Secretary Clinton: "The US comes back..."
Thời gian gần đây, dư luận báo chí Trung Quốc tập trung đăng nhiều tin, bài bình luận về chiến lược “quay trở lại châu Á” của Mỹ, nội dung chính như sau:
Năm 2010, Mỹ liên tiếp cùng Hàn Quốc, Nhật Bản tổ chức các cuộc tập trận quân sự quy mô lớn, nâng cao toàn diện quan hệ đồng minh quân sự Mỹ-Nhật, Mỹ-Hàn. Về ngoại giao, Mỹ luôn tuyên bố công khai chính sách châu Á nhằm phát huy “vai trò lãnh đạo”, lần đầu tiên tham dự Hội nghị cấp cao Đông Á, đồng thời tiến hành nhiều hoạt động ngoại giao con thoi tới các nước châu Á. Về kinh tế, Mỹ tham gia “Hiệp định quan hệ đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương”, đồng thời lôi kéo, vận động Nhật Bản, Hàn Quốc và nhiều nước khác tham gia. Đến nay có thể nói, biện pháp và bố cục của Mỹ trong việc phát huy vai trò “lãnh đạo châu Á” đã cơ bản rõ ràng. Dự báo trong năm 2011, trọng điểm chiến lược toàn cầu của Mỹ sẽ là châu Á.
Thứ hai, trong gần 10 năm Mỹ tập trung cho cuộc chiến chống khủng bố và các cuộc chiến Irắc, châu Á đã xuất hiện một chu kỳ phát triển mới trong đó Trung Quốc và Ấn Độ là đại diện đã khiến cho tầm quan trọng của khu vực này vượt qua các khu vực khác trong nền kinh tế toàn cầu. Châu Á chiếm hơn ½ dân số toàn cầu, tỉ lệ tăng trưởng kinh tế năm 2010 đạt trên 8% (trừ Nhật Bản), kim ngạch thương mại hàng năm giữa Mỹ và các nền kinh tế châu Á – Thái Bình Dương đạt hơn 1.000 tỷ USD. Trong số 20 hải cảng lớn nhất thế giới, khu vực châu Á chiếm 15, và chỉ riêng Trung Quốc đã có 9. Khi Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton trình bày chính sách châu Á của Mỹ tại Hawaii đã chỉ rõ: “Phần lớn lịch sử của thế kỷ 21 sẽ được viết tại châu Á. Khu vực này sẽ xuất hiện sự tăng trưởng kinh tế mang tính thay đổi nhất, rất nhiều thành phố của châu Á sẽ trở thành trung tâm kinh tế, thương mại và văn hoá toàn cầu”.
Thứ ba, một nhân tố không thể xem nhẹ khiến Mỹ đặt trọng tâm chiến lược tại châu Á là muốn cân bằng ảnh hưởng của Trung Quốc trong khu vực. Sức ảnh hưởng của Trung Quốc được hình thành trong quá trình kinh tế phát triển cao, liên tục trong những năm vừa qua đã trở thành một mệnh đề lớn mà Mỹ phải đối mặt trong quan hệ đối ngoại. Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của một số nước như Nhật Bản, Ấn Độ, Ôxtrâylia và Hàn Quốc, trong khi đó những nước này lại là đồng minh truyền thống của Mỹ. Ngoài ra, trong gần 10 năm qua, Mỹ đã đánh mất vai trò của mình tại khu vực Đông Nam Á và Trung Quốc đã thành công trong việc lấp khoảng trống quyền lực tại khu vực này.
Thứ tư, việc Mỹ coi châu Á là trọng tâm chiến lược cũng xuất phát từ nhu cầu lợi ích quốc gia và chiến lược toàn cầu của Mỹ. Trong “Báo cáo đánh giá quốc phòng 4 năm một” và “Báo cáo chiến lược an ninh quốc gia” được công bố lần đầu tiên kể từ khi Obama lên cầm quyền, đã chỉ rõ: lợi ích quốc gia của Mỹ do 4 phương diện cấu thành là an ninh, phồn vinh, giá trị và trật tự quốc tế. Mỹ thông qua việc tìm kiếm những lợi ích này để thực hiện “phục hưng đất nước và địa vị lãnh đạo toàn cầu”. Những nhà quyết sách Mỹ cho rằng so với các khu vực khác trên thế giới, châu Á là khu vực nhiều triển vọng nhất đối với Mỹ. Nếu nói năm 2010 Mỹ bắt đầu quay trở lại châu Á, thì năm 2011 sẽ là một năm “thực thi” chiến lược quay trở lại này. Mặc dù rất ít khi sử dụng cụm từ “sức mạnh thông minh” kể từ khi Ngoại trưởng Hillary Clinton đưa ra khái niệm này năm 2009, nhưng các nhà lãnh đạo Mỹ, bao gồm cả Obama ngoài việc nhấn mạnh đến sức mạnh quân sự, kinh tế còn đề cập nhiều đến việc coi trọng quan hệ đối tác, chủ nghĩa thực dụng và tính nguyên tắc, hàm nghĩa của cách nói này với việc vận dụng “sức mạnh thông minh” đều thống nhất biện chứng, tức tranh thủ một cách khéo léo “sức mạnh mềm” và “sức mạnh cứng”, thông qua các biện pháp ngoại giao, kinh tế, quân sự, chính trị, pháp luật và văn hoá để tác động, lôi kéo nước khác vào phạm vi thế lực của mình.
Trong năm 2011, Mỹ sẽ tập trung thực hiện chiến lược châu Á trên một số phương diện sau:
Thứ nhất, cổ vũ quan hệ quân sự song phương Mỹ-Nhật, Mỹ-Hàn diễn tiến theo hướng quan hệ đa phương. Mặc dù quan hệ đồng minh quân sự Mỹ-Nhật, Mỹ-Hàn đã kéo dài hơn nửa thế kỷ, nhưng giữa Nhật Bản và Hàn Quốc do ký ức lịch sử, tâm lý cạnh tranh nên chưa thể xây dựng quan hệ hợp tác quân sự chính thức. Tháng 12/2010, sau khi Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân Mỹ Mike Mullen thăm Hàn Quốc và Nhật bản, công khai tuyên bố hy vọng Nhật Bản và Hàn Quốc mở rộng hợp tác quân sự. Từ đó, thái độ thận trọng về hợp tác quân sự giữa hai nước bắt đầu có dấu fhiệu chuyển biến. Ngày 10/2011 tại Xơun, trong cuộc hội đàm giữa Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản Kitazawa và Bộ trưởng Quốc phòng Hàn Quốc Kim Kwan-jin, hai bên đã ký kết “Hiệp định tương trợ quân sự” và đạt được nhận thức chung về việc tiếp tục xem xét ký kết “Hiệp định chia sẻ tin tức tình báo”. Dưới sự trung gian của Mỹ, đàm phán hợp tác quân sự Nhật-Hàn phải chăng sẽ phát triển thành đồng minh quân sự đa phương tại khu vực Đông Bắc Á, động thái này đang thu hút sự quan tâm đặc biệt của các nước trong khu vực.
Thứ hai, trong chiến lược châu Á của Mỹ, ý nghĩa thật sự của “quay trở lại châu Á” là chính sách của Mỹ đối với Đông Nam Á. Sau sự kiện “11/9”, Mỹ luôn coi Đông Nam Á là chiến trường thứ hai của cuộc chiến chống khủng bố, nảy sinh nhiều bất đồng với Inđônêxia – quốc gia lớn nhất khu vực. Trong một thời gian dài Mỹ từ chối các yêu cầu của ASEAN, không ký “Hiệp ước thân thiện và hợp tác”, ngay cả cựu Cố vấn an ninh quốc gia Rice hai lần không tham dự Diễn đàn an ninh khu vực (ARF). Năm 2010, sau khi một số nhà lãnh đạo Mỹ thực hiện một loạt chuyến thăm tới các quốc gia Đông Nam Á, năm 2011 Obama sẽ chính thức tham gia Hội nghị đa phương Đông Á do ASEAN đề xướng. Tháng 5/2010, trong “Báo cáo đánh giá quốc phòng 4 năm một” của Mỹ đã đưa các nước Đông Nam Á vào trong 3 đối tác quan hệ: “đồng minh chính thức”, “đối tác chiến lược” và “đối tác chiến lược có thể mong đợi”. Rõ ràng, Mỹ chuẩn bị đưa các quốc gia Đông Nam Á trở thành đồng minh hoặc đối tác chiến lược của Mỹ.
Về chính sách Đông Nam Á của Mỹ, có hai đặc điểm cần quan tâm: (1) Inđônêxia là quốc gia có dân số đông thứ 4 thế giới và lớn nhất Đông Nam Á, đồng thời cũng là quốc gia Hồi giáo lớn nhất thế giới, trong năm 2011 là nước Chủ tịch luân phiên của ASEAN. Mỹ muốn xây dựng quan hệ tốt đẹp với ASEAN thì không thể bỏ qua Inđônêxia. Tháng 11/2010, khi Obama thăm Inđônêxia đã đến thăm ngôi đền Hồi giáo lớn nhất Đông Nam Á, đồng thời tranh thủ thời gian 4 năm thời niên thiếu từng sinh sống tại Inđônêxia để gây thiện cảm với các giới tại nước này. Năm 2011, Mỹ sẽ tiếp tục cung cấp viện trợ kinh tế, quân sự cho Inđônêxia. (2) Năm 2010, Mỹ đã khởi động “Kế hoạch hành động hạ nguồn sông Mê Công” với Campuchia, Lào, Thái Lan và Việt Nam. Theo kế hoạch này, Mỹ sẽ triển khai một hạng mục trong vòng 3 năm, đó là trợ giúp 4 nước hạ nguồn sông Mê Công phát triển chiến lược hợp tác, ứng phó với ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với nguồn nước, bảo đảm lương thực và sinh kế của người dân. Dự kiến kế hoạch này sẽ được thực hiện trên thực tế trong năm 2011.
Thứ ba, Mỹ sẽ từng bước điều chỉnh chính sách đối với Ấn Độ, khuyến khích Ấn Độ phát huy vai trò lớn hơn nữa tại châu Á và toàn cầu. Tháng 5/2009, cuộc tập trận hải quân song phương Mỹ-Ấn mang tên “Malabar” đã di chuyển quân sang khu vực Tây Thái Bình Dương, đồng thời mời thêm Nhật Bản tham gia. Tháng 11/2010, khi Obama thăm Ấn Độ đã chính thức đồng ý ủng hộ Ấn Độ trở thành nước Thường trực HĐBA LHQ. Thông qua chuyến thăm này, quan hệ Mỹ-Ấn đạt được những bước đột phá mới trên các mặt quân sự, kinh tế, khoa học kỹ thuật. Cùng với trọng điểm chiến lược của Mỹ chuyển dịch sang châu Á, quan hệ song phương Mỹ-Ấn sẽ quan trọng hơn so với trước và sẽ tiếp tục được thúc đẩy trong thời gian tới. Đương nhiên, sự mật thiết của quan hệ Mỹ-Ấn có tính toán nhằm đối phó Trung Quốc và Nga tiến xuống phía Nam, nhưng về tổng thể còn xuất phát từ nhu cầu lợi ích giữa hai nước trên các mặt kinh tế, chống khủng bố, an ninh hàng hải…
Thứ tư, “Hiệp định quan hệ đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương” là một mắt xích quan trọng để Mỹ quay trở lại châu Á, xây dựng khu mậu dịch tự do châu Á-Thái Bình Dương. Mỹ muốn lấy “Hiệp định quan hệ đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương” làm đột phá khẩu, xây dựng hệ thống hợp tác châu Á-Thái Bình Dương do Mỹ chủ đạo. Hiện tại, Mỹ đã thành công trong việc thuyết phục Nhật Bản và các nước liên quan bắt đầu đàm phán hiệp thương để tham gia hiệp định này, đồng thời chính thức mời Hàn Quốc tham gia. Cho dù hiệp định này liên quan đến nhiều vấn đề lợi ích cụ thể như thuế quan, tiền tệ, kỹ thuật cao và đàm phán trong thời gian dài, phức tạp, nhưng Mỹ vẫn cố gắng thu hút sự chú ý của các quốc gia châu Á, thể hiện Mỹ là nhân tố không thể thiếu trong tiến trình nhất thể hoá khu vực này./.
Mỹ Đông Tiến
Vi Anh
Tin báo le Figaro của Pháp, được Đài RFI của Pháp điểm tin, “đặc phái viên Arnaud de La Grange mới đây lưu ý độc giả về dự án của Hoa Kỳ biến đảo Guam thành một căn cứ chiến lược quân sự với câu chủ đề rất đáng chú ý là «Những thách thức do đà vươn lên của Trung Quốc không xa lạ với dự án nâng cấp quân sự đảo Guam của Hoa Kỳ».
Guam là căn cứ chiến lược tiền đồn Á châu của Mỹ. Như đã biết thời Chiến tranh VN, đảo Guam là nơi phi cơ chiến lược của Mỹ xuất phát hàng trăm chiếc trải thảm Miền Bắc CS và mật khu CS ở Miền Nam. Khi Saigon sụp đổ hàng mấy chục ngàn người Việt được trực thăng Mỹ rước ra hạm đội 7 và chở về tạm trú tại đây, chờ làm thủ tục nhập cư và định cư ở Mỹ.
Trong Thế Chiến 2, hàng ngàn chuyến máy bay B-29 cất cánh tại đảo này để bỏ bom Nhựt, kể cả chiếc máy bay chở bom nguyên tử lần đầu tiên trên thế giới bỏ xuống hai thành phố Hiroshima và Nagasaki vào tháng 8/1945.
Bây giờ Trung Cộng trổi dậy như một thế lực bành trướng đáng gờm của Mỹ, Mỹ củng cố, tăng cường và hiện đại hóa đảo Guam. Kinh phí dự trù là hơn 10 tỷ đô la. Thời hạn hoàn tất vào năm 2014.
Về địa lý chiến lược, đảo Guam và quần đảo nhỏ Mariana chỉ cách Trung Quốc 3 giờ bay, Nhật Bản và Philippines 4 tiếng, cách Indonesia 5 giờ bay và cách Úc 6 tiếng.
Theo báo Figaro, hiện tại có 7.500 quân nhân Mỹ đang đóng tại đảo Guam. Dự trù sẽ tăng cường thêm 18.000 quân nữa với 19.000 người thuộc gia đình của họ. Có thể còn di chuyển 18,000 quân Mỹ từ đảo Okinawa (Nhật Bản) về đây nữa.
Về quân lực, sẽ xây thêm hai căn cứ quân sự. Nâng cấp và hiện đại hoá cảng Apra và các phi trường để có thể đón nhận trực thăng, phi cơ chiến đấu, chiến lược, kể cả loại máy bay không người lái Global Hawk có thể bay liên tục 30 giờ, nửa vòng trái đất.
Trước đây một chút, rất nhiều chuyển động dồn dập Mỹ trở lại Đông Nam Á, siết chặt liên minh quân sự với Đông Bắc Á. Nhiều chuyển động do Mỹ tái khẳng định thế hải thượng, củng cố sự hiện diện, và siết chặt mối liên kết với các nước trong vùng Đông Thái Bình Dương. Trong hội nghị ở New York Tổng thống Mỹ Barack Obama theo thông tấn AFP của Pháp, phát biểu: “Với tư cách là Tổng thống, tôi tuyên bố một cách rõ ràng là Hoa Kỳ có ý định đóng vai trò quan trọng tại châu Á. Hoa kỳ đã tăng cường các liên minh cũ, đẩy mạnh quan hệ với đối tác mới … như với Trung Quốc, và một lần nữa chúng tôi tham dự vào quan hệ với các tổ chức cấp vùng, trong đó có Asean».
Ngoại Trưởng Hillary Clinton tại Diễn đàn An ninh Khu vực ASEAN ở Hà nội tuyên bố “Lợi ích quốc gia của Mỹ bao hàm quyền tự do hàng hải, quyền tiếp cận các vùng biển chung của châu Á, và sự tôn trọng luật lệ quốc tế tại khu vực Biển Đông. Việc giải quyết tranh chấp lãnh thổ tại vùng biển phía Nam Trung Quốc là một "ưu tiên ngoại giao hàng đầu của Hoa Kỳ".
Trong thời gian này nhiều tàu chiến Mỹ vào biển VN, vô vịnh Cam Ranh, cùng diễn tập với Hải Quân VNCS, và Mỹ cho máy bay rước hàng tướng lãnh chỉ huy Quân đội của CS Hà nội ra thăm soái hạm của Mỹ.
Mới đây TT Obama thay đổi một loạt những người đảm trách về Trung Cộng sự vụ thân với Bắc Kinh và thay thế bằng những nhà ngoại giao và chuyên gia chuyên về Nhựt bổn sự vụ. Một dấu hiệu cho thấy Mỹ sẽ cứng rắng với Bắc Kinh, sẽ cân bằng thế lực đang lên của TC và duy trì ảnh hưởng của Mỹ tại vùng Đông Á và Đông Nam Á. Ông Jeffrey Bader, cố vấn hàng đầu về TC của Tổng thống Obama trong Hội Đồng An Ninh Quốc gia sẽ từ nhiệm và phụ tá của ông là Daniel Russel, một chuyên gia về Nhật Bản, lên thay. Thứ trưởng James Steinberg, nhân vật số hai trong bộ Ngoại giao, phụ trách các hồ sơ Trung Quốc, đã từ chức, ông William Burns, chuyên trách Trung Đông lên thay. Ông Kurt Campbell, trợ lý ngoại trưởng đặc trách Châu Á-Thái Bình Dương, một chuyên gia về Nhật Bản sẽ nổi bật lên. Đại sứ Mỹ tại Trung Quốc, Jon Huntsman, cũng sẽ rời nhiệm sở vào cuối tháng tư, để trở về nước; ông Gary Locke, một người gốc Hoa, nguyên thống đốc tiểu bang Washington, hiện là bộ trưởng thương mại sẽ thay.
Cũng mới đây Đô đốc Robert Willard, tư lệnh Mỹ tại Thái Bình Dương, điều trần hữu thệ trước Ủy ban Quân vụ Thượng viện Hoa Kỳ vào 12/04/2011, nhấn mạnh Mỹ bất chấp lời khẳng định của Bắc Kinh về "vùng đặc quyền kinh tế" thuộc quyền của Trung Quốc.
Các nước trong vùng ủng hộ sự hiện diện mạnh dạn hơn của Mỹ và tăng cường phòng thủ. Mỹ đã củng cố liên minh chặt chẽ hơn lúc nào hết với Nhựt, tăng cường bang giao với Nam Dương và phát triển hợp tác an ninh với VNCS.
Các nước mà Mỹ dồn dập đến rất cần sự hiện diện của Mỹ trong vùng vì TC càng bành trướng một cách thô bạo. 10 nước trong ASEAN trong đó có Việt Nam ủng hộ Mỹ, và đã khiến cho ngoại trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì mất bình tĩnh.
Và ngay tại nước Mỹ, vùng đất gần Á châu nhứt, năm giữa Thái bình dương, Mỹ củng cố, tân trang, hiện đại hoá căn cứ chiến lược hải lục không quân ở đảo Guam.
