Thứ Sáu, 25 tháng 12, 2009

Hiện đại hóa quân đội không đơn giản



Việt Nam đang tổ chức kỷ niệm 65 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944 – 22/12/2009). Vào dịp này, vấn đề hiện hóa quân đội Việt Nam đã trở thành một chủ đề được cả dư luận trong và ngoài nước quan tâm.

Photo courtesy Wikipedia
Chiến đấu cơ Su-30MK2 và tàu ngầm "Kilo" 636 của Nga.


Phần âm thanh
Tải xuống âm thanh
Email bản tin này

Không thể không đầu tư cho quốc phòng


Tại Việt Nam, hiện đại hóa quân đội là vấn đề đã được đặt ra từ hàng chục năm nay song vấn đề này chỉ xuất hiện như một đề nghị và ngừng ở đó. Những tin tức liên quan đến việc hiện đại hóa quân đội không được công khai hóa.

Trên thực tế có nhiều biểu hiện cho thấy năng lực của cả không quân lẫn hải quân Việt Nam đều rất yếu.

Trong nhiều năm qua, năm nào cũng có vài vụ tai nạn xảy ra với máy bay quân sự, khi phi công Việt Nam đang tập luyện. Theo báo chí Việt Nam, riêng trong năm nay, ít nhất đã có hai vụ tai nạn liên quan đến máy bay quân sự.

Vụ thứ nhất xảy ra hôm 9 tháng 6.

Hôm đó, trong khi đang thực hiện bài bay huấn luyện, một chiếc SU-22 đã lao xuống xã Cẩm Phú, huyện Cẩm Thủy, cách thành phố Thanh Hóa khoảng 60 cây số khiến một đại úy phi công thiệt mạng. Vụ thứ hai diễn ra hồi tháng trước. Ngày 22 tháng 11, trong một đợt huấn luyện, một chiếc MIG-21 đã lao xuống khu vực phường Yên Ninh, thành phố Yên Bái khiến một thượng tá là Trung đoàn trưởng Trung đoàn Không quân 31 và một thượng úy cùng tử nạn.

Đối với hải quân, tuy Việt Nam có khoảng 3.000 cây số bờ biển song giới nghiên cứu quốc phòng cho biết, tàu chiến Việt Nam vừa thiếu, vừa cũ kỹ. Đây cũng là lý do khiến nhiều ngư dân cũng như thân nhân của họ cùng than, như vợ của thuyền trưởng một tàu đánh cá, ngụ ở Đà Nẵng: “Ở ngoài biển phần ai nấy biết chứ có ai bảo vệ mô. Bảo vệ là hồi bão tố, biên phòng ở trong bờ điện ra nhắc chừng, bảo là đài báo bão, bảo phải cập bến thì họ kêu gọi mình vô bờ thôi chứ ngoài đó làm chi có ai bảo vệ. Làm ăn ngoài biển mạnh anh mô lo anh nấy. Lo làm ăn thế thôi chứ không có ai bảo vệ hết!”


Đối với hải quân, tuy Việt Nam có khoảng 3.000 cây số bờ biển song giới nghiên cứu quốc phòng cho biết, tàu chiến Việt Nam vừa thiếu, vừa cũ kỹ.

Mãi đến gần đây, hiện đại hóa quân đội nói chung và hiện đại hóa hải quân nói riêng mới được Quốc hội, các viên chức lãnh đạo nhà nước, chính quyền, cũng như quân đội loan báo rộng rãi. Đặc biệt là trong một vài tuần qua, Việt Nam liên tục chứng minh mình đang nỗ lực biến mong muốn hiện đại hoá quân đội thành hiện thực.

Mua đủ thứ, ở khắp nơi

Hồi giữa tháng này, ông Nguyễn Tấn Dũng-Thủ tướng Việt Nam, đến Nga rồi xác nhận với báo giới Nga rằng Việt Nam đã ký các hợp đồng mua tàu ngầm, máy bay và các trang thiết bị quốc phòng khác của Nga. Báo chí Nga tiết lộ thêm, Nga sẽ chế tạo cho Việt Nam 6 tàu ngầm hạng Kilo, sẽ giao cho Việt Nam 8 chiến đấu cơ loại SU-30MK2 và Việt Nam dự định mua thêm 12 chiến đấu cơ loại này, cùng với một lượng lớn trực thăng MI-17,...

Đúng thời điểm đó, truyền thông Nga loan báo thêm, một xưởng đóng tàu ở Tatarstan tiết lộ vừa hoàn tất việc đóng một tuần dương hạm loại Gepart-3.9 cho Việt Nam và đang thực hiện tuần dương hạm thứ hai.

Cũng vào giữa tháng 12, tướng Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam đến Hoa Kỳ. Tướng Thanh cho biết ông đã đề nghị Hoa Kỳ dỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam. Sau đó, Hoa Kỳ loan báo đang cân nhắc việc bán cho Việt Nam các phương tiện quân sự không sát thương như hệ thống radar hay máy bay tuần tra. Trong tương lai, có thể Hoa Kỳ sẽ hỗ trợ Việt Nam rà gỡ bom mìn, tham gia các lĩnh vực gìn giữ hoà bình, tìm kiếm cứu nạn, hỗ trợ nhân đạo, cứu trợ thiên tai.

Ngay sau khi rời Hoa Kỳ, tướng Phùng Quang Thanh tới Pháp, chính thức bày tỏ mong muốn mua từ Pháp các loại máy bay vận tải và trực thăng, đề nghị hỗ trợ huấn luyện quân y, hợp tác quốc phòng song phương.

Đó là chưa kể, ở thời điểm giữa tháng 12 còn có sự kiện tướng Nguyễn Huy Hiệu-Thứ trưởng Quốc phòng Việt Nam, đi thăm Hàn Quốc để phát triển quan hệ đối tác chiến lược. Tại Hàn Quốc, tướng Hiệu đã đến thăm một tập đoàn đóng tàu, một tập đoàn thiết bị quốc phòng, chuyên sản xuất các hệ thống điện tử chính xác cho hỏa tiễn, radar,...

Hiện đại hóa không đơn giản

Tuy những hoạt động ngoại giao liên quan đến việc hiện đại hóa quân đội diễn ra trong vài tuần qua, gieo hy vọng cho nhiều người Việt ở trong nước về viễn cảnh năng lực quốc phòng của Việt Nam sẽ tốt hơn trước, song hình như những hoạt động đó đang gây lo ngại cho một số quốc gia ở khu vực Đông Nam Á.

Cách nay vài ngày, tờ Bangkok Post của Thái Lan cho biết, các quốc gia ở khu vực này đang theo dõi kế hoạch hiện đại hóa quân đội của Việt Nam một cách chặt chẽ, bởi điều đó sẽ mang lại “các hậu quả khôn lường, phần lớn không có gì tích cực”. Bangkok Post khuyên Việt Nam nên suy nghĩ lại về kế hoạch mà tờ báo này cho là “tái khởi động cuộc chạy đua vũ trang ở khu vực ASEAN”. Thậm chí Bangkok Post còn khuyến cáo Tổng thư ký đương nhiệm của ASEAN nên trực tiếp thảo luận với Việt Nam về việc tăng cường vũ trang nghiêm trọng đó.

Thế còn các chuyên gia quốc tế đánh giá kế hoạch hiện đại hóa quân đội của Việt Nam thế nào? Trả lời Ban Việt ngữ Đài Á châu Tự do, ông Carl Thayer, giáo sư Học viện Quốc phòng Hoàng gia Úc, chuyên nghiên cứu về Việt Nam, nhận định: “ Kể từ sau khi Liên bang Xô viết sụp đổ hồi năm 1991, quân đội Việt Nam đã có sự suy yếu đáng kể vì họ không thể tự bảo dưỡng những loại vũ khí và thiết bị quân sự trị giá hàng tỷ đô la của Liên Xô. Đây là lý do họ phải thay đổi.”

Các quốc gia ở khu vực này đang theo dõi kế hoạch hiện đại hóa quân đội của Việt Nam một cách chặt chẽ, bởi điều đó sẽ mang lại “các hậu quả khôn lường, phần lớn không có gì tích cực”.

Bangkok Post

Ông Ernest Bower, Giám đốc Chương trình Đông Nam Á của Trung tâm Nghiên cứu chiến lược và Quốc tế của Hoa Kỳ thì cho rằng: “Việc quân đội Việt Nam hiện đại hóa là nhằm duy trì khả năng để bảo vệ quyền lợi của mình. Giúp họ ngang tầm với các quốc gia khác trong khu vực Đông Nam Á và châu Á nói chung, bao gồm cả Trung Quốc.”

Tuy nhiên, cả ông Carl Thayer và ông Ernest Bower cùng tin rằng kế hoạch hiện đại hóa quân đội của Việt Nam có khá nhiều rủi ro mà rủi ro đầu tiên là chi phí quá lớn. Ngoài chi phí để mua, còn phải có tiền để chi cho huấn luyện và đầu tư hạ tầng phục vụ việc sử dụng chúng. Rủi ro thứ hai là khi mua nhiều loại vũ khí, thiết bị quân sự khác nhau của nhiều quốc gia, cả việc bảo dưỡng lẫn phối hợp sử dụng sẽ hết sức phức tạp, tốn kém. Chưa kể Việt Nam có thể sẽ bị cuốn vào vòng xoáy của một cuộc chạy đua vũ trang trong khu vực.

Ông Bower dự đoán: “Tôi nghĩ thách thức mà các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á đối mặt là giữ cho quân đội của họ hiện đại nhưng nó đắt đỏ. Đó là một thách thức về tài chính. Tiếp đến là việc giữ cân bằng với Trung Quốc và các quốc gia khác trong khu vực, nên các quốc gia không chỉ hiện đại hóa mà còn sẽ có những hợp tác chặt chẽ hơn về quân sự. Chúng ta sẽ nhìn thấy điều này qua cuộc họp bộ trưởng quốc phòng được tổ chức ở Hà Nội vào năm tới.”

Mới đây, trong diễn văn đọc vào sáng 21 tháng 12, tại lễ kỷ niệm 65 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và 20 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân, ông Nguyễn Minh Triết-Chủ tịch Nhà nước Việt Nam, tiếp tục yêu cầu quân đội phải nhanh chóng phát triển công nghiệp quốc phòng, nâng cấp cơ sở vật chất, thiết bị kỹ thuật.

Tuy nhiên cho đến nay, giải thích về nhu cầu hiện đại hóa quân đội, cả giới lãnh đạo chính quyền cũng như quân đội chỉ nhấn mạnh mục tiêu chính yếu, đó là “làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch chống phá cách mạng nước ta”.

Trân Văn, phóng viên FRA 2009-12-23

Thứ Ba, 15 tháng 12, 2009

Người Việt tỵ nạn trước nghịch cảnh con dâu, con rể là... Du sinh.

Sau vụ anh du sinh Phương Hồ bị cảnh sát San Jose CA đánh đập được ghi lại trong một điện thoại cầm tay, câu chuyện trở nên gay cấn và ồn ào. Sự thực, những chuyện nầy xảy ra dài dài trên nước Mỹ, nhưng vì không được thu vào ống kính mà thôi. Vì người xem chỉ được thấy những “show“ trên TV cảnh sát Mỹ rượt đuổi bọn du côn lái xe bạt mạng trên đường phố, và họ đối xử với bọn du côn nầy qúa tốt, qúa lịch sự. Đôi khi người xem muốn la lên:“Cảnh sát sao mà ngu thế? Tại sao không bắn quách đi cho nó chết, đỡ gây thêm những cái chết khác cho người vô tội?“. Nhưng người ta không thấy những cảnh không được thu vào ống kính, nên chuyện anh du sinh Phương Hồ ồn ào vì ống kính mà ra. Phần phụ họa là các ông chống cộng bên San Jose. Nhưng rất may, nhờ những người có cái nhìn xa hơn mấy ông chống Cộng dỗm, nên dần đà, bớt ồn ào như lúc ban đầu. Thôi thì chuyện du sinh Việt Nam bị đánh bên San Jose để cho chính quyền du đảng VC lo là vừa. Nhưng vì câu chuyện du sinh Phương Hồ nên tôi mới tìm đến một cô du sinh để tìm hiểu. Qủa thực tôi rất hài lòng với cô du sinh được tiếp xúc nên mới nghĩ ra đề tài “Con dâu và con rể...du sinh“ của bài viết nầy.

Trước năm 1975, người miền Nam thường gọi những ai đi học nước ngoài là Sinh viên du học hay Du học sinh. Lý do dưới hai nền Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa, vấn đề du học không phải dễ. Ngoài con ông lớn hay lớn vừa vừa chưa chắc đã được, hoặc thành phần con nhà giàu có. Giàu cũng phải giàu thiệt, không phải là lọai giàu “dổm“. Ngoài điều kiện giàu còn phải quen biết lớn. Giàu nhưng không quen lớn cũng khó có vé máy bay xuất ngoại du học. Thành phần thứ ba là những sinh viên học giỏi, xuất sắc. Người viết bài nầy có một người bạn gốc Tam Tòa, Quảng Bình di cư vào ở Đà Nẵng. Anh học rất giỏi. Thi đâu đậu đó, chường trình Pháp cũng như Việt, anh đều đổ hạng tối ưu. Nhưng mộng ước của anh đi du học nước ngoài không bao giờ thành vì nhà anh nghèo. Anh đành chọn một ngành để sinh sống nuôi gia đình nhanh: vào Đại học sư phạm. Sau năm 1975, theo tôi biết, anh vượt biên tìm tự do nhưng đã chết trên biển Đông. Vợ con anh còn sống và đang cư ngụ tại Hoa Kỳ. Thành phần du học sau cùng khá đông, đó là con một số ông to bà lớn, xuất ngoại để ăn chơi. Học hành thì trò không ra trò, thầy chẳng phải thầy, cuối cùng như cụ Cao Bá Quát nói: “Nửa người, nửa ngợm, nửa đười ươi“.



Tôi còn nhớ ngày mẹ của phu nhân Tổng Thống Thiệu mất tại Mỹ Tho, tôi được cử tới ngồi lẫn lộn vào mái che bên tay trái ngay khi bước vào cổng chính của Biệt thự trên đường Nguyễn Trung Long để quan sát theo dõi có ai lạ mặt vào, kịp thời ngăn chận những chuyện bất trắc xảy ra. Đó là an ninh gần, khá thoải mái. Nhưng những thằng an ninh xa mới là khổ, đứng suốt ngày ngoài đường cách đó mấy trăm thước, nắng chang chang. Tôi được trang phục bộ áo quần dân sự và một khẩu súng lục ngắn nòng .38 nhét trong lưng quần. Dưới mái che nầy có bình nước trà uống mệt nghỉ. Các con cháu thân thích của tổng thống ở ngoại quốc đều về tham dự. Trong đám nầy có rất nhiều công nương qúy tử du học thuộc gia đình bà con tổng thống. Thôi thì các ông bà trời con đấu láo như ong vỡ tổ. Cô kia khoe sau khi trở lại Mỹ sẽ đi chơi mùa hè tại Thụy Sĩ, cậu khác “nổ“ mùa đông tới đi trượt tuyết ở Vancouver Canada; mấy cậu ấm công nương khác thì kể chuyện sinh sống và enjoy nước nầy nước nọ... tôi nghe mà thấy thương cho thân phận mình. Chúng tôi cùng lứa tuổi như họ, sao mình lại vất vả khốn khổ như thế nầy.

Ngoài những thành phần đi du học như vậy, có lấy được MA, BA hay Ph.D, về nước muốn làm lớn cũng phải có người biết dàn xếp mới mong có chức vụ khá. Đó là thành phần nhà nghèo nhưng học giỏi . Còn thành phần dốt nhưng gốc bự, chỉ cần có cái BA là ghê gớm rồi, chức tước đã có sẵn cho các trời con.

Nhưng sau năm 1975, Mỹ bang giao với chế độ Hà Nội, người đi du học tấp nập như tín đồ đi chùa Hương. Nhất là sau khi ông Đại sứ Mỹ tuyên bố 20 năm nữa, nước Việt Nam sẽ được lãnh đạo và điều hành bởi giới trẻ Việt Nam du học trở về. Chuyện đi du học không còn là vấn đề học hỏi để lấy những bằng cấp cao của nước Mỹ, nhưng là cơ hội cho giới đại gia giúp con đi du hí, cho con cháu giới cầm quyền chuẩn bị sau khi về nước ăn trên ngồi trước. Ngày trước đám nầy thường đi du học tại Liên Xô, Trung Quốc hay một vài nước ở Đông Âu. Bây giờ những nước đó chúng coi là hạng bét. Chúng nói rằng cứ nhìn những thằng du khách Liên Xô và Trung Quốc sang Việt Nam thì biết nước đó học hành như thế nào. Vừa dốt, vừa ngu, vừa bần tiện, keo kiệt lại vừa dơ, đến mấy em đánh giấy, mấy chị bán hàng rong còn chê, làm sao ai dám qua nước nó du học? Bây giờ đi du học phải là Mỹ, Anh. Xuống cấp hạng nhì thì có Đức, Pháp, Ý, Bỉ, Nhật ... Hạng chót thì có Mã Lai, Nam Dương, Thái Lan, Ấn Độ..

Thành phần du học khỏi nói. Không chỉ sinh viên sau khi đổ tú tài hai, nhưng lớp 7, lớp 8 hoặc lớp 9 lớp 10 cũng đi... du học. Ngoài ra đám trẻ đang mang tả vẫn đi du học được. Qua Mỹ, chưa học được chữ nào nhưng có sẵn nhà lớn, xe đưa đón, người giúp việc ...Học bổng học bay cũng khỏi lo, tiền bạc đã được chuyển đi một cách khoa học và hợp pháp, kín đáo. Mỹ biết nhưng chúng nó cũng phe lờ. Tiền Dollars trả về nước Mỹ thì cũng giống “cái gì của Cedar, phải trả về cho Cedar“ thôi.

Có thể chưa có một quốc gia nào đi du học nhanh, nhiều và tạp pí lù như nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Cho nên cái chữ “Du sinh“ VC dùng rất đúng nghĩa. Sinh viên học sinh không những đi du học mà còn đi du lịch cũng được. Các cô đang mang bầu, qua Mỹ vừa du học, vừa du lịch, vừa du “sinh“ ra một thằng oắt con Mỹ gốc Việt, sau nầy bảo lãnh ông bà cha mẹ qua Mỹ cũng tiện. Có những cô lấy cớ sang Mỹ đi học, học chưa được chữ nào, giao “du“ với Mỹ thiệt “sinh“ ra thằng Mỹ lai, cũng xem là du sinh. Tất cả VC ghép cho hai chữ Du sinh hay không ai bằng.

Du sinh du học ào ào như vậy cũng là chuyện dễ hiểu. Các Đại học ở Việt Nam bây giờ trở thành những “Học đại“. Trường “học đại“ nay trở thành trường dạy cho các “quan chức“ lớn như Dân biểu, Nghị sĩ, Tổng, bộ trưởng, Chủ tịch, Giám đốc, tướng lãnh... để lấy bằng tiến sĩ hay phó tiến sĩ. Hầu hết những ông lớn đang nắm giữ chức vụ quan trọng trong nước toàn xuất thân từ trường thọc huyết heo, mổ bò, chăn trâu...bây giờ cần phải có cái bằng tiến sĩ, phó tiến sĩ để dễ ghi vào tiểu sử, nếu không bọn trẻ sẽ cười chết. Một anh bạn du sinh kể lại rằng: Có một vị tổng giám đốc đến trường “Học đại“ ghi danh. Cô thư ký hỏi ông muốn ghi vào ban nào, ông gãi đầu suy nghĩ hồi lâu. Cuối cùng ông trả lời: Cháu cho bác ghi vào ban nào cũng được, bác đủ sức mà. Nhưng cháu đừng cho bác ghi vào ban công (terrace), bác đã lớn tuổi, đứng ở đây gió và nắng lắm, sợ bác không đứng lâu được“.

Bây giờ trở lại chuyện những gia đình chống Cộng không nương tay, họ phải giải quyết làm sao khi con mình rơi vào tình huống lỡ yêu một nữ hay nam du sinh?

Nếu chúng ta nói tất cả những du sinh đều là con cháu Việt cộng thì cũng oan cho các em. Phải thành thật nói rằng, con cái Việt cộng, nhất là Việt cộng lớn như con ông thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Võ Nguyên Giáp, Nông Đức Mạnh... không nhiều lắm. Cứ xem như một vài chục mạng là nhiều. Những đứa nầy, dĩ nhiên khó lòng mà gặp hay chơi với con tỵ nạn. Nếu có chăng, cha ông chúng cũng chỉ dạy, sang bên đó tìm mấy con cái đại gia, mất gốc quốc gia càng tốt, để chơi. Nhưng hầu hết ở Mỹ đa số là dân tỵ nạn. Có tỵ nạn mới sinh ra đại gia. Có đại gia mới lòi ra bọn làm ăn với Việt cộng. Khi đã làm ăn với VC mới đẻ ra đám “ăn cơm quốc gia thờ ma Cộng sản“. Đám nầy hóa thân ra tay sai rồi chẳng mấy hồi biến thành nằm vùng. Do đó, từ một người tỵ nạn hiền lành biến thành một anh VC nằm vùng không dễ dàng và nhanh chóng, mà phải trải qua một chu kỳ khá dài được “tôi luyện“ bằng tiền bạc, hứa hẹn và chức tước. Nó không dễ dàng thành VC hay nằm vùng như các vị trong cộng đồng chụp mũ đâu. Khởi đầu là từ người tỵ nạn. Thành phần qua sau cũng đóng góp khá nhiều. Nói một ví dụ: từ năm 1975 đến 1985, người Việt hải ngoại (di cư) chưa ai biết dùng từ Việt cộng như nhà khách, phần cứng, phần mềm, phó tiến sĩ, phi khẩu, phục hồi nhân phẩm, quán triệt, tham quan, quy hoạch, sơ tán, sự cố, tham quan, trị phần, thư giãn, tiên tiến, năng nổ, nắm bắt, tổ lái, triển khai, ùn tắc, xe con, xe khách, chơi nhanh, xử lý.... Nhưng sau khi các chương trình H.O. ODP, con lai, du học, du lịch bắt đầu, họ đã mang qua Mỹ rất nhiều những từ ngữ nầy truyền lại cho dân tỵ nạn năm 1975. Khổ thay, người tỵ nạn dần đà cũng ngoan ngoãn như “cháu ngoan của bác“ học hành tới nơi tới chốn.

Tôi vẫn thấy rất nhiều em du sinh tốt, dễ thương, đáng mến và chăm chỉ học hành. Tôi không biết gia đình các em bên quê nhà ra sao, nhưng với các em tôi đã gặp, chúng là những đứa con chưa chắc con cái tỵ nạn được như chúng. Có những em qủa thực là con nhà nghèo, nhưng cha mẹ các em không muốn con mình lớn lên trong một xã hội của VC như bây giờ. Họ phải bán hết của cải, chạy lui chạy tới vay mượn tiền bạc bạn bè, bà con để lo con mình sang Mỹ du học. Thậm chí họ còn nghĩ rằng, nếu sau khi thành tài, có cơ hội cứ ở lại Mỹ để lo cho tương lai, đừng quan tâm tới cha mẹ đang vất vả ở trong nước. Đó là một sự hy sinh mà truyền thống người Việt Nam đã có ngàn đời. Nếu gia đình nào có con được kết bạn bè với thành phần du sinh nầy, tôi nghĩ vẫn là điều đáng mừng hơn đáng lo. Tôi dám tin chắc rằng, trong một trăm ông chống Cộng ở đây, nếu trong nhà có một cô dâu hay chú rẻ du sinh thế nầy, 80% các ông sẽ xét lại cái “cường độ đấu tranh rất cực đoan“ của mình. Chúng ta nên tách rời quan điểm chính trị với sinh họat tình cảm trong gia đình.

Chúng ta thử xét xem câu chuyện dưới đây để tìm câu trả lời đích thực:

Một gia đình tỵ nạn đi năm 1975. Con cái thành công lẫn thành danh tại Mỹ. Ông còn là một người chống Cộng không khoan nhượng. Ông tỏ ra là người có tâm huyết với các hội đoàn, đoàn thể chống Cộng tại hải ngoại. Nhưng ông bà có một đứa con trai yêu một cô du sinh. Cô đẹp, hiền diệu, học giỏi, ăn nói lịch lãm đâu vào đó, một loại “cô gái Bắc kỳ nho nhỏ“, lại là ái nữ của một ông cán bộ cao cấp, giàu có ở Việt Nam. Cô gái đưa con ông ta về Việt Nam chơi, giới thiệu với gia đình cô. Ông bà tiếp đãi anh ta rất chân tình và còn thương yêu trân qúy con rể Việt kiều tương lai của ông không còn chỗ nào chê. Ông liên lạc với gia đình anh ta như là một người bạn cùng trang lứa, và không bao giờ ông ta đề cập đến chuyện chính kiến, lập trường hay XHCN, tự do. Trở lại Mỹ, anh ta nhất quyết muốn lấy cô du sinh nầy làm vợ. Bây giờ, bạn đọc sẽ nghĩ sao về quyết định của ông ta trước đòi hỏi rất rõ ràng của người con trai: muốn cưới cô con gái ông cán bộ cao cấp ?

Ông cán bộ cao cấp suy luận. Con gái xinh đẹp của mình là một du sinh học ở Mỹ, bằng cấp Mỹ đàng hoàng. Nếu về Việt Nam lấy chồng, giàu không thiếu, chức vụ cao cấp cả đóng như cỏ dại, nhưng học hành tới nơi tới chốn như đếm đầu ngón tay, toàn là đám con ông lớn, giàu có ăn chơi, vừa dốt vừa nhà quê. Ông nghĩ tìm một thằng rể Việt kiều có ăn học, lịch sự không phải dễ. Ông biết Việt Nam bây giờ không thiếu các ông Việt kiều làm tóc, làm nail, thợ tiện, thợ hàn... nhưng cứ khoe là kỷ sư, tiến sĩ, bác học... nên biết bao cô gái bị gạt dễ dàng. Gặp được thằng rể Việt kiều nầy, chắc chắn ông không thể để nó vuột khỏi tầm tay. Hơn nữa, có thằng rể Việt kiều, tương lai có bất trắc gì xảy ra, vợ chồng nó đưa mình sang Mỹ sinh sống cũng tiện.

Phần ông chống Cộng tại Mỹ, thấy thằng con mình yêu một cô gái con VC cao cấp, ông cũng rầu lắm. Thế nhưng, cô bé “Bắc kỳ nho nhỏ“ vừa lòng vợ ông qúa. Bà cứ khen đáo để. Bà phục nhất cô là du sinh, đẻ sau 1975, nhưng khi chuyện trò với bà, cô không bao giờ dùng những loại chữ như chúng ta gọi là từ VC. Cô nói: “con xin lỗi bác, con đến bất ngờ (đột xuất) nhưng không gọi cho bác biết trước“ hay: “hai bác cùng đi thăm viếng (tham quan) thành phố San Antonio với tụi con...“. Ngược lại, các cô cậu xướng ngôn viên đài SBTN (Dallas và Houston) oang oảng “tham quan, đột xuất, đảm bảo, hồ hỡi, sơ tán, quy hoạch...“ ào ào như chỗ không người. Nhưng bà con cũng chưa trách bằng những nhà báo, nhà truyền thông nổi danh nổi tiếng, qua Mỹ trước năm 1975, thế mà lên đài cứ “hồ hỡi, tham quan“ như VC trong nước. Mong rằng qúy vị Giám đốc SBTN ở Dallas, Houston cố gắng giúp mấy cô (có thể họ vừa mới sang Mỹ) hạn chế bớt cách dùng chữ như vậy. Biết rằng khán thính giả nghe hoài rồi cũng quen đi, nhưng cố gắng chút nào hay chút đó. Đó là điều mong muốn của khán thính giả vậy. Chưa hết, cô du sinh đến nhà bà chơi, ăn chỉ có một chén cơm, nhưng nhảy vào bếp dọn dẹp rửa sạch đống chén bát cao như núi., làm sao vợ ông không khen cho được.

Ông bố cậu con trai nghĩ cũng đúng. Ở Mỹ, tìm ra một cô con dâu như cô du sinh nầy không dễ. Thằng con ông trước đây mang mấy cô bạn gái sinh đẻ tại Mỹ về nhà, ông chán qúa chừng nhưng không dám nói. Bước vào nhà nó tặng cho ông một tiếng “hi“ rồi nằm dài trên sofa, trong phòng khách; đôi khi hai đứa còn dẫn nhau vô phòng ngủ nằm cả ngày trong đó, chẳng biết làm... chuyện gì. Nó ăn no bụng, vứt chồng chén bát cho vợ ông dọn muốn hộc hơi. Thằng con ông nói nhỏ với nó: đến giúp bà một tay. Nó trợn mắt: “Oh my God, why I have to do that?. Đến tối ra về, nó quay mặt lại, tay vuốt tóc, tay kia đưa lên rồi “bye“ ông một câu cụt ngủn, thế là nó biến. Bây giờ gặp cô du sinh nầy ông rất hài lòng dù không hài lòng thằng bố nó. Trong bụng ông cũng mong có một con dâu chỉ có thế. Bây giờ ông đang phải đối đầu với một vấn nạn: biên giới giữa chuyện chống Cộng và chấp nhận cô dâu con ông Việt cộng?

Dĩ nhiên tiệc cưới con trai ông sẽ có rất nhiều quan khách tai to mặt lớn trong cộng đồng tham dự. Hầu hết họ là những nhân vật cùng ông chống cộng suốt mấy chục năm qua. Ông biết ăn nói làm sao khi họ hỏi tại sao ông chịu làm sui gia với một tên VC gộc? Điều đó chưa phải là ngỏ bí, ông có thể giải thích được. Nhưng nếu ông bà sui gia muốn sang Mỹ tham dự đám cưới của con gái, ông tính sao đây? Có thể ông sẽ huy động những bạn bè chống Cộng trong cộng đồng đến tham dự tiệc cưới, luôn thể “chiêu hồi“ ông VC nầy về với quốc gia. Làm được việc nầy, ông sẽ nổi tiếng trong cộng đồng. Nhưng không dễ. Bạn bè ông chiêu hồi ông sui gia về với quốc gia hay ông sui gia chiêu hồi họ về “tham quan“ rồi buôn bán làm ăn với Việt cộng? Tiệc cưới con ông sẽ bị nhóm người chống Cộng biểu tình phản đối trước nhà hàng. Ông định tổ chức tiệc cưới tại một thành phố nhỏ ít người Việt? Nhưng bà vợ không chịu. Vì là một gia đình bề thế tiếng tăm trong cộng đồng, bà không chấp nhận giải pháp tổ chức một nơi mà chẳng ai biết. Hai vợ chồng ông sinh ra cải vả. Hay là ông tìm cách ngăn cản ông bà sui đừng qua Mỹ? Ông bà sui không chịu. Ông bà xui hứa với ông sẽ bỏ ra cả trăm ngàn USD để tổ chức tiệc cưới cho con gái họ, ở ngay trên nước Mỹ. Nếu so sự giàu có của ông tại Mỹ, với ông sui đại gia VC, lại làm lớn, chẳng khác gì con voi so với con kiến.

Giờ thì ông phải dàn xếp những bất đồng giữa ông với bà vợ và cậu con trai. Con trai ông đứng về phía mẹ vì anh ta không quan trọng chuyện chống Cộng của ông. Anh về Việt Nam, có thấy thằng VC nào đâu mà ba anh cứ chống VC hoài. Nó ra tối hậu thư cho ông một trong hai lựa chọn: tổ chức tiệc cưới cho nó hay nó tự tổ chức lấy. Nó không muốn ông đem chuyện đấu tranh để ngồi xổm lên hạnh phúc riêng tư của nó. Và nó cũng không lấy việc hôn nhân để quấy rầy vào chuyện đấu tranh của ông. Vợ ông thì hối thúc phải tổ chức lẹ lên. Nhà mình sắp có một cô dâu tài sắc vẹn toàn, lại giàu có quyền thế ở Việt Nam. Sau nầy bà cần làm ăn ở Việt Nam, một tiếng nói của ông xui là xong ngay. Bà chỉ nhìn vào chuyện riêng tư thực tế của gia đình là muốn có một cô dâu hiền ngoan, nhưng ông thì nghĩ đến chuyện đại sự, chống cộng cứu nước. Hai lãnh vực hoàn không ăn nhập gì với nhau. Sự căng thẳng trong gia đình ông càng ngày càng lớn.

Cuối cùng, không thể thuyết phục được vợ và cậu con trai, ông đành phải nghe theo họ, tổ chức tiệc cưới cả hai nơi: Việt Nam và Mỹ. Ở Việt Nam thì khỏi nói, tiệc cưới được tổ chức linh đình đúng nghĩa “tiệc cưới con đại gia“. Bà vợ về tham dự nhưng ông không về, viện lý do là trở bệnh bất ngờ. Tiệc cưới tại Mỹ cũng không kém phần “hoành tráng“ như ở Việt Nam. Điều làm ông vui nhất sau nhiều đêm mất ngủ vì ông bà su gia muốn qua Mỹ tham dự tiệc cưới: cuối cùng song thân đàng gái không qua Mỹ với lý do chính đáng, được ông thông báo trước: sẽ có chuyện chống đối hai ông bà. Tất cả mọi chuyện tiến hành tốt đẹp và bình yên. Nhưng để làm hài lòng ông bà sui gia, ông có hứa sẽ mời ông bà qua thăm Mỹ sau tiệc cưới. Cũng như thế, ông bà sui gia mời ông về Việt Nam khi có thể. Họ rất tiếc là trong bữa tiệc cưới con gái, ông không có mặt.

Mối giao hảo giữa hai gia đình tỏ ra càng ngày càng gần gũi và tốt đẹp. Lý do dễ hiểu vì cả hai phía không ai đề cập gì tới chuyện chính trị. Đôi khi ngồi trước hành lang căn nhà đồ sộ tại Mỹ, ông thầm nghĩ: Ông chống Cộng là chống cả một chế độ chứ không phải chống một cá nhân. Cá nhân không làm nên nỗi chế đô, nhưng phải là một tập thể cầm quyền. Ông sui gia của ông cũng chỉ là một cá nhân trong tập thể đó. Nhưng thấy ông ta có gì đâu phải chống? Theo ông, ông sui là một người tốt, rồi sinh ra một cô con gái cũng tốt, nay đang làm dâu trong nhà ông. Với chế độ Cộng Hòa ông từng phục vụ cho đến ngày cuối bỏ nước ra đi, cũng có người tốt người xấu, chẳng hạn như những ông tướng làm lọan.Việc làm của các loạn tướng vẫn có ảnh hưởng xấu cho đất nước hôm nay. Bỗng dưng lòng ông chùng xuống.

Cuộc hôn nhân cô dâu gốc VC bự với chú rể “kiên cường“ chống cộng đã làm cho cộng đồng bàng hoàng, tiến thối lưỡng nan. Nếu tình trạng nầy tiếp tục xảy ra trong cộng đồng Việt Nam tại hải ngoại, ai sẽ có lợi? Việt cộng hay người quốc gia? Tôi nghĩ sự lợi hại không phải là cái đinh của vấn đề. Chuyện hạnh phúc đôi trẻ sẽ bền lâu hay không mới là điều quan trọng.

Chúng ta nên công bằng để nói việc chính trị không nên xen vào hạnh phúc lứa đôi, cũng như tôn giáo không nên xen vào chính trị. Du sinh cũng có người tốt người xấu như thân sinh của họ cũng có người xấu người tốt. Trong cộng đồng chúng ta là người chống Cộng, chắc gì đã tốt hết? Chúng ta không nên hẹp hòi và cố chấp khi con cái chúng ta yêu nhằm một du sinh. Con dâu con rể tốt hay xấu, ngoan hay không ngoan là tùy thuộc vào bố mẹ của cô dâu hay chú rể gốc tỵ nạn. Tôi tin rằng với cuộc sống văn minh và tự do, cùng với những cởi mở của người tỵ nạn, không ganh ghét vô lối, không tị hiềm những ai hơn mình, không dùng diễn đàn, truyền thông báo chí để đánh đấm nhau bằng ngôn từ thô lỗ... những điều đó sẽ làm cho con dâu hay con rể Việt cộng, Việt gian phải nghiêng mình kính phục. Từ đó, các em sẽ trở thành những cái loa vô cùng to lớn phóng về Việt Nam để khoe rằng: các em rất hãnh diện và sung sướng biết chừng nào khi được làm dâu (hay làm rể) trong gia đình người tỵ nạn cộng sản.

Tài năng và đầu óc thông minh của người Việt Nam là một món qùa Thượng Đế ban cho từ trong huyết thống. Du sinh hay sinh viên tỵ nạn đều cũng giống nhau. Nếu có sự khác biệt là vì hoàn cảnh và sống trong hai môi trường khác nhau thôi. Bà khoa học gia Dương Nguyệt Ánh, Đại tá TQLC Lương Xuân Việt, Trung tá Hạm trưởng Lê Bá Hùng, và vô số nhân tài khác, nếu bị kẹt lại Việt Nam thì hôm nay họ sẽ ra sao? Chắc chắn họ không được như ngày hôm nay. Nếu con của các ông VC sống trong rừng Trường Sơn được Mỹ bốc đi khi chúng mới lọt lòng mẹ, giờ nầy chúng không phải là những thằng VC con cù bất cù bơ, kịch cỡm, quê mùa và dốt nát như bây giờ. Có thể bạn độc cho rằng “cha nào con nấy“? Tôi không nghĩ như vậy. Nước Mỹ cũng có nhiều cái xấu nhưng không có cái xấu của bọn lãnh đạo Việt cộng. Nước Mỹ có nhiều cái hay mà chắc chắn bọnVC không bao giờ có. Do đó, khi sống ở môi trường tốt, giỏi, các em sẽ trở thành con người giỏi, tốt. Khi ở môi trường xấu, dốt, sẽ trở thành dốt, xấu. Nếu những em không xuất ngoại du học, các em sẽ không bao giờ thấy cái xấu của VC và cái hay của người khác, nhưng những du sinh, dù con ông nào, nghèo hay giàu, càng ngày các em càng nhìn rõ thêm cái xấu của bọn người đang cai trị đất nước. Nước Mỹ giàu mạnh và nhiều nhân tài không phải vì họ tài ba hơn người, nhưng họ biết đào tạo bất cứ người của quốc gia nào nếu thấy giỏi. Lại nữa, không có suy nghĩ thiển cận như chúng ta “con ông không giống lông cũng giống cánh“. Lông cánh ở chỗ nào khi những nhân tài gốc Việt trên khắp thế mà gốc gác là dân đánh cá tôm, cha mẹ bỏ rơi trong viện mồ côi, con nuôi của những nhà giàu có đem về từ vùng thôn quê hẻo lánh?

Vào dịp 30 tháng 4 năm tới (2010), Đất Mẹ sẽ cho phát hành Tuyển tập “Tự Do Trên Biển Máu“, nói lên những thống khổ của người tị nạn trên đường bỏ nước tìm tự do. Chúng tôi muốn tuyển tập nầy phải đến tay các em du sinh, vì các em cần được biết sự can đảm và tấm lòng hy sinh của bậc cha mẹ đến mức nào khi không muốn con mình phải sống dưới chế độ Cộng sản. Một số người cho rằng chúng tôi đang làm chuyện vô bổ, bọn du sinh toàn là con cái Việt cộng. Việt cộng, Việt gian hay Việt kiều, đối với chúng tôi không quan trọng, nhưng điều quan trọng muốn cho các em biết là: Vô số nhân tài con cái người tỵ nạn, họ không bao giờ muốn về Việt Nam để phục vụ, dù biết rằng về bên ấy để phục vụ đồng bào mình. Các em du sinh rồi cũng thế thôi. Các em thành danh ở đất nước nầy, không thể cống hiến tài sức của mình cho một quốc gia, mà bố mẹ, bạn của các em, những người đi trước nay đã thành danh, phải bán mạng sống mình, rời bỏ một xã hội và đất nước tồi tệ như thế để ra đi.

Mục đích thực hiện tuyển tập “Tư Do Trên Biển Máu“ có thể không làm hài lòng một số người chống Cộng cực đoan, nhưng chắc chắn sẽ làm hài lòng tập thể người Việt tỵ nạn, nhất là những gia đình vượt biển, vượt biên, rồi hôm nay con cái đã thành thân, thành danh. Và họ sẽ hãnh diện hơn nữa khi trong gia đình đón nhận một cô dâu hay chú rể là du sinh đáng mến. Họ đã thành công và không ân hận phải đánh đổi những bi thảm xảy ra trên biển máu cũng chỉ vì con, vì gia đình. Hôm nay, con cái họ lại chinh phục được con cái của kẻ không cùng chung giới tuyến. Chế độ Cộng sản sẽ không tồn tại lâu trên đất nước, những ông to bà lớn trong chế độ cũng phải chết. Thế hệ kế tiếp sẽ làm cho quê hương tự do và tươi đẹp hơn. Các em đã bị chế độ bịt kín những sự thật mà các em phải biết. Đây là lúc người Viet tỵ nạn phải mở tung tấm lòng nhân ái để viết lại sự thật, lấy lại tâm hồn trong sáng của các em đã bị hoen ố vì chế độ suốt 34 năm qua. Một phần đóng góp cho tương lai Việt Nam chính là công lao của những gia đình đang suy tư trước câu hỏi: Có nên cho con cái chúng ta kết hôn với các em du sinh hay không?

Joseph Nguyễn
(Nhóm Đất Mẹ)
____________
Nguồn : Điện thư

Thứ Bảy, 12 tháng 12, 2009

Biểu tình chống TQ: Soi sáng những chủ trương bán nước tinh vi

Tuesday, December 08, 2009
Biểu tình chống Trung Quốc ở Hà Nội, 9 tháng 12, 2009.


Hai cô gái trẻ trong một dịp tình cờ mà chúng tôi gặp ở nhà một người đàn ông cũng trẻ tuổi đời nhưng đã là một nhạc sĩ nổi tiếng. Một cô nói giọng Quảng thản nhiên hỏi tôi, “Bao giờ nước mình thuộc về Trung Quốc hở thầy? Tôi chưa đủ thời gian tìm câu trả lời thì chính người bạn của cô nói, ‘Ðã thuộc về rồi chứ bao giờ gì nữa.’”

Rồi cô gái, vốn kiếm sống tạm qua ngày bằng nghề viết kịch bản phim truyền hình, hướng về tôi nói tiếp, “Em chỉ hy vọng mình được tự trị, chớ biến thành một tỉnh như dân Tân Cương khổ chết luôn.” Cô gái nói giọng Quảng góp lời, “Tụi Trung Quốc muốn lấy đâu thì lấy, chỉ mong chừa Sài Gòn ra, mất Sài Gòn uổng lắm thầy ơi!”

Anh nhạc sĩ quay qua tôi, “Không chỉ hai đứa này nghĩ vậy đâu anh, trong cơ quan của vợ em, hễ nói về chuyện Trung Quốc ai cũng nói chuyện kiểu đó. Còn vì sao họ cứ cho rằng nước mình đương nhiên là thuộc về Trung Quốc thì không hiểu nổi.”

Mẩu chuyện có thật về số phận dân tộc trước hiểm họa Trung Quốc kể ở trên tuy chỉ là những ý kiến nhỏ của một vài cá nhân, nhưng đã phần nào đó cho thấy được tâm trạng bi quan chân thật của những người trẻ tuổi. Nguyên nhân đưa thế hệ trẻ Việt Nam đến tình trạng này cũng không khó tìm. Người ta chỉ cần nhìn lại những người trẻ tuổi bị vùi dập vì yêu nước và có trách nhiệm với vận mệnh quốc gia khi tham gia sự kiện biểu tình chống Trung Quốc (9 Tháng Mười Hai 2007) ở Sài Gòn-Hà Nội là biết. Một khi chính quyền này đã đối xử tệ hại với họ thì điều xấu xa đó chỉ có nghĩa dập tắt lửa nhiệt huyết của thanh niên ôn hòa chống Trung Quốc, đối xử với người yêu nước như tội phạm đã là câu trả lời cho thấy bản chất của thể chế hiện hành.

Ngày 5 Tháng Mười Hai 2009 tờ Tuổi Trẻ, báo có số phát hành lớn ở Việt Nam , có loạt bài: “Thác Bản Giốc-Báu Vật Muôn Ðời.” Tuy loạt bài này mới đăng kỳ một, nhưng khi đọc người ta nhận thức là bài báo này chỉ cung cấp những thông tin rón rén về một nửa sự thật của việc cấm mốc biên giới Việt-Trung.

Ngay khi tờ báo này phát hành, một người bạn trẻ tuổi, dễ cả tin nói qua điện thoại di động, “Anh đọc chưa. Xúc động lắm anh, tôi đoán rằng hiện tại trong đảng có hai phe, phe viết bài báo này chắc là chống Trung Quốc đó anh.”

Chúng tôi vội vã mua báo đọc, và một điều rõ ràng là bài báo này ngoài những tính từ hoa mỹ diễn đạt tình cảm yêu nước mẹ, yêu từng tấc đất biên cương hải đảo, toàn bộ phần nội dung còn lại chỉ cho thấy ý đồ mớm cho mỗi công dân Việt Nam phải chấp nhận một hiệp đinh biên giới được đảng và thể chế này an bài. Việc úp úp-mở mở đảo lộn trắng đen nhằm lừa dân chấp nhận Ải Nam Quan, nửa thác Bản Giốc và hàng ngàn cây số miền biên cương được gầy dựng bằng xương máu tổ tiên thuộc về chủ mới là một chủ trương bán nước tinh vi.

Từ bất hạnh nào của dân tộc mà nay lại sinh ra quân bán nước và bọn bồi bút trí trá đến mức tinh vi quái lạ! Tin tức từ các hãng tin nước ngoài vừa cho biết, Trung Quốc sẽ cho tiền để xây cung hữu nghị Việt-Trung ở Hà Nội và Sài Gòn. Ngay ngày hôm sau, ông chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết nói với cử tri và đồng đội kháng chiến cũ của ông là, “Cho tới giờ một tấc đất của quê hương cũng không nhân nhượng cho ai.” Không thấy báo chí tường thuật là lúc nói câu đó cử tọa có vỗ tay hay không, nhưng một điều chắc là những kẻ cuồng tín của đảng hẳn sẽ yên tâm hơn, vì ông chủ tịch và cả Bộ Chính Trị của họ vẫn giữ đúng nguyên tắc, “vận mệnh của đảng luôn ở trên dân tộc.”

Hai năm sau từ ngày nổ ra biểu tình chống Trung Quốc của thanh niên-sinh viên. Báo chí và cả người phát ngôn Bộ Ngoại Giao chế độ bắt đầu có giọng phản ứng theo kiểu lừa mị trước thói đại ca đỏ và của Trung Quốc. Không ai tin là giọng tuyên truyền của bộ máy nhà nước đổi chiều. Họ không thay đổi gì cả mà chỉ phát ngôn sao cho lừa được người nghe và hơn hết là nói sao cho thường dân đang bị bưng bít thông tin càng lúc càng mù mờ hơn. Trong thế kỷ 21, “nghệ thuật” tuyên truyền của chế độ Cộng Sản Việt Nam biến thái đã tới mức yêu quái.

Tuy cần lừa dân về chuyện hiểm họa Trung Quốc, nhưng không vì thế mà họ cho phép những Việt kiều hùa ở hội nghị Việt kiều vừa qua tham gia vào nội dung này. Không hề có một dòng tường thuật nào về nội dung chủ quyền biên cương hải đảo trong hội nghị được khoa trương là “Hội nghị Diên Hồng nhỏ.” Những cá nhân trí thức Việt kiều ngờ nghệch đến mức đáng thương như Nguyễn Hữu Liêm, Trần Thanh Vân... đã có những lý lẽ ngang hàng với bọn tội phạm bán nước khi dùng nước bọt của mình tô vẽ cho thể chế.

Những người nhân danh trí thức hải ngoại dự phần vào việc “đánh bùn sang ao” vốn không mới mẻ gì. Ai cũng biết không phải họ được đi xe có còi hụ, được hất mặt trên màn ảnh tivi mà thoát khỏi số phận của một thứ giẻ rách chùi tay theo thời vụ của đảng. Nếu họ tình nguyện là một thứ giẻ rách thoang thoảng chút dầu thơm nước ngoài như trường hợp của một gã ở Canada đem tiền và đem thơ về nước toan tính lau chùi bộ mặt bẩn thỉu của mình, những gã như trường hợp này đảng sẽ bố thí được gì. Một tay chiến sĩ văn nghệ của chế độ nói, “Tội lắm anh, đãi đằng chạy chọt khắp nơi, thôi thì hắn đã hèn đến thế thì tiếc gì cái giấy phép in sách, của đáng tội ấy mà.”

Từ nhiều nguồn dư luận ở trong nước khác nhau được tung lên mạng, những người quan tâm biết rằng, tới đây sẽ có những phiên tòa xử những người yêu nước tự do. Những Lê Công Ðịnh, Trần Anh Kim, Nguyễn Tiến Trung... đang sẵn sàng chờ ra tòa để nói lên tiếng nói yêu nước chân chính của một thế hệ mới. Dư luận cũng hé lộ rằng nhà cầm quyền Trung Quốc đang tăng áp lực với tay sai trong nước để có một bản án thật nặng. Người ta tin rằng trong mọi vấn đề, mọi sự kiện ở Việt Nam lúc này đều có yếu tố Trung Quốc. Bàn tay hắc ám trong bóng tối của Trung Quốc thật sự đã phủ trùm lên đời sống và khát vọng tự do-dân chủ của mỗi người Việt Nam .
Phùng Thức/Người Việt

Thứ Ba, 8 tháng 12, 2009

BẢN TUYÊN NGÔN QUỐC TẾ NHÂN QUYỀN MÀ NHÀ NƯỚC "CHXHCNVN" ĐÃ LONG TRỌNG KÝ KẾT THỰC HIỆN (nhưng không bao giờ tuân theo)



Xét rằng: Sự công nhận nhân phẩm của tất cả con người trong đại gia đình nhân loại và những quyền bình đẳng không thể tước đoạt của họ là nền tảng của tự do, công lý và hòa bình trên thế giới.

Xét rằng: Hành vi xem thường và chà đạp nhân quyền đã dẫn đến những hành động man rợ, xúc phạm đến lương tâm nhân loại. Việc tiến đến một thế giới trong đó tất cả mọi người được hưởng sự tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, không còn lo sợ hãi và nghèo khó, phải được tuyên xưng như là ước vọng cao nhất của con người.

Xét rằng: Nhân Quyền cần phải được bảo vệ bằng luật pháp, để con người không bị bắt buộc phải sử dụng đến biện pháp cuối cùng là vùng dậy chống lại độc tài và áp bức.

Xét rằng: Mối quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia cần được khuyến khích và mở rộng.

Xét rằng: Trong Hiến Chương, các dân tộc của cộng đồng Liên Hiệp Quốc đã lại một lần nữa xác định niềm tin vào những quyền căn bản của con người, vào nhân phẩm và giá trị con người, vào quyền bình đẳng nam nữ và cũng đã quyết định cổ vũ cho các tiến bộ xã hội và cải tiến mức nhân sinh trong bối cảnh ngày càng tự do hơn.

Xét rằng: Các quốc gia hội viên đã cam kết hợp tác với Liên Hiệp Quốc, nhằm cổ vũ việc tôn trọng nhân quyền và các quyền tự do căn bản.

Xét rằng: Sự hiểu biết chung về nhân quyền và tự do là điều tối quan trọng để có thể thực hiện đầy đủ sự cam kết trên.

Do đó, Ðại Hội Ðồng Liên Hiệp Quốc long trọng công bố Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền này như là một khuôn mẫu chung cần đạt tới của mọi dân tộc và quốc gia, nhằm giúp cho mọi cá nhân và thành phần của xã hội luôn luôn theo sát tinh thần của Bản Tuyên Ngôn, dùng sự truyền đạt và giáo dục, để nỗ lực phát huy sự tôn trọng các quyền tự do này.

Mặt khác, bằng những phương thức tiến bộ trong phạm vi quốc gia cũng như quốc tế, phải bảo đảm sự thừa nhận và tuân hành Bản Tuyên Ngôn một cách có hiệu lực, trong các dân tộc của các nước thành viên, và ngay cả trong những người dân sống trên các phần đất thuộc quyền cai quản của các nước đó.

Ðiều 1: Mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về nhân phẩm và quyền. Mọi người đều được phú bẩm về lý trí và lương tâm và vì thế phải đối xử với nhau trên tinh thần bác ái.

Ðiều 2: Mọi người đều được hưởng tất cả những quyền và tự do được công bố trong Bản Tuyên Ngôn này và không có một sự phân biệt nào, như chủng tộc, màu da, phái tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hay tất cả quan điểm khác, quốc tịch hay nguồn gốc xã hội, tài sản, nơi sinh, hay tất cả những hoàn cảnh khác. Hơn nữa, cũng không được có sự phân biệt nào đối với con người sống trên một quốc gia hay trên một lãnh thổ, căn cứ trên cơ chế chính trị, nền tảng luật pháp hay quy chế quốc tế của quốc gia hay lãnh thổ đó. Cho dù quốc gia hay lãnh thổ này độc lập hay dưới sự bảo hộ, không được tự trị hay ở trong tình trạng bị hạn chế về chủ quyền.

Ðiều 3: Mọi người đều có quyền sống, quyền tự do và an toàn cá nhân.

Ðiều 4: Không ai bị cưỡng bức làm nô lệ hay tôi đòi. Chế độ nô lệ và buôn bán nô lệ dưới mọi hình thức đều bị nghiêm cấm.

Ðiều 5: Không một người nào phải chịu cực hình, tra tấn, hay bất kỳ hình thức đối xử, hoặc trừng phạt bất nhân, hay có tính cách lăng nhục.

Ðiều 6: Ở bất cứ nơi nào, mỗi người đều có quyền được công nhận tư cách con người của mình trước pháp luật.

Ðiều 7: Tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, và phải được bảo vệ một cách bình đẳng, không kỳ thị phân biệt. Tất cả đều được quyền bảo vệ ngang nhau, chống lại mọi kỳ thị vi phạm Bản Tuyên Ngôn này, cũng như chống lại mọi kích động dẫn đến kỳ thị như vậy.

Ðiều 8: Mọi người đều có quyền được bảo vệ và bênh vực bởi các cơ quan tư pháp quốc gia có thẩm quyền về các hành vi vi phạm các quyền căn bản, do Hiến Pháp và Luật Pháp quy định.

Ðiều 9: Không một ai bị bắt bớ, cầm tù hay lưu đày một cách độc đoán.

Ðiều 10: Mọi người đều có bằng nhau quyền được phân xử công khai và công bằng, trước một tòa án độc lập và vô tư, để được phán quyết về các quyền lợi và nhiệm vụ của mình, hay về những tội phạm mà mình bị cáo buộc.

Ðiều 11:

(1) khi truy tố trước pháp luật, mọi người được xem là vô tội, cho đến khi pháp luật chứng minh là có tội, trong một phiên tòa công khai và tòa án này phải cung ứng tất cả mọi bảo đảm cần thiết cho quyền biện hộ của đương sự.

(2) Không ai có thể bị kết án khi có những hành động hay sơ suất xảy ra vào lúc mà luật pháp của quốc gia hay quốc tế không qui định đó là một hành vi phạm pháp. Tương tự như vậy, không được áp đặt một hình phạt nào nặng hơn hình phạt được ấn định vào lúc hành vi phạm pháp xảy ra.

Ðiều 12: Không một ai bị xâm phạm một cách độc đoán về đời sống riêng tư, gia đình, nhà ở, hay thư tín, cũng như bị xúc phạm danh dự hay tiếng tăm của mình. Mọi người đều có quyền được luật pháp bảo vệ, trước những xâm phạm và xúc phạm như vậy.

Ðiều 13:

(1) Mọi người có quyền tự do di chuyển và cư trú, trong phạm vi biên giới của quốc gia.

(2) Mọi người đều có quyền rời khỏi lãnh thổ bất kỳ nước nào, kể cả nước của mình, và quyền trở về xứ sở

Ðiều 14:

(1) Trước sự ngược đãi, mọi người đều có quyền tị nạn và tìm sự dung thân tại các quốc gia khác.

(2) Quyền này không được kể đến, trong trường hợp bị truy nã thật sự vì các tội phạm không có tính chính trị, hay do những hành vi trái với những mục tiêu và nguyên tắc của Liên Hiệp Quốc.

Ðiều 15:

(1) Mọi người đều có quyền có quốc tịch.

(2) Không một ai bị tước bỏ quốc tịch, hay bị từ chối quyền thay đổi quốc tịch, một cách độc đoán.

Ðiều 16:

(1) Nam và nữ trong tuổi trưởng thành có quyền kết hôn và lập gia đình, mà không bị hạn chế về lý do chủng tộc, quốc tịch hay tôn giáo. Nam nữ đều có quyền bình đẳng lúc kết hôn, trong đời sống vợ chồng và lúc ly hôn.

(2) Hôn nhân chỉ có thể tiến hành khi cả hai đều được tự do quyết định và đồng ý thật sự.

(3) Gia đình phải được xem là một đơn vị tự nhiên và căn bản của xã hội, và được quyền bảo vệ của xã hội và quốc gia.

Ðiều 17:

(1) Mọi người đều có quyền sở hữu tài sản cá nhân cũng như tập thể.

(2) Không ai có thể bị tước đoạt tài sản của mình một cách độc đoán.

Ðiều 18: Mọi người đều có quyền về tự do tư tưởng, nhận thức và tôn giáo. Quyền này bao gồm cả quyền tự do thay đổi tôn giáo hay tín ngưỡng, cũng như quyền tự do biểu lộ tôn giáo hay tín ngưỡng của mình, với tư cách cá nhân hay tập thể, ở nơi công cộng hay nơi chốn riêng, bằng sự truyền dạy, thực hành, thờ phượng và áp dụng các nghi thức đạo giáo.

Ðiều 19: Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ quan điểm. Quyền này bao gồm sự tự do quan điểm mà không bị xen vào quấy rầy và được tự do tìm kiếm, thu nhận và quảng bá tin tức và tư tưởng qua mọi phương tiện truyền thông bất kể biên giới.

Ðiều 20:

(1) Mọi người đều có quyền tự do hội họp và lập hội, một cách ôn hòa .

(2) Không một ai có thể bị cưỡng bách gia nhập vào một đoàn thể.

Ðiều 21:

(1) Mọi người đều có quyền tham gia vào việc điều hành xứ sở của mình, một cách trực tiếp hay qua các đại biểu được tuyển chọn một cách tự do.

(2) Mọi người đều có quyền đón nhận những dịch vụ công cộng của quốc gia một cách bình đẳng.

(3) Ý muốn của người dân phải là nền tảng của quyền lực chính quyền. Ý muốn này phải được thể hiện qua các cuộc bầu cử định kỳ và thực sự , bằng phiếu kín, qua phương thức phổ thông và bình đẳng đầu phiếu, hay các phương thức tương đương của bầu cử tự do.

Ðiều 22: Vì là thành viên của xã hội, mỗi người đều có quyền an ninh xã hội, qua các cố gắng của quốc gia và hợp tác quốc tế, dựa theo phương cách tổ chức và tài nguyên của mỗi nước. Quyền này được đặt trên căn bản của sự thụ hưởng những quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa, cần thiết cho nhân phẩm và sự phát triển tự do của mỗi cá nhân.

Ðiều 23:

(1) Mọi người đều có quyền làm việc, quyền tự do chọn việc làm, quyền được hưởng các điều kiện làm việc chính đáng và thuận lợi đối với công việc, và quyền được bảo vệ chống thất nghiệp.

(2) Mọi người, không vì lý do kỳ thị nào, đều có quyền được hưởng lương bổng như nhau cho cùng một công việc.

(3) Mọi người làm việc đều được quyền hưởng thù lao một cách công bằng và thích hợp, khả dĩ bảo đảm cho bản thân và gia đình mình một cuộc sống xứng đáng với nhân phẩm, cũng như được trợ giúp nếu cần, qua các phương thức bảo vệ xã hội khác.

(4) Mọi người đều có quyền thành lập và tham gia vào các nghiệp đoàn, để bảo vệ quyền lợi của mình.

Ðiều 24: Mọi người đều có quyền nghỉ ngơi và giải trí, kể cả việc hạn chế hợp lý số giờ làm việc, và các ngày nghỉ định kỳ có trả lương.

Ðiều 25:

(1) Mọi người đều có quyền được hưởng một mức sống phù hợp với sức khỏe và sự no ấm cho bản thân và gia đình bao gồm: thực phẩm, quần áo, nhà ở, y tế và các dịch vụ xã hội cần thiết, quyền an sinh trong lúc thất nghiệp, đau ốm, tàn tật, góa bụa, tuổi già hay các tình huống thiếu thốn khác do các hoàn cảnh ngoài khả năng kiểm soát của mình.

(2) Các bà mẹ và trẻ con phải được hưởng sự chăm sóc và trợ giúp đặc biệt. Tất cả mọi trẻ con, sinh có hôn thú hay không, đều được xã hội bảo vệ một cách bình đẳng.

Ðiều 26:

(1) Mọi người đều có quyền được giáo dục. Giáo dục phải được miễn phí, ít nhất là ở bậc tiểu học và căn bản. Giáo dục tiểu học phải bắt buộc. Giáo dục kỹ thuật và chuyên nghiệp phải được mở rộng và giáo dục đại học phải được mở rộng bình đẳng cho mọi người, trên căn bản tài năng xứng đáng.

(2) Giáo dục phải được điều hướng để phát triển đầy đủ nhân cách, và củng cố sự tôn trọng nhân quyền và các quyền tự do căn bản. Giáo dục phải nhằm cổ vũ sự cảm thông, lòng khoan dung, và tình hữu nghị giữa mọi quốc gia, mọi nhóm chủng tộc hoặc tôn giáo, và hỗ trợ việc phát triển các sinh hoạt của Liên Hiệp Quốc nhằm duy trì hòa bình.

(3) Cha mẹ có quyền ưu tiên chọn lựa phương cách giáo dục dành cho con cái mình.

Ðiều 27:

(1) Mọi người đều có quyền tự do tham gia sinh hoạt văn hóa cộng đồng, thưởng thức các bộ môn nghệ thuật, và cùng chia xẻ các tiến bộ khoa học cũng như các lợi ích của khoa học.

(2) Mọi người đều có quyền được bảo vệ về tác quyền, trên bình diện tinh thần cũng như quyền lợi vật chất, đối với các tác phẩm khoa học, văn chương, hay nghệ thuật.

Ðiều 28: Mọi người đều có quyền đòi hỏi được sống trong một trật tự xã hội và trật tự quốc tế, trong đó các quyền và các tự do được đề cập trong Bản Tuyên Ngôn này có thể được thể hiện đầy đủ.

Ðiều 29:

(1) Mọi người đều có bổn phận đối với cộng đồng nào mà chỉ trong đó mới có thể phát triển toàn vẹn và tự do nhân cách của mình.

(2) Trong việc hành xử nhân quyền và thụ hưởng tự do, mọi người chỉ phải chịu những hạn chế do luật định, và những hạn chế này chỉ nhằm mục tiêu bảo đảm sự thừa nhận và tôn trọng nhân quyền, và quyền tự do của những người khác, cũng như nhằm thỏa mãn những đòi hỏi chính đáng về luân lý, trật tự công cộng, và nền an sinh chung trong một xã hội dân chủ.

(3) Trong bất cứ trường hợp nào, nhân quyền và những quyền tự do này cũng không được hành xử trái với những mục tiêu và nguyên tắc của Liên Hiệp Quốc.

Ðiều 30: Không một điều nào trong Bản Tuyên Ngôn này được hiểu và hàm ý cho phép một nước, một nhóm hay một cá nhân nào được quyền có những việc làm hay hành động nhằm hủy diệt nhân quyền và tự do được thừa nhận trong bản Tuyên Ngôn này.

Liên Hiệp Quốc, ngày 10 tháng 12 năm 1948.

Thứ Ba, 1 tháng 12, 2009

Sự Thay Đổi Đã Đến Gần

I. Mở đầu: Chưa bao giờ như bây giờ, số người quan tâm đến hiện tình đất nước ngày một đông, lan toả đến mọi tầng lớp nhân dân. Có thể tóm lược: hiện ta có thể chống đỡ được Trung Quốc để khỏi trở thành như Triều Tiên, Miến Điện. Có phải chúng ta đang khủng hoảng nhiều mặt, thể chế hiện hành có thể chấn chỉnh để trụ được hay phải thay đổi triệt để mới mong có sức tồn tại và vươn lên.
Mặc dù trong kỳ Đại hội vừa rồi mọi góp ý đều không được lắng nghe, mọi người vẫn kỳ vọng vào đại hội sắp tới. Thời thế thay đổi, liệu tiếng nói của dân có giá trị gì. Xin hãy chờ xem!

II. TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM
a. Nỗi sợ Trung Quốc:
Dù chỉ tiếp cận sơ qua, ai cũng thấy Trung Quốc thật đáng ngưỡng mộ: người đông vô kể, đất rộng như vô tận, thiên nhiên hùng vĩ và kỳ thú, những công trình xây dựng cũ mới thì đều đồ sộ đến mức khó ngờ. Sách nhiều vô kể, nội dung hay đến mức để đời. Qua lịch sử, khi loài người còn mông muội, Trung Quốc đã có nhiều phát minh…
Mấy chục năm nay, như có chiếc đũa thần, Trung Quốc vụt lên giàu có, nhiều ngành khoa học đạt mức thế giới, quân sự bùng phát. Trung Quốc như đang thách thức, như đang tranh giành ngôi đầu bảng thế giới.
Cái sợ hãi hơn là sợ não trạng con người Trung Quốc. Xem trong chuyện cổ, nhiều nghìn năm trước đến giờ, biết bao nhiêu gương mặt gian ngoan, mưu lược. Phụ nữ lại còn ghê gớm hơn, ngay cuối thế kỷ 20 mà Giang Thanh còn mưu mô làm Vua bà nước Tàu…
Các nhà phân tích kết luận: khi nàoTrung Quốc mạnh là Trung Quốc bành trướng. Bây giờ Trung Quốc đang muốn xuống Phương Nam. Cái cửa cần mở là Việt Nam, mà Việt Nam lại là cái gai khó gỡ.
Một nhà ngoại giao kỳ cựu đã chua chát: "Trung Quốc thì gian ngoan, mưu lược, còn chúng ta thì dại dột, cả tin. Các người đi trước và bản thân tôi đã nhiều lần bị họ lừa".
Chúng ta choáng ngợp, rồi tự ti, rồi lo sợ và cuối cùng bị khuất phục. Còn có ai đó bị bẫy sập để trở thành tôi tớ, xét cũng là điều dễ hiểu.
Trong lịch sử, Trung Quốc đã từng thôn tính nhiều đất đai, nhiều dân tộc để có được tầm vóc như ngày nay. Trung Quốc đã đô hộ Việt Nam 4 lần và cũng bị Việt Nam nhiều lần đánh đuổi.
Ngay gần đây, các vị cầm đầu cũng cho Trung Quốc những đòn đau nhớ đời: diệt Pôn Pốt làm tan cái tiền đồn phương Nam của Trung Quốc. Đặng Tiểu Bình phát điên lên gọi "Việt Nam là bọn côn đồ" dọa và thực hiện "cho Việt Nam một bài học". Những người tham dự cuộc chiến tranh biên giới xác nhận là về mặt quân sự Việt Nam ở thế thắng. Rồi Việt Nam đuổi người Hoa. Lẽ dĩ nhiên họ ra đi không thể mang theo nhà cửa, đất đai…
Ta đăng ký thềm lục địa có nghĩa là đòi xác lập chủ quyền ở Biển Đông. Ta mua tàu bay, tàu ngầm, ta quan hệ với các nước để có liên minh quân sự…Ta chờ đón những phản ứng mãnh liệt từ phía Trung Quốc nhưng cuối cùng cũng chỉ có vài pha "tàu lạ", vài lần Trung Quốc bắt nạt ngư dân thế cô, giữa biển khơi.
Ta sợ vì ta yếu, vì ta không có lực lượng. Lực lượng của ta là lòng dân, sức dân. Ta lại đang đối xử với dân có thể nói là tàn tệ. Chính ta tiêu diệt sức sống của bản thân ta.
"Người ta mạnh vì anh quỳ gối" – có lẽ đúng. Trung Quốc không phải muốn làm gì thì làm. Hãy thức tỉnh, hãy can đảm, hãy chấp nhận mọi giải pháp, dù thế nào miễn là giữ vững được chủ quyền đất nước.
b. Về việc giao tiếp cụ thể với Trung Quốc:
Đây không phải là phân tích, đánh giá, kết luận… chỉ là những việc xảy ra gần đây, được liệt kê để bàn soạn, chiêm nghiệm:
1. Việc bô xít Tây Nguyên: không nghe nói gì đến việc khởi động, làm con đường sắt 300 KM có độ chênh 70m, làm cảng, làm kho, làm bể chứa bùn đỏ. Nếu làm, không biết 5 hay 7 năm có xong không? Thế mà hôm nay đã làm nhà máy, cái trước chưa làm, cái sau đã làm.
Liệu người ta có mang những thứ cũ kỹ thải loại sang lắp đặt tại Việt Nam rồi sau đó sản xuất theo lối thô sơ, thành phẩm chuyển về bằng đường giao thông, còn môi trường thì không quan tâm – Thành một việc đã rồi và sẽ có Bô Xít "Thổ phỉ" Tây Nguyên như than "Thổ Phỉ" Quảng Ninh !
2. 1000 năm Thăng Long Hà Nội và 2010, năm hữu nghị Việt Trung:
Nếu ông Đào nói nhỏ với ông Mạnh "chuyện cha ông chúng ta xung đột đã có từ lâu, nay khơi ra làm gì, nó ảnh hưởng đến 16 chữ vàng. Chi bằng làm vừa vừa thôi. Chúng ta tập trung vào làm cái "Năm hữu nghị …" thế mới là thực sự củng cố mối tình của chúng ta. Làm to vào, thiếu tiền Trung Quốc tài trợ. Chả có cách nào để ông Mạnh không chấp hành.
Trong một năm ngắn ngủi, dân Hà Nội vừa nghe tiếng voi gầm ngựa hí, vừa nghe tiếng lanh canh chạm cốc.
Biết đâu đấy, đây còn là cái "cân tiểu ly" của ông Đào để xem câu đồn đại: "Người Trung Quốc ghét người Mỹ và người Nhật nhưng ghét nhất là người Việt Nam. Còn Việt Nam ghét nhất người Trung Quốc" đúng sai đến mức nào?
3. Mở rộng Hà Nội:
Nhiều người nói, không biết gì, kể cả ông chủ tịch Hội quy hoạch có người nói không có căn cứ. Có người bạo miệng: Việt Nam bị người xúi dại.
Các lãnh tụ Cộng sản đều ít nhiều mắc bệnh cuồng vĩ: Liên Xô biến sa mạc thành vườn nho, táo; Việt Nam có đường dây 500 KV, có đường Hồ Chí Minh… và cái gì cũng thấy " nhất" Đông Nam Á. Ta không có đủ tiền, không có kỹ thuật; lúc ấy Trung Quốc xui làm gấp, cho vay tiền, chẳng lẽ mình từ chốiThế rồi người Trung Quốc đưa phong cách Trung Hoa vào, rồi người ta vận dụng câu nói của Tôn Văn: "Ở đâu có dấu ấn văn hóa Trung Hoa là đất đai của Trung Quốc" – Ta mất hay còn?
Không hiểu sao Myanma cũng thân Trung Quốc thì thủ đô lại đi vào xóm núi. Việt Nam cũng thân Trung Quốc thì thủ đô lại mở rộng gấp 4 lần. Hay là người ta muốn Việt Nam: thiếu hụt bối rối và hỗn loạn.
4. "Hãy gác tranh chấp, hãy cùng nhau hợp tác khai thác"
Khẩu hiệu thật hay. Tôi tin là Trung Quốc đã đọc truyện Trạng Quỳnh, sẽ áp dụng mưu Trạng Quỳnh đối với bà Chúa Liễu trong chuyện bà Chúa có ruộng, Trạng Quỳnh có công trồng tỉa…Ta lấy lực đâu mà cùng khai thác, cử ai đến cùng quản lý thì chắc một tuần là họ sẽ trở thành người Trung Quốc.
Nghĩ đến con đường huyết mạch Biển Đông với tài nguyên phong phú cũng thấy lo, cũng thấy Trung Quốc quyết liệt là dễ hiểu.
5. Việc đặt quan hệ đối tác giữa các tỉnh của hai bên biên giới:
Thật là tốt đẹp – Ta rất cần việc này vì ta còn sản xuất nhỏ lẻ, việc quan hệ giữa hai tỉnh sẽ giản dị hóa quan hệ giữa hai quốc gia. Có tỉnh họ còn mạnh không kém gì nước ta. Liệu Trung Quốc có âm mưu chia cắt, thâm nhập rồi thôn tính từng phần. Các tỉnh của chúng ta có sức mấy mà chống đỡ được.
6. Người ta quan tấm đến Đại hội sắp tới sôi nổi hơn nhiều so với Đại hội đã qua. Quan tâm đến nhân sự đại hội xem có ai thân Tàu, ai là người của Tàu… coi đó là cái thước đo đất nước còn mất đến đâu.
c. Người xưa có câu: "Đi với Bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy". Người đời nay căn dặn: "Có những người sau khi gặp họ, bắt ta rồi phải xem lại tay ta có thiếu ngón nào không?"
Việt Nam hiện nay làm việc gì cũng phải nghĩ đến Trung Quốc. Đó là một chỉ dẫn quan trọng. Đó là "biết người".
Có lẽ, mọi người Việt Nam cần đào sâu suy nghĩ: "Mình đứng cương vị gì, mình bảo vệ đất nước ra sao trước Trung Quốc?". Còn nếu chấp nhận "nghèo thì hèn, mạnh thì được, yếu thì thua" và hơn thế nữa. " Cứu nhà hơn cứu nước? Cứu thân mình hơn cứu Chúa?" thì coi như mất nước. Đó là "biết mình".

III. HÃY NHÌN LẠI CHÍNH MÌNH
Ta luôn nói ta có nhiều thành tích. Nhưng nhiều năm qua ta vẫn bị xếp vào danh sách các nước nghèo nhất. Ta nên bình tĩnh xem lại chính mình. "Không nghe anh nói, hãy nhìn anh làm".
Ta hãy có cái nhìn khái quát hiện tình trên một vài mặt:
a. Tam nông:
Trong tam nông có quá nhiều bê bối, người ta cho rằng do ta giữ quá lâu đạo luật: "đất đai là của toàn dân, do nhà nước quản lý".
Đất đai sản xuất không có sở hữu rõ ràng, không mua, không bán được, không gom góp để đủ sản xuất lớn được… buộc phải sản xuất manh mún, kỹ thuật thô sơ, năng xuất thấp, không chống được thiên tai nên vẫn đói và chán nản. Lại cộng thêm sinh đẻ không kế hoạch, giáo dục quá kém, không có tay nghề, nhân mãn và thất nghiệp tràn lan. Di cư tự do, không có việc làm, tệ nạn xã hội và phạm pháp phát sinh không ngăn nổi.
Nhiều nơi đã tự phát, phá vỡ thế bí này. Phong trào "dồn điền đổi thửa" đã bước đầu đưa sản xuất nông nghiệp có quy mô lớn hơn, tập trung hóa. Nhiều người nông dân góp tiền mua chung máy móc nông nghiệp. Có huyện tổ chức cho các nhóm nông dân vay tiền để mua ô tô, để đưa sản phẩm ra thành phố bán. Đã hé lộ những "Ông Kim Ngọc đời mới". Họ sẽ vứt bỏ đạo luật nói trên, rồi họ tạo ra nền sản xuất mới.
Nhiều người băn khoăn: công nghiệp hóa nông nghiệp bao nhiêu nước đã làm, có gì bí ẩn đâu sao ta không làm?
Có người tạm bằng lòng với lời giải thích: Trung Quốc chưa làm thì ta chưa làm; nông dân đông lắm, nguồn gốc của mọi biến động mà lịch sử đã ghi, phải giữ con chủ bài ruộng đất, như cái "mũ kim cô" mới mong an toàn trước họ…Nông dân làm chủ ruộng đất, những người có kỹ thuật, có vốn sẽ áp sát, đẻ ra một liên minh mới, thế thì lãnh đạo sao được.
Tình trạng này chính là nguyên nhân trực tiếp làm xuất hiện đội quân dân oan mất đất mất nhà ngày càng đông đảo trên phạm vi cả nước. Nguy cơ đảng mất nông dân đã là nhãn tiền.
Một hệ quả không ngờ ập tới: đất đai do nhà nước quản lý thế là các cấp chính quyền thao túng. Đầu tư nước ngoài, đô thị hóa buộc phải có đất để phát triển. Thế là đẻ ra: thu hồi, định giá, đền bù, giải tỏa…tiền nong như nước, tham nhũng trước nhỏ, sau to đến nay như bệnh không chữa nổi. Cái dây trói nông dân trở thành cái dây thít cổ các quan tham, làm điêu đứng Đảng và Nhà nước.
Hãy trả ruộng đất cho nông dân, mở đầu việc công nghiệp hóa nông nghiệp.
b. Không phát huy vai trò cá nhân, không dùng người tài, hội họp quá nhiều:
Tôi thuộc gia đình viên chức chế độ cũ, tôi lại có điều kiện tiếp xúc với bộ máy nhà nước vào các năm 1945, 1954, 1975 thế kỷ trước. Tất cả họ, ngành nào, cấp nào đều thành thạo nghiệp vụ, hiểu hết chức trách, cấp nào có bằng cấp học vị cấp ấy. Họ cũng có các thiếu sót như ta hiện nay nhưng dứt khoát là không có tình trạng: không làm được việc.
Tôi thấy qua các bước thăng trầm của đất nước: dành được độc lập, chiến tranh và xây dựng đất nước…bao giờ cũng gắn thành công hay thất bại vào một số người hay một người đứng đầu. Hiện nay ta mờ mịt: không biết việc này từ đâu đến, vì sao phải làm, luôn luôn ứng phó, luôn phải sửa sai và cũng không thiếu dấu diếm, đổ thừa.
Tôi tại thấy ở các nước, các nhà khoa học, các nhà bác học, các chuyên gia họ tập hợp theo ngành vào các tổ chức phi chính phủ. Họ theo dõi tình hình, họ tranh luận, họ đưa ra các kiến nghị, các biện pháp…. Có tổ chức được nhà nước tài trợ. Ngoài ra các Viện hàn lâm, các viên nghiên cứu của các trường đại học cũng tham gia vào việc phản biện và đề xuất.
Không phải ta thiếu người để xây dựng ra bộ phận này nhưng chính là ta không biết làm, không chịu làm. Bộ phận lãnh đạo chính trị thì phe cánh, tranh chấp, không có người tài. Bộ phận khoa học kỹ thuật thì bị chèn ép. Người giỏi bị loại ra ngoài vòng, còn bị cấm đoán nên giữ miệng, kín tiếng. Còn bộ máy nhà nước thì nhiều bất cập, nhiều xấu xa, ai cũng biết.
Nguyên nhân tụt hậu đã rõ, bệnh đã định nhưng thuốc chưa có. Có lẽ phải bình tĩnh chấn chỉnh từ lãnh đạo, sao cho có người có tâm, có tầm để họ quy tụ các tài này, để họ chấn chỉnh lại bộ máy nhà nước.
Sao nhiều phòng họp thế? Sao người ta cứ thay đổi kiểu ghế, mỗi ngày thêm oai vệ. Hôm nay Quốc hội họp, thấy các tay ghế to quá, chiếm nhiều diện tích và phản cảm.
Thế rồi hội họp liên miên, cổ cồn, cà vạt, trang trọng không biết có cái gì mới, hay là người ngồi đấy mà hồn lang thang nơi đâu?
Cũng cần xem lại câu: "Đảng bao giờ cũng đúng, tập thể bao giờ cũng sáng suốt". Cho nên lấy việc hội họp làm chính để rồi chỉ ăn và đi họp, còn cái sáng suốt không biết tìm ở đâu?
Có lẽ ta phải thay đổi: đề cao vai trò cá nhân, con người phải được đào tạo lại, phải đánh giá khác đi, phải sử dụng khác đi… có nghĩa là tất cả phải thay đổi.
Ông cha ta nói: ‘Hiền tài là nguyên khí quốc gia"
Nguyễn Mạnh Tường nói: "Tập thể là cái vô nghĩa".
Nguyễn Công Trứ thì bốp chát hơn: "Một đàn thằng ngọng đứng xem chuông. Nó bảo nhau rằng ấy cái "uông".
Còn Xê khốp thì chế diễu: "Những cái đầu rỗng tuếch ngồi sau những bộ bàn ghế bằng gỗ bồ đào".
c. Xây dựng kinh tế các nhóm lợi ích
Khi mở cửa, khi đón đầu tư nước ngoài, ai cũng nghĩ rằng: ta sẽ học, ta sẽ làm, ta sẽ có tất cả như các nước, ta tiến bộ, ta thừa sức theo kịp thiên hạ…Lúc đầu ta bàn nhiều đến cái thiếu sót, cái thua thiệt, coi đó là học phí với sự an ủi thầm kín. Đến nay, cũng đã nhiều năm: hãng Sony ra đi, ta không thấy nói gì đến ngành điện tử, ta có bao nhiêu hãng ô tô mà nay không thấy cái gì gọi là ô tô Việt Nam…Hóa ra xét tiến bộ đầu tư nước ngoài lấy số tiền đầu tư để đánh giá, còn nền công nghiệp của ta là một việc khác. Kết quả: mất đất, mất môi trường, sức lao động bị bán rẻ. Trong khi ấy, đồng ruộng cần máy móc nông nghiệp, phân bón; học sinh cần máy tính, người lớn cần điện thoại di động…thì tất cả của nước ngoài.
Những cái cũ ta có: gạo, café, cao su, bao nhiêu năm nay không giải quyết được ổn thỏa việc thu mua, chế biến, tồn trữ cứ vẫn như xưa. Cái ta có ưu thế tuyệt đối thì cũng không ổn định.
Những cái có mới, không ít, có thể chia ra hai loại: loại làm ra vì mục đích chính trị, nhằm khoa trương, kèm theo câu "nhất Đông Nam Á" như đường Trường Sơn, đường dây 500KV, hay như điện nguyên tử đến nay chưa có số lượng nhân lực ban đầu…Có cái khác thì thấy ai có thì học theo như Hà Nội bên Sông Hồng và Hà Nội rộng gấp 4 lần…; Loại thứ hai là thiếu hiểu biết kỹ thuật, bỏ ngoài tai ý kiến của các nhà khoa học, tự cho "chính trị là thống soái", rồi chống cả trời đất như việc quản lí đô thị: Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội: nạn ngập lụt người ta cảnh báo bao nhiêu năm, đã thấm đòn ở thành phố Hồ Chí Minh, đến nay lại xảy ra ở khu Mỹ Đình, nơi đỉnh cao của kiến trúc đô thị Việt Nam. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá mà không đi từ nông nghiệp, không công nghiệp hoá nông nghiệp, quy hoạch đô thị thì "Treo", không có luật nhập cư, công nghiệp hoá, xuất khẩu lao động thì bỏ rơi đào tạo nghề… các việc này người ta làm ở Châu âu từ thời kỳ Napoléon – Cái "Đảng bao giờ cũng sáng suốt", "Tập thể bao giờ cũng đúng" đi đâu mất rồi? Thế mà cứ bô bô "Năm này, năm kia ta sẽ hiện đại hóa, công nghiệp hóa!"
Còn một điều vô cùng nhức nhối: làm gì cũng nói sẽ vay vốn ODA, cứ vay rồi ai trả? Kinh tế thị trường mà không có vốn. Số nợ này là bao nhiêu? Ai biết?
Nếu chỉ có như trên thì đi một lẽ, nó lại có cái lẽ thứ hai, như rắn thêm chân:
Khi chúng ta còn bao cấp thì Philippin, Indonexia đã đi vào phát triển kinh tế. Các nhóm gọi là "nhóm lợi ích" đã ra đời. Nó là mối liên kết của những người kinh doanh, sản xuất với các người nắm quyền, họ đồng lõa quyết định mọi việc, từ đó rút ruột nhà nước, chiếm đoạt tài sản quốc gia… có khi đó là gia đình các nguyên thủ quốc gia như: Tổng thống Mác cốt, tổng thống Su hác tô phải ra tòa và ngồi tù là thế.
Ở ta thì những người thân quen, con cháu người cầm quyền từ TW đến cấp tỉnh đều núp bóng cha anh để làm ăn. Dân chỉ rõ công ty này là của ai? Công ty kia là của ai? Rồi những người có quyền chức ủng hộ cái này,diệt cái kia vì hối lộ…nền sản xuất bị chết từ trong trứng.
Indonexia, Philippin, Việt Nam có chung một bệnh, Philippin trước đây còn mạnh hơn ta mà nay suy thoái. Dù có nền dân chủ sơ khai mà không vực được nền kinh tế lên được.
Chưa hết, hiện nay Trung Quốc thâm nhập vào nền kinh tế Việt Nam, thâm nhập bằng cả quyền lực chính trị. Nếu như họ lại có trong tay các nhóm lợi ích hay là các nhóm lợi ích hai bên kết hợp với nhau thì có lẽ nền kinh tế Việt Nam đi đứt.
Việc phân tách kinh tế Việt Nam với các mô thức, chỉ số, công thức xin dành cho các kinh tế gia, chưa chắc các kinh tế gia đã làm được vì lẽ tình hình bị che dấu.
Thiếu nhìn xa trông rộng, không có quy hoạch, thiếu kiến thức, thiếu óc phân tích, không có các biện pháp phù hợp là một phía. Phía khác là nạn tham nhũng tràn lan, cùng với ý thức có quyền hành thì cứ làm, rồi che dấu, xuyên tạc, có thể là nguyên nhân của các nguyên nhân.
d. Hoàn toàn thất bại trong lĩnh vực tư tưởng, văn hóa:
Tôi bị bất ngờ : cùng một lúc nhiều người mà Đảng coi là tinh hoa, là tiêu biểu cho nền tư tưởng, văn hóa xã hội chủ nghĩa, đều lên tiếng phỉ báng Đảng. Có người đốt tác phẩm rồi nhịn ăn mà chết. Có người quên hết mình đã có những gì mà chỉ nhớ bài thơ, bài hát đầu đời khi chưa biết Đảng. Có người sau 30.4 gặp lại bạn văn thời xưa đã khóc mà nói là mình đã đóng kịch bao năm…Tóm lại họ tự nhân mình là "văn nô". Trần Đức Thảo thì ra đi trong đau khổ; Nguyễn Khắc Viện thì giữ khoảng cách đầy kiêu hãnh; còn Nguyễn Mạnh Tường thì lạnh lùng rời bỏ. Họ là người được thế giới ngưỡng mộ,nhân dân yêu mến.
Triết học, văn học, nghệ thuật, các khoa học khác để lại là tác phẩm. Tác phẩm gắn với con người – Thế là ta không còn tác phẩm, không còn con người. Thế là ta mất hết.
Rồi đây các hồi ký, các di cảo của nhiều người còn nói lên nhiều nữa: Nguyễn Đình Thi, Chế Lan Viên…
Cụ Tô Hoài theo Đảng, lúc Tây Bắc, lúc đồng bằng, ca ngợi Đảng hết lời, đột nhiên cho ra "Ba người khác". Nếu cụ còn loại này, xin cụ kịp thời cho ra mắt bạn đọc để Đảng ghét cụ, cụ qua đời sẽ lờ cụ đi, mọi người sẽ đưa cụ đi an nghỉ nơi có côn trùng nỉ non, có hoa có lá, có trời xanh nước biếc và sẽ để bên cụ "Dế Mèn phiêu lưu ký". Cụ chậm chạp, Đảng vẫn mến mộ cụ, cụ mất, sẽ đưa cụ vào Mai Dịch, rồi con cháu cụ xuất bản di cảo; lúc ấy các vị nằm quanh cụ sẽ đánh đòn "hội chợ" cụ và mọi người sẽ cười cả Đảng, cả cụ, một trận cười vỡ bụng.
Thời Pháp thuộc, 80 năm mất 20 năm bình định, gần 10 năm vì chiến tranh thế giới, dân ta chỉ có 20 triệu… lao động tay chân, hỏi lấy gì mà người Pháp xây dựng nổi Sài Gòn, Hà Nội, Đà Nẵng, đường xuyên Việt, đường sắt Bắc Nam vươn tới Vân Nam… Phố Tây Hà Nội thiết kế cho xe ngựa, nay ô tô như kiến, không tắc, không ngập. Nhà hát lớn, Cầu Du me, phủ Toàn quyền, các công viên, bảo tàng sau hơn 100 năm vẫn bền vững, vẫn đẹp…đẹp mà lại hợp lý… Còn ta, cũng cao, cũng to, cũng rộng… còn hơn các cái cũ nhưng không gây được ấn tượng nào, vào trong, đi, đứng, làm việc gặp nhiều bất tiện. Đó là vì, đây là một ngành khoa học không phải có tiền là cứ xây, vừa xây xong thì ngập lụt…Một nghiên cứu nói rằng: từ xa xưa, từng lớp thống trị nào cũng xây dựng các công trình đồ xộ coi như biểu tượng của chế độ, ta có thể cũng ở vào tình thế này. Các tỉnh, huyện, các ngành nào của ta cũng có não trạng này. Kết luận này có cơ sở ở chỗ, người ta coi hình thức hơn nội dung, coi nhà cửa, phòng họp, hhội trường quan trọng hơn con người. Con người không cập nhật với nhiệm vụ, với trách nhiệm. "Quan trí" cần phải nâng cao là lời nói cửa miện của người dân.
Gần đây rầm rộ lên cái gọi là cấm phản biện công khai, rồi quản chặt báo chí. Người ta kêu trời vì sự xuống cấp của đạo đức xã hội. Vấn đề quá dài, chưa thể đề cập nhưng phải nhận là đạo đức, là một mặt đời sống tinh thần, nó nở hoa hay méo mó cùng một nguyên nhân, cùng một kết quả với văn học, nghệ thuật.
Nguyên nhân của sự sa sút quá đáng của mặt văn hóa, tư tưởng của ta có phải là kết quả của sự lãnh đạo của Đảng: mọi việc phải theo ý lãnh đạo, một hình thức toàn trị về tinh thần, tư tưởng. Nó thui chột mọi sáng tạo cá nhân. Trước đây còn lờ mờ, nhưng nay đã lộ rõ.
Trước đây, văn học, nghệ thuật có phong trào, có chủ soái, có đấu tranh, có ngành phê bình như thơ mới chủ soái là Phan Khôi, Tự lực văn đoàn với Khái Hưng, Nhất Linh, họ sáng tác, họ tranh luận, họ phê bình… có phong trào rộng khắp trong nhân dân – Thật kỳ lạ! Đó mới là thời kỳ nở rộ về văn hóa, lại xuất hiện trong thời kỳ thuộc địa, dân lại 95% không biết chữ. Phải chăng văn học, nghệ thuật được tự do mới bay bổng. Cái gọi là "Tính Đảng", "Lề phải", "Lề Trái"trong văn học nghệ thuật, trong thông tấn báo chí là thuốc độc. Có khác gì người uuóng rượu khen rượu làm cho họ hưng phấn, họ mạnh lên.
đ. Khủng hoảng lãnh đạo:
Lịch sử đã chứng minh, một đất nước vượt lên đều gắn liền với một cá nhân kiệt xuất. Napoleon khi đã là Hoàng đế, triệu tập chuyên gia để làm luật dân sự, sự hiểu biết của ông vê luật làm mọi người ngỡ ngàng. Ông giải thích: khi còn trẻ, là trung úy đã bị phạt giam, trong phòng giam có sách, ông đọc thế rồi ông nhớ. Đạo luật "Sổ lao động"… là của Napoleon tồn tại đến giờ. Hồ Chí Minh, Lý Quang Diệu, Lý Thừa Vãn, Đặng Tiểu Bình, Tưởng Kinh Quốc đã minh định kết luận trên.
Với cái não trạng, cái lề lối làm việc của chúng ta hiện nay không thể chọn được người tài; ta lấy mục tiêu giữ vững chuyên chính, ai trung thành với ta thì ta chọn, chọn người thân cận, chọn người quanh ta… Người tài thì ở khắp nơi, họ đâu phục ta, quý ta, tin ta mà theo ta, rồi có theo ta lại nhiễm những thói xấu của ta, họ cũng thui chột. Cách của ta chỉ phù hợp với một chế độ đóng cửa, nghĩa là hàng chục năm mọi việc cứ năm sau như năm trước: không xuất cảnh, không Internet, không giao lưu, du học nước ngoài… mọi người câm nín. Giá Đảng Cộng sản Việt Nam giữ như Triều Tiên, Cu Ba…ông Fidel nghỉ, ông Ra-un thay; Ông Kim Nhật Thành mất, Ông In làm, có phải nhẹ nhàng, ăn chắc không?
Có điều rõ ràng nhất, chưa thấy một ai trong số 15 người khổng lồ, tỏ ra có các điều kiện của một chính khách: thiếu nhìn xa, trông rộng, không phân tích được tình hình để có kế sách phù hợp, làm hỏng rồi chữa, nói mãi mà không làm được
Thực ra chưa ai chuẩn bị cho mình thành chính khách, chưa ai đi theo một chínhkhách đích thực để làm học trò…
Ông Ôbama nói dài, viết dài, xem kỹ lại là các chuyện thời thơ ấu, các điều răn dạy làm người. Ông đi khắp nơi để bàn về hòa bình, sao không còn thấy ông lớn tiếng dài hơi… Cương lĩnh của ông chỉ có 3 chữ: "Phải thay đổi!". Ông đẩy mạnh hòa bình, dân chủ bằng diễn đàn toàn cầu, bằng lời góp ý với các nước. Có gì rầm rộ đâu. Ông biết rằng chỉ có hòa bình mới ngăn chặn Trung Quốc làm liều, chỉ có dân chủ, nhân quyền người dân Trung Quốc mới đổi thay số phận. Ông không đến Việt Nam nhưng những việc ông làm là nỗi khát khao của Việt Nam: dân chủ và hòa bình. Dân chủ trong ôn hòa mới mong tránh được kiếp chư hầu. Ông Oobama được giải thưởng Nobel là đúng. Vừa bước lên sân khấu nhưng giọng hát, lời ca đã đi ngay vào lòng người. Ông Ôbama chuẩn bị cuộc đời mình, cuộc đời của một chính khách xuất sắc, động thái đó hiển hiện ngay từ ngày đầu cầm quyền.
Hôm nay, ai cũng nhận định là tình hình đất nước nhiều bê bối. Nhiều người cho rằng xuất phát từ sự lãnh đạo của Đảng mà cụ thể là từ Bộ chính trị.
Nói cho rõ hơn là từ sau WTO, nếu ta cởi mở về chính trị thì tình hình có thể khác đi, nhưng ta vẫn giữ nguyên nếp cũ. Ngày hôm nay ta ngẫm lại xem, ta vẫn như xưa. Vẫn một nền nếp hội họp, ban hành các quyết định rồi cái thì làm được, cái thì làm được một nửa, có cái nói mà không làm hoặc nói một đàng làm một nẻo… vẫn dài dòng, thiếu sức sống, cũng ngày càng thêm nặng nề. Nặng nề đến mức tự Bộ chính trị phải kêu ầm lên là suy thoái, nói cả đến việc sẽ bị "tự diễn biến" từ trong nội bộ. Có người nói, nền nếp lãnh đạo của ta 60 năm rồi vẫn thế.
Tình hình chính trị như vậy là do sức sống của Bộ chính trị. Bộ chính trị không có một người gọi là chủ soái, nhóm này hôm nay thiểu số, mai lại đa số, nên có người nói một chính thể mà hai đường lối… mà lại không giữa chừng thay được như người ta, phải chờ đến Đại hội, đến Đại hội vẫn nhùng nhằng như vậy, thế là suy thoái dài dài, ta tụt hậu sau các nước cùng cảnh ngộ trước đây nhiều chục năm.
Nói riêng từng người, đến hôm nay không một ai gây được cảm tình từ trong nhân dân, ấy là chưa kể đến có người bị người đời dè bỉu. Kể cũng tội, nhiều ngườiđược Cụ Mười, Cụ Anh tôn lên, mà hai Cụ nào có biết ai là người tài. Các Cụ có cái chuẩn là kẻ nào bảo được là trung thành với chế độ, đó là chuẩn số 1. Ai làm cũng được, nên đã có chức, có quyền là tự tin ngay. Đầy tự tin mà kém cỏi thì đúng là: "giao quyền hành cho kẻ kém cỏi, khác nào giao súng cho thằng điên". Choáng ngợp trước quyền hành, giữ quyền hành đến cùng, nhưng lại không làm được việc, lại không tự giác thừa nhận, do đó bưng bít, tránh né. Và cuối cùng là nội bộ mâu thuẫn, nội bộ đã loại trừ nhau…Đất nước gánh chịu tất cả.
Đó là một cơ chế xây dựng quyền lực lạc hậu, nó kìm hãm sự phát triển.
Cơ chế này, lúc này lại phải đối mặt với hai thách thức, cùng một lúc ập đến: ta phải hòa nhập với thế giới phương tây để phát triển. Trung Quốc thâm nhập nước ta, mối đe dọa ta phải phụ thuộc họ đã quá rõ ràng. Bộ máy lãnh đạo tối cao của ta như đang bó tay, thế là ta vừa lạc hậu, vừa nô lệ như một sức nặng đè ta nghẹt thở. Bộ máy lãnh đạo tối cao lúc này như đang nghĩ quẩn, trong một tình thế quẫn.
Tôi không hề oán giận các vị. Vì lẽ con người bị hoàn cảnh chi phối, nhào nặn là lẽ thường. Tiếc rằng các vị không ai được bồi đắp để trở thành chính khách, có quyền lại không có một cơ chế ràng buộc, kiểm soát thì tất yếu xảy ra tình hình vừa là nạn nhân, vừa là tội nhân.
Có lẽ lúc này tìm cách để thay đổi, vớt vát lại. Cái gì cho bản thân, cái gì cho đất nước lầ con đường tốt nhất.
Gần đây việc dùng bạo lực tràn lan: bắt bớ, giam cầm, xét xử các nhà dân chủ, với các tội gán ghép;…. Sô sát, đàn áp giáo dân, phật tử, tu sĩ; bịt miệng, mạt sát các trí thức, bắt bớ, xét xử các nhà báo… có nghĩa là đánh tất cả. Không hiểu nhà nước, Đảng dựa vào ai để tồn tại. Hay là như người ta nói: khi sắp tan rã thường một chính quyền…tăng cường đàn áp.
Dựa vào công an để tồn tại; không được vì một khi trong Bộ chính trị đang có sự chia rẽ thì Công an nghe ai? Công an thi hành các mệnh lệnh đơn lẻ thì được, nhưng đại cục, lúc có biến động lớn thì không thể tin được. Nhân dân biểu tình, ngực đeo biển "Tôi là nhân dân", tay họ cầm hoa…liệu những người cầm súng có chúc mũi xuống đất như ta đã thấy khi bức tường Berlin bị rỡ bỏ không? Đó là cảm nhận của đông người.
Dựa vào Trung Quốc để tồn tại! Tôi chưa hiểu dựa như thế nào, không biết kịch bản Trung Quốc cứu sự đổ vỡ của Đảng và chính quyền Việt Nam ra sao? Tôi chỉ thấy con đường duy nhất tồn tại trong thân phận tôi đòi cho Trung Quốc. Không thể nói là tồn tại mà phải nói là đã bán đứt linh hồn cho quỷ sứ.
Gần đây đã lộ rõ một đường lối của Phương Tây: cụm lại để kiềm chế Trung Quốc. Dù có nhiều điều không bằng lòng họ vẫn hồ hởi với Việt Nam, vì Việt Nam còn yếu, nhưng lại vì "Ai giữ được Việt Nam, người ấy chiếm được thế giới!". Có sai lầm không khi nói:Trung Quốc là một nước có nhiều cà rốt, một nước đã từng dạy Việt Nam về lễ nghi, về cách ứng xử nhưng sao lại dùng cách lấn át, lăng nhục, cướp bóc và tàn sát… Nếu Trung Quốc thật khỏe còn khá, nếu chỉ là bề ngoài khỏe thì khả năng Trung Quốc nắm phần thua là điều không thể không xẩy ra.
Trước mắt 15 người khổng lồ, cái bàn cờ độc lập và dân chủ đã bày rõ: đi với Trung Quốc thì mất nước, còn Đảng, còn quyền nhưng lại là đầy tớ, đi với Phương Tây thì mất quyền nhưng còn nước, chỉ mất thân phận tôi đòi. Mà đi với Phương Tây thì phải dân chủ, dân chủ thì phải phát động quần chúng, giao quyền cho quần chúng. Một sự lựa chọn khó khăn cho người này, rõ ràng, dứt khoát cho người kia.
Có thuyết đu đưa giữa hai thế lực và hình như chưa đâu áp dụng - một thuyết đưa hai thằng thông minh vào cuộc có lợi cho thằng dốt! Thế thì chúng ta chọn ra 2 người đi, đưa ông Ôbama và Ông Hồ Cẩm Đào vào cuộc để rồi cử một nhà ngoại giao Việt Nam đứng giữa để thu lợi cho Việt Nam. Thuyết đu đưa giữa 2 thế lực chỉ là cái thuật trong việc tranh chấp cụ thể, không thể đưa thành thuyết nọ, thuyết kia. Ông đại sứ Việt Nam ngồi vào HĐBA Liên Hợp Quốc tuyên bố xanh rờn: "Không phụ thuộc vào nước lớn", trong khi Trung Quốc lấn át ta bằng đổ máu, bằng giành dật tài nguyên…thật là cười ra nước mắt.
Đất nước lạc hậu kéo dài đến gần nửa thế kỷ, các việc ta làm đổ bể, mất mát nhiều hơn là được. Thế giới đang biến động mà ta chập chững, loay hoay. Con đường đi lên chỉ thấy khó khăn. Phải chăng ta bị ý thức hệ kìm hãm, phải chăng chúng ta chỉ là người trưởng thành trong chiến tranh và bao cấp ! Phải chăng hoàn cảnh quay lưng lại với chúng ta, hoàn cảnh đã vượt chúng ta, hoàn cảnh đã đào thải chúng ta?
e. Sự thay đổi đã đến gần:
Hay là dân chủ hóa đã đến gần. Hay đúng hơn: Dân chủ hóa là có thể. Xét trong phạm vi trong nước, nếu một lòng để Trung Quốc sai khiến thì coi như mất nước; mất một lúc cả độc lập, tự do, hạnh phúc. Có nghĩa là ta một lúc gạt bỏ lịch sử 4000 năm,. Hậu quả là sẽ có biến động, bạo động, ly khai, nổi loạn ở trong nước… Đó là chắc chắn. Không cần biện luận. Đừng hòng có ai sống yên thân.
Xét trong phạm vi thế giới, cái họa Trung Quốc coi như cái họa toàn cầu, thiên hạ đã dứt khoát như thế. Có các động thái họ cụm lại, cụm để hạn chế Trung Quốc. Mà hạn chế Trung Quốc trước mắt phải giải quyết vấn đề Việt Nam. Ông Ôbama đi khắp nơi rao giảng hòa bình, cố gắng thu hẹp các lò lửa chiến tranh. Ông đang bàn thảo để khôi phục lại các căn cứ quân sự Mỹ tại Châu Á – Thái Bình Dương. Thế là vừa lên sân khấu, khúc ca đầu tiên đã cuốn hút lòng người. Giải Nobel của ông không phải là vội vã mà là đích đáng. Các nước Asean lôi kéo Trung Quốc vào bàn đàm phán để hai bên cùng có lợi, ai ngờ việc đầu tiên lại là vấn đề biển Đông. Thế là lờiông Dương Danh Di: "phải chống Trung Quốc nhưng Việt Nam đừng chống một mình", thế giới đã nghe theo, lời ông đúng là: "bụt chùa nhà không thiêng".
Dân chủ hóa lúc này là có thể. Người Việt Nam không bao giờ chịu làm nô lệ. Người Tàu với Việt Nam hình như bao đời không ưu nhau. Dân chủ hóa, chỉ có các quan tham ở 2 nước phản đối vì lo sợ mất tài sản, lo bị trả thù… Một khi lòng yêu nước trỗi dậy họ chấp nhận dân chủ hóa, thế là 100% dân Việt Nam một lòng giữ nước. Các nước trên thế giới: Âu, Mỹ, Asean sẽ hoan nghênh vì trút khỏi nỗi sợ Trung Quốc. Trung Quốc đang bối rối nội bộ, đang che chắn chống phản kháng của thế giới, làm gì có cuộc "động binh" nào chiếm Việt Nam. Cái chủ bài là khống chế được 15 người khổng lồ, nay họ ra đi, thế là hết phép. Truyền thông thế giới nói ít đến khó khăn của Trung Quốc là chưa thỏa đáng.
Nói riêng 15 vị khổng lồ, đến ngày hôm nay khi họ đã đánh tất cả các từng lớp nhân dân, công việc thì bê bối, nội bộ chia rẽ đến phải bộc lộ để dân biết, cố gắng bày ra việc này việc nọ, nhưng còn ai tin, ai nghe. Chứng nào, tật nấy: cứ toàn trị, cứ cấm đoán… đến nỗi biểu tình chống hàng Trung Quốc cũng chờ lệnh… tự nhiên trong cuộc thi thể thao trong nhà lại dám liệt Đài Loan thuộc Trung Quốc, ngang Hồng Công, Ma cao..
Can đảm chấp nhận dân chủ hóa là con đường duy nhất. Có bàn cãi chăng chỉ là ở điểm: chuyển đổi như thế nào?

IV. ĐẢNG TÁCH RA LÀM HAI – MỘT CUỘC CHỈNH ĐỐN ĐẢNG ĐÍCH THỰC.
a. Hãy chấm dứt một cách hiểu sai lệch:
Cựu tổng thống Binclinton nói ở đại học Thanh Hoa: "phản biện sinh ra chân lý", hai phe có những ý kiến khác nhau, đưa ra tranh luận để tìm ra ý kiến đúng nhất, hai bên chấp nhận và cùng nhau hợp tác thực hiện, làm cho mọi việc tốt lên"
Ở ta, nhiều người cho dân chủ là tranh luận để thắng thua…. Dân chủ chỉ có đối lập mà không có đông thuận, không có hợp tác và chung trách nhiệm, chũ đối kháng chữ đa nguyên coi như cấm kỵ ai nói tới điều này là phạm tội hình sự.
Đảng tách ra làm hai: là làm theo đúng tiêu chí trên: chân lý, phản biện, đông thuận, chia sẻ trách nhiệm, cùng hợp tác, cùng thực hiện chân lý, cùng phục vụ nhân dân.
Bài học Thái Lan đã chỉ rõ: dân chủ là đấu tranh để tìm ra chân lý, cái phải đạt là đồng thuận, đồng thuận ở Thái Lan đến chậm chạp quá, khi đạt được phải trái, đúng sai, họ sẽ tiến lên. Bảo rằng họ đánh nhau có nghĩa là đa đảng không tốt. Đó là một sự không hiểu thế nào là dân chủ đa nguyên.
Đảng tách ra làm hai là Đảng vẫn còn, Đảng chấm dứt độc tài, độc đoán, độc quyền chân lý… Đảng sẽ là đảng của dân tộc, của nhân dân một cách đích thực. Đảng mạnh lên, đất nước phồn vinh, dân tộc có chỗ đứng xứng đáng trong cộng đồng quốc tế.
b. Chọn mô thức Đảng tách ra làm hai là một bó buộc:
Toàn trị thì tha hóa. Tha hóa thì suy yếu đi đến tan vỡ. Nói rằng "Đảng tự vỡ", hôm nay không một ai phản bác nhưng tự vỡ như thế nào thì mọi người ngẩn ngơ.
Có cái gì như thầm lặng nói lên là Đảng ta tiếp tục cầm quyền là khiên cưỡng; không ai trong nhóm cầm quyền có những tố chất của một chính khách; toàn Đảng hiện nay lỏng lẻo đến mức chỉ còn là những người cầm quyền; bao nhiêu năm vẫn giữ đất nước trong vòng lạc hậu; nếu để tiếp tục cầm quyền thì nhất định nước ta sẽ bị nước ngoài thôn tính… Vì thế việc thay đổi như là một đòi hỏi sống còn.
Rà soát lại thì không còn hình thức chuyển đổi nào đã có tiền lệ trong lịch sử: không có phe đối lập để làm việc thay đổi; không có phe đối lập có thể dựa vào nước ngoài để gây ra một cuộc chuyển đổi, nếu có chỉ là một cuộc chuyển đổi để mà mất hết. Trong đội ngũ cầm quyền không có một người, một nhóm nào dám đứng lên để gạt bỏ đối phương để một mình lãnh đạo đất nước; lại không có thể có cuộc xâm lăng quân sự để có người anh hùng giải phóng dân tộc rồi làm vua, làm lãnh tụ…
Còn có những bó buộc khác: Đảng phải tập trung những người ưu tú của dân tộc, hiện nay thành phần này và như gần hết nằm trong Đảng nhưng bị lép vế với bao nhiêu nỗi niềm đắng cay. Đảng là Đảng cầm quyền, những người có khả năng này là những người nằm trong Đảng, một khi cờ đến tay họ thì gió có yếu, cờ vẫn bay. Chúng ta còn có bao nhiêu người "cộng sản tử tế", người vào Đảng để phục vụ nhân dân mà không hề băn khoăn cái gọi là ý thức hệ.
Nếu trong việc thực hiện, làm thật khéo léo, được mọi người ủng hộ, người muốn phản đối cũng thấy không có cái gì hơn đành tặc lưỡi chấp nhận, kẻ thù bên ngoài không có chỗ, không có cái lý để can thiệp, và cái yêu cầu nêu rất khiêm tốn, cần đạt được một điểm gốc chứ không đòi hỏi nhiều vì biết rằng dân chủ hóa là một quá trình, còn nhiều gian khổ… Có thể tóm lược các yêu cầu:
Có từ hai đảng, hai đảng kém, hơn hẳn một đảng xấu. Hai đảng thì có phản biện, có công khai, 4 năm một lần dân có thể thổi còi phạt góc, phạt 11m đến truất quyền thi đấu. Nhìn dần quen dần với vai trò làm chủ của mình, chính nhân dân hoàn thiện dần thể chế, có tham khảo những góp ý của các nhà chính trị, văn hóa để đi tới một nền dân chủ dần dần vững chắc.
Đảng viên là người lãnh đạo, đề ra quốc sách, ứng phó mọi cái… thế thì phải thuộc về trí thức; mà trí thức ở nhiều lĩnh vực, với cái ý nghĩa trí thức là người giải quyết được mọi yêu cầu do cuộc sống của đất nước đặt ra. Vậy thì "quý hồ tinh bất quý hồ đa". Một tỉnh có đảng bộ độ 50, 70 người, thành phố có 100 đến 200 người mà có tâm, có tầm, khỏe bằng vạn đảng bộ có 4, 5 hàng con số… Có tâm, có tầm người ta sẽ làm, không gây hậu quả xấu, chỉ có kết quả tốt đẹp.
Việc chuyển đổi sẽ không gây biến động, không làm sáo trộn đất nước, êm ả mà chuyển đổi, chậm chạp và chắc chắn, bó buộc là không ai được để nước ngoài can thiệp, việc làm có tạo ra đồng thuận.
Không đặt ra việc tìm lý luận, đường lối, chủ thuyết. Đây chỉ là bước đi để hình thành tổ chức, cái việc này do tổ chức có chức năng làm. Lý thuyết về Đảng và Hội đã khá phổ biến trên thế giới rồi. Trước mắt phải có tổ chức, tổ chức… thay đổi sao cho tương ứng với nhiệm vụ, với đặc điểm, đó là việc của từng đảng.
Hình thành tổ chức có thể hình dung: chính những người cộng sản thực hiện việc tách đảng, con người vẫn là cộng sản, không ai cướp quyền của Đảng. Lẽ dĩ nhiên có một số người ngoài Đảng xin gia nhập.
Phải coi việc tách đảng là một cuộc chỉnh đốn Đảng cộng sản hiện đang cầm quyền.
Đảng viên của Đảng đang cầm quyền sẽ chia ra 1 số đi theo Đảng mới vừa thành lập, một số vẫn ở trong Đảng như hiện nay, một số sẽ ra khỏi Đảng vì rất nhiều lý do. Các Đảng mới sẽ tự hoạt động. Đảng đang cầm quyền nếu không tự tuyên bố giải thể mà vẫn tồn tại, vẫn hoạt động thì nên tổ chức việc kết nạp lại: những người nhiều tai tiếng, những người không thiết tha với Đảng họ sẽ không đăng ký xin kết nạp lại, thế là bớt đi một phiền nhiễu cả kẻ đi lẫn người ở lại. Các Đảng mới là cứ hoạt động theo một đạo luật mới, đều bình đẳng. Thế là thể chế đa đảng hình thành một cách êm ả.
Không quá coi trọng việc viết văn kiện, việc ra mắt. Cái chính là Quôc hội chấp nhận đại diện tham gia ứng cử Quốc hội lập hiến là mọi việc khai thông.
Giữ nguyên luật pháp hiện hành, luật mới ra đến đâu thì phủ định luật cũ đến đấy, chấp nhận có sự vênh giữa luật và thực tiễn, nhưng chỉ chấp nhận tồn tại thời gian tối thiểu.
Giữ nguyên bộ máy cũ và chấn chỉnh, sửa đổi dần dần, với một nguyên tắc: người cầm đầu phải là người giỏi nhất, người đứng ra chấn chỉnh ngành, chấn chỉnh từ trên xuống. Coi trọng vai trò người cầm đầu, giai đoạn đầu coi như họ tối hậu quyết định.
Giải quyết tham nhũng có ý kiến cần tiếp tục, có phản bác là giai đoạn vừa chuyển đổi, công việc bề bộn, nhân sự chưa ổn định không thể làm việc chống tham nhũng. Có ý khác là vẫn phải làm bằng mọi giá. Lại thêm có ý kiến chống tham nhũng sẽ rối loạn, sẽ không thiếu những đòi hỏi bức súc, không riêng gì đối với chống tham nhũng và còn nhiều vấn đề của nhiều lĩnh vực khác. Có thể nên dành cho các Đảng được thành lập mở hội nghị bàn tròn để giải quyết.

V. LỘ TRÌNH TÁCH ĐẢNG VÀ BAN VẬN ĐỘNG THÀNH LẬP ĐẢNG
a. Thái độ của Bộ chính trị quyết định việc chuyển đổi:
Nếu bộ chính trị chưa cho rằng việc chuyển đổi là cần thiết và coi cuộc vận động là một hành vi phiến loạn rồi ra tay cấm đoán và đàn áp thì mọi việc cứ như hiện tình mà tiến bước, dành cho thời gian phân xử. Đó có thể là một sai lầm dẫn đến mất nước, khác gì là Lê Chiêu Thống. Nếu Bộ chính trị nhận thức được tình hình thế giới hiện nay các cường quốc đã quy về một mối, Trung Quốc gặp khó, không thể muốn làm gì Việt Nam thì làm. Nhân cơ hội này Việt Nam chuyển đổi thể chế thì Trung Quốc đành bó tay. Thế là ta thoát nạn và một thế lâu dài được mở ra. Trường hợp này chỉ cần Bộ chính trị mặc nhiên để cuộc chuyển đổi êm ả diễn ra và cao hơn nữa là mở hội nghị bàn tròn giữa Đảng và các tổ chức vừa hình thành bàn bạc. … Việc chuyển đổi do quyết định đa phương phác ra. Khi chuyển đổi thể chế ở Ba Lan, Ba Lan đã phải họp 25 cuộc họp liên tịch, có nhiều cuộc kéo dài, thời gian đến nửa năm.
Ở Việt Nam đây là đóng cửa bàn chuyện nhà. Sau khi bàn soạn kéo dài, đưa ra tuyên bố giữ đảng và chính phủ với các đại biểu nhân dân về cuộc thay đổi thể chế, ta kéo sang Bắc Kinh để thông báo và xin lời chỉ đạo.. liệu họ sẽ làm gì?
Công việc trong nước không hề thay đổi. Từ trên mọi việc thay đổi dần dần. Có tuyên bố tin này đến nhân dân. Một số người sẽ không vui nhưng vẫn phải bằng lòng. Cuộc thay đổi trong tinh thần cả nước một lòng, gác lại quá khứ, toàn dân giữ nước, toàn dân một lòng xây dựng tương lai.
b. Tình hình hiện nay
Trong tình hình chính trị đất nước hiện nay, cảm thấy là khó có người nào đó đứng ra hiệu triệu thành lập một Đảng chính trị, càng khó hơn ai dám bí mật tập hợp một số người để lập Đảng… dù rằng bản thân người ấy đã là những đảng viên, những quan chức cỡ lớn, có tự tin là mình được nhiều người ái mộ, là mình làm một cuộc dấn thân vì nhân dân. Đây là hạn chế rất lớn. Làm sao để vượt qua? Có thể chấp nhận một bước đi quá độ, một bước thăm dò, một giải pháp để vượt rào có thể thu xếp như sau:
Một số người tự đứng ra vận động thành lập một đảng "Đồng thuận", có tính Đa nguyên, tự xác định nhiệm vụ, lề lối như sau:
Thành phần là những đảng viên, cán bộ đã làm việc lâu năm trong tổ chức Đảng và tổ chức Nhà nước. Tức là có sự am hiểu nhất định về việc và người. Số người này xác định các đối tượng có thể là nòng cốt cho Đảng cần tổ chức để bàn soạn việc chung và riêng.
Ban vận động cần mời được đủ từ 30 đến 50 đối tượng thì coi như hoàn thành nhiệm vụ. Khi mời được người thứ 5, thứ 7 thì những người được mời dĩ nhiên trở thành thành viên Ban vận động.
Khi con số lên đến 30, 50 thì Ban vận động tự giải thể. Ban phụ trách lâm thời của Đảng được ra đời. Từ ấy, mọi việc là của Ban phụ trách lâm thời.
Ban vận động xét cho cùng là một tổ chức "lobby chính trị", một ban liên lạc, một ban thăm dò. Các thành phần trong Ban vận động sau khi hoàn thành nhiệm vụ, lấy thời điểm các ban phụ trách lâm thời các Đảng làm nhiệm vụ thì tự giải thể. Các thành viên Ban vận động dù có khả năng cũng không được tham gia các ban bệ của Đảng mới.
Việc Bộ chính trị không ngăn chặn, không cấm đoán, không khủng bố những người trong Ban vận động thì mặc nhiên có sự ra đời các Đảng mới, thực chất là các Đảng viên hiện nay tách ra coi như Bộ chính trị bật đèn xanh cho việc chuyển đổi thể chế.
c. Cái mô thức dân chủ hóa có thể bị dập tắt trong quá trình thực hiện vì không có sự đồng thuận của đa số trong Bộ chính trị.
Ngược lại mô thức này thành công ở thời điểm luật Bầu cử Quốc hội được ban bố và các Đảng cử đại biểu tham dự mà không bị cản trở.Cái chốt đã được vứt bỏ, chúng ta không cần bàn nhiều, có biết bao nhiêu tài năng được cởi trói, mọi việc có thể tiến hành rất nhanh ngoài sức tưởng tượng của mọi người. Cái não trạng tự mình hù dọa mình sẽ được gột rửa.

VI. VÀI DÒNG KẾT THÚC:
Trung Quốc hình như đã đi quá đà: thế kỷ 19 là của Anh, thế kỷ 20 là của Mỹ, thế kỷ 21 là của Trung Quốc, nhiều người nói thế và các dấu hiệu đã có. "Trung Quốc là con hổ ngủ", điều này khi tôi còn nhỏ đã được nghe, có đến gần 100 năm rồi nhưng vội nói rằng có thể chiếm Việt Nam trong 31 ngày, có thể đánh chiếm Ấn Độ và diệt cả Mỹ… rồi đòi chia đôi biển Thái Bình Dương với Mỹ lấy Hawai làm mốc… Nói thật hay hù dọa. Tôi tin là đã xa đà vào thế đang lên thành ra ngoa ngôn. Các trí thức thế giới hãy nghiên cứu kỹ Trung Quốc để có sự thống nhất nhận định, chỉ đạo cho mọi suy nghĩ và hành động của nhân dân thế giới. Nhân dân Việt Nam có lẽ là người xếp hàng số 1 để có được tài liệu này. Người ta còn nghĩ rằng Trung Quốc đang đi vào con đường của Liên Xô.
Một tình thế mới đang hé lộ: các nước lớn đã thấy mối đe dọa của Trung Quốc, họ như đang cụm lại để ngăn chặn Trung Quốc, cả các nước Asean cũng đã đòi tham gia giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông… Khủng hoảng về tài chính cũng làm cho Trung Quốc bị tổn thương, chưa rõ mức độ, khác với trước đây là đa cực nay hình thành như có hai cực… Điều này là một cái may, là một vận hội chưa bao giờ có. Nếu thế giới ngăn chặn được Trung Quốc thì Trung Quốc không thể chèn ép quá mức Việt Nam. Lúc này là lúc Việt Nam nên có thái độ rõ ràng. Thế giới phải giữ Việt Nam. Trung Quốc phải chiếm được Việt Nam. Trung Quốc mạnh hay thế giới mạnh, thời điểm một mất một còn, dù chon lựa gì thì cũng phải theo Phương Tây, mất Đảng còn nước. Theo Phương Đông mất nước, Đảng còn nhưng là cái xác không hồn, thế là mất cả Đảng cả nước, rồi dẫn đến Hán hóa là mất cả dân tộc. Một sự lựa chon không cần phải bàn cãi. Lúc này là lúc dứt điểm.Còn đối với Trung Quốc vẫn giữ hòa hảo như xưa, không sợ quá mức, hãy xem Trung Quốc gần đây đã hạ giọng rồi…Ta cũng phải kiên trì 16 chữ vàng vì đã nói là "chữ" thì chữ bao giờ cũng đúng. Cái sai là giải thích sai, cái sai là lớn hơn, là thực hiện sai. Ta nên lấy 16 chữ vàng để buộc Trung Quốc phải thực thi. Ta phải giao quyền lực cho Quốc hội để làm chỗ dựa đối nhau với Trung Quốc và luôn nhớ rằng ta không biết tự vệ là thiếu sót của ta.
Lúc này hãy nghiêng hẳn về Phương Tây, lúc này chớp thời cơ để dân chủ hóa, Trung Quốc đang lúng túng, chưa thể "động binh" để diệt ta. Đánh lẻ, ăn chắc trong cái thế toàn cục đang chưa ổn định. Phải chăng là điều có thể.
Đất nước ta hôm nay như trong tình trạng nước sôi lửa bỏng: Trước Đại hội X, mong mỏi của nhân dân là mở rộng dân chủ cho dễ thở, có lực để phát triển và chống được tham nhũng. Trước Đại hội sắp tới, việc Trung Quốc thâm nhập vào Việt Nam quá rõ ràng. Mọi suy nghĩ chuyển thành làm sao giữ được độc lập. Tất cả tập trung hy vọng vào việc dân chủ hóa. Dân chủ hóa sẽ giải quyết được việc trước mắt là độc lập, nhưng cũng một lúc giải quyết tham nhũng và mở đường cho phát triển.
Thế là trở lại khẩu hiệu: "Độc lập – Tự do – Hạnh phúc" của năm 1945
Dân chủ hóa hai chữ ngắn gọn mà ngọt ngào, lại là tất cả trong lúc này./.

Luật Sư Trần Lâm
Tháng 11/2009
ĐT: 0982744326

______________________________________
Đảng CSVN hiện nay đã phản bội bội lại chính cương lĩnh «đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc».Con đường cứu nước của các đảng viên lương thiện đang mở rộng. Qúy vị hãy:

Bước ra khỏi dảng CS hiện tại do Nông Đức Mạnh làm chủ tịch.
Thành lập một đảng CS mới phù hợp với điều 4 hiến pháp 1992 vì đảng cộngsản VN hiện tại không phù hợp với những quy định của điều 4 HP.
Theo tâm nguyện của qúy vị cũng như của tòan dân, chúng ta có thể tạo lập một hội nghị bàn tròn để cùng xây dựng tương lai đất nước trong tình yêu thương truyền thống của dân tộc VN.
Điều 4 (Hiến pháp 1992)
Đảng Cộng sản Việt Nam, (1)đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, (2)đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, (3)theo chủ nghĩa Mác - LêNin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.
Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

Chủ Nhật, 29 tháng 11, 2009

Giá trị của dân chủ...


Hãy hiểu giá trị của Dân Chủ, bảo vệ nó, và đừng để ai cướp nó đi. Cũng đừng chịu thua một chế độ nào, mà phải can đảm đòi hỏi quyền của mình. Nếu không sẽ không bao giờ có thay đổi."

Trèo tường và vượt biển là những quyết định một sống, một chết của người sống dưới chế độ CS, tự đặt đời mình lên chiếu bạc: để hoặc được sống tự do, hoặc chết, chứ không chấp nhận cuộc sống không ra sống. Cho tới nay, đã có gần 1400 người chết khi vượt tường Bá linh và 75,000 người ngồi tù vì âm mưu trèo tường bị phát giác trước khi thực hiện. Về vượt biển, thì đã có gần 1 triệu người bỏ mình trên biển Đông, hoặc bị hải tặc sát hại. Thế mới biết hai chữ "tự do" thực là đắt gíá và chế độ CS bị ghê tởm từ đông sang tây.

Tại Đức, .sau khi bị chia làm đôi, Đông Đức do Nga kiểm soát và Tây Đức do Anh, Pháp, Mỹ chịu trách nhiệm thì đã có khỏang 3.5 triệu người chạy từ Đông qua Tây để tìm tự do. Ngày 12/08/61, Đông Đức đóng cửa biên giới và cho xây bức tường Ô Nhục giữa Đông và Tây Bá Linh để ngăn cản làn sóng tỵ nạn. Bức tường ô nhục với đầy đủ các cạm bẫy giết người này là tác phẩm của Tổng Bí Thư Liên Xô, Kruschev và Đệ Nhất Tổng Bí Thư Đông Đức, Ulbridht. Nhưng bức tường này không ngăn cản được những người dân Đông Đức tìm tự do.

Người ta còn nhớ sau khi kiểm soát Đông Đức, chính quyền Liên Sô đã liên tục thanh trừng nội bộ, bắt bớ và giam cầm những người bất đồng chính kiến, theo dõi kiểm soát dân chúng nghiêm ngặt. Trong khi đó mức sống ngày càng khó khăn, thực phẩm đắt và khan hiếm.. Hơn 1 triệu người Đông Đức đã xuống đường biểu tình. Chính quyền Đông Đức sợ hãi phải vào ẩn trú ở Tổng hành dinh của Hồng quân Liên Sô. Cuộc chống đối đầu tiên này đã bị xe tăng Liên Sô đàn áp thẳng tay, ghì chăt dân Đông Đức dưới xích sắt. .

Tháng 3/1989, Thủ Tướng Hungary, nhận được tín hiệu của Gorbachev, đã gỡ bỏ hàng rào kẽm dọc theo biên giới. Lập tức 60,000 người đông Đức ào ạt chạy sang Tây Đức. Chính quyền Đông Đức không kiểm soát được nữa. Ngày 9/11/89 bức tường Bá Linh hoàn toàn sụp đổ. Người ta nhảy múa, ca hát quanh bức tường. Rồi với bất cứ vật gì có trong tay, người ta đập phá bức tường , và ăn mừng với những lát bánh mì nướng. Ngay cã những người lính Đông Đức cũng tiếp tay phá hủy bức tường này. Ngay trong tháng đầu đã có 2 triệu người Đông Đức tràn qua Tây Đức. Bức tường Bá Linh sụp đổ là cánh cổng mở ra cho nền dân chủ.không phải riêng nước Đức, mà còn của các quốc gia Âu châu khác như Slovakia, Hungary, Balan, Latvia, Slovenia, và Estonia.
Nhiều người thắc mắc đâu là nguyên do chính của sự sụp đổ bức tường Bá Linh ? Để kỷ niệm 20 năm của ngày thống nhất nước Đức, tháng 11/2009, vợ chồng ký gỉa Katrina Vanden Heuvel và Stephen F. Cohen, biên tập viên tờ "The Nation" đã làm một cuộc phỏng vấn ông Mikhail Gorbachev, vị tổng thống Liên Xô vào thời điểm đó.

Khi được hỏi: "Bức tường Bá Linh được phá đồ và chấm dứt chiến tranh lạnh là do cuộc cách mạng dân chủ ở Đông Âu hay là do sức mạnh của Hoa Kỳ ? Hoặc do cả hai ?"

Tổng Thống Gorbachev đã trả lời:" Đây là kết quả công cuộc cải tổ ở Liên Xô, khi quá trình chuyển hóa theo đường hướng dân chủ đã đạt đến đỉnh vào tháng 3/1989, tức là thời điểm khi lần đầu tiên trong lịch sử Nga đã diễn ra cuộc bầu cử dân chủ và có tính chất cạnh tranh. Đó là cuộc bầu cử Quốc Hội mới ở Liên Sô. Kết quả là 35 bí thư đảng uỷ khu vực đã thất cử. Xin nói thêm là 84% đại biểu được bầu là đảng viên, tuy nhiên nhiều đảng viên chỉ là người dân thường làm công nhân hoặc lao động trí óc. Đây là cuộc bầu cử cực kỳ quan trọng. Có nghĩa là phong trào đã đi theo hướng dân chủ, công khai, và đa nguyên. Những quá trình tương tự cũng xảy ra ở Trung và Đông Âu…"

Khi được hỏi: "Sau cuộc bầu cử ở Liên Sô vào tháng 3/1989, việc bức tường Bá Linh sụp đổ là không thể tránh khỏi ?"
TT Gorbachev trả lời: " Đúng như vậy."."

Như vậy, bức tường Bá Linh sụp đổ cũng là do nhiều yếu tố đúc kết lại. Sự cải tổ của Liên Sô theo đường hướng dân chủ là một điểm mấu chốt. Sức mạnh của nhân dân Đức và sự ủng hộ của Hoa Kỳ cũng không kém phần quan trọng.

Xoay qua cục diện VN, dân VN khao khát tự do không kém gì người Đức. Bức tường Bá Linh sụp đổ đem laị niềm hy vọng cho dân VN, nhưng 20 năm qua rồi! chế độ vô nhân vẫn tồn tại, và tồi tệ hơn bao giờ hết, còn thêm tội buôn dân, bán nước. Nó như thế vì có sự tiếp tay của các thế lực tài phiệt nhằm khai thác tài nguyên nhân lực VN trong khung cảnh kinh tế toàn cầu.
Người VN, gồm 3 triệu người hải ngoại và 80 triệu người dân trong nước vẫn hằng khao khát một bầu trời tự do, một làn gió dân chủ cho quê hương VN. Chúng ta không thể hy vọng gì nhiều của thế giới. Chúng ta chỉ có thể tin cậy vào chính bàn tay và khối óc của chúng ta. Ông Dieter Von Wichmann, một trong số 75,000 người ngồi tù ở Đông Đức vì tội âm mưu trèo tường đã có lời nhắn gửi cho những ai còn đang sống dưới ách CS: "Hãy hiểu giá trị của Dân Chủ, bảo vệ nó, và đừng để ai cướp nó đi. Cũng đừng chịu thua một chế độ nào, mà phải can đảm đòi hỏi quyền của mình. Nếu không sẽ không bao giờ có thay đổi."

Triệu Vũ
____
MGP