Saturday, July 9, 2011

VIỆT NAM CẦN NHANH CHÓNG THOÁT RA KHỎI TRUNG QUỐC

Thứ bảy, ngày 09 tháng bảy năm 2011


Bùi Công Tự

1.Trung Quốc phát triển đang đe dọa thế giới:

Bất kỳ quốc gia nào khi đã phát triển vượt trội đều vươn cánh tay ra nước ngoài để tìm kiếm tài nguyên, mở rộng thị trường kiếm thêm lợi nhuận và nâng cao vị thế của mình. Trung Quốc không ngoại lệ.

Nhưng sự phát triển vượt trội của Trung Quốc những năm gần đây lại bị nhiều học giả báo động về một nguy cơ đe dọa toàn thế giới. Có tác giả còn cho rằng ngay cả nước Mỹ cũng rất có thể bị chết dưới bàn tay China.

Chúng ta biết rằng trong khoảng 20 năm qua, Trung Quốc đã từ một nước nghèo trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Lý do để nói rằng Trung Quốc đe dọa thế giới là vì nước này chọn con đường phát triển bằng cách sản xuất hàng hóa chất lượng thấp, nhiều thứ độc hại, giá cả rẻ mạt, bán khắp thế giới. Họ tận dụng nguồn lao động dồi dào giá rẻ và đồng nhân dân tệ được định giá thấp hơn giá trị thật nhằm thúc đẩy xuất khẩu. Họ ăn cắp công nghệ, đánh đổi môi trường, đầu độc sinh thái. Họ đầu tư vào các nước nghèo (chủ yếu ở châu Á và châu Phi) để khai thác nguồn tài nguyên của các nước này theo kiểu ăn cướp. Họ sẵn sàng viện trợ không hoàn lại, “đi đêm” với các chính phủ độc tài, phản tiến bộ. Họ di dân ra nước ngoài bằng nhiều con đường để tính kế lâu dài. Họ thuê những vùng đất đai rộng lớn dài hạn tới 50 năm hoặc 99 năm ở nhiều quốc gia (Myanma, Lào, các nước châu Phi và ngay cả Việt Nam là nước đất hẹp, người đông). Họ “xui nguyên giục bị” gây mất lòng tin giữa các nước (như đối với khối ASEAN). Họ tăng cường quân đội, đe dọa các nước láng giềng, tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải vv..và vv…

Các nhà nghiên cứu chính trị nhận định rằng Trung Quốc đang thực thi chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, cực đoan. Trung Quốc thực sự là một đế quốc kiểu mới dựa trên lợi nhuận khổng lồ từ một nền sản xuất thiếu lương tâm.

Những người lãnh đạo Trung Quốc đã đi khắp thế giới thuyết giảng về thiện chí hòa bình hữu nghị của họ cộng với bộ máy tuyên truyền ra rả bịp bợm. Nhưng không mấy ai tin ở họ. Hầu hết các chính sách của Trung Quốc đều bị thế giới phê phán. Tuy nhiên, thế giới bây giờ là thế giới phẳng nên Trung Quốc vẫn có nhiều cơ hội thâm nhập vào các nước khác.

Sự đe dọa của Trung Quốc không phải như nhau với mọi quốc gia. Với những nước ở xa có thể chỉ là mối quan ngại bị chèn ép, lấn lướt về thương mại. Còn với các quốc gia ở gần thì nguy cơ lớn hơn nhiều. Không phải chỉ vì lân bang thì hàng hóa và con người Trung Quốc dễ xâm nhập mà còn bị Trung Quốc tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải, đe dọa chiến tranh.

Sự phát triển kinh tế nhanh chóng của Trung Quốc còn tiềm tàng mối đe dọa cho chính đất nước họ, dân tộc họ. Điều này có thể thấy qua các con số trẻ em bị chết và mắc bệnh vì sữa bẩn chứa melamin, đồ chơi trẻ em có độc tố chì, sự ô nhiễm môi trường và những thiệt hại do các công trình thủy điện gây ra.

2. Chiến lược phá hoại toàn diện của Trung Quốc đối với Việt Nam – những lời cảnh báo:

Trong bài viết này, tôi muốn cùng bạn đọc tìm hiểu xem Việt Nam đã và đang bị Trung Quốc đe dọa ra sao, ở mức độ nào và có cần thoát ra không?

Nhìn bản đồ Trung Quốc, các nhà nghiên cứu có nhận xét là về phái Bắc, phía Tây, phía Đông đều có những bức tường vô hình làm cho Trung Quốc khó bành trướng. Trung Quốc chỉ có thể bành trướng thuận lợi về phía Nam, tức là phía lãnh thổ Việt Nam chúng ta, gồm cả đất liền và biển Đông.

Việt Nam có vị trí đặc biệt như thế, lại có biển Đông và hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa tiềm tàng nguồn tài nguyên béo bở. Đồng thời là nơi có những con đường hàng hải chuyên chở tới 60% lượng hàng hóa lưu thông của thế giới. Cho nên Việt Nam là nước đầu tiên bị Trung Quốc nhắm tới trong chiến lược tham lam càn rỡ của họ.

Theo nhận định của Đại tá Quách Hải Lượng, nguyên Tùy viên quân sự ĐSQ VN tại Bắc Kinh những năm đầu thập niên 1980 thì: “Trung Quốc có hẳn một chiến lược gây ảnh hưởng cả về chính trị, kinh tế, văn hóa nhằm vào Việt Nam, đã và đang được họ thực thi”(trích Đoan Trang blog).

Về phía Việt Nam, sau sự kiện Trung Quốc đánh chiếm các tỉnh biên giới phía Bắc tháng 02/1979, những nhà lãnh đạo Việt Nam, đặc biệt là cố TBT Lê Duẩn và Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã lên án mạnh mẽ tập đoàn bành trướng Bắc Kinh, vạch rõ những âm mưu thâm độc của họ đối với Việt Nam, khẳng định đó là bản chất không thay đổi của họ, nhắc nhở chúng ta phải cảnh giác.

Sau khi Việt Nam và Trung Quốc lập lại quan hệ bình thường năm 1991, đề phòng tình trạng có thể bị mất cảnh giác trước chiêu bài lừa gạt của Trung Quốc, nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam tiếp tục cảnh báo một nguy cơ từ phía Trung Quốc đối với Việt Nam trong bối cảnh mở cửa cho kinh tế thị trường.

Theo trí nhớ của tôi, một trong những người cảnh báo nguy cơ nói trên sớm nhất và rõ ràng nhất là Tiến sĩ Lê Đăng Doanh. Trong một bài nói chuyện trước các nhà lãnh đạo Đảng và NN, chuẩn bị cho Đại hội Đảng (cách đây khoảng 10 năm), TS Lê Đăng Doanh đã khẳng định: Trung Quốc rất nguy hiểm, nguy hiểm lắm, “nó” có thể “chơi” “anh” (tức Việt Nam) bất cứ lúc nào!. (Tôi thuật lại theo văn nói của ông).

Diễn biến trong quan hệ giưa Trung Quốc và Việt Nam trong 20 năm qua có thể chia làm hai giai đoạn:

Giai đoạn 1: từ năm 1991 – năm 2000. Trung Quốc tập trung gây ảnh hưởng chủ yếu về chính trị và văn hóa. Mọi thù hằn trước đó nhanh chóng xóa bỏ. Việt Nam ca ngợi Đặng Tiểu Bình, xuất bản rộng rãi những bài nói của Đặng. Hai nước ký kết nhiều hiệp định quan trọng. Phim ảnh Trung Quốc nhất là phim võ hiệp và dã sử tràn ngập Việt Nam.

Giai đoạn 2: từ năm 2001 – nay: Trung Quốc xâm nhập Việt Nam mạnh mẽ về kinh tế và văn hóa. Người Trung Quốc vào Việt Nam ngày càng nhiều và đến khắp nơi. Cùng với việc tuyên bố chủ quyền ở biển Đông, từ năm 2004 Trung Quốc đẩy mạnh các hoạt động gây hấn trên biển.

Đại tá Quách Hải Lượng nói: “Ta đừng chờ họ mang quân tới đánh thì mới gọi là xâm lược. Thực chất hiện nay họ đã xâm lược rồi. Phải nói như ông Nguyễn Cơ Thạch (cựu Bộ trưởng Ngoại giao VN) rằng Trung Quốc đã phát động chiến tranh phá hoại toàn diện đối với Việt Nam. Nói như thế mới là đầy đủ”(trích theo ĐoanTrang Blog).

Nhưng tiếc thay, tất cả những lời cảnh báo đã như “đánh trống trước cửa nhà sấm”!

VIỆT NAM ĐÃ BỊ PHỤ THUỘC VÀO TRUNG QUỐC CHƯA?

Chúng ta có thể đặt câu hỏi khác là: Trung Quốc đã “thành công” trong chiến lược xâm nhập phá hoại Việt Nam toàn diện như thế nào? Cái gì đã xảy ra?

Trả lời được câu hỏi này chắc phải viết cả một cuốn sách vài trăm trang. Ở đây tôi chỉ xin phác họa một số điểm nhấn, mong rằng từ các điểm đó bạn đọc có thể suy ra trên diện rộng.

Theo tôi về chính trị, năm 1991 trong tình cảnh Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu sụp đổ, dẫn đến khủng hoảng về lý luận thì việc ĐCS Việt Nam liên kết chặt chẽ với ĐCS Trung Quốc và chịu ảnh hưởng của họ là điều dễ hiểu. Trong khoảng 20 năm nay, hai Đảng và hai nước đã ký kết khoảng 40 hiệp định và thỏa thuận. Những cuộc gặp gỡ cấp cao, cấp Bộ ngành và địa phương duy trì đều đặn. Sau những cuộc gặp gỡ ấy, thông tin đưa ra cho thấy đôi bên đều “thống nhất, nhất trí” các quan điểm.

Khách quan nhận xét rằng có thể Trung Quốc đã áp đặt lên Việt Nam đường lối của họ, đưa Việt Nam vào quỹ đạo của họ. Điều này chúng ta đã có kinh nghiệm từ kháng chiến chống Pháp. Và Việt Nam đã “học tập đội bạn” từng động tác trong vũ điệu kinh tế thị trường. Rất nhiều sách chính trị của Trung Quốc hoặc viết về Trung Quốc được xuất bản ở Việt Nam.

Về văn hóa, 20 năm qua, chúng ta đã để cho Trung Quốc xâm nhập như bão táp. Những năm đầu thập niên 1990, ti vi chưa phổ cập thì băng Video phim võ hiệp, tình sử, dã sử Trung Quốc phát hành đến tận hang cùng ngõ hẻm. Bây giờ thì hàng trăm kênh truyền hình, cả TW và địa phương, không nơi này thì nơi khác suốt ngày chiếu phim Tàu. Văn học Trung Quốc được người Việt Nam dịch, xuất bản rất nhiều, kể cả những tiểu thuyết rác rưởi. Một tờ báo địa phương như tờ Văn nghệ Thái Nguyên mà cũng thường xuyên in truyện ngắn Trung Quốc. Tất nhiên điều đó không hẳn là xấu, nhưng vô hình trung nó kiềm chế sự phát triển của văn hóa Việt Nam, nó chiếm chỗ dành cho các nền văn hóa khác, nó tác động vào tư tưởng, tâm lý người Việt Nam, Hán hóa dần dần con cháu các vua Hùng.

Về kinh tế, có thể nói Trung Quốc đã nắm được yết hầu của Việt Nam, nó thể hiện ở những điểm chính sau đây:

Một là, cả nước Việt Nam biến thành cái chợ hàng Trung Quốc khổng lồ mà toàn hàng giá rẻ, chất lượng thấp và độc hại. Những hàng hóa này tràn vào Việt Nam chủ yếu qua con đường tiểu ngạch và buôn lậu, cả buôn lậu trên biển. Nó kiềm hãm đến bóp chết nhiều ngành sản xuất hàng tiêu dùng của Việt Nam, nhất là thợ thủ công ở các làng nghề. Tại Hà Nội nhà máy Dệt 8/3, nhà máy VPP Hồng Hà phải đóng cửa trong đó có nguyên nhân sản xuất không có lãi vì không cạnh tranh được với hàng hóa Trung Quốc (nhưng người ta không ai muốn thú nhận điều đó).

Hai là, một sự bất bình đẳng quá đáng trong cán cân thương mại giữa hai nước. Việt Nam nhập khẩu và nhập siêu quá lớn từ Trung Quốc. Riêng năm 2010 nhập khẩu từ Trung Quốc tới hơn 20 tỷ USD, nhập siêu tới 12,7 tỷ USD. Nếu biết rằng tông thu nhập quốc nội của nước ta hiện nay mới hơn 100 tỷ USD/ năm thì con số nhập khẩu và nhập siêu từ Trung Quốc là một tỷ lệ lớn đến trầm trọng.

Ba là, sự xâm nhập quá sâu của các công ty Trung Quốc vào Việt Nam. Hiện tượng các công ty Trung Quốc trúng thầu đến 90% hàng mục các công trình quan trọng của các ngành điện, than – khoáng sản, dầu khí, giao thông… mà chủ yếu theo phương thức EPC (thiết kế - mua sắm – xây dựng) kéo theo bao hệ lụy về công nghệ thấp, lao động, tiến độ và chất lượng công trình.

Bốn là, chúng ta có bao nhiêu tài nguyên khoáng sản thì Trung Quốc nhập khẩu bằng hết. Họ còn nhập khẩu lậu khoáng sản của ta qua đường biên và trên biển (hàng năm chỉ riêng tỉnh Quảng Ninh đã có hàng triệu tấn than buôn lậu sang Trung Quốc bằng tàu thuyền). Kết quả là chúng ta mau chóng bị cạn kiệt tài nguyên, đang báo động phải nhập khẩu than nhiều triệu tấn trong những năm sắp tới.

Để bạn đọc hình dung được sự phụ thuộc của kinh tế Việt Nam vào Trung Quốc, tôi xin dẫn dưới đây ý kiến của ông Schroth thuộc Hiệp hội May mặc và giày da Mỹ nói về ngành dệt may Việt Nam: Dệt may Việt Nam hiện nay gần giống như một phân nhánh sản xuất của Trung Quốc, nơi lắp ráp và sản xuất ra thành phẩm từ nguyên liệu của Trung Quốc. Nhiều nhà máy ở Việt Nam là của các Công ty Trung Quốc đầu tư. Do đó đây thực sự không phải là một cuộc cạnh tranh đúng nghĩa mà là một quan hệ cộng sinh” (trích nguồn từ Internet).

Quan hệ cộng sinh? Liệu có phải là cây tầm gửi cộng sinh trên thân cây đa, cây đề?

Liệu ý kiến của vị chuyên gia Mỹ nói trên có thể dùng để nói cả cho những ngành kinh tế khác của Việt Nam?

Thế thì đúng như cố Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch đã nói: “Thực chất hiện nay họ đã xâm lược ta rồi!

Có điều cuộc xâm lăng này Trung Quốc sử dụng “sức mạnh mềm” nên kẻ bị xâm lăng không dễ nhận ra. Thậm chí có khối người còn nhờ nó mà “mở mặt với đời”. Đó có thể là những chính khách chưa đủ tầm trí tuệ hay những quan chức tham nhũng “đi đêm” với các Công ty Trung Quốc. Đó cũng có thể là những doanh nhân hám lợi chuyên buôn bán hàng Tàu. Họ có thể không ý thức được rằng họ đã là hại dân hại nước.

2. Kết luận:

Khi một nước này bị phụ thuộc vào nước kia thì đầu tiên là phụ thuộc về chính trị - tư tưởng, sau đó đồng thời phụ thuộc về kinh tế, văn hóa, quốc phòng. Trong đó phụ thuộc về chính trị - tư tưởng là nguy hiểm nhất vì chính trị - tư tưởng chi phối tất cả.

Cho nên để Việt Nam thoát ra khỏi Trung Quốc thì đòi hỏi đầu tiên là phải thoát ra về chính trị - tư tưởng. Nhờ đó sẽ đến được với những tư tưởng tiến bộ nhất của nhân loại. Dân tộc Việt Nam sẽ có cơ hội được hưởng những giá trị nhân bản phổ quát. Những gì tốt đẹp của dân tộc sẽ được phục hồi và phát huy.

Thoát ra khỏi Trung Quốc về văn hóa là Việt Nam thoát khỏi một nguy cơ Hán hóa đang dần dần làm mất gốc cả dân tộc ta.

Thoát ra khỏi Trung Quốc về kinh tế là Việt Nam thoát khỏi mối đe dọa bệnh tật, ô nhiễm môi trường, cạn kiệt tài nguyên và sinh thái. Đồng thời sẽ đến được với những nền sản xuất tiên tiến, công nghệ cao của các nước văn minh.

Có thoát ra khỏi Trung Quốc thì Việt Nam mới có thể giữ vững độc lập chủ quyền.

Trung Quốc hiện giờ như một lực sĩ Sumo nhưng lục phủ ngũ tạng đang mọc nhiều khối u ác tính. Đó là cơ hội cho Việt Nam thoát ra khỏi nếu chúng ta sáng suốt có ý chí quyết tâm và tài năng.

Do yêu cầu của nội dung nên bài viết hơi dài, mong được bạn đọc trao đổi.

TP Hồ Chí Minh, ngày 09 tháng 07 năm 2011
Bùi Công Tự
http://xuandienhannom.blogspot.com/2011/07/viet-nam-can-nhanh-chong-thoat-ra-khoi.html

Giới văn nghệ sĩ lên tiếng phản đối Trung Quốc

Việt Hà, phóng viên RFA

2011-07-09
Tại đại hội liên hiệp văn học nghệ thuật Hà Nội lần thứ 11 diễn ra tại Hà Nội vào ngày 6 và 7 tháng 7 vừa qua, nhà văn Phạm Xuân Nguyên, chủ tịch hội văn học Hà Nội đã có một bài phát biểu với tựa đề ‘Văn học nghệ thuật của lòng yêu nước’.

