Cát Tường Chuyễn Ngữ Đọc bản tiếng Anh
West Conshohocken, Pa. - Ngài Đạt Lai Lạt Ma, vị lãnh đạo tâm linh tối cao của Phật giáo Tây tạng đã được đề cử nhận lãnh giải thưởng Templeton năm 2012. Suốt cuộc đời Ngài qua rất nhiều những quá trình hành xử và ứng dụng trong nhiều ngành khoa học thực tiễn và liên hệ của ngài với muôn vàn tầng lớp nhân vật xã hội, đã đưa tiếng nói của Ngài đến tầm cỡ quan trọng toàn cầu không ai sánh bằng trên rất nhiều lãnh vực như luân thường đạo lý của vạn vật, tinh thần bất bạo động, và sự hài hoà giữa các tôn giáo trên thế giới.
Ngài Đạt Lai Lạt Ma thứ 14, tên đời là Tenzin Gyatso, năm nay 76 tuổi, thuộc truyền thống Lạt Ma tái sanh nhiều đời và truyền thừa từ những cao tăng Phật giáo tượng trưng cho tâm từ. Từ nhiều thập niên qua, Ngài đã nhiệt tâm chú ý đến sự liên hệ mật thiết giữa nghiên cứu khoa học và đạo Phật nhầm thấu hiểu và áp dụng những gì cả hai lãnh vực này có thể cống hiến cho nhân loại.
Ngài khuyến khích giới khoa học gia nên có những nghiên cứu chính xác hơn nhằm tìm hiểu tâm từ bi rộng lượng của con người để áp dụng khả năng yêu thương này vào nhiều vấn đề nan giải của xã hội. Hầu hết những loạt bài giảng dạy của Ngài đều chú trọng vào điều này, và chinh nó đã làm cho Ngài rất nổi tiếng và được mọi người nhiệt tình mến chuộng.
Những câu hỏi thường được Ngài đặt ra như "Lòng từ có từ đâu, có thể học hay thực tập yêu thương không?" là niềm khát khao và là ước vọng của Ông Công tước Anh quốc John Templeton, người đã để lại hết gia tài thành lập giải thưởng Templeton để ban thưởng những ai có lòng cầu tiến đem khoa học thực nghiệm hoà chung vào đời sống tâm linh của con người ngõ hầu đem lại lợi ích và phong phú hơn cho cuộc sống tâm linh. Giải thưởng này đã có mặt từ 40 năm qua.
Giải thưởng Templeton được công bố vào tháng hai năm nay qua hệ thống truyền thanh truyền hình, và qua mạng internet của Tổ chức Templeton tại www.templetonprize.org. Đồng thời email cũng được gởi đến các giới báo chí truyền thông truyền hình và được thông báo trên mạng Twitter tại @TempletonPrize. Tổ chức Templeton (Templeton Foundation) với trụ sở đặt tại thành phố West Conshohocken, bang Pennsylvania, Hoa Kỳ, sẽ cử hành Lễ trao giải thưởng cho Đức Đạt Lai Lạt Ma vào chiều ngày Thứ Hai, 14 tháng 5, năm 2012 tại Nhà thờ Chính toà Thánh Pao-Lô, Thủ đô Luân Đôn, Anh quốc. Một cuộc hội thảo điện đàm giữa Ngài Tân giải thưởng Templeton với giới báo chí cũng sẽ được thực hiện cùng ngày. Cả hai chương trình đều được trực tiếp truyền hình qua mạng lưới vệ tinh internet bằng webcast của hội tại www.templetonprize.org. Hình ảnh cũng sẽ được phân phối từ website này của Hội.
Được biết giải thưởng Templeton trị giá là 1.1 triệu £ (pound Anh) tức khoảng 1.7 triệu $ (đô-la Hoa kỳ) hay 1.3 triệu € (euros Âu Châu). Đây là giải thưởng tịnh tài trị giá cao nhất được ban thưởng hằng năm cho một cá nhân - phải là người còn tại thế - đã góp công rất nhiều để củng cố giá trị của đời sống tâm linh.
Giải thưởng Templeton khen ngợi những thành quả cùa Đức Đạt Lai Lạt Ma trong suốt quá trình hành đạo của Ngài trong công việc nối nhiệp cầu thân ái giữa tha nhân, củng cố niềm tin, tìm giải pháp hoà giải bằng tình yêu thương đồng loại và sự thông cảm lẫn nhau. Không những chỉ nói xuông, Ngài cũng đã sống và trở thành biểu tượng của từ bi cho tất cả mọi người. Bác Sĩ John M Templeton, Hội trưởng và chủ tịch của Giải Thưởng Templeton, và cũng là con trai trưởng của người sáng lập giải thưởng này, đã phát biểu: "Ngài Đạt Lai Lạt Ma có một tiếng nói phổ thông tràn đầy lòng từ tâm; thêm vào đó tình thương vô bờ và lòng nhân hậu của Ngài cũng như sự tôn trọng tâm linh thích đáng với nghiên cứu khoa học căn cứ trên nền tảng nhân sinh đã đưa Ngài đến giải thưởng này."
