Saturday, June 14, 2014

ĐIỂM BÁO RFI: CHÂU Á - Châu Á đua nhau liên minh chiến lược + Trong mục điểm báo hôm nay 14/06, nổi bật là bài viết khá sâu sắc trên trang mạng Quartz của New York được tờ Le Courrier International trích dịch đề tựa: « Châu Á đua nhau thiết lập liên minh chiến lược». Trang Quartz ra đời vào năm 2012, quy tụ một nhóm phóng viên làm việc cho các tờ báo và truyền thông uy tín. ++

Thứ bảy 14 Tháng Sáu 2014

Lê Vy

Ban biên tập trang thông tin Quartz từng làm việc với The New York Times, The Wall Street Journal, Bloomberg hay The Economist. Quartz còn có nhiều thông tín viên làm việc ngoài Hoa Kỳ và hợp tác với nhiều trang thông tin ngoại quốc. Theo bài viết, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Nga và các quốc gia Đông Nam Á đang siết chặt hợp tác chính trị. Các khối liên minh mới sắp được hình thành do nhiều nguyên nhân.
Đầu tiên phải kể đến nhu cầu về nguyên vật liệu khổng lồ của Trung Quốc, các yêu sách chủ quyền và thái độ hung hăng của Bắc Kinh trên biển Đông. Kế đến là việc Nga ngày càng phô trương sức mạnh quân sự, chủ nghĩa dân tộc dâng cao tại Nhật Bản và chính sách « xoay trục » sang Châu Á của Mỹ.
Bài báo nhận xét, có lẽ chúng ta đang chứng kiến buổi đầu của một kỷ nguyên mới, được đánh dấu bằng sự hình thành các đối tác mới, dựa trên nhu cầu và khả năng của mỗi bên về nguyên vật liệu, nhằm cân bằng lực lượng để giảm lệ thuộc vào các nền kinh tế phương Tây. Bài báo phác họa ra ba khối liên minh đang hình thành ngày nay.
Liên minh Nga-Trung-Iran
Thứ nhất là khối liên minh « Chiran » bao gồm Trung Quốc, Nga, Iran (còn có thể kết nạp thêm các quốc gia Trung Á có tên kết thúc bằng –stan). Đặc điểm chung là các nước này đều kiểm duyệt gắt gao internet. Trung Quốc và Nga vừa ký kết một hợp đồng cung ứng khí đốt trị giá 400 tỷ đô la. Số lượng các lò phản ứng hạt nhân mà Nga xây dựng cho Iran lên đến 8 lò.
Trong khi Hoa Kỳ và Châu Âu đang áp đặt các biện pháp trừng phạt lên nước Nga do cuộc khủng hoảng tại Ukraina, Hoa Kỳ và Trung Quốc đang xung khắc quanh vụ gián điệp mạng, phương Tây vẫn duy trì lệnh trừng phạt lên Iran, các quốc gia Đông Nam Á ghê tởm thái độ bành trướng của Trung Quốc, thì ba quốc gia : Nga, Trung và Iran vốn đã gần gũi lại có điều kiện xích lại gần nhau hơn.
Michal Meidan, giám đốc văn phòng tư vấn China Matters giải thích, Trung Quốc quay sang làm bạn với Nga và Trung Á để tận dụng nguồn nguyên vật liệu phong phú của các quốc gia này. Nga và Trung Quốc vốn đồng thuận trên hầu hết các hồ sơ lớn hiện nay, như Syria và Ukraina, theo nhận xét của Andreï Kokochine, trưởng khoa của trường đại học Mátxcơva. Nga thừa hưởng một lượng khoáng sản dồi dào, không chỉ có khí đốt, mà còn có đất canh tác mà Trung Quốc vốn ao ước.
Liên minh Ấn-Nhật
Thứ hai, phải kể đến liên minh của hai nền kinh tế lớn trong khu vực Châu Á là Nhật Bản và Ấn Độ « Japinde ». Hai nước này đều thích phục hồi lại niềm kiêu hãnh dân tộc. Cả hai nước này cực kỳ ghét sự phô trương thế lực của Trung Quốc. Việc tân Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi vừa đắc cử sẽ tạo điều kiện cho Nhật và Ấn hòa hợp hơn, vì cả hai lãnh đạo đều cùng thuộc cánh hữu và theo chủ nghĩa dân tộc. Bang Gujarat, nơi ông Modi từng lãnh đạo, cũng đã sớm thu hút giới đầu tư Nhật Bản.
Chuyến công du cấp nhà nước của ông Modi tại Nhật Bản, đang trong vòng thương lượng, có thể sẽ cho phép Ấn Độ ký kết một hiệp ước đầu tư với Nhật, mà Ấn Độ đang rất cần để thúc đẩy kinh tế. Thủ tướng Nhật Shinzo Abe có tham gia vào tài khoản Twitter của Thủ tướng Narendra Modi. Để giải thích cho sự thắt chặt liên minh này, tờ The New York Times cho rằng : dân số Nhật già đi có thể được bù đắp bằng một dân số trẻ năng động của Ấn Độ, những tài năng trong ngành công nghiệp Nhật sẽ có dịp phát triển nhờ vào nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú vẫn chưa được khai thác ở Ấn Độ.
Liên minh Philippines-Việt Nam
Cuối cùng phải kể đến liên minh giữa các quốc gia Đông Nam Á là Philippines và Việt Nam (có thể thêm các nước Indonesia, Malaisia và Thái Lan). Các nước này đều muốn có áp dụng Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển. Họ đều không chấp nhận “đường chín đoạn” mà Trung Quốc đơn phương thiết lập để giành quyền kiểm soát trên biển Đông. Các nền kinh tế đang tăng trưởng nhanh chóng của các quốc gia Đông Nam Á này hiếm khi quy tụ trong cùng một nhóm chính trị.
Thế nhưng, thái độ hung hăng, bành trướng gần đây của Trung Quốc trên Biển Đông buộc các nước này phải hợp tác với nhau. Ngày 21/05/2014, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đã có cuộc gặp với Tổng thống Philippine Benigno S.Aquino để bàn về “tình hình nguy kịch trên biển Đông” do Trung Quốc đã vi phạm Công ước về Luật biển của Liên Hiệp Quốc. Cuối cùng, Michal Meidan, giám đốc văn phòng tư vấn China Matters nhận định, “những thay đổi trong liên minh rất quan trọng về phương diện địa chính trị nhưng những hệ quả của nó trên thị trường vẫn còn hạn chế”.
Thái Lan: Phe quân sự kéo dài thêm thời gian
Vẫn liên quan đến Châu Á, Libération có bài viết : « Tập đoàn quân sự tự cho mình thêm thời gian ». Theo đó, tập đoàn quân sự Thái đã bỏ lệnh giới nghiêm và tuyên bố sẽ không tổ chức bầu cử trước một năm. Từ sau cuộc đảo chính ngày 22/05/2014, mọi quyền lực tập trung vào tay Tướng Prayuth Chan-ocha. Quân đội đã đình chỉ Hiến pháp, bãi bỏ chính phủ, cấm biểu tình, bắt giữ đối lập, kiểm duyệt truyền thông, “tạm thời” giam giữ hàng trăm chính khách, nhà báo và nhà giáo.
Lãnh đạo quân đội Thái cũng tuyên bố sẽ thành lập chính phủ lâm thời từ nay đến tháng 9, nhưng sẽ không tổ chức bầu cử trước một năm, để cho phép bộ máy hành chính mới tiến hành cải cách chính trị, trong đó có việc soạn thảo Hiến pháp. Tướng Prayuth Chan-ocha cũng không cho biết tân chính phủ sẽ tập hợp các thành phần dân sự hay quân sự. Ông cũng không loại trừ khả năng trở thành Thủ tướng Thái Lan.
Iran gia nhập cuộc chiến tại Irak
Các nhật báo ra hôm nay đều đặc biệt quan tâm đến tình hình chiến sự tại Irak, khi mà phần lớn lãnh thổ miền bắc Irak rơi vào tay lực lượng Nhà nước Hồi giáo Irak và Trung Đông. Le Figaro cho biết, Iran không thể đứng nhìn Irak rơi vào tay những kẻ Hồi giáo cực đoan sunnit, bị xem là kẻ thù của cả vùng Trung Đông, nên đã gửi quân đến trận tuyến.
Theo tin từ tờ The Wall Street Journal, được nhật báo Le Figaro trích lại, có ít nhất ba đơn vị Iran được trang bị vũ khí, tràn sang lãnh thổ để giúp quân đội Irak, đang không đủ sức cản bước tiến của quân phiến loạn theo hệ phái Sunnit. Trong số đó, một đơn vị được lệnh sẽ chiếm lại một phần thành phố Tikrit, đã bị nhà nước Hồi giáo và các nhóm phiến loạn chiếm đóng vào thứ 4 (11/06/2014) vừa qua. Còn hai đơn vị khác nhận nhiệm vụ bảo vệ các thánh địa của hệ phái Si-ai, trước mối đe dọa của những chiến binh Hồi giáo cực đoan hệ phái Sunnit.
Irak : Một Ben Laden mới ?
Nhật báo Libération quan tâm đến nhân vật lãnh đạo cuộc chiến này, một người đầy bí ẩn. Khuôn mặt ông ta được in ngay trên trang nhất kèm dòng tựa: “Ben Laden mới”. Đó chính là ông Abou Bakr al-Baghdadi. Tham vọng của ông là lập nên một quốc gia Hồi giáo bao gồm Irak và Syria.
Libération không tránh một ngôn từ nào để lột tả chân dung của vị thủ lãnh tổ chức cực đoan này. Đó là các cụm từ “một người vô hình, một quý tộc thuộc nhóm jihad quốc tế”, “người gieo rắc nỗi sợ hãi” hay “người không tồn tại”. Quân đội của ông ta là một tổ chức “cuồng ám”. Trên mặt trận Irak, đội quân của ông ta có từ 5000 đến 6000 chiến binh, tại Syria, có 12 000 quân.