Nhà văn Phạm Xuân Nguyên, Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội đọc những bài thơ ái quốc trong cuộc biểu tình phản đối nhà cầm quyền Trung Quốc, trước ĐSQ TQ tại Hà Nội sáng 12.6.2011.
Trong bài phát biểu của mình ông kêu gọi các văn nghệ sĩ sáng tác khích lệ tinh thần yêu nước của người dân trước các hành động lấn áp của Trung Quốc trên biển Đông. Việc bày tỏ ý kiến công khai của văn nghệ sĩ liên quan đến một vấn đề mà chính phủ Việt Nam coi là nhạy cảm, trước một đại hội lớn có sự tham gia của một số lãnh đạo đảng, chính phủ như vậy có thể coi là một hành động dũng cảm hiếm hoi của giới văn nghệ sĩ Việt Nam. Việt Hà có bài tìm hiểu và tường trình.
Những căng thẳng trên biển Đông thời gian gần đây với những hành động và thái độ lấn lướt của Trung Quốc với quốc gia láng giềng Việt Nam đang khiến không chỉ người dân mà còn cả giới nghệ sĩ trong nước phẫn nộ và lên tiếng.

Trách nhiệm

nguyenquanga-250.jpg
Tiến sĩ Nguyễn Quang A và Giáo sư Ngô Đức Thọ tham gia biểu tình chống Trung Quốc tại Hà Nội hôm 3-7-2011.
Có lẽ sự lên tiếng của giới văn nghệ sĩ Việt Nam liên quan đến vấn đề biển Đông được cho là gây tiếng vang nhất trong những ngày gần đây là bài phát biểu có tựa ‘Văn học nghệ thuật của lòng yêu nước’ của nhà văn Phạm Xuân Nguyên trước đại hội liên hiệp văn học nghệ thuật Hà Nội lần thứ 11 diễn ra tại Hà Nội hôm 7 tháng 7 vừa qua.
Đại hội liên hiệp văn học nghệ thuật Hà Nội quy tụ gần 3000 hội viên là các văn nghệ sĩ của nhiều hội chuyên ngành như văn học, sân khấu, âm nhạc, mỹ thuật, điện ảnh, kiến trúc… Theo nhà văn Phạm Xuân Nguyên một đại hội quy tụ nhiều đại biểu như vậy và lại diễn ra tại thủ đô là một cơ hội tốt để các văn nghệ sĩ bày tỏ tình cảm và trách nhiệm của mình trước sự tình đất nước:
“Tôi nghĩ văn nghệ phải có trách nhiệm, có tình cảm, và phải có sự quan tâm với tình hình đất nước hiện nay và những vấn đề, vụ việc trên biển Đông do phía Trung quốc gây ra cho Việt Nam. Tôi nghĩ cần phải có một tiếng nói bày tỏ tình cảm của văn nghệ sĩ thủ đô nói chung, và văn nghệ sĩ thủ đô đại diện cho văn nghệ sĩ cả nước, đối với các người chiến sĩ và đồng bào của mình về Hoàng Sa, Trường Sa. Xuất phát từ đó tôi đã viết bài tham luận này.”
Tôi nghĩ văn nghệ phải có trách nhiệm, có tình cảm, và phải có sự quan tâm với tình hình đất nước hiện nay và những vấn đề, vụ việc trên biển Đông do phía Trung quốc gây ra cho Việt Nam.
Nhà văn Phạm Xuân Nguyên
Trong bài phát biểu của mình, nhà văn Phạm Xuân Nguyên đã ca ngợi tinh thần yêu nước của người dân Việt Nam được thể hiện qua các áng thơ văn, âm nhạc trong suốt chiều dài lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam, từ bài thơ ‘Thần’ của Lý Thường Kiệt được khắc ghi trên đảo Đá Tây thuộc quần đảo Trường Sa, đến bài thơ mới gần đây của nhà thơ Nguyễn Việt Chiến có tựa ‘Tổ Quốc Nhìn Từ Biển’.
Trước các vị đại biểu là các lãnh đạo cao cấp của đảng và chính phủ, nhà văn Phạm Xuân Nguyên đã dũng cảm nói đến một bài thơ của nhà thơ Trần Mạnh Hảo ca ngợi một thiếu tá hải quân Việt Nam Cộng Hòa đã dũng cảm hy sinh trong trận chiến đẫm máu với tàu của Trung Quốc vào ngày 19 tháng 1 năm 1974 để bảo vệ quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.

Lòng yêu nước

bieu-tinh-saigon-250.jpg
Từ trái qua phải : ông Đình Vượng, ông Vương Đình Chữ, cụ Nguyễn Đình Đầu, ông Lê Hiếu Đằng, nhà thơ Đỗ Trung Quân, nhà báo Nguyễn Quốc Thái, cô Trần Tử Vân Anh; ông André Mendras Hồ Cương Quyết, ông Huỳnh Tấn Mẫm.
Và tất nhiên, nhà văn Phạm Xuân Nguyên cũng không quên sự hy sinh của 64 chiến sĩ hải quân Việt Nam trong trận chiến bảo vệ đảo Gạc Ma vào ngày 14 tháng 3 năm 1988 trước tàu Trung Quốc. Ông kêu gọi các văn nghệ sĩ sáng tác vì người dân, người lính nơi hải đảo. Xin trích một đoạn trong bài phát biểu của nhà văn Phạm Xuân Nguyên qua giọng đọc của Vũ Hoàng:
“Mỗi chúng ta, là công dân, là người cầm bút, cầm cọ, cầm đàn, đừng để cuộc sống thanh bình đầy đủ tiện nghi vật chất trên đất liền, ở các thành phố, ở giữa thủ đô, che khuất tầm nhìn về hướng biển, về những người lính, người dân đang ngày đêm vật lộn với sóng nước, chống đỡ với những mưu toan thâm độc của kẻ láng giềng nước lớn hung hãn, đang lấy thân mình che cho tổ quốc khỏi cơn cuồng phong xâm lược có thể xảy đến bất cứ lúc nào.
Chúng ta, các văn nghệ sĩ thủ đô, hãy có thêm những sáng tác mới cho/vì người dân người lính nơi hải đảo, giữa trùng khơi. Đó là cách chúng ta biểu lộ lòng yêu nước của mình. Đó là cách chúng ta thể hiện sự phản đối âm mưu của kẻ xấu.”
Nhà văn Phạm Xuân Nguyên cho rằng bài phát biểu của ông đã nhận được sự ủng hộ của đông đảo các văn nghệ sĩ thủ đô qua một tràng pháo tay khi kết thúc.
Chúng ta, các văn nghệ sĩ thủ đô, hãy có thêm những sáng tác mới cho/vì người dân người lính nơi hải đảo, giữa trùng khơi. Đó là cách chúng ta biểu lộ lòng yêu nước của mình.
Nhà văn Phạm Xuân Nguyên
Ngay sau bài phát biểu của nhà văn Phạm Xuân Nguyên, ông Phạm Quang Nghị, ủy viên bộ chính trị ban chấp hành Trung ương Đảng, bí thư thành ủy Hà Nội đã có bài phát biểu. Ngoài việc ca ngợi những đóng góp của văn nghệ sĩ thủ đô đối với sự phát triển kinh tế, xã hội, đời sống văn hóa tinh thần của thủ đô, ông Phạm Quang Nghị cũng nói đến vấn đề bảo vệ vùng biển đảo của Việt Nam.
Ông nói rằng đây là vấn đề của toàn đảng, toàn dân chứ không phải của riêng người nào, giới nào. Ông bày tỏ niềm tin là Việt Nam có đủ sức mạnh, năng lực, trí tuệ để giải quyết vấn đề này như lịch sử đã chứng minh từ hàng ngàn năm qua. Tuy nhiên, ông cho rằng việc phản đối Trung Quốc, bảo vệ chủ quyền không thể thực hiện thành công qua biểu tình, xuống đường. Xin trích một đoạn trong bài phát biểu của ông Phạm Quang Nghị qua giọng đọc Nam Nguyên:
“Chúng ta đã, đang và sẽ tiếp tục giải quyết tốt vấn đề này bằng sức mạnh chính trị, bằng tiềm lực quân sự, bằng sức mạnh ngoại giao, bằng yếu tố pháp luật, bằng dư luận xã hội trong nước và thế giới. Và phải tổng hợp tất cả các yếu tố ấy lại chứ không phải chỉ có một biện pháp một số người xuống đường mà giải quyết thành công.”
pham-xuan-nguyen-jul-3-2011-250.jpg
Nhà văn Phạm Xuân Nguyên tham gia biểu tình chống Trung Quốc trước Nhà hát Lớn TP Hà Nội hôm 03/7/2011. Kami’s blog.
Để phản đối Trung Quốc, Nhà văn Phạm Xuân Nguyên cùng một số văn nghệ sĩ khác trong suốt 5 tuần qua đã cùng đồng hành với những thanh niên, người yêu nước trong các cuộc biểu tình ôn hòa phản đối Trung Quốc ở Hà Nội và Sài Gòn.
Những cuộc biểu tình trong suốt nhiều tuần qua ở Việt Nam đã quy tụ hàng trăm người thuộc nhiều thành phần. Những người biểu tình tuần hành qua các đường phố ở Hà Nội, Sài Gòn và nhất là trước cổng đại sứ quán Trung Quốc ở hai thành phố. Chính phủ Việt Nam ngay từ đầu đã không khuyến khích các cuộc biểu tình này và thường sử dụng lực lượng an ninh, công an cố gắng giải tán các đoàn biểu tình.
Việt Nam đã cử Thứ trưởng ngoại giao Việt Nam Hồ Xuân Sơn sang Bắc Kinh gặp và nói chuyện về các tranh chấp trên biển Đông với ông Đới Bỉnh Quốc, ủy viên quốc vụ viện Trung Quốc vào cuối tháng 6 vừa qua. Trong một cuộc họp báo ngắn sau các cuộc trao đổi giữa hai phía, phát ngôn viên bộ ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi nói rằng ‘cả hai nước đều phản đối những thế lực bên ngoài can dự vào tranh chấp giữa Trung Quốc và Việt Nam và nguyện sẽ tích cực hướng dẫn công luận và ngăn ngừa những lời bình luận hoặc hành động làm tổn hại tới tình hữu nghị và sự tin cậy giữa nhân dân hai nước’.
Vào năm 2007, sau việc Trung Quốc thành lập khu hành chính Tam Sa bao gồm Hoàng Sa và Trường Sa, người Việt Nam trong nước cũng đã xuống đường biểu tình phản đối nhưng đã bị chính phủ đàn áp.

Nguồn lấy từ: http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/vn-artists-voice-protest-against-cn-vha-07092011110717.html
 RFA

GS Thayer đánh giá các xu hướng hợp tác an ninh trên biển Đông gần đây

Lời người dịch: Do bài viết dài 30 trang, nên người dịch chỉ dịch phần mở đầu và phần kết luận để thông tin cho độc giả. Phần giữa xin quý độc giả tham khảo thêm bản tiếng Anh.

——————————————–

Giới thiệu
Bài viết này đánh giá các diễn biến gần đây, ảnh hưởng đến an ninh biển Đông trong sáu tháng đầu năm 2011. Bài viết được chia thành năm phần chính. Trong bốn phần đầu, bài viết đánh giá sự tác động hai chiều về các vấn đề trên biển Đông giữa Trung Quốc và bốn nước đòi chủ quyền – Việt Nam, Philippines, Malaysia và Đài Loan. Trong phần thứ năm, bài viết sẽ bàn về vai trò của Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) trong việc thúc đẩy các cam kết đa phương với Trung Quốc về Tuyên bố ứng xử của các bên trên Biển Đông (DOC) và bộ Quy tắc Ứng xử trên biển Đông (COC).

Cuộc hội thảo về An ninh biển Đông 6/2011 tại Washington
Sự quyết đoán của Trung Quốc trong việc thúc đẩy các tuyên bố chủ quyền và lãnh thổ trên biển Đông, lấn át lịch trình chính trị trong suốt năm 2010. Cho đến tháng 10 [năm 2010], những căng thẳng này dường như đã dịu đi. Trung Quốc đã nối lại các mối quan hệ quân sự với Hoa Kỳ mà họ đã đình chỉ hồi đầu năm. Trung Quốc và ASEAN đã làm sống lại nhóm làm việc chung để thực hiện Tuyên bố ứng xử của các bên trên biển Đông (DOC) đang bị hấp hối. Những điều này và các diễn biến khác đã khiến tác giả kết luận rằng, có cơ sở cho sự lạc quan thận trọng rằng một số tiến bộ có thể được thực hiện trong việc quản lý các căng thẳng trên biển Đông.
Sáu tháng đầu năm nay đã thấy các căng thẳng trở lại và hành vi từ phía Trung Quốc đã không hề thấy ​​trước đó. Trung Quốc bắt đầu can thiệp một cách mạnh mẽ vào các hoạt động thương mại của các tàu thăm dò dầu khí trong vùng đặc quyền kinh tế mà Việt Nam và Philippines đã tuyên bố. Các phản đối ngoại giao của cả hai nước về hành động của Trung Quốc đã gợi ra sự kiêu căng, gây cản trở, và tình trạng hiếu chiến của Bắc Kinh.
Kết luận
Việc khẳng định chủ quyền mạnh mẽ trong thời gian gần đây của Trung Quốc trên biển Đông đã gia tăng rủi ro về an ninh cho các nước Đông Nam Á và tất cả các cường quốc qua lại trên các vùng biển này. Bảo đảm an ninh trên biển Đông hiện là một vấn đề quốc tế phải được giải quyết đa phương bởi tất cả các nước có liên quan.
Ba sự cố quan trọng đánh dấu làn sóng mới về sự quyết đoán mạnh mẽ của Trung Quốc. Ngày 2 tháng 3, tàu tuần tra Trung Quốc hoạt động trong nhóm đảo Kalayaan của Philippines tiếp cận một tàu khảo sát địa chấn của Philippines trong vùng biển ngoài khơi bãi Cỏ Rong và ra lệnh cho con tàu này rời khỏi khu vực. Ngày 26 tháng 5, ba tàu giám sát biển của Trung Quốc đã tiến đến gần một tàu thăm dò dầu khí do nhà nước Việt Nam sở hữu, nằm sâu bên trong vùng đặc quyền kinh tế mà Việt Nam đã tuyên bố. Con tàu này bị ra lệnh phải rời khỏi khu vực, sau khi một tàu Trung Quốc cố tình cắt cáp khảo sát ngập dưới nước. Và ngày 9 tháng 6, một tàu thăm dò thứ hai của Việt Nam bị các tàu Trung Quốc tiến đến gần trong một vụ cắt cáp thứ hai.
Trong tháng 5 năm 2009, khi Malaysia và Việt Nam cùng đệ đơn lên Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa Liên Hiệp quốc, Trung Quốc đã phản đối kèm theo một bản đồ. Bản đồ Trung Quốc có chín vạch, một hình gần giống như chữ U, bao gồm gần như cả vùng biển Đông. Trung Quốc tuyên bố “chủ quyền không thể tranh cãi” trên biển Đông. Tuy nhiên, chưa bao giờ họ làm rõ cơ sở của các tuyên bố này, mặc dù các nước trong khu vực đã khẩn cầu trong hai thập niên. Hiện chưa rõ Trung Quốc đang yêu sách những gì. Có phải Trung Quốc tuyên bố chủ quyền đối với tất cả các bãi đá và đảo (features) bên trong các vạch này? Hay là Trung Quốc tuyên bố biển Đông là lãnh hải của họ?
Một số chuyên gia hàng hải suy đoán rằng, tuyên bố của Trung Quốc dựa trên chín bãi đá họ chiếm ở quần đảo Trường Sa. Nói cách khác, Trung Quốc tuyên bố rằng những bãi đá này là những hòn đảo thực sự theo luật pháp quốc tế và do đó kéo theo vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý (370 km). Đây là một điều tưởng tượng pháp lý. Các hòn đảo phải có khả năng tự duy trì sự cư trú của con người và có chức năng kinh tế. Đá không đáp ứng các tiêu chí này, nên không thể đòi vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa.
Các vạch của Trung Quốc đã cắt vào trong vùng đặc quyền kinh tế mà Việt Nam và Philippines tuyên bố. Các vùng đặc quyền kinh tế này dựa trên luật pháp quốc tế một cách vững chắc. Cả hai nước đã vẽ các đường cơ sở xung quanh bờ biển của họ và sau đó mở rộng tuyên bố từ các đường cơ sở này ra biển tới 200 hải lý (370 km). Theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển, các nước ven biển có quyền tài phán trên những vùng biển này trong việc khai thác tài nguyên thiên nhiên như thủy sản hoặc dầu khí dưới đáy đại dương.
Trong tháng 11 năm 2002, Trung Quốc và ASEAN đã đạt được thỏa thuận Tuyên bố ứng xử của các bên trên biển Đông (DOC). Đây là tài liệu không ràng buộc, trong đó các bên đã ký, cam kết không sử dụng vũ lực để giải quyết tranh chấp chủ quyền. DOC, có nhiều đề xuất về các biện pháp xây dựng lòng tin, chưa bao giờ được thực thi.
Sự quyết đoán của Trung Quốc trong việc thúc đẩy các tuyên bố chủ quyền trên biển Đông trong năm 2009 và 2010 đã gây ra một phản ứng quốc tế dữ dội. Vấn đề này nổi bật tại Diễn đàn Khu vực ASEAN và tại buổi khai mạc Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng hồi năm ngoái. Trung Quốc đã dùng thủ đoạn ngoại giao và tìm cách hạn chế tổn hại thêm bằng cách đồng ý khôi phục lại nhóm làm việc chung ASEAN – Trung Quốc đang bị hấp hối, để thực hiện Tuyên bố ứng xử của các bên. Nhóm làm việc này đã bị trì hoãn vì sự khăng khăng của Trung Quốc, rằng tuyên bố chủ quyền và lãnh thổ chỉ có thể được giải quyết song phương giữa các nước liên quan. Các thành viên ASEAN nhấn mạnh việc gặp nhau để đưa ra quan điểm chung trước khi Trung Quốc tham gia.
ASEAN, do Indonesia làm chủ tịch, đã thúc giục Trung Quốc nâng cấp DOC thành quy tắc ứng xử (COC) ràng buộc hơn. Một số nhà ngoại giao trong khu vực hy vọng rằng, một thỏa thuận có thể đạt được vào kỷ niệm lần thứ mười của DOC, tháng 11 năm 2012. Điều này không thể đạt được, trừ khi ASEAN duy trì đoàn kết, gắn bó và thông qua một lập trường chung. Rõ ràng là có “sự luôn luôn lo lắng” giữa các thành viên ASEAN.
Nửa đầu thập niên 1990, khi Trung Quốc bắt đầu chiếm các bãi đá trên quần đảo Trường Sa, gồm bãi đá Vành Khăn (Mischief Reef) nổi tiếng, các nhà phân tích an ninh đã mô tả chiến lược của Trung Quốc là “sự quyết đoán từ từ” và “nói và lấy“. Các sự kiện năm nay được mô tả tốt nhất là sự quyết đoán mạnh mẽ. Trung Quốc hiện đang trả [miếng] lại Việt Nam vì vai trò của Việt Nam trong việc quốc tế hóa biển Đông hồi năm ngoái, khi Việt Nam giữ chức chủ tịch ASEAN. Các hành động của Trung Quốc trong khu vực bãi Cỏ Rong có ý định phơi bày sự mơ hồ trong Hiệp ước An ninh chung Mỹ – Philippines, liệu nhóm đảo Kalayaan có được hiệp ước này bảo vệ hay không.
Cả ASEAN và cộng đồng quốc tế đều dựa vào lối đi qua biển Đông, phải đối đầu ngoại giao với Trung Quốc về sự quyết đoán mạnh mẽ của nước này. Họ nên mang những áp lực ngoại giao tập thể, có liên quan tới Trung Quốc, tới cuộc họp thường niên sắp tới ở Diễn đàn Khu vực ASEAN và Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á, sẽ được tổ chức cuối năm nay để tôn vinh các cam kết trong DOC của mình.
Trong khi đó cả Philippines lẫn Việt Nam nên thực hiện các bước nhằm nâng cao năng lực của mình để sử dụng chủ quyền quốc gia trên vùng đặc quyền kinh tế của hai nước. Sự yếu đuối của hai nước càng mời gọi Trung Quốc hành động quả quyết hơn. Ngày 11 tháng 6, bà Nguyễn Phương Nga, phát ngôn Bộ Ngoại giao [Việt Nam], khi được hỏi về vai trò có thể có đối với Hoa Kỳ và các nước khác trong việc giải quyết tranh chấp biển Đông, đã trả lời rằng: “Duy trì hoà bình, ổn định, an ninh, an toàn hàng hải ở Biển Đông là lợi ích chung của các quốc gia trong và ngoài khu vực. Do đó, mọi nỗ lực của cộng đồng quốc tế trong việc duy trì hòa bình ổn định ở khu vực Biển Đông đều được hoan nghênh”.
Sự quan tâm của Hoa Kỳ và các đồng minh, cũng như Ấn Độ để hỗ trợ cả hai nước trong việc xây dựng khả năng trong lĩnh vực an ninh hàng hải. Đồng thời “liên minh của các nước có cùng một mục đích” nên hỗ trợ ASEAN trong một nỗ lực bảo đảm thỏa thuận về bộ quy tắc ứng xử trên biển Đông. Các thành viên ASEAN có thể tự xây dựng một Hiệp ước về ứng xử ở biển Đông, và sau khi phê chuẩn, mở ra cho các nước không là thành viên gia nhập.
Ngọc Thu dịch
Nguồn: http://www.scribd.com/doc/59499260/Thayer-Security-Cooperation-in-the-South-China-Sea-An-Assessment-of-Recent-Trends


http://www.danchimviet.info/archives/38442

Người Việt tại Berlin biểu tình phản đối Trung Quốc gây hấn ở Biển Đông & Chủ Nhật 10/7 Người Việt Tị Nạn cs tại Paris và toàn dân trong nước XUỐNG ĐƯỜNG BIỂU TÌNH chống Tàu cộng xâm lăng & Việt cộng bán nước

Người Việt biểu tình tại quảng trường Potsdamerplatz tại Berlin (DR)
Người Việt biểu tình tại quảng trường Potsdamerplatz tại Berlin (DR)
 
Thanh Phương / Thụy My
 
Hôm nay 9/7/2011, theo dự kiến, hàng trăm người Việt Nam sống tại Đức chuẩn bị tập hợp tại quảng trường Potsdamerplatz ở thủ đô Berlin vào đầu buổi chiều để biểu tình phản đối những hành động gây hấn cũng như bành trướng của Trung Quốc trên Biển Đông.
Những người tham gia biểu tình mang các biểu ngữ khẳng định Trường Sa, Hoàng Sa là của Việt Nam, hay phản đối bản đồ đường lưỡi bò của Trung Quốc, đồng thời mang theo những lá cờ đỏ sao vàng, quốc kỳ Việt Nam. Trả lời phỏng vấn với Thụy My hôm qua, ông Lê Hồng Cường, truởng ban chỉ đạo giải thích lý do vì sao họ chọn quảng trường Potsdamerplatz làm nơi tập hợp.

Ông Lê Hồng Cường, truởng ban chỉ đạo
 
09/07/2011
 
Còn tại Paris ngày mai, 10/7, các tổ chức, hội đoàn, người Việt Quốc gia ở thủ đô Pháp và các vùng phụ cận được kêu gọi tham dự cuộc tập hợp tại quảng trường Alma, trước bức tượng ngọn lửa Flamme de la Liberté. Những người tham dự được đề nghị tuần hành bằng xe đạp từ quảng trường Maubert Mutualité đến quảng trường Alma. Nhưng cuộc biểu tình này chủ yếu là nhằm lên án chính quyền Việt Nam, mà theo ban tổ chức đã “ dâng hiến lãnh thổ và lãnh hải của tổ tiên cho giặc Tàu cộng”
tags: Biển Đông - Trung Quốc - Việt Nam - Đức

VIỆT NAM: LẠM PHÁT SẼ TĂNG VỌT NĂM 2012 - Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN

Ngày 09.07.2011
 
Theo phân tích của Bản Báo Cáo của Ngân Hàng Thế giới đầu năm 2011, thì "Từ góc độ lịch sử, Việt Nam luôn có tỷ lệ lạm phát cao hơn các nước láng giềng.” Câu vắn gọn này nói về Lạm phát tại Việt Nam có những chữ như “lịch sử“, “cao hơn các nước láng giềng“ cho thấy tính chất đặc biệt của Lạm phát VN:
 
*        Lạm phát tại Việt Nam là thường xuyên, liên tục như “lịch sử “ chứ không phải chỉ là biến cố nhất thời xẩy ra rồi biến đi;
 
*        Lạm phát tại Việt Nam không phải chỉ là một hoàn cảnh chung, như Khủng hoảng Tải chánh hoặc Đầu cơ năng lượng chẳng hạn, xẩy đến cho mọi nước như nhau. Việt Nam có những lý do Lạm phát riêng thuộc cơ cấu Kinh tế khác với những nước khác nên Lạm phát “cao hơn các nước láng giềng “
 
Chính vì vậy, những biện pháp khống chế cái Lạm phát thường xuyên và liên tục ấy tại Việt Nam phải tìm vào những nguyên nhân đặc biệt thuộc cơ cấu Kinh tế khiến Lạm phát “cao hơn các nước láng giềng “.
 
Lạm phát cuối tháng 6/ 2011 này lên tới 20.82%. Theo Bản Tin của Bloomberg ngày 08.07.2011, thì Ngân Hàng Thế Giới đã cảnh cáo Việt Nam về độ tăng Lạm phát “không thể tha thứ“ được (intolerable):
 
“The World Bank last month described price gains in Vietnam as “intolerable” and had called upon policy makers to maintain tight monetary conditions until inflation is sustainably below 10 percent.”
 
(Tháng vừa rồi, Ngân Hàng Thế giới đã vạch rõ vật giá leo thang ở Việt Nam như điều “không thể tha thứ “ và đã kêu gọi những người hữu trách hoặch định Kinh tế phải xiết chặt những điều kiện tiền tệ cho đến khi nào Lạm phát có thể chịu đựng nổi bên dưới 10%”
 
 
Những biện pháp của Nhà nước
nhằm kềm chế Lạm phát
 
Xin nhấn mạnh một lần nữa là Lạm phát ở Việt Nam không tăng theo hoàn cảnh chung của các nước láng giềng, mà còn mang những lý do nội tại “Từ góc độ lịch sử“, nghĩa là lý do thuộc chính Cơ chế CSVN nắm “chủ đạo“ nền Kinh tế/ Tài chánh/ Tiền tệ.
 
Từ đầu năm nay, Nhà nước VN coi Lạm phát là vấn đề hàng đầu phải khắc phục. Nhà nước đưa ra ào ào những biện pháp nhằm khống chế Lạm phát, trong đó Nghị Quyết 11 ký bởi Nguyễn Tấn Dũng nhằm thắt chặt Tiền tệ.
 
Nhìn những biện pháp này của Nhà nước, chúng tôi có hai nhận xét sau đây:
 
*        Nhà nước có những Chuyên viên đã từng học tại các Đại học Aâu, Mỹ về Kinh tế Tự do và Thị trường, về Ngân Hàng Trung ương và nhiệm vụ điều hành Khối lượng lưu hành Tiền tệ để kềm chế Lạm phát. Họ đưa ra những biện pháp thắt chặt Tiền tệ học được tại Aâu, Mỹ với nền Kinh tế Tự do và Thị trường, nhưng lại áp dụng cho một nền Kinh tế độc tài định hướng XHCN tréo cẳng ngỗng. Những biện pháp rất trúng cho Aâu, Mỹ, nhưng lại ở một Cơ chế độc tài chính trị, độc đoán Kinh tế mà dân chúng cầm đồng tiền khôngh còn tin tưởng vào Nhà nước nữa. Vì vậy những biện pháp mà Nhà nước đưa ra, dân không tin tưởng và làm theo.
 
*        Lạm phát xẩy ra từ hai nguồn ảnh hưởng chính, đó là từ (i) Lãnh vực Tiền tệ (Vốn) và từ (ii) Lãnh vực Hiệu năng Kinh tế thực. Những biện pháp mà Nhà nước Việt Nam đưa ra chỉ nhằm Lãnh vực Tiền tệ (Vốn), nghĩa là tìm mọi cách thắt chặt lại lượng Tiền (Vốn) lưu hành, mà không đưa ra hoặc bất lực đưa ra những biện phát làm tăng Hiệu năng (Efficacité/ Productivité) của các Tập đoàn Kinh tế quốc doanh khi sử dụng Vốn. Thế nào là Hiệu năng sản xuất khi sử dụng một số vốn đầu tư? Hiệu năng được tính theo Lượng Hàng hóa/ Dịch vụ sản xuất trong một Thời gian nhất định khi sử dụng một Lượng vốn. Nếu Lượng Hàng hóa hay Dịch vụ sản xuất trong Thời gian nhất định giảm đi khi sử dụng cùng Lượng vốn, tất nhiên Lạm phát tự động sinh ra. Cụ thể, các Tập đoàn Kinh tế quốc doanh do đảng nắm, mà người của đảng chỉ lo cắt xén ăn bẩn, chứ không chịu khó làm việc để tăng hiệu năng. Hàng sản xuất ít đi thì tương đương hàng hóa sánh với lượng tiền cũng ít đi, đó là định nghgĩa của Lạm phát. Lục đục cá đối bằng đầu, Nguyễn Tấn Dũng không dám sửa sai những Tổng Giám đốc Tập đoàn Nhà nước, và do đó không thể tăng hiệu năng sản xuất.
 
Chính vì nhìn những biện pháp mà Nhà nước đưa ra có tính cách phiến diện như vậy mà chúng tôi đã viết liên tiếp 4 Bài dài phân tích để cuối cùng Kết luận rằng nếu Cơ chế CSVN hiện hành còn tồn tại, thì không thể nào kềm chế được Lạm phát. Và liều thuốc chữa trị đúng căn nguyên của Lạm phát là phải Dứt bỏ chính cái Cơ chế CSVN hiện hành để Dân chủ hóa Kinh tế.
 
 
Những biện pháp thắt chặt Tiền tệ (Vốn)
Và Ngân Hàng Nhà Nước VN tự thú thất bại
 
Để điều chỉnh lượng Tiền (Vốn) lưu hành trong Kinh tế, quyền lực Chính trị không thể mang súng dí vào gáy dân, bắt họ đem Tiền bỏ vào Ngân Hàng. Ở những nền Kinh tế Tự do và Thị trường, phải dùng Lợi nhuận để nhử mồi đối với những kẻ cầm Tiền (Vốn).  Lợi nhuận ấy tuỳ thuộc vào việc lên xuống của cái Giá vay mượn Vốn, tức là Lãi suất. Ngân Hàng Trung ương  (Ngân Hàng Quốc gia) có quyền quyết định trên Lãi suất chỉ đạo nhằm điều chỉnh lượng Tiền (Vốn) lưu hành trong nền Kinh tế. Khi tăng giảm Lãi suất, thì lượng CUNG, CẦU Tiền (Vốn) cũng theo đó mà giảm hoặc tăng.
 
Khi hạ Lãi suất chỉ đạo xuống, thì dân chúng thấy không có Lợi mang Tiền đến Ngân Hàng để gửi, nghĩa là lượng Tiền (Vốn) trong dân gian lưu hành dồi dào. Đồng thời các Công ty thấy Giá thuê vốn rẻ, thì dễ dàng thuê Vốn để kinh doanh. Tỉ dụ trong thời gian Khủng hoảng Tài chánh/ Kinh tế Thế giới vừa qua, nền Kinh tế mọi nơi thấy thiếu vốn để kinh doanh. Các Ngân Hàng Trung ương lần lượt hạ thấp Lãi suất chỉ đạo để lượng vốn lưu hành được dồi dào và cổ võ các Công ty vay vốn rẻ để kinh doanh.
 
Khi tăng Lãi suất chỉ đạo, Ngân Hàng Trung ương muốn rút lại lượng Tiền (Vốn) đang lưu hành quá mức làm tăng Lạm phát. Khi Giá vốn lên cao, dân chúng thấy có Lợi nhuận cao khi mang Tiền gửi vào Ngân Hàng. Đồng thời các Công ty thấy Giá vốn quá cao, nên không vay vốn để kinh doanh nữa khiến lượng vốn lưu hành giảm đi. Đây là nguyên tắc điều chỉnh lượng vốn ở những nền Kinh tế Tự do và Thị trường đích thực.
 
Những biện pháp khống chế Lạm phát mà Nhà nước VN đưa ra trong những tháng gần đây quy tụ vào việc thắt chặt Tiền tệ (Vốn) bằngh tăng Lãi suất chỉ đạo lên rất cao.
 
Thực vậy, trước khi Lạm phát tăng phi mã, Nhà nước đã đổ dồi dào Tiền chùa ra cho các Tập đoàn Kinh tế quốc doanh. Có dồi dào vốn để lưu hành, đó là nguồn Lạm phát thứ nhất. Các Tập đoàn này tiêu xài tiền chùa, mà hiệu năng sản xuất lại yếu kém, đó là nguồn Lạm phát thứ hai.
 
Khi quyết định tăng Lãi suất lên cao, Ngân Hàng muốn thắt chặt lại lượng vốn lưu hành. Đồng thời đây cũng là biện pháp chiêu dụ dân chúng mang Tiền (Vốn) gửi vào Ngân Hàng. Nếu biện pháp thắt chặt Tiền tệ (Vốn) này đúngh tại các nên Kinh tế Tự do và Thị trường Aâu, Mỹ, thì biện pháp dùng Lãi suất cao để thắt chặt Tiền tệ (Vốn) lại rất khó áp dụng cho nền Kinh tế độc tài Chính trị và độc quyền Kinh tế định hướng XHCN vì những lý do sau đây:
 
*        Dân chúng không tin tưởng vào Ngân Hàng của Nhà nước độc tài từ Chính trị đến Kinh tế, Tiền tệ. Dù thấy có Lợi cao do Lãi suất cao, nhưng dân chúng không muốn giao Tiền cho một Nhà nước độc tài Tiền tệ có thể phá giá chính đồng bạc. Được Lợi nhuận cao, nhưng nếu đồng bạc bị phá giá để mình mất tiền, thì Lợi nhuận kia chưa chắc bù lại được việc mất mát do phá giá đồng bạc.
 
*        Các Tập đoàn Kinh tế quốc doanh dửng dưng với việc có vốn dồi dào hay thiếu vốn. Nếu thiếu vốn vì thắt chặt tiền tệ màTập đoàn phá sản, thì đó cũng là Nhà nước phá sản chứ không phải Công ty tư riêng của họ. Có tiền thì làm việc, không có vốn thì ngồi chơi mà vẫn xơi nước.
 
Trong những tháng trường áp dụng những biện pháp thắt chặt vốn bằng tăng cao Lãi suất, Nhà nước thấy không những không kềm chế nổi Lạm phát, mà còn phải chứng kiến tình trạng Lạm phát càng tăng lên, thậm chí tới mức cao nhất Thề giới 20.82%
 
Bản Tin Bloomnberg 08.07.2011 viết như sau:
 
“Vietnam raised borrowing costs every month this year through May, pushing market lending rates to more than 20 percent and slowing economic growth.”
 
“Tightening too much is self defeating,” said Alan Pham, chief economist at VinaCapital Investment Management Ltd. “Many businesses are cutting back production, lowering supply of goods which can cause inflation.”
 
“Some commercial banks in Vietnam has charged clients an interest rate of as much as 27 percent, the newspaper Dau Tu reported June 30. Surging borrowing costs forced about 30 percent of the companies in Vietnam to close factories or postpone production.”
 
(Vietnam đã tăng những chi phí vay vốn lên cao mỗi tháng trong năm nay đến tháng Năm, đẩy Lãi suất cho vay vốn trên Thị trường lên trên 20% và như vậy làm hạ xuống Độ phát triển Kinh tế.
 
Thắt chặt quá đáng Tiền tệ tức là tự thối lui, ông Alan Pham, Kinh tế gia trưởng của VinaCapital Investment Management Ltd. nói như vậy. Nhiều tổ chức kinh doanh cắt giảm sản xuất, hạ xuống việc cung cấp hàng hóa, đó là những lý do tạo lạm phát.
 
“Một số những Ngân Hàng Thương mại Việt Nam đã bắt ép khách hàng chịu lãi suất lên tới 27%, báo Dau Tu đã tường thuật như vậy. Chi phí thuê vốn cao đã ép buộc khoảng 30% những Công ty ở Việt Nam phải đóng cửa hoặc hoãn lại việc sản xuất về sau.)
 