Ông cũng bổ túc thêm là lý lịch rất phi thường của Ngài trong lãnh vực trí tuệ, luân lý đạo đức, tinh thần tâm linh cao cả cũng như đời sống tôn giáo tín ngưỡng của Ngài đã được cả 9 vị giám khảo của giải thưởng Templeton thừa nhận và hoan nghênh. Chín vị này được tuyển chọn từ nhiều ngành nghề, văn hoá, truyền thống, và tôn giáo khác nhau trên thế giới. Mỗi năm có khoảng từ 15 đến 20 ứng viên được đề cử cho giải thưởng này. Mỗi hồ sơ của ứng viên đều được khảo sát xem xét rất kỹ lưỡng và riêng biệt bởi từng giám khảo; những giám khảo này cho điểm cao thấp từng hồ sơ riêng rẻ, và cuối cùng điểm được tổng kết lại để chọn người nhận giải thưởng đặc biệt này.
Khi được thông báo Ngài sẽ nhận giải thưởng Templeton, Ngài trả lời bằng sự khiêm nhường vốn dĩ luôn sẵn có nơi Ngài: "Hôm nay được biết các ông quyết định ban thưởng cho tôi giải thưởng cao quý này, tôi nhận thấy đây cũng chỉ là cách để thừa nhận việc làm vì nhân loại của tôi, áp dụng triệt để chính sách bất bạo động, nhằm đưa con người và tôn giáo của họ lại gần với nhau hơn." Quý vị có thể trưc tiếp nghe cuộc phỏng vấn này trong một video trên website của Hội tại www.templetonprize.org.
Cũng trong website này có nhiều videos ngắn về những việc làm và thành quả của Đức Đạt Lai Lạt Ma trong đó Ngài luôn kêu gọi trải rộng lòng từ bi và tình yêu thương nhân loại đến mọi người; dùng tâm từ bi hoá giải hận thù đem hoà bình đến cho muôn loài. Ngài vẫn thường nói: "ai trong chúng ta cũng có khả năng làm tăng trưởng cái cảm năng sẳn có của mình trong tình yêu thương tha nhân, đối với người thân lẫn kẻ thù." Một video cũng có dẫn chứng như thế. "Lòng từ bi đó, bao la rộng lớn, mọi người đều có, nhưng chắc hẳn phải cần được trau dồi tập tành và phát huy hơn trong chánh niệm."
Đức Giám Mục Michael Colclough, cha sứ nhà thờ chính toà Thánh Pao-lô, đã nói về Ngài như thế này: "Đức Đạt lai Lạt Ma có một tiếng nói cho hoà bình và chân thật giữa thế giới đầy tai ương. Ngài mang giá trị nồng cốt tột đỉnh được mến chuộng bởi hầu hết các tôn giáo trên thế giới. Buổi lễ trao giải thưởng Templeton được cử hành tại nhà thờ chính toà Thánh Pao-lô là niềm vinh dự cho chúng tôi, và cũng để nhắc nhớ mọi người luôn cố gắng tìm mọi phương pháp đem hoà bình và an lạc lại cho muôn loài. Đó chính là hướng đi tâm linh thực tiễn nhưng nhiều thử thách nhất cho mọi tầng lớp xã hội và tôn giào."
Chẳng lạ gì khi Hội Templeton loan báo quyết định trao giải thưởng cho Đức Đạt Lai Lạt Ma. Ngài cũng đã từng nhận giải Nobel cho Hoà Bình Thế giới vào năm 1989, qua những hành sử bất bạo động trong tiến trình tìm lại tự do cho đất nước Tây tạng. Ngài là người thứ nhì trên thế giới - sau Mẹ Teresa - đã lãnh nhận cả hai giải thưởng Nobel và Templeton đang lúc còn sinh tiền. Mẹ Teresa đoạt giải thưởng Templeton vào năm 1973, sáu năm trước khi Người được trao giải Nobel Hoà bình.
Ngài thường nói việc tinh tấn hành trì tu tập thiền định và giữ chánh niệm của người Phật tử thường cũng cần có những nhu cầu tương đương như quy tắc và điều lệ trong việc nghiên cứu, thực nghiệm và học hỏi trong khoa học vậy.
Một trong những thành quả lớn nhất của Ngài là lập ra Học Viện Tâm linh & Đời sống, do Ngài hổ trợ và thành lập vào năm 1987. Học viện này chuyên ngành nghiên cứu những liên hệ mật thiết giữa khoa học thực nghiệm và Phật giáo. Học viện thường tổ chức những hội nghị thảo luận chuyên môn về những đề tài như 'việc tu hành trong khoa học', 'xúc cảm có tính cách tàn phá, hay ngược lại cảm xúc chữa lành tật bệnh', và 'hiểu biết và ý thức về cái chết'.
Sau một thời gian đàm luận nhiều lần tại Đại học Stanford, bang California, giữa Ngài Đạt Lai Lạt Ma, và nhiều khoa học gia chuyên ngành tâm thần học, tâm lý học, y khoa, cũng như nhiều nhà thông thái và học giả chuyên môn trong ngành thiền định, Đại học Stanford đã thành lập Trung tâm Nghiên Cứu Giáo dục Tâm từ bi và Lòng vị tha ngay tại đây. Trung tâm này phát huy nổ lực nghiên cứu và học hỏi về lòng từ mẫn, tình yêu thương và thái độ vị tha thương người của nhân loại.
Thành quả của những hội nghị này đã cho xuất bản nhiều quyển sách quý giá bán chạy nhất trên thị trường, mà Đức Đạt Lai Lạt Ma là tác giả hay đồng tác giả như quyển "Mỹ thuật của Hạnh Phúc" (the Art of Happiness, 1998), "Vũ trụ trong một Hạnh nhân Nguyên tử Độc nhất" (The Universe in a Single Atom, 2005), và quyển "Ngài Đạt Lai Lạt Ma tại trường Đại học MIT" (The Dalai Lama at MIT, 2006). Ngoài ra, Ngài cũng là tác giả của hơn 70 quyển sách trên thị trường sách báo văn hoá thời hiện đại.
Từ bé Ngài đã mến mộ khoa học. Năm 2001 Ngài chủ trương chương trinh dạy khoa học cao cấp cho tăng sinh tại các tu viện Tây tạng lớn ở Ấn độ. Chương trình này gồm có những khảo cứu về mối liên hệ giữa khoa học và truyền thống tu tập của Phật giáo Tây tạng, và được rất nhiều những nhà khoa học chuyên môn Ấn độ cũng như Tây Âu hưởng ứng tham gia vào những ngành liên quan đến vật lý học, lượng tử cơ khí học, năng lượng học, vũ trụ học, sinh vật học, khoa học thần kinh, và toán lý, v.v... đều được triển khai và nghiên cứu song song với truyền thống tu tập của Phật giáo cổ truyền.
Ngài rất cởi mở thích nghi với những ý tưởng và khám phá mới về khoa học thực dụng. Vì thế nên Ngài rất được trọng vọng trên thế giới, từ các giới lãnh đạo tôn giáo, cũng như khán thính giả và môn đồ Phật tử đồng tu đều rất hâm mộ và tôn sùng Ngài.
Một nhân vật quan trọng trong Hội đồng Giám khảo cứu xét cho giải thưởng Templeton, ông Richard Davidson, người Lãnh đạo Nhóm Nghiên Cứu Cuộc Sống Tâm Linh Lành mạnh của Đại Học Wisconsin-Madison đã viết những lời tán thán Đức Đạt Lai Lạt Ma như thế này: "Hơn bất cứ một nhân vật nào trên thế giới hiện nay, Ngài Đạt Lai Lạt Ma đã và đang có công rất nhiều cho nhân loại trong việc phát huy ảnh hưởng của "tiến bộ tâm linh" đến với cuộc sống, đồng thời nhấc nhở mọi người nên tu dưỡng trau dồi sự hiểu biết khả quan hơn về những tác động tâm linh trong kinh nghiệm sống của con người.
Ghi nhận cho Ban Biên Tập :
Quý vị có thể tìm thêm tin tức chi tiết, và nhiều videos cũng như hình ảnh trong những links sau đây:
www.templetonprize.org
www.youtube.com/user/TempletonPrize/
www.flickr.com/photos/templetonprize
hoặc tại Twitter account @TempletonPrize
hoặc tại hashtags #templetonprize và #tempprize
Về Ngài Đạt Lai Lạt Ma thứ 14
Thế danh là Tenzin Gyatso. Tên lúc mới sanh là Lhamo Dhondup. Ngài ra đời ngày 6 tháng 7, năm 1935 trong một gia đình nông dân tại một làng quê Tây tạng mang tên Amdo, gần vùng Quang Hải, biên giới miên Tây của Trung quốc. Lúc mới lên hai, Ngài được công nhận là hiện thân tái sanh của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 13 vừa viên tịch vài năm trước đó. Một phái đoàn gồm nhiều cao tăng Tây tạng đã được chỉ bảo bởi những lời tiên tri, sấm trạng, và nhiều điềm lành đã dẫn họ đến căn nhà của cậu bé này, và chứng nhận cậu là hiện thân đời thứ 14 họ đang tìm kiếm. Ngài được đưa về Thủ đô Lhasa.
Từ năm lên sáu tuổi, tại khuông viên lâu đài cổ thành Norbulingka gần thủ đô Lhasa, Ngài bắt đầu một chương trinh tu học rất khắt khe gồm cả những môn đạo pháp như kinh điển, Phật pháp, cổ ngữ tiếng Phạn và Pali, cùng những môn học ngoài đời như văn chương, nghệ thuật, văn hoá Tây tạng, y học, v.v... Là một đứa trẻ rất tinh khôn sáng suốt được nuôi dạy trưởng dưỡng như một hoàng tộc, Ngài vẫn không bỏ lỡ cơ hội học hỏi tìm tòi thêm rất nhiều những thú tiêu khiển khác xung quanh toà lâu đài cổ kính. Đặc biệt nhất là ý thích đam mê khoa học của Ngài; được tặng một ống kính thiên văn, Ngài thức đêm nhìn ngắm trời sao tự học vật lý học thiên thể; với chiếc đồng hồ tặng vật của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 13 để lại, Ngài đã tỉ mỉ tháo tung nó ra và ráp lại nhiều lần tò mò tìm hiểu tại sao nó chạy được như thế.
Vào năm 1950, lúc mới 15 tuổi, Ngài được chính thức tấn phong lên ngôi vị lãnh đạo chính trị của Tây tạng. Cũng cùng thời điểm này, Trung quốc xâm lấn lãnh thổ và quyền cai trị đất nước Tây tạng làm cho nhiều người phẫn nộ bỏ nước ra đi. Năm 1951 tại Lhasa Ngài lên tiếng thương lượng với chính quyền Trung quốc. Và vào năm 1954, Ngài đích thân du hành đến Bắc Kinh đàm phán hoà bình trực tiếp với Chủ tịch Mao Trạch Đông, Tổng Bí thư Đặng Tiểu Bình, Thủ tướng Chu Ân Lai, và nhiều nhân vật chính trị khác của Trung quốc.
Vào năm 1959, qua những xáo trộn càng ngày càng gia tăng bên trong đất nước Tây tạng dưới sự cai quản thống lãnh của Trung quốc, lúc đáy Ngài mới có 23 tuổi, Ngài cùng một toán đồ đệ đã băng rừng lội suối trốn thoát khỏi gông cùm cộng sản để tạm lánh nạn bên Ân độ, sống đời lưu vong xa quê hương tại Dharamsala, miền bắc Ấn độ cho đến bây giờ.
Vào năm 1987, Ngài đưa ra Dự kiến 5-điểm Hoà Bình Hoà Giải cho Tây tạng, đồng ý để cho Trung quốc có toàn quyền trong lãnh vực quân sự, an ninh phòng thủ, và ngoại giao, miễn là Trung quốc để yên cho dân Tây tạng sinh sống, không áp lực bức chế người dân lành, và không tàn phá môi trường thờ phượng cổ kính. Bắc kinh cho đến ngày nay vẫn tiếp tục làm lơ nghị định này.
Ngoài ra vào năm 2011 Ngài tuyên bố buông bỏ cả trách nhiệm chính trị quốc phòng của Ngài trong đất nước Tây tạng hầu có thể hoà giải với Trung quốc bằng cách xoá bỏ ngôi vị lãnh đạo chính trị của Đức Đạt Lai Lạt Ma từ nhiều thế kỷ qua - từ năm 1642, Ngài Đạt Lai Lạt Ma thứ 5 đã thiết lập ngôi vị lãnh đạo cả tôn giáo tâm linh và quốc phòng cùng ở trong tay của Đức Đạt Lai Lạt Ma - để chỉ có chế độ lập hiến dân chủ, cho dù chính phủ do dân bầu ra vẫn sống lưu vong nơi xứ người.
Về Giải thưởng Templeton
Hằng năm, Templeton Foundation chọn một cá nhân sinh tiền (còn sống) để ban giải thưởng cao cả này. Người nhận giải thưởng phài có công lao lớn trong viêc khẳng định vị trí và tầm cỡ quan trọng của đời sống tâm linh, bằng những phương cách hiểu biết thông suốt hay nghiên cứu học hỏi, hay chính cá nhân người ấy áp dụng thực nghiệm đời sống tâm linh đó. Được thành lập vào năm 1972 bởi Đại gia trong lãnh vực đầu tư thị trường chứng khoán toàn cầu và là một nhà nhân đạo bậc nhất, Ngài Công Tước John Templeton của Anh quốc. Tổ chức Templeton và tặng thưởng duy nhất của Tổ chức là Giải thưởng Templeton này, luôn khuyến khích những cố gắng trong lãnh vực nhân đạo, cũng như tìm giải đáp cho một số vấn đề quan trọng trong cuộc sống liên quan đến "tại sao ta có mặt trên cõi đời này?" (hay mục đích của sự sống con người = human purpose) và sự thật cơ bản nhất của cuộc sống chúng ta đang sống (ultimate reality of life).
Giải thưởng này thường có giá trị bằng tiền mặt cao hơn cả giải Nobel Hoà Bình vì lẽ Tổ chức Templeton muốn nhấn mạnh tầm quan trọng của vấn đề tâm linh luôn có thể được đo lường và xác định thực tế hơn nhiều nổ lực quan trọng khác của nhân loại.
West Conshohocken, Pa. - Ngài Đạt Lai Lạt Ma, vị lãnh đạo tâm linh tối cao của Phật giáo Tây tạng đã được đề cử nhận lãnh giải thưởng Templeton năm 2012. Suốt cuộc đời Ngài qua rất nhiều những quá trình hành xử và ứng dụng trong nhiều ngành khoa học thực tiễn và liên hệ của ngài với muôn vàn tầng lớp nhân vật xã hội, đã đưa tiếng nói của Ngài đến tầm cỡ quan trọng toàn cầu không ai sánh bằng trên rất nhiều lãnh vực như luân thường đạo lý của vạn vật, tinh thần bất bạo động, và sự hài hoà giữa các tôn giáo trên thế giới.
Ngài Đạt Lai Lạt Ma thứ 14, tên đời là Tenzin Gyatso, năm nay 76 tuổi, thuộc truyền thống Lạt Ma tái sanh nhiều đời và truyền thừa từ những cao tăng Phật giáo tượng trưng cho tâm từ. Từ nhiều thập niên qua, Ngài đã nhiệt tâm chú ý đến sự liên hệ mật thiết giữa nghiên cứu khoa học và đạo Phật nhầm thấu hiểu và áp dụng những gì cả hai lãnh vực này có thể cống hiến cho nhân loại.
Ngài khuyến khích giới khoa học gia nên có những nghiên cứu chính xác hơn nhằm tìm hiểu tâm từ bi rộng lượng của con người để áp dụng khả năng yêu thương này vào nhiều vấn đề nan giải của xã hội. Hầu hết những loạt bài giảng dạy của Ngài đều chú trọng vào điều này, và chinh nó đã làm cho Ngài rất nổi tiếng và được mọi người nhiệt tình mến chuộng.
Những câu hỏi thường được Ngài đặt ra như "Lòng từ có từ đâu, có thể học hay thực tập yêu thương không?" là niềm khát khao và là ước vọng của Ông Công tước Anh quốc John Templeton, người đã để lại hết gia tài thành lập giải thưởng Templeton để ban thưởng những ai có lòng cầu tiến đem khoa học thực nghiệm hoà chung vào đời sống tâm linh của con người ngõ hầu đem lại lợi ích và phong phú hơn cho cuộc sống tâm linh. Giải thưởng này đã có mặt từ 40 năm qua.
Giải thưởng Templeton được công bố vào tháng hai năm nay qua hệ thống truyền thanh truyền hình, và qua mạng internet của Tổ chức Templeton tại www.templetonprize.org. Đồng thời email cũng được gởi đến các giới báo chí truyền thông truyền hình và được thông báo trên mạng Twitter tại @TempletonPrize. Tổ chức Templeton (Templeton Foundation) với trụ sở đặt tại thành phố West Conshohocken, bang Pennsylvania, Hoa Kỳ, sẽ cử hành Lễ trao giải thưởng cho Đức Đạt Lai Lạt Ma vào chiều ngày Thứ Hai, 14 tháng 5, năm 2012 tại Nhà thờ Chính toà Thánh Pao-Lô, Thủ đô Luân Đôn, Anh quốc. Một cuộc hội thảo điện đàm giữa Ngài Tân giải thưởng Templeton với giới báo chí cũng sẽ được thực hiện cùng ngày. Cả hai chương trình đều được trực tiếp truyền hình qua mạng lưới vệ tinh internet bằng webcast của hội tại www.templetonprize.org. Hình ảnh cũng sẽ được phân phối từ website này của Hội.
Được biết giải thưởng Templeton trị giá là 1.1 triệu £ (pound Anh) tức khoảng 1.7 triệu $ (đô-la Hoa kỳ) hay 1.3 triệu € (euros Âu Châu). Đây là giải thưởng tịnh tài trị giá cao nhất được ban thưởng hằng năm cho một cá nhân - phải là người còn tại thế - đã góp công rất nhiều để củng cố giá trị của đời sống tâm linh.
Giải thưởng Templeton khen ngợi những thành quả cùa Đức Đạt Lai Lạt Ma trong suốt quá trình hành đạo của Ngài trong công việc nối nhiệp cầu thân ái giữa tha nhân, củng cố niềm tin, tìm giải pháp hoà giải bằng tình yêu thương đồng loại và sự thông cảm lẫn nhau. Không những chỉ nói xuông, Ngài cũng đã sống và trở thành biểu tượng của từ bi cho tất cả mọi người. Bác Sĩ John M Templeton, Hội trưởng và chủ tịch của Giải Thưởng Templeton, và cũng là con trai trưởng của người sáng lập giải thưởng này, đã phát biểu: "Ngài Đạt Lai Lạt Ma có một tiếng nói phổ thông tràn đầy lòng từ tâm; thêm vào đó tình thương vô bờ và lòng nhân hậu của Ngài cũng như sự tôn trọng tâm linh thích đáng với nghiên cứu khoa học căn cứ trên nền tảng nhân sinh đã đưa Ngài đến giải thưởng này."
Ông cũng bổ túc thêm là lý lịch rất phi thường của Ngài trong lãnh vực trí tuệ, luân lý đạo đức, tinh thần tâm linh cao cả cũng như đời sống tôn giáo tín ngưỡng của Ngài đã được cả 9 vị giám khảo của giải thưởng Templeton thừa nhận và hoan nghênh. Chín vị này được tuyển chọn từ nhiều ngành nghề, văn hoá, truyền thống, và tôn giáo khác nhau trên thế giới. Mỗi năm có khoảng từ 15 đến 20 ứng viên được đề cử cho giải thưởng này. Mỗi hồ sơ của ứng viên đều được khảo sát xem xét rất kỹ lưỡng và riêng biệt bởi từng giám khảo; những giám khảo này cho điểm cao thấp từng hồ sơ riêng rẻ, và cuối cùng điểm được tổng kết lại để chọn người nhận giải thưởng đặc biệt này.
Khi được thông báo Ngài sẽ nhận giải thưởng Templeton, Ngài trả lời bằng sự khiêm nhường vốn dĩ luôn sẵn có nơi Ngài: "Hôm nay được biết các ông quyết định ban thưởng cho tôi giải thưởng cao quý này, tôi nhận thấy đây cũng chỉ là cách để thừa nhận việc làm vì nhân loại của tôi, áp dụng triệt để chính sách bất bạo động, nhằm đưa con người và tôn giáo của họ lại gần với nhau hơn." Quý vị có thể trưc tiếp nghe cuộc phỏng vấn này trong một video trên website của Hội tại www.templetonprize.org.
Cũng trong website này có nhiều videos ngắn về những việc làm và thành quả của Đức Đạt Lai Lạt Ma trong đó Ngài luôn kêu gọi trải rộng lòng từ bi và tình yêu thương nhân loại đến mọi người; dùng tâm từ bi hoá giải hận thù đem hoà bình đến cho muôn loài. Ngài vẫn thường nói: "ai trong chúng ta cũng có khả năng làm tăng trưởng cái cảm năng sẳn có của mình trong tình yêu thương tha nhân, đối với người thân lẫn kẻ thù." Một video cũng có dẫn chứng như thế. "Lòng từ bi đó, bao la rộng lớn, mọi người đều có, nhưng chắc hẳn phải cần được trau dồi tập tành và phát huy hơn trong chánh niệm."
Đức Giám Mục Michael Colclough, cha sứ nhà thờ chính toà Thánh Pao-lô, đã nói về Ngài như thế này: "Đức Đạt lai Lạt Ma có một tiếng nói cho hoà bình và chân thật giữa thế giới đầy tai ương. Ngài mang giá trị nồng cốt tột đỉnh được mến chuộng bởi hầu hết các tôn giáo trên thế giới. Buổi lễ trao giải thưởng Templeton được cử hành tại nhà thờ chính toà Thánh Pao-lô là niềm vinh dự cho chúng tôi, và cũng để nhắc nhớ mọi người luôn cố gắng tìm mọi phương pháp đem hoà bình và an lạc lại cho muôn loài. Đó chính là hướng đi tâm linh thực tiễn nhưng nhiều thử thách nhất cho mọi tầng lớp xã hội và tôn giào."
Chẳng lạ gì khi Hội Templeton loan báo quyết định trao giải thưởng cho Đức Đạt Lai Lạt Ma. Ngài cũng đã từng nhận giải Nobel cho Hoà Bình Thế giới vào năm 1989, qua những hành sử bất bạo động trong tiến trình tìm lại tự do cho đất nước Tây tạng. Ngài là người thứ nhì trên thế giới - sau Mẹ Teresa - đã lãnh nhận cả hai giải thưởng Nobel và Templeton đang lúc còn sinh tiền. Mẹ Teresa đoạt giải thưởng Templeton vào năm 1973, sáu năm trước khi Người được trao giải Nobel Hoà bình.
Ngài thường nói việc tinh tấn hành trì tu tập thiền định và giữ chánh niệm của người Phật tử thường cũng cần có những nhu cầu tương đương như quy tắc và điều lệ trong việc nghiên cứu, thực nghiệm và học hỏi trong khoa học vậy.
Một trong những thành quả lớn nhất của Ngài là lập ra Học Viện Tâm linh & Đời sống, do Ngài hổ trợ và thành lập vào năm 1987. Học viện này chuyên ngành nghiên cứu những liên hệ mật thiết giữa khoa học thực nghiệm và Phật giáo. Học viện thường tổ chức những hội nghị thảo luận chuyên môn về những đề tài như 'việc tu hành trong khoa học', 'xúc cảm có tính cách tàn phá, hay ngược lại cảm xúc chữa lành tật bệnh', và 'hiểu biết và ý thức về cái chết'.
Sau một thời gian đàm luận nhiều lần tại Đại học Stanford, bang California, giữa Ngài Đạt Lai Lạt Ma, và nhiều khoa học gia chuyên ngành tâm thần học, tâm lý học, y khoa, cũng như nhiều nhà thông thái và học giả chuyên môn trong ngành thiền định, Đại học Stanford đã thành lập Trung tâm Nghiên Cứu Giáo dục Tâm từ bi và Lòng vị tha ngay tại đây. Trung tâm này phát huy nổ lực nghiên cứu và học hỏi về lòng từ mẫn, tình yêu thương và thái độ vị tha thương người của nhân loại.
Thành quả của những hội nghị này đã cho xuất bản nhiều quyển sách quý giá bán chạy nhất trên thị trường, mà Đức Đạt Lai Lạt Ma là tác giả hay đồng tác giả như quyển "Mỹ thuật của Hạnh Phúc" (the Art of Happiness, 1998), "Vũ trụ trong một Hạnh nhân Nguyên tử Độc nhất" (The Universe in a Single Atom, 2005), và quyển "Ngài Đạt Lai Lạt Ma tại trường Đại học MIT" (The Dalai Lama at MIT, 2006). Ngoài ra, Ngài cũng là tác giả của hơn 70 quyển sách trên thị trường sách báo văn hoá thời hiện đại.
Từ bé Ngài đã mến mộ khoa học. Năm 2001 Ngài chủ trương chương trinh dạy khoa học cao cấp cho tăng sinh tại các tu viện Tây tạng lớn ở Ấn độ. Chương trình này gồm có những khảo cứu về mối liên hệ giữa khoa học và truyền thống tu tập của Phật giáo Tây tạng, và được rất nhiều những nhà khoa học chuyên môn Ấn độ cũng như Tây Âu hưởng ứng tham gia vào những ngành liên quan đến vật lý học, lượng tử cơ khí học, năng lượng học, vũ trụ học, sinh vật học, khoa học thần kinh, và toán lý, v.v... đều được triển khai và nghiên cứu song song với truyền thống tu tập của Phật giáo cổ truyền.
Ngài rất cởi mở thích nghi với những ý tưởng và khám phá mới về khoa học thực dụng. Vì thế nên Ngài rất được trọng vọng trên thế giới, từ các giới lãnh đạo tôn giáo, cũng như khán thính giả và môn đồ Phật tử đồng tu đều rất hâm mộ và tôn sùng Ngài.
Một nhân vật quan trọng trong Hội đồng Giám khảo cứu xét cho giải thưởng Templeton, ông Richard Davidson, người Lãnh đạo Nhóm Nghiên Cứu Cuộc Sống Tâm Linh Lành mạnh của Đại Học Wisconsin-Madison đã viết những lời tán thán Đức Đạt Lai Lạt Ma như thế này: "Hơn bất cứ một nhân vật nào trên thế giới hiện nay, Ngài Đạt Lai Lạt Ma đã và đang có công rất nhiều cho nhân loại trong việc phát huy ảnh hưởng của "tiến bộ tâm linh" đến với cuộc sống, đồng thời nhấc nhở mọi người nên tu dưỡng trau dồi sự hiểu biết khả quan hơn về những tác động tâm linh trong kinh nghiệm sống của con người.
Ghi nhận cho Ban Biên Tập :
Quý vị có thể tìm thêm tin tức chi tiết, và nhiều videos cũng như hình ảnh trong những links sau đây:
www.templetonprize.org
www.youtube.com/user/TempletonPrize/
www.flickr.com/photos/templetonprize
hoặc tại Twitter account @TempletonPrize
hoặc tại hashtags #templetonprize và #tempprize
Về Ngài Đạt Lai Lạt Ma thứ 14
Thế danh là Tenzin Gyatso. Tên lúc mới sanh là Lhamo Dhondup. Ngài ra đời ngày 6 tháng 7, năm 1935 trong một gia đình nông dân tại một làng quê Tây tạng mang tên Amdo, gần vùng Quang Hải, biên giới miên Tây của Trung quốc. Lúc mới lên hai, Ngài được công nhận là hiện thân tái sanh của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 13 vừa viên tịch vài năm trước đó. Một phái đoàn gồm nhiều cao tăng Tây tạng đã được chỉ bảo bởi những lời tiên tri, sấm trạng, và nhiều điềm lành đã dẫn họ đến căn nhà của cậu bé này, và chứng nhận cậu là hiện thân đời thứ 14 họ đang tìm kiếm. Ngài được đưa về Thủ đô Lhasa.
Từ năm lên sáu tuổi, tại khuông viên lâu đài cổ thành Norbulingka gần thủ đô Lhasa, Ngài bắt đầu một chương trinh tu học rất khắt khe gồm cả những môn đạo pháp như kinh điển, Phật pháp, cổ ngữ tiếng Phạn và Pali, cùng những môn học ngoài đời như văn chương, nghệ thuật, văn hoá Tây tạng, y học, v.v... Là một đứa trẻ rất tinh khôn sáng suốt được nuôi dạy trưởng dưỡng như một hoàng tộc, Ngài vẫn không bỏ lỡ cơ hội học hỏi tìm tòi thêm rất nhiều những thú tiêu khiển khác xung quanh toà lâu đài cổ kính. Đặc biệt nhất là ý thích đam mê khoa học của Ngài; được tặng một ống kính thiên văn, Ngài thức đêm nhìn ngắm trời sao tự học vật lý học thiên thể; với chiếc đồng hồ tặng vật của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 13 để lại, Ngài đã tỉ mỉ tháo tung nó ra và ráp lại nhiều lần tò mò tìm hiểu tại sao nó chạy được như thế.
Vào năm 1950, lúc mới 15 tuổi, Ngài được chính thức tấn phong lên ngôi vị lãnh đạo chính trị của Tây tạng. Cũng cùng thời điểm này, Trung quốc xâm lấn lãnh thổ và quyền cai trị đất nước Tây tạng làm cho nhiều người phẫn nộ bỏ nước ra đi. Năm 1951 tại Lhasa Ngài lên tiếng thương lượng với chính quyền Trung quốc. Và vào năm 1954, Ngài đích thân du hành đến Bắc Kinh đàm phán hoà bình trực tiếp với Chủ tịch Mao Trạch Đông, Tổng Bí thư Đặng Tiểu Bình, Thủ tướng Chu Ân Lai, và nhiều nhân vật chính trị khác của Trung quốc.