Trước một đối thủ như thế, Hoa Kỳ hiện vẫn còn chần chừ. Bài xã luận trên Libération dự đoán, nếu đội quân của thủ lãnh Nhà nước Hồi giáo Irak và Trung Đông vẫn tiếp tục lấn lướt, thì chúng ta có thể mường tượng ra giai đoạn kế tiếp là Mỹ sẽ bắt tay với chế độ Al-Assad ở Syria để tiêu diệt mối hiểm họa al-Baghdadi.
Brazil : Lễ hội và phẫn nộ
Trong không khí sôi nổi của Cúp bóng đá thế giới 2014, các tạp chí và nhật báo Pháp đều dành nhiều trang cho sự kiện này. Tạp chí Le Courrier international trích nhiều tờ báo của Brazil với nhận định, bên cạnh ngày hội bóng đá là thái độ phẫn nộ trong dân chúng. Tạp chí Le Nouvel Observateur cũng có cùng nhận định qua bài: “Khi quả bóng tròn xé nát Brazil”.
Tạp chí cho biết chưa bao giờ, Brazil lại đối mặt với khủng hoảng xã hội nghiêm trọng như vậy. Nhiều cuộc biểu tình đã diễn ra trên khắp Brazil để phản đối việc tổ chức Cúp bóng đá thế giới. Người dân bất bình vì cho rằng, sự kiện này chỉ dành cho du khách, trong khi chính người dân chi trả cho sự kiện này thì họ lại không được vào xem bóng đá.
Những điều chưa biết về Platini
Tờ Le Nouvel Observateur đăng ngay trên trang bìa dòng tựa: “Những điều chưa biết về Platini”. Sinh trưởng trong một gia đình nhập cư Ý, là một biểu tượng của nước Pháp, ngôi sao trên thế giới và sau đó ông trở thành lãnh đạo bóng đá Châu Âu (UEFA). Nay ông hoạt động trong một môi trường mà đồng tiền và những vây cánh chìếm vị trí quan trọng không kém lòng say mê bóng đá.
Từ lâu, Michel Platini chưa bị đụng đến, nhưng từ vài tuần nay, ông đang bị vướng vào vụ “Qatargate” và đang gây ầm ĩ trong thế giới bóng đá. Hai tờ báo Anh là “Sunday Times” và “Daily Telegraph” đã cáo buộc lãnh đạo UEFA là đã bị Qatar mua chuộc để trao quyền đăng cai World Cup 2022 cho nước này.
Cho đến lúc này vẫn chưa có chứng cứ xác đáng, nhưng Michel Platini đã thừa nhận khoảng chục ngày trước khi bỏ phiếu bầu Qatar đăng cai World Cup 2022, ông đã được Tổng thống Sarkozy mời đến điện Elysée ăn tối và có cả Thái tử Qatar Tamin Al-Thani, tân chủ nhân đội bóng PSG. Tạp chí cũng nhận định, cựu Tổng thống Sarkozy và Michel Platini là đôi bạn lâu năm, liệu chủ tịch UEFA có thể khước từ mong muốn của Tổng thống Sarkozy hay không?
Roma : Thành phố nghệ thuật muôn thuở
Tạp chí L’Express số ra tuần này dành một hồ sơ lớn dài 30 trang cho thành phố Roma cổ kính nhưng cũng đầy vẻ lãng mạn. Mặc dù trải qua khủng hoảng kinh tế, Roma vẫn tiếp tục đổi mới và làm giàu các di sản văn hóa vô giá. Tạp chí L’Express mệnh danh Roma là “thành phố nghệ thuật vĩnh cữu”.
Tạp chí giới thiệu cho độc giả những địa điểm tham quan du lịch lý thú, những kho báu văn hóa vô giá, những cuộc du ngoạn khó quên và những nhà hàng ẩm thực Ý đã thu hút không biết bao thế hệ. Mariana Valensise, giám đốc trung tâm văn hóa Ý tại Paris nhận xét: “Mỗi thế hệ khám phá lại Roma một cách khác nhau”.
Phải nói được rằng, Roma là nữ hoàng của thế giới Thiên Chúa Giáo. Roma chính là người kế vị của Đế chế La Mã, là di sản lịch sử luôn sống động, trái với Athène. Cựu đệ nhất phu nhân Pháp, Carla Bruni-Sarkozy đã từng làm việc lâu năm tại thủ đô nước Ý, cũng dành cho Roma một tình cảm đặc biệt.
Thi tú tài Pháp : Cho phép học sinh đi trễ
Cuộc đình công diễn ra từ vài ngày qua của nhân viên ngành đường sắt quốc gia Pháp (SNCF) trong bối cảnh học sinh trung học Pháp đang bước vào kỳ thi tú tài. Do đó, Bộ trưởng Giáo dục Pháp cho phép thí sinh đi thi trễ một giờ do trễ tàu xe. Quá một giờ thì trưởng hội đồng thi sẽ giải quyết tùy từng trường hợp. Tuy nhiên, tờ Le Figaro cũng quan ngại đến nguy cơ lộ đề thi và các trường hợp gian lận.
tags: Châu Á - Nhật Bản - Trung Quốc - Việt Nam - Đài Loan - Điểm báo

CHỮ VIỆT THỜI THƯỢNG CỔ - Trần Bích San, TS. Trần Gia Thái ( www.vietthuc.org )

June 14, 2014 Bình Luận

Trước khi Chữ Quốc Ngữ[1] xuất hiện vào cuối thế kỷ thứ 16 do các giáo sĩ người Âu Châu sang Việt Nam truyền đạo, Chữ Nôm [2] là thứ chữ riêng của nước ta dùng để ghi lại tiếng nói của người mình. Chữ Nôm có phải là văn tự đầu tiên hay trước đó chúng ta đã có một thứ chữ khác? Đề tài về cổ văn tự được các nhà ngữ học, khảo cổ, học giả bàn thảo từ nhiều năm qua.
Theo Dương Quảng Hàm[3] “Dân tộc ta trước khi nội thuộc nước Tàu, có thứ chữ riêng để viết tiếng Nam hay không; đó là một vấn đề, hiện nay vì không có di tích và thiếu tài liệu, không thể giải quyết được”.[4] Nghiêm Toản[5] cũng cho rằng “Trước hồi Bắc Thuộc ta vẫn có tiếng nói riêng, còn chữ viết thì không biết ta đã có hay chưa?[6]
Không bỏ lửng như Dương Quảng Hàm và Nghiêm Toản, các tác giả khác khác tiếp tục tìm tòi về cổ văn tự Việt. Kết quả các công trình nghiên cứu cho đến nay có 2 khuynh hướng trái ngược.
Giáp Cốt Văn &  Kim Văn, Wikipedia 
2014 JUNE 11.TBS H.02_Thượng_Phú_Quảng_Bình (1).jpg 4502014 JUNE 11 TBS H.03_Đồ_Đồng_Đông_Sơn.jpg 450
THỜI CỔ VIỆT NAM KHÔNG CÓ CHỮ VIẾT
Một cách gián tiếp, Lê Văn Siêu,[7] khi luận về văn tự đã khẳng định vào đời Hùng Vương, trước khi bị Tàu xâm chiếm, nước ta chưa có chữ viết: “ Sử có chép là nhà vua (Hùng Vương [8] đã một lần đi đánh miền Nam đến cửa bể Thần Phù, tức là đến Thanh Hóa nơi gốc cũ, thuyền bị gió cản không đi được, sau có một đạo sĩ xưng là La Viện xin cỡi thuyền đi trước dẫn đường để tam quân đi sau. Tự nhiên không có sóng gió gì nữa. Khi tấu khải trở về, La Viện mất. Vua truy phong là Áp Lãng Chân Nhân, lập đền thờ ở bờ sông để thờ. Lại cũng theo tục truyền, khi vua Hùng Vương Nam chinh đóng quân ở núi Khả Lao (Thanh Hóa), có nằm mơ thấy thần bảo rằng “Xin có cái trống đồng và dùi đồng giúp nhà vua thắng trận”. Đến lúc ra trận thì thấy trên không văng vẳng có tiếng trống đồng rồi quả nhiên được toàn thắng. Vua bèn sắc phong thần núi xã Đam Mê là Đồng Cổ Đại Vương, và đền thờ từ đấy gọi là Đồng Cổ Thần Từ (trong còn một cái trống bằng đồng cổ)”.
Trong phần chú thích, Lê Văn Siêu ghi: “Xin lưu ý: hồi này chữ Hán chưa được truyền vào Giao Chỉ, làm sao mà vua Hùng Vương có thể có chữ để phong cho thần là những Áp Lãng Chân Nhân với Đồng Cổ Đại Vương? Vậy việc đi đánh miền Nam có thể có thực, nhưng đặt duệ hiệu theo những tiếng Nôm nào đó, còn sự phong tặng chỉ là những thêm thắt của đời sau.[9]
Cùng quan điểm Việt Nam chưa có chữ viết riêng cho tới khi bị người Tàu đô hộ và chữ Hán là văn tự đầu tiên chúng ta sử dụng, Vũ Thế Ngọc,[10] với nhãn quan khoa học, không chấp nhận lý luận nặng về tình cảm, nhẹ về khảo chứng: “Tự hào là con dân một nước văn hiến lâu đời, chắc chắn chúng ta đều hãnh diện khi chứng minh được rằng người Việt đã có chữ viết từ thời lập quốc. Tuy nhiên sự thật là cho đến nay (1987), chưa có một chứng kiện nào cho thấy ta có văn tự trước thời Bắc thuộc. Có lẽ chứng kiện còn đang chôn sâu dưới lòng đất hoặc ở ngay trên hàng ngàn trống đồng nhưng vì ta chưa tìm được cách đọc chăng?
Sự việc không có một văn tự ở thời cổ đại không chứng minh một điều nào hết. Việc có chữ viết dù có là một chứng chỉ đánh dấu trình độ văn minh của một dân tộc nào đó, nhưng điều đó không bao hàm logic trái ngược.[11]
2014 JUNE 11 H.04_Các_phiến_đá_có_khắc_chữ_được_phát_hiện_CẢM_TANG_2011 (1).jpg 2302014 JUNE 11 H.05_Chữ_khác_trên_phiến_đá_lớn_nhất_CẢM_TANG_2011 (1).jpg 2302014 JUNE 11 H.06_Phiến_đá_có_khắc_chữ_CẢM_TANG_2011.jpg 4502014 JUNE 11 H.07_Một_phiến_đá_khắc_chữ_Lạc_Việt_CẢM_TANG_2011.jpg 450
Các phiến đá có khắc chữ được phát hiện CẢM TANG
CÓ MỘT THỨ CHỮ VIỆT THỜI THƯỢNG CỔ
Đa số các nhà biên khảo, học giả, sử gia đều cho rằng trước thời Bắc thuộc, khi chưa tiếp xúc với người Tàu và biết chữ Hán, dân tộc ta đã có một thứ chữ riêng để ghi tả tiếng nói của mình.
Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục của Quốc Sử Quán triều Nguyễn có ghi lời chú: “Dựa theo sách Thông Chí của Trịnh Tiều và sách Cương Mục Tiền Biên của Lý Kim Tường thì đời Đào Đường (2357-2258 TTL) ở phương Nam có họ Việt Thường qua 2 lần sứ dịch sang chầu dâng rùa thần. Rùa này có lẽ đã sống đến ngàn năm, mình nó đến hơn 3 thước (96 cm), trên lưng có chữ Khoa Đẩu ghi chép việc từ khi mới mở mang về sau. Vua Nghiêu sai chép lấy gọi là Qui Lịch”.[12]
Hoàng Đạo Thành,[13] tác giả Việt Sử Tân Ước Toàn Thư, tin rằng nước ta đã có chữ viết riêng từ trước thời Bắc thuộc: “Nước Nam đời xưa đáng lý phải có chữ, nếu không thì những việc cũ theo đâu mà ghi nhớ? Lúc Sĩ Thứ Sử (Sĩ Nhiếp) dạy chữ thì khi ấy mới học văn Hán, dùng chữ Hán vậy. Vì văn Hán thông dụng đã lâu nên quốc tự không còn truyền, không thể khảo ở đâu được. Thử xem dân miền núi thượng du đều có chữ dân cùng dùng với nhau, há lại riêng nước ta không có chữ ru?[14].
2014 JUNE 13 VKTT 01 NĐC 35 chữ cái .jpg 450 
35 chữ cái của lối chữ Châu, Thanh Hóa (tài liệU trong Việt Nam Cổ Văn Học Sử, Nguyễn Đổng Chi)
Nguyễn Đổng Chi[15] và Lương Đức Thiệp[16] cổ xúy cho lập luận trên, quả quyết trước thời vay mượn chữ Hán, Việt Nam đã có văn tự riêng nhưng vì trải hơn 1000 năm Bắc thuộc những dấu tích đã bị người Tàu tàn phá hết.
Lương Đức Thiệp đưa ra ức thuyết “về thời cổ dù mức sinh hoạt dân chúng Việt Nam còn thấp kém, nhưng khi xã hội đã bành trướng, có tổ chức, có một số dân khá đông, xã hội Việt Nam ngay từ buổi đầu bắt buộc phải tạo ra một thứ chữ để ghi chép những chuyện quan hệ xảy ra trong xã hội, trong gia đình, trong thôn xóm, hoặc ghi chép những thể lệ một đoàn thể. Thứ chữ ấy sau vì không tiện hoặc vì ảnh hưởng chính trị văn hóa Trung Quốc mà bị đào thải, nên ngày nay ta không còn thấy vết tích nào về thứ chữ đó cả.” [17]
Nguyễn Đổng Chi lý luận: “Một dân tộc đông và tiến hóa như dân tộc Việt Nam lẽ nào lại không có một văn tự riêng trong khi ba bề bốn bên người Tàu, Lào, Chàm ai nấy đều có cả”.
Thực tế thì người Lào, Chàm, Mường, Thổ kém văn minh hơn Việt Nam mà họ đều có chữ viết riêng để sử dụng từ thời xưa. Ngay như người Mường ở Phủ Tương, Phủ Quỳ thuộc tỉnh Nghệ An nằm sát cạnh nhau mà cũng có tới 2 thứ chữ khác nhau. Vương Duy Trinh [18] xác định trong sách Thanh Hóa Quan Phong “ Tỉnh Thanh Hóa một châu quan có chữ là lối chữ thập châu. Người ta thường nói “Nước ta không có chữ”. Ta nghĩ rằng không phải vậy. Thập châu vốn là đất nước ta, trên châu còn có chữ, lẽ nào dưới chợ lại không? Lối chữ châu là lối chữ nước ta đó”. Nhận định này khả tín vì người Mường hầu như không bị ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa và là di duệ chính của người Việt Thường. Lối chữ châu gần với chữ của người Lào hoặc người Miên, có tổng cộng 35 chữ cái. [19]
Kim Định [20] giải thích lý do tại sao không có dấu vết chữ viết trên trống đồng Đông Sơn: “Không thể thấy vắng bóng chữ viết trên trống đồng mà cho rằng Lạc Việt chưa có chữ bởi không viết có thể vì chữ chưa hình thành xong, hoặc tại lý do hay tin tưởng nào đó, chẳng hạn tin rằng đồ xài lâu năm có hơi hướng người chủ dính dáng chày ngày sẽ thành ma quỉ phá phách người sống, nên người không dám viết chữ. Chính vì thế đồ sứ xưa không hề có chữ. Có chữ ký vào mới xảy ra về sau, từ khi giao thiệp với Tây Phương đòi ghi chú, cũng như nhiều đồ đồng nhà Thương không có chữ…(Creel, trang 118)”.
Tiếp theo, căn cứ vào các dữ kiện của những học giả Tây Phương liên quan tới chữ cổ, Kim Định khẳng định Việt Nam đã có văn tự trước cả người Trung Hoa “Nhiều học giả nhắc tới thứ chữ cổ xưa và gọi là Điểu Tự,[21] và nơi khác có nói đến con rùa Việt Thường cống vua Nghiêu trên lưng có cổ tự.[22] Hai điểm trên hợp với lưu truyền xưa nói rằng chữ ban đầu viết theo lối chân chim hay con quăng. Đó là hình dáng rất hợp cho chữ VĂN ban đầu chỉ nét rằn ri trên gỗ, đá, ngọc…Vì thế tôi cho rằng Lạc Việt đã có công đầu trong việc đặt nền tảng cả cho chữ viết, và để ghi công đầu đó, tổ tiên đã đặt danh hiệu nước là Văn Lang. Đặt danh hiệu đó để nhớ bước đầu nhưng vẫn tiến và đã tới đợt “TỰ” (thanh), nhưng chưa kịp tiến sang đợt “THƯ” thì bị nạn xâm lăng, đành bỏ dở việc kiến tạo lại cho người xâm lăng tiêp nối” [23] (Khởi thủy chữ dựa trên hình dáng sự vật, giai đoạn bắt đầu này gọi là VĂN. Đây là chữ tượng hình (pictographique) tức là vẽ ra hình sự vật. Đợt sơ khởi này còn rất mộc mạc vì hình mới chỉ gợi ra một tượng hình lơ mơ, chưa gọi tên ra được nên thiếu rõ rệt. Nhiều giống dân như Indiens hay Mexicains kẹt lại ở giai đoạn này, không tiến lên được đợt TỰ (thanh âm). Với ý niệm rõ rệt đi theo từng hình cho nên chữ chỉ là tượng hình (pictogramme) mà chưa là tượng ý (Ideogramme). Tuy nhiên, vì đóng vai trò khai mở quan trọng trên đường bước vào văn hóa nên được gọi là VĂN mang ý nghĩa bao trùm cả các giai đoạn sau. Dần dần thêm âm vào hình thì thành đợt TỰ. Từ đó âm và hình nương nhau đẻ ra nhiều chữ và được viết trên thẻ tre hoặc lụa thì gọi là THƯ).[24]     
2014 JUNE 11 H.08_Phiến_đá_có_khắc_chữ__CẢM_TANG_2011.jpg 2302014 JUNE 11 H.09_Phiến_đá_có_khắc_chữ_CẢM_TANG_2011.jpg 2302014 JUNE 12 H.10_Một_phiến_đá_khắc_chữ_Lạc_Việt_CẢM_TANG (1).jpg 230
2014 JUNE 12 H.11_Phiến_đá_có_khắc_chữ_CẢM_TANG_2011.jpg 230
Các phiến đá khắc chữ Lạc Việt CẢM TANG
Gần đây, trong khi nghiên cứu các đồ đồng Đông Sơn, Hà Văn Tấn đã phát hiện một số các hình nét là những dấu vết của chữ Việt cổ. Trên lưỡi cày và khí giới tìm được ở Thanh Hóa, các nhà khảo cổ cũng thấy một số dấu hiệu có tính cách qui ước mà theo Hà Văn Tấn thì những chữ này tương tự như các chữ khắc trên chiếc qua tìm thấy ở tỉnh Hồ Nam, Trung Hoa.[25]
Những hình khắc có tính cách qui ước tìm thấy trên vách đá ở Thượng Phú và Yên Lạc tỉnh Quảng Bình, Hang Kỳ tỉnh Thái Nguyên, Len Đất tỉnh Lạng Sơn, Mường Hoa (cao nguyên Tây Bắc) là những chứng tích tượng hình cụ thể của chữ Việt cổ.[26]
2014 JUNE 12 H.12_Các_phiến_đá_khắc_tự_phù_của_người_Lạc_Việt_HUYỆN_BÌNH_QUẢ,_QUẢNG_TÂY_Dec.23,_11.jpg.2302014 JUNE 12 BBB H.13_Phiến_đá_khắc_tự_phù_của_người_Lạc_Việt_HUYỆN_BÌNH_QUẢ,_QUẢNG_TÂY_Dec._23,_2011 (1).jpg.230
Các phiến đá khắc tự phù của người Lạc Việt_HUYỆN BÌNH QUẢ, QUẢNG_TÂY
2014 JUNE 12 H.14_Chữ_khắc_trên_xương_thú_mộ_táng_vách_động_HUYỆN_VŨ_MINH.jpg.230
Chữ khắc trên xương thú mộ táng vách động, HUYỆN VŨ MINH
Tháng 10 năm 2011 các chuyên gia của Hội Nghiên Cứu Văn Hóa Lạc Việt tỉnh Quảng Tây đã phát hiện mấy chục khối mảnh vỡ “xẻng đá lớn” và tấm đá có khắc đầy chữ Việt cổ tại di chỉ cúng tế “xẻng đá lớn” Cảm Tang thuộc thị trấn Mã Đầu, huyện Bình Quả, thành phố Bách Sắc. Ngày 19 tháng 12, 2011 chuyên gia lại đến hiện trường tiến hành khảo sát, nghiên cứu phát hiện khối đá có chữ viết lớn nhất dài 103 cm, rộng 55 cm, trên bề mặt khắc trên 1000 tự phù, phần lớn là chữ cúng tế và lời chiêm bốc. Căn cứ vào sự phân bố “xẻng đá lớn” hoàn chỉnh ở bên cạnh phiến đá có khắc chữ thì thời kỳ xuất hiện của phiến đá có khắc chữ cũng cùng thời kỳ với “xẻng đá lớn”
2014 JUNE 12 H.15 Chiếc qua đá cổ của người Lạc Việt SÔNG TẢ.jpg 230 VERTICAL2014 JUNE 12 H.15 Chiếc qua đá cổ của người Lạc Việt SÔNG TẢ.jpg 230 DOWNWARD
Chiếc qua đá cổ của người Lạc Việt SÔNG TẢ
Ngoài ra, vào tháng 11, 2011, hội nghiên cứu trên cũng phát hiện đàn cúng tế loại lớn của người Lạc Việt cổ trên núi Đại Minh, tỉnh Quảng Tây và tìm thấy được phù hiệu và bản vẽ. Theo Tưởng Đình Du, Chủ Nhiệm hội Giám Định Văn Vật Quảng Tây, thì phù hiệu và bản vẽ này khắc về cúng tế của người Lạc Việt vào “thời đại đồ đá mới”. Sau đó các chuyên gia cũng phát hiện một số lượng lớn phù hiệu chữ viết cổ khắc trên mảnh xương, đồ ngọc, đồ đá tại vùng đất có phân bố di chỉ cúng tế của người Lạc Việt tại huyện Vũ Minh và huyện Long An của thành phố Nam Ninh, huyện Điền Đông, thành phố Bách Sắc, thuộc tỉnh Quảng Tây. Những phù hiệu (câu bùa) này rõ ràng là câu đơn hoặc đơn biệt được chuyên gia cho là chữ viết của thời kỳ đầu.[27]
Trong quá trình tìm hiểu về chữ Việt cổ, Hà Văn Thùy đã thu thập được những dữ kiện sau đây:
  1. Văn bản chữ tượng hình của người Việt Cổ trên bình gốm tại di chỉ Bán Pha 2,[28] gần thủ phủ Tây An, tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc, có tuổi 12,000 năm.
  2. Chữ tượng hình khác trên yếm rùa tại di chỉ Giả Hồ, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc, có tuổi 9,000 năm.
  3. Một số chữ tượng hình cổ phát hiện ở Sơn Đông, nơi cư trú trước đây của người Việt cổ.
  4. Chữ tượng hình được gọi là chữ Thùy của người Thùy tộc, một bộ lạc Việt xưa, hiện có khoảng 250,000 người sống ở Quí Châu.
So sánh tự dạng thì chữ tìm thấy mới đây ở Cảm Tang phức tạp hơn chữ tượng hình ở di chỉ Bán Pha 2 và ở Giả Hồ, nhưng lại đơn giản hơn chữ trên Giáp Cốt Văn [29] và Kim Văn.[30] Điều này cho phép giả định, hệ thống chữ Lạc Việt có thể bắt đầu từ Bãi Đá Sapa đi lên. Vì ở thời kỳ sớm nên chữ ở Bán Pha 2 và ở Giả Hồ còn đơn giản. Do có tuổi muộn hơn nên chữ ở Cảm Tang phức tạp hơn. Phải chăng chữ trên giáp cốt và đồ đồng Ân Khư là sự phát triển sau cùng của chữ tượng hình Lạc Việt.
Theo lịch sử sự hình thành của dân cư Trung Quốc thì trong thời gian này trên địa bàn Trung Hoa chỉ có người Việt sinh sống, người Hoa Hạ chưa hiện diện, chứng tỏ rằng đó là thứ chữ của người Lạc Việt.[31]
2014 JUNE 12 H.16 Chữ khắc trên xương thú của người Lạc Việt SÔNG UNG.jpg.VERT 230
KẾT LUẬN
Sự phát hiện chữ Lạc Việt ở Cảm Tang tỉnh Quảng Tây năm 2011 là chứng tích rõ ràng cho thấy người Việt đã sáng tạo ra chữ viết từ hơn 4000 năm trước. Sự kiện này phá bỏ hoàn toàn quan niệm người Lạc Việt không có chữ viết và lịch sử chữ Hán phải được viết lại.
Chúng ta đã có văn tự riêng từ thời thượng cổ trước khi bị người Tàu xâm chiếm. Chữ Lạc Việt xuất hiện vào đầu thời đại “đồ đá mới” và hình thành vào thời kỳ đỉnh cao của “văn hóa xẻng đá lớn” (từ thế kỷ 40 TTL đế thế kỷ 20 TTL). Tuy nhiên thứ chữ tối cổ đó còn rất thô sơ mới đang phát triển và ở trong thời kỳ “Tự” thì phải bỏ dở vì ách thống trị của Tàu hơn 1000 năm. Cổ tự của Việt Nam đã mai một và bị hủy diệt bởi thế lực đô hộ của người Tàu (khi Sĩ Nhiếp đem chữ Hán vào nước ta đã cấm người Việt viết chữ tượng thanh đã quen dùng cho tới ngày đó).[32] Chính những thành đạt về chữ viết của Lạc Việt đã được người Tàu tiếp nối, dùng thứ chữ khắc trên Giáp Cốt Văn và Chung Đỉnh Văn của ta làm cơ sở phát triển và kiện toàn chữ Hán của họ sau này.
TRẦN BÍCH SAN, TS TRẦN GIA THÁI 
CHÚ THÍCH
[1] Chữ Quốc Ngữ (chữ Việt chúng ta sử dụng ngày nay) do các mẫu tự La Tinh ghép thành, xuất phát từ nhu cầu truyền đạo Thiên Chúa của các giáo sĩ người Âu Châu. Giáo sĩ có công lớn nhất trong việc sáng chế ra Chữ Quốc Ngữ là các cố Gaspard de Amaral, Antanio de Barbosa người Bồ Đào Nha, Linh Mục dòng Tên Alexandre de Rhodes người Pháp. 
[2] Chữ Nôm do chữ Hán (còn gọi là chữ Nho) của Tàu biến thể bằng cách dùng nguyên hình chữ Nho, hoặc lấy 2, 3 chữ Nho ghép lại. Chữ Nôm rất khó, muốn đọc và viết chữ Nôm phải tinh thông chữ Hán.
[3] Dương Quảng Hàm (1898-1946): giáo sư, nhànghiên cứu văn học, hiệu Hải Lương, sinh ngày 15 tháng 01, 1898, mất tích tại Hà Nội năm 1946, quê làng Phú Thị, tổng Mễ Sở, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên, tốt nghiệp Cao Đẳng Sư Phạm Đông Dương (1920), giáo sư trường Trung Học Bảo Hộ (Lycée de Protectorat thường gọi là trường Bưởi). Anh ruột là Dương Bá Trạc (trong ban biên tập Nam Phong Tạp Chí), em ruột là Dương Tụ Quán (sáng lập tạp chí Tri Tân).
[4] Việt Nam Văn Học Sử Yếu (Dương Quảng Hàm) trang 113.
[5] Nghiêm Toản (1907-1975): giáo sư, nhà nghiên cứu văn học, bút hiệu Hạo Nhiên, sinh ngày 05 tháng 03, 1907, mất tại nhà riêng ở Sài Gòn năm 1995, quê ở Nam Định, tốt nghiệp Cao Đẳng Sư Phạm Đông Dương., giáo sư Đại Học Văn Khoa (Hà Nội & Sài Gòn), Đại Học Sư Phạm (Sài Gòn)  
[6] Việt Nam Văn Học Sử Trích Yếu (Nghiêm Toản) trang 41.
[7] Lê Văn Siêu (1911-1995): tốt nghiệp trường Công Nghệ Thực Hành ở Hải Phòng, đốc công nhà máy gạch Đáp Cầu thuộc sở Công Chánh Hà Nội (từ 1932), những năm 1940 hợp tác với nhóm Hàn Thuyên của Nguyễn Đức Quỳnh, Trương Tửu, Đặng Thái Mai…
[8] Hùng Vương: sử ghi 18 đời Hùng Vương trị vì từ năm 2879 TTL đến 258 TTL. Niên biểu này không được chính xác vì một đời vua không thể dài trên 100 năm.
[9] Việt Nam Văn Minh Sử Cương (Lê Văn Siêu) trang 68.
[10]Vũ Thế Ngọc: tốt nghiệp Cao Học Văn Học Việt Nam, trong nhóm sáng lập và chủ biên nhật báo Sóng Thần (Sài Gòn), chủ trương nhà xuất bản Eastwest Institute (California, Hoa Kỳ từ 1980).  
[11] Nghiên Cứu Chữ Hán và tiếng Hán Việt (Vũ Thế Ngọc) trang 27.
[12] Quốc Sử  Quán, Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, Bộ Văn Hóa Giáo Dục, Sài Gòn 1965, trang 31.
[13] Hoàng Đạo Thành, sử gia, nguyên họ Cung, khi đi thi Hương đổi ra họ Hoàng, hiệu Cúc Lữ, quê làng Kim Lũ, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông, đỗ Cử Nhân năm Giáp Thân 1884, làm quan Đồng Tri Phủ, sau xin từ nhiệm về quê, cùng Đào Nguyên Phổ và các trí sĩ khác hoạt động trong phong trào Duy Tân. 
[14] Việt Sử Tân Ước Toàn Thư, nguyên văn: “Việt quốc tùng cổ đương tự hữu văn tự. Bất nhiên tùng tiền sự duyên hà ký ức? Sĩ Thứ Sử văn tự chi giáo tắc chí thị thủy học Hán văn. Dụng Hán tự nhĩ. Hán văn thông hành ký cửu. Quốc tự toại bất phục truyền vô phục khả kháo. Thí quan, thượng du sơn đổng chi dân các hữu văn tự tương vi hành dụng khởi ưng quốc trung độc vô hồ?”  
[15] Nguyễn Đổng Chi (1915-1984): nhà nghiên cứu văn học, sinh ngày 06 tháng 01, 1915, mất ngày 20 tháng 07, 1984, quê xã Hậu Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh, viện trưởng Viện Hán Nôm. Trong thời gian làm việc ở Viện Sử Học đã phát hiện di chỉ đồ đá Núi Đọ năm 1960.   
[16] Lương Đức Thiệp (? – 1946): nhà nghiên cứu xã hội học, thành viên của nhóm Hàn Thuyên và tạp chí Văn Mới gồm có Nguyễn Xuân Tái, Trương Tửu, Nguyễn Đức Quỳnh, Lê Văn Siêu, Đặng Thái Mai, Nguyễn Hải Âu, Phạm Ngọc Khuê…cộng tác với các báo Tri Tân, Tao Đàn, Thanh Nghị chuyên về văn học, xã hội học VN từ cổ đại đến hiện đại.
[17] Xã Hội Việt Nam (Lương Đức Thiệp), nxb Hàn Thuyên, Hà Nội, 1942.
[18] Vương Duy Trinh: tự Từ Cán, hiệu Đạm Trai, Hương Trì, quê làng Phú Diễn, huyện Từ Liêm, tỉnh Hà Đông, đỗ Cử Nhân năm Canh Ngọ 1870, làm quan đến Bố Chánh, sau được thăng Tổng Đốc Thanh Hóa.
[19] Việt Nam Cổ Văn Học Sử (Nguyễn Đổng Chi): lục đăng và phiên âm 35 chữ cái của người Mường.
[20] Kim Định (1915-1997): tên thật Lương Kim Định, sinh tại Nam Định ngày 15 tháng 06, 1915, mất ngày 25 tháng 03, 1997 tại tiểu bang Missouri,  linh mục, triết gia (tác giả triết thuyết Việt Nho), nhà nghiên cứu văn học, giáo sư Đại Học Văn Khoa, di tản sang  Hoa Kỳ từ 1975.
[21] Điểu Tự (trong quyển Histoire Général de la Chine, Cordier, trang 68): theo cổ sử Trung Hoa, sử thần Thương Hiệt đời Hiên Viên Hoàng Đế nhìn vết chân chim nghĩ ra chữ viết.
[22] Khoa Đẩu: chữ viết trên lưng rùa của Việt Thường tiến cống vua Nghiêu vào khoảng thế kỷ thứ 23 TTL. Chữ có hình giống con nòng nọc (lăng quăng) đầu to, đuôi nhỏ.
[23] Nguồn Gốc Văn Hóa Việt Nam (Kim Định) trang 122, 123.
[24] Thuyết Giải Văn Tự (Hứa Thận): tự điển lâu đời nhất của Tàu, khoảng 100 STL. Giải nghĩa các giai đoạn cấu tạo chữ viết phỏng theo sách này.
[25] Hà Văn Tấn, Một số vấn đề văn hóa phùng nguyên, Nghiên Cứu Lịch Sử, số 112, 1968.
[26] Nguyễn Khắc Ngữ, Nguồn Gốc Dân Tộc Việt Nam, Nhóm Nghiên Cứu Sử Địa, 1985, trang 138-164.
[27] Website: news.xinhuanet.com (bản tin của Lý Nhĩ Chân đăng ngày 03 tháng 01, 2012). Tin này được dịch và công bố trên mạng Việt Học và trang Lý Học Đông Phương:
http: //diendan.lyhocdongphuong.org.vn/bai-viet/23954-chu-viet-co-o-nam-duong-tu
[28] Thôn Bán Pha: di chỉ cổ vào bậc nhất ở Trung Quốc, được gọi chung là nền “Văn Hóa Ngưỡng Triều”, một nền văn hóa 4000 năm TTL. Trong một số đồ đất có một số hình vẽ và ký hiệu có thể là cơ sở cho những chữ tượng hình nguyên thủy.
[29] Giáp Cốt Văn: loại chữ viết trên xương thú vật.
[30] Kim Văn: còn gọi là Chung Đỉnh Văn, là loại chữ viết trên chuông (chung), đỉnh (vạc) và các đồ đồng khác, vì vậy gọi là Kim Văn. Loại chữ này xuất hiện vào cuối đời nhà Thương (khoảng 1300 TTL).
[31] Hà Văn Thùy, Phát Hiện Chữ Việt Cổ ở Quảng Tây, website Việt Thức, ngày 16 tháng 02, 2012 www.vietthuc.org
[32] Terrien de Lacouperie, The Languages of China before the Chinese, tái bản ở Đài Loan năm 1970, page.54.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
-    Dương Quảng Hàm, Việt Nam Văn Học Sử Yếu, Hà Nội, 1944, Bộ Giáo Dục tái bản, Sài Gòn, 1968.
-    Hà Văn Tấn, Một Số Vấn Đề Văn Hóa Phùng Nguyên, Nghiên Cứu Lịch Sử, số 112, Hà Nội, 1968.
-    Hà Văn Thùy, Phát hiện Chữ Việt Cổ ở Quảng Tây, website Việt Thức, www.vietthuc.org February 16, 2012.
-    Kim Định, Nguồn Gốc Văn Hóa Việt Nam, Dân Chúa, Hoa Kỳ, 1982.
-    Lê Văn Siêu, Việt Nam Văn Minh Sử Cương, La Bối, Sài Gòn, 1967.
-    Lê Văn Siêu, Văn Học Sử Việt Nam, Văn Học, Hà Nội, 2006.
-    Lương Đức Thiệp, Xã Hội Việt Nam, Hàn Thuyên, Hà Nội, 1942.
-    Nghiêm Toản, Việt Nam Văn Học Sử Trích Yếu, Hà Nội, 1949.
-    Nguyễn Đổng Chi, Việt Nam Cổ Văn Học Sử, Hàn Thuyên, Hà Nội, 1942.
-    Nguyễn Khắc Ngữ, Nguồn Gốc Dân Tộc Việt Nam, Nhóm Nghiên Cứu Sử Địa, Canada, 1985.
-    Nguyễn Q. Thắng, Từ Điển Tác Gia Việt Nam, Văn Hóa, Hà Nội, 1999.
-    Quốc Sử Quán, Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, Bộ VHGD, Sài Gòn, 1965.
-    Vũ Thế Ngọc, Nghiên Cứu Chữ Hán và Tiếng Hán Việt, Eastwest Institute, Hoa Kỳ, 1998.

Triệt Để Ly Khai Chủ Nghĩa Marx-Lenin Và San Bằng Huyền Thoại Hồ Chi Minh Để Cứu Nước - Nguyễn Cao Quyền

 June 14, 20140 Bình Luận
2014 MAY 19 TAI ƯƠNG CSVN
Chủ nghĩa cộng sản hứa hẹn với nhân loại một tương lai huy hoàng nhưng hứa hẹn này đã bị thực tế phủ nhận. Marx đã khổ công phê phán chủ nghĩa Tư Bản nhưng khi nói về chủ nghĩa Cộng Sản thì cách tiếp cận của ông lại mang sắc thái một lời tiên tri phỏng đoán. Nội dung những lời thuyết giảng của ông không được chứng nhận qua thời gian.
Trong những nước mà cách mạng vô sản thành công, trái với sự răn dạy của Marx, thì điều gì đã xảy ra ? Thiên đường cộng sản chưa bao giờ xuất hiện trong khi cảnh nghèo đói cứ tiệp tục tồn tại hết năm này qua năm khác. Đấy là chưa kể sự hành hạ thiếu nhân đạo của những chế độ độc tài vô trách nhiệm, tham nhũng và tham quyển cố vị như mọi người đều đã thấy.
Sự sụp đổ của Liên Xô đầu thập niên 1990 đã kéo theo sự ra đi hàng loạt của hầu hết các chế độ độc tài khác trên thế giới. Sơ xuất lớn nhất của Marx là đã coi thường và miệt thị kinh tế Tư Bản. Thực tế cho thấy quyền tư hữu và kinh tế thị trường tự do có một sức mạnh và một tính năng động vượt xa trí thưởng tượng và tầm hiểu biết của nhà tiên tri cộng sản.
Giấc mơ “hàng hóa chảy ra như suối” hiện đang là thực tế hàng ngày trong các xã hội Tư Bản, không cần phải chứng minh. Vậy thì còn lý do gì nữa để không rứt khóat với chủ nghĩa Marx, chủ nghĩa Lenin và san bằng huyền thoại Hồ Chí Minh, hầu nhanh chóng hội nhập vào cộng đồng của nhân lọai văn minh.
Đây không phải là lần đầu tiên lời kêu gọi này được đưa ra. Nhưng lần này lời kêu gọi thống thiết đó nó vẫn cần được nhắc lại, vì tổ quốc đang trong cơn nguy biến. Không có sức mạnh của toàn dân thì không thể nào cứu nguy đẫt nước, khi giặc đã bắt đầu xâm lấn lãnh hải và lãnh thổ của nước ta.
Chủ nghĩa Marx đã lui vào lịch sử
Đó là sự thật, nhưng nếu ai chưa chưa đủ lòng tin thì xin đọc những dòng viết tiếp theo. Năm 1941, Marx bị chính quyền Đức theo dõi vì những bài viết chống đối nhà nước. Ông đem gia đình qua Pháp và cư trú tại thủ đô Paris. Tại đây, ông gặp F. Engels. Hai ngưởi làm quen nhau, ý hợp tâm đầu và từ đó cộng tác thân mật với nhau trong nhiều hoạt động cách mạng.
Chủ nghĩa Tư Bản xuất hiện vào đầu thế kỳ 17 tại Âu Châu. Hồi đó sự phát minh ra máy dệt rèm hoa đã gây nên một làn sóng bạo động của công nhân tại Đức. Bước sang thế kỷ 19, ở Anh vẫn còn nổ ra những phong trào phá hoại máy móc với quy mô lớn.
Khảo sát khu công nghiệp Manchester ở Anh vào năm 1844 Engels , lúc đó mới 24 tuổi, cũng phản đối việc đưa máy móc vào sản xuất. Ông viết tác phẩm “The condition Of The Working Class In England” xuất Bản năm 1845. Hồi đó, khu công nghiệp Manchester mới chập chững đi vào mô hình phát triển Tư Bản.
Năm 1848, sau khi viết và cho công bố bản Tuyên Ngôn Của Đảng Cộng Sản, Marx và gia đình phải bỏ Pháp chạy sang Anh lánh nạn vì bị truy lùng. Lúc đó, Marx mới 30 tuổi. Trong khu vực Soho buồn tẻ của thủ đô Luân Đôn, ông sống đau yếu và thiếu thốn với sự trợ cấp của Engels.
Ông bắt đầu viết sách. Quyển Tư Bản Luận số I (Das Capital I) được viết căn cứ trên cuốn “The Condition Of The Working Class In England” của Engels. Tác phẩm này của Marx được coi như thánh kinh của giai cấp lao động, chỉ tiếc rằng hiện tượng Tư Bản Manchester lúc đó còn quá sơ khai nên công trình phân tích của Marx được đánh giá như hơi vội vã. Thật vậy, những lời tiên đoán tự cho là khoa học liên quan đến giai đọan quá độ, thế giới đại đồng, sự tiêu vong của nhà nước…đã không được thực tế chứng nghiệm và chỉ có giá trị như những lời tiên tri bói toán.
Năm 1866, nghĩa là 18 năm sau khi Tuyên Ngôn Đảng Cộng Sản được công bố, khủng hoảng kinh tế thế giới bùng nổ. Sau khi khủng hoảng này chấm dứt, chủ nghĩa Tư Bản đã tự điều chính bằng một sáng tạo mang tính lịch sử. Đó là sự ra đời của Công Ty Cổ Phần và Ngân Hàng Đầu Tư Quy Mô Lớn. Với sự sáng tạo này, vốn của xí nghiệp không còn dựa vào tiết kiệm và dự trữ của một số nhà tư bản nữa mà dựa vào tiền dự trữ của toàn xã hội.
Như vậy, quyền sở hữu được tách rời khỏi quyền quản lý xí nghiệp. Việc tách rời này là một cuộc cánh mạng tạo khả năng “quá độ hòa bình” sang một chế độ mới. Với Công Ty Cổ Phần Marx đã thấy xuất hiện nhân tố “xã hội chủ nghĩa” từ sự phát triển của chủ nghia Tư Bản.
Hai mươi năm, sau khi bản Tuyên Ngôn Cộng Sản ra đời (1848), Marx đã tìm thấy “bước quá độ hòa bình” này. Trong tập III Tư Bản Luận, ông đã sửa chữa kết luận của tập I Tư Bản Luận và nói rằng không cần phải làm nổ tung cái vỏ ngoài của chủ nghĩa Tư Bản nữa. Những gì ông đã nói về Tư Bản Manchester cũng hoàn toàn bị xóa bỏ .
Khi Marx yêu cầu Darwin viết đề tựa cho cuốn Tư Bản liận đầu tiên, ông đã bị Darwin từ chối. Những cuốn Tư Bản Luận tiếp theo, do Engels xuất bản sau khi ông chết (1883) không có mấy ai đọc, trừ một vài nhà nghiên cứu.
Chính Marx cũng nhìn nhận sự phá sản của chủ thuyết cách mạng vô sản của mình. Năm 1872 sau khi Quốc Tế I tan vỡ ông gửi thông điệp cho phân bộ Hoà Lan nói : “Tại những nước như Mỹ và Anh, người lao động có thể đạt tới mục tiêu của mình bằng những phương tiện ôn hòa”. Vào năm trước khi chết, có lần ông đã xác nhận: “Điều chắc chắn, tôi không phải là người Marxist”.
Ngày 6/3/1895, không đầy 5 tháng trước khi qua đời, trong lời nói đầu viết cho tác phẩm “The Class Struggle In France- Đấu Tranh Giai Cấp Ở Pháp” của Marx, Engels cũng sứa lại toàn bộ chủ nghĩa Marx và nhắn với hậu thế rằng “Phương pháp đấu tranh năm 1848 nay đã lối thời về mọi mặt”.
Như vậy trong các tác phẩm của Marx và Engels có hai con đường “xã hội chủ nghĩa” : xã hội chu nghĩa bạo lực và xã hội chủ nghĩa dân chủ. Tuyên Ngôn Của Đảng Cộng Sản và Quyển I Tư Bản Luận là căn cứ lý luận của Chủ Nghĩa Xã Hội Bạo Lực. Tập III Tư Bản Luận và Lời Nói Đầu do Engels viết cho cuốn Đấu Tranh Giai Cấp Ở Pháp là cơ sở lý luận của chủ nghĩa Dân Chủ Xã Hội.
Chủ Nghĩa Xã Hội Bạo Lực hứa hẹn với nhân loại một tương lai huy hoàng nhưng hứa hẹn đó đã bị thực tế phủ nhận. Cuộc thí nghiệm Cộng Sản như vậy là đã chấm dứt. Hệ thống chính trị độc tài, có lúc từng kiểm soát một phần ba nhân loại đã thực sự tan rã. Không có lý do thực tế nào để tin rằng trong tương lai nó còn có thể xuất hiện trở lại.
Chủ nghĩa Marx Lenin đã hoàn toàn phá sản
Điều cần phải nói ngay trước khi đi sâu vào việc phân tích thứ hai là : Lenin đã dấu nhẹm không cho ai biết việc Marx đã khám phá ra bước “quá độ hoà bình” và như vậy hắn đã nhập cảng nguyên con vào nước Nga phần lý thuyết Mác Xít lỗi thời mà cả Marx lẫn Engels đều chối bỏ lúc về già.
Chủ nghĩa Marx-Lenin là một ứng dụng của chủ nghĩa Marx bạo lực vào thực tế do Lenin khai triển. Công thức này đã mang lại thắng lợi cho cuộc cướp chính quyền Nga tháng 10 năm 1917 và trở thành nền tảng ý thức hệ của phong trào cộng sản thế giới với trung tâm là Liên Xô.
Thế Kỷ 20, thuật ngữ Marxism-Leninism được ưa chuộng không chỉ trong sinh hoạt của Đệ Tam Quốc Tế mà còn cả trong nội bộ các Đảng Cộng Sản nhỏ trên khắp thế giới. Tại sao ? Vì chủ nghĩa Marx-Lenin đã đưa ra mẫu hình chung cho mọi cuộc cách mạng vô sản cướp chính quyền tại “Thế Giới Thư Ba” cũng như tại một vài nới khác. Nó chú trọng vào thực tế hơn là vào lý thuyết nên rất cần thiết cho việc huấn luyện và đào tạo đảng viên.
Với khả năng nhạy bén hiếm có về chính trị, Lenin nhận ra ngay bản chất tàn bạo của chủ nghĩa Marx. Đây là con đương từ lâu y tim kiếm. Cho nên y chỉ cần thêm vào đó một cơ chế chính trị̣ để biến tư tưởng thành hiện thực. Với niềm tin đó chủ nghĩa Marx-Lenin xuất hiện. Nó trở thành công cụ để cướp giữ chính quyền của một nhóm người ham danh và tham lợi.
Lenin sinh trưởng ở Nga, một nước mà từ ngàn xưa chỉ có những chế độ chính trị cực kỳ tàn bạo. Bạo lực là nền tảng của nước này và Lenin thấm nhuần văn hóa ấy. Trong cuộc đời hoạt động lúc chưa nắm chính quyền Lenin chịu ảnh hưởng của hai người : Louis Auguste Blanqui và Sergey Genadievich Nechayev.
Louis Auguste Blanqui (1805-1881 là người lãnh đạo một tổ chức bí mật tại Pháp thuộc phe Cách Mạng Bạo Lực trong Quốc Tế I và là chỉ huy quân sự của Công Xã Paris. Nội dung của chủ nghĩa Blanqui là : “phải tin chắc, bất kể sự phát triển sức sản xuất ở trình độ nào, chỉ cần dựa vào bạo lực là có thể tạo ra một thế giới mới không có bóc lột, không có áp bức”. Lenin đã tiếp thu giáo huấn bạo lực này từ rất sớm.
Sergey Genadievich Nechayev (1847-1881) là một người Nga theo chủ nghĩa “vô chính phủ”. Y cầm đầu một nhóm nhỏ gồm khoảng 200 sinh viên tại đại học St Petersburg và bị giam trong tù cho đến khi chết lúc mới 35 tuổi vì giết một người bạn. Kinh bổn bạo lực của Nechayev là sách gối đầu giường của Lenin.
Lenin đã dùng chủ nghĩa Marx lỗi thời để lừa bịp dân chúng, phối hợp với chủ nghĩa bạo lực khởi loạn của Blanqui-Nechayev để giết người hàng loạt và cướp đoạt chính quyền. Đó là nội dung và bản chất đích thực của chủ nghĩa Marx-Lenin.
Người Nga có truyền thống đế quốc từ lâu đời. Tham vọng thống trị thế giới từ thời Sa Hoàng Ivan Đệ Tam (1440-1503) và dưới thời Lenin không chỉ gần giống nhau mà in hệt nhau. Cái gọi là Chủ Nghĩa Marx-Lenin đã phục vụ đắc lực cho tham vọng đế quốc giấu mặt của Liên Xô. Khi Lenin thiết kế “chiến thuật tạo phản” (hay kỹ thuật khởi loạn) không phải chỉ để lật đổ Sa Hoàng mà còn để chiến thắng kẻ thù và nới rộng thế lực trên toàn thế giời.
Marx và Engels không phải là những nguời chủ trương đế quốc. Chính Lenin và Stalin đã kết hợp mộng xâm chiếm thế giới từ xưa của nước Nga với học thuyết của Marx để thiết kế những chiến thuật cùng mưu lược khởi loạn dùng làm nội dung của kinh bổn giáo lý để xây dựng một đế quốc chuyên chính.
Nhưng đế quốc Liên Xô ngày nay đã tan rã. Bộ phận tàn dư của nó giờ đây chỉ còn Trung Quốc, Việt Nam, Bắc Triều Tiên và Cuba. Trung Quốc dẫn đầu nhóm tàn dư đó vẫn còn tư tưởng hâm nóng và nới rộng “Chủ Nghĩa Địa Phương Xô Viết” (Provincalism Soviétique) có từ thời Khrutshev để giữ vững vi trí của mình.
Nếu trong dĩ vãng các chính quyền cộng sản đã cam tâm “ăn thịt” con dân cùa họ để chiếm chính quyền và cai trị thì ngày nay họ vẫn tiếp tục dùng sức mạnh nước lớn để ”ăn thịt” lẫn nhau ngõ hầu tồn tại và phát triển. Việt Nam, vì tiếp giáp với Trung Quốc tại biên giới phía Nam và kiểm soát khoảng 3000 cây số Biển Đông, hiện đang là điểm nhắm đầu tiên trong ý đồ bá quyền khu vực của Bắc Kinh..
Tham vọng nước lớn của Bắc Kinh
Sau ba thập kỷ hiện đại hóa và phát triển Trung Quốc bước vào Thế Kỷ 21 với một tinh thần tự tín. Trung Quốc hiện đã trở thành một quốc gia có bom nguyên tử và có chỗ ngồi “vế trên” trong Liên Hiệp Quốc. Tuy chưa hẳn là một cường quốc như tỉ số phát triển giờ đây của Trung Quốc đang ở vào vị thế lớn nhất hoàn cầu.
Trung Quốc đang đi vào một thời kỳ phát triển mới. Mục tiêu của thời kỳ này là phát triển hài hòa và phương tiện để đạt mục tiêu đó là “chủ nghĩa dân chủ xã hội”. Tuy Bắc Kinh đang quan tâm khảo sát sự thực hành “dân chủ xã hội” ở Âu Châu nhưng nhóm lãnh đạo Trung Nam Hải vẫn tiếp tục thám hiểm xem có cách nào để một đảng chính trị có thể đại diện cho những quyền lợi chính trị và kinh tế khác nhau.
Bắc Kinh đang tiến hành chiến lược dài hạn nói trên bằng chính sách “ba vượt thoát”; thứ nhất, vượt thóat mẫu hình kỹ nghệ hóa cổ điển để đi theo mẫu hình kỹ nghệ hóa hiện đại ; thứ hai, vượt thoát tham vọng lỗi thời muốn trở thành bá chủ hoàn cầu ; thứ ba, vượt thoát lối cai trị cổ hủ của dĩ vãng để thay thế bằng lối cai trị mới hài hòa và nhân đạo.
Nhìn vào toan tính và thái độ của Trung Quốc hiện nay ta thấy triển vọng và thực tế dường như không phát triển song hành. Mặc dầu Hồ Cẩm Đào và một số lãnh tụ Trung Nam Hải muốn vượt thóat khỏi tham vọng lỗi thời trở thành siêu cường bá chủ thiên hạ nhưng trong thực tế thì niềm tự tôn Đại Hán của dân tộc vẫn còn đó và di huấn trả thù Tây Phương của Mao Trạch Đông vẫn tồn tại như một mệnh lệnh.
Sau khi lên ngôi chúa tể Mao Trạch Đông nhận định là các nước Phương Tây và Nhật Bản đã chhếm đoạt của Trung Quốc hàng trăm ngàn dặm vuông lãnh thổ và hàng tá nhượng địa. Mao thề phục hận để lấy lại tất cả những gì đã mất. Mao chú trọng đầu tiên đến Biển Đông và nói với các tướng lãnh : “Bắt đầu từ lúc này Thái Bình Dương không còn an bình nữa và chỉ trở lại an bình khi nào chúng ta làm chủ vùng này”.
Bản đồ Trung Quốc được Mao vẽ lại với sự nới rộng tùy tiện sang tứ phía. Bản đồ này bao gồm tất cả vùng Đông Nam Á , trong đó có Việt Mam, là những nước có biên giới tiếp giáp với Trung Quốc, những nước có căn cứ quân sự do Hoa Kỳ chiếm giữ sau Chiến Tranh Lạnh và các phần đất Nội Mông, Mãn Châu, Tân Cương trong tay Liên Xô. Tất cả đều là những mục tiêu phải giành lại.
Mao chết năm 1976, nhưng chương trình phục hận của Mao đang được thế hệ lãnh đạo tiếp nối tiến hành. Họ đang mở cửa ngõ tiến về phía Nam để thực hiện kế hoạch “tàm thực” trên bộ và “vết dầu loang” trên biển. Bắc Kinh đang giải quyết tranh chấp vùng với thái độ “nước lớn” của một đại cường khu vực.
San bằng huyền thoại Hồ Chí Minh là đòi hỏi căn bản vào lúc này
Huyền thoại là lời nói có tác dụng mê hoặc. Khi xã hội loài người phân hóa thành giai cấp thì huyền thoại chủ yếu nhằm biện chính và bảo vệ lớp người cai trị trong cuộc cạnh tranh với lớp người bị trị. Do đo có thể nói rằng tầng lớp thống trị, nhất là các chế độ độc tài, thực dân và đế quốc, thiết yếu phải tạo ra huyền thoại như một nhu cầu gắn liền với bản chất của họ.
Tác dụng của huyền thoại, xuất phát từ giai cấp thống trị, là tạo niềm tin, một thái độ quy hàng của lý trí. Khi đã tin thì người ta coi đó là chân lý, là đương nhiên không cần thắc mắc và suy luận lôi thôi. Niềm tin đưa đến sự sùng bái và coi những sự không tôn trọng là xúc phạm.
Hồ Chí Minh đã qua đời gần 45 năm và hệ thống cộng sản thế giới đã tan vỡ gần 25 năm, nhưng hình ảnh của Hồ đến ngày nay vẫn còn ẩn hiện giữa thực tế và huyền thoại. Những người dễ dãi về nhận định coi ông như một nhà ái quốc của Việt Nam trong khi những người khác lại xem ông như kẻ đại phản quốc. Đối với tầm nhìn thứ hai này, Hồ Chí Minh đã đưa đất nước và đồng bào vào những cảnh khổ cực, đau đớn tột cùng để phuc vụ cho Quốc Tế Cộng Sản (QTCS) và khoác lên đầu lên cổ dân tộc một nền đô hộ thứ hai, cho đến nay vẫn chưa gỡ bỏ được.
Cho nên nhận dạng con người thực và hành động của Hồ Chí Minh không chỉ cần thiết để thấy rõ một giai đoạn lịch sử bị xuyên tạc mà còn cần thiết cho mong mỏi đưa Việt Nam ra khỏi tai ách chính trị hiện nay. Giải tỏa huyền thoại Hồ Chí Minh phải là ưu tiên hàng đầu cần thực hiện.
Ở Nga, khi Lenin chết, Stalin đã làm đám tang hết sức trọng thể với các thủ tục ướp xác xây lăng tại Quảng Trường Đỏ vâ tôn sủng Lenin như một vị thánh. Stalin làm thế với dụng ý bắt dân Nga cũng phải tôn trọng mình như một á thánh. Ngoài ra Stalin còn viết sách để tự tô vẽ cho mình hình ảnh một lãnh tụ tài ba hơn cả Lenin.
Ở Việt Nam, khi Hồ Chí Minh chết, các đàn em trong Đảng Cộng Sản cũng ướp xác, xây lăng, đúc tượng mang vào đền chùa cúng bái. Riêng Hồ cũng viết hai cuốn sách để tự tâng bốc mình với bút hiệu Trần Dân Tiên và T. Lan. Trong cuốn “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hô Chủ Tịch”, Trần Dân Tiên không chỉ tự tâng bốc mình mà còn nói xấu các nhà cách mạng yêu nước tiền bối Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu, Hoàng Hoa Thám. Năm 1976, Đảng và Nhà Nước cộng sản đã công khai xác nhận Trần Dân Tiên là bút hiệu của Hồ Chí Minh.
Với cuốn sách nói trên và kỹ thuật tuyên truyền lợi hại hoạt động trong một môi trường dân trí chưa cao, CSVN đã dễ dàng biến Hồ Chí Minh thành một vị thánh sống với cặp mắt có hai con ngươi, với cuộc đời hy sinh trọn vẹn mọi lạc thú bản thân để dồn hết tâm lực cho đất nước.
Thật ra, trong đời hoạt động chính trị của ông, Hồ đã có rất nhiều đàn bà. Thời gian ở với cu Phan Chu Trinh tại Paris (1917-1923) Hồ có tới hai người tình nhân thắm thiết, một tên là Bourdon, và người thứ hai tên Marie Brière. Cô này vừa là đồng chí (đảng viên Đảng Xã Hội), vừa là người tình. Người vợ đầu tiên mà Hồ Chí Minh cưới năm (1926) là một phụ nữ Trung Hoa mang tên Tăng Tuyết Minh. Ăn ở với nhau được một năm thì Hồ Chí Minh bỏ vợ và không bao giờ gặp lại.
Ngoài những người đàn bà nói trên Ông còn ăn nằm với Lê Thị Tâm, vợ của Hồ Tùng Mậu khi ông này bị bắt, Nguyễn Thị Minh Khai, vợ của Lê Hồng Phong khi ông này mất tự do. Minh Khai sinh cho ông một bé gái đặt tên là Lê Hồng Minh, giao cho Dương Bạch Mai nuôi dưỡng.
Khi về nước hoạt động,(1941) ông ăn nằm với một nữ đồng chí tên Đỗ Thị Lạc, và có với nhau một người con gái. Ông cũng ăn nằm với nữ cán bộ hộ lý Nông Thị Trưng, sinh ra Nông Đức Mạnh, và người đẹp sơn cước Nông Thị Xuân, sinh cho ông một người con trai đặt tên là Nguyễn Tất Trung. Năm 1957 người ta phát giác xác chết của một phu nữ tại dốc Cổ Ngư (Hà Nội). Đưa vào bệnh viện, nhân diện là xác của cô Xuân. Khi phải đối mặt với những thực tế phũ phàng như vậy, mọi người cần giác ngộ. Giác ngộ để trả lại sự thật cho lịch sử và nới rộng phạm vi chân lý.
2014 MAY 19 TAI ƯƠNG CSVN
CSVN thường kể công bằng một số luận điểm quen thuộc để đánh lạc hướng nhận định của dư luận. Hồ Chí Minh xuất ngoại không phải là để tìm đường cứu nước mà chỉ là để tìm đường sống như nhiều người khác. Số phận đã đưa ông vào con đường chính trị khi ông đến Paris và xin ở cùng với cụ Phan Chu Trinh là một người bạn của bố ông.
Trong bối cảnh này, ông hoạt động trong nhóm mang tên Nguyễn Ái Quốc của các cụ Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền. Rồi ông trở thành đảng viên Đảng Xã Hội Pháp, và đến năm 1920 thì chọn đi theo cộng sản. Theo cộng sản, ông Hồ đã nhắm mắt thi hành sách lược của Đệ Tam Quốc Tế (QTCS) mà không màng gì đến quyền lợi của dân tộc.
Sau khi được kết nạp làm cán bộ thừa hành ăn lương của QTCS, năm 1924, Hồ Chí Minh được phái sang Hoa Nam công tác với nhiệm vụ thành lập một số đảng cộng sàn địa phương, chủ yếu là Đảng Cộng Sản Đông Dương. Từ Quảng Châu ông tìm cách xâm nhập Tâm Tâm Xã và Việt Nam Phục Quốc Hội của cụ Phan Bội Châu để sang đoạt tổ chức này. Hành động phản bội đầu tiên là tuyên truyền chủ thuyết cộng sản để đầu độc tư tưởng các nhà yêu nước trẻ tuổi và tách họ khỏi tổ chức của cụ Phan. Hành động phản bội thứ hai là âm mưu với tên Lâm Đức Thụ bán cụ Phan Bội Châu cho Pháp để loại bỏ một đối thủ chính trị và lấy tiền hoạt động cho tổ chức cộng sản đang trên đà thành lập. Hành động phản bội thứ ba là qua đường giây Lâm ĐứcThụ, báo cho Pháp bắt những nhà cách mạng dân tộc về nước sau khi huấn luyện. Bằng ba phương cách trên Hồ Chí Minh đã triệt hạ tổ chức yêu nước chân chính của cụ Phan Bội Châu và lập nên hạt nhân cộng sản tay sai cho Đệ Tam Quốc Tế dưới cái tên là Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội.
Năm 1938, khi được QTCS phái sang Hoa Nam lần thứ hai với nhiệm vụ chuẩn bị về nước cướp chính quyền, Hồ Chí Minh đã sang đoạt tổ chức Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội của cụ Hồ Học Lãm và lợi dụng tư thế chính trị của cụ Trương Bội Công để huận luyện binh sĩ, cán bộ. Với xảo thuật tuyên truyền cộng sản, ông Hồ đã làm suy yếu các lực lượng cách mang dân tộc chân chính này.
Hành động phản dân tộc, phản cách mạng nặng nhất của Hồ Chí Minh là ký kết Hiệp Định Sơ Bộ 6/3/1946 cho phép thực dân Pháp trở lại VIệt Nam để đổi lấy một lời hứa hẹn độc lập vu vơ. Hồ Chi Minh thi hành thủ đoạn này để có thời gian triệt hạ mọi lực lượng chống đối trong nước gồm có : Việt Cách, Việt Quốc, Đại Việt, Đệ Tứ Quốc Tế, các giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo và các nhân vật chế độ cũ. Thủ đoạn này cũng nhằm tạo chính danh lãnh đạo và sự công nhận quốc tế đối với chính quyền cộng sàn. Hậu quả là đã xảy ra “cuộc chiến chín năm” giữa hai loại thực dân cũ (Pháp) và mới (chi bộ Việt Nam của QTCS) và hai nền đô hộ chồng chéo đã giáng xuống đầu dân tộc.
Chiến thắng Điện Biên Phủ là do chiến lược cùa Bắc Kinh và do tài điều động quân sĩ của tướng Trung Cộng Vi Quốc Thanh chứ không phải công lao của Võ Nguyên Giáp. Tên tuổi của Võ Nguyên Giáp được đưa ra để tránh sự nhạy cảm có thể khiến Mỹ nhảy vào cuộc chiến như đả xảy ra trong chiến tranh Triều Tiên. Chính vì vậy mà khi Liên Xô, Trung Quốc, Anh Pháp quyết định ngưng chiến và chia đôi đất nước Hồ Chí Minh và Đảng CSVN đã không được tham dự và có tiếng nói trong cuộc chia cắt này. Làm như thế để không cho CSVN trở thành một lực lượng quá mạnh có thể kiểm soát toàn cõi Đông Dương.
Còn vụ đụng đầu lịch sử với Mỹ thì sự thật này phải được theo dõi trên hai bình diện quốc nội và quốc tế. Trên bình diện quốc nội, cuộc Tổng Công Kích-Tổng Khởi Nghĩa Tết Mậu Thân 1968 đã nói lên tất cả. Võ Nguyên Giáp đã “nướng” 55.000 quân trong chiến dịch hồ đồ này. Quân lực miền Nam đã đánh tan đoàn quân xâm lăng và đã làm thui chột ý chí bành trướng của Hà Nội. Hình ảnh hào hùng của các trận Quảng trị và An Lộc là những giấc mơ hãi hùng của kẻ đi chiếm đất Trên bình diện quốc tế, Mỹ bỏ miền Nam Việt Nam vì thay đổi chiến lược toàn cầu. Quyết định thay đổi đã xảy ra từ khi Thông Cáo Chung Thượng Hải được ký kết năm 1972. Kế hoạch khai tử nền cộng hòa miền Nam Việt Nam là miếng mồi nhử tẩm thuốc độc làm cho Lên Xô suy nhược và đi đến sụp đổ.
2014 MAY 19 TAI ƯƠNG CSVN
Có hai ý nghĩa trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Nếu vì độc lập dân tộc thì đó là một cuộc chiến chống thực dân. Còn nếu vì muốn xây dựng chế độ cộng sản thì đó là một cuộc chiến tranh chống tự do. Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản của ông đã lựa chọn con đường thứ hai. Con đường này đã được thực tiễn kiểm nghiệm và chứng nghiệm như là một thảm họa cho nhân loại. Đem thảm họa về cho dân tộc, Hồ Chí Minh và những người cộng sản đã có tội rất lớn đối với tổ quốc.
Giờ đây Hồ Chí Minh đã chết, nhưng Đảng Cộng Sản vẫn còn lây lất tồn tại đi theo giặc, để hại dân hại nước. Lúc này là cơ hội cuối cùng để họ phản tỉnh và chuộc tội. Hãy trở về đồng hành với dân tộc, hãy chia tay với “16 chữ vàng gian xảo”, hãy ly khai với chế độ toàn trị để tạo thế mạnh “cứu nước” và để dân tộc có thể nhanh chóng hội nhập thế giới văn minh. Đây vừa là lẽ phải vừa là mệnh lệnh của thời đại. 
Nguyễn Cao Quyền Tháng 6 năm 2014
www.vietthuc.org