April 26, 2012
“CĂN CƯỚC” _ Việt Nhân
Thursday, 04.26.2012, 12:00am (GMT-7)
Thursday, 04.26.2012, 12:00am (GMT-7)
Tôi vẫn có lệ mua vài củ mì vào cuối tháng tư, từ lúc những ngày mới ra tù khi hảy còn bên quê nhà, nó vừa như một vật để nhắc nhớ, vừa như một cái gì thân quen tôi tìm đến, nó là tôi của hèn kém và nó cũng là thức nuôi tôi những ngày khó của phận tù. Có lắm người bạn đi cùng phải nhăn mặt nói: -Ăn gì không ăn lại ăn khoai mì, hơn chục năm, không đủ để thù nó sao?… nhìn thấy nó là nhìn thấy những gì đen tối – Những lúc nghe bạn gắt như vậy, tôi chỉ cười cười.
Tháng tư lại về, hôm nay đã là ngày 26, hai củ mì mua hôm qua tại một
chợ Mỹ vẫn còn nằm trên bàn, tôi để đó cho ngày cuối tháng tư luộc lên
một thân một mình, tôi để dành riêng cho mỗi tôi – Tháng tư với tôi
không gì ngoài nó nói lên đầy đủ cái nghĩa của ngày tháng này, có người
cho rằng bây giờ đã là trên đất Mỹ, thì phải những gì là cao lương mới
xứng dành để tự đãi mình, với tôi thì không.
Sau ngày ra tù, những ngày tháng đầy khó khăn, với chiếc xe thồ đi giao hàng dựng bên gốc cây, ngồi bệt dưới đất tựa lưng vào tường rào vườn bông, bữa cơm trưa là củ mì tôi thấy thấm được hết cái kiếp người trong thiên đường xã nghĩa. Lúc đó trước cổng vườn Ông Thượng, tức vườn Bờ-Rô cũ của Sàigòn xưa lúc còn mang tên Pháp, có một cô gái quê gánh đôi thúng hàng một bên là chuối nấu cùng mía, một bên khoai lang khoai mì.
Sau ngày ra tù, những ngày tháng đầy khó khăn, với chiếc xe thồ đi giao hàng dựng bên gốc cây, ngồi bệt dưới đất tựa lưng vào tường rào vườn bông, bữa cơm trưa là củ mì tôi thấy thấm được hết cái kiếp người trong thiên đường xã nghĩa. Lúc đó trước cổng vườn Ông Thượng, tức vườn Bờ-Rô cũ của Sàigòn xưa lúc còn mang tên Pháp, có một cô gái quê gánh đôi thúng hàng một bên là chuối nấu cùng mía, một bên khoai lang khoai mì.
Thời của bo bo thay cơm, củ khoai củ mì là ước mơ của người dân đói
lòng mong được no. Vườn bông vắng không một bóng người, cô ngồi đó với
gánh hàng nghèo nàn như thân phận của cô lẫn khách mua, tôi một khách
quen của gánh hàng – Có những hôm mãi vội giao hàng không kịp ghé, cô
vẫn giữ lại một ít như là để phần cho một người thân, hình như thượng đế
sinh ra những người nghèo họ luôn có tấm lòng rộng mở.
-Anh ăn vậy có đủ no không, anh ăn thêm nghen –Cám ơn cô vậy đủ cho
tôi rồi –Sao anh ăn ít vậy, làm sao có sức mà đạp xe…có nước nấu sôi
mang theo xin mời anh uống –Đã bao nhiêu năm rồi cô à, tôi đã quen mỗi
bữa chỉ một lóng khoai nhỏ cùng muỗng nước muối, dạ dày hình như đã
thuần, nó không còn biết đòi thêm bao giờ, thôi cô bán hàng nghen… tôi
đi.
Trên đường đời thoảng một lúc nào đó, có những gặp gỡ đã đem đến cho
ta vị ngọt của cuộc đời, cái chân tình của câu nói, hay cái dịu dàng của
ánh mắt làm ta ấm lòng. Nó ấm tựa ánh lửa sưởi cho kẻ đơn thân mãi trên
đường đêm giá – Cô gái này chưa một lần trong câu chuyện xưng là tôi
hay em, cái tránh né làm câu nói mang cái ngập ngừng thường thấy nơi
người quê mình, vì ngượng hay vì không quen tỏ lộ tình cảm.
Người dân trong chiến tranh, cuộc đời đã quá nhiều đau thương tan
tác, rồi sau 30-04 thật không còn chữ nghĩa nào để mà diễn tả cho hết
cái cơ cực của người mình, cứ thông thường mà nghĩ thì sau chiến tranh
đương nhiên đời sống dần phải đỡ hơn, nhưng không ngờ ngày càng thêm thê
thảm, đời sống người dân bị cuốn vào cơn lốc xoáy của đói nghèo.
Người dân được nuôi sống bằng những thực phẫm mà từ ngay đời cha ông
chưa từng phải ăn, người ta nói đó là thực phẫm chăn nuôi chính phủ xin
được từ nước ngoài, người dân còn nói cùng nhau, cũng bởi nhà nước phải
trả nợ cho tiền súng đạn ngày nào, nên người dân phải gặp khó – Vậy còn
máu xương những người đã nằm xuống ai trả đây, và làm sao trả?.
Một ngày nọ không còn thấy gánh hàng trước cổng vườn Ông Thượng nữa,
cô gái quê nghèo tôi không còn gặp lại, đó là thời gian dân mình nghe
nói bắt đầu có những người ngoại chủng mua gái Việt đem về xứ họ, cô gái
nay ở đâu có ai đưa cô đi, xứ nào cô đến? – Còn tôi cũng đành phải tha
hương sau những ngày đắng cay cơ cực.
Chấp nhận ra đi vì không còn sự lựa chọn, quê hương đã không còn cho
người dân cuộc sống, chỉ đem tới những tù đầy khổ ải, nó cũng không còn
là của tôi – Nơi xứ người tháng ngày cứ dần qua, trong nỗi buồn cho thân
phận, tiếc thương cho quê hương, và trong lúc nhớ về quê nhà, tôi nhớ
những buổi trưa, chiếc xe đạp thồ, cô gái quê cùng gánh hàng nghèo.
Năm nay lần thứ nhì cũng vào thứ sáu cuối tháng tư đen, anh Nguyễn
Đức Trạch lại tụ những anh em tù ngồi lại với nhau nhớ về đất nước – Tôi
mong sẽ đến được cùng anh, để hai anh em có dịp hàn huyên. Nhớ năm rồi
vì bận chút chuyện riêng nên đến trể, bước vào đúng lúc anh đang ngâm
bài thơ của anh, bài “đêm qua tôi mơ…”, nói lên ước mơ của anh cho quê
hương.
Thực trạng quê nhà hôm nay tôi biết, ước mơ của anh tôi cũng mơ ước
tương tự, nhưng nghe anh trình bày tôi xúc động vô cùng, vết thương
trong tôi bao năm rồi vẫn chưa lành, nó luôn vỡ òa mỗi khi một ai đánh
động – Anh bước xuông bục hai anh em mừng, gặp lại sau nhiều năm xa cách
bằng một cái ôm, anh vẫn tràn đầy cái nhiệt huyết ngày nào, điều đó lộ
hẳn qua thơ của anh, cảm sao diễn đạt làm vậy, chữ nghĩa mạnh bạo, không
ngại ngay cả tiếng chửi thề.
Có những điều không phải chỉ mỗi riêng ta nghĩ đến, cũng có những
người khác cùng suy nghĩ như ta, hôm đó giữa chốn anh em tù gặp lại, một
cái bàn phía bên trái lối đi, với những cái khay khoai mì luộc, ẩm thực
nhà thơ Trạch Gầm đãi mọi người là khoai mì – Anh không e dè, ai thích
ai không, ý của anh chỉ là muốn nói lên một sự nhắc nhớ về căn cước của
những người tù – Chào anh để về vì bận không thể ở đến cuối, ngang qua
bàn tôi cầm lấy một miếng khoai, như thể xác nhận về thân phận mình, và
cũng là để nhớ về quê nhà đang đen tối.
Việt Nhân (HNPĐ)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét