Saturday, July 16, 2011

Tổng thống Mỹ tiếp Đức Đạt lai Lạt ma bất chấp phản đối của Bắc Kinh

Đức Đạt Lai Lạt Ma nhân chuyến đi Mỹ ngày 7/7/2011 (© Reuters)
Đức Đạt Lai Lạt Ma nhân chuyến đi Mỹ ngày 7/7/2011 (© Reuters)
 
Hôm nay 16/7/2011, tổng Thống Mỹ Barack Obama tiếp lãnh đạo tinh thần Tây Tạng lưu vong tại Nhà Trắng. Cuộc gặp diễn ra trong nửa tiếng đồng hồ tại « phòng bản đồ » và được thông báo vào giờ chót. Điều đó đã gây ra một phản ứng giận dữ từ phía Trung Quốc.
Bất chấp những lời cảnh báo của Trung Quốc, Tổng thống Mỹ vẫn tiếp kiến Đức Đạt lai Lạt ma tại Nhà Trắng vào ngày thứ bảy hôm nay. Theo thông cáo của phủ Tổng thống Hoa Kỳ, cuộc tiếp xúc này chứng tỏ lòng « gắn bó của Tổng thống trong việc bảo tồn bản sắc tôn giáo, văn hóa và ngôn ngữ Tây Tạng và quyết tâm hỗ trợ cho giải pháp đối thoại giữa đại diện của Đức Đạt lai Lạt ma và chính quyền Trung Quốc ».
Thông tin về quyết định tổ chức cuộc hội kiến giữa Tổng thống Mỹ và lãnh đạo tinh thần Tây tạng lưu vong chỉ được thông báo vào giờ chót vào lúc Đức Đạt Lai Lạt ma chuẩn bị rời Washington đi hoằng pháp ở các bang khác.
Đảng Cộng hòa, qua tuyên bố của dân biểu Chris Smith đã chỉ trích Nhà Trắng lẽ ra phải dứt khoát thông báo sớm hơn. Tuy chính quyền Obama có một số động thái xoa dịu tự ái của Bắc Kinh như tiếp lãnh đạo tinh thần Tây Tạng tại « phòng bản đồ » thế giới, không có báo chí tham dự nhưng Bắc Kinh vẫn tỏ thái độ giận dữ.
Sao nhiều lần « thuyết phục » không hiệu quả, bộ Ngoại giao Trung Quốc lập tức gởi điện văn phản đối và yêu cầu Hoa Kỳ phải hủy bỏ quyết định này. Phát ngôn viên Hồng Lỗi chỉ trích Mỹ « không trung thành với lời cam kết thừa nhận Tây tạng là lãnh thổ của Trung Quốc » và vẫn « can thiệp vào nội tình Trung Quốc ».
Mặt khác, dù tại Trung Quốc các bình luận chính trị bị kiểm duyệt chặt chẽ, vẫn có hàng loạt phản ứng đòi trả đũa Mỹ tràn ngập các trang mạng. AFP trích dẫn một số lời đe dọa tiêu biểu như : Hoa Kỳ không bao giờ tôn trọng Trung Quốc. Hãy bán công trái phiếu cho Hoa Kỳ vỡ nợ. Cấm Obama đặt chân đến Trung Quốc đến mãn đời …
Trong khi đó tại Tây Tạng, vào lúc chính quyền Trung Quốc chuẩn bị đại lễ 60 năm đánh chiếm vùng đất Phật mà Bắc Kinh gọi là « giải phóng hòa bình », du khách nước ngoài bị cấm lên thăm Tây Tạng trong vòng hai tháng từ tháng 6 cho đến hết tháng 7. Đường bộ cũng bị kiểm soát chặt chẽ. Tin này đã được các hiệp hội nhân quyền loan báo từ nhiều tuần qua và vừa được hãng tin AFP kiểm chứng xác nhận.

RFI

Lãnh đạo quân Mỹ nghi ngờ động cơ TQ

Đô đốc Mike Mullen (Hình: AP)
Đô đốc Mike Mullen phát biểu trong buổi họp báo ở Tokyo. 

Quan chức quân sự hàng đầu của Hoa Kỳ, người kết thúc không lâu chuyến thăm Trung Quốc và mới tới Nhật Bản, cho biết khác biệt giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc là rõ rệt và "hiểu biết lẫn nhau nhiều hơn" là điều cần thiết nếu hai bên muốn phát triển một mối quan hệ tin cậy.
Đô đốc Mike Mullen, Chủ tịch hội đồng tham mưu trưởng Liên quân Hoa Kỳ, phát biểu tại Tokyo hôm thứ Sáu, cho hay ông tin rằng chuyến thăm gần đây tới Trung Quốc đã giúp cải thiện giao tiếp và các mối quan hệ quân sự giữa Hoa Kỳ và cường quốc châu Á đang phát triển nhanh chóng này.
Thế nhưng lãnh đạo quân sự Hoa Kỳ nói thêm rằng sự tăng trưởng sức mạnh quân sự củaTrung Quốc là một vấn đề "quan ngại nghiêm trọng."
Và ông Mullen cũng cho rằng "hiện vẫn còn quá sớm" để nhận định liệu việc tăng tốc quân sự của Trung Quốc chỉ để phục vụ "mục tiêu đơn thuần là quốc phòng" hay không, như tuyên bố của quốc gia cộng sản này.
Ông Mullen đến thăm Nhật Bản sau khi ở thăm gần bốn ngày tại Trung Quốc và Hàn Quốc.
Chủ tịch hội đồng tham mưu trưởng Liên quân Hoa Kỳ đã đưa ra các nhận xét trên tại một cuộc họp báo ở Nhật Bản sau chuyến thăm Trung Quốc và đồng minh ở khu vực, Hàn Quốc.
'Chặng đường dài'
Đô đốc Mike Mullen (Hình: AP)
Đô đốc Mullen thăm các đơn vị Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc (Hình: AP.)
Đề cập đến Trung Quốc, tướng Mullen nói: "Chúng tôi bắt đầu xây dựng một mức độ tin cậy. Hiện vẫn còn cả một chặng đường dài."
"Tôi hiểu rõ điều đó. Và tôi không hề ảo tưởng rằng chúng tôi đã hàn gắn được một thứ gì đó như là quan hệ đối tác với Quân Giải Phóng Nhân dân TQ (PLA,)
"Có lẽ chúng tôi sẽ không bao giờ làm được điều đó.
"Sự khác biệt giữa chúng tôi vẫn còn lại một cách hoàn toàn, nhưng việc thiết lập một mối quan hệ phải bắt đầu ở một điểm nào đó."
Trước đó, tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc phê phán việc Hoa Kỳ có những cuộc tập trận chung ở Biển Đông.
Trong cuộc họp báo chung với Tổng tham mưu trưởng liên quân Hoa Kỳ Mike Mullen ở Bắc Kinh, Tướng Trần Bỉnh Đức có vẻ ám chỉ các cuộc tập trận hải quân gần đây của Mỹ với Philippines, Nhật và Úc.
Tại cuộc họp báo hôm 11/7, Tướng Trần Bỉnh Đức nói các cuộc tập trận chung là "không phù hợp".
Ông Mike Mullen là tổng tham mưu trưởng liên quân Mỹ đầu tiên thăm Trung Quốc kể từ năm 2007 và chuyến thăm của ông diễn ra trong bối cảnh mà các nhà báo nói là quan hệ quân sự giữa hai bên lại một lần nữa bị thử thách qua vấn đề Biển Đông.
Trước chuyến thăm các nước khu vực Đông Á của ông Mullen không lâu, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, Robert Gates, từng cảnh báo hồi tháng Sáu rằng các cuộc đụng độ có thể nổ ra ở trong vùng Biển Đông, trừ khi các quốc gia có tranh chấp lãnh hải, thông qua được một cơ chế giải quyết tranh chấp của họ một cách hòa bình.

BBC

Bình Sơn – Lý Sơn với Hoàng Sa – Trường Sa: Đầu bò thụt lưỡi - Đoàn Nam Sinh

Dâng tặng bà con ngư dân Bình Sơn – Lý Sơn

Cù lao Ré thuộc huyện Bình Sơn, phủ Thăng Hoa, Quảng Nam từ thời Hậu Lê. Nay là huyện đảo Lý sơn thuộc tỉnh Quảng Ngãi. Tên Ré đã khiến ta liên tưởng ngay tới H’rê, một tộc người bản địa góp công chính yếu xếp đá xây dựng Trường Lũy Quảng Ngãi hơn 200 km. Cách xếp đá tại Cổ Lũy ngay cửa Thu Xà của sông Trà Khúc cũng cùng phong cách xếp đá cổ trên đảo Lý Sơn. Hơn nữa, những hiện vật khảo cổ tại xóm Ốc, suối Chình cũng đồng đại với hiện vật Sa Huỳnh và mang đậm dấu ấn biển, giao thương với Mã lai – Đa đảo (Malayo-Polynesian).
Chắc chắn rằng từ trước khi biển tiến, Cù lao Ré là một đỉnh cao do phun trào hỏa sơn trên phần sát biển cũ của dải đất này, nên về sau dù bị biển cách ngăn, Lý Sơn vẫn gắn liền nhịp sống với cảng Sa Kỳ (Bình Châu), cảng Vũng Quýt (Dung Quất – Bình sơn), cảng Kỳ Hà (Tam Kỳ) và cả Sa huỳnh (Đức Phổ).
Những tư liệu cổ địa chất cho ta biết trong cuộc tạo sơn vĩ đại lần sau, có thể do sự va chạm của các mảnh lục địa trôi giạt mà ngày nay được làm sáng tỏ hơn bởi lý thuyết kiến tạo mảng, đã hình thành khối nâng kỳ dị là Cao nguyên Trung phần – Tây Nguyên với sơn khối Ngọk Linh bao gồm bốn tỉnh Quảng Ngãi, Quảng Nam, Gia Lai và Kon Tum, với đỉnh cao Ngọk Linh, Kon Tum (2.598 mét). Đối diện với sơn khối này, là một vực sâu thoai thoải dần từ bờ biển Quảng Ngãi đến đáy lòng chảo hơn 5.400 mét sâu của biển tâyPhilippines.
Những dãy núi đá cổ chìm sâu trong lòng biển phát triển theo chiều hướng Tây Nam lên Đông Bắc kéo dài từ ngoài khơi đảo Lý Sơn thẳng tới quần đảo Hoàng Sa (Paracel) cho thấy sự liên tục địa hình, khác với thực địa của đảo Hải Nam và xa hơn, lân cận Hồng Kông, Ma Cao chỉ cần ra xa khơi không quá 200 hải lý, từ mực 200 mét là dốc ngay xuống vực sâu 1.140 mét rồi 2.500 mét và sâu hơn nữa.
Thềm lục địa Biển Đông (Bản đồ vệ tinh Google)
Thềm lục địa Biển Đông (Bản đồ vệ tinh Google)
Trường hợp tương tự, dịch về phía Nam, biển Bình Thuận, Bà Rịa – Vũng Tàu cũng có thềm lục địa khá bằng phẳng cho thấy rằng từ Bà Rịa – cù lao Thu (đảo Phú Quý) – quần đảo Trường sa (Spatley) nằm trên cùng một vĩ độ. Từ vùng biển ngoài khơi phía đông Côn Đảo là một dải liên tục thấp dần rồi thoải ra Trường Sa, cũng những dãy núi lửa cổ như đá ngầm và chóp cao phủ kín san hô phát triển theo cùng một hướng như đã mô tả.
Những tư liệu mới về một lục địa Sundaland rộng lớn trong suốt kỷ Băng hà (thuộc mảng kiến tạo Sunda hay Sonde, gồm cả vùng sông Dương Tử) đã bị chìm ngập khi băng tan biển tiến tạo nên những bến bờ như ngày nay, đã được mô tả tỉ mỉ bởi Emmel và Curray, 1982.
Lục địa cổ Sunda và Sahul (Bản đồ trên Wikipedia)
Lục địa cổ Sunda và Sahul (Bản đồ trên Wikipedia)
 Những nghiên cứu về bào tử phấn hoa trong đất dưới lòng biển thuộc vùng nước thấp cho thấy sự diễn thế của các loài thực vật từ Hymalaya theo ngã Trường sơn ViệtNamcũng đã lan xuống Bornéo. Những công bố di truyền học mới nhất cho thấy loài người đã từng sinh tụ đông đúc trên lục địa này khoảng 50.000 năm trước, phủ nhận giả thuyết về những dòng người di cư từ Formosa (Đài Loan) lan xuống khoảng 10.000 năm trước đây, mà một số khoa học gia như P. Bellwood theo đuổi. (S. Oppenheimer, 2008). Hơn nữa, ngôn ngữ của vùng Mã lai – Đa đảo có những điểm tương đồng với thổ dân lục địa cổ Sahul, nay là châu Úc.
Điều đó minh chứng rằng không có sự phụ thuộc nào của các quần đảo ngoài khơi Biển Đông Việt Nam với Hoa lục, kể từ cổ đại đến nay cả về cấu tạo địa lý tự nhiên cho đến chủng tộc, ngôn ngữ. Trong khi đó, nhiều cứ liệu hiển nhiên chứng minh ít nhất một trong những tộc người hải đảo đó nay vẫn còn sinh tụ ở đông Trường sơn ViệtNam. Họ đã hòa huyết vào cư dân Lý Sơn từ xa xưa.
Trong tiềm thức dân chài Bình Sơn – Lý Sơn ngày nay không thể xóa đi được văn hóa biển cổ xưa, họ dùng vật dụng bằng vỏ sò ốc, ăn những loài tảo biển được chế biến thành nhiều món ngon, ăn tôm cá mực tươi luộc bằng chính nước biển,… Ngay cả cây trồng cũng có hương vị riêng nhờ bón phân tảo biển, phủ đất trồng tỏi bằng vụn san hô,… Đặc biệt là mộ táng xưa của họ mang hình chóp đảo, khác hẳn cách đắp nấm mộ của cư dân ven bờ.
Những chuyến đi khơi xa ra Hoàng sa – Trường sa họ tâm niệm: …đi khơi là viếng về bờ là thăm… Có biết bao Thuyền trưởng kiếm sống ở Trường Sa, nhưng họ cũng không thể giải thích vì sao lại phải ngoặc tay lái lên Hoàng Sa. Ở đó, không chỉ từ khi có Hải đội Hoàng Sa oai hùng ra đi không về, nay còn giữ lệ tế hàng năm Khao lề thế Lính, mà trước rất xa có lẽ từ chưa có sử đã là vùng đất, vùng biển tâm linh có hồn thiêng sông núi, cha ông của họ.
Trong cổ sử, trích đoạn này trên báo Đất Việt số gần đây cũng cho thấy:
“…Tư liệu từ triều nhà Hồ trở về trước đã bị mất mát, phá hoại rất nhiều vào thời giặc Minh xâm lược nước ta nhưng việc Lê Thánh Tông cho lập bản đồ toàn quốc gọi chung là Hồng Đức bản đồ vào năm Canh Tuất (1490), trong đó có cả Hoàng Sa và Trường Sa, điều này cho thấy trước đó hai quần đảo này đã thuộc chủ quyền Đại Việt và nhà Hậu Lê sau khi chiến thắng quân Minh, đã hết sức quan tâm tới việc xác lập biên giới quốc gia, khẳng định chủ quyền lãnh thổ trong đó có vùng biển, đảo.
Căn cứ vào Hồng Đức bản đồ, nho sinh Đỗ Bá (tự Công Đạo) đã soạn ra bộ sách Toàn tập Thiên nam tứ chí lộ đồ thư (1630 – 1653), ở quyển 1 có thể hiện địa mạo phủ Quảng Ngãi, phần chú thích trên bản đồ có nói tới Bãi Cát Vàng tức quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ngày nay: “Giữa biển có một dải cát dài, gọi là Bãi Cát Vàng, dài độ 400 dặm, rộng 20 dặm, dựng đứng giữa biển” và có một bản đồ vẽ nhóm đảo thuộc Quảng Ngãi, phủ Thăng Hoa với chú thích chữ Nôm là “Bãi Cát Vàng”.
Toàn tập Thiên nam tứ chí lộ đồ thư theo lệnh của Chúa Trịnh những năm Chính Hòa (1689-1705) là văn kiện chính thức của Nhà nước phong kiến bấy giờ. “Bãi Cát Vàng” được ghi chú trong bản đồ phản ánh việc thực thi chủ quyền của Nhà nước phong kiến Việt Nam trên biển Đông trong đó có Hoàng Sa và Trường Sa – muộn nhất là vào thế kỷ thứ XV.
Cũng theo Thiên nam lộ đồ, bản đồ xứ Quảng Nam đời Lê, được vẽ lại năm 1741 (bản sao chép của Dumoutier), có “Bãi cát vàng” – tức Hoàng Sa ngày nay…”.
Các vua thời nhà Nguyễn hiển nhiên đã dựa vào những tư liệu có trước và tình hình thực tế mà lập ra Hải đội Hoàng Sa kiêm quản Trường Sa, giao cho Quảng Ngãi mà cụ thể là Bình Sơn – Lý Sơn thực hiện thường trực, lâu dài nhiệm vụ gìn giữ bờ cõi.
Ta thử hỏi tại sao lại chỉ là Quảng Ngãi thì câu trả lời quá rõ ràng, dân chài Bình sơn – Lý sơn thông thuộc thủy lộ hơn dân chài của các vùng biển khác nhờ vào vị trí địa-kinh tế, địa-văn hóa lâu đời. Đó chính là thềm lục địa có độ dốc ít, chỉ thoải dần ra biển sâu nên sóng gió nhẹ, dòng chảy của hai dòng hải lưu đối chiều Gulf Stream (dòng Vịnh) và Kuroshio (dòng Nhật bản) không xiết, đặc biệt là những dòng chảy rối do các dãy núi đá ngầm đã định hướng đường đi thẳng Tây Nam- Đông Bắc từ Lý Sơn tới Hoàng Sa. Tương tự, hải trình từ Côn Đảo hay Phú Quý ra Trường Sa cũng có những thuận lợi như vậy. Điều ấy cũng nói lên từ xa xưa, các triều đại của ViệtNamđã nắm chắc được độ sâu cạn của lòng biển và quy luật hải hành.
Trời đất đã trao cho đất nước ta hai cửa ngõ hành lang tuyệt vời để tiến ra biển xa gìn giữ những đảo thiêng, như giữ lấy cội nguồn vĩnh cửu. Quả đúng là: …Tiệt nhiên định phận tại thiên thư,…
Nhớ lại năm trước, ngày 27 tháng 8, tờ Bưu điện Hoa nam Buổi sáng đăng tin Trung quốc đã dùng tàu ngầm cắm lá cờ Trung quốc xuống đáy Biển Đông. Trích bài viết của Stephen Chen:
Tàu ngầm Trung Quốc cắm một lá cờ quốc gia sâu dưới đáy Biển Đông trong thời gian lặn thử nghiệm hồi tháng trước để củng cố tuyên bố lãnh thổ Trung Quốc, người thiết kế con tàu cho biết hôm qua.
Bộ Khoa học Công nghệ và Cơ quan Quản lý đại dương Nhà nước Trung Quốc cùng tuyên bố hôm qua rằng, một tàu ngầm nghiên cứu khoa học Trung Quốc với thủy thủ đoàn gồm ba thành viên dân sự đã khám phá địa hình không rõ ở vị trí nào, ở độ sâu hơn 3.700 mét tại trung tâm Biển Đông. Trước khi nổi lên trên mặt nước, họ đã cắm một lá cờ Trung Quốc dưới đáy đại dương.
Thông báo chính thức đã không cho biết vị trí, nhưng Giáo sư Zhao Junhai, người thiết kế chính của chiếc tàu ngầm cho biết, nó nằm ở phía Đông Nam của đảo Hải Nam, giữa Trung Quốc và Philippines.
Ông Zhao, kỹ sư thuộc Trung tâm nghiên cứu khoa học tàu bè Trung Quốc, người thiết kế thân tàu ngầm, cho biết: “Chúng tôi được truyền cảm hứng từ người Nga, đã cắm một lá cờ ở Bắc Cực bằng tàu ngầm MIR [sâu dưới đáy đại dương]. Nó có thể khiêu khích một số nước, nhưng chúng tôi sẽ không gặp trở ngại gì. Biển Nam Trung Hoa [Biển Đông] thuộc về Trung Quốc. Hãy xem người nào dám thách thức điều đó”.
Trung Quốc cho thấy ngày càng kiên quyết sử dụng ưu thế vượt trội trên vùng biển giàu tài nguyên và có vị trí chiến lược quan trọng, vùng biển mà một số nước láng giềng tuyên bố chủ quyền.
Giáo sư Zhao đã lầm khi tuyên bố như thế, vì sự kiện nước Nga cắm cờ dưới đáy biển Bắc Băng dương là dựa trên cơ sở thềm lục địa liên tục từ nước Nga theo dãy núi ngầm Lomonoxov. Mặc dù vậy, Đan Mạch đang lên tiếng khẳng định rằng dãy núi này thuộc lãnh thổGreenlandcủa họ. Cuộc đua này đã kéo cả Mỹ, Anh, Canada tham gia vì băng tan đã làm cho điều kiện tiếp cận Bắc Cực thuận tiện hơn trước, nơi mà dự đoán có một số lượng rất lớn những nguồn tài nguyên quan trọng.
Luật Biển hiện nay trao cho các quốc gia một vùng kinh tế rộng 200 hải lý tính từ đường biên giới trên bộ của họ. Vùng này có thể được mở rộng tới nơi mà một nước có thể chứng minh cấu trúc của thềm lục địa tương tự cấu trúc địa chất trong lãnh thổ của nước đó. Như vậy, chỉ có Việt Nam, Malaysia, Indonesia, Bruney, Philippines là có thể thỏa mãn được những điều kiện của Công ước về Luật Biển đối với quần đảo Trường Sa.
Tiếc thay cho Trung Quốc, từ lục địa xuống Biển Đông chỉ là vực thẳm mà cấu trúc thềm lục địa bị chấm dứt và đổi khác về chất quá rõ. Có dãy núi, dải đất nào nối Hoa Lục với Hoàng Sa – chứng cớ, tung tin giả dối và dùng vũ lực để… ăn cướp, trấn lột nhằm tạo ra cơ sở “hợp pháp”.
Học giới phù trợ cho “cái đầu bò mộng” đang gằm mặt giương sừng gọng kìm hung hăng húc xuống phương Nam, liệu có còn sở cứ gì giúp cho “cái lưỡi” ngoài biển Đông đang ngắc ngoải kia không? Hay lại chỉ có một “bài học” cũ muốn mang ra “dạy lại” ViệtNamđể chuốc lấy ô nhục muôn đời? Chắc chắn rằng họ chẳng thể chơi dại ngoài việc dụng kế tằm ăn dâu, làm suy kiệt nền kinh tế buộc lệ thuộc toàn diện và mua chuộc sự đồng thuận bằng kế sách đàm phán song phương.
Ngoài âm mưu dùng cảng Khe Gà, Bình Thuận để “sói gửi một chân vào nhà thỏ” qua việc đầu tư cho TKV khai thác bô-xít và chân thứ hai do “nhà đầu tư” Quảng Liên đặt lên hơn 500 ha có 23 ha cảng biển chuyên dụng ở xã Bình Đông thuộc huyện Bình Sơn, cạnh Dung Quất, Quảng Ngãi – nơi mà vừa mới đây rộ lên tin “thú lạ” xơi hết hàng chục bộ thủ cấp và nội tạng chó nhà trong một đêm, song đến nay vẫn không có kết luận.
Hai điểm quan yếu này nếu để cho đối phương đầu tư hay thuê mướn dài hạn sẽ chính là cột mốc tranh chấp chủ quyền Biển Đông ngay trước hiên nhà. Nên việc giữ được toàn vẹn chủ quyền trên bờ biển Nam – Ngãi sẽ giúp cho đời sau còn có cơ thu hồi lại Hoàng Sa khi nước nhà phát triển và đại bá suy tàn, ngược lại ta sẽ mất tất cả.
Nói như vậy, để nhắc nhớ một hiện trạng rằng xen kẽ vào dãi cát dài ven biển từ Chân Mây qua Ngũ Hành Sơn tới Tam Kỳ, từ rừng Phú Giáo ở Bình Dương đã cho thuê tới rừng sinh quyển Cần Giờ cũng đã chấp thuận đầu tư (chỉ 65 triệu USD); và còn cả những vị trí sinh tử khác ven biển Bà Rịa, Vũng Tàu, Côn Đảo hay suốt dải cát qua các cảng Sa Huỳnh, Đà Di, Đà Nông,… cũng phải lưu tâm.
Sài gòn, ngày 15/7/2011
Đ.N.S.
Tác giả gửi trực tiếp cho BVN. 

e-mail

Khẩn : Thêm một tàu đánh cá Việt nam bị hải quân Trung Quốc tấn công

Bị Trung Quốc sách nhiễu, ngư dân Việt ngày càng gặp khó khăn (DR)
Bị Trung Quốc sách nhiễu, ngư dân Việt ngày càng gặp khó khăn (DR)
Tú Anh
 
Theo báo Thanh Niên, một chiếc thuyền đánh cá thuộc tỉnh Phú Yên, PY-90368TS do ông Võ Văn Tú làm thuyền trưởng cùng với 8 thuyền viên bị "hải quân nước ngoài" bắt giữ tại ngư trường Trường Sa ngày 13/07. Nhờ một chiếc tàu đi cùng gọi điện về cho gia đình thuyền trưởng gặp nạn, nên tin này mới lọt về đất liền.
Lực lượng biên phòng Phú Yên cho biết là « đang xác minh » thông tin này. Gia đình và thân nhân của những ngư dân bị nạn thì lên tiếng kêu cứu. Hiện giờ, vẫn chưa rõ số phận của chiếc tàu cá này ra sao. Theo một số nguồn tin địa phương, đây là lần thứ ba trong vòng một tuần lễ tàu cá Việt Nam bị Trung Quốc trấn áp.
Chính quyền huyện Đức Phổ, tỉnh Quãng Ngãi, cách nay hai hôm đã xác nhận một chiếc tàu cá của ngư dân Nguyễn Thừa đã bị « tàu chiến Trung Quốc mang số hiệu 44861 cướp hải sản, đánh đập và rượt đuổi » tại vùng Hoàng Sa ngày 5/07/2011. Cả hai chiếc tàu gặp nạn Trung Quốc đều chưa trở về đất liền và vẫn chưa biết số phận ra sao.

Nhà báo Thanh Thảo, Quảng Ngãi
 
16/07/2011
 
 

Nhiều người dân địa phương cho rằng đây là mưu kế của Trung Quốc vừa biến ngư dân Việt Nam thành vô sản, vừa chiếm gọn toàn vùng biển đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Để tìm hiểu thêm, RFI đã đặt câu hỏi với nhà báo Thanh Thảo từ Quảng Ngãi.

NHỮNG TỬ HUYỆT CỦA CON RỒNG ĐỎ TRUNG CỘNG

I. NHỮNG ĐẬP NƯỚC TRÊN THƯỢNG NGUỒN SÔNG MEKONG:
Con sông Mekong bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng, chảy dài trên 6.380 km qua 6 quốc gia: Trung Cộng, Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam là nguồn sống của cả 100 triệu người ở các quốc gia hạ nguồn như Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam. Sông Mekong có tới 1.245 loại cá, chỉ đứng sau sông Amazon ở Nam Mỹ. Hàng năm, có đến 2 triệu tấn cá được đánh bắt ở các quốc gia hạ nguồn. Riêng tại Biển Hồ (Tonle Sap) ở Camphuchia cũng đánh bắt được 400.000 tấn thủy sản để xuất cảng, có nhiều loại cá bông lau nặng tới 300 kg. Việc Trung Cộng liên tục xây dựng nhiều đập thủy điện trên sông Mekong, bất chấp hậu quả vô cùng tai hại mà báo chí Thái Lan gọi là chính sách “THE WHITE COAL” nhằm thao túng và gây áp lực chính trị với các quốc gia dưới hạ nguồn. Thái Lan gọi đó “THE RAP OF A RIVER”. Còn phía Việt Nam cũng than phiền về việc các đập thủy điện của Trung Cộng làm giảm lưu lượng nước và vì thế nước biển tràn vào ĐBSCL nơi sản xuất lúa gạo chiếm một nửa của VN.
Phía tổ chúc RIVERS WATCH ESE qua đề tài “A RIVER OF CONTROVERSY”  có nhận xét: “Về tổng quát, quốc gia ở thượng nguồn thường không cho các nước ở hạ nguồn hay về thời điểm và số lưu lượng nước được tháo ra, vì thế đã tạo ra tình trạng hạn hán hay ngập lụt gây ảnh hưởng tai hại đến mùa màng” (In general, governments upstream of a dam do not inform downstream communities about the quantities and timing of water releases. This has caused serious droughts, floods and overall agricultural losses in many cases).
Theo bản tin của AFP từ Bangkok vào ngày 16.11.04 với tiêu đề “ASIA’S MEKONG RIVER UNDER THREAT FROM CHINA: EXPERTS” cho biết: Phát ngôn viên của tổ chức bảo vệ sinh thái TERRY, qui tụ trên 200 chuyên viên quốc tế về môi trường họp tại Bangkok ngày 15/11/2004 đã lên tiếng báo động về một hiểm họa do Trung Cộng gây ra qua việc xây 8 đập ở thuợng nguồn, cũng như mìn phá các gềnh đá trên sông Mekong cho tàu bè di chuyển đã hủy hoại nguồn cá trên sông và làm ô nhiễm môi trường chứ không phải do thời tiết gây ra.
Phía tổ chức Phát triển LHQ / UNDP trong bản báo cáo “MEKONG RIVER DEVELOPMENT MAY TRIGGER CONFLICT” có đưa ra nhận định như sau: “Quốc gia ở hạ nguồn như Việt Nam bị ảnh hưởng trực tiếp mỗi khi có sự tăng giảm mực nước. Mùa khô sẽ làm cho nước mặn tràn vào và như thế sẽ gây hư hại cho mùa màng canh tác dọc theo hai bờ sông.
Ngoài ra, vào ngày 24/6/2004, 12 tổ chức và 30 khoa học gia và giáo sư đại học về các lãnh vực môi sinh trên toàn thế giới, cùng ký chung một lá thư gởi Ôn Gia Bảo yêu cầu các công ty Trung Cộng ngưng phá rừng lấy gỗ thuộc phạm vi Miến Điện, nơi giáp biên giới với Trung Cộng. Trong khi đó, Miến Điện được coi như là thuộc địa của Trung Cộng. Theo tờ Trung Báo số ra ngày14/12/2001, đã có trên 2,5 triệu người Hoa là dân nhập cư đang sinh sống tại Miến Điện (there are now about 2.5 million Chinese residents living in Myanmar) theo kế hoạch di dân và lấn chiếm của Trung Cộng, sách lược nầy đang được Trung Cộng áp dụng vô cùng hiệu quả tại Việt Nam.
Theo tài liệu chính thức của Tỉnh Ủy Vân Nam năm 1995 (mekongriver.org/mpchindam.jpg). Trung Cộng đã xây dựng hoàn tất một chuỗi 14 con đập thềm Vân Nam trên dòng chính sông Mekong, bắt đầu từ thượng nguồn: Liutongsiang, Jiabi,Wunenglong, Tuoba, Huangdeng, Tiemenkan, Guongguooio, Xiaowan, Manwan, Dachaoshan, Nuozhado, Jinghong, Gunlanba, Mongsong. Chính những con đập nầy đe dọa nghiêm trọng đời sống cả trăm triệu nông dân và ngư dân Đông Nam Á trong thập niên nầy.
Nhà nghiên cứu người Úc NEWTON OSBORE nhận định: hậu quả việc Trung Cộng chiếm đoạt nguồn nước bằng cách xây những đập sông nầy, làm nước sông Mekong xuống thấp kỷ lục trong mùa khô. Lượng đánh bắt cá ở Biển Hồ giảm phân nửa. Riêng tại vùng ĐBSCL nguồn nước và thủy sản đã giảm hẳn, cả lượng phù sa cũng vậy. Theo ông Osbore, sông Mekong đang đặt trong tình trạng hết sức nguy hiểm, ảnh hưởng trực tiếp Thái Lan, Lào, Cam Bốt và Việt Nam.
Cũng theo tư liệu của MEKONG RIVER COMMISION vào mùa khô, mực nước sông Mekong xuống thấp, lưu lượng trung bình giảm từ 50.000 m3/s. Nếu các đập thượng nguồn sông Mekong không chịu tháo nước lúc hạn hán, hậu quả sẽ vô cùng trầm trọng ở các quốc gia hạ nguồn. Vùng ĐBSCL đã và đang bị nhiễm mặn và nhiều cánh đồng bao la không canh tác được vì nguồn nước bị nhiễm mặn hoặc thiếu nước để trồng trọt vì các hồ chứa nước ở các đập thượng nguồn giữ lại phù sa.
Báo Bangkok Post cho biết mực nước sông Mekong chảy qua Thái Lan đang giảm nguy kịch, làm nhiều tàu hàng không lưu thông nổi và mắc cạn trên những doi cát dài từ 1 km đến 3 km phơi ra trên dòng sông. Nếu Trung Cộng không chịu xả nước ở thượng nguồn, ngành vận tải đường thủy của Thái Lan sẽ phải ngưng hoạt động hoàn toàn.
Theo báo THE AGE, cách đây 3 thập niên, Mekong còn là một trong những dòng sông chưa ai đụng tới. Nhưng, ngày nay đã trở thành một dòng sông có nhiều đập nước khổng lồ nhất thế giới với hơn 100 đập nước, kênh chuyển nước và các dự án thủy lợi.
Mạng lưới “QUỐC TẾ SÔNG NGÒI ĐÔNG NAM Á” (SEARIN), một tổ chức bảo vệ môi sinh, đã góp tiếng nói với các quốc gia vùng hạ lưu sông Mekong, đổ lỗi cho các đập thủy điện do Trung Cộng xây dựng bừa bãi ở thượng nguồn là nguyên nhân gây ra tình trạng nầy. Ông Jeerasak, một ngư phủ đến từ vùng Chang Rai nói rằng: “Lợi tức của ngư phủ vùng Chang Rai trung bình vào khoảng 40.000 bath / năm (4.000 USD), bây giờ chỉ còn khoảng 10.000 bath / năm; bởi vì, nguồn cá sông Mekong bắt đầu cạn kiệt thê thảm”.
Đặc phái viên của LE FIRAGO đã đến một làng chài ở Thái Lan tại Chiang Khong, dân làng bất lực nhìn dòng sông Mekong đang cạn dần. Chỉ còn một ngư dân già nua quăng lưới, trong thuyền của ông chỉ có mỗi con cá nhỏ. Ngư dân già 71 tuổi nầy bực tức nói: “Không có nước làm sao có cá! Hồi xưa, mực nước sông Mekong lên xuống tùy theo mùa, còn bây giờ thì tùy theo lượng nước mà người Trung Hoa cần.” Bài xã luận trên tờ Bangkok cũng khẳng định: “CÁC ĐẬP THỦY ĐIỆN TRUNG CỘNG GIẾT CHẾT DÒNG SÔNG MEKONG!” và triệt luôn cả nguồn sống cả trăm triệu người nghèo khổ sống nhờ vào sông Mekong phía dưới hạ nguồn.
Nhà sinh thái học Montree Changtavong thuộc hiệp hội TERRA đưa ra biểu đồ chứng minh việc Trung Cộng bí mật điều chỉnh lưu lượng nước theo nhu cầu lợi ích kinh tế của các nhà máy thủy điện. Từ hai thập niên qua, ông đã theo dõi dao động của mực nước ở tỉnh Chiang Saen, một ngôi làng ở khu vực “Tam giác vàng”, nơi mà mực nước lệ thuộc vào Trung Cộng đến 95%. Ông đặt câu hỏi: “Làm thế nào giải thích được hiện tượng nầy ngay giữa mùa khô, chẳng có cơn mưa nào mà mực nước dâng cao, nếu không phải là do các đập thủy điện Trung Cộng xả nước?” Rõ ràng, Trung Cộng độc chiếm dòng sông Mekong, mặc tình thao túng chẳng cần tham khảo các nước láng giềng, bất chấp số phận của cả trăm triệu nông dân và ngư phủ sống dọc theo bờ sông Mekong dưới hạ nguồn.
Bác sỹ Ngô Thế Vinh, tác giả cuốn: “CỬU LONG CẠN DÒNG, BIỂN ĐÔNG DẬY SÓNG”, người nhiều năm nay luôn lên tiếng báo động ảnh hưởng vô cùng nguy hại việc Trung Cộng xây cất bừa bãi các đập khổng lồ tên đoạn sông Mekong chảy qua thượng nguồn tỉnh Vân Nam. Ông tiên đoán trong vòng 100 năm sau có còn vùng ĐBSCL nữa hay không? Thật vậy, ĐBSCL đang bị nước mặn xâm nhận hằng name, ngày càng lấn sâu vào trong đất liền và độ mặn càng ngày càng tăng cao, đe dọa trầm trọng đến việc sản xuất lúa gạo và hoa màu, nó còn là dựa lúa hơn phân nữa sản lượng lúa gạo của Việt Nam. Hằng năm, tổng hợp các tin tức trong nước, hầu hết các con sông lớn như sông Tiền, sông Hậu…nước mặn từ ngoài biển đã đã tràn vào rất sâu đến khu vực gần biên giới với Campuchia.
Qua việc nhiều dân làng sống bên dòng sông Mekong đã quyết định biểu tình trước đại sứ quán Trung Cộng ở Bangkok, phản đối thái độ thiếu minh bạch và vô trách nhiệm của chính quyền Trung Cộng, cho dù Bắc Kinh vẫn từ chối tham gia “ỦY BAN SÔNG MEKONG”. Nhà hoạt động xã hội CARL MIDDLETON đưa ra kết luận rất chính xác: “VIỆC XÂY DỰNG TRÀN LAN CÁC ĐẬP THỦY ĐIỆN TRÊN DÒNG SÔNG MEKONG, CÓ THỂ DẪN ĐẾN CUỘC XUNG ĐỘT QUỐC TẾ”. Chính vì lý do nầy, khiến cho Hoa Kỳ phải lên tiếng cảnh báo việc Trung Cộng xây dựng các đập thủy điện trên thượng nguồn sông Mekong.
Tờ Asia Times cho biết, Trung tâm STIMSON tại Washington – một cơ quan tham vấn của Hoa Kỳ về các vấn đề anh ninh toàn cầu – đã lên tiếng báo động: Trung Cộng với những kế hoạch xây đập thủy điện trên thượng nguồn sông Mekong có nguy cơ trở thành “SÔNG TRUNG CỘNG”.
Giám đốc chương trình Stimson là ông RICHARD CRONIN đã tuyên bố trong một cuộc hội thảo tại trường Đại học Chulalongkorn ở Bangkok rằng: “Các đập thủy điện trên thượng nguồn sông Mekong sẽ tác hại đến vấn đề an ninh lương thực”. Giáo sư Ukrit Pathmanand cũng cảnh báo: các đập trên thượng nguồn sông Mekong sẽ dẫn đến bất ổn xã hội do việc người dân sống ở hạ nguồn sông Mekong mất nguồn thu nhập từ việc đánh bắt thủy sản và vì giảm diện tích đất đai canh tác. Chính những lý do nầy khiến Hoa Kỳ phải nhập cuộc.
II. CHIẾN LƯỢC CỦA HOA KY: HỢP TÁC VỚI CÁC QUỐC GIA HẠ NGUỒN SÔNG MEKONG ĐỂ TẠO THẾ.
•           Theo một bản tường trình ấn hành vào Tháng 5 năm 2009 của Chương trình Liên Hiệp Quốc về Môi Trường (Programme des Nations Unies pour l’environment) và Học Viện Kỹ Thuật Á Châu (Institut Asiatique de Technologie) đã có nhận định các công trình của Trung Cộng rất nguy hại, làm hư hại dòng sông Mekong và sự phong phú thiên nhiên, làm tăng thêm  nguy cơ cho các nước hạ nguồn.
•           Ngày 23 tháng7 năm 2009, Bộ trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ HILLARY CLINTON đã tham dự cuộc hợp lần thứ nhất với các Bộ Trưởng Ngoại Giao 4 nước hạ nguồn sông Mekong gồm: Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam được tổ chức bên lề HỘI NGHỊ BỘ TRƯỞNG NGOẠI GIAO ASEAN và các hội nghị liên quan tại Phuket.
Cuộc họp được tổ chức theo sáng kiến của Hoa Kỳvà được các Bộ Trưởng Ngoại Giao hoan nghinh về sự tăng cường hợp tác của Hoa Kỳ đối với các nước nầy trong các lĩnh vực mà Mỹ có nhiều kinh nghiệm như: công kỹ nghệ, môi trường, y tế, giáo dục và phát triễn cơ sở hạ tầng.
Bốn nước vùng hạ lưu Mekong vô cùng hoan nghênh sáng kiến kết nghĩa giữa ỦY HỘI MEKONG và ỦY HỘI MISSISSIPPI (Mỹ). Ngoại trưởng Lào THONGLOUN SISOULITH mong muốn cuộc họp sẽ phát triển thành cơ chế hợp tác giữa hai con lớn của thế giới: Mekong ở Đông Nam Á và Mississippi ở Mỹ.
•           Tháng 7 năm 2009, tại Hội Nghị ASEAN ở Phukhet, bà Ngoại Trưởng Clinton đã loan báo ý định của Mỹ là cũng cố trở lại vai trò của mình trong khu vực. Trung tâm của chiến lược nầy là do sáng kiến LOWER MEKONG INITIATIVE đã được ký kết giữa Hoa Kỳ và 4 nước hạ nguồn sông Mekong gồm VN, Lào, Campuchia và Thái Lan. Tài liệu trên trang Web của bộ Ngoại Giao ngày 06/1/2010, đã xác định 4 lãnh vực hợp tác chủ yếu giữa Hoa Kỳ và 4 nước hạ nguồn sông Mekong: môi trường, y tế, giáo dục và hạ tầng cơ sở, nhằm nghiên cứu phương cách phát triển vùng lưu vực nầy được bền vững. Đồng thời thắt chặt quan hệ với Ủy Ban Sông Mekong MRC để hạn chế ảnh hưởng càng lúc càng tăng của Trung Cộng trong khu vực.
•           Theo giáo sư Catherin Dalpino – chuyên gia về Đông Nam Á – nguyên phó trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ thì với hành động tích cực dấn thân vào vùng hạ nguồn sông Mekong bên cạnh 4 nước hạ nguồn có thể giúp tình hình trong vùng cân bằng trở lại. Tóm lại: Sự can dự cứng rắn của Hoa Kỳ vào biển Đông làm cho Trung Cộng khó chịu. Việc Hoa Kỳ đẩy mạnh hợp tác với 4 nước hạ nguồn sông Mekong cũng khiến Bắc quan ngại.
•           Theo nhà nghiên cứu chánh sách đối ngoại JOHN LEE thuộc Trung Tâm Nghiên Cứu Độc Lập (Centre for Independent Studies) có trụ sở tại Úc, lúc công tác tại Viện Hudson ở Washington cho rằng: việc Hoa Kỳ dấn thân vào vùng hạ lưu sông Mekong sẽ hiệu quả hơn trong việc giúp Hoa Kỳ khôi phục ảnh hưởng của mình trong vùng Đông Nam Á. Trong bài viết CHINA’S WATER GRAB (Trung Cộng vồ chộp nguồn nước) đăng trên tạp chí Foreign Policy số ra ngày 24/8/2010. John Lee đã phân tách tâm trạng bất bình cao độ của cư dân các nước hạ nguồn trước việc dòng sông Mekong nuôi sống họ bị Trung Cộng thao túng và lũng đoạn. Theo ông, nếu Hoa Kỳ quan tâm thực sự đến việc tăng cường sự hiện diện của mình tại Châu Á Thái Bình Dương. Hoa Kỳ nên tập trung sự hiện diện của mình vào sông Mekong sẽ gặt hái thành quả rõ ràng hơn.
Theo cách nhìn của tôi, nhận xét của ông John Lee chính xác vì trên nguyên tắc đấu tranh chánh trị: cái lực vô địch là cái “LỰC” có “THE”Á đi kèm. Có thế thì lực hoạt động càng thêm mạnh, thành công càng nhanh chóng. Như vậy, có thể gọi PHÉP THỰC THẾ (phép trồng thế) là cái thế do trồng mà có, nuôi dưỡng và bồi đáp mà ngày càng lớn mạnh rồi mới đem thi hành thì cái LỰC đó sẽ trở thành sức mạnh vô địch. Không cấy thế tất không có thế, không có thế lấy gì để thừa thế xông lên, giống như một chiếc tàu buồm gió càng mạnh, chạy càng nhanh.
Trong luật chơi, tạo điều kiện cho đối thủ trồng thế, có nghĩa cái thế của đối thủ thành, còn cái thế của ta bị phá, tức là bị đối thủ CÔ LẬP. Đó là trường hợp Hoa Kỳ quyết tâm can dự vào khu vực hạ nguồn sông Mekong làm cho tên Đế quốc “dậy non” Bắc Kinh ngang ngược bối rối. Dùng những đập nước trên thượng nguồn sông Mekong để thao túng và gây áp lực với các hạ nguồn sẽ trở thành “gậy ông đập lưng ông”. Trung Cộng đã gặp phản ứng ngược.
III. NHỮNG TỬ HUYỆT CỦA TRUNG CỘNG:
TỬ HUYỆT 1 : NHỮNG ĐẬP NƯỚC TRÊN SÔNG MEKONG:
Những đập nước trên sông Mekong quan trọng như CỘT SỐNG của con rồng đỏ Trung Cộng, đánh gẫy cột sống nầy con rồng đỏ sẽ tê liệt, vùng vẫy trong biển nước. Chắc chắn nó sẽ không tồn tại vĩnh viễn để Trung Cộng tiếp tục gây thảm họa cho nhân loại nói chung và những quốc gia ở hạ nguồn sông Mekong nói riêng mà phần đông là những ngư dân và nông nhân nghèo khổ sống lam lũ nhờ vào nguồn tôm cá, nước ngọt phù sa để trồng lúa và hoa màu, số cư dân nầy sẽ tăng lên tới 100 triệu người. Những con đập khổng lồ nầy vỡ ra, nó gây ra đại thảm họa cho chính Trung Cộng vì những lý do sau đây:
•           Trong lúc ruộng đồng ở hạ nguồn thiếu nước ngọt và phù sa thì ngược lại, các đập ở Vân Nam sẽ bị phù sa tràn ngập. Cường độ phù sa tấp vào đập Manwan đã tăng gấp đôi, gấp ba so với dự tính ban đầu. Đó là lý do mà Trung Cộng xây đập Xiaowan phía trên Manwan tưởng sẽ giảm mức độ phù sa trôi vào đập Manwan. Nhưng, đập Xiaowan và những đập khác cũng bị phù sa tràn ngập vào vài thập niên tới và các hồ chứa nước sẽ trở thành những bãi lầy vô cùng vĩ đại và vô dụng! Trung Cộng ước tính ban đầu là các đập nầy sẽ được sử dụng trong vòng 70 năm, nhưng trên thực tế chỉ có thể hoạt động trong vòng 20 hoặc 30 năm mà thôi. Một khảo cứu của Ủy Hội Các Đập Nước Thế Giới (World Commission On Dams) phổ biến vào tháng 11 năm 2000 đã kết luận rằng: đa số các đập thủy điện lớn trên toàn thế giới đã không mang lại một lợi ích kinh tế nào nếu so sánh với phí tổn xây dựng như phải di dời cư dân và các hậu quả môi sinh…
•           Đập thủy điện Zipingpu thuộc tỉnh Tứ Xuyên được đưa vào hoạt động từ năm 2006 cho đến khi xảy ra trận động đất ngày 12 tháng 5 năm 2008 với cường độ 8.0 ở Vấn Xuyên (Wenchen) gây tử vong cho 69.000 người và 11 triệu người vô gia cư. Các nhà tranh đấu và các chuyên gia về môi sinh nghi ngờ sự an toàn của các đập nước trong vùng phía Tây Nam Trung Cộng là nơi có tình trang địa chấn bất ổn và đặt câu hỏi với chánh phủ:
1.         Xây hồ chứa lớn và đập nước cao trong vùng cung “đại địa chấn” có thích hợp hay không? Đặc biệt là phía Đông đồng bằng Thanh Hải – Tây Tạng (Qinghai – Tibetan) và vùng núi đồi, khe đá Đông – Bắc tỉnh Vân Nam nơi có cấu trúc địa chất phức tạp và nằm trong vùng ảnh hưởng của lớp địa chất di chuyển. Vì thế, hai tỉnh Tứ Xuyên và Vân Nam là nơi thường xảy ra nhiều trận động đất nhất, có cường độ cao nhất Hoa Lục.
2.         Đã có sai lầm khi thẩm định cường độ địa chấn khi soạn thảo các phương án xây dựng các đập thủy điện trên vùng địa chấn bất ổn phía Tây Nam hay không? Sau trận động đất ở Wenchen chứng tỏ đã có những tính toán sai lầm trong việc nghiên cứu thẩm định nguy cơ của địa chấn khi xây những đập nước trong vùng nầy. Đập Zipingpu lớn nhất trên thượng du sông Mân Giang nằm 9 km trên thượng nguồn Dujiangian, dung tích chứa 1,1 tỷ m3 nước và mực nước cao 156 thước và chỉ nằm cách tâm điểm địa chấn 17 km. Đây là một dự án khổng lồ, hồ chứa nước nầy giống như một vạc nước khổng lồ đã treo trên đầu hàng triệu dân cư Chengdu (Thành Đô) và vùng phụ cận. Có thể, sau khi xây hồ xong và lúc mực nước hồ lên cao đỉnh, rất có thể là nguyên nhân đã gây ra trận động đất đó.
TỬ HUYỆT 2 :  ĐẬP THỦY ĐIỆN TAM HIỆP TRÊN SÔNG DƯƠNG TỬ:
Dương tử Giang (Yangtze River) là con dài nhất nước Tàu, đứng vào hàng thứ Ba trên thế giới chiều dài khoảng 6.380 km, bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng, chảy ngang qua các tỉnh lớn như Vân Nam, Tứ xuyên, Hồ Bắc, Giang Tây, An Huy, Giang Tô rồi đổ ra biển Đông. Ngoài những di tích lịch sử xa xưa có ảnh hưởng sâu xa đến lịch sử và văn hóa Trung Hoa, sông Dương Tử có tầm ảnh hưởng to lớn về kinh tế và đời sống xã hội và nó còn là con sông huyết mạch nối liền nội địa với miền viễn đông mà thành phố trọng yếu nhất phía hạ nguồn chính là thủ phủ kinh tế và kỷ nghệ Thượng Hải. Dương Tử Giang là con đường thủy mà người Tàu dùng để chuyên chở hàng hóa, lương thực, thực phẩm cung cấp cho cư dân sống dọc theo bờ biển phía Đông nước Tàu và Thượng Hải.
Dương Tử Giang quan trọng và to lớn như vậy nhưng vẫn thường gây ra thiên tai lũ lụt, tàn phá mùa màng. Trong thế kỷ XX đã xảy ra nhiều trận lụt vào mùa mưa gây nhiều thiệt hại kinh tế và nhân mạng: năm 1954: 30.000 người, năm 1935: 142.000 người, năm 1931: 145.000 người, năm 1911: 100.000 người.
Vì vậy, ý tưởng xây đập chia dòng Dương Tử Giang không phải là đề tài mới lạ. Một con đập được thiết kế đúng cách có thể giúp điều tiết được triều cường để cho nông dân sống dọc hai bờ sông Dương Tử tránh được cảnh lụt lội hoặc hạn hán mỗi năm, giúp tàu bè xuôi ngược dòng sông được thuận buồm xuôi gió, giúp nền kinh tế Hoa Lục phát triển thêm nữa, tạo nhiều công ăn việc làm cho dân chúng. Ngay từ đầu năm 1932, Tưởng Giới Thạch đã có bước chuẩn bị khảo sát địa thế xây dựng đập.
Xây dựng dự án nhà máy thủy điện Tam Hiệp lớn nhất thế giới nầy, Trung Cộng muốn trị thủy, chấm dứt tình trang lụt lội dọc theo lưu vực sông Dương Tử, đồng thời cung cấp năng lượng cho nền kinh tế đang bùng nổ. Tuy nhiên, Trung Cộng đang đau đầu với tác hại môi trường của đập thủy điện khổng lồ Tam Hiệp với hồ chứa nước dài đến 660 km, trị giá 23 tỷ USD và đã di dời hơn 1,4 triệu cư dân.
 Con đập trữ nước vào ngày 15/9/2009 sẽ đạt mức cao nhất 175m và đến đầu tháng 11 có đủ khả năng phát điện ở mức cao nhất. Nhưng, đến đầu tháng 11, mực nước cao nhất chỉ đạt được 171m rồi phải dừng lại, vì lý do: lưu lượng nước từ thượng nguồn sông Dương Tử, ít hơn năm trước đến 34% và do những báo cáo khẩn cấp báo nguy cơ cao sạt lở đất. Những vệt nứt cũ sẽ nứt lại khi đất xung quanh con đẫm nước thì thành hồ sẽ yếu đi, đất sẽ dịch chuyển. Trước kia, trên thượng nguồn sông Dương Tử chỉ có 150 vụ sạt lở đất, ngày nay có tới 1.200 tai nạn, nhiều hơn gắp 10 lần. Những vấn nạn nầy làm hàng trăm cây số đất đai dọc bờ sông chờ sụp đổ,  ngày càng nhiều nông dân phải bỏ ra đi, gây xáo trộn xã hội.
Theo RFI, gần 20 năm sau ngày khởi công xây dựng đập Tam Hiệp trên sông Dương Tử, chính quyền Trung Cộng ngày càng đau đầu trong việc giải quyết tác hại của con đập nầy. Tháng 7 năm 2010, các đợt mưa to gió lớn trên khắp Hoa Lục đã gây nhiều khốn đốn cho dân chúng dọc sông Dương Tử, số người thiệt mạng và mất tích lên đến hàng ngàn người trong cơn bảo lũ tràn qua gần 30 địa phương. Thiên tai tàn phá khoảng 670.000 căn nhà, khiến 120 triệu người phải chạy lánh nạn, mức thiệt hại lên hàng tỷ USD.
Tình trạng phù sa và bùn lắng đọng giống như các đập thủy điện trên sông Mekong là một vấn nạn khác. Ngày nay với đập Tam Hiệp, hàng triệu tấn phù sa dồn ứ trong lòng đập, gây hậu quả là các vùng duyên hải càng ngày càng chìm lún, bị nhiễm phèn nặng do nước biển lấn vào. Nếu tiếp tục đà nầy, sẽ đến lúc dòng sông cạn kiệt không còn chảy kịp ra biển.
Đập Tam Hiệp làm lưu lượng dòng sông Dương Tử chảy chậm lại thành một cái hồ khổng lồ chứa các loại rác rưởi lớp chìm dưới đáy sông, lớp nổi trên mặt nước, lớp thấm vào mạch nước ngầm. Dọc bờ sông Dương Tử, nhiều thành phố, có nhiều cơ xưởng công kỹ nghệ, làm gia công các mặt hàng cho tư bản Nhật, Hàn và các quốc gia Tây Phương cũng vô tư đua nhau thải hóa chất và đủ các loại rác độc hại xuống dòng sông, ước tính khoảng 25 tỷ tấn mỗi năm, đe dọa cuộc sống hằng trăm triệu người.
Các nhà khoa học đã cảnh báo, tình trạng ô nhiễm đã trở nên rất nghiêm trọng, nếu chánh quyền không tiến hành những biện pháp cần thiết để làm sạch con sông nầy thì trong vòng 5 đến 10 năm nữa, 70% lượng nước của sông Dương Tử sẽ bị xếp loại dưới cấp 3, tức là phần lớn thực vật và động vật sẽ chết và có thể làm cho 186 thành phố dọc theo sông Dương Tử sẽ đối mặt với nạn khan hiếm nguồn nước sạch.
TỬ HUYỆT 3: THÀNH PHỐ THƯỢNG HẢI.
Thành phố Thượng Hải – trung tâm kinh tế của Trung Cộng – một New York của Hoa Lục – sắp phải đối phó với thách thức về một nguồn nước sạch để cung cấp cho 20 triệu dân. Ngoài ra, thành phố còn phải đối mặt thường xuyên 452 hỏa tiển Tomahawk, đó là loại bom biết bay với tầm bắn hơn 1.500 km có khả năng tự điều khiển, tầm bay thấp tránh hỏa tiển địch phá hủy. Mỗi chiếc Tomahawk trị giá khoảng 600.000 USD được 3 tàu ngầm thuộc loại USS Ohio – Class của Hoa Kỳ mang đến phối trí tại ba hải cảng vùng Á Châu trong kế hoạch tăng cường Hạm đội 7 Hoa Kỳ đang hoạt động tại Thái Bình Dương: Vịnh Subic ở Phi Luật Tân, Pusan ở Nam Hàn và đảo Diego Garcia ở Ấn Độ Dương.
Báo Mainichi của Nhật đưa tin: HKMH George Washington đã rời căn cứ ở Yokosuka lên đường tham gia một cuộc tuần tra “đa quốc gia” vùng Tây Thái Bình Dương và kéo dài trong nhiều tháng, bao gồm việc hợp tác với các quốc gia đồng minh trong khu vực, tuần tra vùng lãnh hải trong đó có biển Đông.
Theo tạp chí Kỹ Thuật Quốc Phòng (Defence Technology) của Đài Loan cho biết: Năm 2011, Đài Loan sẽ hoàn tất việc trang bị một hệ thống phi đạn mang tên “Vạn Kiếm” có khả năng tấn công phá hủy toàn bộ phi trường và hải cảng của Hoa Lục. Mỗi phi đạn “Vạn kiếm” mang theo 100 quả bom bi, đủ sức công phá một phi đạo làm cho các chiến đấu cơ của Trung Cộng không cất cánh được. BQP Đài Loan đã đầu tư 500 triệu USD để sản xuất hàng loạt, trang bị cho máy bay oanh tạc IDF do Đài Loan tự sản xuất.
IV. KẾT LUẬN:
Năm 1982, Liu Huaqing – Tổng Tư Lệnh QĐND Trung Cộng – (1982 -1988) đặt 3 giai đoạn bành trướng cho Tân Đế Quốc Trung Cộng:
•           Giai đoạn I (2000 – 2010): Kiểm soát vùng biển đảo và chuổi đảo nối từ vùng Okinawa xuống Đài Loan và quần đảo Phi Luật Tân. Hiện Bắc Kinh đang gấp rút thực hiện giai đoạn nầy.
•           Giai đoạn II (2010  -  2020): Thiết lập kiểm soát vùng biển và các chuỗi đảo từ vùng Ogasawara tới đảo Guam và Nam Dương. Giai đoạn nầy, một HKMH được đóng hoàn tất.
•           Giai đoạn III (2020 – 2040): sẽ là giai đoạn cuối cùng chấm dứt sự thống trị toàn thể Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương của Hoa Kỳ.
Đây là một THAM VỌNG TỰ SÁT, bọn hiếu chiến Bắc Kinh sẽ lâm vào cái thế QUAN DĨNH TỰ CẦU KHẨU THỰC có nghĩa hãy đo miệng mà nuốt mồi, hãy tự lượng sức mình mà tung hoành. Cái đường lưỡi bò quá lớn nuốt không nỗi đâu. Nội tình Trung Cộng còn quá nhiều nan đề chưa giải quyết như: tệ nạn tham nhũng, ô nhiễm môi sinh, đấu đá nội bộ, xã hội bất ổn, khoảng cách giữa người giàu và nghèo quá lớn…Bọn Trung Nam Hải hãy nhìn thất bại chua cay của Hitler, chính là những thắng lợi quá nhanh của ông ta để suy ngẫm. Trung Cộng có thể ví như một con rồng dậy non đã vội vã cuộn mình bay cao, vượt quá sức của nó:
-Cái ĐẦU của con rồng đỏ là THƯỢNG HẢI.
-Những đập nước trên sông MEKONG và DƯƠNG TỬ GIANG là cột sống.
Nếu như một cuộc đối đầu giữa Trung Cộng và Hoa Kỳ & Đồng minh nổ ra tại biển Đông bằng một cuộc chiến tranh quy ước. Với phương tiện chiến tranh và vũ khí hiện đại của Hoa Kỳ thì thành phốThượng Hải, những đập thủy điện trên Dương Tử Giang và thượng nguồn sông Mekong sẽ là những TỬ HUYỆT, mục tiêu cố định VÔ PHƯƠNG BẢO VỆ.
Muốn đập chết một con rắn độc thì trước hết phải đập đầu, rồi đập gẫy cột sống của nó sau là nó sẽ bị tê liệt, hết phương vùng vẫy… sóng nước Dương Tử Giang và dòng sông thiêng Mekong  sẽ cuốn trôi tham vọng bành trướng bá quyền của bọn Trung Nam Hải ra biển Thái Bình Dương…
Nguyễn Vĩnh Long Hồ
Người lính thủ QUỐC KỲ VNCH
KBC 3402 

Cùng ngư dân gắn bó với Biển Đông




Chương trình vận động hỗ trợ ngư dân Việt Nam (DR)
Thụy My
Đã có nhiều trường hợp những ngư dân bị Trung Quốc phá hoại hoặc cướp tàu, bỗng chốc trở thành trắng tay. Trong khi chính sự hiện diện của họ trên ngư trường truyền thống từ nhiều đời tại Biển Đông cũng đã là một sự khẳng định xuyên suốt chủ quyền của Việt Nam tại đây.

Như chúng ta đã biết, trong thời gian gần đây, ngư dân Việt Nam liên tục bị tàu Trung Quốc quấy nhiễu, bắt bớ, ngang ngược cướp tàu cùng tài sản, đòi tiền chuộc, đánh đập…cho dù ngư dân Việt đang hành nghề trên vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam. Đã có nhiều trường hợp những ngư dân bị Trung Quốc phá hoại hoặc cướp tàu, bỗng chốc trở thành trắng tay. Trong khi chính sự hiện diện của họ trên ngư trường truyền thống từ nhiều đời tại Biển Đông cũng đã là một sự khẳng định xuyên suốt chủ quyền của Việt Nam tại đây.
Vừa qua báo Sài Gòn Tiếp Thị đã đưa ra chương trình « Cùng ngư dân bám biển ». Trả lời RFI Việt ngữ qua điện thoại viễn liên, nhà báo Tâm Chánh, phụ trách chương trình trên của báo Sài Gòn Tiếp Thị cho biết, đây là một cuộc vận động dài hạn trong cộng đồng các doanh nghiệp cũng như mọi thành phần xã hội, nhằm hỗ trợ cho ngư dân Việt. Không chỉ trợ giúp về mặt tài chính để trang bị phương tiện đi biển, tài trợ mua bảo hiểm, chương trình còn cấp học bổng cho con em ngư dân, hỗ trợ khả năng ứng cứu trên biển, kiến thức pháp lý cho ngư dân…
Xin chào nhà báo Tâm Chánh, rất cám ơn anh đã nhận trả lời phỏng vấn của RFI Việt ngữ. Trước hết xin anh vui lòng giới thiệu sơ qua chương trình « Cùng ngư dân bám biển » ?

Nhà báo Tâm Chánh - Thành phố Hồ Chí Minh
15/07/2011
Nghe (09:16)

Báo Sài Gòn Tiếp Thị cho ra đời chương trình « Cùng ngư dân bám biển » xuất phát từ ý tưởng của các doanh nghiệp. Trong quá trình đi tiếp cận thị trường thì họ bức xúc trước tình cảnh của các ngư dân mình, vì sinh kế khó khăn ở trên biển, rồi lại gặp những trở ngại do thiên tai, do nhiều thế lực khác trên biển gây khó khăn cho họ…Cho nên các doanh nghiệp đề xuất chương trình cùng nhau chăm lo cho bà con ngư dân, làm sao để nâng cao sinh kế của họ, chăm lo cho phụ nữ và trẻ con ở trên bờ, để gia đình ngư dân có thể sống được và tiếp tục đeo bám, giữ biển của đất nước.
Chương trình ra đời cũng gần đây thôi, nhất là từ sau khi có những diễn biến căng thẳng trên Biển Đông, mà ngư dân mình bị tai nạn rất là nhiều. Đến nay chương trình đang triển khai ở bốn tỉnh : Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, là những vùng biển mà khai thác trực tiếp ngư trường lớn ở Hoàng Sa và Trường Sa, là những ngư trường của Biển Đông.
Thưa anh, cụ thể thì ngư dân ở những vùng này được hỗ trợ những gì ?
Chương trình được thiết kế trên cơ sở vận động các ngân hàng cho họ vay với lãi suất ưu đãi để có thể đóng mới tàu thuyền. Nhất là đối với những đối tượng bị tai nạn, cũng như bị Trung Quốc phá tàu, làm hư hỏng tàu. Đồng thời cũng giúp cho phụ nữ bằng chương trình tín dụng vi mô để cho họ có thể làm nghề ở trên bờ, và giải quyết công ăn việc làm, với điều kiện là họ phải cam kết không để con họ bỏ học. Bên cạnh đó còn cấp học bổng cho con em của ngư dân các vùng biển để học nghề, đặc biệt là những nghề khai thác biển – học nghề và học đại học.
Chương trình này đến nay đã được hưởng ứng như thế nào ?
Chương trình được phát động khoảng một tháng nay, thì cũng đã tiếp nhận được nhiều đóng góp của bạn đọc, và đặc biệt là của cộng đồng doanh nghiệp. Hiện nay chúng tôi đã nhận được khoảng 22 tỉ, và bắt đầu trực tiếp hỗ trợ cho ngư dân các vùng này. Các ngân hàng cũng đang tích cực xây dựng các chương trình để cùng tham gia với chúng tôi.
Thưa anh, đã có những trường hợp các ngư dân nào được giúp đỡ ?
Hiện nay các tình nguyện viên đang đi khảo sát những trường hợp cụ thể ở các địa phương đó. Hiện đã hỗ trợ cho ngư dân Mai Phụng Lưu, được mệnh danh là « Sói biển » ở Lý Sơn. Ông được cho vay 300 triệu để đóng mới tàu, với lãi suất hỗ trợ chỉ có 10% thôi. Rồi cũng giúp cho các gia đình ngư dân ở huyện Lý Sơn của Quảng Ngãi, huyện Núi Thành của Quảng Nam và huyện Phù Mỹ của Bình Định, cùng với làng câu cá ngừ ở Phú Yên.
Về chương trình tín dụng vi mô và các học bổng, chúng tôi đang tích cực triển khai. Ngay ngày 16/7 sẽ có một đoàn ra khảo sát và cấp học bổng, cấp hai phòng học vi tính cho hai trường trung học ở huyện đảo Lý Sơn, vì ở đó có giáo viên nhưng mà không có máy tính để cho trẻ con có thể học được những chương trình tin học.
Thưa anh, ông Mai Phụng Lưu mà anh vừa nhắc có phải là ngư dân từng bị Trung Quốc tịch thu tàu nhiều lần phải không ?
Dạ, ông đó đã bốn lần bị phá hỏng tàu và hầu như là ở trong tình trạng tán gia bại sản ! Và bản thân ông cũng đã bị đánh đập nữa. Nhưng khi trao đổi với ông thì ông nói, vì ông bà tổ tiên mình đã ra đánh bắt ở cái ngư trường đó, hàng năm họ đều phải ra thắp hương để viếng ông bà, cho nên họ tiếp tục đeo đuổi việc ra biển, nhất là vùng biển Hoàng Sa. Cho nên tôi thấy không có lý do gì mà cộng đồng chúng ta không xúm nhau lại để cùng chăm lo, giúp sức với ông.
Nhưng mỗi con tàu đi biển thường rất mắc tiền, mỗi lần bị mất tàu như vậy là ngư dân phải mang thêm nợ. Lần này mình cho vay, tuy lãi suất thấp nhưng có lẽ họ cũng ngại phải mắc nợ thêm ?
Hiện nay nhà nước cũng đã triển khai một số chính sách hỗ trợ về bảo hiểm vỏ tàu thuyền, và bảo hiểm thuyền viên. Rồi cộng đồng của mình cũng giúp thêm trên cái mức đó của nhà nước, để họ có thể bảo hiểm được phương tiện của họ. Mặc dù đây là một sản phẩm còn rất mới đối với ngư dân, các anh chuyên gia tài chính cũng giúp sức để hướng dẫn cho bà con sử dụng sản phẩm này một cách thiết thực. Nhất là sau khi có nhiều tai nạn xảy ra thì ngư dân mình cũng bắt đầu có ý thức về việc mua các loại bảo hiểm để bảo đảm cho các tài sản của mình.
Tất nhiên hiện nay đời sống của họ rất là khó khăn, và việc trả được nợ hay không cũng là một bài toán rất là đau đầu đối với gia đình của họ. Nhưng mà bà con mình ở trên các vùng khai thác biển đều là những người lao động rất cần cù. Như gia đình của ông Lưu là những gia đình lao động rất chuyên cần và nề nếp. Cho nên ngoài việc hỗ trợ tiền, thì các tình nguyện viên cũng giúp động viên, cũng như hướng dẫn cho họ những kỹ thuật để có thể quản lý tài chính, tránh những thiếu hụt có thể xảy ra do quá trình không quản trị tốt.
Thưa anh, các anh đi khảo sát thì nhìn chung thấy đời sống bà con ngư dân ở những vùng sẽ được hỗ trợ hiện nay như thế nào ?
Có thể nói, bà con ngư dân mình sống một cái đời sống – tất nhiên bây giờ phương tiện có cải thiện hơn trước đây – nhưng mà đời sống, đặc biệt là đời sống văn hóa, rất là thấp. Ở các vùng này thì con em ngư dân phần đông học tới lớp 5, lớp 6. Còn bước vào cỡ tuổi cấp hai là bắt đầu đi biển và học nghề biển rồi. Có rất nhiều bà con chúng ta chưa từng biết sản phẩm tiết kiệm của ngân hàng như thế nào. Nói chung là họ có cuộc sống rất là kham khổ. Nhất là nếu quá trình đi biển không thuận lợi, bị tai nạn, bị chết chóc hoặc là bị phá hoại tàu thuyền. Đặc biệt là những trường hợp trước đây họ bị Trung Quốc tịch thu phương tiện, rồi đòi chuộc phương tiện…Đối với họ, đó là cả một nỗi khổ nhọc và đau đớn.
Cám ơn anh nhiều, mong là nhiều người sẽ biết đến chương trình này để cùng hỗ trợ cho bà con ngư dân trên biển.
Trong chương trình, cũng có nhiều người có sáng kiến là các doanh nghiệp sản xuất ra áo thun « Nói không với đường lưỡi bò » để bán. Mỗi người mua một cái áo thun đó là sẽ góp vào quỹ bốn chục ngàn để gây quỹ cho ngư dân. Thành ra là ở đây cũng đang triển khai tích cực việc đó, để một mặt vừa ủng hộ tích cực cho ngư dân, đồng thời cũng nêu được một cái thông điệp đối với những vấn đề về Biển Đông, mà ngư dân mình cũng như bà con mình đang rất là bức xúc.
Như vậy chương trình này có bắt đầu chưa thưa anh ?
Dạ, đang bắt đầu. Đây là sáng kiến của các doanh nghiệp. Họ sản xuất ra những áo thun đó, do kiến trúc sư Võ Thành Lân, họa sĩ Lý Trực Dũng vẽ những biểu tượng « Nói không với đường lưỡi bò ». Rồi các doanh nghiệp phân phối cam kết với chương trình của chúng tôi là mỗi một cái áo như thế, họ sẽ đóng góp vào quỹ bốn mươi ngàn đồng. Thì chúng tôi cũng tích cực tuyên truyền cho việc này để làm sao rộng rãi mọi người thông qua việc làm tích cực như thế có thể ủng hộ thêm cho quỹ. Vì phải nói là đã đi rồi thì thấy nhu cầu của ngư dân rất lớn, mà nguồn lực của mình không phải là nhiều lắm. Làm sao bằng nhiều cách khác nhau có thể góp sức để chia sẻ với ngư dân. Như tôi nói lúc nãy, mình chỉ mới làm ở 4 tỉnh, trong khi đó mình có đến 28 tỉnh có biển, và đời sống ngư dân ở những nơi đó còn khó khăn.
Xin cảm ơn nhà báo Tâm Chánh.
 
http://www.thegioinguoiviet.net/showthread.php?t=6117 

ASEAN sẵn sàng trao cho Trung Quốc bản dự thảo Quy tắc Ứng xử

7/16/2011




Các hãng truyền thông của Nhật Bản loan tin Trung Quốc sẽ được nhận bản dự thảo Quy tắc Ứng xử tại Biển Đông tại cuộc họp của các nước Đông Nam Á diễn ra ở Indonesia vào tuần tới.

Đài truyền hình NHK của Nhật Bản hôm nay trích thuật nguồn tin từ các nhà ngoại giao cho biết bản dự thảo sẽ đề cập tới các cuộc thao dượt quân sự, hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên, cũng như cách phản ứng thích hợp đối với các mâu thuẫn trong khu vực.

Theo hãng tin Kyodo, bản dự thảo thông cáo chuẩn bị cho cuộc họp của Hiệp hội các nước Đông Nam Á tại Bali cũng kêu gọi tất cả các bên tôn trọng quyền tự do lưu thông hàng hải và hàng không tại Biển Đông.

Năm 2002, ASEAN và Trung Quốc nhất trí bản tuyên bố kêu gọi giải pháp hòa bình cho các tranh chấp xuất phát từ các tuyên bố chủ quyền chồng chéo tại các vùng biển và quần đảo trên hải lộ giàu tài nguyên này.

Thế nhưng những nỗ lực thương lượng tiến tới một bộ quy tắc ứng xử mang tính ràng buộc lâu nay bị bế tắc vì Trung Quốc muốn giải quyết các tranh chấp trên cơ sở song phương với từng nước một.

http://www.voanews.com/vietnamese/news/vietnam/asean-china-sea-07-14-2011-125568373.html

Đảng viên CS đã sáng mắt

7/15/2011



@net

Châu Hiển Lý, bộ đội tập kết 1954
Nhân dân còn bị lừa bịp cho đến bao giờ?

Huyền thoại giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp do cộng sản Việt Nam dày công dàn dựng đã tan thành mây khói khi giai cấp vô sản âm thầm lột xác trở thành các nhà Tư bản đỏ đầy quyền lực và đô la.

XHCN sẽ được đánh giá như một thời kỳ đen tối nhất trong lịch sử VN.  Con, cháu, chút, chít chúng ta nhắc lại nó như một thời kỳ đồ đểu! vết nhơ muôn đời của nhân loại.

Một thời kỳ mà tâm trạng của người dân được thi sĩ Bùi Minh Quốc tóm tắt qua 2 vần thơ:

"Quay mặt phía nào cũng phải ghìm cơn mửa!

Cả một thời đểu cáng đã lên ngôi!"
_ Năm 1954 sau khi thắng Pháp, tại sao hơn 1 triệu người Bắc phải bỏ lại nhà cửa ruộng vườn di cư vào miền Nam?

_ Sau năm 1975, tại sao dân miền Nam không ồ ạt di cư ra Bắc sinh sống để được hưởng những thành quả của CNXH mà chỉ thấy hàng triệu người Bắc lũ lượt kéo nhau vào Nam lập nghiệp?

_ Tại sao sau khi được "giải phóng" khỏi gông cùm của Mỹ-Ngụy, hàng triệu người phải vượt biên tìm tự do trong cái chết gần kề, ngoài biển cả mênh mông?

_ Tại sao nhân viên trong các phái đoàn CS đi công tác thường hay trốn lại ở các nước tư bản dưới hình thức tị nạn chính trị?

Tất cả những thành phần nêu trên, họ muốn trốn chạy cái gì?

_ Tại sao đàn ông? của các nước tư bản Châu á có thể đến VN để chọn vợ như người ta đi mua một món hàng?

_ Tại sao Liên Xô và các nước Ðông âu bị sụp đổ?

_ Tại sao lại có sự cách biệt một trời một vực giữa Đông Đức và Tây Đức, giữa Nam Hàn và Bắc Hàn?

Tại sao nước ta ngày nay phải quay trở lại với kinh tế thị trường, phải đi làm công cho các nước tư bản?

_ Tại sao các lãnh tụ CS lại gởi con đi du học tại các nước tư bản thù nghịch? (Vietbao)

Nguyễn Hộ người có 55 tuổi đảng, Chủ Tịch Đoàn Chủ Tịch Mặt Trận Tổ Quốc Trung Ương, thủ lãnh của Nhóm Truyền Thống Kháng Chiến, viết trong tập hồi ký Quan Điểm Và Cuộc Sống: "Ngày 21/3/1990 tôi rời khỏi Saigòn cũng là ngày tôi rời khỏi Đảng CSVN.  Tôi làm cách mạng đã 56 năm, gia đình tôi có 2 liệt sĩ, Nguyễn Văn Đào, anh ruột, Đại Tá QĐNDVN, hy sinh ngày 9/1/1966 tại Củ Chi, và vợ tôi Trần Thị Thiệt bị bắt và chết tại Tổng Nha Cảnh Sát Sài gòn vào tết Mậu Thân 1968 nhưng phải thú nhận rằng tôi đã chọn sai lý tưởng: Cộng Sản Chủ Nghĩa.  Bởi vì suốt hơn 60 năm trên con đường cách mạng ấy nhân dân Việt Nam đã chịu hy sinh quá lớn lao nhưng cuối cùng chẳng được gì, đất nước vẫn nghèo nàn lạc hậu, nhân dân không có ấm no hạnh phúc, không có dân chủ tự do.  Đó là điều sĩ nhục”  (nguồn: Wikipedia)

Nguyễn Minh Cần, nguyên Phó Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Hà Nội, nguyên Đại Sứ Cộng Sản Hà Nội tại Liên Sô, ghi lại tính tàn độc và lưu manh của Đảng Cộng Sản trong cuộc Cải Cách Ruộng Đất 1953-1956: "Giết oan hàng trăm ngàn người, đầy ải hàng triệu người, làm cho đạo lý suy đồi luân thường đảo ngược.  Tại cuộc mít tinh tối 29/10/1956, ông Võ Nguyên Giáp chỉ cho biết con số 12 nghìn cán bộ và đảng viên đã được trả tự do mà thôi! Con số đó đúng hay không, ai mà biết được! Tóm lại, những con số về người bị thiệt mạng trong CCRĐ vẫn chưa xác định được.

Dù thế nào chăng nữa, với những con số ước tính đã cho thấy đây là một tội ác tày trời.  Tội ác này chính là tội ác chống nhân loại"  (Đừng Quên Bài Học Cải Cách Ruộng Đất Nửa Thế Kỷ Trước)

Trung Tướng Trần Độ, Cựu Phó Chủ Tịch Quốc Hội, viết: "Cuộc cách mạng ở Việt Nam đã đập tan và xoá bỏ được một chính quyền thực dân phong kiến, một xã hội nô lệ, mất nước, đói nghèo, nhục nhã.  Nhưng lại xây dựng nên một xã hội nhiều bất công, nhiều tệ nạn, một chính quyền phản dân chủ, chuyên chế, một chế độ độc đảng và toàn trị, nhiều thói xấu giống như và tệ hơn là trong chế độ cũ…”  (Nguồn: Trần Độ- Nhật Ký Rồng Rắn)

Hoàng Minh Chính gia nhập đảng từ năm 1939, Phó Viện Trưởng Trường Nguyễn Ái Quốc kiêm Viện Trưởng Viện Triết học Mác-Lênin trong một bài phát biểu đã than thở rằng “Người dân dưới chế độ cộng sản đã bị áp bức tệ hại hơn cả thời còn mồ ma thực dân đế quốc.  Ngay cả thời kỳ nô lệ, người dân ai muốn ra báo cũng chỉ cần nộp một giấy xin phép và bản lưu chiểu.  Điển hình là cụ Huỳnh Thúc Kháng bị thực dân Pháp xử 13 năm tù về tội chống Pháp và bị đầy ra Côn Đảo từ năm 1908 đến năm 1921 mới được trả tự do.  Khi mãn hạn tù cụ được thả về Huế, tại đây, cụ đắc cử dân biểu năm 1926, rồi được cử làm Viện trưởng Viện Dân Biểu Trung Kỳ và đứng ra xuất bản tờ báo Tiếng Dân.  Một người bị tù vì tội chống thực dân còn được thực dân cho ra báo trong khi đó một người từng nắm giữ chức Phó Chủ Tịch Quốc Hội của chế độ mà xin phép ra một tờ báo cũng không được".  (nguồn: Wikipedia)

Trần Lâm sinh năm 1925 vào đảng năm 1947, Vụ phó Ủy Ban Kế Hoạch Nhà nước, thẩm phán Tòa Án Nhân Dân Tối Cao, đã viết trong bài “Những dòng suy nghĩ từ Đại hội đến Quốc hội” số tháng 9/2007: "Đảng thì luôn nói Quốc hội là của dân, do dân, vì dân.  Người hiểu biết trong dân thì coi Quốc hội là bù nhìn.  Đảng và Nhà nước tổ chức bầu cử, biết đây là kiểu dàn dựng, nhưng cứ làm".

Trần Quốc Thuận, Phó chủ nhiệm văn phòng Quốc Hội CSVN, trả lời phỏng vấn của báo Thanh Niên: “Cơ chế hiện nay tạo kẽ hở cho tham nhũng vơ vét tiền của của nhà nước...  Nhưng cái mà chúng ta mất lớn nhất lại không phải là tiền, dù số tiền bị mất lên đến hằng trăm tỷ, mà cái lớn nhất bị mất là đạo đức.  Chúng ta hiện sống trong một xã hội mà chúng ta phải nói dối với nhau để sống.  Nói dối hằng ngày trở thành thói quen, rồi thói quen đó lặp lại nhiều lần thành đạo đức mà cái đạo đức đó rất mất đạo đức”.

Nguyễn Khải, Đại Tá, Đại Biểu Quốc Hội, Phó Tổng Thư Ký Hội Nhà Văn CS:

- Người cộng sản nói dối lem lém, nói dối lì lợm, nói dối không hề biết xấu hổ và không hề run sợ.  Người dân vì muốn sống còn cũng đành phải dối trá theo.

Nguyễn Văn Trấn, Chỉ Huy Trưởng Kiêm Bí Thư Quân Ủy Quân Khu 9 (1947), Chủ Nhiệm Văn Phòng Phó Thủ Tướng, Chủ Nhiệm Ủy Ban Kế Hoạch Thống Nhất Toàn Quốc (1962-1974):

"Tội ác của chế độ này, từ 40 năm nay, thật nói không hết".

Nguyễn Văn An, cựu ủy viên Bộ Chính Trị Cộng Sản Việt Nam, trưởng Ban Tổ Chức Trung Ương Ðảng và là chủ tịch Quốc Hội từ 2001 đến 2006, có lúc đã hy vọng lên làm Tổng Bí Thư, trong một bài phỏng vấn mới xuất hiện trên mạng lưới Tuần Việt Nam xuất bản trong nước đã nói “Đảng đã mắc phải lỗi hệ thống và đã sai lầm ngay từ nền tảng”.  Ông giải thích: “Lỗi hệ thống là lỗi từ gốc đến ngọn, từ lý thuyết đến mô hình”.


Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh trong một lần nói chuyện tại Hội Các Nhà Văn đành phải hô hào cởi trói cho văn nghệ có nghĩa là Đảng coi giới văn nghệ sĩ như loài cầm thú.

Thủ Tướng Võ Văn Kiệt  thì hô hào: “Đổi mới hay là chết”.


Và còn nhiều trăn trở của: Lê Hồng Hà Cục Trưởng Cục An Ninh Bộ Công An, Lê Liêm Cục Nội Chính, Nguyễn Trung Thành Cục Trưởng Cục Bảo Vệ Đảng, Nguyễn Văn Hiếu Ủy Viên Thường Trực Mặt Trận Tổ Quốc, Thiếu Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh Đại Sứ Hà Nội tại Trung Cộng, Đại Tá Bùi Tín, Đại Tá Phạm Quế Dương Viện Quân Sử Hà Nội, Trung Tá Trần Anh Kim người anh hùng chống cuộc xâm lăng từ phương Bắc năm 1979, Sứ Thần Dương Danh Dy, đại diện Hà Nội tại Trung Quốc, và các ông Hà Sĩ Phu, Bùi Minh Quốc, Trần Vàng Sao cùng những tuổi trẻ được sinh ra và trưởng thành trong chế độ như Luật Sư Lê Thị Công Nhân, Lê Công Định, Nguyễn Văn Đài, Nguyễn Vũ Bình, Nguyễn Tiến Trung, Phạm Thanh Nghiên, Phạm Hồng Sơn, Trần Huỳnh Duy Thức, Trần Khải Thanh Thủy, Cù Huy Hà Vũ, Điếu Cày, Mẹ Nấm, Người Buôn Gió
Nhìn lại nổi đắng cay nghiệt ngã của kẻ đã đi vào quỹ đạo của CS.  Họ là “trí thức” chứ không phải là bần nông khố rách ít học.  Họ đã được cộng sản Hà nội trả công khuyển mã của họ cái gì?

Linh Mục Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan trong những tạp chí “Đối Diện”, “Thức Tỉnh”.

Ăn cơm của Chúa mà múa cho quỷ Hồ.  Thờ Chúa Kitô nhưng làm tỳ nô cho Cộng Phỉ.

Nguyễn Văn Trấn (đại gia chợ Đệm) [1], Dương Bạch Mai (đại địa chủ, “parler francais” như gió) Trần Văn Giàu (lý thuyết gia Cộng Sản, công lao qúa xá trong Nam).  Những người nầy đã cúng dường tam bảo CS không biết bao nhiêu của cải, tim óc, sức lực của mình cho “cách mạng” trong thời Việt minh còn mặc quần xà lỏong chơi tầm vông vạt nhọn.  Năm 1975, khi về Nam, ông “khai quốc công thần” Nguyễn Văn Trấn được bộ chính trị CS cho công an hầu hạ canh gác cửa 24/24 vì thấy thả hổ về rừng nguy hiểm quá.  Mấy chục năm công lao mà CS chỉ cho chức “Bật Mã Ôn” (giữ ngựa) thì lỡ người ta quậy thì sao?

Trần Văn Giàu thì đã bị thất sủng từ lâu lắm rồi.

Chủ Tịch Quốc Hội Dương Bạch Mai thì phổi bò và thẳng ruột ngựa Nam Kỳ nên được đảng cho đi chầu Lenin sớm để vừa tiện sổ sách vừa tiết kiệm ngân quỹ nhà nước.  Nên biết Dương Bạch Mai chết trong lúc nghỉ giải lao trong một phiên họp quốc hội CS.  Nhiều nguồn tin cho biết Dương Bạch Mai uống chén nước trà bị bỏ thuốc độc(?!)  Cay hơn nữa là Dương Bạch Mai còn được chính ngay kẻ đã “trừ khử” mình đến dự tang lễ làm tuồng khóc thống thiết “kính chúc đồng chí chết mạnh giỏi!”.

Những tay “trí thức” của MTGPMN anh hùng làm được trò trống gì sau ngày 30 tháng 4 năm 1975? Nguyễn Hữu Thọ, “người” được “Bác” giao cho nhiệm vụ lãnh đạo mặt trợn và cũng là “người” đã đi đến cuối con đường… đã hoàn thành một cách xuất sắc nhiệm vụ mà dân tộc đã giao cho.” Ai có theo dõi tin tức, báo chí cũng biết thân phận của “người” này như thế nào trước khi đi chầu “bác” rồi.

Nguyễn Thị Định (người Giồng Trôm, Bến Tre) chưa hề biết sờ (hay bóp) cò súng đến một lần lấy hên mà lại được CS phong là “nữ tướng tóc dài,” “tư lịnh phó lực lượng võ trang quân đội Giải phóng,” trong khi kẻ nhắc tuồng cho em Định là đồng chí Nguyễn Chí Thanh – một cánh tay dài của Hà nội.  Sau ngày MTGPMN bị xóa sổ, em Định được làm cái giống gì (?) ở chức vụ “thứ truởng Bộ Thương Binh” và “chủ tịt hội liên hiệp phụ nữ?”.

Nguyễn Thị Bình (tên thật là Nguyễn Châu Sa sinh tại Sa đéc, đổi tên mới là Nguyễn Thị Bình vào năm 1962) “được” làm “phó chủ tịch nhà nước,” “phó trưởng Ban Đối Ngoại trung Ương Đảng.” Mấy cái "hàm" "phó" và "thứ" đó cũng chỉ lại là những cái chức ngồi chơi xơi nuớc cho đẹp mắt với bà con miền Nam, đâu có ý nghĩa gì trong chế độ lúc nào cũng duy trì các Nhiếp Chính Vương (còn gọi là bộ chính trị - nếu thu hẹp hơn thì có Duẩn, Thọ, sau nầy thì thêm Mười, Anh,), khi các Nhiếp Chính Vương nầy phát cân đai áo mão cho ai thì hãy coi như hồng ân từ Bác và đảng.  Sống dưới thời buổi “độc lập tự do hạnh phúc” mà “than vãn” thì cũng được CS xem như đồng nghĩa với đang chán sống; có mà tiêu tùng sớm.

Giám đốc công ty đường thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm là Trương Như Tảng Me xừ này phải chờ đến lúc CS thu hết miền Nam mới biết “đường” nào là đường trắng, đường nào là đường thẻ, may phước gài kịp “số de,” chứ chậm chân một chút nữa có thể bị tai nạn lưu thông chết hết cả nhà (như trường hợp kịch tác gia Lưu Quang Vũ và gia đình).  Đề nghị “trí thức” phe ta nên đọc cuốn “memoir” (mémoire) của cái gọi là “tảng đường mía chết hụt này” để cho sáng mắt sáng lòng.

Thôi, phải cất công nói chi cho xa xôi, tấm gương sát bên mình là thầy (?) Châu Tâm Luân [2], bà (?) Ngô Bá Thành [3], ông Chu Phạm Ngọc Sơn, Trần Ngọc Liễng… bằng cấp treo đầy cả tường, nhìn phát chóng mặt… các tên cố đạo Nguyễn Ngọc Lan, Chân Tín không lo phận sự rao giảng phúc âm của Chúa mà cứ lo nói xa nói gần để ru ngủ người mọi người dân miền Nam bỏ súng hướng về xã hội “thiên đường.” Nhưng ngay chính cá nhân của mình lại phải đợi được đối diện thật sự với “thiên đường” (?) mới “thức tỉnh”(!)

Phụ Chú:

[1] Nguyễn Văn Trấn đây là Bảy Trấn (chứ không phải là ông Nguyễn Văn Trấn hậu sinh nào đó mới “về thăm Việt Nam sau 32 năm” đâu!) Đây là Trấn “Camel (dân cậu miệt vườn, chỉ hút thuốc lá hiệu Camel) người chợ Đệm Long An, loại trí thức địa chủ, một đại thụ của Cộng Sản thời thập niên 30… Đại thụ nầy là tác gỉa cuốn sách “Viết Cho Mẹ Và Quốc Hội;”(để chửi xéo đảng CSVN).  Hắn cùng cỡ tuổi với các tên trùm CS như Trần Văn Giàu, Dương Bạch Mai, Ung Văn Khiêm… đã bỏ lúa ruộng không ai thâu, nhà lầu không ai ở để đi theo Cộng Sản.  Nguyễn Văn Trấn đã từng là chính ủy Khu 9 (miền Tây Nam bộ), chủ nhiệm báo “Le Peuple” đấu tranh công khai với thực dân thời Cộng Sản miền Nam như vịt mới ra ràng.  Tập kết ra bắc (cùng lúc với Tô Ký, Đồng Văn Cống, Huỳnh Văn Nghệ...) Sau này Lê Duẩn không cho Nguyễn Văn Trấn được đến một cục xương còn dính chút thịt để gặm cho đỡ tủi! Về Nam sau năm 75, chả có chức vụ gì dù đã có 62 tuổi đảng (tính đến năm 1997), ôm nỗi uất ức cho tới ngày chết.

[2] Châu Tâm Luân người Việt gốc “xì dầu củ cải muối,” được đi du học Hoa Kỳ bằng học bổng quốc gia của VNCH, tốt nghiệp tiến sĩ Kinh Tế (Đại Học Illinois năm 1966), về Việt Nam cuối thập niên 60, dậy môn “Kinh Tế Nông Thôn” và “Quản Trị Nông Trại” tại Trung Tâm Quốc Gia Nông Nghiệp (TTQGNN) Sài Gòn (và cũng dậy môn Kinh Tế tại Đại Học Vạn Hạnh).  Ông Châu Tâm Luân đã có lần giữ chức vụ “giám đốc” TTQGNN (gồm cả 3 trường Cao Đẳng Canh Nông, Cao Đẳng Thủy Lâm và Cao Đẳng Thú Y Sài Gòn) trong một thời gian ngắn (vào giai đọan mà các chính trị gia mới trổ mã dậy thì Hùynh Tấn MẫmLê Văn Nuôi sách động sinh viên, học sinh Sài gòn “xuống đường” biểu tình chống Mỹ và chống chính phủ VNCH mạnh mẽ nhất).  Trong các lớp học Kinh Tế mà ông Luân dậy, ông công khai giảng cho sinh viên là “xã hội chủ nghĩa là con đường duy nhất (sic) để đưa Việt Nam đến vinh quang (Giỏi nhỉ! Tiến sĩ củ cải này chép y chang lại lời của việt gian HCM)” mà không hề thấy ông ta bị công an cảnh sát của chính phủ VNCH đến hỏi thăm (?) – Có lẽ ông ta “too visible!” lúc bấy giờ vì thường xuyên được truyền thông của Mỹ đến trường phóng vấn dài dài (đài CBS, NBC, ABC…) Vào những năm, những ngày cuối cùng của VNCH, xì thẩu Châu Tâm Luân đứng cùng danh sách với các nhân vật của “thành phần (lòng thòng ở chính giữa!) gọi là thứ 3,” rất ồn ào hô hào hòa giải hòa hợp dân tộc… Sau 30 tháng 4 năm 1975, con vẹt ngây thơ này không được CS dùng đến 1 ngày để quét lá đa (không phải đi “cải tạo” vì đã tốt nghiệp tiến sĩ tại Hoa kỳ là may lắm rồi).  Sau đó ông Châu Tâm Luân trốn vượt biên đi định cư ở ngọai quốc (định cư ở Thụy sĩ?) Chứ Mỹ chắc chắn là họ không chấp nhận con két “thổ tả” này!)

[3] Bà (?) Ngô Bá Thành tên thật là Phạm Thị Thanh Vân (Ngô bá Thành là tên chồng của bà).  Ông Ngô Bá Thành cũng là công chức của VNCH, dậy học trường Cao Đẳng Canh Nông Sài Gòn.  Kể ra chính phủ VNCH dân chủ và dễ dãi thiệt, vẫn trả lương tháng đầy đủ, vẫn cho ông Ngô Bá Thành dậy học như chẳng hề có chuyện gì xẩy ra… Bà Thành tốt nghiệp tiến sĩ Luật tại Pháp và sau đó có học và làm việc trong một thời gian ngắn tại Đại Học Columbia (New York) Hoa Kỳ.  Ở Sài Gòn, bà Ngô bá láp này tự phong cho mình là “chủ tịt” của “Phong trào phụ nữ đòi quyền sướng;” biểu tình, tuyệt thực chống chính phủ VNCH (và sự hiện diện của đồng minh ở Việt Nam) rất kịch liệt.  Sau 30 tháng 4 năm 1975 được CS cho làm đại biểu Quốc Hội CS trong 3 khóa (6,7 và 8).  Đến khóa 9 thì bị gạt ra.  Bà chỉ tuyên bố sự tức giận của mình (bà cho là mình bị gian lận bầu cử?  Xin nhờ bà một tí: Chế độ CS làm quái gì có bầu cử một cách dân chủ?) qua sự phỏng vấn của đài BBC chứ chả bao giờ dám biểu tình hay tuyệt thực gì cả?

(E.M.)

Posted in: ,