de Lisle bị bắt vì là người quí tộc theo phe bảo hoàng chống lại Cách Mạng. Lúc ấy, Ông Lazare Carnot, Ủy Viên Quốc Phòng của Hội Ðồng Cách Mạng vì muốn cứu một sĩ quan cùng binh chủng với mình, lại là tác giả bản Marseillaise, đã đề nghị Rouget de Lisle tuyên thệ trung thành với Cách Mạng thì sẽ được tha, nhưng Rouget de Lisle từ chối vì không chịu phủ nhận lý tưởng bảo hoàng của mình. Cuối cùng, ông ta chỉ thoát chết vì chánh phủ cách mạng chủ trương Ðại Khủng Bố do Robespierre cầm đầu đã bị lật đổ trước khi bản án tử hình của ông ta được đem ra thi hành. Nhưng mặc dầu sau năm 1793, Rouget de Lisle đã trở thành người chống lại Cách Mạng, chánh quyền cách mạng Pháp vẫn tiếp tục dùng bản Marseillaise do ông sáng tác và năm 1795 đã chánh thức quyết định lấy nó làm quốc ca.

c. Trường hợp bản Tiến Quân Ca được tập đoàn CSVN dùng làm quốc ca Bản Tiến Quân Ca được tập đoàn CSVN dùng làm quốc ca vốn do nhạc sĩ Văn Cao sáng tác trong thời kỳ CSVN chưa cướp được chánh quyền ở Việt Nam. Không rõ lúc ông sáng tác bản nhạc này, Văn Cao đã là một đảng viên cộng sản hay chưa. Nhưng chắc chắn là về sau, ông đã vào Ðảng CSVN. Tuy nhiên, cũng như nhiều văn nghệ sĩ có nhiệt tâm yêu nước thời đó, Văn Cao đã lần lần nhận chân được bộ mặt thật của Cộng Sản. Ðiều đáng quí là ông đã can đảm hơn nhiều người khác như Lưu Hữu Phước chẳng hạn, và đã dám nói lên sự bất mãn và chống đối của mình. Ông đã tham dự phong trào Nhân Văn Giai Phẩm hồi năm 1956 và đã dứt khoát chống lại Ðảng CSVN. Trong con mắt của CSVN hiện nay, Văn Cao là một phần tử phản Ðảng, phản động, phản cách mạng. Với chủ trương độc tài sắt máu và lòng tự hào là Ðảng mình lúc nào cũng hành động hợp với chánh nghĩa, CSVN rất xấu hổ về chỗ bản quốc ca họ dùng là sáng tác của một nhạc sĩ phản Ðảng, phản động và phản cách mạng. Bởi đó, họ không chịu theo quan niệm thông thường bắt đầu với lịch sử bản Marseillaise của Pháp, nghĩa là bất chấp lập trường chánh trị về sau của tác giả bản quốc ca. Họ đã treo một giải thưởng lớn cho người sáng tác được một bản nhạc đáng làm quốc ca mới. Nhưng trong nhiều trăm bản nhạc gởi đến dự thi, họ đã không chọn được bản nào ra hồn. Cuối cùng, họ phải hậm hực giữ bản Tiến Quân Ca làm quốc ca. Người quốc gia Việt Nam chúng ta theo quan niệm thông thường trên thế giới về quốc ca nên không có gì phải hậm hực vì tác giả bản quốc ca chúng ta đang dùng hiện đã trở thành một văn công của CSVN. Và nếu có người nào đem việc Lưu Hữu Phước sỉ vả chúng ta về chỗ đã lấy bản nhạc do anh ta sáng tác làm quốc ca, chúng ta có thể bảo họ nên dùng các lời sỉ vả đó đặt trong miệng Văn Cao để gởi cho tập đoàn CSVN. 3. Nhiệm vụ của người quốc gia Việt Nam đối với bản quốc ca Quốc Dân Hành Khúc hay Tiếng Gọi Công Dân Người quốc gia Việt Nam may mắn có một bản quốc ca hùng hồn được dùng để thúc đẩy người ái quốc tranh đấu cho nền độc lập và sự tự do của dân tộc. Bản quốc ca này rất xứng đáng với lá quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ. Với giá trị nội tại của chính nó, thêm vào vai tuồng lịch sử mà nó đã đóng, nó lúc nào cũng gây sự xúc động mạnh mẽ trong tâm trí người Việt Nam ái quốc. Từ khi được chánh thức dùng làm quốc ca của nước Việt Nam độc lập, nó đã được nhiều quốc gia trên thế giới biết đến. Tại Việt Nam, nó đã cùng với quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ làm yếu tố hội tập nhiều triệu chiến sĩ quân nhơn như dân sự tranh đấu cho sự tự do của dân tộc Việt Nam. Nó đã là bản nhạc tiễn đưa ra nghĩa trang nhiều trăm ngàn người đã chết vì Tổ Quốc Việt Nam. Như vậy, nó cũng là một bảo vật thiêng liêng của chúng ta y như quốc kỳ. Hiện nay, bản Quốc Dân Hành Khúc hay Tiếng Gọi Công Dân không còn được chánh thức dùng bên trong nước Việt Nam, nhưng như mọi người Việt Nam ở quốc nội đều biết rằng đó là bản nhạc của người quốc gia chống lại Cộng Sản. Bên ngoài Việt Nam, nó cũng được người ngoại quốc xem là bản nhạc biểu tượng cho người quốc gia chống cộng. Không bản nhạc nào khác có thể thay thế Quốc Dân Hành Khúc hay Tiếng Gọi Công Dân về mặt này. Vậy, việc tôn trọng bản quốc ca đó và tiếp tục dùng nó chung với quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ một cách rộng rãi ở mọi nơi là một công cuộc đóng góp vào việc giải phóng Việt Nam khỏi ách Cộng Sản. Nếu mọi người Việt Nam ở hải ngoại đều đồng tâm nhứt trí để tranh đấu chung nhau thì một ngày không xa lắm, bản Quốc Dân Hành Khúc hay Tiếng Gọi Công Dân sẽ được hát lên ở khắp các nẻo đường đất nước Việt Nam từ mũi Cà Mau đến ải Nam Quan. Chúng tôi nghĩ rằng lúc ấy, chắc chắn không có bài khải hoàn ca nào hay hơn nó được.

Giáo Sư NGUYỄN NGỌC HUY
Bài biên khảo này được đăng lần đầu tiên trong Tuần báo CHUÔNG VIỆT phát hành năm 1988
ST