Vào năm 1959, qua những xáo trộn càng ngày càng gia tăng bên trong đất nước Tây tạng dưới sự cai quản thống lãnh của Trung quốc, lúc đáy Ngài mới có 23 tuổi, Ngài cùng một toán đồ đệ đã băng rừng lội suối trốn thoát khỏi gông cùm cộng sản để tạm lánh nạn bên Ân độ, sống đời lưu vong xa quê hương tại Dharamsala, miền bắc Ấn độ cho đến bây giờ.
Vào năm 1987, Ngài đưa ra Dự kiến 5-điểm Hoà Bình Hoà Giải cho Tây tạng, đồng ý để cho Trung quốc có toàn quyền trong lãnh vực quân sự, an ninh phòng thủ, và ngoại giao, miễn là Trung quốc để yên cho dân Tây tạng sinh sống, không áp lực bức chế người dân lành, và không tàn phá môi trường thờ phượng cổ kính. Bắc kinh cho đến ngày nay vẫn tiếp tục làm lơ nghị định này.
Ngoài ra vào năm 2011 Ngài tuyên bố buông bỏ cả trách nhiệm chính trị quốc phòng của Ngài trong đất nước Tây tạng hầu có thể hoà giải với Trung quốc bằng cách xoá bỏ ngôi vị lãnh đạo chính trị của Đức Đạt Lai Lạt Ma từ nhiều thế kỷ qua - từ năm 1642, Ngài Đạt Lai Lạt Ma thứ 5 đã thiết lập ngôi vị lãnh đạo cả tôn giáo tâm linh và quốc phòng cùng ở trong tay của Đức Đạt Lai Lạt Ma - để chỉ có chế độ lập hiến dân chủ, cho dù chính phủ do dân bầu ra vẫn sống lưu vong nơi xứ người.
Về Giải thưởng Templeton
Hằng năm, Templeton Foundation chọn một cá nhân sinh tiền (còn sống) để ban giải thưởng cao cả này. Người nhận giải thưởng phài có công lao lớn trong viêc khẳng định vị trí và tầm cỡ quan trọng của đời sống tâm linh, bằng những phương cách hiểu biết thông suốt hay nghiên cứu học hỏi, hay chính cá nhân người ấy áp dụng thực nghiệm đời sống tâm linh đó. Được thành lập vào năm 1972 bởi Đại gia trong lãnh vực đầu tư thị trường chứng khoán toàn cầu và là một nhà nhân đạo bậc nhất, Ngài Công Tước John Templeton của Anh quốc. Tổ chức Templeton và tặng thưởng duy nhất của Tổ chức là Giải thưởng Templeton này, luôn khuyến khích những cố gắng trong lãnh vực nhân đạo, cũng như tìm giải đáp cho một số vấn đề quan trọng trong cuộc sống liên quan đến "tại sao ta có mặt trên cõi đời này?" (hay mục đích của sự sống con người = human purpose) và sự thật cơ bản nhất của cuộc sống chúng ta đang sống (ultimate reality of life).
Giải thưởng này thường có giá trị bằng tiền mặt cao hơn cả giải Nobel Hoà Bình vì lẽ Tổ chức Templeton muốn nhấn mạnh tầm quan trọng của vấn đề tâm linh luôn có thể được đo lường và xác định thực tế hơn nhiều nổ lực quan trọng khác của nhân loại.
** ** **
Hôm nay, Thứ hai, ngày 14 tháng 5, năm 2012 - Lễ trao giải thưởng Templeton chính thức được cử hành tại Nhà thờ Chính toà Thánh Pao-lô tại Luân Đôn, Anh Quốc, lúc 1 giờ trưa giờ địa phương. Sứ giả nhận lãnh Giải thưởng Templeton năm 2012 không ai khác hơn là vị Cha lành của Phật giáo Tây tạng - Ngài Đạt Lai Lạt Ma thứ 14. Trước đó từ 10 giờ đến 11 giờ sáng Ngài cũng sẽ có buổi họp báo với giới truyền thông báo chí cũng tại địa điểm nhà thờ Thánh Pao-lô, Anh Quốc.
Buổi họp báo và Lễ trao giải thưởng đều được truyền hình trực tiếp bằng vệ tinh webcast trên toàn thế giới. Giờ webcast của buổi họp báo tại trú xứ của người viết này là 4 giờ sáng (CST - Chicago time), và Lễ trao giải thưởng lúc 7 giờ sáng (CST). Cố gắng đi ngủ sớm tối hôm trước, và để hai cái đồng hồ báo thức để đừng ngủ quên lỡ mất cơ hội ngàn vàng này, tôi đã dạy sớm, log on để xem live broadcast từ Luân Đôn.
Http://www.templetonprize.org
Ngày: Thứ hai 14 tháng Năm
Press Meeting: 10-11am BST = 5am EST New York = 4am CST Chicago = 2am PST California = 4pm Vietnam = 2:30pm India.
Templeton Prize Ceremony: 1pm BST = 8am EST New York = 7am CST Chicago = 5am PST California = 7pm Vietnam = 5:30pm India.
Cát Tường (The Buddhist Translation Group)
http://www.nhomphiendich.org/index.p...news&Itemid=50
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét