Saturday, December 1, 2012

HỒI HỌP !^§^! ĐIỂM BÁO: Ngày tận thế, nguồn cảm hứng bất tận cho các nhà sáng tác

Thứ bảy 01 Tháng Mười Hai 2012
Theo diễn dịch từ lịch cổ maya, 21/12/2012 sẽ là ngày tận thế (DR)
Theo diễn dịch từ lịch cổ maya, 21/12/2012 sẽ là ngày tận thế (DR)

Minh Anh
Theo các diễn dịch bí truyền từ lịch cổ maya, ngày thứ sáu 21/12/2012 sẽ là ngày tận thế của nhân loại. « Chuyện gì sẽ xảy ra cho chúng ta vào ngày đó ? », cho đến giờ vẫn chưa thể nào biết chính xác được. Chỉ biết rằng ý tưởng Ngày Tận thế đã được lưu truyền trong các kinh thánh và sau này là những nguồn cảm hứng bất tận cho văn học và phim ảnh.

Le Figaro đăng bài viết về chủ đề này trên mục Văn hóa và Độc giả. Tờ báo điểm lại những tác phẩm nghệ thuật kinh điển có liên quan đến đề tài này, đã được phát hành trong những thế kỷ và thập niên gần đây. Các diễn giải bí truyền từ lịch cổ Maya cho rằng trái đất sẽ bị tận diệt vào ngày thứ sáu 21/12/2012. Không biết thực hư như thế nào chỉ biết rằng các cảnh tượng đó đã được mô tả nhiều qua các tiểu thuyết, phim ảnh hay các tác phẩm hội họa tại các bảo tàng mà thôi.
Le Figaro cho biết, tại Pháp, từ đây cho đến tuần đầu tiên của năm mới, một loạt các hoạt động văn hóa có liên quan đến chủ đề này sẽ diễn ra. Một loạt các tiểu thuyết đã được xuất bản : Ngôi làng của ngày Tận thế (Le Village de la fin du monde) của tác giả Nicolas d’Estienne d’Orves, Les fins du monde (Giây phút cuối cùng của thế giới) của François Bourin hay như Si le soleil ne se lève plus (Nếu Mặt trời không còn mọc) của Jean-Noel Lafargue.
Một diễn đàn về hình ảnh Ngày Tận thế cũng sẽ được tổ chức tại Paris từ ngày 12/12/2012 cho đến hết ngày 06/01/2013. Các kênh truyền hình của Pháp cũng không bỏ qua cơ hội hiếm có, đua nhau phát sóng các bộ phim về chủ đề này.  Tại thành phố Lille của Pháp, hai đợt triển lãm tranh sẽ được tổ chức. Dĩ nhiên sẽ rất là thiếu sót nếu không kể đến triển lãm mang chủ đề « Babel » nói về thành cổ Babylone và sự tàn phá của nó. 

Những kịch bản phim hay nhất về thảm kịch

Điều kỳ lạ là ngày được ấn định là thứ sáu 21/12 chứ không phải là thứ sáu 13 rủi ro như thường lệ… Như vậy, chuyện gì sẽ xảy ra vào ngày thứ sáu đó ? Các biện pháp cần phải thực hiện để có thể thực hiện một cam kết đầy tham vọng như thế ? Kinh thánh là nơi phơi bày cảm nhận đầu tiên về các công cụ của sự tàn phá : Đại hồng thủy, chất lưu huỳnh và hỏa hoạn… Từ đó, các nhà viết kịch bản và nhà văn đã vắt óc và tưởng tượng thêm ra nhiều cách thức khác nhau để dàn dựng nên một cảnh tượng đẹp về ngày Tận thế.
Đầu tiên hết là phải kể đến sự xâm lấn của người ngoài hành tinh hay các âm binh được mô tả qua các tiểu thuyết viễn tưởng như La guerre des Mondes (Chiến tranh các vì sao) của H.G. Wells, phát hành năm 1898 ; rồi đến bộ phim Mars Attacks (1996) của Tim Burton, Independance Day (1996) của Roland Emmerich.
Dịch bệnh cũng là chủ đề ưa thích, dẫn đến thảm họa diệt vong. Từ Contagion (2011) của Steven Soderbergh, 28 jours plus tard – tạm dịch là « 28 ngày sau đó » (2002) của Danny Boyle. Le Figaro cho rằng chủ đề này đã được bắt đầu từ cuối thế kỷ 19, với tác phẩm Le dernier Homme (Người cuối cùng) của Mary Shelley năm 1826, hay như La Peste (Tai họa – 1947) của Albert Camus.
Dần dà với sự phát triển của khoa học công nghệ, nguyên nhân Ngày Tận thế còn được giải thích bởi các thảm họa công nghệ - chủ yếu là hạt nhân. Một loạt các phim có liên quan đến yếu tố khoa học đã ra đời như bộ phim hài Docteur Folamour (1964) của Stanley Kubrick, hay bộ phim Le Syndrome chinois – tạm dịch là Hội chứng Trung Quốc của Jane Fonda, Jack Lemmon và Michael Douglas năm 1979. Hay như chuyện những người có khả năng để cho các máy móc và người máy chiếm lấy quyền lực và giam giữ con người cũng là những giả thuyết dẫn đến Ngày Tận thế.
Cuối cùng, khi công nghệ không thể nào chống lại con người được nữa, thì khi đó lại đến lượt thiên nhiên. Các thảm họa thiên nhiên có thể biến một Paris tràn lệ thành một sa mạc trong Peut-être (1999) của Cedric Klapisch, Le jour d’après - Ngày sau đó (2004) do Roland Emmerich… Tờ báo tự hỏi : « nếu như không có chuyện gì xảy ra vào ngày 21/12 thì sao ? ». Những người có tinh thần vững sẽ nói rằng lời tiên đoán của người Maya chỉ là điều hảo huyền. 

Ukraina : bệnh Sida bùng phát do chính quyền mù quáng 

Tại Ukraina, tính đến nay đã có 30 ngàn người tử vong vì căn bệnh Sida. Bên cạnh đó, tỷ lệ người mắc bệnh không ngừng gia tăng và còn cao hơn cả tại châu Phi. Tuy nhiên, chỉ vừa đúng có 1/3 số người bệnh được chăm sóc, trong khi đó ở châu Phi là hơn 50%. Các tổ chức ONG tại Ukraina chỉ trích mạnh mẽ sự thờ ơ của chính quyền Kiev. Chủ đề này được tờ Libération quan tâm đến qua bài viết đề tựa « Ukraina : bệnh Sida bùng phát bởi do sự mù quáng của chính phủ ».
Theo các tổ chức ONG tại Ukraina, chính sự lạnh lùng và nạn tham nhũng là nguyên nhân dẫn đến dịch bệnh lan tràn. Nhất là vấn đề nhân quyền đã không được tôn trọng. Một quan chức của một tổ chức ONG cho Libération biết có đến 55% số người xét nghiệm dương tính đều là các con nghiện. Thế nhưng, duy chỉ có 7,7% là được điều trị kháng vi-rút. Bởi lẽ, tại quốc gia này, tất cả các con nghiện đều bị xem là tội phạm, bị xã hội ruồng bỏ, do đó tuổi thọ cũng rất thấp. Vấn đề ở đây là do chính sách của nhà nước, thủ tục hành chính khó khăn nên người bệnh không thể tiếp cận được các trung tâm điều trị.
Tổ chức chống bệnh Sida của Liên Hiệp Quốc đánh giá tình hình dịch bệnh tại Ukraina cũng thảm hại như là tại Nga. Do tiêu thụ nhiều chất gây nghiện, tỷ lệ người mắc bệnh liên tục gia tăng từ 10 năm nay. Cho đến ngày hôm nay, đã có 30 ngàn người tử vong. Theo các tổ chức ONG, nghèo khổ và sự ghẻ lạnh của chính phủ cũng như xã hội là những tác nhân chính khiến bệnh dịch lây lan nhanh chóng. Thêm vào đó, nạn quản lý thuốc lỏng lẻo, con nghiện có thể tìm mua dễ dàng các chất gây nghiện tại các nhà thuốc tây.
Nếu như tại các nước phương Tây khác như Đức, Anh và Pháp, các chương trình phòng ngừa như trao đổi các ống tiêm và sử dụng các sản phẩm thay thế khác đã gặt hái nhiều thành công, giúp phần hạn chế tỷ lệ lây nhiễm bệnh, thì tại Ukraina, lại đi ngược lại. Không một chính sách phòng ngừa nào được triển khai. Thậm chí, các quan chức chính quyền còn cho rằng tất cả các biện pháp phòng ngừa đó chỉ thúc đẩy nhanh hơn sự lây lan.

