Thứ Sáu, 12 tháng 11, 2010

Trung Quốc vẫn là chỗ dựa vững chắc của đảng cộng sản Việt Nam ?

Tình hình thế giới và Đông Nam Á cũng như Việt Nam đang thay đổi không thể cưỡng lại được về nhiều mặt. Sự thay đổi này đòi hỏi Việt Nam phải có những cải cách cơ cấu tổ chức cho thích hợp. Nhiều tiếng nói xuất phát từ các góc độ khác nhau đang đòi hỏi việc cải cách này.

( Không trích ) ...................................................................................................................
.......................................................................................................... Nhưng đáng tiếc là đảng cộng sản Việt Nam không có được một cá nhân hay nhóm nào đủ khả năng và uy tín để dám lấy những quyết định cải cách về cơ cấu tổ chức cho đất nước có tính triệt để. Vì vậy con đường duy nhất để đảng cộng sản Việt Nam sống còn là vẫn đi theo lối mòn cũ có nghĩa là dựa vào Trung Quốc và đi theo đường lối mà Trung Quốc đang đi. Bởi vậy những diễn biến trong những ngày vừa qua liên quan đến Trung Quốc như việc ông Lưu Hiểu Ba được giải Nobel Hoà bình và việc Thủ Tướng Ôn Gia Bảo trả lời phỏng vấn của CNN về quyền tự do ngôn luận và việc phải dân chủ hoá Trung Quốc đã làm cho một số người hồ hởi. Những người này nghĩ là việc dân chủ hoá ở Trung quốc sắp xảy ra. Và vì vậy việc dân chủ hoá ở Việt Nam cũng sắp đến và nhiều khi còn đến trước Trung Quốc. Nhưng đồng thời lại có một số người khác bi quan về tiến trình dân chủ hoá ấy. Bởi vậy xem xét thái độ bi quan về vấn đề dân chủ hoá ở Trung Quốc là cần thiết để có thể đánh giá chỗ dựa Trung Quốc có còn vững chắc cho đảng cộng sản Việt Nam hay không và từ đó hoạch định phương hướng và đường lối sắp tới cho Việt Nam.
Một số sự kiện thực tế như cơ cấu tổ chức xã hội, văn hoá, nếp sống, lối suy nghĩ và tính cách của người Trung quốc đã khiến không ít người bi quan về tiến trình dân chủ hoá ở Trung quốc. Chúng ta có thể kể một số thí dụ điển hình:

Theo ông Kim Chung, chủ biên Tạp chí Khai Phóng ở Hồng Kông, thì sức cản đầu tiên của việc cải cách chính trị và dân chủ hoá ở Trung Quốc là nhiều cán bộ cao cấp trong Trung Ương Đảng. Ông lấy thí dụ về đạo luật bài trừ tham nhũng, thường được gọi là Luật Ánh Dương nhằm công khai tài sản của quan chức trong Đảng và Nhà Nước đã bị nhiều cán bộ cao cấp trong Trung Ương Đảng bỏ phiếu chống.

Một phụ nữ ở Bắc Kinh, bà Ngô Ngọc Cầm, cho biết thêm là các cán bộ địa phương cũng là nguyên do ngăn cản những cải cách. Những quan chức cấp thấp ngoài mặt thì ủng hộ nhưng bên trong thì chống cự. Họ không hề thực thi những chỉ thị của cấp trên.
Nhà bình luận Vương Quang Trạch thì cho là do cơ chế tổ chức. Sự lũng đoạn quyền lợi chẳng những đã hoàn tất mà còn hình thành một mạng lưới vô cùng chặt chẽ. Cục diện lũng đoạn và sự đề kháng tiêu cực của địa phương đối với hiệu lệnh của Trung Ương là vô cùng rõ ràng. Không còn ai tuân hành mệnh lệnh của chính phủ cả. Ông cho rằng chính sách dù tốt tới đâu mà không được thực hiện bởi những người thừa hành thì cũng bằng không. Ông nói rằng cải cách thể chế chính trị là cách thức duy nhất để giải quyết các vấn đề hiện nay.
Nhưng ông Kim Chung, chủ biên Tạp chí Khai Phóng ở Hồng Kông, đã có một nhận xét rất bi quan về triển vọng cải cách chính trị ở Trung Quốc. Ông cho biết: "Tình hình hiện nay là Trung Quốc không có chính trị gia mà cũng chẳng có anh hùng trong dân gian để thay đổi cục diện này. Tất cả mọi người ai nấy đều phải chịu cảnh thối nát trong thể chế này và chờ xem nó thối nát cho tới khi nào." (1)

Theo giáo sư dạy môn chính trị học tại Đại học Quốc Lập Đài Loan Trần Văn Đoàn thì đối với Bắc Kinh cải cách không phải là để dân chủ hay tự do mà chỉ là để họ không chết, để có thể sống lâu. Hiện nay trong số đảng viên bây giờ có tới 60-70% đòi có tiếng nói dân chủ và tiếng nói tự do trong đảng. Do đó không cho tự do, dân chủ trong đảng thì cũng không được. Vì vậy có cải cách là cải cách để cho đảng viên có tự do dân chủ trong đảng.

Ngoài ra ông cũng cho biết là tại tất cả các thành phố lớn như Bắc Kinh, Thượng Hải hay Quảng Châu, ý thức của người dân bây giờ về tự do rất nhiều và rất rộng lớn. Họ để ý tới vấn đề dân chủ nhiều hơn. Nhưng dân chủ như thế nào lại là chuyện khác. Trong khi đó, tại các vùng quê số người nghèo càng ngày càng nhiều và sự bất công giữa giàu-nghèo ngày càng lớn. Và nhất là các cán bộ cũ và những người thất nghiệp càng ngày càng nhiều. Vì vậy rất có thể xảy ra bạo động. Nhưng dầu vậy, theo ông thì dân chủ tự do, trong một tương lai gần, sẽ không xảy ra ở Trung quốc. Ông nói: “Những vấn đề dân chủ ở Hoa Lục không có thực. Tại vì quan niệm dân chủ đối với người Trung Quốc rất mơ hồ. Có thể nói nó không có truyền thống trong người Trung Quốc. Đa số người Trung Quốc chú trọng tới vấn đề thực chất. Tức là ai có thể cho họ cơm no, áo ấm thì họ sẽ ủng hộ. Đó là lý do tại sao ở Trung Quốc, tất cả các triều đại trong hằng mấy trăm năm vẫn không thay đổi. Và chỉ có thay đổi khi người dân không chiu đựng được nữa. Nếu hiểu như vậy thì chúng ta đừng nghĩ rằng dân chủ tự do sẽ đến với Trung Quốc trong tương lai gần.” (2)

Còn vấn đề nhà dân chủ Lưu Hiểu Ba, cũng theo giáo sư Trần Văn Đoàn, thì giới trí thức, nhiều người rất thích nhưng họ không biểu lộ ra bên ngoài. Có một số rất ít đứng ra kêu gọi vấn đề dân chủ cho đất nước mà thôi. Còn đại đa số không biết ông Lưu Hiểu Ba là ai, và cũng chẳng ai nghe đến giải Nobel Hoà Bình. Và việc ông Lưu Hiểu Ba được giải Nobel chỉ có ảnh hưởng rất nhỏ trong giới trí thức mà thôi. Thực ra ngay tầm ảnh hưởng tới sinh viên cũng không nhiều lắm. Nhưng đặc biệt ở Đài Loan thì tầm ảnh hưởng này rất lớn. Vì tôi nghĩ ở Đài Loan họ rất ủng hộ ông Lưu Hiểu Ba.

Những nhận xét bi quan vừa nêu trên có cơ sở vững chắc không? Theo quan điểm của bộ môn Comparative Political Science (Khoa Học Chính Trị Đối Sánh) thì một mô hình xã hội muốn phát triển và ổn định phải bảo đảm được sự tương thích chặt chẽ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. Do đó mô hình xã hội dân chủ chỉ có thể hình thành khi có những điều kiện về kinh tế, văn hoá, chính trị, xã hội, khoa học tương thích và phù hợp với nó. Nếu nhìn theo quan điểm này thì thái độ bi quan về việc dân chủ hoá ở Trung Quốc rất xác đáng và có cơ sở. Trở ngại đầu tiên cho việc dân chủ hoá ở Trung Quốc là Trung Quốc đang có một hệ thống kìm kẹp dân chủ khổng lồ. Đó là đảng cộng sản Trung Quốc. Những đảng viên và các thành phần liên hệ với Đảng đang là một giai cấp mới trong xã hội Trung Quốc. Họ hình thành một giai cấp quý tộc kiểu đế quốc La Mã ngày xưa. Chỉ có giai cấp này mới có quyền công dân nghĩa là quyền tự do và dân chủ. Giai cấp quý tộc loại 5C (con cháu các cụ cả) này đang khống chế và cản trở việc dân chủ hoá ở Trung Quốc. Việc lật đổ một giai cấp là một khối khổng lồ như vậy rất thật đáng bi quan như ông Kim Chung, chủ biên Tạp chí Khai Phóng ở Hồng Kông, nhận xét. Cản trở tiếp theo là nền văn hoá Trung Quốc. Đây là một nền văn hoá gia tộc cùng họ hàng với loại văn hoá bộ tộc ở châu Phi hoặc Afghanistan. Một loại văn hoá lấy thần phục và lệ thuộc làm nền tảng. Nó làm cho con người có thói quen chấp nhận và chịu đựng, vì thế không dám chống đối và đòi hỏi. Cho nên dân chủ tự do là cái gì rất xa lạ và không cần thiết với họ. Từ văn hoá này hình thành một trở ngại nữa cho việc dân chủ hoá ở Trung Quốc. Đó là tính cách của người Trung Hoa. Họ chú trọng tới vấn đề thực chất. Tức là ai có thể cho họ cơm no, áo ấm thì họ sẽ ủng hộ. Họ quan niệm ai nắm quyền thì cũng thế thôi có nghĩa là vẫn phải đóng thuế. Bởi vậy họ sống cầu an và bảo thủ. Họ luôn tìm cách sống thuận theo, không thích chống đối và mạo hiểm. Còn nếu không sống được thì tìm cách bỏ trốn đi nơi khác. Bên cạnh đó còn có những yếu tố như kinh tế, dân trí cũng là trở ngại cho việc dân chủ hoá ở Trung Quốc. Nhiều người ở thôn quê và vùng sâu vùng xa vẫn còn sống như trong thời cổ xưa, nghèo khổ và chấp nhận sống như những nô lệ.
Dân Trung Hoa chấp nhận sống nghèo khổ
Nhưng nếu dựa vào lịch sử và ảnh hưởng của môi trường chung quanh để xem xét tác động của con người đối với việc phát triển dân chủ thì thái độ bi quan về việc dân chủ hoá ở Trung Quốc sẽ như thế nào? Bản chất con người ở bất kì đâu đều cầu tiến, đã có thì lại muốn có hơn. Những gì đã được thì không muốn từ bỏ. Và con người lại bị chi phối bởi môi trường chung quanh. Khi thấy người khác có thì mình cũng muốn có. Chính bản chất này đã làm cho xã hội phát triển và thăng tiến. Nó cũng là động lực để hình thành xã hội tự do dân chủ. Không phải chỉ khi nền tảng kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội, khoa học tương thích và phù hợp với nó thì mới có dân chủ. Dân chủ không phải là một thời điểm để nghĩ là khi không hội đủ các điều kiện thì không đến. Dân chủ là một quá trình tranh đấu và thực hiện. Không thể có nền dân chủ cứ ngồi đợi. Dân chủ là một quyền mà mọi người phải được hưởng. Vì vậy không thể ngồi chờ để được cho mà phải tranh đấu đòi cho bằng được.

Hãy nhìn lịch sử. Do tác động của con người mà giai cấp quý tộc La Mã cũng đã phải mở rộng quyền công dân cho nhiều người. Âu Châu chịu ảnh hưởng của thần quyền nặng nề như vậy mà do tác động của con người, cũng phải thay đổi theo khuynh hướng tự do dân chủ. Khi điều kiện kinh tế, văn hoá và dân trí của Pháp chưa đạt được như Trung Quốc hiện nay, có nghĩa là chưa tương thích và phù hợp với nền cộng hoà và phần lớn dân chúng vẫn còn có thói quen thần phục nhà nước và thần quyền, mà cuộc cách mạng 1789 vẫn xảy ra. Cuộc cách mạng này đã mở đường cho nền cộng hoà Pháp để mở đầu cho việc các công dân Pháp có được quyền tự do dân chủ. Và sau đó là các cuộc cách mạng 1830 rồi 1848 đã thực sự cho các công dân các nước Pháp, Bỉ, Hà Lan, Đức và nhiều nước Âu Châu khác quyền tự do dân chủ. Một số người cho là việc dân chủ hoá ở Âu Châu có thể xảy ra vì tính chất của người Âu Châu thích mạo hiểm, dám đấu tranh để đạt được những điều mình được quyền có. Trái lại người Trung Quốc cầu an và sống thuận theo. Lấy một thí dụ về việc dám đấu tranh của người Âu Châu và việc sống thuận theo của người Trung Quốc. Chúng ta biết đặc tính của nước là phải chảy xuống chỗ thấp hơn. Người Âu Châu dám chống đối đặc tính này để tìm cách cho nước chảy lên chỗ cao hơn để có thể sử dụng cho mục đích mà họ mong muốn. Trái lại người Trung Quốc thì không dám nên chỉ tìm cách thuận theo đặc tính của nước. Có nghĩa là tìm cách be bờ để nước chảy xuống những chổ thấp theo ý mình. Điều này không hoàn toàn đúng. Bởi vì người Âu Châu không phải đa số có tính thích mạo hiểm và dám đấu tranh. Khi đạo Tin Lành bị đàn áp vào những thế kỉ 16, 17, 18 đã có rất nhiều người Tin Lành - phần lớn là những người có khuynh hướng tự do - bỏ trốn sang châu Mỹ hoặc các nước bớt bị đàn áp hơn. Có người cho là có cuộc cách mạng 1789 là vì Pháp có một khối trí thức dám đòi hỏi dân chủ. Điều đó cũng không hoàn toàn chính xác. Khi đó khối trí thức ở Pháp dám bày tỏ ý kiến về dân chủ như Montesquieu, J.J. Rousseau, Voltaire … không nhiều hơn ở Trung Quốc hiện nay.

"Cách mạng Pháp" theo Delacroix

Và ảnh hưởng của họ với quần chúng cũng không nhanh chóng như thời đại hiện nay. Có người cho rằng mặc dầu các nước chung quanh Trung Quốc như Nhật bản, Nam Hàn, Đài Loan, Thái Lan, Ấn Độ đã có dân chủ nhưng việc dân chủ hoá ở Trung Quốc không xảy ra trong tương lai gần được vì từ cuộc cách mạng Pháp 1789 tới các cuộc cách mạng 1830 rồi 1848 phải mất hơn 40 năm. Bi quan này không có cơ sở xác đáng. Bởi vì thời bấy giờ vấn đề truyền thông còn quá chậm. Sách vở để phổ biến cũng không nhiều. Trái lại ngày nay là thời điện tử với hệ thống thông tin truyền thanh truyền hình và internet thì ảnh hưởng của môi trường chung quanh sẽ rất nhanh. Nhanh như điện tử. Thêm vào đó việc thành thị hoá và di dân ra các thành thị để tìm việc cũng là yếu tô quan trọng thức đẩy người ta quan tâm đến dân chủ và tự do.

Tóm lại nếu nhìn việc dân chủ hoá ở trạng thái tĩnh thì thái độ bi quan về vấn đề này ở Trung Quốc là hợp lí. Nhưng nếu nhìn ở trạng thái động thì hiện nay ở Trung Quốc số người ý thức về tự do dân chủ đã khá lớn. Rồi việc thành thị hoá và di dân ra các thành thị để kiếm việc làm khiến số người biết về dân chủ tự do càng ngày càng nhiều hơn. Số trí thức dấn thân làm ngọn lửa cho tự do dân chủ cũng không phải là ít. Thêm vào đó, tác động của hệ thống truyền thông hiện nay cũng làm cho ảnh hưởng của dân chủ và khối trí thức tranh đấu cho dân chủ càng lan rộng và trở thành càng ngày càng lớn mạnh hơn. Ngoài ra các nước dân chủ tự do chung quanh Trung Quốc đang là những mẫu mực về ơn ích của dân chủ cũng có ảnh hưởng mạnh tới việc Trung Quốc phải dân chủ hoá nhanh hơn. Bởi vậy, dù không muốn, Trung Quốc cũng phải dân chủ hoá nhanh trừ khi Trung Quốc chấp nhận bị tụt hậu và bị tách ra từng tiểu quốc nhỏ. Do đó dù muốn dù không Trung Quốc cũng sẽ không còn là chỗ dựa cho các chế độ độc tài. Và như vậy cũng sẽ không còn là chỗ dựa vững chắc cho đảng cộng sản Việt Nam.

Trước tình hình này, đảng cộng sản Việt Nam phải có thái độ ứng xử như thế nào? Là đảng đi vào lịch sử với những đóng góp cho việc dân chủ hoá để đưa đất nước đến phú cường và vững mạnh hay là đảng của vết nhơ trong lịch sử. Còn phong trào dân chủ thì thế nào? Đó là những câu hỏi mà bất kỳ người Việt Nam yêu nước nào cũng cần tìm ra câu trả lời cho chính mình.

Ghi chú:
(1) Xin xem:VOA
(2) Xin xem: RFA
Phan Bá Việt
(Hòa Lan)
27/10/2010
Nguồn : i-meo


.



Chủ Nhật, 7 tháng 11, 2010

Dạng vùng dậy tại Việt Nam

Cao trào bảo vệ môi trường tại Việt Nam, nổi lên vào năm ngoái nhằm phản đối việc khai thác bauxite ở Tây Nguyên, đang sôi sục trở lại. Được thúc đẩy do vụ tràn bùn đỏ độc hại tại Hungary vào ngày 4 tháng Mười năm nay, hơn 2.000 người gồm những công dân ưu tú đã ký thêm một kiến nghị kêu gọi nhà nước ngừng những dự án trị giá gần 15,6 tỉ Mỹ kim để tránh rủi ro có thể gây ra thảm họa tương tự tại Việt Nam.

Vào đầu năm 2008, chính phủ Việt Nam công bố một dự án khai thác bauxite và biến chế quặng này thành chất alumina, một giai đoạn trung gian trong việc sản xuất nhôm. Những người chỉ trích dự án bauxite đã vạch ra những tàn phá có thể xảy đến cho môi trường nhạy cảm của vùng Tây Nguyên – quê hương của nhiều dân tộc thiểu số ở Việt Nam và là đất trồng trọt các nông phẩm có thể hái ra tiền (cash crops) – và họ cũng nêu ra các rủi ro trong việc chứa những lượng bùn đỏ độc hại khổng lồ, một phó sản của việc biến chế alumina, ở thượng nguồn của vùng đồng bằng sông Cửu Long dân cư đông đúc.

Giới nghiên cứu Việt Nam cũng hoài nghi lợi nhuận kinh tế của dự án vì nó sẽ cần đến một lượng điện rất lớn, trong khi cả nước đang thiếu điện, và vì phải xây một đường sắt dài 250 cây số và một hải cảng dành riêng cho dự án này. Thành phẩm của dự án bauxite là chất alumina, một món hàng có lợi nhuận khá thấp, mà chỉ được xuất khẩu sang một thị trường duy nhất là Trung Quốc, khiến cho công nghiệp Việt Nam hoàn toàn lệ thuộc vào một khách hàng đầy quyền lực.

Yếu tố Trung Quốc đã tạo nên phần chống đối mạnh mẽ nhất. Đối tác liên doanh trong dự án bauxite là Tập đoàn Nhôm của Nhà nước Trung Quốc (Chinalco). Mặc dù Chính phủ Việt Nam công khai lên tiếng phủ nhận, nhưng hiện nay đã có hằng trăm nếu không phải hàng ngàn công nhân Trung Quốc đang làm việc tại các công trường khai mỏ. Mối đe dọa cho an ninh quốc gia do sự hiện diện của người nước ngoài ở đây đã được nêu ra trong một loạt thư kiến nghị của vị tướng lừng danh Võ Nguyên Giáp và các lãnh đạo quân sự đã nghỉ hưu khác.

Những tiếng nói phản kháng mạnh mẽ chưa từng thấy này đã khiến chính phủ Việt Nam vô cùng lúng túng. Sau nhiều tháng trôi qua với sự xuất hiện của những bài báo chỉ trích trên một số nhật báo tiến bộ và những phê phán mạnh mẽ hơn trên các blog trong nước, chính phủ bèn tổ chức một cuộc hội thảo “khoa học” vào tháng Tư 2009 để thảo luận các vấn đề. Lãnh đạo Chính phủ bày tỏ thiện chí lắng nghe những người phê bình nhưng không có dấu hiệu gì cho thấy họ sẽ ghi nhận những ý kiến của phía phản biện. Bộ Chính trị Đảng Cộng sản hứa sẽ cho xúc tiến một cuộc nghiên cứu về ảnh hưởng của dự án lên môi trường, nhưng cho đến nay vẫn chưa thấy công bố kết quả. Rốt cuộc, chính quyền Hà Nội, mà đại diện là thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, đã cho phép dự án xúc tiến với việc xây dựng cơ sở tại hai địa điểm.

Hành động này của chính phủ đã khiến một nhóm học giả nổi tiếng khởi xướng một phong trào ký kiến nghị trực tuyến vào ngày 12 tháng Tư 2009, chỉ một vài ngày sau cuộc hội thảo. Nhằm kêu gọi giới lãnh đạo chính phủ Việt Nam ngưng các dự án bauxite, bản kiến nghị này cuối cùng đã thu hút được 2.669 chữ ký (4/11/2010) từ một liên minh trí thức đủ mọi thành phần có quan hệ các cơ quan nhà nước, các cán bộ và sĩ quan đã nghỉ hưu, các nhà bất đồng chính kiến và các chuyên gia Việt kiều. Điểm đáng lưu ý là, những người vận động kiến nghị đã thành lập một trang mạng không chịu sự kiểm duyệt của nhà nước với danh xưng Bauxite Việt Nam, kêu gọi các tiếng nói phản biện thẳng thắn đối với dự án khai thác bauxite.

Vào khoảng tháng Mười một năm 2009, trang mạng Bauxite Việt Nam đã thu hút gần 20 triệu luợt truy cập của người đọc và trở thành cái gai trước mắt chính quyền. Theo một nguồn tin thành thạo trong chính phủ Việt Nam, công an đã bắt giữ người đứng đầu trang mạng và ép buộc ông ta phải giao mật mã của website.

Sau đó công an đã âm mưu chuyển tên miền (web domain) của Bauxite Việt Nam từ vị trí gốc của nó tại Pháp sang một công ty cho thuê máy chủ tại Hồng Kông, với ý định xóa sạch tất cả nội dung và khai thác thông tin của người sử dụng. Trong một cuộc vờn nhau giữa mèo và chuột trong lãnh vực công nghệ thông tin (IT), những người hậu thuẫn trang Bauxite Việt Nam đã phục hồi phần lớn nội dung và mở lại trang mạng.

Nhà cầm quyền Việt Nam sau đó cố gắng đánh sập trang mạng Bauxite Việt Nam bằng các mũi tấn công từ chối dịch vụ được phân bố (DDOS). (Chính phủ đã chối cãi việc đứng đằng sau các cuộc tấn công mạng này). Nỗ lực này của nhà cầm quyền – một việc làm bị đại công ty công nghệ mạng Google và công ty an ninh mạng McAfee vạch trần bằng các cuộc điều tra – đã vận dụng các tin tặc phát tán mã độc hại (malicious code) đến người sử dụng internet khắp thế giới và điều khiển các máy vi tính không ai biết đến trong một mạng lưới âm binh “botnet” (robot network) rộng lớn nhằm tấn công website của Bauxite Việt Nam.

Mặc dù website này tạm thời ngưng hoạt động vào cuối năm 2009 và đầu năm này, nhưng nó vẫn lại duy trì hoạt động gần như suốt năm nay bất chấp thỉnh thoảng vẫn bị tin tặc tấn công. Đồng thời với việc nhà cầm quyền nhắm vào cơ sở hạ tầng công nghệ của phong trào bảo vệ môi trường, cảnh sát đã sách nhiễu một số người tham gia.

Đồng loạt lên tiếng phản đối

Mãi cho đến khi thảm họa môi trường xảy ra tại Hungary, hình như dự án khai thác bô xít tại Việt Nam vẫn được lệnh xúc tiến bất chấp sự chống đối của dân chúng. Nhưng sự kiện bùn đỏ tràn ngập nhiều thị trấn tại Hungary không những gây chấn động cho các cộng đồng sống dọc theo sông Danube mà còn gây ảnh hưởng lên chính trị Việt Nam.

Đảng Cộng sản Việt Nam đang đương đầu một cuộc chống đối rộng lớn nhất và có tổ chức nhất trong ký ức lịch sử gần đây, và phần lớn thành phần chống đối phát xuất từ trong nội bộ. Hơn hẳn bản kiến nghị năm ngoái, bản kiến nghị tiếp theo kêu gọi ngưng khai thác bauxite đang thu hút sự hậu thuẫn công khai của nhiều đại biểu Quốc hội, quan chức chính phủ và nhiều nhân vật nổi tiếng trong Đảng Cộng sản. Khoảng 10 tướng lãnh hồi hưu đã ký vào bản kiến nghị gần đây nhất. Thậm chí em trai của chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, nguyên bí thư tỉnh ủy An Giang, đã công khai ủng hộ bản kiến nghị này.

Người ta cũng không nên đánh giá thấp tinh thần của quân đội đối với các dự án khai thác bauxite này. Có một mối lo ngại ngấm ngầm trong Quân đội Nhân dân Việt Nam về sự xâm lấn của Trung Quốc. Người dân Việt Nam nhận thấy Bắc Kinh đang thực sự vươn cánh tay xâm lược xuống duyên hải Việt Nam bằng cách thường xuyên bắt giữ các tàu đánh cá Việt Nam và tuyên bố gần như toàn bộ biển Nam Trung Hoa [Biển Đông] là lãnh hải Trung Quốc. Tin tức cho biết, một vị tướng kỳ cựu Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội đã chỉ trích nghị quyết của Bộ Chính trị cho phép Trung Quốc tiếp cận vùng Tây Nguyên chiến lược. Thêm nhiều chống đối từ các sĩ quan cấp cao có lẽ đang âm ỉ.

Nhằm giới hạn tình trạng phân hóa trong quân đội, giới lãnh đạo Hà Nội đã dành sự tôn kính đặc biệt cho một biểu tượng đầy khí thế – đó là Đại tướng Võ Nguyên Giáp – chân dung ông tô điểm cho trang mạng Bauxite Việt Nam. Gần đây, nhân ngày sinh nhật thứ 100 của vị đại tướng, các nhân vật chóp bu trong Đảng đã đến bên giường ông trong bệnh viện để bày tỏ lòng kính trọng và gắn thêm một huy chương lên quân phục của tướng Giáp.

Nhiều nhà quan sát vẫn tiếp tục đặt câu hỏi: Tại sao các lãnh đạo Đảng Cộng sản VN rất hăm hở xúc tiến dự án khai thác bauxite bất chấp những vấn đề như môi trường, kinh tế và an ninh quốc phòng? Rất nhiều người cho rằng, cũng giống như giới quyền lực chóp bu tại các nước chủ nhà của những dự án lớn của Trung Quốc tại Châu Phi, giới lãnh đạo cấp cao của Việt Nam đã bị mua chuộc. Tin loan truyền trong giới Blogs cho rằng Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đã được (Trung quốc) hối lộ 150 triệu đô để ông nầy cho Trung quốc khai thác mõ.

Nhìn nhận những chi phí to lớn đã tiêu vào dự án, phong trào bảo vệ môi trường cho rằng hủy bỏ dự án bauxite sẽ là một “quyết định đau đớn chưa từng có trong lịch sử kinh tế của chúng ta”, nhưng thà “chúng ta chịu đau khổ bây giờ còn hơn để lại hậu quả nghiêm trọng cho tương lai”. Phải chờ xem cái giá mà các lãnh đạo cộng sản Việt Nam sẽ trả nếu họ nhắm mắt trước cơn bão tố đang âm ỉ này.

A revolt of sorts in Vietnam



By The Hanoist Nov 2, 2010
Người Hà nội. 2 tháng 11-2010

http://www.atimes.com/atimes/Southeast_Asia/LK02Ae01.html