Qua những tin trên, không còn nghi ngờ gì nữa, Mỹ tăng cường thế lực quân sự hướng về Đông Thái bình Dương, mà lý do không có gì khác hơn là sự trổi dậy và bành trướng của Trung Cộng một đối tác đáng gờm của Mỹ./.( Vi Anh)
Tin báo le Figaro của Pháp, được Đài RFI của Pháp điểm tin, “đặc phái viên Arnaud de La Grange mới đây lưu ý độc giả về dự án của Hoa Kỳ biến đảo Guam thành một căn cứ chiến lược quân sự với câu chủ đề rất đáng chú ý là «Những thách thức do đà vươn lên của Trung Quốc không xa lạ với dự án nâng cấp quân sự đảo Guam của Hoa Kỳ».
Guam là căn cứ chiến lược tiền đồn Á châu của Mỹ. Như đã biết thời Chiến tranh VN, đảo Guam là nơi phi cơ chiến lược của Mỹ xuất phát hàng trăm chiếc trải thảm Miền Bắc CS và mật khu CS ở Miền Nam. Khi Saigon sụp đổ hàng mấy chục ngàn người Việt được trực thăng Mỹ rước ra hạm đội 7 và chở về tạm trú tại đây, chờ làm thủ tục nhập cư và định cư ở Mỹ.
Trong Thế Chiến 2, hàng ngàn chuyến máy bay B-29 cất cánh tại đảo này để bỏ bom Nhựt, kể cả chiếc máy bay chở bom nguyên tử lần đầu tiên trên thế giới bỏ xuống hai thành phố Hiroshima và Nagasaki vào tháng 8/1945.
Bây giờ Trung Cộng trổi dậy như một thế lực bành trướng đáng gờm của Mỹ, Mỹ củng cố, tăng cường và hiện đại hóa đảo Guam. Kinh phí dự trù là hơn 10 tỷ đô la. Thời hạn hoàn tất vào năm 2014.
Về địa lý chiến lược, đảo Guam và quần đảo nhỏ Mariana chỉ cách Trung Quốc 3 giờ bay, Nhật Bản và Philippines 4 tiếng, cách Indonesia 5 giờ bay và cách Úc 6 tiếng.
Theo báo Figaro, hiện tại có 7.500 quân nhân Mỹ đang đóng tại đảo Guam. Dự trù sẽ tăng cường thêm 18.000 quân nữa với 19.000 người thuộc gia đình của họ. Có thể còn di chuyển 18,000 quân Mỹ từ đảo Okinawa (Nhật Bản) về đây nữa.
Về quân lực, sẽ xây thêm hai căn cứ quân sự. Nâng cấp và hiện đại hoá cảng Apra và các phi trường để có thể đón nhận trực thăng, phi cơ chiến đấu, chiến lược, kể cả loại máy bay không người lái Global Hawk có thể bay liên tục 30 giờ, nửa vòng trái đất.
Trước đây một chút, rất nhiều chuyển động dồn dập Mỹ trở lại Đông Nam Á, siết chặt liên minh quân sự với Đông Bắc Á. Nhiều chuyển động do Mỹ tái khẳng định thế hải thượng, củng cố sự hiện diện, và siết chặt mối liên kết với các nước trong vùng Đông Thái Bình Dương. Trong hội nghị ở New York Tổng thống Mỹ Barack Obama theo thông tấn AFP của Pháp, phát biểu: “Với tư cách là Tổng thống, tôi tuyên bố một cách rõ ràng là Hoa Kỳ có ý định đóng vai trò quan trọng tại châu Á. Hoa kỳ đã tăng cường các liên minh cũ, đẩy mạnh quan hệ với đối tác mới … như với Trung Quốc, và một lần nữa chúng tôi tham dự vào quan hệ với các tổ chức cấp vùng, trong đó có Asean».
Ngoại Trưởng Hillary Clinton tại Diễn đàn An ninh Khu vực ASEAN ở Hà nội tuyên bố “Lợi ích quốc gia của Mỹ bao hàm quyền tự do hàng hải, quyền tiếp cận các vùng biển chung của châu Á, và sự tôn trọng luật lệ quốc tế tại khu vực Biển Đông. Việc giải quyết tranh chấp lãnh thổ tại vùng biển phía Nam Trung Quốc là một "ưu tiên ngoại giao hàng đầu của Hoa Kỳ".
Trong thời gian này nhiều tàu chiến Mỹ vào biển VN, vô vịnh Cam Ranh, cùng diễn tập với Hải Quân VNCS, và Mỹ cho máy bay rước hàng tướng lãnh chỉ huy Quân đội của CS Hà nội ra thăm soái hạm của Mỹ.
Mới đây TT Obama thay đổi một loạt những người đảm trách về Trung Cộng sự vụ thân với Bắc Kinh và thay thế bằng những nhà ngoại giao và chuyên gia chuyên về Nhựt bổn sự vụ. Một dấu hiệu cho thấy Mỹ sẽ cứng rắng với Bắc Kinh, sẽ cân bằng thế lực đang lên của TC và duy trì ảnh hưởng của Mỹ tại vùng Đông Á và Đông Nam Á. Ông Jeffrey Bader, cố vấn hàng đầu về TC của Tổng thống Obama trong Hội Đồng An Ninh Quốc gia sẽ từ nhiệm và phụ tá của ông là Daniel Russel, một chuyên gia về Nhật Bản, lên thay. Thứ trưởng James Steinberg, nhân vật số hai trong bộ Ngoại giao, phụ trách các hồ sơ Trung Quốc, đã từ chức, ông William Burns, chuyên trách Trung Đông lên thay. Ông Kurt Campbell, trợ lý ngoại trưởng đặc trách Châu Á-Thái Bình Dương, một chuyên gia về Nhật Bản sẽ nổi bật lên. Đại sứ Mỹ tại Trung Quốc, Jon Huntsman, cũng sẽ rời nhiệm sở vào cuối tháng tư, để trở về nước; ông Gary Locke, một người gốc Hoa, nguyên thống đốc tiểu bang Washington, hiện là bộ trưởng thương mại sẽ thay.
Cũng mới đây Đô đốc Robert Willard, tư lệnh Mỹ tại Thái Bình Dương, điều trần hữu thệ trước Ủy ban Quân vụ Thượng viện Hoa Kỳ vào 12/04/2011, nhấn mạnh Mỹ bất chấp lời khẳng định của Bắc Kinh về "vùng đặc quyền kinh tế" thuộc quyền của Trung Quốc.
Các nước trong vùng ủng hộ sự hiện diện mạnh dạn hơn của Mỹ và tăng cường phòng thủ. Mỹ đã củng cố liên minh chặt chẽ hơn lúc nào hết với Nhựt, tăng cường bang giao với Nam Dương và phát triển hợp tác an ninh với VNCS.
Các nước mà Mỹ dồn dập đến rất cần sự hiện diện của Mỹ trong vùng vì TC càng bành trướng một cách thô bạo. 10 nước trong ASEAN trong đó có Việt Nam ủng hộ Mỹ, và đã khiến cho ngoại trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì mất bình tĩnh.
