Friday, June 2, 2017

Gương Sáng Dân Chủ : Khi Dân Pháp Dám Phá lệ (bài 3) –Tổng Thống Macron DÁM Lập Một Nội Các Mở Rộng : Quả Tim Xã Hội Bên Tả, Cái Bóp Tiền Bên Hữu.

on: In: CHÍNH TRỊ-PHÁP LUẬT-QUÂN SỰ, THỜI LUẬN, TIN THẾ GIỚINo Comments

Chiều ngày thứ tư, 17 tháng năm ba ngày sau khi nhậm chức, hai ngày sau khi đã bổ nhiệm ông Edouard Philippe, một dân biểu thuộc phái hữu, thị trưởng một thành phố hải cảng làm Thủ tướng, tân Tổng thống Macron đưa hướng cho tân Thủ tướng cùng thành lập tân Nội các. Táo bạo, đánh đẹp, chơi đẹp ! Táo bạo vì trong 22 người kể cả Thủ tướng, chỉ có 4 người có kinh nghiệm đã là cựu Tổng Bộ trưởng. Thật tình chỉ có ba thôi, François Bayrou, lãnh đạo Đảng MoDem, trung phái, thật có làm Tổng trưởng đó, nhưng cũng đã 20 năm qua rồi… Táo bạo là DÁM giao một phân nửa nội các, 11 Tổng Bộ hay Thứ trưởng cho các tay tuy chuyên ngành, nhưng chưa bao giờ làm chánh trị, gọi là thế giới của Xã hội Dân sự-La Société Civile !
 1. Một Sắc Thái Quản Trị, Kinh Tế Phái Hữu, Xã Hội Phái Tả :
Tân nội các của tân Tổng Thống phản ánh rõ tinh thần dung hòa, trung dung, trung tâmcentral (chứ không phải trung phái-centriste như những người chống đối đánh giá lầm) ! Thật vậy, với một Thủ tướng, người của phái hữu, cựu cánh tay phải của ông Alain Juppé, một cựu Thủ tướng, một cựu Tổng trưởng, một cựu ứng viên vòng loại ứng cử viên bầu cử Tổng thống của đảng Cộng hòa, nhơn vật duy nhứt phái hữu mà chúng tôi cùng nhiều cựu đồng nhiệm giáo chức chuyên ngành đều đồng ý kiến : ông Alain Juppé thực sự là một Yếu nhơn Chánh trị-un Homme d’État, với chữ H viết hoa. Tân Thủ tướng Édouard Philippe cũng là một trong những sáng lập viên Đảng Tập họp các Phong trào Bình dân – Union des Mouvements Populaires được thành lập để ủng hộ ông Jacques Chirac năm xưa.
Nội các do một Thủ tướng hữu phái, thuộc đảng Cộng hòa, giao chức năng kinh tế và quản trị công quỹ cho hai nhơn vật phái hữu ông Bruno Lemaire, dân biểu thuộc đảng Cộng hòa, phái hữu, cựu Bộ trưởng của nội các Fillon, ứng cử viên về thứ ba vòng loại, trong cuộc bầu lựa chọng ứng viên đại diện cuộc bầu Tổng thống vừa qua ; và ông Gérald Moussa Darmanin, 34 tuổi, cựu dân biều, cựu phát ngôn viên của cựu Tổng thống Sarkozy, ứng viên bầu cử vòng loại ứng cử viên bầu cử Tổng thống của đảng Cộng hòa, phái hữu. Gérald Moussa Darmanin, hãnh diện với cái tên thứ hai, Moussa, hãnh diện với hai giòng máu, hãnh diện với ông ngoại tirailleur algérien-lính khinh binh an-gê-ri, đã đổ bộ cùng quân đồng minh chống quân Đức quốc xã, giải phóng miền nam nước Pháp năm 45. Trong bài nói chuyện nhậm chức, ông cám ơn nước Pháp, với chương trình giáo dục cộng hòa, đã đưa đứa con một bà chùi nhà-femme de ménage, đến tốt nghiệp Khoa học Chánh trị-Sciences Po và Luật khoa. Và bà mẹ, mặc dù đứa con ngày nay, đã là dân biều, đã là Phó Chủ tịch Vùng, và nay Bộ trưởng, vẫn tiếp tục công việc chùi nhà ở Ngân hàng Quốc gia, để chờ ngày hưu trí. Đáng phục ! Nhứt nghệ tinh, nhứt thân vinh. Có công mài sắt có ngày nên kim. Cộng đồng người Việt tỵ nạn chống cộng sản chúng ta ở hải ngoại và ở Pháp, nên chớ vội cất tiếng gáy, rằng phe ta ngon lành ! Các cộng đồng khác cũng lắm gương sáng – hãng nhớ gương sáng bà cựu Tổng trưởng Tư pháp của Tổng thống Sarkozy, nay Thị trưởng-Maire, quận 7 Paris, bà Thẩm phán Rachida Dati, con gái một ông thợ hồ người maroc và một bà chùi nhà người algérie, với một gia đình 11 anh chị em. Bà là người gốc thợ thuyền, hoàn toàn gốc dân nhập cư đầu tiên có một chức vụ cao như vậy ! Và bà Rama Yade, gốc sê-nê-ga-le, cũng là cựu bộ trưởng ! Chưa thấy hậu duệ gốc Việt Nam chúng ta làm Tổng hay Bộ trưởng… tuy nhiên ở vùng Bretagne, tỉnh Finistère đã có một hậu duệ Việt, ông Gwenegen Bùi, đang là dân biểu trẻ – sanh năm 1974 – đã một nhiệm kỳ qua và đang là ứng cử nhiệm kỳ nầy. Gwenegan đẻ ở Vitry sur Seine, cha việt, mẹ pháp gốc bretonne nên có tên breton, – cụ Bùi cha đã sanh sống và quen biết nhiểu với bà con cộng đồng Việt Nam vùng Val de Marne, nổi tiếng chống cộng. Nhắc đến cộng đồng Val de Marne, lại nhớ hai đàn anh, hai đại tá, Hồ Minh Châu và Nguyễn Phúc Tửng.
Bốn vị Tổng trưởng, hàng Quốc vụ khanh, – Ministre d’État : Bộ Ngoai giao cho ông Jean-Yves Le Drian, đảng Xã hội, cựu Tổng trưởng Quốc phòng của Tổng thống tiền nhiệm tạo một hướng tiếp tục trong công việc ngoại giao và đặc biệt xây dựng lại Liên Âu và chống Daech, Hồi giáo quá khích. Bộ Nội vụ cho ông Gérard Collomb, một đại lãnh tụ cựu trào của đảng Xã hội. Bộ Tư Pháp cho ông François Bayrou, Chủ tịch đảng MoDem, trung phái. Và ngon lành nhứt là Bộ Môi sanh cho ông Nicolas Hulot, một nhà báo đấu tranh cho Sinh thái, Môi trường, trường kỳ từ bao nhiêu năm nay, nổi tiếng. Bao nhiêu đời Tống thống mời mọc, ông luôn luôn từ chối, hôm nay ông chấp nhận, chỉ vì do nhơn vật Emmanuel Macron thuyết phục.
Hữu nắm Kinh tế, Tả nắm Ngoại giao, Nội vụ, Trung nắm Tư Pháp, Trung cũng nắm Quốc phòng với bà Sylvie Goulard, một cựu dân biểu Quốc hội Âu châu, đa ngữ, bà nói thành thạo anh, đức, ý ngữ, chuyên viên về vấn đề Quốc phòng, cũng gốc đốc sự hành chánh, Khoa học chánh trị và Luật.
Ba hướng chánh trị, Hữu Trung Tả, đề huề. Và hay hơn nữa, nếu cái bóp Kinh tế nằm túi áo mặt, nếu Ngoại giao, Tư Pháp, Xã hội nằm phía trái, nơi của con tim, thì Trí tuệ cái đầu, nắm các chức năng, các phần hành chuyên môn. 11 Bộ chuyên môn đều do các chuyên viên của Xã hội Dân sự nắm, thí dụ Bô Giáo dục do một cựu Giám đốc Học vụ, Bộ Y tế do Giáo sư Bác sĩ chuyên ngành nghiên cứu nổi tiếng bà Agnès Buzin hay Bộ Khoa học và Nghiên cứu bà Khoa trưởng Viện Đại học Nice Frédérique Vidal …
Nội Các gồm 22 Vị : 11 Nam/11 Nữ, Cân bằng. Nhưng vẫn có kẻ xấu mồn vẫn chê là đàn ông nắm các Bộ quan trọng hơn đàn bà ! Nhưng thử hỏi giữa Ngoại giao và Quốc phòng cái nào quan trọng hơn cái nào ? Y tế và Giáo dục ai ngon hơn ai ?
Sở dĩ chúng tôi viết nhiều về hướng chánh trị mới của nước Pháp vì chúng tôi nghĩ rằng đây CÓ THỂ là một hướng chánh trị mới chẳng những góp phần hữu hiệu các quốc gia già nua như Pháp, như Ý như Anh…như cũng có thể là một gương sáng cho các quốc gia kém phát triển, hay đang trên đường, hay đang tìm đường phát triển như nước Việt Nam chúng ta. Có được một tuổi trẻ dấn thân như Emmanuel Macron là một sự hiếm. Dấn thân, DÁM làm là một sự may mắn, và quan trọng hơn CÓ người dân, CÓ quần chúng DÁM giao trọng trách là quá may mắn !
Chúng tôi người viết, vẫn tha thiết từ bao năm nay, ngay từ thời còn làm việc, thời còn chuyển tâm tình, chuyển hiểu biết cho tuổi trẻ của nghề dạy học, luôn luôn giữ tin tưởng vào tuổi trẻ, tin cậy vào sáng tạo của tuổi trẻ…Các quốc gia già nua, người già nua chúng ta  vướng víu trong truyền thống, vướng víu trong giai cấp, trọng nam khinh nữ…gia đình trị, cha truyền con nối … đảng phái, trường phái, ý thức hệ, kinh tế phải hữu phải tư bản chủ nghĩa… chủ là chủ, thợ là thợ, đấu tranh giữ quyền lợi… thế giới tuổi trẻ ngày nay chánh trị, quản trị là nó, là bàn, là nghiên cứu, thương thuyết, nói chuyện. Không có thù muôn đời, bạn muôn kiếp ! Chỉ có người ngu không biết thay đổi thôi. Phải lắng nghe lời dân ! Cầm quyền là ý dân. Vox populi, vox dei ! Ý dân là ý trời !
Và ngày nay, chánh trị cầm quyền phải biết hòa hợp, đồng thuận giữa chuyên nghiệp chánh trị và chuyên nghiệp quản trị. Phải có mặt các Xã hội Dân sư ! Vì các Xã hội dân sự phục vụ ý dân, vì do dân thành lập, vì quyền lợi người dân !
Một quốc gia ngày nay phải là một quốc gia Dân chủ. Người dân bầu đại diện, là Dân chủ. Nhưng khi cầm quyền, khi quản trị phải luôn luôn quản trị với người dân. Một hệ thống đối thoại thường trực phải được chú ý và chăm sóc. Đó là :
2. Dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện (Démocratie directe, démocratie représentative) :
Khái niệm Dân chủ là một khái niệm trong sáng, nhưng dễ bị lạm dụng khi áp dụng những phương cách thực hiện, trong những thể chế ngày nay.
Định nghĩa của Abraham Lincoln “Dân chủ là do Dân cầm quyền, cho Dânvì Dân”, bởi thế, chúng ta gọi là Dân chủ trực tiếp. Nghĩa là:
   –  Người Dân phải cầm quyền trực tiếp, không qua một trung gian nào cả,
   – Người Dân cũng vừa là Người Cầm quyền và cũng là Người bị trị (Gouvernant et gouverné),
Nói như vậy, những người xử dụng công quỷ cũng là những người quyết định thâu thuế, và trả thuế. Về mặt lý thuyết thì tạm hiểu, nhưng làm sao áp dụng trên mặt thực hành. Hiện nay, một vài thị xã, hay làng xã của Thụy sĩ, vẫn áp dụng cách thức “Trưng cầu dân ý trực tiếp” về một vài tài khoản thuế vụ có tính cách địa phương.
Những quốc gia tiên tiến ngày nay, đa số áp dụng Dân chủ dưới hình thức Dân chủ đại diện (démocratie représentative). Một tấm bình phong cách ly người dân và người cầm quyền (tạm gọi là quan chức cầm quyền, hay gọi chung là nhà cầm quyền): đó là những đại diện dân, do dân bầu, và phát biểu thay dân về những nguyện vọng của người dân.
Đó là một Dân chủ gián tiếp, người dân không có những quyết định hành xử, quản lý đất nước, người dân chỉ tham dự bầu những đại diện thay mình. Thực tiển, dễ thực hiện, nhưng rất có nhiều hạn chế nguy hiểm, càng ngày càng lộ rõ. Do đó :
3. Một nền dân chủ tham dự.
Nếu “quyền lực chánh trị” đã vượt khỏi phạm vi hoạt động, nếu “nền dân chủ” đã bị tướt đoạt bởi một nhóm người chánh trị toàn quyền, một hệ thống quan liêu, cửa quyền toàn trị hay những nhóm thế lực độc tài; hoặc quan điểm, tư tưởng về nền tảng của “các xã hội tự do”, của “các xã hội công dân” đã bị lãng quên, hay bị tước đoạt, thì sự thờ ơ với “việc công cộng”, “việc chung” (la chose publique) của các công dân đã mặc nhiên giao phó “đời sống công cộng” cho một nhóm “người làm chánh trị”, đó là vô tình quên đi trách nhiệm “cộng hòa” – Cộng hòa từ quan niệm “Res Publica”, nghĩa là pour la chose publique, tức là “làm cho việc chung”, việc công cộng.
Cũng dễ hiểu thôi, người công dân ngày nay, đứng quá xa trong hệ thống tổ chức quyền lực. Người công dân nhận thấy những quyết định về thuế má, những luật lệ hành chánh, những đặc quyền và cả những xì – căng – đan đã vượt qua tầm tay của mình. Dân chủ ư ? Quá trễ rồi. Làm sao thay đổi tâm lý và tập tục để có một Quốc hội mới, một Chánh phủ mới ? Hiện tượng bỏ mặc việc chung, việc công cộng, xem “việc chánh trị là việc ở trển” rất phổ thông ! Chúng ta hiểu tại sao, bỏ phiếu trằng, không đi bầu, là điều rất tự nhiên ở các nước tiên tiến, như Huê kỳ, Pháp, Anh, Đức…
Khi “nền Dân chủ CHỈ định nghĩa bằng lá phiếu” (La Démocratie réduite au bulletin de vote) như Yves Cannac đã định nghĩa, người dân có cảm tưởng rằng họ chỉ có quyền công dân trước vài tuần có bầu cữ, khi những ứng cữ viên nhớ đến họ, bằng những hứa hẹn.
Chúng ta có thể phá vỡ quan niệm ấy bằng những sanh hoạt cộng đồng, bằng những sanh hoạt hội đoàn. Hãy nhìn xem, rất nhiều công dân nhận xét như chúng ta. Tại sao chúng ta không tập trung những suy nghĩ, những nhận xét ấy lại rồi biến thành hành động chung để ảnh hưởng đến “việc chung” ? Và những hành động cho “việc chung” trong một “xã hội cộng đồng” sẽ đem “xã hội dân sự” và “xã hội cộng đồng” đi vào quản lý “cái việc chung”. Đó là “dân chủ tham dự”.
Nhà nước Cộng sản Việt Nam muốn đưa quốc gia Việt Nam đi vào con đường Phát triển, muốn đưa dân tộc Việt Nam vào con đường văn minh, hãy biết soạn mình để chứng tỏ mình là những người lãnh đạo văn minh. Hãy nhìn kỹ và tự xét mình tại sao ngày nay, có những phiền hà, khiếu nại, đòi hỏi của rất nhiều từng lớp nhơn dân trong xã hội Việt Nam như vậy ? Hãy lắng tai nghe những đòi hỏi ấy. « Tự kiểm thảo và kiểm thảo » là một sanh hoạt Đảng cộng sản. Tại sao không làm ? Trái lại, đàn áp, trù dập người dân đòi dân  chủ để làm gì ? Hay là đây là một phương pháp « Đàn áp để Dạy dân ».     
Giáo dục công dân bằng đàn áp, bằng CôngAn cũng không phải là một giải pháp. Người dân ngày nay không còn « mê » chủ nghĩa cộng sản nữa, người dân ViệtNam ngày nay không còn « sợ » Công An cộng sản nữa.
Giải pháp tốt là : hãy biết đối thoại, hãy biết lắng tai nghe, mặt nhìn mặt, hãy biết chào đón những lời chỉ trích, đúng thì phải biết nhận và sửa sai, sai hãy chứng minh, nhưng hãy biết nói chuyện với nụ cười, hãy tôn kính người dân. Dân chủ là đối thoại với dân, dân chủ là đối thoại với đối lập ; dân chủ tham dự là đón nhận tiếng nói của người dân, của đối lập, và chấp nhận đối lập ; chấp nhận chỉ trích là chấp nhận dân chủ…
Và quan trọng hơn.
Hãy biết cám ơn những nhà đấu tranh dân chủ Việt Nam ngày nay đã biết lựa chọn đấu tranh ôn hòa để sửa sai cái quản lý kém của nhà cầm quyền hiện tại, vì những nhà đấu tranh dân chủ Việt Nam nầy đã biết quan tâm đến sự sanh tồn của đất nước và dân tộc.
Hãy biết cám ơn những nhà đấu tranh dân chủ Việt Nam ngày nay đã biết tạo ra những xã hội công dân để đối thoại, để tạo đối tác chánh trị, để tham dự vào chánh trị, để làm phận sự công dân, lo cho việc chung, tiến tới một nền dân chủ tham dự, pháp trị và hiến định.
Hãy lắng nghe tiếng nói của công dân,
Hãy trả quyền công dân lại cho công dân !
(còn tiếp)
Hồi Nhơn Sơn, tháng năm đầy hy vọng cho nước Pháp.
TS Phan Văn Song
 Nguồn: http://www.vietthuc.org/guong-sang-dan-chu-khi-dan-phap-dam-pha-le-bai-3-tong-thong-macron-dam-lap-mot-noi-cac-mo-rong-qua-tim-xa-hoi-ben-ta-cai-bop-tien-ben-huu/

Wednesday, May 31, 2017

Giải mã ý nghĩa niên hiệu của các hoàng đế Việt Nam triều Nguyễn (Phần 1)

Lời toà soạn: Các dân tộc Á Đông có một nền văn minh vô cùng xán lạn. Lịch sử Á Đông nói chung, trong đó có Trung Quốc và Việt Nam, rất hào hùng, tràn đầy khí chất. Lịch sử 5000 năm văn minh, văn hoá của Á Đông là cả một kho tàng vô giá cho hậu thế. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của những quan niệm mới có phần thiên kiến, lệch lạc, lịch sử ấy đã bị cải biên và nguỵ tạo nhiều. Với mong muốn phục hưng lại nền văn minh vĩ đại cũng như những truyền thống đạo đức quý báu của người Á Đông, chúng tôi tiến hành loạt bài về lịch sử Việt Nam, Trung Hoa… gửi đến quý độc giả, ngõ hầu phá giải được những quan niệm sai lệch hiện nay.
Việt Nam thời các hoàng đế trị vị, việc đặt và ban hành niên hiệu đều có liên quan mật thiết đến ý chí chính trị của hoàng đế. Bằng hình thức niên hiệu, hoàng đế đã đưa ý chí chính trị của mình thẩm thấu vào cuộc sống thường nhật của quốc gia.
Trước triều Nguyễn, hoàng đế Việt Nam không chỉ có một niên hiệu, thường có việc đổi niên hiệu. Sau chịu ảnh hưởng của đời Minh – Thanh, mỗi đời vua một niên hiệu. Triều Lê Trung Hưng bắt đầu thực hiện mỗi đời vua một niên hiệu. Đến triều Nguyễn thì chế độ này đã được cố định.
Triều Nguyễn có tổng cộng 13 vị hoàng đế, trừ vua Cung Tông kế vị ngắn ngủi 3 ngày ra không có niên hiệu, tổng cộng đã đặt ra 12 niên hiệu, trong đó niên hiệu Hiệp Hòa chưa được sử dụng. Các vua Việt Nam tuy đã nhạt nhòa theo lịch sử nhưng những niên hiệu mà họ để lại làm cho chúng ta sau hàng trăm năm vẫn cảm nhận được ý thức chính trị của họ.
Gia Long – Niên hiệu của vua Nguyễn Thế Tổ (18 năm, 1802 – 1819)
Nguyễn Thế Tổ Nguyễn Phúc Ánh là người sáng lập ra triều Nguyễn. Năm 1802, Nguyễn Thế Tổ đánh bại triều Tây Sơn, thu phục cựu đô Phú Xuân, Quảng Nam và đổi tên là Thuận Hóa. Năm sau, đổi niên hiệu Gia Long, lập ra triều Nguyễn. Đặt quốc hiệu là Nam Việt, về sau, triều Thanh sắc phong ông làm Nam Việt Quốc Vương.
Tranh vẽ vua Gia Long. Ảnh dẫn theo xaluan.com
Đại Nam thực lục – đệ nhất kỷ” có ghi: “Lấy ngày 1 tháng 5 năm nay chiếu cáo thiên hạ, hôm sau chiếu cáo các Thánh, Kỷ Nguyên Gia, lấy kỷ thống nhất để biểu thị mới cái đức”. Ý nghĩa của cái tên Gia Long lấy từ cụm từ “Gia Định Thăng Long”, để bày tỏ ý nghĩa thống nhất thiên hạ (Việt Nam).
Sử Trung Quốc “Thanh sử cảo – Việt Nam truyện” có chép: “Nguyễn Phúc Ánh có được quốc gia nhờ Gia Định, Vĩnh Long binh lực nhiều, nên lấy hai tỉnh làm niên hiệu, gọi là Gia Long”. Nhưng chúng tôi nhận thấy rằng niên hiệu của hoàng đế lấy ý nghĩa trong 2 từ Gia Định, Thăng Long. Bởi lúc đó khi triều Nguyễn vừa thiết lập, niên hiệu này cũng cho thấy hàm ý triều Nguyễn kế thừa triều Lê chính thống trị vị toàn bộ Việt Nam.
Giai đoạn Gia Long tại vị trị vì, tình hình Việt Nam dần ổn định. Ông đã tiến hành cải cách trên các lĩnh vực quân sự, hành chính, kinh tế, văn hóa, xây dựng lớn nhiều đô thành, đường xá. Tham khảo “Đại Thanh luật” của Trung Quốc, ông đã ban hành “Gia Long luật thư” (sách luật Gia Long), đương thời gọi là “Hoàng triều luật lệ”.
Cuốn “Quốc triều chính biên toát yếu” (bản tóm tắt chính biên triều đình) biên soạn trong những năm Duy Tân triều Nguyễn, đã đánh giá Gia Long Nguyễn Phúc Ánh là:
Vua đã phục hưng sáng nghiệp, công lao và đức độ đều lớn, tạo phúc cho dân to lớn chưa từng có. Khi bắt đầu lập quốc, vua cho xây dựng thành quách, tu sửa lăng tẩm, dựng đàn Giao Tế, đàn Xã Tắc, ban thưởng tước lộc, mở khoa thi cử chọn nhân tài, chấn hưng lễ nhạc, trường học, định ra pháp luật chế độ, điều luật, bảo tồn dòng dõi nhà Lê, Trịnh, kéo dài chế độ thế tập cho công thần, ngăn quan tướng Tây Sơn, đề phòng cẩn mật Xiêm La, bao dung Chân Lạp, vỗ về Vạn Tượng, uy danh chấn động muôn phương, nhân đức bao trùm các nước nhỏ, quy mô che phủ rộng lớn xa xôi“.
Minh Mạng – Niên hiệu của vua Đại Nam Nguyễn Thánh Tổ (21 năm, 1820 – 1840)
Đại Nam Thánh Tổ, tên húy Nguyễn Phúc Đảm, lên ngôi năm Gia Long thứ 18 (1819), đổi niên hiệu Minh Mạng. Trong thời gian ông trị vì, quốc lực cường thịnh nhất. Sau này vào ngày Giáp Tuất tháng 3 mùa xuân năm Minh Mạng thứ 19, đổi tên quốc hiệu là Đại Nam. Niên hiệu Minh Mạng lấy từ sách “Thượng thư – Hàm hữu nhất đức”: “Khắc hưởng thiên tâm, thụ thiên minh mạng” (Được hưởng lòng trời, thì được cái mệnh sáng của trời).
Vua Minh Mạng là con thứ 4 của Nguyễn Thế Tổ Gia Long. Sau này, hoàng thái hậu Anh Duệ mất sớm, chuyển kế thừa cho con của hoàng hậu Thiên Cao, và coi ông là “đích tử”. Sau đó Nguyễn Phúc Đảm đổi tên thành Nguyễn Phúc Kiểu, được lập làm hoàng thái tử. Niên hiệu Minh Mạng cũng biểu lộ ngôi vị của ông là chính thống, ông lên ngôi là do thiên mệnh.
Tranh vẽ vua Minh Mạng. Ảnh dẫn theo honguyenvietnam.vn
Trong thời gian vua Minh Mạng trị vì, ông đã tiến hành rất nhiều cải cách. Minh Mạng đã xây dựng thể chế quan lại hệ thống hóa mô phỏng theo triều Mãn Thanh, hoàn thiện chế độ khoa cử, xây dựng chế độ hành tỉnh, đưa triều Nguyễn vào giai đoạn cực thịnh. Một lòng mong muốn xây dựng Việt Nam thành đại đế quốc như triều Thanh, ông đánh nam dẹp tây, mở rộng cương thổ của Việt Nam lớn nhất, thôn tính sát nhập Cam Pu Chia và Lào.
Nhưng về đối ngoại ông lại thi hành chính sách bế quan tỏa cảng. Trong nước thì cấm truyền bá Cơ Đốc giáo, bức hại giáo sỹ, làm cho phương Tây ác cảm, bị người phương Tây gọi là “Nero phương Đông”, đã để lại một mối hậu hoạ sau này. Cuốn “Quốc triều chính biên toát yếu” đã đánh giá Minh Mạng:
Vua với tư cách thánh thượng kế thừa đại đinh, dốc sức trị quốc, tô điểm thái bình. Học điển cố xưa, sửa sang lễ nhạc, cẩn trọng quyền lực, rà soát pháp luật chế độ, đặt khoa cử chọn nhân tài. Vua cày ruộng khuyến nông, cử quan tuần các tỉnh, đặt chức kinh sát để kiểm tra quan lại. Cho đến ngăn chặn kẻ thân cận lộng quyền, ngăn ngừa cảnh giới hoạn quan, lệnh hoàng thân quốc thích không được can dự việc bên ngoài, ý vua ngăn chặn tệ nạ từ khi còn manh nha ra rất sâu sắc. 21 năm lo nghĩ, cần mẫn, khoan thứ, việc chính sự luôn giữ hàng ngày, phàm tất cả sắc lệnh, phê duyệt, dụ chỉ, bố cáo đều tự vua viết. Bắt đầu dạy chữ giáo hóa các vùng man di, uy danh chấn động Xiêm La, Lào, thánh đức thần công, không thể kể hết“.
Thiệu Trị – Niên hiệu của vua Đại Nam Hiến Tổ (7 năm, 1841 – 1847)
Đại Nam Hiến Tổ Nguyễn Phúc Tuyền tên ban đầu là Nguyễn Phúc Miên Tông, con trai trưởng đích hệ của vua Minh Mạng. Năm Minh Mạng thứ 21 (năm 1840) lên ngôi, niên hiệu Thiệu Trị. Thiệu Trị kế thừa đế quốc Đại Nam hùng mạnh, lãnh thổ bao gồm cả Cao Miên (Cam-pu-chia), Vạn Tượng (Lào)… Để bày tỏ kính trọng cha – vua Minh Mạng nên định niên hiệu là Thiệu Trị, với ý nghĩa là “Thiệu tiên hoàng Minh Mạng chi Trị” (Nối nghiệp trị vì của tiên hoàng Minh Mạng).
Tranh vẽ vua Thiệu Trị. Ảnh dẫn theo kienthuc.net.vn
Thời gian trị vì Thiệu Trị tôn trọng không thay đổi cách trị vì của vua cha, giữ lại các phép cũ. Về thái độ với phương Tây, Thiệu Trị cũng giống y như vua cha Minh Mạng, có thái độ bảo thủ và đối địch với các nước phương Tây, nhưng trong những năm Thiệu Trị cấm thiên chúa giáo có hòa hoãn hơn thời Minh Mạng. Thiệu Trị tiếp tục các chính sách của vua Minh Mạng, thưởng cho những người bắt các giáo sỹ phương Tây, và đưa các giáo sỹ bị bắt về Thuận Hóa giam giữ, lệnh cho họ dịch các sách phương Tây. Sau này người Pháp bắn pháo đánh Đà Nẵng. Vua Thiệu Trị nổi giận, lại tuyên bố lệnh cấm Thiên Chúa giáo, và tăng cường đàn áp giáo đồ Thiên Chúa giáo trong nước.
Tự Đức – Niên hiệu của vua Đại Nam Dực Tông (36 năm, 1848 – 1883)
Đại Nam Dực Tông Nguyễn Phúc Thì tên gốc là Nguyễn Phúc Hồng Nhậm, con trai đích hệ của vua Thiệu Trị (con trai thứ 2), năm Thiệu Trị thứ 7 lên ngôi, năm sau đổi niên hiệu là Tự Đức. Trong “Đại Nam thực lục đệ tứ kỷ” viết, nghĩa của Tự Đức là “Tự tiên hoàng Thiệu Trị chi Đức” (kế thừa đức của vua cha Thiệu Trị).
Trong thời gian Tự Đức trị vì, nước Đại Nam dần dần suy yếu, người Pháp xâm nhập, xâm chiếm mấy tỉnh phía nam, ký hiệp ước bất bình đẳng, Việt Nam dần dần trở thành thuộc địa Pháp. Về văn hóa, cũng như vua cha coi trọng giáo dục văn hóa là Nho gia, biên soạn nhiều bộ sách sử như “Khâm định Việt sử thông giám cương mục”, và viết “Tự Đức Thánh chế tự học giải nghĩa ca”… Niên hiệu Tự Đức là niên hiệu sử dụng lâu nhất của triều Nguyễn. Các vua kế vị sau là Nguyễn Cung Tông và Hiệp Hòa cũng dùng niên hiệu này.
Tranh vẽ vua Tự Đức. Ảnh dẫn theo tongphuochiep.com
Tự Đức qua đời tháng 6 năm Tự Đức thứ 36, con nuôi trưởng của ông là Nguyễn Cung Tông Nguyễn Phúc Ưng Chân kế vị, nhưng kế vị được 3 ngày thì bị quyền thần Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết soán cải di chiếu phế bỏ, và cũng chưa đặt niên hiệu. Sau khi Nguyễn Cung Tông bị phế, quyền thần Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết lập con thứ 29 của vua Thiệu Trị là Lang Quốc Công Nguyễn Phúc Hồng Dật lên ngôi, đổi tên là Nguyễn Phúc Thăng, sửa niên hiệu từ năm sau là năm Hiệp Hòa thứ nhất.
Hiệp Hòa có xuất xứ từ sách “Thượng thư – Nghiêu điển” là “Hiệp Hòa vạn bang, lê dân ư biến thời ung” (hòa hiệp với vạn nước thì nhân dân thời biến loạn sẽ trở lại yên bình hài hòa). Đại Nam lúc này đã tơi tả thảm hại, vua mới hy vọng dưới sự trị vì của mình có thể hòa hiệp với nước Pháp, để nhân dân an định. Nhưng vua Hiệp Hòa chỉ là bù nhìn, Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết chuyên quyền khiến vua hết sức bất mãn, muốn tiếp nhận chính sách bảo hộ do người Pháp đưa ra để chống lại đại thần phụ chính cường thịnh.
Sự việc bị Nguyễn Văn Tường biết và tấu bẩm Từ Dụ thái hậu. Ngày 29 tháng 11 năm 1883 đảo chính, Tường giết chết Trần Tiễn Thành và phế truất vua Hiệp Hòa, sử sách gọi là phế đế. Vì kế vị 4 tháng vẫn trong năm Tự Đức thứ 36, niên hiệu Hiệp Hòa vẫn chưa chính thức sử dụng.
(Còn tiếp)
Hải Sơn biên dịch 

http://www.daikynguyenvn.com/van-hoa/giai-ma-y-nghia-nien-hieu-cua-cac-hoang-de-viet-nam-trieu-nguyen-ky-1.html