Ngày 04.07.2011, Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam quyết định hạ Lãi suất chỉ đạo xuống 1 điểm, nghĩa là từ 15% xuống 14%. Việc tự động hạ Lãi suất chỉ đạo này của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam là việc TỰ THÚ thất bại của biện pháp thắt chặt Tiền tệ (Vốn) bằng tăng Lãi suất chỉ đạo mà CSVN tin là có thể khống chế Lạm phát, vấn đề quan trong hàng đầu của Cơ chế.
 
 
CREDIT SUISSE tiên đoán Lạm phát
sẽ tăng vọt trong năm 2012
 
Nhà nước CSVN sống trong thế lưỡng nan: lực chọn ổn định Kinh tế bằng kềm chế Lạm phát hay lựa chọn tăng Độ phát triển với nguy hiểm Lạm phát.
 
Bản Tin Bloomberg 08-07-2011 viết:
 
“The decision reflects the government’s long-standing bias in favor of growth over stability, which caused the current high inflation and trade deficits in the first place.”
 
(Quyết định phản ánh khuynh hương của Chính quyền nghiêng về độ tăng Kinh tế hơn là ổn định định, điều đã gây ra lạm phát cao và thâm thụt thương mại.)
 
Nếu cứ giữ Lãi suất chỉ đạo cao, thì Nhà nước lo sợ tình trạng thiếu vốn kinh doanh làm thụt lùi Độ phát triển Kinh tế và phá sản các Tập đoàn Kinh tế quốc doanh. Nhận định về việc cắt giảm Lãi suất ngày 04.07.2011, CREDIT SUISSE tiên đoán việc Lạm phát sẽ tăng vọt trong năm 2012:
 
“The State Bank of Vietnam said it lowered the rate to 14 percent from 15 percent effective today, according to an e- mailed statement.”
 
“The State Bank of Vietnam on July 4 lowered its repurchase rate to 14 percent from 15 percent.”
 
“Vietnamese inflation will be higher next year than previously forecast as a result of a central bank rate cut this week that was “premature” and may confuse investors, Credit Suisse Group AG (CSGN) said.”
 
(Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam tuyên bố hạ Lãi suất xuống 14% từ 15% có hiệu lực từ ngày hôm nay, theo khẳng định trong một E-mail.
 
Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam đã hạ Lãi suất vào ngày 04.07 từ 15% xuống 14%.
 
Lạm phát Việt Nam sẽ tăng cao hơn nữa so với ước tính trước đây do hậy quả của việc hạ Lãi suất của ngân hàng trung ương tuần này, việc này được coi như “sinh non“ và có thể làm hỗn loạn những người đầu tư, Credit Suisse Group (CSGN) đã tuyên bố như vậy)
 
CREDIT SUISSE nhận định chính yếu về Lãnh vực nới rộng lưu hành Tiền tệ (Vốn) như hậu quả của việc cắt giảm Lãi suất chỉ đạo làm cho Lạm phát hiện hành đã ở mức 20.82% sẽ tăng thêm cao hơn nữa trong năm 2012.
 
Tuy nhiên, nếu nghĩ đến trường hợp tụt giảm Độ phát triển Kinh tế và phá sản Hiệu năng của các Tập đoàn Kinh tế quốc doanh, thì hậu quả vẫn là làm Lạm phát tăng vọt trong năm 2012. Tăng vốn cho các Tập đoàn Kinh tế quốc doanh để tránh phá sản mà Nhà nước bất lực không thể cải thiện Hiệu năng sản suất của các Tập đoàn này, thì vốn có dồn vào bao nhiêu cũng như gió thổi vào nhà trống.
 
Tăng Lãi suất để thắt chặt Tiền tệ (Vốn), lạm phát vẫn tăng. Giảm Lãi suất để thả vốn ra, Lạm phát càng tăng. Điều quan trọng là có cải thiện được Hiệu năng sản xuất của những Tập đoàn quốc doanh hay không. Việc bất lực cải thiện Hiệu năng là do Cơ chế Độc tài Chính trị nắm Độc quyền Kinh tế để Tham nhũng Lãnh phí hoành hành, để Tiền (Vốn) đổ vào những Tập đoàn quốc  doanh như gió vào nhà trống.
 
 
Đôi lời Kết luận
 
Như chúng tôi đã viết nhiều về tình trạng tụt dốc Kinh tế của CSVN hiện hành, Lạm phát càng ngày càng tăng làm đại đa số quần chúng phải rơi vào cùng cực. Lạm phát càng tăng thì dân chúng sẽ bị đẩy vào phẫn nộ và NỔI DẬY đấu tranh cho quyền sống của mình. Đây là cái đại họa thứ nhất vì lý do tụt dốc Kinh tế mà CSVN không thể cứu vãn.
 
Họa vô đơn chí ! cái đại họa thứ hai đang giáng trên đầu CSVN, đó là việc xâm lăng Hải đảo và những vùng biên vây quanh tại Biển Đông do Trung quốc khăng khăng thực hiện. Chính Trung quốc nêu ra Công Hàm bán nước Phạm Văn Đồng/ Hồ Chí Minh để dân chúng cuối cùng không thể tha CSVN về cái tội bán đất và biển của tổ tiên.
 
Câu Kết luận của của chúng tôi vẫn là phải DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH để Dân chủ hóa Kinh tế, để thực hiện đúng nguyên tắc tối sơ của Kinh tế tư hữu tư doanh: “Làm Tiền đã khó, mà tiêu Tiền còn khó hơn !”. Tiêu tiền theo nghĩa Kinh tế là phải nghĩ đến cố gắng làm việc cho có hiệu năng để khi tiêu một đồng phải nghĩ đến thu vào hơn một đồng. Nếu không thu vào được hơn một đồng, thì đừng tiêu đồng bạc mình đang có.
 
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Ngày 09.07.2011
Web: http://VietTUDAN.net
e-mail

Tranh chấp Biển Đông: Phỏng vấn Thạc sĩ Hoàng Việt về 'Công hàm Phạm Văn Đồng'

7/09/2011

2:47 PM  CoVang 
Trong vài ngày qua, dư luận Việt Nam lại xôn xao bàn tán về bức công hàm ngoại giao mà Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng gởi vị tương nhiệm Chu Ân Lai của Trung Quốc năm 1958, sau khi bản tin hôm 28 tháng 6 của Tân Hoa Xã nhắc đến văn thư này như một bằng chứng cho thấy Việt Nam thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông. Ban Việt ngữ VOA đã tiếp xúc với Thạc sĩ Hoàng Việt, một thành viên của Quỹ Nghiên Cứu Biển Đông, để tìm hiểu thêm về vấn đề được một số người Việt Nam cho là "làm sôi sục cả tim gan" này.

Duy Ái - VOA
VOA: Xin cảm ơn giáo sư đã có nhã ý cho chúng tôi thực hiện cuộc phỏng vấn này. Trước hết, xin ông trình bày sơ qua về nội dung của lá thư thường được gọi là "công hàm Phạm Văn Đồng" và cho biết văn kiện ngoại giao này được đưa ra trong bối cảnh như thế nào?
Download

Hoàng Việt:
Thưa anh, trước hết là về bối cảnh đưa ra công hàm mà năm 1958 ông Phạm Văn Đồng đã ký. Thứ nhất là lúc đó quan hệ Việt Nam-Trung Quốc vẫn còn như là anh em, vừa là đồng chí vừa là anh em. Năm 1949, Quân Giải phóng Việt Nam còn tấn công và chiếm vùng Trúc Sơn thuộc lãnh thổ của Trung Quốc, sau đó trao trả lại cho Trung Quốc. Thế rồi sang năm 1957 Trung Quốc chiếm lại từ tay một số lực lượng khác đảo Bạch Long Vĩ và sau đó đã trao trả lại cho Việt Nam.

Muốn nói tới câu chuyện đó để làm gì? Đấy là lúc đó hai nước tình cảm rất là chặt chẽ với nhau. Và năm 1958 nó có bối cảnh là gì? Sau sự thất bại của hội nghị La Haye về luật biển năm 1930 để pháp điển hóa luật biển, đến năm 1958 – từ khoảng tháng 2 đến tháng tư, đã có hội nghị đầu tiên về Công ước Luật biển. Và sau đợt họp này đã ra được 4 công ước khác nhau, trong đó có Công ước về lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải. Tuy nhiên, hội nghị này thất bại vì đưa ra được giới hạn là lãnh hải tối đa 12 hải lý nhưng không thống nhất được là 12 hải lý. Và mỗi quốc gia lại đưa ra một yêu sách khác nhau: Mỹ yêu cầu lãnh hải là 3 hải lý, có một số nước là cho 4,5 hải lý, còn Trung Quốc đưa ra quan điểm là 12 hải lý, và một số nước Nam Mỹ còn đưa ra quan điểm là 200 hải lý.


Trong bối cảnh đó Trung Quốc đưa ra tuyên bố của ông Chu Ân Lai về lãnh hải và tuyên bố lãnh hải là 12 hải lý, và vận động quốc tế, trong đó có Việt Nam, là nước có mối tình thân thiết với Trung Quốc, để yêu cầu ủng hộ cho tuyên bố 12 hải lý đó. Còn nội dung công hàm thì có một số điều cơ bản như thế này. Thứ nhất, ông nói rằng dựa vào tuyên bố của ông Chu Ân Lai cho rằng lãnh hải Trung Quốc kéo dài 12 hải lý ông Đồng nói rằng chúng tôi tán thành và chấp nhận “hải phận” 12 hải lý. Đấy là bối cảnh và nội dung của công hàm Phạm Văn Đồng. Tuy nhiên sau này người ta diễn giải, đặc biệt là Trung Quốc. Chắc có lẽ ông Đồng cũng không ngờ là sau này công hàm của ông lại được Trung Quốc diễn giải một cách khác nhau rất nhiều như vậy.

HLTL- Sự thật là ông Phạm Văn Đồng biết rất rõ chứ không thể nói "không ngờ" vì Tuyên Bố của Trung cộng vào ngày 4-9-1958 có viết rõ là khu vực 12 hải lý bao gồm cả Quần đảo Tây Sa (tên tiếng Tàu Xisha) = Quần đảo Hoàng Sa = Paracel Islands & Quần đảo Nam Sa (tên tiếng Tàu Nansha) = Quần đảo Trường Sa = Spratly Islands. Xem tài liệu và báo chí thời đó đăng ở đây
Công Hàm Bán Nước do Phạm Văn Ðồng ký ngày 14/9/1958
VOA: Thưa giáo sư, theo chỗ chúng tôi được biết thì phải mất mấy mươi năm sau Trung Quốc mới lấy lá thư năm 1958 của ông Phạm Văn Đồng làm một luận cứ để hỗ trợ cho đòi hỏi của họ về chủ quyền biển đảo ở Biển Đông. Ông nghĩ sao về việc Trung Quốc giờ đây lại đề cập tới "công hàm Phạm Văn Ðồng" vào thời điểm như thế này?

Hoàng Việt:
Chính sách của Trung Quốc là tuyên truyền bằng mọi cách để làm sao bảo vệ được luận cứ của họ ở Biển Đông. Có lẽ là bắt đầu từ cuộc căng thẳng mà hai bên tranh chấp với nhau ở quần đảo Trường Sa năm 1988. Tôi cũng chưa có thời gian để coi lại xem trong các tuyên bố chính thức của Trung Quốc họ đưa ra cái luận điểm, cái công hàm này, từ khi nào. Nhưng trong tất cả các sách sử của Trung Quốc, ngay từ các cuốn sách như cuốn “Ngã quốc Nam hải chư đảo sử liệu hối biên”, vân vân.. một loạt các sách khác của Trung Quốc, khi nào nói về quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa họ cũng đưa cái công hàm này vào trong đó. Và tôi có kiểm tra lại thì ngay cả trong năm 2000 trên website của Bộ Ngoại giao Trung Quốc cũng đưa lên những thông tin như vậy. Có lẽ là trong bối cảnh vừa rồi, trong vụ cắt cáp tàu Bình Minh và tàu Viking, cũng như sự xung đột va chạm căng thẳng lên, Trung Quốc đưa ra những lập luận để bảo vệ yêu sách biển của họ, trong đó có yêu sách đường lưỡi bò.

VOA:
Thưa giáo sư, giới nghiên cứu Biển Đông ở Việt Nam nhận định như thế nào về giá trị của "công hàm Phạm Văn Ðồng" trong vụ tranh chấp pháp lý với Trung Quốc về chủ quyền ở Biển Đông? Và giới học thuật quốc tế, không kể tới Trung Quốc và Đài Loan, nghĩ sao về văn kiện này?

Hoàng Việt: Đương nhiên, các học giả quốc tế cũng có hai trường phái. Một trường phái, ví dụ như ông Daniel J. Dzurek cố vấn pháp lý của công ty Crestone Oil, là công ty được Trung Quốc cấp phép để thăm dò khai thác dầu trên bãi Tư Chính năm 1992. Ông ấy cho rằng như vậy có nghĩa là đã được công nhận rồi. Còn một số các học giả khác, như Monique Chemillier- Gendreau thì cho rằng nó chưa thành một cái công nhận.

Còn quan điểm của bên Việt Nam, như tôi là một học giả bình thường, tôi cho như thế này:


Thứ nhất, ông Đồng hay bất cứ ông nào ở miền Bắc lúc đó cũng chẳng có quyền gì mà có thể nói chuyện công nhận hay cho ai cái gì được cả. Bởi vì theo hiệp định Geneve 1954 thì [Việt Nam] đã chia đôi, từ vùng vĩ tuyến 17 trở về bên ngoài là chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quản lý lãnh thổ đó, từ vĩ tuyến 17 vào trong là chính quyền Việt Nam Cộng hòa quản lý. Và như vậy là rõ ràng là các ông ở miền Bắc, dù có là ông nào đi chăng nữa, tôi nghĩ rằng cũng chẳng có quyền gì mà lại tuyên bố được với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đang thuộc một chính quyền khác quản lý. Thế Việt Nam Cộng hòa có phải là một quốc gia không? Là một quốc gia chứ! Là một quốc gia bình thường và thậm chí năm 1957 Liên hiệp quốc còn định đưa trở thành một thành viên chính thức của Liên hiệp quốc, nhưng mà sau đó có một phiếu phủ quyết của Liên Sô. Nếu không thì [đã được gia nhập Liên hiệp quốc rồi]. Thật ra Việt Nam Cộng hòa vẫn là một quốc gia bình thường. Và rõ ràng là anh không thể tuyên bố hay cho nhận cái gì của cái không phải là của mình, không do mình quản lý. Đó là điều thứ nhất.


Điều thứ hai là công hàm này cũng chỉ nói chung chung là công nhận hải phận 12 hải lý. Cho nên sự diễn giải đấy có lẽ nếu đưa ra tòa án quốc tế thì người ta phải xem trong bối cảnh nào, có đúng là ý chí tự nguyện không, và xem xét như thế thì sẽ thấy rằng có nhiều vấn đề mà như tôi đã trình bày với anh – trong bối cảnh như thế và với những tuyên bố như thế và với hiệp định Geneve chia như thế, thì có khả năng là tuyên bố này chẳng có giá trị pháp lý gì nhiều cả.


VOA:
Thưa ông, trong vài ngày qua chúng tôi đọc được trên internet lời kêu gọi của một số người Trung Quốc đòi thực hiện những cuộc biểu tình ở các thành phố lớn ở Trung Quốc, như Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu... vào ngày chủ nhật tới đây để phản đối điều mà họ cho là Việt Nam xâm phạm chủ quyền biển đảo của họ ở Biển Đông. Những người này cũng nói tới chuyện gọi là "lấy lại" đảo Bạch Long Vĩ, nơi mà năm ngoái Chủ tịch nước Việt Nam Nguyễn Minh Triết đã đến thăm và đưa ra một tuyên bố cứng rắn để bày tỏ quyết tâm bảo vệ lãnh thổ. Ông nghĩ sao về diễn tiến này?

Hoàng Việt:
Trước nhất, tôi không hiểu vì sao những người đó họ nói như vậy. Bời vì như vậy thì có hai khả năng xảy ra: thứ nhất là họ không hiểu gì vấn đề liên quan tới luật pháp quốc tế cả, và thứ hai là họ có thể bẻ cong nó đi. Bởi vì đảo Bạch Long Vĩ cho đến bây giờ chưa bao giờ có tranh cãi pháp lý chính thức về chủ quyền đảo Bạch Long Vĩ cả. Bạch Long Vĩ là hoàn toàn của Việt Nam. Năm 1957 lúc đó Trung Quốc chiếm nhưng rồi trao lại cho chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Và mới đây nhất là năm 2000 Việt Nam và Trung Quốc đã ký hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ. Hiệp định này trong luật pháp quốc tế được coi là hình thức pháp lý cao nhất, ràng buộc cả hai bên. Và trong hiệp định này qui định rõ có 21 điểm nối ở đường phân định biên giới trên Vịnh Bắc Bộ. Hiệp định đó còn kèm theo hai hải đồ. Hải đồ thứ nhất nói tới đường kéo dài phân chia vịnh bắt đầu từ cửa sông Bắc Luân. Và bản đồ thứ hai vẽ đường phân chia Vịnh Bắc Bộ gồm có 21 điểm, trong đó điểm thứ nhất kéo dài từ cửa sông Bắc Luân và kết thúc ở cửa Vịnh, xuống ngang tới đảo Cồn Cỏ. Và trong đường vẽ đó, đảo Bạch Long Vĩ hoàn toàn nằm ở phía Việt Nam. Và với một cái hiệp định đã được đại diện của hai quốc gia, hai nhà nước cùng ký kết thì tính chất pháp lý của nó là tuyệt đối rồi. Tức là không có gì để tranh cãi nữa.

Chưa bao giờ có tranh cãi pháp lý nào về chủ quyền trên đảo Bạch Long Vĩ cả, và Bạch Long Vĩ hoàn toàn là của Việt Nam rồi. Cho nên người mà họ nói ở đây tôi không hiểu là họ nói với duyên cớ gì, nhưng khẳng định với anh một điều là không có chuyện tranh chấp trên đảo Bạch Long Vĩ.

VOA:
Chúng tôi xin thay mặt ban Việt ngữ, các thính giả và độc giả cám ơn giáo sư đã có nhã ý dành thời giờ cho chúng tôi thực hiện cuộc phỏng vấn này.


Công hàm của Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Phạm Văn Đồng gửi cho Thủ tướng Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Chu Ân Lai năm 1958