Cận thị : một dịch bệnh trên toàn cầu

Cũng liên quan đến sức khỏe, báo Le Monde có bài viết báo động đề tựa « Cận thị : một dịch bệnh toàn cầu hóa ». Tờ báo trích dẫn kết quả một nghiên cứu khoa học cho biết tại châu Á và tại nhiều nước công nghiệp phát triển khác trên thế giới, dân cư tại các đô thị thường gặp các rối loạn về mắt, mà nguyên nhân chính là do thiếu ánh sáng tự nhiên.
Theo nghiên cứu của giáo sư Ian Morgan, thuộc trường đại học Canberra của Úc, đăng trên tạp chí The Lancet, gần 90% giới trẻ châu Á (Trung Quốc, Singapore, Đài Loan, Hồng Kông, Nhật Bản và Hàn Quốc) tại các khu đô thị ở những nước phát triển đều bị cận thị vào cuối các học kỳ. Tỷ lệ này chỉ ở mức 25% đến 40% ở các thế hệ trước đó. Trong số 90% đó, có đến từ 10% đến 20% là bị cận thị nặng. Tỷ lệ gia tăng này bắt đầu vào khoảng giữa những năm 1990. Tình hình này cũng xảy ra tương tự tại châu Âu và Hoa Kỳ nhưng với tỷ lệ thấp hơn.
Ông Marc Klein, giám đốc hiệu mắt kính Lissac cho rằng di truyền là yếu tố hàng đầu của chứng bệnh, nhưng cũng phải kể đến yếu tố môi trường (nơi cư ngụ, thực phẩm…). Tuy nhiên, nghiên cứu của GS Ian Morgan đã làm nổi rõ tác hại của sự thiếu ánh sáng tự nhiên. Theo bà, « chất dopamine, một chất dẫn trong hệ thần kinh được tạo ra trong võng mạc dưới tác động của ánh sáng, đóng một vai trò quan trọng trong việc truyền tải các hình ảnh lên não và ngăn ngừa sự tăng trưởng quá mức của mắt từ khi sinh ra cho đến 25 tuổi. Một con mắt ‘quá dài’ là mắt cận thị ».
Một chuyên gia khác nói thêm rằng những trẻ nào ít hoạt động ngoài trời dễ bị cận thị. Theo đánh giá của Hiệp hội cải thiện mắt của Pháp, việc trẻ con ngồi nhiều giờ trước màn ảnh tivi, vi tính hay trò chơi điện tử cũng là những tác nhân gây cận thị. Tuy nhiên, ý kiến này đã bị giáo sư Hoàng Xuân Thanh, trưởng khoa mắt thuộc bệnh viện Hoa Kỳ tại Paris phản bác cho là chưa có cơ sở khoa học. Một yếu tố cuối cùng mà Asnav đề cập đến đó là việc những người đang điều chỉnh thị giác nhưng không đeo kính hay kính áp tròng trong khi làm việc với máy vi tính cũng dẫn đến tình trạng làm mỏi mắt, có thể bị cận thị.
tags: Văn học - Điểm báo - Điện ảnh

BIỂN ĐÔNG - Philippines và Đài Loan lên án kế hoạch chặn xét tàu trên Biển Đông của Trung Quốc

Thứ bảy 01 Tháng Mười Hai 2012
Tàu tuần duyên của Đài Loan và tàu Trung Quốc trong vùng Biển Đông (REUTERS)
Tàu tuần duyên của Đài Loan và tàu Trung Quốc trong vùng Biển Đông (REUTERS)

Thụy My
Hãng tin AP hôm nay 01/12/2012 cho biết, Bộ Ngoại giao Philippines đã tố cáo kế hoạch kiểm soát tàu thuyền trên Biển Đông của Trung Quốc là vi phạm chủ quyền lãnh thổ các nước láng giềng, và xâm phạm tự do hàng hải. Ngoại trưởng Đài Loan tuyên bố hành động của Bắc Kinh không thể ngăn trở được Đài Loan tiếp tục các hoạt động trong khu vực.

Tờ Philippines Daily Inquirer dẫn thông cáo của Bộ Ngoại giao Philippines hôm nay nói rằng, nếu như tin báo chí đưa là sự thật, thì quy định mới của Trung Quốc “xứng đáng bị lên án bởi các nước ASEAN, các đối tác trên thế giới và toàn bộ cộng đồng quốc tế”. 
Theo Bộ Ngoại giao Philippines, việc lên tàu và kiểm tra các tàu nước ngoài tại hải phận quốc tế hay tại các vùng biển tranh chấp là vi phạm trầm trọng luật lệ quốc tế - đặc biệt là Công ước quốc tế về Luật Biển (UNCLOS), và bộ quy tắc ứng xử giữa các quốc gia liên quan. Điều này đe dọa trực tiếp đến toàn bộ cộng đồng thế giới, vì xâm phạm không chỉ hải phận và vùng đặc quyền kinh tế của các quốc gia ven biển do UNCLOS quy định, mà còn cản trở quyền tự do hàng hải và thương mại hợp pháp. 
Thông báo viết: “Nếu thông tin trên báo chí là chính xác, thì kế hoạch hành động này của Trung Quốc là bất hợp pháp. Đồng thời cũng chứng tỏ Philippines đã đúng đắn khi liên tục lặp đi lặp lại là yêu sách chủ quyền của Trung Quốc trên toàn bộ Biển Đông không chỉ là một đòi hỏi quá đáng, mà còn là mối đe dọa cho tất cả các nước”. 
Về phía Đài Loan, tờ Taipei Times hôm nay cho biết, Ngoại trưởng Đài Loan Lâm Vĩnh Lạc (David Lin) hôm qua 30/11/2012 đã yêu cầu Trung Quốc kìm chế và tôn trọng các quy định hàng hải quốc tế. 
Ông Lâm Vĩnh Lạc tuyên bố, nguyên tắc đã được quốc tế chấp nhận là mọi quốc gia đều có quyền tự do lưu thông trên Biển Đông, vùng biển mà theo quan điểm của Đài Bắc thì Đài Loan cũng có một phần sở hữu. Ông khẳng định, bất kỳ hành động nào của Trung Quốc cũng không thể khiến Đài Loan dừng lại các hoạt động lâu nay trong khu vực và nói thêm: “Chúng tôi hy vọng Trung Quốc sẽ kìm chế được càng nhiều càng tốt trong vấn đề này”. 
Trong một thông cáo riêng, Đại lục Ủy viên Hội, cơ quan tư vấn về phát triển và quan hệ với Hoa lục cho chính quyền Đài Loan, xác định: “Trong nhiều năm qua, các tàu đánh cá Đài Loan vẫn hoạt động trong vùng biển của mình, và cơ quan tuần duyên sẽ bảo vệ các hoạt động đánh bắt cá hợp pháp”. 
Xin nhắc lại, Tân Hoa Xã hôm 27/11 đã loan tin là tỉnh Hải Nam, Trung Quốc đã thông qua “Điều lệ quản lý trị an biên phòng ven biển”. Theo đó các tàu nước ngoài “xâm nhập bất hợp pháp” vùng biển do tỉnh Hải Nam quản lý, thì công an biên phòng Trung Quốc có thể “lên tàu, kiểm tra, bắt giữ, trục xuất, ra lệnh dừng tàu, đổi hướng và buộc trở về”. Quy định này có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2013. 
Hành động trên đây của Trung Quốc tiếp theo việc cho in bản đồ có hình lưỡi bò chiếm gần hết Biển Đông lên hộ chiếu mới của công dân, đã gây nhiều phản ứng. Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ Victoria Nuland hôm 29/12 cho biết sẽ chất vấn Bắc Kinh về vấn đề này, còn Tổng thư ký ASEAN Surin Pitsuwan hôm 30/11 nhận định đây là một diễn biến “rất nghiêm trọng”.

tags: Biển Đông - Châu Á - Philippines - Trung Quốc - Việt Nam - Đài Loan

Cuộc đua về bét: Myanmar và Việt Nam đi ngược chiều nhau về vấn đề nhân quyền - Phil Robertson (Human Rights Watch) (17 ý kiến)


Phil Robertson (Human Rights Watch) - Khi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tới thăm Myanmar hồi tháng Tư năm 2010, ông khẳng định với các nhà lãnh đạo hàng đầu rằng Việt Nam ủng hộ “lộ trình” dân chủ hóa của quốc gia này. Sau đó, ông phát biểu từ ghế chủ tịch đoàn trong lễ bế mạc Hội nghị Thượng đỉnh thường niên ASEAN lần thứ 16 tại Hà Nội rằng cuộc bầu cử sắp tới ở Myanmar cần diễn ra một cách “tự do và dân chủ, với sự tham gia của tất cả các đảng phái.” Lời phát biểu đó thật sự ấn tượng, nhất là từ miệng nhà lãnh đạo một chính phủ độc đảng, nơi Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) được Hiến pháp quy định rõ vai trò “là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội,” và chính quyền kiểm soát chặt chẽ mọi cuộc bầu cử.

Nhưng lời phát biểu trên của ông Dũng không gây được nhiều chú ý, vì nhiều sự lạ đời và đạo đức giả hơn thế từng được tuyên bố tại các hành lang cũng như trong các phòng họp của ASEAN nhiều năm qua. Đa số các quan sát viên cho rằng Việt Nam chỉ đơn giản là lại hành xử với vai trò lãnh đạo một nhóm trong ASEAN, được gọi là CLMV (Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam) đều có chính quyền độc đoán hà khắc, luôn cùng nhau cố gắng hạn chế những ý kiến chỉ trích và tìm cách gỡ bỏ rào cản kinh tế của các đối tác đối thoại của ASEAN, như Úc, Canada, Mỹ và Liên minh Châu Âu nhằm vào Myanmar.

Chỉ hơn sáu tháng sau, vào ngày mồng 7 tháng Mười Một năm 2010, Myanmar tổ chức bầu cử nghị viện, trong đó 25 phần trăm tổng số ghế được dành cho quân đội. Cuộc bỏ phiếu này không thể nói là tự do hay công bằng, do đã được dàn xếp trước để đảm bảo thắng lợi áp đảo của Hiệp hội Liên đoàn Đoàn kết và Phát triển, một tổ chức chính trị được quân đội hậu thuẫn.

Vào thời điểm Thủ tướng Dũng đưa ra lời phát biểu nêu trên, Myanmar đang có bảng thành tích tệ hại – như quân đội nắm chính quyền suốt từ năm 1962, bà Aung San Suu Kyi, người được trao giải Nobel Hòa bình đang bị quản chế tại gia, hàng trăm tù nhân chính trị đang bị giam giữ, các cuộc biểu tình bị đàn áp dã man, luật pháp hà khắc, các quyền dân sự và chính trị luôn bị đè nén, khiến quốc gia này trở thành “trường hợp cá biệt,” thậm chí ngay cả khi so với các nước láng giềng trong khối ASEAN.

Vì vậy, ít người có thể hình dung được, chỉ hai năm sau đó, các nhà hoạch định chính sách và giới báo chí lại phải công khai so sánh Việt Nam với Myanmar để xem quốc gia nào đáng bị gọi là quốc gia vi phạm nhân quyền tệ nhất ASEAN – một biệt danh chẳng ai muốn có. Đương nhiên, đây là một động thái ít nhiều mang tính chất trò chơi ngoại giao, vì đối với các nạn nhân thì bị vi phạm nhân quyền, dù ở đâu cũng tệ cả.

Nhưng khi Myanmar đang hướng tới chiếc ghế chủ tịch ASEAN vào năm 2014, những người quan tâm về nhân quyền trong khu vực đương nhiên tự vấn rằng liệu có thể diễn ra một cuộc đua giữa Myanmar và Việt Nam để tránh làm kẻ đội sổ, dẫn đến những cải thiện về thành tích nhân quyền ở cả hai nước này hay không.

Những tiến bộ của Myanmar

Dù còn rất nhiều việc phải làm, nhưng Myanmar dưới chính quyền của Tổng thống Thein Sein đã có những bước tiến quan trọng để thay đổi bảng thành tích cũ vốn rất tồi tệ về nhân quyền của mình. Nổi bật nhất là việc dỡ bỏ những hạn chế và cho phép bà Aung San Suu Kyi cùng các cộng sự trong Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ (LĐQGDC) ra tranh cử trong cuộc bỏ phiếu ngày mồng 1 tháng Tư năm 2012. Có tổng số 43 thành viên của LĐQGDC trúng cử, chỉ tương đương với gần 7 phần trăm số ghế trong nghị viện. Tuy nhiên, thắng lợi đó là một bước khởi đầu quan trọng cho cuộc bầu cử năm 2015, khi có 75 phần trăm tổng số ghế trong Nghị viện sẽ được định đoạt bằng lá phiếu.

Nhưng cũng có nhiều bước cải cách ở Myanmar chỉ mang tính hình thức, theo kiểu tay này đưa thì tay kia giật lại. Ví dụ như hơn 600 tù nhân chính trị, trong đó có các nhà bất đồng chính kiến nổi tiếng như Min Ko Naing và các nhà hoạt động khác, từng lãnh đạo cuộc nổi dậy vì dân chủ năm 1988, danh hài Zargana và các lãnh tụ dân tộc thiểu số như nhà lãnh đạo dân tộc Shan, Khun Htun Oo – được thả, một động thái được quốc tế hoan nghênh. Nhưng rất ít người trong số đó được phép ra khỏi Myanmar - nghệ sĩ Zargana là trường hợp ngoại lệ, vì chính quyền Myanmar từ chối cấp hộ chiếu cho họ. Chính quyền Myanmar cũng vẫn im hơi lặng tiếng về trường hợp của hàng trăm tù nhân chính trị khác, không được nổi tiếng bằng số người nêu trên, hiện đang còn trong vòng kiềm tỏa của hệ thống ngục tù bí hiểm của quốc gia này. Tổ chức Hỗ trợ Tù nhân Chính trị (HTTNCT) có trụ sở tại Thái Lan, do những cựu tù nhân chính trị Myanmar đang sống lưu vong thành lập, cho biết hiện có ít nhất 394 tù nhân nữa đang bị giam giữ, chưa tính 424 trường hợp khác đang được HTTNCT xác minh, tính đến ngày mồng 1 tháng Chín năm 2012. Một nhóm khác ở Yangon, Mạng lưới Cựu Tù nhân, đã tiến hành phỏng vấn những người mới ra tù và ước tính hiện có tới 445 tù nhân chính trị đang bị giam giữ. Những người quan sát hiểu biết tình hình nhận xét rằng có nhiều khả năng tù nhân chính trị người dân tộc thiểu số không nằm trong bất kỳ danh sách nào, nhất là những người Hồi giáo Rohingya từ các bang Arakan và Kachin ở các vùng xa xôi phía Bắc, và họ cũng cần phải được phóng thích. Để giải quyết tận gốc vấn đề này, và đảm bảo rằng tất cả các tù nhân chính trị đều được thả hết, chính quyền Myanmar cần chấp thuận việc thành lập một ủy ban kiểm tra có thành phần quốc tế tham gia để thống kê tổng số tù nhân chính trị đang bị giam giữ một cách triệt để và độc lập.

Chính quyền Myanmar đã ký các thỏa thuận ngừng bắn với nhiều nhóm sắc tộc tự trị có vũ trang, kể cả nhóm Liên minh Dân tộc Karen (LMDTK), là nhóm đã tiến hành một trong những phong trào nổi dậy lâu nhất trên thế giới. Ông Aung Min, đại diện cho Văn phòng Tổng thống, đã gặp gỡ các lãnh tụ dân tộc thiểu số, các nhà hoạt động dân chủ lưu vong, các tổ chức phi chính phủ và nhiều tổ chức khác để thúc đẩy hòa giải với hàng loạt cuộc họp, điều mà chỉ hai năm trước đây không ai có thể tưởng tượng nổi. Các nhân vật lưu vong lâu năm, như nhà hoạt động công đoàn Maung Maung, cựu lãnh đạo sinh viên Naing Aung và Moe Thee Zun và nhà hoạt động chính trị quốc tế Thaung Htun đã được phép trở về Myanmar.

Các thỏa thuận ngừng bắn với các nhóm sắc tộc thiểu số vẫn còn mong manh, và chưa dẫn đến việc cắt giảm quân số ở các vùng dân tộc thiểu số hay các cuộc đàm phán có trọng lượng để hòa giải lâu dài. Các vấn đề chính trị quan trọng như phân quyền, quan hệ giữa các bang và nhà nước liên bang, và việc chịu trách nhiệm về những vi phạm nhân quyền trong quá khứ chưa được đặt lên bàn đàm phán. Quân đội vẫn tiếp tục cưỡng ép lao động không công, tham gia các vụ tống tiền và lạm dụng, nhất là đối với những người dân thường thuộc các sắc tộc thiểu số. Và ở bang Kachin, nơi tiếp tục diễn ra các cuộc giao tranh khốc liệt giữa Quân đội Kachin Độc lập và lực lượng của chính quyền Myanmar, không có mấy thay đổi rõ rệt trong chiến thuật của Quân đội Myanmar nhằm mục tiêu vào dân thường và gây ra những vụ lạm dụng nhân quyền trầm trọng.

Một dấu hiệu khả quan hơn là Myanmar đã ký kết thỏa thuận có tính ràng buộc, kèm theo kế hoạch hành động chi tiết, với Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) về việc chấm dứt lao động cưỡng ép, và với tổ công tác Liên Hiệp Quốc về chấm dứt sử dụng trẻ em làm chiến binh. Ngày mồng 3 tháng Chín, Quân đội Myanmar thả đợt đầu tiên gồm 42 chiến binh trẻ em về cho cha mẹ và người thân chăm sóc. Một loạt các văn bản pháp luật cũng được sửa đổi để đảm bảo các quyền tự do rộng hơn, ví dụ như cho phép tụ tập ôn hòa nơi công cộng và thành lập các công đoàn. Ngày 20 tháng Tám, chính quyền tuyên bố chấm dứt kiểm duyệt trước khi xuất bản, một bước tiến quan trọng đặt nền móng cho tự do báo chí – mặc dù cũng trong ngày đó, Bộ Thông tin Myanmar ra hướng dẫn chi tiết cho hoạt động truyền thông, trong đó có điều khoản nghiêm cấm phê phán chính phủ hay các chính sách của chính phủ.

Rõ ràng là vẫn còn nhiều việc phải làm, vì hàng loạt quy định pháp luật hà khắc từng được sử dụng để đối phó với các nhà hoạt động chính trị vẫn còn nguyên hiệu lực – có thể kể tên một số ít trong đó như: Đạo luật về Hội họp Bất hợp pháp [Unlawful Association Act], Luật Bảo vệ Nhà nước [State Protection Law] và Đạo luật về Tình trạng Khẩn cấp [Emergency Provisions Act]. Vẫn có những rủi ro về nguy cơ đảo ngược tiến trình cải cách, đặc biệt là khi xem xét vai trò của Quân đội Myanmar trong lịch sử, và quyền lực được Hiến pháp 2008 trao, khiến quân đội tiếp tục nằm ngoài tầm kiểm soát của một chính phủ có danh nghĩa dân sự. Tuy vậy, chính quyền của Thein Sein có vẻ đã đáp ứng được phần lớn những mong đợi của cộng đồng quốc tế về đường lối dân chủ hóa. Hoa Kỳ, Liên minh Châu Âu và Canada đua nhau đình chỉ hoặc gỡ bỏ lệnh cấm vận kinh tế kéo dài nhiều năm qua, bất chấp sự phản đối của các nhà vận động nhân quyền ở Myanmar và quốc tế, vốn nhận định rằng một tiến trình gỡ bỏ từng bước sẽ giữ được sức ép tốt hơn để đảm bảo các bước cải cách phải được duy trì.

Trên thực tế, các thay đổi nói trên đã tạo đà cho những cải cách bền vững hơn, nhưng đồng thời cũng gây ra tâm lý siêu lạc quan kiểu “cơn sốt vàng” trong một bộ phận của cộng đồng quốc tế về một “đất nước Myanmar mới.” Liệu Quân đội Myanmar có chấp nhận tiếp tục lộ trình đó hay không vẫn còn là câu hỏi lớn, nhất là nếu và khi tiến trình cải cách bắt đầu động chạm đến các thỏa thuận làm ăn giữa các sĩ quan quân đội cùng các thương gia bè phái nhiều vây cánh. Phe cứng rắn và bảo thủ trong quân đội vẫn còn quyền lực để có thể kìm hãm, thậm chí đảo ngược những nỗ lực cải cách. Tuy nhiên, với việc Tổng thống Thein Sein sẽ nắm quyền đến năm 2015, giới đầu tư nước ngoài đang đặt cược rằng cỗ xe cải cách sẽ tiếp tục tiến lên phía trước.

Bước thụt lùi của Việt Nam

Như đã phân tích ở trên, Myanmar vẫn còn rất nhiều việc dang dở phải làm, dù đã có xu hướng đi lên xét về góc độ tôn trọng nhân quyền. Trong khi đó, Việt Nam đang lún nhanh hơn vào bãi lầy phát triển kinh tế và nhân quyền. Phải chứng kiến những bước tiến hướng tới cải cách của Myanmar chắc hẳn gây cảm giác không mấy dễ chịu cho một số nhà lãnh đạo ở Hà Nội. Dù gì chăng nữa, suốt hơn một thập kỷ qua, Myanmar luôn dễ dàng giành danh hiệu quốc gia vi phạm nhân quyền nghiêm trọng nhất trong khối ASEAN. Đây quả là một thành tích đáng kể trong nhóm các quốc gia, được các nhà phê bình đặt cho cái tên thích hợp là “câu lạc bộ các nhà độc tài” từ khi được thành lập vào năm 1967, gồm năm nhà lãnh đạo độc tài của Philippines,

Indonesia, Singapore, Malaysia và Thái Lan, sau này gộp thêm Thủ tướng Hun Sen của Campuchia, và các nhà lãnh đạo chuyên chế từ Việt Nam, Lào, Singapore, Brunei và Malaysia. 

Nhưng giờ đây, khi Myanmar đang thực hiện cải cách, giới ngoại giao và tài trợ quốc tế ở Hà Nội đang tự hỏi liệu Việt Nam có được phong là “ca nhân quyền tuyệt vọng nhất” của ASEAN hay không? Không có gì lạ khi giới lãnh đạo chóp bu ở Hà Nội không mấy dễ chịu trước viễn cảnh bị soi gáy như thế.

Dù chính phủ cả hai quốc gia đều có bảng thành tích nhân quyền tệ hại, nhưng kể từ sau năm 1988, Việt Nam và Myanmar được đối xử khác hẳn, với rất nhiều ưu đãi được dành cho Việt Nam. 1988 là một năm đầy sự kiện với cả hai quốc gia. Myanmar đàn áp dã man những người biểu tình dân chủ ở Rangoon và các thành phố khác vào tháng Chín năm 1988, giết chết khoảng 3000 người theo ước tính hoặc nhiều hơn thế, và buộc hàng ngàn người khác phải chạy trốn vào rừng hay xa hơn nữa. Ngay hôm trước ngày khởi đầu chiến dịch đàn áp, các tướng lĩnh Myanmar thành lập một chính quyền quân phiệt mới, gọi là Hội đồng Khôi phục Trật tự và Luật pháp Liên bang (HĐKPTTLPLB). Nhưng sức ép quốc tế bắt đầu gia tăng sau khi bà Aung San Suu Kyi bị quản chế tại gia vào năm 1989 và đảng của bà không được nhận bàn giao quyền lực dù đã thắng áp đảo trong cuộc bầu cử nghị viện năm 1990. Đầu tư nước ngoài càng ngày càng bị thắt chặt, hạn chế và kiểm soát vì các nhà hoạt động nhân quyền quốc tế và phong trào dân chủ nội địa của Myanmar thúc đẩy chính sách gây sức ép và cấm vận, và cuối cùng giành được sự ủng hộ của nhiều chính phủ phương Tây.

Trong cùng năm đó, Việt Nam tuyên bố bắt đầu rút quân khỏi Campuchia, và hoàn tất việc rút quân vào năm 1989, khởi đầu cho tiến trình chấm dứt nội chiến ở Campuchia đánh dấu bằng việc ký kết Hiệp định Hòa bình Paris, và bình thường hóa quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam vào năm 1995. Một sự kiện khác không kém phần quan trọng là việc Hà Nội triển khai chính sách đổi mới, nhằm mở cửa nền kinh tế, khiến nhiều tập đoàn lớn của Hoa Kỳ hào hứng đầu tư vào Việt Nam đã tạo sức ép thay đổi chính sách của Hoa Kỳ. Việc thiếu vắng một nhân vật đối lập có khả năng tập hợp được mọi người như Aung San Suu Kyi đặt các nhà hoạt động nhân quyền ở Việt Nam vào thế cực kỳ bất lợi, giữa lúc các nhà đầu tư đang hăm hở tin rằng Việt Nam sẽ là con hổ kinh tế mới ở Châu Á. Các tập đoàn nước ngoài đổ xô đến tìm kiếm lợi nhuận từ nguồn nhân công giá rẻ và một lực lượng lao động cần cù. Cơn sốt này đã gạt ra ngoài lề những mối quan ngại lớn về nhân quyền liên quan đến Đảng Cộng sản Việt Nam và thái độ không chấp nhận bất kỳ một hình thức đối lập nào của đảng này. Từ khi đất nước được thống nhất vào năm 1975, ĐCSVN chưa hề ngần ngại vi phạm nhân quyền khi thấy vị trí hay đặc quyền của mình bị thách thức.

Sau khi Thủ tướng đương nhiệm Nguyễn Tấn Dũng lên nắm quyền vào năm 2006, có thể thấy rõ sự gia tăng của những xu hướng sau đây. Một là, chủ nghĩa bè phái và tham nhũng trong các doanh nghiệp nhà nước cùng nạn dịch thâu tóm đất đai của những nhà đầu tư trong và ngoài nước nhiều vây cánh đã đổ thêm dầu vào ngọn lửa phẫn nộ của người dân đối với các quan chức ĐCSVN đã và đang lợi dụng chức vụ để làm giàu cho bản thân. Hai là, ông Dũng đã sử dụng các đồng minh trong Bộ Công an (BCA) cố gắng bưng bít mọi tiếng nói bất đồng chính kiến, và nhờ mối quan hệ chặt chẽ với bộ này đã khiến ông ta trở thành một trong những thủ tướng nhiều quyền lực nhất trong giai đoạn gần đây.Và ba là, khi các tiếng nói thách thức nền chính trị độc đoán và chủ nghĩa tư bản bè phái xuất hiện ngày một nhiều, chính quyền gia tăng đàn áp các nhà hoạt động và bất đồng chính kiến, khiến nhân quyền càng bị coi thường. Trong khi lạm phát tăng cao, dẫn đầu là giá thực phẩm và các nhu yếu phẩm khác, tốc độ đầu tư chậm lại vì nhu cầu hàng xuất khẩu Việt Nam ở các thị trường Châu Âu và Bắc Mỹ đang yếu đi do nền kinh tế gặp khó khăn, ngày càng có nhiều bức xúc với chính phủ, để rồi vấp phải sự đối phó của một nhà nước chỉ biết chăm chăm lo ổn định trật tự.

Kết quả là những người cầm bút, viết blog độc lập, các nhà lãnh đạo tôn giáo và các nhà hoạt động từng thắc mắc về chính sách nhà nước, phanh phui các vụ tham nhũng của quan chức, chống lại việc tịch thu và cưỡng chế đất đai, đòi hỏi tự do thực hành tín ngưỡng hay đòi hỏi các giải pháp dân chủ thay thế nền cai trị độc đảng, thường xuyên bị công an sách nhiễu, theo dõi gắt gao, giam giữ không cho tiếp xúc với bên ngoài tới một năm hoặc lâu hơn mà không được tiếp cận nguồn hỗ trợ pháp lý, và bị xử trong các phiên tòa một-ngày, với mức án tù ngày càng nặng hơn vì những tội danh mơ hồ về an ninh quốc gia.

Đàn áp có tính sáng tạo

Các điều luật về an ninh quốc gia được đặt tên như trong tiểu thuyết của George Orwell. Điều 79, có nội dung cấm “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân,” có thể mang đến án tử hình. Điều 87, “phá hoại chính sách đoàn kết,” hay điều 88, “tuyên truyền chống nhà nước” có thể đưa người vi phạm vào tù từ 15 đến 20 năm. “Phá rối an ninh” theo điều 89 có thể dẫn đến 15 năm tù. Kể cả khi rời khỏi đất nước, chính quyền cũng không tha thứ cho kẻ vi phạm và có thể xử tới án tù chung thân theo điều 91, “trốn ra nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân.” Và nếu không khép được vào tội nào khác, vẫn còn có điều 258 có thể dùng trong mọi trường hợp để xử tội “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích Nhà nước,” với mức án lên tới bảy năm tù.

Xem xét hồ sơ nhân quyền của Việt Nam cho thấy các điều luật nói trên thường xuyên được sử dụng để hình sự hóa các quyền tự do ngôn luận, lập hội và nhóm họp ôn hòa, đưa đến các án tù lâu năm cho các nhà hoạt động; tra tấn trong giai đoạn tạm giữ trước khi xét xử là chuyện thường xảy ra; có các chiến dịch được dàn dựng bài bản để đe dọa và sách nhiễu các nhà hoạt động; kiểm duyệt báo chí rộng khắp và ngày càng gia tăng nỗ lực nhằm giám sát và hạn chế những ý kiến phê bình trên mạng internet; thường xuyên chà đạp quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo; sử dụng có hệ thống lao động cưỡng ép trong các trung tâm cai nghiện ma túy và các trại được gọi là cải tạo.

Hoạt động của các nhà tù và hệ thống trại giam của Việt Nam, nhất là ở các vùng xa, vẫn còn là điều hết sức bí ẩn, khiến việc thống kê tổng số tù nhân bị giam giữ vì lý do chính trị trở nên rất khó khăn, nhưng Tổ chức Theo dõi Nhân quyền ước tính con số này phải lên tới hàng trăm.

Trong năm 2011, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền ghi nhận được chính quyền Việt Nam đã xử ít nhất 33 nhà bất đồng chính kiến và hoạt động các mức án tù lâu năm, kèm theo các hình phạt bổ sung như quản chế hoặc hạn chế ngặt nghèo quyền tự do đi lại sau khi được thả. Những người này bị truy tố chỉ vì đã thi hành các quyền tự do được ghi nhận trong Điều 69 của Hiến pháp Việt Nam và các điều 18 (tự do tôn giáo và tín ngưỡng), 19 (tự do ngôn luận), 21 (quyền nhóm họp ôn hòa) và 22 (tự do lập hội) của Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị, đã được Việt Nam tham gia ký kết từ ngày 24 tháng Chín năm 1982 nhưng thường xuyên lờ đi không thực thi. Ngoài các vụ trên, danh sách vẫn còn dài nữa – Tổ chức Theo dõi Nhân quyền đang giám sát thêm 49 trường hợp khác hiện đang bị giam giữ chưa xét xử vì các lý do chính trị và tôn giáo, trong đó có hai nhạc sĩ, bốn blogger, ba mươi lăm nhà hoạt động tôn giáo, hai nhà hoạt động vì quyền lợi người lao động và bốn nhà hoạt động vì quyền lợi đất đai.

Chính sách đàn áp thể hiện rõ trong các trường hợp như vụ xử tù bốn thanh niên Công giáo trước đó chưa được ai biết đến ở thành phố Vinh miền trung thuộc tỉnh Nghệ An, với lý do họ phát tán truyền đơn “dân chủ.” Họ bị tạm giam từ năm đến mười tháng, sau đó bị kết án lên đến ba năm sáu tháng tù giam tại phiên tòa vào ngày 24 tháng Năm. Cũng có những vụ đang còn dở dang như vụ ba blogger công dân nổi tiếng gồm Nguyễn Văn Hải (blogger Điếu Cày), Phan Thanh Hải (blogger Anhbasg) và Tạ Phong Tần, những người cùng nhau thành lập Câu lạc bộ Nhà báo Tự do năm 2007, rồi chẳng bao lâu sau đó bị chính quyền đàn áp. Một diễn tiến bi thảm của vụ này là vào tháng Bảy, thân mẫu bà Tạ Phong Tần, cụ Đặng Thị Kim Liêng, đã tự thiêu để phản đối sự sách nhiễu của lực lượng an ninh đối với con gái và gia đình bà, khiến phiên tòa xử họ lại phải hoãn thêm lần nữa. Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton đã nhắc đến vụ việc này khi bà phát biểu tại cuộc họp báo trong chuyến thăm Hà Nội vào tháng Bảy năm 2012 rằng “chúng tôi quan ngại về sự cản trở quyền tự do ngôn luận trên mạng và phiên tòa sắp tới xử những người sáng lập nhóm gọi là Câu lạc bộ Nhà báo Tự do.”

Nhưng các tù nhân chính trị khác, như nhà thơ và nhà vận động chống tham nhũng Nguyễn Hữu Cầu, năm nay đã 65 tuổi, dường như đã bị phần lớn thế giới bên ngoài lãng quên. Ông đã phải ở tù 35 năm kể từ năm 1975 – lần đầu từ năm 1975 đến 1980 trong một trại cải tạo, lần thứ hai từ năm 1982 đến giờ do đã phanh phui các vụ tham nhũng của quan chức địa phương. Dù ông đã mất gần hết thị lực và thính lực, nhưng chính quyền không đưa ra dấu hiệu nào thể hiện ý định sẽ thả ông. Những người khác, như linh mục Công giáo Nguyễn Văn Lý, do quá nổi tiếng nên các nhà ngoại giao nước ngoài còn được phép thỉnh thoảng đến thăm. Cha Lý đã bị đột quỵ nhiều lần trong tù vào năm 2009, khiến tay và chân bên phải bị liệt, nhưng chính quyền từ chối phóng thích ông trước hạn tám năm tù giam vì lý do sức khỏe.

Kiểm soát các hội đoàn

Chính quyền Việt Nam không hề giấu giếm nỗ lực để bảo đảm mọi tổ chức, hội đoàn phải hoạt động dưới sự kiểm soát của nhà nước. Vì lý do đó, các đảng chính trị lưu vong, những người lao động muốn thành lập công đoàn riêng tách khỏi Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam do nhà nước quản lý, và những người viết blog như nhóm Câu lạc bộ Nhà báo Tự do luôn phải đi giữa các làn đạn sách nhiễu, bắt bớ và tù đày. Ví dụ như, vào ngày 17 tháng Tư, công an bắt Nguyễn Quốc Quân, một công dân Mỹ và là ủy viên trung ương của đảng đối lập lưu vong Việt Tân, khi ông đang nhập cảnh vào Việt Nam và truy tố ông theo điều 84 bộ luật hình sự về tội hoạt động khủng bố. Tuy nhiên, sau khi công bố tội danh ban đầu trên báo chí, chính quyền lại thôi không truy tố ông về tội khủng bố mà áp dụng điều 79, “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân.”

Chính quyền dành sự quan tâm và “chăm sóc” đặc biệt đối với các nhóm tôn giáo độc lập đứng tách khỏi các định chế tôn giáo đã đăng ký và chịu sự kiểm soát của nhà nước. Trong năm vừa qua, các chi phái không được công nhận của đạo Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo, các nhà thờ Tin lành tại gia ở Tây Nguyên và các vùng khác, các chùa Phật giáo Khmer Krom và Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN) đều bị chính quyền truy bức. Trong năm 2011, các giáo xứ Công giáo tổ chức lễ thắp nến cầu nguyện trước phiên tòa xử nhà hoạt động pháp lý và bất đồng chính kiến Cù Huy Hà Vũ thu hút được hàng ngàn người tham gia, không khỏi khiến chính quyền giật mình. Các vị chức sắc tôn giáo bị quản chế tại gia gồm có Đức Tăng thống GHPGVNTN Hòa thượng Thích Quảng Độ, hai lãnh đạo Phật giáo Hòa Hảo Lê Quang Liêm và Võ Văn Thanh Liêm. Trong tháng Bảy năm 2011, các vị chức sắc Công giáo Dòng Chúa Cứu thế, cha Phạm Trung Thành và cha Đinh Hữu Thoại bị cấm rời khỏi Việt Nam. Ngoài ra, hàng chục người Thượng ở Tây Nguyên từng tham gia vào phong trào nhà thờ Tin lành Đềga vẫn đang bị cầm tù.

Những người hoạt động tôn giáo thường bị xử các mức án nặng nề. Ví dụ như, vào ngày 13 tháng Chạp năm 2011, các tín đồ Phật giáo Hòa Hảo Nguyễn Văn Lía và Trần Hoài Ân bị xử tổng cộng tám năm tù giam, cộng thêm năm năm quản chế. Vào ngày 26 tháng Ba năm 2012, một phiên tòa xử mục sư Tin lành Nguyễn Công Chính 11 năm tù về tội “phá hoại chính sách đoàn kết” theo điều 87 bộ luật hình sự. Có ít nhất 35 nhà hoạt động tôn giáo khác đang bị tạm giam chờ xét xử.

Chìa khóa của việc vận động mọi người tham gia vào các vấn đề như cưỡng chế đất đai, tự do tôn giáo, nhân quyền hay đa nguyên chính trị, chính là khả năng chia sẻ thông tin. Hệ thống kiểm duyệt của nhà nước đối với đài phát thanh, truyền hình và báo in từng khiến cho việc này rất khó thực hiện ở Việt Nam, cho đến khi giải pháp thông tin điện tử được mở ra qua mạng Internet. Ước tính khoảng 34 phần trăm người dân Việt Nam đang sử dụng mạng Internet, tính đến tháng Hai năm 2012, khiến cuộc chiến về tự do ngôn luận giờ đây chủ yếu diễn ra trên mạng.

Trong khi Myanmar đang ngày càng cởi mở hơn về mạng Internet, chính quyền Việt Nam lại có động thái siết chặt bằng một dự thảo nghị định làm gióng lên hồi chuông báo động của các công ty Internet toàn cầu như Google và Yahoo cũng như những người vận động cho tự do ngôn luận. 

Dự thảo nghị định này có thể được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét trong kỳ họp sắp tới, thể hiện ý định áp đặt bàn tay kiểm soát mạng Internet với lý do quen thuộc là an ninh quốc gia, qua những quy định nghiêm cấm một số nội dung, với ngôn ngữ lỏng lẻo và mơ hồ.

Cái bẫy lớn được giăng sẵn cho các blogger và các nhà vận động trên mạng với các quy định cấm chống đối chính quyền, hay đăng tải các thông tin gây “phương hại đến an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội” hay “phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc” hoặc “gây hận thù, mâu thuẫn giữa các dân tộc, sắc tộc và tôn giáo.” Nếu như thế vẫn chưa đủ, thì các thông tin bị coi là “xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự và nhân phẩm cá nhân” sẽ được vận dụng để khép tội hình sự.

Trước thực tế nhu cầu sử dụng Internet đang phát triển nhanh, kể cả nhu cầu sử dụng các mạng xã hội phổ biến như Facebook, mà người dùng Internet ở Việt Nam có thể truy cập được bằng cách lách qua hệ thống tường lửa do chính quyền dựng vẫn còn nhiều sơ hở, và không khí sôi nổi của các diễn đàn bình luận và trao đổi về các vấn đề gai góc đối với nhà nước, có lẽ một cuộc đụng đầu lớn sẽ xảy ra trong tương lai không xa.

Ai thắng ai?

Khởi đầu thập niên này, Việt Nam và Myanmar vẫn là đồng minh lâu năm, cùng tâm đắc với câu cửa miệng của ASEAN là “không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau” và cùng phải chịu những lời chỉ trích từ nước ngoài về hồ sơ nhân quyền. Nhưng giờ đây, hai nhà nước càng ngày càng như hai con tàu ngược chiều đã vượt qua điểm gặp nhau giữa đại dương, mỗi bên đi theo hướng trái ngược nhau về nhân quyền. Đến năm 2015, khi cuộc bầu cử toàn quốc ở Myanmar mở ra khả năng chuyển giao quyền lực thực sự bằng hòm phiếu, có lẽ Thủ tướng Dũng sẽ hối tiếc về lời phát biểu của mình năm 2010, với chủ đích khích lệ Myanmar đi theo con đường dân chủ hóa – nhất là khi chính người dân Việt Nam sẽ thắc mắc bao giờ thì Việt Nam sẽ thực hiện được điều đó.


Nguồn: Tạp chí Strategic Review, Vol 2 – No. 4, tháng Mười – tháng Mười Hai, 2012 (http://www.hrw.org/news/2012/11/07/race-bottom-burma-and-vietnam-head-opposite-directions-human-rights). Bài được viết trước các vụ xử ba blogger Nguyễn Văn Hải, Phan Thanh Hải và Tạ Phong Tần và hai nhạc sĩ Trần Vũ Anh Bình và Võ Minh Trí.

Về tác giả:

Ông Phil Robertson, Phó Giám đốc của Human Rights Watch. Ảnh: VOA

Ông Phil Robertson hiện là Phó Giám đốc Ban Á Châu của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (Human Rights Watch).

Theo trang nhà của HRW, ông Phil Robertson  bắt đầu gia nhập và làm việc cho HRW vào năm 2009. Trước đó, ông đã làm việc hơn 10 năm tại khu vực Đông Nam Á trong các lãnh vưc như bảo vệ nhân quyền, chống buôn bán người, bảo vệ quyền lao động...

Ông Phil Robertson nói thành thạo tiếng Thái Lan và tiếng Lào. 

Là Phó Giám đốc Ban Á Châu của Tổ chức danh tiếng HRW, ông Phil Robertson thường xuyên xuất hiện trên truyền thông quốc tế về các vấn đề liên quan đến nhân quyền Việt Nam. 

Chính phủ Việt Nam thông qua hệ thống báo chí 'lề Đảng' thường tỏ ra hằn học với tổ chức HRW. Báo Quân Đội Nhân Dân của Đảng CS từng kết luận ông Phil Robertson là 'đội lốt theo dõi nhân quyền để can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của Việt Nam'.

Bài gửi đến Danlambao

Chia sẻ bài viết:
Lưu ý: Trước khi gửi ý kiến phản hồi, mong các bạn đọc kỹ những điều đã được quy định tại phần "Thôn Quy"
    • và 4 others thích bài này.

Xem 17 ý kiến

  • TBA
    Nhìn hình thằng Dũng thấy nó chả khác gì con gà tàu.  Mặt dày bẩn thỉu quá.


  • Diethomao
    Dân tộc Việt không thua kém các dân tộc khác trên thế giới về tri thức,về khoa học khi sống ở nước ngoài.
    Nhưng,khi sống trong đất nước hầu như dân Việt đã bị thui chột về mọi mặt so với nước khác,vì cái đảng
    CS đầy ngu muội,dốt nát.Với chính sách "hồng hơn chuyên" ,mà CS quốc tế đã nhồi nhét hầu làm cho đất
    nước VN không thể phát triển được.Ngày nay CS Tàu cũng muốn VN lấy "hồng hơn chuyên"làm kim chỉ nam,trong quản lý dất nước.



  • Chính Mi
    Bất kỳ đảng phái chính trị nào không đặt quyền lợi dân tộc lên trên, lên trước quyền lợi đảng phái, thì đảng đó chỉ là một "đảng cướp" mà thôi. Chôn chế độ cộng sản, xây dựng thể chế tự do dân chủ, dẹp lăng Hồ Chí Minh, trả lại tên cho Thành phố Sàigòn. Đó là những việc cốt yếu nhân dân Việt Nam cần làm, phải đoàn kết, vượt lên sợ hãi, kiên trì từng bước, để quét sạch nạn tham nhũng, thảm trạng kiêu binh hống hách, cửa quyền của công an , thói dối trá, tệ mua quan bán tước, tình trạng bất công, đạo đức suy đồi, xã hội xuống cấp, đất nước tụt hậu...và nhất là mất nước vào tay Tàu cộng. Chỉ có chế độ tự do dân chủ, tam quyền phân lập, đa nguyên đa đảng cạnh tranh lành mạnh để phục vụ đất nước mới có khả năng đem lại công lý, minh bạch, tiến bộ, ấm no...và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ.
    (Edited by a moderator)


  • Ngaygantoi
     Con đường dân chủ Miến Điện đích thực là con đường dân chủ đa đảng có tính chất rất ôn hòa và được lãnh đạo bởi một nhà lãnh đạo ôn hòa. Việt Nam thì khác vì đó là một nước độc tài cộng sản , con đường dân chủ cho Việt Nam phải tuân theo Lộ Trình Dân Chủ 2 Giai Đoạn hay nói khác đi cần phải có một giai đoạn chuẩn bị - giai đoạn làm loại dần các mâu thuẫn  lớn lao đang tồn tại trong xã hội.
    http://danchuhoacnxh.webnode.c...



  • 1nxx
    Bài viết rất chính xác, đây là tài liệu rất cần thiết cho Bản cáo trạng sắp tới của tác giả Đặng Chí Hùng tố cáo tội ác của nhà độc tài Nguyễn Tấn Dũng, nhà nước độc tài CHXHCNVN và đảng độc tài đcsvn ra trước dư luận thế giới tại Liên hiệp quốc.


  • Em là Lú
    Nói LÁO từ trong nước ra tận tời nước mgoài là Đạo Đức, là lòng Tự Trọng, Cách Mạng của Đảng Ta cơ mà . Chuyện ai mà chả biết, chỉ mấy ông Ngoại Kiều thì có thể thấy làm lạ về cái "văn hóa này".


  • Docgiatrongnuoc
    Mấy ông trong Ủy ban nhân quyền hưỡn quá đi. Ai đời nói chuyện về con người với bọn phi cầm phi thú ? Phỏng có nên chăng ? Đàn gảy tai trâu e còn có ích hơn.


  • Xoá điều 4 hiến pháp
    Thế đang đi lên, lại có người tài, và ủng hộ của thế giới, thì sẽ đi lên (Myanmar). Thế đã đi xuống, người tài không    hợp tác,thế giới văn minh, không ủng hộ, chắc sẽ chết chìm (Việt nam)


  • Abcd2012
    Không nói láo không là cộng sản, chân lý


  • Đồ Đểu
    NN VN sắp đoạt giải  "Nobel nói láo" và guiness "mặt dày nhất TG " !


  • Lương Thiện
    Ở Việt Nam từ xưa vẫn có câu "Thấy đỏ tưởng chín", dùng để chỉ những người nhẹ dạ dễ tin? Từ Trung Quốc, Việt Nam, rồi Myanmar, từng đó thôi là chúng ta đã quá đủ để nhận biết "bộ mặt thật" của cái gọi là nhà nước độc tài!
    Có một điều mà chúng ta không được quên, đó là "những quốc gia độc tài sẽ không muốn từ bỏ để chuyển sang dân chủ", sự đổi màu của những Quốc gia này luôn là công cụ để đánh lừa sự giúp đỡ của thế giới, song bản chất thì sẽ không thể thay đổi!Từ sự thay đổi "chính sách" theo bề nổi của VN để cứu đảng cứu chế độ khỏi chết đói năm xưa, hay từ cái giả danh dân chủ của Cộng sản Trung Quốc để cứu TQ khỏi chết đói đến cuộc thảm sát đẫm máu thiên an môn... hay cuộc thay đổi "chánh trị" ở Myanmar nửa vời (phái dân chủ chưa nổi 10%) cũng thế! Trong chế độ Cộng sản và độc tài thường tồn tại khái niệm "nuôi để thịt" (chính điều này đã khiến Trung quốc thời gian qua có nhiều doanh nhân ôm tiền chạy ra nước ngoài), họ áp dụng rất thành công trong việc "kéo dài sự độc tài" của họ. Những ai muốn chơi với bọn độc tài thì nên tự biết bảo vệ mình!!! Nếu không cẩn thận thì đất nước Myanmar  rồi cũng sẽ có những biến động đẫm máu!!! Cầu mong điều đó không xảy ra!
    hiển thị ít hơn


  • 1nxx
     Sự kiện Myanmar quả thật là khó tin, cho đến bây giờ tôi vẫn chưa tìm được lời giải thích. Có lẽ nhận định của bác đúng :
    "những quốc gia độc tài sẽ không muốn từ bỏ để chuyển sang dân chủ", sự
    đổi màu của những Quốc gia này luôn là công cụ để đánh lừa sự giúp đỡ
    của thế giới, song bản chất thì sẽ không thể thay đổi!"



  • Trực ngôn
           1-   "cuộc bầu cử sắp tới ở Myanmar cần diễn ra một cách “tự do và dân chủ, với sự tham gia của tất cả các đảng phái.". Nguyễn Tấn Dũng đúng là mặt dày, nói thế mà không sờ lại ót của mình, không biết ngượng. Nhục.
        2- Vừa rồi, báo lề đảng đăng tin : "Tổng thống Thein Sein (Myanmar) cũng đề nghị VN chia sẻ kinh nghiệm trong quá trình đổi mới và phát triển kinh tế" !?. Người ta chửi khéo mà không biết, còn để báo chí đăng tải. Nhục.



  • 1nxx
     Người ta hỏi kinh nghiệm đồng chí tể tướng 2 bao Nguyễn Tấn "X" làm cách nào đưa VN lên chức vô địch lạm phát châu Á và á quân lạm phát của thế giới để người ta tránh. Nhưng bọn bồi bút viết tránh đi kiểu "mép vua dính ngọc Minh châu" để kiếm tiền chợ. Nếu nói nhục thì nhẹ quá, bọn này đáng tội "bóc lịch".


  • Toàn
    Nghe bọn thủ lợn nói về dân chủ tự do với Miến điện muốn ói. Đúng là gái đĩ già mồm. Không biết ngượng. Bọn thủ lợn cộng sản có biết hai chữ LIÊM SĨ nghĩa là gì !


  • Tuoingo
     Tôi là người Việt Nam sinh ra và sống tại Quy Nhơn, đã hơn 46 tuổi, Mong lớp trẻ cố gắng để làm sao ở Việt Nam con cháu tôi lớn lên để tìm cái gì ở biển xa mà sinh sống.(Tôi làm nghề đánh cá nhưng bây giờ không làm được- sợ đi ra ra đánh cá bị bọn Trung Quốc bắn chết-con tôi không ai nuôi dướng)
    Van xin cảm ơn lớp trẻ!
    Hãy cố gắng lên lớp trẻ nhé!!
    Khi tôi chết đi thì không còn Đảng cộng sản là điều cuối cùng đời tôi!



  • Luumanhcongtu
    Mr. Phil Robertson quên 1 điều tối quan trọng: Miến Điện độc tài nhưng không phải Cộng sản, rất dễ trị. VN thứ thiệt Cộng Nô cho Cộng Phỉ Hán Tặc, muốn trị chúng chỉ có lật đổ chúng.