Và ngay tại nước Mỹ, vùng đất gần Á châu nhứt, năm giữa Thái bình dương, Mỹ củng cố, tân trang, hiện đại hoá căn cứ chiến lược hải lục không quân ở đảo Guam.
Qua những tin trên, không còn nghi ngờ gì nữa, Mỹ tăng cường thế lực quân sự hướng về Đông Thái bình Dương, mà lý do không có gì khác hơn là sự trổi dậy và bành trướng của Trung Cộng một đối tác đáng gờm của Mỹ./.( Vi Anh)
Chương mới trong quan hệ Mỹ - Đông Nam Á
Quan hệ giữa Mỹ với Đông Nam Á đã thay đổi, có lẽ bắt đầu kể từ tháng 7 năm ngoái, trong chuyến viếng thăm của bà Hillary Clinton, Ngoại trưởng Mỹ, đến Đông Nam Á và tham dự Diễn đàn An ninh Khu vực ở Thái Lan, nơi đó bà đã tuyên bố với các nước ASEAN rằng: “Chúng tôi trở lại”.
Tuyên bố này của bà Clinton có thể sẽ đi vào lịch sử ngoại giao của nước Mỹ bởi vì đây là một tín hiệu cho thấy, rõ ràng là Mỹ đang tìm cách thách thức sự ảnh hưởng ngày càng gia tăng của Trung Quốc ở Đông Nam Á. Và tuyên bố này có lẽ cũng với mục đích đáp trả lại các mối lo ngại về sự bành trướng của Trung Quốc, có khả năng gây bất ổn lớn trong khu vực, nhất là trên Biển Đông.
Việc Ngoại trưởng Mỹ tham gia vào Diễn đàn Khu vực ASEAN kể từ năm ngoái, đã nói lên tầm quan trọng của ASEAN đối với Mỹ. Ngoài việc tham gia vào các cuộc họp quan trọng của ASEAN, trong chuyến thăm Đông Nam Á lần này, bà Clinton cũng đã ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác với các nước Đông Nam Á, đây là hiệp ước tạo cơ sở pháp lý cho quan hệ mới giữa ASEAN và Mỹ, cũng như đảo ngược chính sách của chính phủ tiền nhiệm trước đây đối với ASEAN.
Dưới thời Tổng thống George W. Bush, do Mỹ bận rộn với chủ nghĩa khủng bố, và hai cuộc chiến Iraq và Afghanistan, cho nên khu vực Đông Nam Á gần như đã bị bỏ quên. Bà Condoleezza Rice, Ngoại trưởng Mỹ dưới thời Tổng thống George W. Bush đã không quan tâm nhiều đến khu vực này. Bà Rice đã vài lần không tham gia Hội nghị thượng đỉnh ASEAN, cho nên khi bà Hillary Clinton tham dự các cuộc họp với khối ASEAN kể từ hồi năm ngoái, có ý nghĩa rất quan trọng đối với các nước Đông Nam Á.
Qua việc ký hiệp ước nói trên và tuyên bố sẽ trở lại Đông Nam Á, Mỹ muốn nhắn nhủ rằng, họ sẽ ở bên cạnh các nước ASEAN để đương đầu với các thử thách mà hai bên sẽ phải đối mặt.
Sau chuyến thăm của bà Clinton, ngày 16 tháng 11 năm ngoái, Tổng thống Obama cũng đã đến Singapore tham dự Hội nghị Các lãnh đạo (Leaders Meeting) Mỹ và ASEAN. Đây là lần đầu tiên ông Obama gặp lãnh đạo của mười nước Đông Nam Á, và hai bên cũng đã thảo luận các cam kết cụ thể của Chính phủ Mỹ dành cho khu vực này. Sự xuất hiện của Tổng thống Obama tại Hội nghị Các lãnh đạo ASEAN - Mỹ, cho thấy sự hiện diện của Mỹ ở khu vực Đông Nam Á ngày càng rõ hơn.
Tăng cường quan hệ hơn nữa
Và mới đây, trong chuyến đi của bà Clinton đến Việt Nam, để tham dự Diễn đàn Khu vực ASEAN cũng với mục đích củng cố và gia tăng mối quan hệ giữa Mỹ và các nước Đông Nam Á. Khi được hỏi về quan hệ chiến lược giữa Mỹ và ASEAN cho hiện tại và tương lai, bà Clinton cho biết như sau: “Tại Hội nghị các Bộ trưởng ASEAN năm ngoái, tôi đã thông báo Mỹ trở lại Đông Nam Á và đã cam kết sẽ làm việc với các nước ASEAN để nâng cao lợi ích và các giá trị mà chúng ta chia sẻ. Kể từ đó, chúng ta đã đạt được nhiều tiến triển và hôm nay tôi xin nhắc lại rằng Mỹ sẽ tiếp tục làm việc với từng nước thành viên ASEAN để thúc đẩy quan hệ đối tác giữa các quốc gia”.
Mỹ quyết định tăng cường hợp tác với các nước Asean có lẽ do hai bên đều được lợi trong mối quan hệ hợp tác này, ASEAN được lợi qua việc hợp tác với một siêu cường thế giới, do Mỹ có thể giúp các nước Đông Nam Á cân bằng quan hệ với Trung Quốc. Trong khi đó, Mỹ cũng được nhiều lợi thế khi tham gia với các đối tác đa dạng dưới một tổ chức như ASEAN, ở một khu vực giàu tài nguyên và có nhiều tiềm năng phát triển, cho dù vẫn còn phải đối mặt với các thách thức về kinh tế, xã hội và môi trường. Bà Clinton nói tiếp: Mỹ cam kết làm việc với các bạn để đem lại hòa bình, thịnh vượng, an ninh và cơ hội nhiều hơn cho tất cả mọi người dân ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương. “Người dân Mỹ nhận ra rằng khu vực này quan trọng đối với tất cả các nước châu Á, với Mỹ và quan trọng đối với thế giới, và chúng ta cũng biết rằng chúng ta có nhiều mục tiêu cùng chia sẻ. Chúng tôi muốn Đông Nam Á giữ vững kinh tế mạnh mẽ và độc lập. Chúng tôi tin rằng người dân Đông Nam Á được quyền hưởng hòa bình, ổn định khu vực và quyền con người, và chúng tôi sẽ làm việc với các bạn để cải thiện cơ hội kinh tế và giáo dục để thanh niên có cơ hội cạnh tranh thành công trên thị trường toàn cầu. Ngày nay, khoảng cách giữa các dân tộc và các quốc gia bị thu hẹp lại. Chúng tôi nhận thấy chúng ta đoàn kết xung quanh các mối quan tâm chung và chúng tôi thấy rằng công nghệ mới cho chúng ta nhiều cơ hội làm việc hơn trong quan hệ đối tác và hợp tác với nhau”.
Để kết thúc bài này, chúng tôi xin mượn lời cam kết của bà Clinton dành cho các nước Đông Nam Á như sau:“Mỹ cam kết làm việc với các bạn để đem lại hòa bình, thịnh vượng, an ninh và cơ hội nhiều hơn cho tất cả mọi người dân ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Để làm được điều đó, chúng tôi cần sự giúp đỡ của các bạn. Chúng tôi mong được làm việc với các bạn”.
Sau bốn thập niên rút lui, Hoa Kỳ trở lại Đông Nam Á
Lê Quế Lâm
The US Armed Forces Ready to Fire
... Cách đây 4 thập niên, ngày 8/6/1969 tại đảo Guam, TT Nixon tuyên bố rút 25 ngàn quân Mỹ khỏi Nam VN và sẽ tuần tự rút hết theo một lịch trình sắp sẳn. Và từ 1970 HK lần lượt giảm quân ở Triều Tiên, Nhật Bản, Thái Lan, Phi Luật Tân… để khởi đầu chính sách “phi-Mỹ hóa” trong học thuyết hòa bình Nixon. Đây là thông điệp đầu tiên của Mỹ bắt đầu thực hiện kế hoạch rút lui khỏi ĐNÁ. Vậy HK đã đến đây trong bối cảnh như thế nào, và lý do họ ra đi? là nội dung bài viết này.
ĐNÁ là khu vực đang phát triển, dồi dào tài nguyên có trữ lượng dầu mỏ đáng kể và còn cung cấp cho thế giới một số lớn nguyên liệu quan trọng khác nữa. ĐNÁ còn là ổ khóa để mở rộng cánh cửa đi vào lục địa châu Á trù phú với vị trí chiến lược vô cùng quan trọng. Nơi đây kiểm soát tuyến đường hàng hải quốc tế nối liền Đông Bắc Á/Thái Bình Dương với Trung Cận Đông, Châu Á và Châu Phi. Trong những năm đầu của thập niên 1940, Nhật đã tấn công vào chế độ thực dân của Châu Âu, đưa ra khẩu hiệu “Châu Á của người Á châu”. Họ thành lập khối “Thịnh Vượng Chung Đại Đông Á”, giải phóng các thuộc địa, đẩy ảnh hưởng Tây phương ra khỏi khu vực này.
Trước đó, năm 1919 Quốc tế CS đã chú ý đến phong trào giải phóng thuộc địa ở phương Đông. Lenin tin tưởng các dân tộc thuộc địa được Quốc Tế Cộng Sản (QTCS) ủng hộ sẽ đánh bại bọn đế quốc thực dân, góp phần với cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân tại các nước tư bản sẽ đưa chủ nghĩa CS đến thắng lợi hoàn toàn. Lãnh tụ cách mạng VN là ông Hồ Chí Minh đã gia nhập QTCS và thành lập Đảng CS Đông Dương năm 1930. Vì lẽ đó TT Roosevelt (Mỹ) mong muốn sau khi Thế Chiến thứ II chấm dứt, các dân tộc ĐNÁ phải được độc lập và không còn bị đô hộ bởi các cường quốc thực dân nữa. Ông đề cao vai trò các nước ĐNÁ đã cùng Đồng minh chống lại sự xâm lăng của Nhật và có ý muốn thực hiện một “Châu Á của người Á châu” được xây dựng trên tinh thần quốc gia của mỗi dân tộc.
Sau khi Nhật bại trận, HK đã áp lực các đồng minh Tây Âu trao trả độc lập cho các thuộc địa trong vùng nhằm ngăn chặn sự bành trướng của chủ nghĩa CS. Rất tiếc, tại VN cuối năm 1946 ông Hồ Chí Minh (HCM) đã phát động Toàn quốc kháng chiến. Ông không muốn thương lượng hòa bình với Pháp để tranh thủ nền độc lập cho đất nước. Ông chỉ muốn VN trở thành tên lính xung kích của Phong trào giải phóng dân tộc chống chủ nghĩa thực dân đế quốc. Đầu năm 1950, sau chiến thắng ở Hoa Lục, Mao Trạch Đông đã tích cực ủng hộ ông HCM và lực lượng Việt Minh kháng chiến chống thực dân Pháp. Do đó, Đông Dương đã diễn ra cuộc đọ sức đầu tiên giữa QTCS và Thế giới Tự do và kết thúc bằng HĐ Genève 1954: hai miền Nam Bắc VN trở thành tiền đồn của Thế Giới Tự Do (TGTD) và QTCS ở ĐNÁ. Riêng Miên, Lào là hai vương quốc trung lập.
Đối với HK, giải pháp Genève về Đông Dương là một thảm họa. Nơi đây chủ nghĩa CS đã hoàn thành một bước tiến quan trọng, có thể dẫn đến mất cả Đông Nam Á (1). Tháng 9/1954 HK triệu tập hội nghị Manila thành lập khối Liên phòng Đông Nam Á (SEATO) gồm 8 quốc gia Anh, Pháp, Mỹ, Úc, Tân Tây Lan, Hồi Quốc, Thái Lan và Phi Luật Tân. Miền Nam VN, Lào và Cam Bốt được đặt dưới sự bảo hộ của tổ chức quốc tế này. HK tin tưởng SEATO sẽ là lá chắn ngăn chận sự bành trướng của Trung Cộng (TC), bảo vệ hòa bình và an ninh ở ĐNÁ. Ngoại trưởng Dulles đã nói rõ: “Mục tiêu của Mỹ đối Đông Nam Á và Đông Dương không phải để tham chiến mà là để tránh sự tham chiến”.
Sau Hiệp Định Genève 1954, thế giới bước vào giai đoạn hòa hoãn, Liên Xô (LX) chủ trương “chung sống hòa bình” với Mỹ. Nhưng ông HCM núp dưới chiêu bài giải phóng dân tộc, phát động chiến tranh giải phóng Miền Nam VN bằng hình thức khuynh đảo và xâm nhập lén lút tạo ra cuộc chiến Đông Dương lần thứ hai, giữa HK ủng hộ VNCH và CSBV yểm trợ con bài của họ là MTGPMN. Cà LX và TC đều tận tình chi viện cho CSBV với hai chủ đích khác nhau. LX ra sức tranh thủ Hà Nội, không những để ngăn chặn ảnh hưởng của TC mà còn nhằm vào các quyền lợi kinh tế, chính trị khác nữa, đồng thời lợi dụng cuộc chiến VN để thí nghiệm chiến lược bành trướng Chủ Nghĩa Cộng Sản (CNCS) trong thời bình. Còn TC coi cuộc chiến VN là nơi tranh chấp bá quyền của hai siêu cường. Họ ủng hộ chiến tranh chống Mỹ ở MNVN là nhằm giương lá cờ bảo vệ độc lập dân tộc của các nước thế giới thứ ba. Dựa vào ưu thế của 25 triệu Hoa Kiều nắm quyền kiểm soát nền kinh tế của hầu hết các quốc gia ĐNÁ, Bắc Kinh còn lợi dụng vị trí một quốc gia láng giềng có liên hệ lịch sử và văn hóa lâu đời với các quốc gia trong vùng để tranh giành ảnh hưởng với các cường quốc khác tại đây. Vì lẽ đó, từ sau TC II, ĐNÁ là một trong những vùng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của cuộc xung đột quốc tế.
Cuối tháng 10/1966 do đề nghị của tổng thống Phi Luật Tân Ferdinand Marcos, lãnh tụ các nước Đồng minh có quân tham chiến ở Nam VN như TT Park Chung Hee của Đại Hàn, TT Kittikachorn của Thái Lan, TT Harold Holt của Úc, TT Keith Holyoak của Tân Tây Lan và TT Johnson của HK đã gặp gở giới lãnh đạo VNCH tại hội nghị Manila. Họ đưa ra sáng kiến hòa bình, chấm dứt chiến tranh bằng đề nghị quân ngoại nhập cùng rút khỏi Nam VN để nhân dân ở đây thực hiện việc hòa giải dân tộc. Hội nghị còn đề xướng kế hoạch phát triển vùng Á Châu/Thái Bình Dương với việc thành lập Ngân hàng Phát triển Á Châu (ADB). Hội nghị đưa ra hai Tuyên ngôn quan trọng về tự do, hòa bình và tiến bộ ở VN và toàn khu vực Á Châu/Thái Bình Dương với 4 mục tiêu chung: Chống xâm lược; Chiến thắng nạn nghèo đói, bệnh tật và thất học; Xây dựng khu vực an ninh và tiến bộ; Thực hiện việc hòa họp và hòa bình giữa các dân tộc trong vùng. (2)
Hưởng ứng lời kêu gọi trên và sự ra đời của Ngân hàng Phát triển Á Châu mở ra triển vọng hợp tác mới, năm nước Nam Dương, Mã Lai, Singapore, Thái Lan và Phi Luật Tân thành lập “Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á” (ASEAN) vào tháng 6/1967 với mục đích hợp tác về kinh tế, khoa học kỹ thuật, văn hóa và xã hội giữa các nước trong khu vực. Giải pháp Trung lập hóa toàn cỏi Đông Dương cũng được các nước ASEAN đề ra sau khi HK rút khỏi Đông Dương.
HK can dự vào cuộc chiến VN là nhằm áp lực Hà Nội ngồi vào bàn đàm phán giải quyết chiến tranh bằng con đường hòa bình. HK và Bắc Việt cùng hai bên miền Nam VN là VNCH và MTGP đã tham gia cuộc đàm phán ở Paris từ tháng Giêng 1969. Đến tháng Bảy 1969 HK bắt đầu rút quân khỏi Nam VN, TT Nixon đề ra kế hoạch hòa bình mà người ta thường ta thường gọi là học thuyết Nixon hay “phi -Mỹ hóa”.Theo Nixon, sau khi HK rút khỏi Nam VN, nơi đây sẽ diễn ra cuộc tranh chấp mới, không phải giữa TGTD và QTCS mà là giữa LX với TC. Do những sự kiện trên, ĐNÁ có lẽ là nơi trách nghiệm quan trọng về các nguyên tắc sống hòa bình và sự cần thiết của việc thương thuyết hợp tác thay cho chính sách đối đầu. Điều này đòi hỏi các cường quốc phải cùng nhau giải quyết các cuộc tranh chấp, cố gắng hạn chế sự dính líu về quân sự chính trị, biến ĐNÁ thành khu vực hòa bình, trung lập mà tất cả đều có cơ hội đồng đều tham gia vào thị trường quan trọng này.
Các quốc gia trong vùng cũng luôn bày tỏ lòng mong muốn hòa bình hợp tác và sẳn sàng góp phần giải quyết các vấn đề nội bộ của khu vực. Đầu năm 1971, năm nước ASEAN cùng các quốc gia Á Châu Thái bình Dương như Úc, Tân Tây Lan, Đại Hàn và Nhật Bản hợp hội nghị và ủy quyền cho Nhật, Mã Lai và Nam Dương nghiên cứu giải pháp chấm dứt chiến tranh VN, ngăn chặn không cho cuộc chiến lan rộng qua các nước khác và tìm những phương thức thích hợp để các cường quốc giảm bớt sự xung đột ở khu vực xung yếu này. Kết quả vào tháng 11/1971, năm nước ASEAN ra tuyên bố: “cùng nhau hành động để biến vùng này thành một khu vực hòa bình, tự do và trung lập” (Zone Of Peace, Freedom And Neutrality - (ZOPFAN)
Để thực kế hoạch “phi Mỹ-hóa ở Á Châu, HK chủ trương trung lập hóa toàn vùng ĐNÁ. Giải pháp này được sự tán đồng của LX và TC, vì nó làm giảm bớt hiểm họa chiến tranh giữa các cường quốc. Học thuyết Nixon áp dụng vào Châu Á, chủ trương “Châu Á của người Á châu” trong đó Nhật sẽ đóng vai trò lớn trong việc giúp đỡ các nước ĐNÁ xây dựng thành một khu vực hòa bình, tự do, trung lập và phồn vinh. Từ lâu Nhật có khuynh hướng trung lập và chỉ thành lập một lực lượng quốc phòng vừa đủ để phòng vệ mà thôi. Nhật đã đạt được một số mục tiêu mà trước đây họ đã phải chịu nhiều hi sinh trong TC II. Ngày nay nhờ sức mạnh kinh tế họ đã làm tròn nghĩa vụ bồi thường chiến tranh cho các nước trong vùng và đã xây dựng lại khu vực “Thịnh vượng chung ĐNÁ” nhưng không có tính chất rầm rộ như trước đây.
Đối với các nước trong khu vực, từ nay họ có trọng trách dàn xếp và giải quyết lấy những vụ tranh chấp trong vùng bằng con đường thương thảo hòa bình và thường xuyên tham khảo ý kiến lẫn nhau. Họ sẽ chuyển những lời phản kháng về sự can thiệp của ngoại bang cho LHQ hoặc một cơ quan thẩm quyền nào đó do các cường quốc lập ra. Các chương trình viện trợ của HK sẽ được chuyển qua Ngân hàng Thế giới và Ngân hàng phát triển Á Châu với những kế hoạch điều hợp do chính các nước trong tổ chức địa phương này soạn thảo. Trong trường họp bị bên ngoài tấn công hoặc những xung đột khu vực không được giải quyết ổn thỏa, lôi kéo một nước thứ ba can dự vào, HK sẽ dùng sức mạnh để bảo vệ, chống lại những vụ can thiệp hay hăm dọa của những cường quốc bên ngoài. HK trù liệu sẽ dùng hải lực chớ không phải bộ binh để đối phó với những nơi được xác định là có ngoại xâm. Các căn cứ cố định tại các vùng đông dân cư ở ĐNÁ sẽ không còn binh sĩ HK trú đóng, thay vào đó là hệ thống căn cứ được tập trung vào những hòn đảo ở giữa Thái bình Dương, chủ yếu trông cậy vào lực lượng di động của Đệ thất hạm đội.
Vận dụng vào VN, học thuyết Nixon thể hiện dưới danh nghĩa “VN hóa chiến tranh”. Nhưng “Việt hóa chiến tranh” lại là điểm chủ chốt của học thuyết Nixon, nó chứng minh thiện chí và quyết tâm kiến tạo hòa bình của HK. Hai mục tiêu chính của Mỹ trong việc thực hiện “VN hóa chiến tranh” là trao dần trách nhiệm cho chính phủ VNCH để HK chấm dứt nhiệm vụ kết thúc chiến tranh bằng một giải pháp chính trị công bằng. Một giải pháp không những phù hợp với lợi ích lớn nhất của dân tộc VN và các cường quốc liên hệ mà còn là mẫu mực để giải quyết các vụ tranh chấp quốc tế trong giai đoạn hòa bình hữu nghị và hợp tác giữa các nước.
Đầu năm 1972, TT Nixon đi TC và LX tìm sự kết hợp giữa ba cực lớn của thời đại để thực hiện việc chung sống hòa bình, hạn chế cuộc chạy đua vũ trang và làm giảm bớt hiểm họa chiến tranh nguyên tử. Nixon cho rằng từ khi Thế chiến II chấm dứt đến nay, các cuộc xung đột tranh giành giữa các cường quốc tiếp diễn không ngừng. Với chính sách “phi-Mỹ hóa” chủ trương không can thiệp vào nội bộ các nước khác, HK đã đi tiên phong đem lại cho thế giới một hòa ước thực sự do chính HK chủ động có LX và TC tán đồng. Theo quan điểm của TC thì tình trạng bất ổn định tại một vài khu vực trên thế giới phát xuất từ tham vọng bá quyền của hai siêu cường. Ngày nay với sự rút lui của HK, sự đe dọa của chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ không còn nữa thì “nghĩa vụ quốc tế” của khối CS yểm trợ các cuộc chiến tranh giải phóng, cũng không còn cần thiết. Nhờ đó hiểm họa của cuộc tranh chấp bá quyền sẽ giảm đi để nhường chỗ cho giai đoạn hòa bình hợp tác hai bên cùng có lợi. Để chấm dứt sự đối đầu mở ra thời kỳ mới hợp tác trong hòa bình, các cường quốc cần mở cuộc đối thoại cùng nhau giải quyết các tranh chấp khu vực. Trong tình tình thế giới có hai hệ thống xã hội chính trị đối lập, điều cần thiết để tránh chiến tranh, giữ gìn hòa bình đòi hỏi các cường quốc phải tôn trọng nguyên tắc bất can thiệp, rút lui khỏi các địa bàn tranh chấp, thừa nhận quyền tự quyết của các dân tộc để họ theo đuổi chính sách trung lập phi liên kết.
Nhờ can thiệp vào VN, khi HĐ Paris 1973 ra đời, HK đã ngăn chặn chủ nghĩa CS tràn xuống ĐNÁ. Vòng đai bao vây TC kéo dài từ Đại Hàn, Nhật Bản, Đài Loan, kéo dài xuống năm nước ASEAN -nay trở thành khu vực hòa bình, tự do, trung lập và phồn vinh. Không những thế, HK còn bắt tay với TC, cả hai cam kết “đều không mưu cầu bá quyền và đều phản đối bất cứ nước nào hay tập đoàn nào cố gắng thiết lập bá quyền đó ở khu vực châu Á”. (3) Trong tình thế đó, HK rút lui khỏi VN và ĐNÁ vào giữa thập niên 1970.
Giữa tháng 5/1975 hai tuần sau khi Hà Nội chiến thắng ở VN, bộ trưởng Ngoại giao 5 nước ASEAN trong phiên họp thường niên tại Luala Lumpur đã bày tỏ ý muốn thiết lập bang giao thân hữu với từng nước ở Đông Dương. Họ mong muốn giành được hậu thuẫn của VN để củng cố ĐNÁ trở thành khu vực hòa bình tự do và trung lập thực sự. Vùng đất chiến lược này lại được Nhật dự trù một ngân khoản 1600 triệu đô la giúp 8 nước trong vùng gồm 5 nước ASEAN và ba nước Đông Dương xây dựng khu vực Thịnh vượng chung ĐNÁ. Để thực hiện kế hoạch này, tháng 8/1977 TT Takeo Fukeda đến Kuala Lumpur tham dự hội nghị thượng đỉnh tụ các nước khối ASEAN, tại đây ông kêu gọi sự hợp tác hữu nghị giữa các nước trong vùng kể cả Miến Điện và ba nước CS ở Đông Dương. Thủ tướng Nhật hứa sẽ kinh viện thêm 5 tỷ đôla cho kế hoạch phát triển ĐNÁ thành khu vực phồn vinh. (4) Trước đó, vào ngày 20/6/1976, HK đóng cửa các căn cứ quân sự ở Thái Lan kết thúc sự có mặt của Mỹ ở đây sau 12 năm can dự. SEATO chấm dứt nhiệm vụ và giải tán ngày 30/6/1977.
Chú thích:
1- The Pentagon Papers, Published by The New York Times, Bantam Books, NY, 1971, P.15.
2- Lyndom B. Johnson, The Vantage Point: Perspectives of the Presindency, Redwood Press Ltd, London, 1972, PP. 248-249.
3- Henry Steele Commager, Documents of American History, Vol II: Since 1898, Prentice Hall, Inc, New Jersey, 1973, P. 706
Nguồn : e-mail
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét