Tuesday, March 31, 2009

30 Tháng Tư: Lịch-Sử Tái Diễn ? (Hoàng Duy Ân)

Trong bài “Điềm Trời” (24/3/09) người viết đã nhắc đến đàn sâu xuất hiện ở Phan Rang cũng vào tháng 3/1975 và Cộng quân tràn ngập Miền Nam Tự Do tháng Tư- 1975!

Cũng giữa tháng 3/2009 những đàn bướm dày đặc xuất hiện ở Đà Nẵng và Thanh Hóa theo một vài tờ báo trong nước!

Tuổi Trẻ ngày Thứ Bảy 28/3/2009: “Hàng vạn công nhân Trung Quốc đã vào VN!”

Không còn nghi ngờ gì nữa! Đàn bướm xuất hiện như một “điềm Trời” báo hiệu chào mừng đoàn quân xâm lăng Tầu Cộng ồ ạt tràn vào VN không cần mang theo súng đạn, vũ khí đã chứa sẵn trên những chiến hạm đã tăng cường ở Biển Đông!

Đội quân tình báo chiến lược trá hình của Tầu Cộng đã xâm nhập Tây Nguyên, nay đội dân quân xâm nhập theo những “Dự án lớn trong ngành xây dựng” đúng sách lược “Hợp tác toàn diện” đã đạt được một lúc nhiều mục tiêu: giảm thiểu đội ngũ thất nghiệp đang ngày càng gia tăng tại mẫu quốc, tạo gánh nặng thất nghiệp thêm cho thuộc địa chư hầu! Trong khi CSVN nỗ lực đem rao bán lao động nê lệ khắp thế giới thì Tầu Cộng lùa người của chúng vào thay thế, một đội ngũ thanh niên dư thừa của Tầu Cộng không có điều kiện để cưới vợ, đẻ con tại chính quốc sẽ vô cùng thuận lợi mua gái VN đang khó khăn trong giấc mộng lấy chồng Đài Loan, Nam Hàn, Mã Lai… hiện nay. Những thị trấn làng xã Cộng Tầu kiều sẽ rất sớm hình thành trên toàn cõi VN!

Việt Nam từng thu nhận người Hoa tị nạn, nhưng đó là những thành phần chống lại tân vương triều mà họ phải đào thoát khỏi nước, cho nên họ phải tuân hành và làm lợi cho chính quyền nơi họ được dung thân. Khác với đội ngũ xâm lăng kinh tế hiện nay, được chính quốc họ bảo vệ, nhà nước thuộc địa cũng phải bảo vệ họ theo lệnh Thiên triều: người dân VN sẽ là thân phận người dân Tây Tạng hiện tại!

Giờ G đã điểm!

Chuyện mất nước, nguyên nhân không chỉ xẩy ra trong một sớm một chiều!

Nhiều sự kiện tích lũy để đến hôm nay là giọt nước tràn ly, là quả chín rụng!

Vì thiển cận, vì tham vọng quyền lực, Hồ Chí Minh và đảng CSVN đã bất chấp dân tộc và đất nước! Đã có biết bao nhiêu người lên tiếng cảnh báo, can gián và họ đã bị tiêu diệt như những vật cản đường! Để chỉ còn lại một đội ngũ robot tướng lãnh, trí thức khoa bảng, sử gia, nhà văn, nhà thơ, nhà báo…ton hót, xu nịnh để hưởng bổng lộc! Đội ngũ nầy đã phụ họa đắc lực cho công cuộc bán nước của Hồ và đồng đảng từ khởi thủy cho đến hôm nay mục tiêu đã đến đích!

Những triều đại Bắc phương càng về sau càng nham hiểm: Tầu Cộng nham hiểm hơn triều Minh, triều Thanh.

Những lãnh đạo Tầu Cộng càng về sau càng thâm độc, Hồ thâm độc hơn Giang, Giang thâm độc hơn Đặng, Đặng thâm độc hơn Mao!

Trong khi đó lãnh đạo CSVN càng về sau càng hèn hạ và càng ngu muội!

Không ai bắt buộc phải chống lại một nước lớn lân cận, nhưng cúi đầu một cách đê hèn đồng thời hủy diệt sức mạnh và ý chí của dân tộc là một sai lầm, là một tội ác không thể biện minh!

Ông cha ta xưa cũng phải cúi đầu nhẫn nhục, dù sau khi đã đánh thắng xâm lăng phương Bắc là để nuôi dưỡng sức dân, chịu hèn vì dân, vì nước: cái hèn đó phải được tôn vinh, phải được ngưỡng mộ. Nhún nhường đối ngoại để chăm lo và phát triển đời sống cho dân, giặc dù có mạnh, dù có muốn gây hấn, người dân sẵn sàng chết: “Duyệt dã sử dân, dân vong kỳ lao. Duyệt dã phạm nạn, dân vong kỳ tử.” (Dịch)

CSVN tự cho mình là “sống khôn ngoan bên cạnh nước lớn!” như cha ông đời trước là lời dối trá hết sức trơ trẽn!

Dù nhẫn nhục cha ông đâu có cắt đất để cống nạp cho ngoại bang!

Dù nhẫn nhục cha ông đâu có khờ dại rước giặc vào khai thác tài nguyên đất nước!

Mềm dẻo ngoại giao nhưng cha ông đâu có chà đạp đồng bào, cướp ruộng vườn tài sản của dân!

Cha ông đâu có chém đầu hay nhốt tù những người dùng lời thẳng thắn để can gián về những việc tổn dân hại nước!

“Đảng CSVN do nhân dân VN lựa chọn!” Dù đây là lời áp đặt, hỏi rằng đã quá muộn để người dân VN tự mình lựa chọn laị cho đúng?

“Quân đội nhân dân trung với đảng!” Đây là lệnh cưỡng hành, hỏi rằng những người đang cầm súng “bảo vệ đất nước” đã nhìn ra chưa khi đảng nầy là “đảng bán nước?” Ngay chính tên bộ trưởng quốc phòng Phùng Quang Thanh mới nhất đã phải xin xác định “hợp tác chiến lược toàn diện” với đại diện quân cướp nước là Đới Bỉnh Quốc?

Có còn cần thiết để nắn nót những thư ngỏ “kính gởi tổng bí thư, kính gởi thủ tướng, kính gởi tướng lãnh…” nữa không?

Bởi chúng nó có còn là con người, con người Việt Nam nữa đâu?

29/3/2009

nguyễn Duy Ân

Tình hình khẩn cấp SOS: Ai du nhập hiểm nguy? Làm gì để cứu nguy đất nước?

Hiểm họa bôxít là có thật.

Hiểm họa bôxít là cực kỳ nghiêm trọng.

Các trí thức hàng đầu của đất nước ta đã cất lên, khẩn cấp và nghiêm khắc, lời cảnh báo đầy sức thuyết phục.

Mời đồng bào đọc kỹ lại những bài của tiến sỹ Nguyễn Thành Sơn, nhà văn Nguyên Ngọc, nhà báo Phạm Đình Trọng, nhà nghiên cứu Nguyễn Trung, các tướng Võ Nguyên Giáp và Nguyễn Trọng Vĩnh...

Những tài liệu quốc tế cũng xác minh thêm những hiểm hoạ diệt môi trường và diệt mạng sống con người của chất độc bôxít.

Hôm nay, nữ chuyên gia về môi trường của Liên Hợp Quốc Nguyễn Thùy Trang hiện công tác ở châu Phi góp thêm tiếng nói cảnh báo sâu sắc về nguy cơ của "bụi đỏ" và "bùn đỏ" đối với mạng sống con người. Ở châu Phi, "bùn đỏ" bôxít gây nên dị tật cho thai nhi động vật uống phải nước ô nhiễm; ở châu Úc, "bụi đỏ" bôxít gây ung thư phổi, viêm mũi, biến dạng cổ tử cung cho động vật thí nghiệm. Trên con người, "bụi và bùn đỏ" gây nên khó thở, chóng mặt, buồn nôn, sau đó đau ngực, có thể bị xỉu bất cứ lúc nào. Bụi đỏ nhẹ tung bay mọi nơi, bùn đỏ ngấm vào mọi nguồn nước, gây ô nhiễm sông, hồ, giếng ở những vùng rộng lớn. Rau nhiễm bụi đỏ chứa chất độc. Nước mưa cũng nhiễm bụi độc trong không khí.

Ai là người chủ trương khai thác bôxít ? Đó là 15 người trong bộ chính trị đảng CS, cụ thể là tổng bí thư Nông Đức Mạnh đã đích thân hạ bút ký trong Tuyên bố chung Việt - Trung năm 2008, là thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng coi chủ trương khai thác bôxít là "chủ trương lớn của nước ta", là bộ trưởng ngoại giao Phạm Gia Khiêm lén lút cho hàng chục ngàn công nhân Trung quốc vào nước ta, rải từ Lạng Sơn, Hải Phòng, Quảng Ninh, vào Lâm Đồng, Đak Nông, Bình Thuận cho đến tận Cà Mau. Mặc cho lao động ta thất nghiệp lên gần nửa triệu, họ đang có kế hoạch đưa 30 vạn lao động Trung quốc vào nước ta trong năm nay, bất kể việc này đang và sẽ gây nên những xáo trộn về kinh tế, tài chính, văn hoá - xã hội và an ninh phức tạp chưa lường hết.

Bộ chính trị độc đoán bỏ ngoài tai mọi cảnh báo, can ngăn; lo ngại trước yêu cầu mở một cuộc thảo luận khoa học rốt ráo; tảng lờ đòi hỏi tổ chức một cuộc hỏi ý dân; không dám tổ chức cho Mặt trận Tổ quốc phản biện. Họ lao vào hành động, cứ như đất nước này là của riêng họ, ngang nhiên khiêu khích công luận và nhân dân đông đảo.

Chưa bao giờ nhóm lãnh đạo toàn thể bộ chính trị phơi bày bản chất độc đoán, sùng ngoại, quay lưng lại với nhân dân, cúi đầu trước ngoại bang như hiện nay.

Họ coi mỗi ý muốn của Trung Nam Hải - Bắc kinh như ý Trời; coi yêu cầu của nhóm Hồ Cẩm Đào - Ôn Gia Bảo như nghiêm lệnh của cấp trên; họ tự đánh mất tư thế lãnh đạo khi tỏ ra không còn lòng tự trọng của quốc gia, không bảo vệ cuộc sống và quyền lợi của dân tộc này. Nhóm lãnh đạo đất nước, ngồi ở trên cao mà để cho những công dân Nguyễn Thành Sơn, Phạm Đình Trọng, Nguyên Ngọc, Nguyễn Trung, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Trọng Vĩnh (đã nghỉ hưu), cô Nguyễn Thuỳ Trang khuyên bảo lời hơn lẽ thiệt, dạy khôn ngoan và đạo đức, mà vẫn không chịu nghe ra, không chịu sáng mắt ra.
Vậy thì mọi công dân thật lòng yêu nước, thật lòng thương dân, chúng ta phải làm gì đây ?

Chúng ta không ở trong một nước dân chủ, không thể chờ một cuộc tổng tuyển cử mới để mời 15 vị ù lỳ tệ hại về nghỉ, tự chọn ra những nhân tài chân chính thật ra không hề thiếu. Việt nam vẫn còn là một trong 55 nước không có tự do trong gần 200 nước trên quả đất. Bế tắc, và nhục. Nước "đèn đỏ tự do", nên chuốc lấy "bụi đỏ" , "bùn đỏ" và mọi tai hoạ khác như tham nhũng, trì trệ hôm nay.

Không thể khoanh tay thúc thủ, để mặc cho hiểm hoạ lù lù đến cho nhân dân và đất nước.

Bạn biết không, bành trướng đang lấn mạnh khi thấy kẻ cầm quyền thúc thủ. Các công ty điện, ximăng, hoá chất, nhôm CHALCO, Nhất An/Quảng Tây giăng cờ xí khắp vùng Qủang Ninh, Hải Phòng, Tây Nguyên, Cà Mau rồi. Họ đi lại như nơi vô chủ. Đất nước lâm nguy !

Mọi sáng kiến xin tìm tòi và phát biểu khẩn cấp.

Từ Bắc chí Nam, từ đồng bằng lên Tây nguyên hãy xuất hiện khắp nơi khẩu hiệu : "KHÔNG với Bôxít", "STOP ! Bôxít !", "Ngưng lại !Bôxít! Ngưng lại! lao động nước ngoài !", "Hãy mở Hội thảo khoa học về bôxít đã !", "Bụi đỏ, bùn đỏ bôxít là nguồn chết !", "Không phá chè, cafê, tiêu, cao su - nguồn sống xanh của Tây Nguyên!"

Xin mời các giới, tổ chức, hội...cần và nên tham gia cuộc vận động khẩn cấp bảo vệ màu xanh Tây nguyên :

- Giới bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ môi trường, Bộ tài nguyên và môi trường ;

- Giới y tế, bảo vệ sức khoẻ, bảo vệ bà mẹ và trẻ em, Hội Hồng Thập Tự ;

- Giới luật học, luật sư, sinh viên luật:thực hiện luật Môi trưởng; - Các công đoàn, bảo vệ công nhân VN, phản đối đưa ồ ạt lao động nước ngoài vào;

- Các cựu binh sỹ từng tham gia các chiến dịch Tây nguyên và chiến trường Tây nguyên;

- Các hội đoàn công nghiệp và kỹ thuật, các nhà khoa học ;

- Các tổ chức du lịch, bạn của Đà lạt, Lâm Đồng, của Tây nguyên; - Giới báo chí, báo ngày, báo tuần, báo mạng, báo nói, các bloggers tự do, với những bài bình luận, nghiên cứu, thông tin, phóng sự, phỏng vấn, ảnh chụp nhanh, nhậy, kịp thời. Hơn 10 nghìn nhà báo, báo viết, báo nói, báo ảnh, im cả sao !

- Giới tôn giáo : cầu nguyện, tụng niệm, kiến nghị bảo vệ giáo dân (vùng khai thác hiện tại có nhiều bà con dân tộc theo đạo Tin Lành ), cho Quốc thái Dân an, cầu soi sáng những người lãnh đạo mù quáng, tham nhũng, tối tăm ...

Các tổ chức và cá nhân, hãy đánh động dư luận, bàn tán, trao đổi về đề tài Bôxít, những ngày nghỉ, buổi nghỉ, nhân các cuộc gặp mặt, ma chay, đình đám, hội hè, cưới xin ...

Các cử tri địa phương hãy chất vấn mạnh mẽ các đại biểu Quốc hội để buộc bộ chính trị CS phải mở mồm giải trình minh bạch trong khoá họp tháng 4 này.

Đặc biệt các bạn trẻ năng động đầy sáng kiến và nhiệt huyết !

Mỗi người góp một tay, chúng ta sẽ cùng nhau làm nên chuyện lớn. Toà nhà nào cũng làm nên từ từng viên gạch quý.

Xin bà con đồng bào ta đồng tâm nhất trí coi các đề tài đấu tranh nóng bỏng Xuân - Hè 2009 này là :

- chủ quyền quốc gia toàn vẹn trên đất liền, vùng biển và đảo của Tổ quốc : đòi công bố bản đồ chi tiết đường biên giới; đòi đăng ký thềm lục địa mở rộng cho Liên Hợp Quốc trước 13-5-2009.

- từ bỏ ngay việc khai thác bôxít theo thúc ép của ngoại bang, hiểm họa mọi mặt và lâu dài cho đất nước và dân tộc !

- đưa ra xét xử công khai không chậm trễ các vụ tham nhũng lớn PCI, PMU 18 ... và 10 vụ khác như Ban chống tham nhũng đã cam kết (vụ PMU18 kéo dài hơn 3 năm) .

Tình hình khẩn cấp. Tây Nguyên là mái nhà Việt nam.

Đất nước lâm nguy. Trong ngoài câu kết, họ phá ta từ mái nhà phá xuống.

Cả nước đứng cả dậy, thét : không ! không với khai thác Bôxít.

Stop ! Bôxít.

Không ! Việt nam không phải dân hèn, dân loại 2, gánh chịu muôn vàn tai hoạ thay cho dân thượng đẳng, thay cho chủ, như 15 bộ não lãnh đạo mất gốc thôi thúc. Thôi nhé ! Đủ quá rồi !

Keo này thử sức. Gan vàng dạ sắt. Cả nước, trong, ngoài gắn bó, Việt nam ta quyết thắng. Việt nam ta sẽ thắng !

Có phải không ? Cô ! bác ! anh! chị ! các bạn !

Paris 31-3-2009.


Bùi Tín

Monday, March 30, 2009

MỘT THÁNG BIỂU TÌNH TẠI GIA


THÔNG CÁO BÁO CHÍ LÀM TẠI PARIS NGÀY 30.3.2009
Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ kêu gọi Đồng bào các giới trong nước Bất tuân dân sự - Biểu tình tại gia suốt tháng 5 để yêu sách bãi bỏ khai thác quặng bô-xít Tây nguyên gây đại nạn sinh thái và an ninh quốc phòng
PARIS, ngày 30.3.2009 (PTTPGQT) - Sáng nay Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ gửi đến Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế “Lời Kêu gọi Một Tháng Biểu tình Tại gia” để phổ biến đến các cơ quan truyền thông, báo chí cùng đồng bào các giới mong được sự hưởng ứng trước nguy cơ đại nạn sinh thái và an ninh quốc phòng nơi yết hầu quân sự Tây nguyên.

Nhân danh Hội đồng Lưỡng Viện (Viện Tăng thống và Viện Hóa Đạo), Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ cất lên lời kêu gọi. Bởi vì theo nhận định của Hòa thượng, hiện nay “lãnh đạo Nước Nhà không là Lý Thái Tổ, Trần Nhân Tông, Lê Thái Tổ, mà là một chính quyền ly khai dân, lệ thuộc nước ngoài, từ ý thức hệ đến cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước, làm đảo lộn xã hội và nhân văn Việt Nam”. Nên hy vọng cuối cùng của Hòa thượng là “CHỈ CÒN LẠI TIẾNG NÓI CỦA TOÀN DÂN MỚI CÓ CƠ CỨU VÃN”.
Hòa thượng kêu gọi tháng Tư này xin đồng bào các giới chuẩn bị lương thực để có thể thực hiện suốt tháng 5.2009 làm tháng “Bất tuân dân sự” biểu dương bằng cuộc “Biểu tình Tại gia” : “Nông dân không ra đồng, Công nhân không đến xưởng, Thương gia, Tiểu thương không đến chợ, Sinh viên, học sinh không đến trường”. Sống dưới chế độ độc tài toàn trị, mọi tự do cơ bản đều bị tiêu hủy, đặc biệt tự do ngôn luận, tự do biểu tình. Công an là thế lực đàn áp và bắt bớ Người Biểu tình. Cho nên đối sách là Biểu tình tại chỗ, trong nhà mình, thì cuộc bắt bớ không thể thực hiện.

Với người Việt hải ngoại, Hòa thượng kêu gọi “đồng bào các giới ở hải ngoại hưởng ứng bằng việc không về du lịch và không gửi tiền về Việt Nam trong suốt tháng Năm 2009, ngoại trừ những trường hợp riêng tư khẩn cấp hay bất khả”.

Với các cơ quan truyền thông, báo chí Hòa thượng kêu gọi xin “giúp đỡ chuyển vận Lời kêu gọi này của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất đến các giới đồng bào trong và ngoài nước”.

Lời kêu gọi trình bày chi tiết đầy đủ về đại nạn sinh thái gây ra do việc khai thác quặng bô-xít ở Tây nguyên. Nhất là “công nghệ lạc hậu khai thác quặng bô-xít chỉ có ở Trung quốc là công nghệ “ướt”, trong khi các quốc gia tiên tiến đã chuyển công nghệ “ướt” sang công nghệ “khô” trong việc thải bùn đỏ, là nguy cơ gây đại nạn sinh thái cho Tây nguyên, miền Nam Trung bộ và đồng bằng sông Cửu Long”. Điều trầm trọng hơn nữa, theo lời Hòa thượng, là “nguy cơ an ninh quốc phòng. Tây nguyên là vùng chiến lược, yết hầu quân sự cho việc phòng ngự Việt Nam trên ngã ba biên giới Cam Bốt – Lào – Việt Nam”.

Lời kêu gọi thống thiết của Hòa thượng Thích Quảng Độ là : “Trọng Thủy đã cưỡng bức Mị Nương trên dãy Trường Sơn. Còn ngoài kia trên biển Đông, Trung quốc cũng đang lấn chiếm Hoàng Sa và Trường Sa…”

Mục tiêu của Tháng 5 Bất tuân dân sự - Biểu tình Tại gia, nhắm đạt 3 mục tiêu :

“1. Yêu cầu Nhà cầm quyền Việt Nam cấp tốc nộp hồ sơ xác nhận thềm lục địa của mình theo Công Ước Liên Hiệp Quốc Về Luật Biển cho Ủy Ban Ranh Giới Thềm Lục Địa (UNCLOS) trước ngày quy định của LHQ, là ngày 13 tháng 5 năm 2009, để bảo vệ quyền lợi và lãnh hải tổ quốc.

“Nếu Đảng và Nhà nước vẫn làm ngơ trước quyền lợi của tổ quốc, thì xin các Cộng đồng Người Việt hải ngoại cấp tốc thành lập Ủy ban Bảo vệ Lãnh hải Việt Nam, thu tập hồ sơ, vận động quốc tế và can thiệp trực tiếp đến Ủy Ban Ranh Giới Thềm Lục Địa (UNCLOS) để bảo vệ quê hương.

“2. Yêu cầu Nhà cầm quyền Việt Nam công bố toàn bộ nội dung hai bản Hiệp ước Biên giới trên đất liền và trên biển ký kết giữa Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1999 và 2000, kèm theo các bản đồ là bộ phận cấu thành không thể tách rời của Hiệp ước, để toàn dân được biết sự toàn vẹn lãnh thổ mà tiền nhân đã đem xương máu gầy dựng.

“3. Yêu cầu Nhà cầm quyền Việt Nam khẩn cấp triệu tập một Đại hội đại biểu toàn dân bao gồm các nhà khoa học, các chuyên gia kinh tế, kỹ thuật cơ khí luyện kim, các chiến lược gia quân sự cùng đại biểu các thành phần dân tộc bất phân chính kiến, tôn giáo trong và ngoài nước để cùng nhau thống nhất ý kiến chận đứng việc khai thác quặng bô-xít ở Tây nguyên.

Chúng tôi xin đăng tải toàn văn Lời Kêu Gọi Một Tháng Biểu Tình Tại Gia như sau:

HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT
VIỆN HÓA ĐẠO
Thanh Minh Thiền Viện, 90 Trần Huy Liệu, Phường 15, Quận Phú Nhuận, TP Saigon

Phật lịch 2552 Số 03 /VHĐ/VT


LỜI KÊU GỌI

MỘT THÁNG BIỂU TÌNH TẠI GIA
để chống việc lấy Vàng dân tộc đổi Nhôm nước ngoài

Bất chấp những lời báo động hiểm nguy của các chuyên gia, trí thức về việc khai thác quặng bô-xit ở Tây nguyên, ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vẫn một mực tiến hành việc lựa chọn nhà thầu Trung quốc vào Tây nguyên khi khẳng định : “Khai thác bô-xít Tây nguyên là chủ trương của Đảng nêu trong Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X”, nghĩa là từ năm 2006.

Đảng quyết định. Nhưng toàn dân thì sao ?

Toàn dân thông qua ý kiến của các giới chuyên gia, trí thức, học giả… đưa lên báo chí, truyền thông, Internet đều báo động rằng khai thác bô-xít sẽ hủy diệt mầu xanh rừng Tây nguyên, làm thay đổi thổ nhưỡng của vùng đất đỏ bazan, làm tăng thêm nguy cơ về hạn hán kéo dài, lũ ống, lũ quét sẽ xẩy ra nhiều hơn, đồng thời ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước ngọt để phát triển kinh tế cho các tỉnh vùng hạ lưu ở miền Nam Trung bộ, Đồng Nai, Bình Dương, thành phố Saigon. Từ nghìn xưa, mầu xanh rừng Tây nguyên bảo vệ cho việc tích trữ nước trong lòng đất, lọc không khí và điều hòa nhiệt độ toàn vùng. Phá hủy mầu xanh còn là phá hủy nghiêm trọng không những cảnh quan mà sắc thái văn hóa và quyền sống của hàng chục dân tộc ít người trên vùng cao.

Theo các báo cáo khoa học thì quặng bô-xít để sản xuất nhôm không là kim loại chiến lược. Giá trị kinh tế của nhôm không cao hơn việc trồng cây công nghiệp ở Tây nguyên. Bô-xít là tài nguyên khoáng sản có hạn, không tái sinh. Còn cây công nghiệp là nguồn tài nguyên vô hạn và có tái sinh. Ấy là chưa nói đến công nghệ lạc hậu khai thác quặng bô-xít chỉ có ở Trung quốc là công nghệ “ướt”, trong khi các quốc gia tiên tiến đã chuyển công nghệ “ướt” sang công nghệ “khô” trong việc thải bùn đỏ, là nguy cơ gây đại nạn sinh thái cho Tây nguyên, miền Nam Trung bộ và đồng bằng sông Cửu Long.

Bức thư ngỏ mà Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho biết từ năm 1980 Đảng và nhà nước đã đề nghị khối COMECON, tức khối kinh tế cộng sản Liên xô và Đông Âu, khai thác quặng bô-xít Tây nguyên. Nhưng theo thư ông Giáp thì “khối COMECON đã khuyến nghị Chính phủ ta không nên khai thác bô-xít trên Tây nguyên do những nguy cơ gây tác hại sinh thái lâu dài rất nghiêm trọng, không thể khắc phục được đối với dân cư tại chỗ mà còn cả dân cư và vùng đồng bằng Nam Trung bộ”.

Vì tính chất nguy hại sinh thái và cư dân quanh vùng khai thác bô-xít mà Cục bảo vệ môi trường quốc gia Trung quốc đã đóng cửa 100 mỏ bô-xít trên lãnh thổ Trung quốc từ năm 2004 đến 2008. Tại Ấn độ năm 2004 đã có một phong trào quần chúng lớn rộng nổi dậy biểu tình chống việc khai thác bô-xít tại bang Orissa trên diện tích 1000 hecta làm nguy hại 60.000 cư dân.

Tại Việt Nam hiện nay, chỉ nói đến một cứ điểm Đắk Nông ở phía cực nam Tây nguyên hiện đang có 7 mỏ khai thác bô-xít, tất thấy ngay nguy cơ sa mạc hóa - “bùn đỏ hóa mầu xanh” trên 6000 quả đồi với hàng trăm con suối trên một diện tích 600.000 hecta, nơi cư ngụ 29 dân tộc ít người, chủ yếu là cư dân bản địa người M’Nông. Để khai thác 5,4 tỉ tấn quặng thô bô-xít ở Đắk Nông thì chất thải bùn đỏ sẽ phủ lấp hàng nghìn buôn làng : khi ta biết rằng để có 1 tấn nhôm cần khai thác 4 tấn quặng bô-xít và thải ra môi trường 3 tấn bùn đỏ !

Vấn nạn nêu trên nằm trong lĩnh vực môi trường và sinh thái cho cư dân Tây nguyên. Một vấn đề trầm trọng khủng khiếp khác là nguy cơ an ninh quốc phòng. Tây nguyên là vùng chiến lược, yết hầu quân sự cho việc phòng ngự Việt Nam trên ngã ba biên giới Cam Bốt – Lào – Việt Nam. Việc nhà thầu Trung quốc khai thác quặng bô-xít đã bắt đầu, những làng người Hoa vừa dựng lên ở Tây nguyên, khoảng năm, mười nghìn người Trung quốc sẽ tới : Trọng Thủy đã cưỡng bức Mị Nương trên dãy Trường Sơn. Còn ngoài kia trên biển Đông, Trung quốc cũng đang lấn chiếm Hoàng Sa và Trường Sa…

Nguy cơ mất nước bắt đầu.

Lần này không chỉ Bắc thuộc Một Nghìn Năm, mà là Ba Nghìn Năm hay lâu hơn nữa khi lãnh đạo Nước Nhà không là Lý Thái Tổ, Trần Nhân Tông, Lê Thái Tổ, mà là một chính quyền ly khai dân, lệ thuộc nước ngoài, từ ý thức hệ đến cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước, làm đảo lộn xã hội và nhân văn Việt Nam.

CHỈ CÒN LẠI TIẾNG NÓI CỦA TOÀN DÂN MỚI CÓ CƠ CỨU VÃN. Trước là chận đứng việc lấy Vàng, tức dân tộc, đổi lấy Nhôm ngoại quốc. Sau là bảo vệ sự Vẹn toàn lãnh thổ mà tiền nhân đã đem xương máu gầy dựng.

Nhân danh Hội đồng Lưỡng Viện, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, tôi kêu gọi người Việt trong ngoài nước hãy tỏ thái độ trước nguy cơ hủy hoại mầu xanh Tây nguyên và đời sống của người Việt cũng như hàng chục dân tộc ít người trong việc khai thác quặng bô-xít không thông qua nghiên cứu khoa học và kinh tế, mà chỉ vụ vào sự lệ thuộc Bắc phương.

Kính xin người Việt nước ngoài khẩn cấp báo động công luận thế giới về đại nạn sinh thái Tây nguyên, và nguy cơ nối giáo Bắc Kinh trấn đóng yết hầu chiến lược vùng ba biên giới.

Kính xin người Việt trong nước hãy tỏ thái độ bằng cuộc biểu dương BẤT TUÂN DÂN SỰ trong suốt tháng 5 kể từ ngày Lễ Lao động 1.5 sắp tới.

Sống dưới chế độ độc tài, công an trị, người dân đã mất quyền biểu tình công cộng nói lên ngưỡng vọng thiết tha suốt 54 năm tại miền Bắc và 34 năm qua tại miền Nam, thì nay hãy BIỂU TÌNH TẠI GIA như một thái độ Bất tuân dân sự : Nông dân không ra đồng, Công nhân không đến xưởng, Thương gia, Tiểu thương không đến chợ, Sinh viên, học sinh không đến trường. Chúng ta có một tháng Tư để chuẩn bị lương thực cho gia đình nhằm thực hiện tháng Năm BẤT TUÂN DÂN SỰ - BIỂU TÌNH TẠI GIA để đòi hỏi ba yêu sách sau đây :

1. Yêu cầu Nhà cầm quyền Việt Nam cấp tốc nộp hồ sơ xác nhận thềm lục địa của mình theo Công Ước Liên Hiệp Quốc Về Luật Biển cho Ủy Ban Ranh Giới Thềm Lục Địa (UNCLOS) trước ngày quy định của LHQ, là ngày 13 tháng 5 năm 2009, để bảo vệ quyền lợi và lãnh hải tổ quốc.

Nếu Đảng và Nhà nước vẫn làm ngơ trước quyền lợi của tổ quốc, thì xin các Cộng đồng Người Việt hải ngoại cấp tốc thành lập Ủy ban Bảo vệ Lãnh hải Việt Nam, thu tập hồ sơ, vận động quốc tế và can thiệp trực tiếp đến Ủy Ban Ranh Giới Thềm Lục Địa (UNCLOS) để bảo vệ quê hương.

2. Yêu cầu Nhà cầm quyền Việt Nam công bố toàn bộ nội dung hai bản Hiệp ước Biên giới trên đất liền và trên biển ký kết giữa Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1999 và 2000, kèm theo các bản đồ là bộ phận cấu thành không thể tách rời của Hiệp ước, để toàn dân được biết sự toàn vẹn lãnh thổ mà tiền nhân đã đem xương máu gầy dựng.

3. Yêu cầu Nhà cầm quyền Việt Nam khẩn cấp triệu tập một Đại hội đại biểu toàn dân bao gồm các nhà khoa học, các chuyên gia kinh tế, kỹ thuật cơ khí luyện kim, các chiến lược gia quân sự cùng đại biểu các thành phần dân tộc bất phân chính kiến, tôn giáo trong và ngoài nước để cùng nhau thống nhất ý kiến chận đứng việc khai thác quặng bô-xít ở Tây nguyên.

Tháng Năm BẤT TUÂN DÂN SỰ - BIỂU TÌNH TẠI GIA sẽ là thái độ dũng cảm nói lên mối ưu tư Bảo vệ sinh thái và Vẹn toàn lãnh thổ của toàn dân trong giai đoạn cấp cứu của lịch sử. Dân chủ là Tiếng Nói, một tiếng nói đối thoại và tranh luận khi quê hương nguy biến để tiến tới giải pháp cứu nguy dân tộc. Nay là cơ hội và thời điểm sinh tử để Tiếng Nói cất lên thông qua một tháng BIỀU TÌNH TẠI GIA.

Kính xin đồng bào các giới trong nước hưởng ứng THÁNG BIỂU TÌNH TẠI GIA trong suốt tháng 5.2009, và đồng bào các giới ở hải ngoại hưởng ứng bằng việc không về du lịch và không gửi tiền về Việt Nam trong suốt tháng Năm 2009, ngoại trừ những trường hợp riêng tư khẩn cấp hay bất khả.

Kính xin các cơ quan truyền thông, báo chí giúp đỡ chuyển vận Lời kêu gọi này của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất đến các giới đồng bào trong và ngoài nước.

Thanh Minh Thiền viện, Saigon ngày 29.3.2009

Xử lý Thường vụ Viện Tăng thống

Kiêm Viện trưởng Viện Hóa Đạo

(ấn ký)

Sa môn Thích Quảng Độ


*******************************************************************
Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế
International Buddhist Information Bureau
Bureau International d'Information Bouddhiste
Cơ quan Thông tin và Phát ngôn của Viện Hóa Ðạo, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất
B.P. 60063 - 94472 Boissy Saint Léger cedex (France) - Tel.: (Paris) (331) 45 98 30 85
Fax : Paris (331) 45 98 32 61 - E-mail : ubcv.ibib@buddhist.com
Web : http://www.queme.net
*******************************************************************

Bức tâm thư gửi Luật sư Lê Trần Luật - J.B Nguyễn Hữu Vinh

J.B Nguyễn Hữu Vinh

Hà Nội, vài giờ trước phiên Toà Phúc thẩm, 27/03/2009
Anh Lê Trần Luật thân mến

Đến hôm nay, tôi mới viết được mấy dòng này để gửi tới anh, dù những khó khăn anh đã gặp phải không chỉ mới vài ngày gần đây. Nhưng xin hãy hiểu và thông cảm cho nhau nhiều khi con người ta vẫn phải chấp nhận câu nói “lực bất tòng tâm”.
Chắc anh hiểu, để có thể nói lên những lời nói chân thành, trung thực với nhau nhiều khi cũng không phải dễ dàng. Càng khó hơn khi chúng ta muốn nói lên những điều dựa trên Sự thật, Công lý. Sự dối trá và bạo lực trong xã hội đang chúng ta đang sống lại quá nhiều, nhiều khi, để nói lên được những sự thật trong cuộc sống, thật khó lắm thay.
Gửi tới anh những dòng này là điều cách đây chỉ mấy ngày thôi tôi chưa hề nghĩ tới. Bởi, tôi vẫn cứ nghĩ rằng trên con đường ra toà ngày mai của giáo dân Thái Hà, sẽ có anh đi bên cạnh. Dù anh là một người không ở trong đạo Công giáo, nhưng những giáo dân vẫn tin tưởng và giao phó cho anh một nhiệm vụ: Bảo vệ quyền lợi cho họ theo các quy định của pháp luật trước một phiên toà mà họ là bị cáo. Họ muốn được anh hướng dẫn họ những thủ tục, những hiểu biết pháp luật để hành xử trong môi trường của một nhà nước được gọi là “pháp quyền xã hội chủ nghĩa”, nhất là trong vụ án này.
Những tưởng rằng, đó là việc làm bình thường của một luật sư, nhưng quả thực cuộc sống không hề đơn giản, phải vậy không anh?
Những ngày qua, anh trở thành nổi tiếng trên các diễn đàn thông tin nhiều chiều, chính thống và không chính thống. Ở đó, nội dung thông tin về anh hầu như trái ngược.
Các báo của nhà nước nói anh là một con người không trung thực, một người dối trá, ăn quỵt, lừa đảo và nhiều những điều khác nữa… Nhưng trên các trang thông tin khác, anh lại là con người dũng cảm, can đảm, được sự tin tưởng và yêu mến của những người dân thấp cổ, bé họng và những người cần lao. Những người đó đang đứng bên anh và chính họ tự do, tự nguyện nói lên những điều đó.
Thôi, sự đời nhiều khi cũng đành phải để cho thực tế và thời gian phán xét, miệng lưỡi thế gian nhiều khi còn cay hơn cả ớt, sắc hơn cả dao cau, thậm chí còn độc ác hơn cả những loài rắn độc. Cha ông ta đã từng nói:
Mai mưa, trưa nắng, chiều nồm
Trời còn luân chuyển, huống chi mồm thế gian.
Chắc anh đã có quá nhiều kinh nghiệm với điều này trong suốt quá trình anh đã sống, nhất là những ngày vừa qua?
Với tôi, sự kiện Thái Hà đã đưa anh đến với những người dân Công giáo chúng tôi, và cũng từ sự kiện đó tôi được biết anh. Thời gian biết nhau chỉ mới mấy tháng, số lần gặp nhau chỉ mới vài ba lần, chưa đếm nổi trên đầu ngón tay của một bàn tay. Nhưng cũng như bao giáo dân Việt Nam và những người dân bình thường khác, ở anh có nhiều điều không dễ quên.
Nghĩ lại, anh cũng chỉ là một luật sư như muôn vàn luật sư khác, được học hành và sống bằng nghề nghiệp mình đã chọn, kiếm sống bằng trí tuệ sức lao động của mình. Ở Việt Nam chúng ta hiện nay, nghề đó cũng không phải là ít người.
Phải chân thành mà thừa nhận rằng: Trong xã hội, kể cả nghề luật sư của anh cũng không thiếu những người có thể coi là nhiều kinh nghiệm và tài giỏi hơn anh, nhưng chẳng ai biết đến họ. Thậm chí, còn có những người được người ta biết đến với sự khinh bỉ và coi thường.
Nhưng, anh đã trở thành một người nổi tiếng, một hiện tượng được nhiều người quan tâm. (Dù tốt hay xấu, thì chúng ta sẽ có thời gian để đánh giá, người đời sẽ có cái nhìn khách quan hơn sau những cơn xúc động cá nhân của mình, khi những sự thật trắng đen được chỉ rõ, vàng, thau không còn lẫn lộn, tôi tin là có ngày đó).
Điều đọng lại trong tôi và trong những người đã gặp anh, đó là sự dũng cảm hi sinh cho những nhu cầu tối thiểu trong một xã hội: Được sống trong một xã hội bình đẳng, mọi người cùng nhau đoàn kết, xây dựng đất nước này ngày càng ấm no, hạnh phúc và hùng cường. Chỉ đơn giản vậy thôi mà đã làm anh trở thành người nổi tiếng.
Qua đó, thật đáng suy nghĩ nhiều điều phải không anh? Trong một đất nước chúng ta với hơn 84 triệu dân, đầy đủ những gương mặt anh tài, đầy đủ tầng lớp trí thức, sỹ phu… học hành bằng cấp có đủ cả, thậm chí học tây học tàu cũng không thiếu. Đất nước chúng ta đã từng được tự hào khi nói về những sỹ phu Bắc Hà nêu cao khí tiết trong lịch sử. Những người dân Nam bộ chân chất “thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm vua đất Bắc” ngày xưa.
Nhưng ngày nay, có một luật sư chấp nhận chịu đựng những khó khăn và nhiều gian nan đứng ra bảo vệ những người Công giáo, những giáo dân Thái Hà đang đòi sự thật, công lý đòi luật pháp được thực thi qua hai phiên toà sơ thẩm và phúc thẩm hiện nay, đã trở thành người nổi tiếng.
Phải chăng, nghĩ cho cùng, đó là một điều lạ, một sự lạ lùng mà ngay cả chính bản thân anh cũng không hề muốn? Đơn giản là vì đã quá ít ỏi những con người như vậy trong xã hội mình.
Anh Luật thân mến,
Những ngày đã qua và những ngày tới, điều gì sẽ đón đợi anh, có thể nhiều người đã nghĩ tới. Dù trong hoàn cảnh nào thì cũng cần nói lên điều này: Anh sẽ luôn cảm thấy thoả mãn và không ân hận với những việc mình đã làm vì sự thật, vì công lý.
Với những người Công giáo chúng tôi, sự hi sinh vì sự thật, vì công lý… đó là một nghĩa vụ và một mệnh lệnh, một niềm tin. Nhưng với những người không hoặc chưa là người Công giáo như anh, sự hi sinh này lớn lao hơn nhiều, bởi nó là lương tâm và lẽ sống. Đó là điều mà không có mấy người có được, khi xã hội đang trong cao trào suy thoái nhiều mặt: Kinh tế, đạo đức, lối sống. Vì vậy, những người Công giáo và không Công giáo càng kính trọng anh nhiều hơn.
Anh Luật thân mến,
Cũng như anh, tôi cứ nghĩ ngày mai, khi các giáo dân, các đồng đạo của mình ra Toà, tôi sẽ có mặt bên cạnh họ như một sự động viên, an ủi họ trong lúc khó khăn, cho họ đỡ cảm thấy đơn độc.
Nhưng với cả tôi, điều đó cũng không còn được là hiện thực. Ngày mai, khi các giáo dân ra Toà, tôi phải có mặt ở Cơ quan điều tra của Công an Thành phố Hà Nội theo giấy triệu tập để “Hỏi về nội dung một số bài viết trên mạng internet”.
Như đã bao lần “làm việc” với họ từ trước đến nay, tôi đều khẳng định rằng: Đó là những sự thật, những điều tôi viết ra là những suy nghĩ chân thành của mình. Tôi muốn tìm một lối ra, một cách giải quyết hợp lòng dân, đượm tình người trong những sự việc vừa qua. Đặc biệt, tôi phản đối những việc làm dối trá, kỳ thị và chia rẽ đất nước, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc để ngày càng hèn kém đi trước sự nhăm nhe xâm lấn của ngoại bang.
Nhưng, như anh đã biết, nhiều khi những điều mình cho là tốt, chắc gì đã hợp với người khác? Ngày nay, sự lẫn lộn trắng đen vẫn thường diễn ra ngay cả trong những điều tưởng như đơn giản nhất. Vì vậy mà vẫn có những sự việc như ngày hôm nay.
Ngày hôm nay, khi các giáo dân, các thân chủ của anh đứng trước Toà, anh ngồi vọng từ Miền Nam ra đất Bắc khắc khoải nhớ về họ. Còn tôi, khi các đồng đạo của tôi đang trước vành móng ngựa của một phiên toà “công khai”, dù ở ngay Thành phố Thủ đô này, lại chỉ có thể cầu nguyện cho họ trong trụ sở Công an Thành phố Hà Nội.
Anh Luật thân mến
Với những người Công giáo chúng tôi, chúng tôi tin chắc chắn ở một điều: Công lý, Sự thật sẽ chiến thắng mọi rào cản và trở lực. Bởi Thiên Chúa, đấng tối cao sẽ nghe những lời khẩn cầu tha thiết từ nguyện vọng được sống trong an bình, trong ánh sáng của Chân lý, sự thật và lẽ công bằng của người dân nước Việt chúng ta. Để có những điều đó, đâu có phải giản đơn mà không chấp nhận khó khăn, gian khổ. Chính vì vậy, mới có những con người hùng dũng và họ đang là thân chủ của anh ra trước phiên toà ngày hôm nay. Như anh đã biết, họ ra trước toà hoàn toàn tự nguyện chấp nhận những khó khăn và gian lao như một niềm vui của sự tận hiến.
Những người Công giáo chúng tôi sẵn sàng chết cho điều mình tin, và coi đó là Hồng phúc của mình. Vì vậy, những khó khăn, gian nan gặp phải, nhiều khi chính là những Hồng ân Thiên Chúa đã ban tặng, và chúng tôi vẫn lạc quan, yêu đời trong tình yêu thương.
Lịch sử Công giáo trên đất nước này cũng đã chứng minh điều đó hết sức sống động.
Nhưng, những người chưa, hoặc không Công giáo như anh, đã hi sinh vì đơn giản chỉ là lương tâm và là lẽ sống, tình người, gặp những gian nan trắc trở, khó khăn trong cuộc sống, anh lấy gì để làm niềm tin hôm nay?
Phải chăng anh, chúng ta đã cùng tin những điều mà chúng ta đã được nghe, được đọc để hy vọng một ngày mai tươi sáng hơn? Tôi chưa hiểu những điều này anh đã đọc nhiều chưa, nhưng tôi đã đọc những lời này nhiều lắm. Cũng chính vì đã đọc những lời này, mà tôi thấy mình tự tin hơn để nói lên sự thật. Đó là:
- Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: “Tôi xin nói suy nghĩ riêng của mình. Tôi yêu nhất, quý nhất là sự trung thực, ghét nhất, giận nhất là sự giả dối”. (http://vietnamnet. vn/vanhoa/ 2007/02/662935/)
- Tổng bí thư Nông Đức Mạnh đã nói trong cuộc họp tổng kết năm 2005 của Hội đồng lý luận được chương trình thời sự của Đài truyền hình Việt Nam đưa ngày 24/01/2006: “Tôn trọng những ý kiến khác biệt”
- Ông Nguyễn Phú Trọng, Uỷ viên BCT, nguyên Bí thư thành uỷ Hà Nội cũng nhắc lại tại cuộc mít tinh kỷ niệm 76 năm ngày thành lập Đảng 3/2 tại Hà Nội: “Sẵn sàng lắng nghe những ý kiến khác nhau” của các tầng lớp nhân dân.
Tôi từng nghe một cán bộ công an hàm Trung tá nói: Có những sự thật nói ra sẽ là tội ác. Nhưng tôi nghĩ rằng dù sự thật có đau đớn bao nhiêu cũng còn hơn gấp vạn lần sự dối trá, kể cả sự dối trá ngọt ngào.
Anh Luật thân mến,
Ngày hôm nay, giáo dân sẽ lại đứng trước vành móng ngựa một lần nữa với những bộ y phục tuyệt đẹp, ngẩng cao đầu để nhìn lên Thiên Chúa, hi vọng Sự thật, Công lý, Hoà Bình sớm được thành hiện thực. Tôi tin họ có đủ lòng tin nơi mục đích họ đã nhắm đến, tôi tin là họ sẽ thấy hạnh phúc và không cô đơn dù không có anh bên cạnh, không có tôi bên ngoài hàng rào, bên lề đường để hiệp thông cùng họ trong những khi khó khăn cho trọn nghĩa một người đồng đạo.
Nhưng, tôi xin nguyện cầu cùng Thiên Chúa sẽ quan phòng và luôn gìn giữ anh trong cuộc sống, trong những công việc chính nghĩa anh đã làm vì Sự thật, vì Công lý và vì những người dân nghèo khổ.
Tôi cũng tin rằng, trong những lời kinh tiếng hát vang lên của cộng đồng cầu nguyện cho 8 giáo dân Thái Hà ngày hôm nay, cũng sẽ có lời cầu nguyện cho anh.
Hà Nội, vài giờ trước phiên Toà Phúc thẩm, 27/03/2009
J.B Nguyễn Hữu Vinh
Nguồn: DCCT
...

Tuesday, March 24, 2009

Quay đủ 180 độ (hy vọng đây là sự thật)

Việt Cộng đang “đằng sau … quay”, quay đủ 180 độ. Mặt Trận Tổ Quốc của chúng đang đeo lên cái mặt nạ mới để lớn tiếng khuyến khích văn nghệ sĩ, ký giả sáng tác và viết theo hướng động viên lòng yêu nước, kêu gọi mọi người sẵn sàng hy sinh tính mạng để bảo vệ tổ quốc.

Việc “vật đổi sao dời” này làm không làm tôi ngạc nhiên, vì hàng ngày theo dõi tin tức, tôi hiểu nguyên nhân đổi hướng của chúng.

Nhưng tôi vẫn ngồi thần ra hình dung phản ứng của những nhà báo, nhà văn quốc nội khi họ nghe những lời vận động đúng mà sai này.

Ðúng, vì viết hịch hài tội quân xâm lược là việc làm phải đạo, việc họ thích làm, thích viết, thích sáng tác, dù có vì sáng tác mà vào tù ra khám như trong những năm vừa rồi, họ vẫn cứ sáng tác.

Sai, vì Mặt Trận, cơ quan tráo bài “tổ quốc” của Việt Cộng, phải “khuyến khích” chuyện mà mới vài bữa trước chúng còn cấm đoán, còn bỏ tù blogger viết chống Trung Cộng, bỏ tù sinh viên xuống đường phản đối “zụ ziệc nhậy cảm” lãnh thổ, lãnh hải.

Tôi cũng cố hình dung phản ứng của quý vị giáo sư, giáo viên về huấn thị cho phép họ dạy sinh viên, học sinh về địa lý lịch sử Việt Nam. Tôi nghĩ, cũng như văn nhân, ký giả, nhiều giáo chức đang lợm giọng trước cảnh các lãnh tụ Việt Cộng nuốt vào cục đờm chúng đã nhổ xuống đất từ mấy chục năm nay.

Gớm nhờm, nhưng hãy tận hưởng quyền tự do yêu nước mới toanh, vừa được tháo khoán, hãy ra sức ca tụng tiền nhân bốn lần quật khởi đánh đuổi quân Tầu về nước, và chuẩn bị tinh thần cho cuộc Bắc phạt lần thứ 5.

Người tạo ra tinh thần yêu nước cho đám Mạnh, Triết, Dũng là đô đốc Robert Willard, tư lệnh hạm đội Thái Bình Dương của Hoa Kỳ. Ông “tình cờ” đến thăm Việt Nam hôm Chủ Nhật mùng 8 tháng 3, vài ngày sau cuộc hải chiến bắn bằng súng nước giữa chiếc tiểu hạm Impeccable và 5 tiểu hạm của Trung Cộng.

Lính thủy Mỹ bắn súng nước vào chiếc tiểu hạm đến gần họ nhất, lính thủy Trung Cộng trên tầu bị bắn tuột quần tắm bằng nước vòi rồng. Cuộc “hải chiến” không gây một tổn thất nhỏ nào cho trên dưới 200 thủy thủ của 2 nước; nhưng không vì không tổn thất mà là chuyện nhỏ.

Câu chuyện lớn hơn vài ngày hôm sau, ngày thứ Năm 12 tháng Ba, khi ngoại trưởng Trung Cộng Dương Khiết Trì được tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama tiếp kiến.

Ông Trì lấc cấc phản đối việc tầu dò mìn Impeccable xâm nhập “hải phận” Trung Cộng mà không xin phép; ông không hát tuồng cương, không phản ứng tùy hứng, mà thận trọng từng tiếng nói, nhất nhất làm theo lệnh của chính phủ ông; thái độ của ông được yểm trợ bằng việc thủ tướng Ôn Gia Bảo lên tiếng “nhắc” một trillion tiền Hoa Kỳ nợ Trung Cộng.

Nhưng vận rủi của Trung Cộng là họ bắt chẹt đúng vào ông tổng thống “chịu chơi” của Hoa Kỳ; Obama không trả lời cả Ôn Gia Bảo lẫn Dương Khiết Trì, mà chỉ ra lệnh cho Đô đốc Williard sang thăm Việt Nam, họp báo ngay tại Hà Nội để nói ông thấy kế hoạch canh tân hóa hải quân Trung Cộng cũng ngồ ngộ, nhưng không dễ thực hiện; ông đánh giá tối thiểu Trung Cộng phải bỏ ra vài trillion nữa và vài thập niên nữa để theo kịp tình trạng hiện tại của hải quân Mỹ.

Nói bô bô như vậy ngay tại Hà Nội mà không ngại đề tài “nhạy cảm”, Williard làm Trung Cộng mất mặt; và không thể không có phản ứng. Họ phái chiếc tầu tuần 311 vào gần hải phận Việt Nam.

Chiến hạm 311, dài 100 thước, trọng tải 4,450 tấn, vận tốc 37 cây số / giờ, có thể được coi là một loại “tầu lớn, súng dài” nếu hải chiến xẩy ra với hải quân Việt Cộng; nhưng hải chiến chưa xẩy ra thì Ðệ Thất Hạm Ðội đã phái chiến hạm USS Chung-Hoon vào biển Ðông để bảo vệ chiếc tầu dò mìn Impeccable.

Chung Hoon là loại chiến hạm nhỏ của Hạm Ðội 7, trọng tải 9,200 tấn, dài 155 thước, vận tốc 30 hải lý (56 cây số/giờ) được võ trang bằng hải pháo và hỏa tiễn. Trên mọi tiêu chuẩn, chiếc Chung Hoon lớn gấp rưỡi, mạnh gấp rưỡi, lẹ gấp rưỡi chiếc 311, và trong hải chiến tương quan đó không thể giao tranh được.

Không cần có mặt trong buổi họp mật giữa Đô đốc Williard và 3 tay lái buôn chính trị Hà Nội, tôi cũng biết ông Williard bảo họ “don’t worry, we will be on time” (chớ ngại gì cả, chúng tôi sẽ đến đúng lúc).

Rồi Williard khoe cuốn album chụp đủ hình 58 chiến hạm của Ðệ Thất Hạm đội, chuyên chở khả năng tác chiến khiếp đảm của 350 phi cơ nằm sẵn trong lòng các hàng không mẫu hạm, và 60,000 lính thủy và lính TQLC Hoa Kỳ.

Tôi không tin chiến tranh Hoa - Việt sắp xẩy ra, không phải vì tin tưởng vào tình môi hở răng lạnh giữa Trung Cộng và Việt Cộng, mà tin vào tài “thả” bàn toán của Trung Cộng, và tài tính bằng computer của các con buôn Hoa Kỳ.

Hoa Kỳ sẽ không để Trung Cộng tung hoành trên Thái Bình Dương mà một phần lớn bị họ gọi là biển Trung Hoa (China Sea) và tung hoành trên Biển Ðông, vùng biển cả mà họ gọi là Nam (Hoa) Hải (South China Sea).

Và đó là lý do khiến ký giả, văn nhân, nghệ sĩ Việt Nam tha hồ sáng tác những bài thơ oai hùng, những nhạc phẩm yêu nước, tha hồ viết những bài báo chống Trung Cộng, trường học được cho phép dạy đúng về biên giới lãnh thổ và lãnh hải.

Tôi mừng nhưng cũng bùi ngùi vì tác động “đằng sau … quay” của Việt Cộng.

Nguyễn Ðạt Thịnh
.

Monday, March 23, 2009

Thổn thức cho Việt Nam

(Sáng Mắt ra chưa (bài 5) - Đoàn Văn Toại )
Khi cộng sản chiếm miền Bắc Việt Nam năm 1954, hàng triệu người đã lũ lượt di cư vào Nam.

Tôi đã tận tai nghe nhiều câu chuyện về sự đau khổ tột cùng của họ. Nhưng cũng như nhiều người miền Nam lúc ấy, tôi đã không tin vào những câu chuyện đó. Cả về sau này, tôi cũng đã không tin về những câu chuyện được kể trong tác phẩm Quần Đảo Ngục Tù (The Gulag Archipelago) của văn hào Solzhenitsyn. Tôi không tin vì cho rằng đó là những luận điệu tuyên truyền chống Cộng. Nhưng vào năm 1979, tôi đã cho xuất bản cuốn sách Việt Nam Ngục Tù của chính tôi. Liệu những người đã từng nếm trải những kinh hoàng dưới chế độ cộng sản có bao giờ thử thuyết phục những người không có cái kinh nghiệm này?

Kể từ năm 1945, năm tôi ra đời tại huyện Cái Vồn thuộc tỉnh Vĩnh Long, một tỉnh lỵ cách Sài Gòn 160 km về hướng Nam, cho đến khi ngày tôi rời Việt Nam vào tháng 5/1978, tôi chưa từng một ngày vui hưởng hoà bình. Căn nhà gia đình tôi đã bị đốt 3 lần trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Trong suốt cuộc đời niên thiếu, tôi đã phải theo cha mẹ di tản từ làng này sang làng khác để tránh tên bay đạn lạc. Cũng giống như những người Việt Nam yêu nước khác, cha mẹ tôi cũng tham gia kháng chiến chống Pháp. Khi tôi lớn lên, tôi lại tận mắt chứng kiến các nông dân đã bị các quan chức địa phương của chính quyền Sài Gòn áp bức ra sao, và họ đã phải chịu những cuộc oanh tạc tàn khốc của quân Pháp như thế nào. Tôi đã học trong lịch sử sự chiến đấu kiên cường của dân tộc chống lại ách đô hộ ngàn năm của giặc Tàu rồi đến các cuộc kháng chiến gian khổ chống ách thống trị trăm năm của giặc Tây. Với hành trang đó, tôi và các bạn đồng lứa đã lớn lên cũng với nỗi căm thù sự can thiệp của ngoại bang.

Khi các sinh viên Sài Gòn bầu tôi vào chức Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Sinh viên Sài Gòn vào năm 1969 và 1970, tôi đã tham gia vào các hoạt động đòi hoà bình khác nhau, đã lãnh đạo sinh viên biểu tình chống chế độ Thiệu và sự dính líu của người Mỹ. Tôi đã ấn hành nguyệt san Tự Quyết, và đã làm một cuộc du hành đến California để thuyết trình về các hoạt động phản chiến ở Đại học Berkeley và Stanford vào tháng 1/1971. Vì các hoạt động đó, tôi đã bị bắt và tống giam nhiều lần dưới chế độ Thiệu.

Vào thời điểm ấy, tôi tin rằng tôi đang thi hành sứ mệnh hoà bình và độc lập cho đất nước tôi. Tôi cũng tin tưởng vào đề cương của MTDTGPMN, một tổ chức đang lãnh đạo cuộc kháng chiến cách mạng ở miền Nam Việt Nam. Tôi căm ghét các nhà lãnh đạo Sài Gòn, các người như Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ, Trung tướng Đặng Văn Quang ‒ những cựu chiến binh trong quân đội viễn chinh Pháp. Đó là những người được Pháp tuyển mộ vào năm 1940 để giúp chúng tiêu diệt các phần tử kháng chiến Việt Nam. Theo thời gian, họ đã vươn lên thành những nhà lãnh đạo, nhưng sự lãnh đạo của họ không thu được lòng dân. Và chính vì không có được ủng hộ của người dân, nên họ phải dựa vào các thế lực nước ngoài.

Với tư cách một lãnh tụ sinh viên, tôi cho rằng tôi phải hoàn thành khát vọng của người dân Việt Nam về dân chủ, tự do và hoà bình.

Một cách ngây thơ, tôi nghĩ rằng chế độ Hà Nội ít nhất cũng là người Việt Nam, trong khi người Mỹ chỉ là những kẻ xâm lược giống như người Pháp trước đó. Như nhiều người trong phong trào đối lập tại miền Nam lúc ấy, tôi tin rằng dù sao các đồng bào cộng sản miền Bắc cũng sẽ dễ có sự tương nhượng và dễ nói chuyện hơn là người Mỹ. Hơn thế nữa, tôi lại thấy choáng ngợp trước các thành tích hy sinh và tận tâm của các lãnh tụ cộng sản. Chẳng hạn, Tôn Đức Thắng, Phó Chủ tịch Bắc Việt, đã bị nhốt đến 17 năm trong nhà tù của Pháp. Tôi cũng bị hớp hồn trước bản đề cương chính trị được MTDTGPMN áp dụng, bao gồm chính sách hoà giải dân tộc, không hề có sự trả thù, và chính sách ngoại giao phi liên kết. Cuối cùng, tôi đã chịu ảnh hưởng của các phong trào tiến bộ khắp thế giới và các nhà đại trí thức phương Tây lúc ấy. Tôi đã có cảm tưởng rằng các lãnh đạo phong trào phản chiến ở Mỹ cuối thập niên 60 đầu 70 đã chia sẻ cùng niềm tin với tôi.

Niềm tin ấy càng được củng cố hơn sau khi Hiệp định Paris ký kết vào năm 1973 và sự sụp đổ của Đệ nhị Việt Nam Cộng hòa năm sau đó. Khi cuộc giải phóng đã hoàn tất, tôi chính là người đã khuyên bảo bạn bè và thân nhân không nên di tản. “Tại sao các người lại bỏ đi?” tôi hỏi, “Tại sao các người lại sợ cộng sản?” Tôi chấp nhân một viễn cảnh khó khăn trong thời gian tái thiết quê hương nên đã quyết định ở lại và tiếp tục làm việc với tư cách một quản trị viên một chi nhánh của Ngân hàng Saì Gòn, nơi tôi đã làm việc hơn 4 năm, và là nơi tôi viết các báo cáo mật về tình hình kinh tế Nam Việt Nam cho MTDTGPMN (Sau khi tốt nghiệp đại học, tôi đã không bị chính quyền Việt Nam Cộng hòa động viên vì là con một trong gia đình. Tôi cũng không gia nhập Việt Cộng vì MTDTGPMN nghĩ rằng tôi sẽ phục vụ tốt hơn trong vai trò báo cáo tài chính từ ngân hàng).

Sau khi Sài Gòn thất thủ được nhiều ngày, MTDTGPMN thành lập chính quyền Cách mạng Lâm thời, mời tôi gia nhập một uỷ ban tài chính, một nhóm bao gồm các trí thức có nhiệm vụ cố vấn cho chính quyền về các vấn đề kinh tế. Tôi hăng hái tham gia, chấp nhận mức cắt giảm lương đến 90%. Nhiệm vụ đầu tiên của tôi là giúp thảo ra một kế hoạch nhằm tịch thu tất cả các tài sản tư nhân ở miền Nam Việt Nam. Tôi cảm thấy sốc, và đề nghị chỉ nên thi hành điều đó với tài sản những người từng cộng tác với chính quyền cũ và với những người đã làm giàu nhờ chiến tranh, và sẽ phân phối lại theo một cách thức nào đó cho các người nghèo và nạn nhân chiến tranh không phân biệt thuộc phe nào. Đề nghị của tôi bị bác bỏ, dĩ nhiên.

Tôi đã quá ngây thơ khi nghĩ rằng các quan chức địa phương đã sai lầm, rằng họ đã hiểu lầm ý định tốt của các lãnh đạo đảng cộng sản. Tôi đã tranh đấu với họ nhiều lần, vì hoàn toàn đặt niềm tin vào các tuyên bố của Hà Nội trước đây rằng “tình hình ở Nam Việt Nam rất đặc biệt và rất khác với tình hình miền Bắc Việt Nam”. Chỉ vài tháng trước khi Sài Gòn thất thủ, Lê Duẩn, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản, đã tuyên bố “miền Nam cần có chính sách riêng của nó”. Sau cùng, tôi không thể tuân theo lệnh sắp đặt các cuộc tịch thu tài sản tư hữu, một kế hoạch vẫn đang được xúc tiến. Một kế hoạch như vậy không hề đáp ứng nguyện vọng của người dân Nam Việt Nam, và nó đi ngược với lương tâm của tôi. Tôi quyết định từ chức. Nhưng không ai được phép từ chức trong chế độ cộng sản.

Một ngụ ý bất tuân lệnh sẽ không được người cộng sản tha thứ. Khi tôi đưa đơn từ chức, người lãnh đạo uỷ ban tài chính đã cảnh cáo rằng hành động của tôi “sẽ bị xem là sự tuyên truyền nhằm kích động quần chúng, và rằng chúng ta không bao giờ cho phép điều đó xảy ra”. Nhiều ngày sau đó, trong khi tôi đang tham dự một buổi hoà nhạc tại Nhà Hát Lớn (trước đây là trụ sở Quốc hội Việt Nam Cộng hòa, nơi mà tôi đã lãnh đạo các sinh viên chiếm giữ nhiều lần trước đây dưới chế độ Thiệu), tôi bị bắt. Không có sự truy tố cũng như không có lý do nào được đưa ra. Sau khi Sài Gòn thất thủ, rất nhiều nhà trí thức tiến bộ cũng như nhiều nhà lãnh đạo các phong trào phản chiến trước đây đều tin rằng chính quyền mới sẽ đem lại dân chủ và tự do thay cho sự thống trị của ngoại bang. Họ tin rằng chính quyền mới sẽ đeo đuổi các quyền lợi tốt nhất cho nhân dân. Sẽ giữ đúng lời hứa của chính họ về chính sách hoà giải dân tộc, không có sự trả thù. Phủi sạch những hứa hẹn, nhà cầmn quyền cộng sản đã bắt giam hàng trăm ngàn người ‒ không chỉ những người đã cộng tác với chế độ Thiệu mà cả những người khác, bao gồm các vị lãnh đạo tôn giáo và các cựu thành viên MTDTGPMN.

Việt Nam ngày nay trở thành một quốc gia không có luật pháp nào khác hơn là sự điều hành độc đoán của những kẻ đang nắm quyền lực. Không hề có cái gọi là dân quyền. Bất cứ ai cũng đều có thể bị bắt mà không cần truy tố cũng như không cần xét xử. Và khi đã ở trong tù, các tù nhân đều được giáo dục rằng chính các thái độ, hành vi và sự “cải tạo tốt” là yếu tổ chủ chốt đễ xét xem liệu họ có thể được trả tự do hay không- không cần biết họ đã phạm tội gì. Vì vậy, các tù nhân thường là phải tuân lệnh tuyệt đối các quản giáo để hy vọng được thả sớm. Trong thực tế, họ không bao giờ biết được khi nào họ sẽ được thả – hay có thể bản án của họ sẽ được kéo dài thêm. Ở đất nước Việt Nam ngày nay có bao nhiêu tù chính trị? Không ai có thể biết được con số chính xác. Bộ Ngoại giao Mỹ cho rằng có khoảng từ 150.000 đến 200.000 chính trị phạm, người Việt tỵ nạn thì ước đoán con số đó là 1 triệu.

Hoàng Hữu Quýnh, một trí thức tốt nghiệp Đại học Mạc Tư Khoa, hiệu trưởng một trường kỹ thuật tại Tp. HCM (trước đây là Sài Gòn), vừa mới bỏ trốn trong một chuyến đi tham quan các nước Châu Âu do nhà nước bảo trợ. Ông đã nói với báo chí Pháp, “Hiện nay ở Việt Nam có ít nhất 700.000 tù nhân”. Một nhân chứng khác, Nguyễn Công Hoan, một cựu thành viên trong Quốc hội thống nhất được bầu vào năm 1976, đã vượt biển thành công vào năm 1978, đã tuyên bố chính bản thân ông được biết về“300 trường hợp xử tử” chỉ nội trong tỉnh Phú Yên của ông.

Vào năm 1977, các quan chức Hà Nội khăng khăng rằng chỉ có 50.000 người bị bắt giữ vì có những hành vi gây nguy hại cho an ninh quốc gia. Nhưng trong khi đó, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã tuyên bố trên tờ Paris Match số ra ngày 22/9/1978, “Trong vòng 3 năm qua, tôi đã trả tự do cho hơn 1 triệu tù nhân từ các trại cải tạo”. Người ta có thể tự hỏi làm thế nào có thể thả 1 triệu tù nhân trong khi chỉ bắt giữ có 50.000!

Tôi bị tống vào một xà lim 1m x 2m, tay trái bị xiềng vào chân phải và tay phải xiềng vào chân trái. Thứ ăn của tôi là cơm trộn với cát. Khi tôi khiếu nại về cát trong cơm, các quản giáo đã giải thích rằng cát được cho vào cơm để nhắc nhở các tù nhân về các tội ác mà họ đã phạm. Tôi đã khám phá ra khi đổ nước vào tô cơm có thể tách cát ra khỏi cơm và lắng nó xuống đáy. Nhưng phần nước chỉ có 1lít cho một ngày dùng cho uống và tắm rửa, do vậy tôi phải dùng nó hết sức tiết kiệm.

Sau 2 tháng biệt giam, tôi được chuyển ra phòng giam lớn, một phòng giam 5m x 9m, tuỳ theo thời điểm được nhồi nhét từ 40 đến 100 tù nhân. Nơi đây chúng tôi phải thay phiên để được nằm xuống ngủ, và phần lớn các tù nhân trẻ và còn mạnh khoẻ phải chịu ngủ ngồi. Trong cái nóng hầm hập, chúng tôi cũng phải thay phiên để được hứng vài cơn gió mát của khí trời từ một lỗ thông gió chút xíu và cũng là cửa sổ duy nhất của phòng giam. Mỗi ngày tôi đều chứng kiến các bạn tù chết dưới chân tôi.

Vào tháng 3, 1976, khi một nhóm phóng viên phương Tây đến viếng thăm nhà tù của tôi, các quản giáo đà lùa các tù nhân đi và thay vào đó là các bộ đội miền Bắc. Trước cửa nhà tù, không còn thấy các hàng rào kẻm gai, không có tháp canh, chỉ có vài công an và một tấm bảng lớn chăng ngang cửa chính đề câu khẩu hiệu nổi tiếng của Hồ Chí Minh, “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Chỉ có những người đang bị giam và các quản giáo là biết cái gì thực sự ẩn giấu đằng sau những dấu hiệu đó. Và mọi tù nhân đều biết rằng nếu họ bị tình nghi đào thoát thì người bạn đồng tù và người thân của họ tại nhà sẽ bị trừng phạt thay vì chính họ.

Chúng ta sẽ không bao giờ biết được con số thực sự của những tù nhân bỏ mạng, nhưng chúng ta đã biết cái chết của nhiều tù nhân nổi tiếng, những người trong quá khứ chưa bao giờ cộng tác với Chính quyền Thiệu hay với người Mỹ: chẳng hạn, Thích Thiện Minh, nhà chiến lược cho các phong trào tranh đấu hoà bình của Phật tử tại Sài Gòn, một nhà đấu tranh phản chiến đã từng bị kết án 10 năm dưới chế độ Thiệu, sau cùng bị buộc phải thả ông vì sự phản đối mạnh mẽ của nhân dân Việt Nam và các nhà hoạt động phản chiến khắp thế giới. Đại Đức Thiện Minh đã chết trong tù 6 tháng sau khi ông bị bắt vào năm 1979. Một cái chết âm thầm khác là của Luật sư Trần Văn Tuyên, một lãnh tụ khối đối lập tại Quốc hội dưới thời Tổng thống Thiệu. Nhà hoạt động nổi tiếng này đã chết dưới bàn tay cộng sản vào năm 1976, mặc dù vào cuối tháng 4/1977, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã tuyên bố với các phóng viên Pháp rằng ông vẫn còn sống mạnh khoẻ trong trại cải tạo. Một trong những tổn thất to lớn nhất là cái chết của triết gia nổi tiếng Việt Nam Hồ Hữu Tường. Tường, bạn đồng môn với Jean Paul Sartre thập niên 30 tại Paris, có lẽ là nhà trí thức hàng đầu tại Nam Việt Nam. Ông chết tại nhà tù Hàm Tân vào ngày 26/06/1980. Đây là những người bị bắt, cùng với rất nhiều những người khác trong nhóm những người Nam Việt Nam ưu tú và được trọng nể nhất, với mục đích ngăn ngừa bất cứ một sự chống đối nào với chế độ cộng sản.

Một số người Mỹ ủng hộ Hà Nội đã làm lơ hoặc biện minh cho những cái chết này, như họ đã từng làm với vô số các thảm kịch đã xảy ra từ khi Việt Nam Cộng hòa sụp đổ năm 1975. Rất có thể họ sẽ vẫn tiếp tục giữ im lặng nhằm lãng tránh một sự thật về Việt Nam nếu tiết lộ sẽ mang lại một nỗi vỡ mộng sâu xa đối với họ. Cay đắng thay nếu tự do và dân chủ vẫn là mục tiêu xứng đáng để chiến đấu tại Philippines, tại Chile, tại Nam Hàn hay tại Nam Phi, thì nó lại không xứng để bảo vệ tại các nước cộng sản như Việt Nam.

Mọi người đều nhớ đến vô số các cuộc biểu tình chống đối Mỹ can thiệp vào Việt Nam và chống lại các tội ác chiến tranh của chế độ Thiệu. Nhưng một số trong các người đã từng một thời nhiệt thành với các nguyên tắc dân chủ và nhân quyền thì nay lại tỏ ra hết sức lãnh đạm khi cũng chính các nguyên tắc ấy đang bị chà đạp tại nước Việt Nam cộng sản. Chẳng hạn, một nhà hoạt động phản chiến, William Kunstler, vào tháng 5, 1979 đã từ chối ký vào một bức thư ngỏ gởi nhà nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, trong đó có chữ ký của nhiều nhà hoạt động phản chiến khác, kể cả Joan Baez, phản đối sự vi phạm nhân quyền của chế độ Hà Nội. Kunstler nói “Tôi không tin vào sự chỉ trích công khai một chính quyền xã hội chủ nghĩa, dù đó là sự vi phạm nhân quyền”, và “toàn bộ chiến dịch này của Baez có thể là một âm mưu của CIA”. Câu nói này đã làm tôi nhớ lại lập luận mà chế độ Thiệu thường đưa ra làm lý do đàn áp các người đối lập, “Tất cả các hoạt động phản chiến và đối lập đều do cộng sản giựt dây”.

Còn có rất nhiều những huyền thoại về chế độ hiện hành tại Việt Nam mà người dân rất nên được soi sáng. Nhiều người cho rằng Hồ Chí Minh đầu tiên là một người quốc gia và rằng đảng cộng sản Việt Nam trước đây cũng như hiện nay đều độc lập với Liên Sô. Tôi cũng là người tin như vậy trước khi cộng sản chiếm miền Nam.Nhưng rồi chân dung các nhà lãnh đạo Soviet nay được treo đầy các chung cư, trường học và các công sở trên khắp nước “Việt Nam độc lập”. Ngược lại, người ta chưa từng thấy chân dung bất cứ một nhà lãnh đạo Mỹ nào được treo ngay cả trong chế độ được gọi là bù nhìn của Tổng thống Thiệu. Mức độ lệ thuộc của chính quyền hiện hành vào các ông chủ Soviet được thể hiện rõ ràng nhất do thi sĩ nổi tiếng của cộng sản Việt Nam, Tố Hữu, thành viên Bộ Chính Trị và là Trưởng Ban Văn hoá Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng ta có cơ hội được nghe người thi sĩ cao cấp này than khóc nhân cái chết của Stalin:

"Xít-ta-lin! Xít-ta-lin,
Yêu biết mấy, nghe con tập nói
Tiếng đầu lòng, con gọi Xít-ta-lin
Ông Xít-ta-lin ôi. Ông Xít-ta-lin ôi,
Hỡi ôi ông mất, đất trời có không?
Thương cha, thương mẹ, thương chồng
Thương mình thương một, thương ông thương mười".
(Đời đời nhớ ông - Tố Hữu).

Thật là khó mà tưởng tượng những vần thơ như vậy lại được viết tại Việt Nam, một đất nước mang nặng truyền thống gia đình và bổn phận với con cái. Và bài thơ ấy vẫn đang chiếm một vị trí trang trọng trong ấn bản về thơ ca Việt Nam hiện đại được xuất bản tại Hà Nội.

Hơn thế nữa, Lê Duẩn , Tổng Bí thư đảng cộng sản Việt Nam, trong một bài diễn văn chính trị đọc trước Hội nghị khoáng đại của Quốc hội thống nhất năm 1976, “Cuộc cách mạng Việt Nam là để thực thi bổn phận và các cam kết quốc tế”, và vì vậy, trong lời lẽ của bản luận cương của đảng năm 1971 đã viết, “dưới sự lãnh đạo của Liên bang Soviet”. Sự vinh quang của một xã hội Soviet là mục tiêu chính yếu trong sách lược của đảng cộng sản Việt Nam.

Sau khi Sài Gòn thất thủ, nhà nước đã ngay tức khắc đóng cửa toàn bộ các nhà sách và rạp hát. Tất cả các sách vở được xuất bản trong chế độ cũ đều bị tịch thu hay đốt bỏ. Các tác phẩm văn hoá thuần tuý cũng không ngoại lệ, kể cả các bản dịch tác phẩm của Jean Paul Sartre, Albert Camus và Dale Carnegie. Ngay cả tác phẩm Cuốn Theo Chiều Gió của Margaret Mitchell cũng nằm trong danh sách văn chương đồi trụy. Nhà nước thay thế những tác phẩm ấy bằng những tác phẩm văn chương nhằm nhồi sọ trẻ em và người lớn với ý tưởng chủ đạo, “Liên bang Soviet là thiên đường của xã hội chủ nghĩa”.

Một lập luận khác của các nhà biện luận phương Tây có liên quan đến vấn đề tự do tôn giáo tại Việt Nam. Một điều khoản của bản hiến pháp mới, được đưa ra vào năm nay, có nêu rằng “nhà nước tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và quyền tự do không tín ngưỡng”. Về điều khoản này, Lê Duẩn đã nhiều lần tuyên bố, “Chế độ của chúng ta triệu lần dân chủ hơn bất cứ chế độ nào trên thế giới”.

Ngược lại, trên thực tế, đã trình bày rõ sự thật qua một sự kiện mang tính báng bổ một ngôi chùa Phật giáo, trong vụ đó một người đàn bà khoả thân theo lệnh nhà nước đã tiến vào ngôi chùa trong giờ hành lễ. Khi Hoà thượng Thích Mẫn Giác, một nhà lãnh đạo Phật giáo nổi tiếng, lên tiếng phản đối, nhà nước đã nhân vụ này lên án Phật giáo là kẻ thù của dân chủ, chính xác là vi phạm quyền tự do không tín ngưỡng. Hoà Thượng Thích Mẫn Giác, người đóng vai trò là cầu nối giữa Phật giáo và nhà nước cộng sản, đã phải vượt thoát Việt Nam bằng thuyền vào năm 1977 và nay đang định cư tại Los Angeles. Tất cả những ai từng ủng hộ MTDTGPMN trong cuộc chiến đấu chống chế độ Sài Gòn đều có thể cảm nhận sự bị phản bội và nỗi tuyệt vọng của họ. Khi Harrison Salisbury của tờ New York Times viếng thăm Hà Nội vào tháng 12, 1966, các nhà lãnh đạo Hà Nội đã nói với ông, “Sách lược tranh đấu của miền Nam được chỉ đạo từ miền Nam chứ không phải từ miền Bắc”. Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói với Salisbury, “Không có ai ở miền Bắc có ý tưởng ngu ngốc, tội ác” rằng miền Bắc muốn thôn tính miền Nam.

Vậy mà trong diễn văn đọc nhân lễ mừng chiến thắng vào ngày 19/05/1975, Lê Duẩn đã nói, “Đảng của chúng ta là một và là người lãnh đạo duy nhất đã tổ chức, kiểm soát và điều hành toàn bộ cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam ngay từ ngày đầu của cuộc cách mạng”.

Trong bản báo cáo chính trị đọc trước Quốc hội hợp nhất tại Hà Nội vào ngày 26/05/1976, Lê Duẩn nói, “Nhiệm vụ cách mạng chiến lược của đất nước ta trong thời kỳ mới là thống nhất tổ quốc và đưa toàn bộ đất nước tiến nhanh, tiến mạnh và tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, lên chủ nghĩa cộng sản”.

Vào năm 1976, Chính phủ Cách mạng Lâm thời do MTTGPMN thành lập đã bị xoá sổ, và toàn thể 2 miền Nam Bắc Việt Nam đều nằm dưới sự cai trị của những người cộng sản. Ngày nay,trong số 17 thành viên Bộ Chính trị và 134 Uỷ viên Trung ương thuộc Đảng Cộng sản Việt Nam, không hề có người nào thuộc MTDTGPMN trước kia. Ngay cả Nguyễn Hữu Thọ, cựu Chủ tịch MT, chỉ nắm chức vụ Chủ tịch nhà nước, một chức vụ mang tính nghi lễ với nhiệm vụ đón tiếp khách nước ngoài và tham dự các buổi lễ lạc. Nhưng ngay cả vị trí đó rồi sẽ bị xoá bỏ khi bàn hiến pháp mới ra đời.

Hãy nghe lời của ông Trương Như Tảng, một những người sáng lập MT, cựu Bộ trưởng Tư pháp của Chính phủ Cách mạng Lâm thời, vừa mới đây cũng là một thuyền nhân vượt biển. Ông Tảng trốn thoát khỏi Việt Nam vào tháng 12, 1979 và hiện nay sống tại Paris. Ông đã nói với các phóng viên về kinh nghiệm của ông trong cuộc họp báo gần đây vào tháng 5, 1980. 12 năm trước, ông nói, khi ông bị bỏ tù dưới chế độ Thiệu vì các hoạt động thân cộng của mình, cha của ông đã đến thăm ông. Ông cụ đã hỏi ông,“Tại sao con lại dứt bỏ tất cả ‒ một công việc tốt, một gia đình sung túc ‒ để gia nhập cộng sản? Con không biết rằng cộng sản rồi sẽ phản bội con và sẽ thủ tiêu con, và khi con thật sự hiểu ra thì đã quá muộn?” Tảng, một nhà trí thức, đã trả lời cha “Tốt hơn là cha nên im lặng và chấp nhận sự hy sinh một trong các đứa con của cha cho nền dân chủ và độc lập của đất nước”.

Sau cuộc Tổng Công kích Tết Mậu thân 1968, Tảng được trao đổi với 3 Đại tá tù binh chiến tranh Mỹ, và sau đó ông biến mất vào rừng với MT. Ông đã viếng thăm nhiều nước cộng sản và các nước thế giới thứ 3 để kêu gọi sự ủng hộ dành cho MT trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Ông đã nói trong cuộc họp báo. “Tôi đã biết MT là một tổ chức do cộng sản chi phối và tôi đã quá ngây thơ khi cho rằng Hồ Chí Minh và Đảng của ông ta sẽ dặt quyền lợi quốc gia lên trên ý thức hệ và đặt quyền lợi nhân dân Việt Nam lên trên quyền lợi của đảng. Nhưng nhân dân Việt Nam và tôi đã sai lầm”.

Trương Như Tảng đã kể về kinh nghiệm của ông về phương sách các tầng lớp lãnh đạo cộng sản cai trị, “Người cộng sản là chuyên gia về nghệ thuật chiêu dụ và có thể làm bất cứ cách nào để dụ bạn về phe họ một khi họ chưa nắm được chính quyền. Nhưng một khi đã nắm được quyền lực lập tức họ trở thành sắt máu và tàn nhẫn”. Ông tóm tắt tình hình tại Việt Nam hiện nay, “Gia đình ly tán, xã hội phân ly, ngay cả đảng cũng chia rẽ”.

Bây giờ nhìn lại cuộc chiến Việt Nam, tôi chỉ cảm thấy buồn rầu cho sự ngây thơ của mình khi tin rằng cộng sản là những người cách mạng và xứng đáng được ủng hộ. Trên thực tế, họ đã phản bội nhân dân Việt Nam và làm thất vọng các phong trào tiến bộ trên toàn thế giới.

Tôi nhận lãnh trách nhiệm về những thảm kịch xảy ra cho đồng bào của tôi. Và nay tôi chỉ còn cách đóng vai nhân chứng cho sự thật này hầu các người đã từng ủng hộ Việt Cộng trước kia có thể cùng chia sẻ trách nhiệm với tôi.

Khi tôi còn trong tù, Mai Chí Thọ, một Uỷ viên Trung ương đảng, đã nói chuyện trước một nhóm tù nhân chính trị chọn lọc. Ông ta đã nói với chúng tôi, “Hồ Chí Minh có thể là một quỷ dữ, Nixon có thể là một vĩ nhân. Người Mỹ có thể có chính nghĩa, chúng ta có thể không có chính nghĩa. Nhưng chúng ta đã chiến thắng và người Mỹ đã bị đánh bại bởi vì chúng ta đã thuyết phục được người dân rằng Hồ Chí Minh là một vĩ nhân, Nixon là một tên sát nhân và người Mỹ là những kẻ xâm lược”. Ông ta đã kết luận, “Yếu tổ chủ chốt là làm thế nào kiểm soát người dân và ý tưởng của họ. Chỉ có chủ nghĩa Mác Lê mới có thể làm được như vậy. Không ai trong các anh đã từng biết đến một sự kháng cự nào đối với chế độ cộng sản, bởi vậy không nên nghĩ đến điều đó nữa. Hãy quên chuyện đó đi? Giữa các anh ‒ những nhà trí thức ưu tú ‒ và tôi, tôi đã nói với các anh sự thật”.

Và quả là ông ta đã nói sự thật. Từ năm 1978, khi cộng sản Việt Nam chiếm đóng Lào, xâm lấn Kampuchea và tấn công Thailand, trong khi đó Liên Sô xâm lăng Afghanistan. Trong mỗi một sự kiện đó, người cộng sản vẫn tự phác hoạ chân dung của họ một cách ly kỳ, là những người giải phóng, người cứu rỗi, người bảo vệ chống lại các lực lượng xâm lăng nước ngoài. Và trong mỗi sự kiện, dư luận thế giới vẫn tương đối êm dịu.

Nhưng ở Việt Nam, người dân vẫn thường nhắc nhau, “Đừng nghe những gì cộng sản nói mà hãy nhìn những gì cộng sản làm”. Một trong những người Nam Việt Nam theo cộng sản, ông Nguyễn Văn Tăng, bị tù 15 năm dưới thời Pháp, 8 năm dưới thời Diệm, 6 năm dưới thời Thiệu, và hiện nay vẫn còn đang nằm tù, đã nói với tôi, “Muốn hiểu người cộng sản, trước nhất phải sống với cộng sản”. Vào một buổi chiểu mưa rơi tại nhà tù Lê Văn Duyệt, Sài Gòn, ông đã nói với tôi, "Ước mơ của tôi bây giờ không phải là được thả ra, không phải là được gặp lại gia đình. Tôi chỉ mơ được trở lại nhà tù của Pháp 30 năm trước”. Đó là giấc mơ của một người đàn ông 60 tuổi đã gởi trọn tuổi thanh xuân vào việc ra vào nhà tù để chiến đấu cho tự do và độc lập của đất nước. Giờ này, có lẽ ông đã chết trong tù hay có thể đã bị nhà nước của nhân dân hành quyết.

Ước mơ của nhân dân Việt Nam là một cuộc cách mạng thực sự, họ không muốn chủ nghĩa cộng sản. Mức độ đo lường sự chán ghét cộng sản là việc hàng ngàn người đã từ bỏ sự ràng buộc lịch sử của họ với đất mẹ. Dưới thời thực dân Pháp, trải qua bao năm dài chiến tranh, ngay cả trong thảm cảnh nạn đói năm 1945 có đến 2 triệu người chết đói, người Việt Nam vẫn không đành đoạn rời bỏ quê hương, mảnh đất có mồ mả ông cha. Các cuộc đổ xô ra đi tỵ nạn là bằng chứng trực tiếp của sự kinh hoàng với chế độ hiện nay. Hãy nghe lời một người tỵ nạn khác, Nguyễn Công Hoan, cựu thành viên MT và là thành viên Quốc hội thống nhất được bầu năm 1976, “Chế độ hiện nay là chế độ phi nhân và áp bức nhất mà nước Việt Nam từng được biết đến”. Ông Hoan trốn thoát bằng thuyền vào năm 1977, sau khi từ bỏ chức vụ của ông trong Quốc hội cộng sản. “Quốc hội”, ông tuyên bố, “là một bù nhìn, các thành viên ở đó chỉ biết nói dạ, không bao giờ biết nói không”.

Giữa các thuyền nhân sống sót, bao gồm cả những người bị hải tặc hảm hiếp và những người chịu nhiều cực nhục trong các trại tỵ nạn, không hề có người nào hối tiếc đã tìm cách trốn khỏi chế độ hiện nay. Tôi tuyệt đối tin rằng sự thật về Việt Nam sẽ dần dần hiện rõ. Nó có sẵn cho những ai muốn tìm hiểu về nó. Như Solzhenitsyn đã từng nói, “Sự thật cũng nặng nề như là thế giới vậy”. Và Việt Nam là một bài học về sự thật.

Đoàn Văn Toại
(Felix lược dịch từ: A Lament for Vietnam, The New York Times, March 29, 1981)
__________
Nguồn : MGP

Wednesday, March 18, 2009

HÃY MAU TỈNH THỨC

Anh chờ gì sao còn chưa tỉnh thức ?
Sao đứng nhìn lũ Cộng hiến Hoàng Sa
Chúng giết dân sát hại Nước non nhà
Đem đất biển hiến dâng cho Tàu Cộng

Anh có mắt đứng nhìn không xúc động
Anh có hồn sao đứng đó lặng thinh
Có lẽ anh tên hèn nhát bù nhìn
Chúng loài quỷ, cầm quyền trên Quê Việt

Hãy suy nghĩ, đừng chờ ngày bị diệt
Vì chúng là loài sâu bọ hại Dân
Hãy đứng lên cương quyết diệt bao tàn
Không chấp nhận buông tha loài quỷ đỏ

Bọn vô thần giờ đây đã hiện rõ
Lũ côn đồ khát máu có gì hay
Xứng đáng không sao theo lạy, xách giầy
Mau tỉnh thức, Quê hương chờ anh đó...

Cờ Tổ Quốc màu cờ ba sọc đỏ
Cờ Tự Do, tranh đấu diệt bạo quyền
Hãy hiên ngang ta nối gót Tổ tiên
Diệt Cộng sản đắp xây nền tự trị

Nguyễn Vạn Thắng

Monday, March 16, 2009

Bức màn bauxite, âm mưu Tây nguyên !!!


Khi thủ tướng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng, vào ngày 01-11-2007, ký quyết định số 167 cho phép các nhà thầu Trung Quốc khai thác quặng bauxite và sản xuất nhôm tại Tân Rai (Lâm Đồng) và Nhân Cơ (Đắc Nông), trong một dự án kéo dài từ 2007 đến 2015, nhiều nhân vật trong bộ máy cai trị của CSVN đã hết sức thắc mắc. Thắc mắc vì lẽ họ nghe biết ông ta trước đó không ủng hộ chuyện này. Ý tưởng của dự án có từ thời người tiền nhiệm Phan Văn Khải, nhưng Phan Văn Khải cũng đã chẳng thúc đẩy cho nó thực hiện. Cả hai vẫn nhớ lời cảnh báo của Khối COMECON (Khối Tương trợ kinh tế giữa các nước CS) vào thập niên 1980. Sau khảo sát đánh giá hiệu quả tổng hợp của các chuyên gia Liên Xô, Khối này đã khuyến nghị nhà cầm quyền CSVN chớ nên khai thác bauxite trên Tây Nguyên do những tác hại sinh thái lâu dài rất nghiêm trọng, không thể khắc phục được, chẳng những đối với cư dân địa phương mà còn với cả cư dân vùng đồng bằng Nam Trung Bộ. Thành ra khi ấy, CSVN đã quyết định không khai thác thứ quặng bẩn này, trái lại gìn giữ thảm rừng và phát triển cây công nghiệp (cao su, cà phê, chè...) trên Tây Nguyên.
Vậy mà đùng một cái, Nguyễn Tấn Dũng đã xoay một góc 180 độ, khiến cho nhiều người ưu tư về đất nước đã nhảy vào cuộc để nghiên cứu cặn kẽ vấn đề. Gần một năm sau, qua báo cáo của tiến sỹ Nguyễn Thành Sơn “Những sai lầm chiến lược và những rủi ro hiện hữu trong việc phát triển các dự án bauxite trên Tây Nguyên của Việt Nam”, qua tham luận của nhà văn kiêm nhà văn hóa Nguyên Ngọc và nhiều tham luận khác tại hội thảo Gia Nghĩa - Đắc Nông ngày 22 và 23-10-2008, rồi qua Kiến nghị ngày 05-11-2008 của một số khoa học gia và nghiên cứu gia gửi lãnh đạo Đảng và Nhà nước CSVN đề nghị tạm dừng khai thác bauxite ở Tây Nguyên, người ta thấy rõ công luận đã lên tiếng cảnh báo về những hiểm họa có thể xảy đến cho vùng Tây Nguyên và cho cả nước. Thế nhưng, bất chấp những tiếng nói có uy tín trong lãnh vực khoa học, môi trường, văn hóa, xã hội… bất chấp tiếng nói đòi quyền sống của nhân dân, đặc biệt các Dân tộc thiểu số bản địa, trong cuộc họp báo đầu năm nay vào ngày 04-02-2009, thủ tướng CSVN vẫn tuyên bố rằng việc khai thác bauxite tại Tây Nguyên là “chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước”! Ông ta còn hứa hẹn rằng “chính phủ sẽ tổ chức một cuộc hội thảo về các phương án khai thác nguồn tài nguyên to lớn này một cách bền vững, hiệu quả, đảm bảo môi trường sinh thái…”. Thế rồi, các công việc nghiên cứu đề xuất của các cơ quan chức năng đã nhanh chóng được hoàn thành một cách sơ sài với đa số ý kiến đồng thuận. Chính phủ trình ngay dự án lên cho Bộ chính trị và nó được biểu quyết thông qua với đa số tuyệt đối. Ủy ban Thường vụ Quốc hội CS cũng cho ý kiến ủng hộ mà chẳng thông qua Quốc hội chút nào. Rồi những tay chân trong bộ máy cai trị lại phụ họa theo: Bộ trưởng Tài nguyên-Môi trường đã trả lời khi bị chất vấn: “Trước đây ta nhìn nhận tài nguyên bauxite không như hiện nay, ít quan tâm từ khai thác đến nhập khẩu. Gần đây do bauxite có giá trị cao nên các nước, nhất là doanh nghiệp trong nước mới quan tâm như vậy”. Lãnh đạo tỉnh Đắc Nông thì cho rằng nguy cơ môi trường trong các dự án bauxite là có thật nhưng không lớn lắm. Đổi lại, bauxite sẽ đem đến tăng trưởng kinh tế và việc làm cho người dân địa phương: "Mình không làm thì bauxite vẫn chỉ là đất thôi". Những kẻ hỗ trợ kế hoạch khai thác quặng này còn cho rằng nó sẽ giúp phát triển kinh tế trong khu vực và công tác khai thác sẽ sử dụng kỹ thuật hiện đại để giảm thiểu tối đa những hậu quả đối với môi sinh !?!
Thế nhưng tiến sĩ Nguyễn Thành Sơn, giám đốc Công ty Năng lượng Sông Hồng, thuộc Tập đoàn Công nghiệp than-khoáng sản Việt Nam (TKV) vốn là chủ đầu tư, đã cùng với Tiến sĩ Nguyễn Đông Hải và nhà văn Nguyên Ngọc, đã chứng minh qua bài viết “10 lý do đề nghị tạm dừng dự án bauxite Tây Nguyên” ngày 13-01-2009 rằng (1) việc triển khai các dự án bauxite là không cần thiết, (2) không làm tăng ngân sách địa phương, (3) không hề có hiệu quả kinh tế, (4) phải đầu tư xây dựng một hệ thống đường sắt và cảng biển lãng phí, (5) không an toàn về môi sinh, (6) không phù hợp với năng lực của Tập đoàn Công nghiệp than-khoáng sản Việt Nam, (7) không đảm bảo sinh kế cho các đồng bào dân tộc thiểu số bản địa, (8) không phát triển bền vững Tây Nguyên, (9) không mang tính công khai minh bạch, (10) không tuân thủ Luật khoáng sản và Luật bảo vệ môi trường. Tóm lại là việc khai thác bauxite ở Tây Nguyên chẳng có lời mà chỉ có lỗ, lỗ lớn về mặt kinh tế, môi sinh, văn hóa, xã hội, chính trị cho toàn vùng và toàn nước.
Thế nhưng, qui hoạch khai thác bauxite ở Tây Nguyên mới được nhà cầm quyền CSVN phê duyệt, luận chứng kinh tế kỹ thuật vẫn đang soạn thảo, các nhà khoa học còn đang tranh luận nên hay không nên khai thác bauxite ở đó, vậy mà công dân Trung Quốc, người cầm bản đồ, người mang cưa máy, người cuốc, người xẻng đã sục sạo ở Tây Nguyên... “Chủ trương lớn của đảng và nhà nước” mà “Quốc hội của dân” chưa được phép bàn định thì Hoa dân đã xắn tay áo thực hiện nó rồi! Thư của tướng CS Võ Nguyên Giáp ngày 05-01-2009 đã báo động: “Trong tháng 12-2008 đã có hàng trăm công nhân Trung Quốc đến Tây Nguyên để bắt tay vào việc khai thác bauxite. Mỗi công trường bauxite sẽ có tới hàng ngàn công nhân như vậy”. Và nay thì họ đã đặt tổng hành dinh điều hành khai thác bauxite ở Lâm Đồng. Cả một vùng trên 100 mẫu đã được san bằng nằm giữa 3 khu vực: Thị trấn Lộc Thắng - xã Lộc Phú và xã B’Lá. Hai xã này đều thuộc huyện Bảo Lâm. 500 người Trung Quốc gồm chuyên gia và công nhân đang phục vụ mỏ và họ cho biết khi nhà máy đi vào hoạt động sẽ có hơn 6000 con cháu Đại Hán làm việc tại đây. Các chuyên gia Trung Quốc cư trú ngoài thị trấn Lộc Thắng, trong khu cao cấp biệt lập nằm bên một hồ nước thơ mộng. Họ đi lại bằng xe biển số xanh 49B do tỉnh Lâm Đồng cung cấp. Còn công nhân Trung Quốc thì sống trong những khu nhà tập thể mà người Việt chẳng được phép vào. Họ làm gì trong đó thì chỉ có trời biết!
Sự xuất hiện ồ ạt của người Trung Quốc tại một nơi từng được các nhà địa lý, chính trị và chiến lược mệnh danh “nóc nhà Đông dương” là một điều hết sức đáng lo ngại, nhất là khi người ta nhớ lại rằng Thống chế Pháp de Lattre de Tassigny (cao ủy và tổng tư lệnh quân đội Pháp tại Đông dương 1950-1952) từng nói về nó như sau: “Ai làm chủ được vùng cao nguyên Trung Phần (tức Tây Nguyên) và Hạ Lào thì sẽ làm chủ được chiến trường Đông Dương”. Chính nhờ khống chế được Tây Nguyên dễ dàng vào đầu năm 1975 mà chiến dịch mùa xuân của CSVN sau đó đã kết thúc nhanh chóng vào cuối tháng Tư đen năm ấy.
Thành thử chẳng lạ gì mà thiếu tướng hồi hưu CS Nguyễn trọng Vĩnh, cựu đại sứ tại Bắc Kinh (1974 -1989), trong thư gởi bộ Chính Trị khoảng tháng 02-2009, sau khi nhắc lại những tai hại về môi trường, văn hóa, xã hội không những cho đồng bào dân tộc người Thượng, mà còn cho cư dân Nam Bộ sống dọc hai bờ sông Đồng Nai, đã nghiêm trọng cảnh báo: “Điều đáng lo hơn cả là an ninh quốc gia. Chúng ta đều biết Trung Quốc đã xây dựng căn cứ hải quân hùng mạnh ở Tam Á đảo Hải Nam… không phải để chống kẻ thù xâm lược nào, mà là để đe dọa Việt Nam và sẵn sàng chờ thời cơ thôn tính nốt Trường Sa của chúng ta, sau khi đã nhanh tay chiếm Hoàng Sa từ tay Chính quyền Sài Gòn. Nay lại để Trung Quốc khai thác bauxite ở Tây Nguyên thì sẽ có năm, bảy nghìn hoặc một vạn công nhân hay quân nhân Trung Quốc đến cư trú và hoạt động tại đây, sẽ hình thành một “thị trấn Trung Hoa”, một “căn cứ quân sự” trên địa bàn chiến lược vô cùng xung yếu của chúng ta (vũ khí đưa vào thì không khó gì). Phía Bắc nước ta, trên biển, (TQ) có căn cứ hải quân hùng mạnh, phía Tây Nam nước ta (TQ) có căn cứ lục quân trang bị đầy đủ, thì độc lập chủ quyền mà chúng ta đã phải đổi bằng hàng triệu sinh mạng cùng xương máu sẽ như thế nào?!”. Ngoài viên tướng này, còn nhiều sĩ quan trong Quân đội nhân dân còn lòng yêu nước cũng hết sức băn khoăn, hãi sợ.
Rõ ràng vấn đề khai thác quặng bauxite ở Tây Nguyên hiện nay chỉ là “diện”, là cái cớ bên ngoài, còn việc Trung Cộng chiếm hữu vùng đất đó làm căn cứ để thanh toán Việt Nam trong tương lai gần là “điểm”, là thực chất bên trong. Các nhà nghiên cứu chiến lược Trung Cộng cũng từng nói đến điều đó. Trôi nổi trên các trang mạng Trung Quốc đã có người viết: việc dập gẫy xương sống Việt Nam có thể dễ dàng chia cắt và thôn tính Việt Nam, mà làm chủ được Tây Nguyên chính là thực hiện được điều đó. Kinh nghiệm đau thương của VNCH đã chứng minh như vậy.
Vậy là ta có thể nói như blogger Người Buôn Gió trong một bài viết hôm 11-03: “Cuối cùng người Trung Quốc thông qua Tây Nguyên đã rửa sạch những món nợ tích lũy qua bao nhiêu thế kỷ từ Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa... Muôn vàn những trận đánh oai hùng của quân dân Việt Nam từ xưa đến nay đều bị lu mờ bởi một trận đánh cực lớn trên Tây Nguyên mà người Trung Quốc dùng bauxite làm chủ công. Chiến thắng này của người Trung Quốc trên đất Việt là một chiến thắng vĩ đại để rửa hờn cho bao thế hệ đi trước của họ đã bị thất bại ở Việt Nam. Bởi vì đám con cháu của Mã Viện ngày nay ngồi ở Bắc Kinh muốn dứt điểm cái dân tộc suốt mấy nghìn năm ngo ngoe chống đối Thiên triều… Trung ương Bắc Kinh thấy thời cơ để rửa các món nhục đã chín muồi. Khi phần đông lãnh đạo Việt Nam đã không còn nghĩ đến lợi ích dân tộc, đất nước, lúc mà chủ nghĩa lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm đang phổ biến thành tư tưởng hàng đầu ưa thích ở Việt Nam, thì chỉ cần chút mồi, hứa hẹn cuộc sống sau này cho vài cá nhân và gia đình họ là người Trung Quốc dễ dàng thực hiện mọi kế sách như đã định”.
Hỡi dân tộc Việt Nam, đứng trước bọn ngoại xâm Tàu cộng hung hãn và bọn nội gián Việt cộng đê hèn này, chúng ta còn đợi gì mà không đứng lên quét sạch chúng??

BAN BIÊN TẬP
Xã luận bán nguyệt san Tự do Ngôn luận số 71 (15-03-2009)

Saturday, March 14, 2009

Ách Nạn Trên Quê Hương - Tài Liệu Lịch Sử Sơ Lược


-Hồ Chí Minh có tên cúng cơm là Nguyễn Sinh Cung. Đảng CSVN công nhận năm sinh của ông là 1890, quê ở làng Hoàng Trù, huyện Nam Ðàn, tỉnh NghệAn. Thân sinh là ông Nguyễn Sinh Huy (sau đổi tên là Nguyễn Sinh Sắc, không phải là cha ruột của HCM), bạn đồng khóa với cụ Phan Chu Trinh. HCM thay tên đổi họ và năm sinh rất nhiều lần.

-Tháng 6 năm 1911, Hồ Chí Minh xin được một chân phụ bếp ở tàu La ToucheTréville và theo tàu đi khắp nơi, Âu châu, Mỹ châu, Phi châu... ;

-15/9/1911, Nguyễn Tất Thành (HCM) có gửi cho tổng thống Pháp và bộ trưởng thuộc địa hai lá đơn giống hệt nhau để xin được nhập học trường thuộc địa như một học sinh nội trú "mong mỏi sẽ trở nên hữu ích cho nước Pháp đối với đồng bào tôi v.v." thư đề ngày 15-9-1911, nghĩa là ngay khi mới đặt chân lên đất Pháp tại hải cảng Marseille trên bờ Ðịa Trung Hải .
Pháp từ chối (vì trình độ NTT kém, chưa học xong lớp 7, vì hcm không do Chính phủ Pháp chính thức gởi sang, ...)
http://www.danchu.net/TaiLieuCao/Tai...inh.DonHoc.htm

-Năm 1917, vốn là chỗ quen biết từ trước, Nguyễn Tất Thành đến ở chung với ông Phan Chu Trinh tại Paris. Ông gia nhập đảng Xã Hội Pháp và hay lui tới gặp gỡ, sinh hoạt với nhóm của cụ Phan Chu Trinh, Phan VănTrường, Nguyễn Thế Truyền (hai nhà trí thức yêu nước du học tại Pháp),Nguyễn An Ninh (sau này theo CS đệ tứ), thường được gọi chung là nhóm Ngũ Long;

- 1919, Lénine thành lập Ðệ Tam Quốc Tế cs

- 1920 : Tại đại hội đảng Xã hội Pháp ở Tours (Pháp), hcm gia nhập vào đcs Pháp ; HCM tự thú : "không hiểu thế nào là chủ nghĩa cs đệ III, và đệ IV & khác biệt" (lúc này trình độ tiếng Pháp của HCM còn rất kém; về học vấn HCM cũng chưa xong lớp 7); HCM chọn "cs đệ III" vì "nó ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc thuộc địa" (thực chất, hcm không hiểu đó là chiêu bài giai đoạn của cs quốc tế để từ từ bành trướng chủ nghĩa cs qua trung gian đảng cs nội địa; nhưng nó tài trợ và giúp HCM tiến thân);

- Năm 1922, nhóm này bắt đầu viết báo chống thực dân, chủ động là cụ Phan Chu Trinh với sự đóng góp tích cực của các ông Trường, Truyền, còn Nguyễn Tất Thành thì lãnh nhiệm vụ giao bài đến các tòa soạn. Cả nhóm lấy bút hiệu chung là Nguyễn Ố Pháp (những người họ Nguyễn ghét Pháp) sau đổi thành Nguyễn Ái Quốc, một bút hiệu được nhiều người yêu thích và làm gai mắt nhà cầm quyền Pháp.

. Cái hay là sau khi nhóm này tan rã vì một số người lần lượt về nước, Nguyễn Tất Thành giữ bút hiệu này làm tên riêng của mình. Và mọi người được mặc nhiên chiêm ngưỡng Nguyễn Ái Quốc bằng xương bằng thịt mà người ta từng hâm mộ bấy lâu tại một số diễn đàn như câu lạc bộ Faubourg, Hội Nghị Versailles năm 1919, đại hội đảng Xã Hội Pháp tại Tours năm 1920.

-1923, Sau khi tham dự Hội Nghị Nông Dân Quốc Tế,HCM vẫn tiếm giữ bút danh Nguyễn Ái Quốc ở lại Moscow 18 tháng để nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lê .

-1923 : nhân dân Liên Xô bị nạn đói kinh khủng, phải ăn bo bo, do chính sách sai lầm của Lenine. Lenine cũng có chính sách bành trướng chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới, qua phong trào "cướp chính quyền", "giải phóng các nước thuộc địa" (chiêu bài) dưới sự lãnh đạo của cs quốc tế là Liên Xô (và CS Tàu).

-11/1924, Nguyễn Ái Quốc được Cộng Sản Ðệ Tam Quốc Tế gửi về Quảng Châu (Trung Hoa) để tổ chức các phong trào thân cộng ở vùng Ðông Nam Á.Hồ Chí Minh lấy tên là Lý Thụy, làm việc tại phòng phiên dịch của cố vấn Borodin, thuộc Hội Lao Liên của Tôn Trung Sơn, trú ngụ tại nhà hàng của ông Bào tại quảng trường Đông Hiệu. Trong thời gian này,Hồ Chí Minh đã gia nhập một tổ chức Tâm Tâm Xã với âm mưu biến tổ chức này theo cộng sản.

- Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc xuất hiện dưới "chiêu bài chủ nghĩa dân tộc", dấu nhẹm cái gốc cộng sản của mình. Quốc đã tìm cách móc nối với nhóm Việt Nam Quang Phục Hội (VNQPH) do cụ Phan Bội Châu lãnh đạo.

-6/1925, bất thành trong việc chiêu dụ để biến cụ Phan Bội Châu và VNQPH thành tay sai của cộng sản quốc tế, Nguyễn Ái Quốc bàn cùng Lâm Ðức Thụ bán cụ Phan Bội Châu cho thực dân Pháp với giá 10 vạn đồng ; Thụ viết thư mời cụ Phan Bội Châu nhân ngày giỗ của chí sĩ Phạm Hồng Thái cùng nhau tổ chức một cuộc tuyên truyền cho Cách Mạng Việt Nam. Cụ Phan Bội Châu tin thật, khăn gói lên đường và đã bị bắt tại Thượng Hải vào tháng 6/1925.

- Tháng 10 năm 1926, HCM đã lấy một cô gái Quảng Châu tên là Tăng Tuyết Minh làm vợ. Hai người đã cử hành hôn lễ, lúc ấy Hồ Chí Minh 36 tuổi, còn TăngTuyết Minh 21, có sự tham dự của đại diên đcs Tàu (Chu Ân Lai). Sau khi cưới 2 người đã chung sống với nhau hơn nửa năm.
(Bà mẹ Tăng TuyếtMinh ngay từ đầu không đồng ý cuộc hôn nhân này vì thấy Hồ Chí Minh là một tên có vẻ gian xảo. Thế nhưng họ Hồ đã dùng mọi thủ đoạn để chinh phục cô gái họ Tăng.)
http://www.congdongvietnam.com/cdvn/...ID=36&cateID=5
http://hqvnch.net/default.asp?id=184&lstid=178

-12/4/1927, khi Tưởng Giới Thạch bắt đầu ruồng bố phe cộng sản Trung Hoa, tổ chức của Hồ Chí Minh bị dẹp bỏ và Hồ bị cảnh sát Trung Hoa đuổi chạy đến Hồng Kông rồi sau đó đến Moscow. Quốc Tế Cộng Sản gửi Hồ đến Pháp và rồi theo lời yêu cầu của ông, ông được gởi đến Thái Lan, tại đây ông sống trong vòng 2 năm để tổ chức và huấn luyện những người Việt Nam biệt xứ.

. Hồ Chí Minh đã bỏ lại cô vợ trẻ khiến cho cô phải trở về sống với mẹ.
Vào tháng 5 năm 1927, sau khi rời Quảng Châu, Hồ Chí Minh đã mất liên lạc với vợ và từ đó không hề gặp lại nữa.
Trongsuốt thời gian này họ Hồ chỉ liên lạc 2 lần bằng thư nhưng không kết quả. Lá thơ này bị mật thám Đông Dương chặn được ngày 14 tháng 8 năm1928, hiện còn tàng trữ tại bảo tàng viện Aix En Provence tại Pháp và được xác nhận là bút tích của họ Hồ.

.VNTNCMÐCH thoát thai từ Tâm Tâm Xã, một bộ phận của Việt Nam Quốc Dân đảng lưu vong tại Trung Quốc. Nguyễn Ái Quốc đã khuyến dụ được một số đảng viên nồng cốt của Tâm Tâm Xã như Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Phong gia nhập CS Quốc Tế và trở thành những cánh tay đắc lực của mình.

.Lê Hồng Phong với Minh Khai từng đã hứa hôn, rồi trên đường sang LiênXô thụ huấn Phong đã để Minh Khai lại đi sau và đến thụ huấn sơ khởi với Nguyễn Ái Quốc(tức HCM) , thế là Khai đi cùng với HCM và có bầu . Sang đến Liên Xô vụ việc vỡ lở, Liên Xô cho HCM và Khai thành hôn, có giá thú hẳn hòi . Giá thú này mới tìm thấy trong văn khố mật của Liên Xô cũ.Không thể chối cãi rằng Hồ chỉ lăng nhăng với Khai chứ không có giá thú. Thế nhưng trong một thời gian dài Hồ và đảng cứ nói dối đàn em và nhân dân rằng cô con gái mà Hồ có với Minh Khai là con của Lê Hồng Phong. Nhiều người còn đưa ra giả thuyết là có thể vì vừa mất sự lãnh đạo đảng và mất vợ vào tay Lê Hồng Phong cho nên bác Hồ hãm hại Phong, vì khi ở Liên Xô về nước, Phong đã gặp Hồ ở Hồng Kông, mà ngoài hai người không ai biết; vậy mà vừa về đến nơi thì Phong bị Pháp bắt.Như vậy nghi cho Hồ hãm hại Phong không phải không có lý.
http://www.congdongvietnam.com/cdvn/...ID=36&cateID=5

- 25/12/1927: Việt Nam Quốc Dân Đảng ra đời do Nguyễn Thái Học,Nguyễn Khắc Nhu, Phó Đức Chính thành lập , ngày trọng đại đối với lịch sử dân tộc cận đại , một lực lượng Cách Mạng Dân Tộc với hệ thống tổ chức chặt chẽ, dân chủ và khoa học đầu tiên tại Việt Nam. Lúc ấy, VNQDÐ chủ trương một cuộc "cách mạng bạo lực để giành độc lập" và là cuộc "cách mạng dân tộc, dân chủ".
http://www.vnqdd.org/ls_vnqdd/LuocSuVNQDD_1.htm

-12/1929, HCM tái xuất hiện ở Hồng Kông với vai trò là tìm cách kết nối,chuyển tải tiền, bài vở và mệnh lệnh giữa văn phòng Viễn Ðông của Đệ Tan Quốc Tế Cộng Sản và những Ðảng Cộng Sản ở Ðông Dương, Thái Lan, và Mã lai á;

- 3/2/1930, về Đông Dương, HCM lập ra đảng cs VN ở Macao;

-2/1930,HCM mưu đồ tiêu diệt mọi hoạt động của các đảng phái quốc gia, trong cuộc tổng khởi nghĩa của Việt Nam Quốc Dân đảng do Nguyễn Thái Học đề xướng vào tháng 2/1930, cán bộ đảng CS Ðông Dương do HCM thành lập đã rải truyền đơn tố cáo cuộc chuẩn bị nổi dậy này .

-8/1930, Cụ Nguyễn Hải Thần vận động kết hợp một số tổ chức đấu tranh như Việt Nam Quốc Dân Ðảng, Tân Việt Cách Mạng Ðảng và Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Ðồng Chí Hội để thành lập Việt Nam Ðộc Lập Ðồng Minh Hội, gọi tắt là Việt Minh vào tháng 8 năm 1934 tại Nam Kinh.

- 10/1930, theo chỉ thị của Liên Xô, HCM đổi thành đcs Đông Dương ở Hong Kong.
Chiếntranh Việt Nam có vẻ như một cuộc nội chiến Nam Bắc, nhưng bản chất không phải vậy vì ngay từ 1925, Hồ đã bán Phan Bội Châu. Năm 1930 CSVN tung truyền đơn tố cáo với Pháp việc Việt Nam Quốc Dân Đảng nổi dậy(Hoàng Văn Đào) và trong lúc chưa chống xong Pháp ,CSVN đã thủ tiêu các lảnh tụ các tôn giáo, cuộc chiến mang mầu sắc ý thức hệ rỏ rệt và rỏ hơn hết do quyền lợi của riêng phe đảng cộng sản Việt Nam do HCM thao túng .

- 6/6/1931, HCM bị bắt ở khu Kow Loon ( Cửu Long) ở Hồng Kông khi đang sống ở nhà vợ của Hồ Tùng Mậu tại địa chỉ 186 Tam Kaw.

-28/12/1932 là ngày HCM được thả ra. Theo yêu cầu của sự trục xuất, HCM phải đi tới Singapore nhưng HCM tìm cách trở lại Hồng Kông vào ngày 11tháng 1 năm 1933.

- 21/1/1933, HCM bị cảnh sát Anh bắt lại và bị ra lệnh phải rời đảo thuộc địa của Anh. HCM giả trang làm một thương gia Tàu trong vòng vài tháng cho đến khi liên lạc được với ông PaulVaillant-Couturier và ông này giúp HCM lên một chiếc thuyền Liên xô ở Thượng Hải và vào tháng 7 năm 1933, HCM "về nhà" ở bến Vladivostok, Ngaxô. Dù tìm cách cứu HCM khi bị tù tội, Quốc tế Cộng sản đã tạm thời loại trừ ông ra khỏi tổ chức vào cuối năm 1933.

- 1935, VNQDĐ , tổ chức này đã bị ngưng hoạt động vì các thành viên của Việt Nam Quốc Dân Ðảng nhìn rõ sự thao túng của các phần tử thiên cộng đang ẩn náu trong tổ chức Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Ðồng Chí Hội

- 1933-1938, Những gì HCM đã làm trong 5 năm tại Liên xô không được ghi lại rõ ràng .

- 1938 / 1941: HCM phục vụ trong Hồng quân Trung Quốc .

- 3/9/1939, Thế chiến thứ II, Pháp tuyên chiến với Đức. Mười ngày sau, Bảo Đại nộp bản đề nghị cải cách gồm bốn điểm.Tân toàn quyền Catroux lấy lý do tình hình chiến tranh để thoái thác việc thảo luận. Nhưng ông có quà an ủi là chiếc máy bay Morane 343 cho vị vua trẻ để tiêu khiển.

- 1941 khi về nước , HCM có quan hệ tình ái với một nữ cán bộ cần vụ người Tày và sinh ra Nông đức Mạnh (năm 2005, Nông Đức Mạnh khoảng 65 tuổi, và lý lịch Nông Đức Mạnh không ghi rõ tên cha là ai; ĐCSVN cũng không dám công khai thử DNA của Nông Đức Mạnh và HCM để so sánh hầu đánh tan dư luận đúng đắn này; sự thật vẫn là sự thật nên đcsvn phải im lặng và chối).

- 1941, Nhật tham chiến thế giới II

- 19/5/1941, HCM thành lập mặt trận Việt Minh, ông Hồ có nhắc nhở cán bộ của ông ta: “Trước cục diện mới, vấn đề đoàn kết dân tộc càng quan trọng. Chúng ta phảicân nhắc kỹ lưỡng để thành lập một mặt trận mà hình thức và tên gọi sao cho tuyệt đối phù hợp với cục diện đó” ( ”Hồ Chí Minh tại Trung Quốc”, Tưởng Vĩnh Kinh, Thượng Huyền dịch, trang 186).

- 3/8/44, Báo l'Humanité, cơ quan ngôn luận của đảng CS Pháp, ủy viên trung ương đảng CS Pháp tuyên bố: " Nhân dân Pháp muốn rằng xứ Ðông Dương, cũng như các đại thuộc địa khác, sẽ trở về nước Pháp đầy đủ, không mất một tấc đất nào, để xây dựng một cộng đồng Liên bang Ðại Pháp " .

- 1945 tại Côn Minh, là tổng hành dinh của không đoàn số 14 của Mỹ, HCM gia nhập vào cơ quan tình báo Mỹ OSS, được đặt cho bí danh là Lucius. Để đổi lại tin tức tình báo về quân Nhật ở Việt Nam, người Mỹ cung cấp một số súng ống loại nhẹ cùng huấn luyện cho mặt trận Việt Minh của ông. Tuy nhiên trong thâm tâm Mỹ không tin HCM (vì biết HCM theo cs).
http://www.geocities.com/danchoichon...laihinhanh.htm

Giai đoạn 1945, liền sau đệ nhị thế chiến, tình hình VN rất rối ren,rất nhiều người VN yêu nước (không cs) vẫn tiếp tục đấu tranh chống thực dân, giành độc lập. HCM & csvn được huấn luyện bởi cs quốc tế,bắt chước Staline, Mao cướp chính quyền của vua Bảo Đại, dùng chiêu bài hoà hoãn, liên kết (kêu gọi đoàn kết để chống ngoại xâm, để lừa mị nhân dân; nhưng dân không biết là sau đó HCM sẽ áp dụng cơ chế gì, chính sách gì thực sự cho VN, khi dân biết được thì quá trễ) rồi cs HCM tiêu diệt mọi đối lập không cs, giành độc quyền "yêu nước", độc tài toàn trị, phù hợp với chủ nghĩa cs, điều luật của đảng cs quốc tế mà hcm/VM/csvn là một bộ phận (so sánh lá cờ đỏ sao vàng csvn với những lá cờ của Trung cộng và Liên Xô cũ; nghiên cứu kỹ những gì csvn nói và làm từ 1945-2005)

- 4 đến 11/2/1945, hiệp ước chấm dứt chiến tranh được ký kết giữa Churchill, Roosevelt và Staline ở Yalta .

-05/2/45, Nhật đang thua trận khắp nơi, Manila (thủ đô Phi Luật Tân) đã bị Mỹ chiếm lại ngày 05-2-45, tướng Mc Arthur đang xua quân đánh chiếm đảo Okinawa thuộc lãnh thổ Nhật.

- 2/3/45? : HCM lập « chính phủ Liên hiệp » (thủ đoạn giai đoạn)

- 9/3/1945 Nhật đảo chính Pháp để dễ dàng phòng thủ và trả độc lập cho Việt Nam để lấy lòng dân Việt.

-10-3-1945, đại sứ Nhật tại Huế Yokoyama cùng tướng tổng tư lệnh quân Nhật tại Đông Dương vào yết kiến vua Bảo Đại tại điện Kiến Trung.

-11/3/1945 sau cuộc gặp với đại sứ Nhật Yokoyama, Bảo Đại công khai bãi bỏ hiệp ước 1884 với người Pháp và tuyên bố sự độc lập của Việt Nam nằm trong khối Đại Đông Á, đổi quốc hiệu là Việt Nam và thành lập chính phủ Trần Trọng Kim (Nhật nắm quân đội). Chính phủ đoản mệnh cầm quyền 5 tháng nhưng đã làm được các bước căn bản đáng kể cho nền giáo dục. Sau 60 năm, sự lệ thuộc Pháp chấm dứt.

- 17/3/45 vua Bảo Đại thay đổi guồng máy cai trị, bãi bỏ Cơ Mật Viện, thành lập chính phủ do một vị Thủ tướng đứng đầu . Vua mời học giả Trần Trọng Kim đứng ra thành lập nội các đầu tiên của nước Việt Nam Độc Lập - Thống Nhất.

- 19/3/1945, dưới sức ép của Nhật , Bảo Đại buộc phải cách chức Phạm Quỳnh, yêu nước không cs(người thân Pháp?). Vài tuần sau, Phạm Quỳnh bị Việt Minh bắt và hành quyết vì PQ biết rất rõ sự tàn bạo của chủ nghĩa cs. Một chính phủ mới, với thủ tướng Trần Trọng Kim, được lấp vào chỗ trống. Họ dự định cải cách hiến pháp cùng nhiều chủ đề khác.

- 24/3/1945 : De Gaulle (Pháp) đã tuyên bố: " Ðông Dương sẽ là một liên bang, có quy chế tự trị, với những chính phủ địa phương và các hội đồng địa phương, nhưng đứng đầu liên bang là một quanToàn Quyền Cao Ủy đại diện cho nước Pháp. Mặc dù lúc ấy Pháp không có một đạo quân nào sẵn sàng vào Ðông Dương nhưng Pháp vẫn lấy quyết định "

- 4/1945, Việt Minh bắt đầu tổ chức "Uỷ ban giải phóng"tại các vùng họ hoạt động, thống nhất các lực lượng vũ trang thành Việt Nam giải phóng quân, và thành lập Uỷ ban Dân tộc Giải phóng vào tháng7-1945.

- 17/4/1945, tại điện Thái Hòa, Trần Trọng Kim trình danh sách chính phủ lên vua Bảo Đại và được đồng ý . Đây là chính phủ đầu tiên của Việt Nam được tổ chức theo hành chánh tây phương, gồm nhiều bộ. Đặc biệt chính phủ nầy không có bộ Quốc phòng, hay bộ An ninh .

- 4/5/1945, chính phủ quyết định quốc hiệu mới là Việt Nam chứ không dùng An Nam, Đại Nam hay Đại Việt.Bắc Kỳ được đổi thành Bắc Bộ (được Nhật trao lại cho Việt Nam ngay khi chính phủ thành hình), Trung Kỳ thành Trung Bộ và Nam Kỳ thành Nam Bộ,dầu lúc đó Nam Bộ chưa chính thức được sát nhập vào trung ương. Kinh đô Huế được đổi thành Thuận Hóa

- 7/5/1945 Tại Âu châu, Đức thất trận và đầu hàng;

- 2/6/1945, chính phủ chọn quốc kỳ Việt Nam nền vàng, ba sọc đỏ theo hình quẻ ly. Quốc ca là bài Đăng đàn cung .

.Năm Ất Dậu, 1945 tại Bắc Việt đã xẩy ra nạn đói chết cả triệu người, do nhiều nguyên nhân: Mất mùa , do thực dân Pháp thu thuế cao, quân Nhật bắt trồng đay, bom đạn của phi cơ Hoa Kỳ và thủ đoạn quấy phá của Việt Minh (để khích động lòng căm thù của nhân dân). Tuy nhiên bom đạn HoaKỳ là nguyên nhân thiết yếu vì đường tiếp tế gạo ở trong Nam không chở gạo ra Bắc, gạo trong Nam thừa và rẻ, đến nỗi đốt máy xe lửa và gạo ngoài Bắc đắt đến mức gấp 40 lần gạo trong Nam, hậu quả là dân quê nghèo chết đói khoảng 2 triệu người. Nạn đói chấm dứt khi Hoa Kỳ ngưng ném bom vào thời điểm Nhật đầu hàng. Sở dĩ bom đạn Hoa Kỳ năm 1945 hữu hiệu là nhờ tin tình báo và sự chỉ điểm của VM do Hồ lãnh đạo; Cơ quan O.S.S có thể quên không quan tâm đến tình trạng dân quê miền Bắc sẽ đói. Nhưng HCM chắc chắn sẽ biết hậu quả việc cắt đường tiếp tế gạo Nam Bắc nhất là khi báo chí lúc đó loan tin bác sĩ Vũ Ngọc Anh bộ tưởng y tế xã hội và đoàn cứu tế mang gạo đã bị chết vì bom đạn phi cơ Hoa Kỳ trên đường công tác. Ngược lại Hồ còn lợi dụng nạn đói trong mục tiêu sách động quần chúng nổi dậy và ngay cả khi đã cướp được chính quyền HCM còn lấy tiền trong quỹ cứu đói lạc quyên do chính phủ Trần Trọng Kim gom chung với quỹ Tuần Lễ Vàng lạc quyên do chính phủ Hồ Chí Minh lạc quyên để hối lộ các tướng Tàu(Lư Hán) sang giải giới quân Nhật.HCM tay đã nhúng chàm nên cộng sản Việt Nam không dám mở miệng đòi bồithường về nạn đói đối với Nhật và Hoa Kỳ vốn là 2 nước giàu có và nhiều trách nhiệm .

- 17/7 đến 2/8/1945, Đại diện Hoa Kỳ là tổng thống Harry Truman, đại diện của Anh lúc đầu là thủ tướng WinstonChurchill, đại diện Liên Xô là Stalin, cùng họp hội nghị thượng đỉnh tại thị trấn Potsdam, bàn về các vấn đề hậu chiến tại Đức, như các khu vực chiếm đóng, việc kiến thiết và các điều kiện đưa ra cho nước Đức.

-26/7/1945, cũng tại Potsdam, đại diện các nước Hoa Kỳ, Anh và Trung Hoa(tổng thống Tưởng Giới Thạch không họp, nhưng đồng ý qua truyền thanh)cùng gởi một tối hậu thư cho Nhật Bản, buộc Nhật Bản phải đầu hàng vô điều kiện. Liên Xô không được tham dự vào tối hậu thư nầy vì lúc đó,Liên Xô chưa tham chiến ở Á Châu và chưa tuyên chiến với Nhật Bản.
Riêng về vấn đề Đông Dương, quân đội Nhật sẽ bị giải giới do quân đội Trung Hoa ở bắc vĩ tuyến 16, và do quân đội Anh ở nam vĩ tuyến 16. Tối hậu thư nầy không đề cập đến ai sẽ cai trị Đông Dương sau khi quân đội Nhật bị giải giới và rút về nước ? Một khoảng trống chính trị, hành chánh tại Đông Dương khi Nhật đầu hàng. HCM biết rất rõ qua Stalin.

- 1/8/1945, Tượng Thần Tự Do ở Hà Nội bị giật đổ (dưới áp lực của cs ?)

-6/8/1945, ba bộ trưởng Nội vụ (Trần Đình Nam), Kinh tế (Hồ Tá Khanh) và Tiếp tế (Nguyễn Hữu Thí) đồng từ chức và đề nghị toàn thể nội các cũng từ chức .

- 7/8/45, chính phủ Trần Trọng Kim tuyên bố từ chức. Vua Bảo Đại yêu cầu ông Trần Trọng Kim lưu nhiệm và lập chính phủ mới .

- 6 & 9/8/45 Hiroshima bị bỏ bom nguyên tử, 66000 người chết; 9/8 Nagasaki bị tiêu diệt, 80000 nạn nhân .

- 14/8/1945, Nhật đầu hàng Đồng Minh , nội các Trần Trọng Kim đổ sau mấy tháng làm việc bằng tinh thần và tâm chí của những tấm lòng quốc gia chân chính .

-16/8/1945: một nhóm 8 đảng viên cộng sản tụ tập giữa rừng sâu (TânTrào), tự phân chia vai vế với nhau; việc gìn giữ an ninh xem như bỏ trống vì chính phủ Trần Trọng Kim không có bộ Quốc phòng hay bộ An ninh. Thời gian nầy là cơ hội thuận tiện chẳng những cho quân trộm cướp mà còn thuận tiện cho lực lượng Việt Minh lộng hành, không bị ai chận đứng. Đây là một trong những lý do giải thích vì sao chỉ với một lực lượng nhỏ dưới 5.000 đảng viên mà Việt Minh cộng sản cướp đượcchính quyền và thao túng đất nước;

- 16/8/45, De Gaulle cử D'Argenlieu làm Cao Ủy Pháp tại Ðông Dương và Leclerc làm Tổng tư lệnh quân đội viễn chinh Pháp, thay thế Blaizot.

- 17/8/45, ở Sài Gòn, ông Trần Văn Ân, Chủ tịch Hội đồng Nam Kỳ, đã tiếp thu chính quyền từ trong tay quân Nhật;

.Ở Hà Nội, ngày 17-8, cuộc mít-tinh do tổng hội công chức tổ chức tại nhà hát lớn, nhắm ủng hộ chính phủ Trần Trọng Kim, đã bị Việt Minh biến thành cuộc biểu tình tuần hành ủng hộ mặt trận Việt Minh; dưới sức ép của HCM, chính quyền Huế ra hai đạo dụ. Một,nói rằng Bảo Đại mời lãnh đạo Việt Minh đến Huế để thành lập nội các và rằng ông sẵn sàng chuyển quyền lực cho họ nếu đó là ý nguyện của dân. Chiếu thứ hai, xác nhận sự độc lập của Việt Nam.

-18/8/1945, vua Bảo Đại gởi công hàm kêu gọi sự ủng hộ của các nướcTrung Hoa (lúc đó do Quốc Dân Đảng lãnh đạo), Anh, Hoa Kỳ, nhất là kêu gọi Pháp trao trả độc lập lại cho Việt Nam, đừng tái lập nền cai trị Pháp dưới bất cứ một hình thức nào. Nhờ Nhật giúp đỡ, bức công hàm nầy được đài phát thanh Nhật ở Sài Gòn, Hà Nội và Tokyo công bố rộng rãi.Pháp không chịu công khai tuyên bố trao trả độc lập cho Việt Nam.
Vị đại sứ Nhật ở Huế là Yokoyama đến gặp vua Bảo Đại đề nghị dùng lực lượng của Nhật tiêu diệt Việt Minh, vì tuy thất trận trên thế giới, quân đội Nhật ở Đông Dương vẫn còn nguyên vẹn, dư sức đàn áp Việt Minh. Lo sợ nội chiến xảy ra trước sự lợi dụng của ngoại bang, vua Bảo Đại từ chối đề nghị của Yokoyama.

-19/8/1945, Thời cơ xảy đến đột ngột, Nhật đầu hàng Đồng Minh. Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất, tập họp tất cả những thành phần yêu nước, không phân biệt chính kiến, đảng phái, tổ chức 1 cuôc biểu tình rầm rộ đểmừng "độc lập". Quần chúng, đồng bào, đã sống trong bầu không khí nghẹt thở, ngột ngạt của chế độ thực dân, sôi sục lòng phấn khởi, tràn ra đường hoan nghinh, reo hò. Tất cả mọi thành phần xã hội, khuynh hướng,đảng phái, tôn giáọ ... đều bày tỏ sự vui mừng trước "nền độc lập" bất ngờ. Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất là đại biểu cho quyền lực lúc nàỵ

-19/8/45, Ngoài ra có cuộc biểu tình đòi độc lập và hoan nghênh ông Nguyễn Văn Sâm được Hoàng đế Bảo Đại phong làm Khâm sai Nam Bộ, Hồ VănNgà làm phó. Ông Sâm là người quê ở Bang Long (Giếng Nước), Sóc Trăng.

- 19/8/45, Việt Minh tổ chức biểu tình cướp chính quyền Hà Nội. Lợi dụng hoàn cảnh hỗn loạn, Việt Minh gán cho những nhân vật có khuynh hướng quốc gia là "Việt gian", "phản động" và kiếm cách thủ tiêu họ, để tiêu diệt tất cả các thành phần không cộng sản hoặc đối lập. Hà Nội bất ngờ rơi vào tay Việt Minh.

- 20/8/1945, "Thấy thế yếu , hôm sau ngày 20/8/45, CS lại tổ chức biểu tình nữa . Lần này họ dùng lực lượng Thanh Niên Tiền Phong đóng vai trò , rồi giương cờ đỏ sao vàng đi trước. CS dành quyền chủ động tổ chức thêm 1 cuộc biểu tình mừng độc lập ngày 2/9/45. Lần này họ hô khẩu hiệu " Bắt cóc bọn thân thiện với Pháp ".

- 22/8/1945, Leclerc đến Kandy, bộ tham mưu của Mountbatten (quân Anh) ở Ấn Ðộ.

- 22/8/1945, De Gaulle tới Washington gặp tổng thống Truman và được Truman công nhận chủ quyền của Pháp ở Ðông Dương.

-23/8/1945, Đêm, Chính phủ Cách mạng Lâm thời HCM gửi điện đòi Bảo Đại thoái vị. Không nhận lời đề nghị của Yokohama, vua Bảo Đại quyết định thoái vị theo lời yêu cầu của Việt Minh. HCM cướp chính quyền. Tại Huế, nội các Trần Trọng Kim họp phiên cuối cùng rồi giải tán.

-24/8/45, Anh ký một thỏa ước Pháp-Anh về nguyên tắc trao trả lại ÐôngDương cho Pháp. Cùng ngày 24/8, tại vịnh Bengale, nhổ neo toán quân đầu tiên có nhiệm vụ "thiết lập trật tự" của chính quyền Pháp tại Sàigòn, Hà Nội và Huế.

-24/8/45, ở Sài Gòn , chứng kiến cuộc biểu tình đầy tinh thần đấu tranh và kết hợp mọi khuynh hướng, đoàn thể, gây cho cán bộ CS căm tức lồng lộng. Vẫn thủ đoạn nham hiểm, xâm nhập, lủng đoạn rồi cướp chính quyền từ trong tay Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất, nên tối 24/8/45, Việt Minh lặng lẽ niêm yết danh sách "Lâm Ủy Hành Chánh" trước Bồn Kèn (ngã tư Lê Lợi - NguyễnHuệ).

- 25/8/45, Vua Bảo Đại tuyên chiếu thoái vị, Bảo Ðại từ Huế ra Hà Nội. Trong thời gian đầu, dưới danh nghĩa "công dân VĩnhThụy", ông giữ chức "cố vấn" (bù nhìn dưới sức ép của HCM) trong các chính phủ liên tiếp của Hồ Chí Minh.

- 25/8/45, ở Sài Gòn ,với chủ trương củng cố tình đoàn kết, không tham quyền cố vị, các vị lãnh đạo trong Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất bày tỏ thiện chí bằng cách để "Lâm Ủy Hành Chánh" thay mặt điều khiển việc nước... Tối đêm đó, trong 1 phiên họp chung, ông Nguyễn Văn Sâm đồng ý trao quyền cho "Lâm Ủy Hành Chánh". CS đã khéo léo, tấn công "mặc cả hợp tác với Nhật của người quốc gia", nên đã thương lượng để Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất nhường quyền lãnh đạo cho họ.

- 25/8/1945, Ở Hanoi, Trước khí thế mạnh mẽ của Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất, được quần chúng ủng hộ, CS thấy thất thế. 6 ngày sau, CS lại tổ chức 1 cuộc biểu tình khác để mượn lực lượng dân chúng đã theo Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất tuần trước,phô trương thanh thế của họ. Thực chất, trong cuộc biểu tình này, CS chỉ có 1 số cán bộ cầm cờ đỏ sao vàng đi trước cái "Lâm Ủy Hành Chánh" của họ thành lập vội vàng, rồi trong đêm 24 rạng 25/8/1945, cs lén đem niêm yết trước Bồn Kèn (tức công trường Lam Sơn) để giành quyền lãnh đạo .

. Việt Minh âm thầm kéo về Hà Nội vào ban đêm. Việt Minh cướp chính quyền tại Hà Nội và dần dần trong cả nước. Những nguyên nhân làm cho họ thắng lợi là nhờ ở thủ đoạn xảo quyệt của họ trong việc che dấu lý lịch Cộng Sản ,nhờ sự trợ giúp của người Pháp cho họ được tự do hoạt động từ các năm về trước, sự đánh lừa lực lượng Đồng Minh chủ yếu là người Mỹ trongnhững ngày trước khi Nhật Bản đầu hàng và sự toa rập giữa Pháp và ViệtMinh ( " đồng sàng mà dị mộng ") để đàn áp và cầm chân Đại Việt trong mấy năm liền.

- 30/8/1945, một lễ thoái vị diễn ra trước Ngọ môn. Bảo Đại - người từ nay trở thành công dân Vĩnh Thụy -tuyên bố: "Thà làm dân một nước độc lập, hơn làm vua một nước nô lệ"

- 1/9/45, VM đem quân đánh một căn cứ Đại Việt ở Ninh Bình.

-2/9/45: HCM đảo chính chính phủ Trần Trọng Kim và ngày 2/9/1945 lại ra tuyên ngôn độc lập lần thứ hai, cũng chỉ là bản tuyên ngôn ý định, và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Bắc Việt) chỉ được thừa nhận trên thực tế (9 năm sau) bởi Hiệp Định Đình Chiến Geneva ngày 20-7-1954. Thực dân Pháp hay Tàu khi cai trị đã đem lại văn minh của họ, nhưng CSVN vì tầm văn hóa thấp (theo Hà Sĩ Phu) CSVN đã làm ngưng bước tiến văn minh của Việt Nam từ ngày 2/9/1945. HCM chính thức đặt VN vào gông cùm cs.

- 5/9/45, HCM ký sắc lệnh giải tán các đảng Quốc Gia Xã Hội, Thanh Niên Ái Quốc, Đại Việt Quốc Dân Đảng.

- 6/9/45 VM bắt thủ lãnh Thanh Niên Ái Quốc Võ Văn Cầm. Cùng ngày này trong Nam cũng xảy ra khủng bố, bắt cóc.

-Đêm 9/9/45, Ở miền Nam, Trần Văn Giàu ra lịnh cho Quốc Gia Tự Vệ Cuộc,tức Công an võ trang, đến bao vây trụ sở Phật Giáo Hoà Hảo ở số 8 đường Sohier, góc đường Miche, để lùng bắt Đức Huỳnh Phú Sổ. Nhưng họ chỉ bắt được các tín đồ và chức sắc, còn giáo chủ thì không tìm thấy ("PhậtGiáo Hoà Hảo trong dòng lịch sử dân tộc", trang 373).

-10/9/45, Trần Huy Liệu họp báo thanh minh: “Đó không phải là khủng bố,vì bị bắt bao giờ cũng là những kẻ do sự điều tra, nhận thấy có phương hại đến chính quyền của nhân dân.”

- 12/9/45 : VM bắt nhiều cán bộ, các đảng quốc gia: Bùi Trần Thường, Đào Chu Khải, Lê Ngọc Vũ...

-13/9/45 VM bắt hai lãnh tụ VNQĐD Nguyễn Ngọc Sơn, Nguyễn Thế Nghiệp,bắt hụt Nhượng Tống... sau đó cắt tiết hai ông Sơn và Nghiệp ở Chèm Vẻ,thả trôi sông.

- 15/9/45, HCM ký sắc lệnh an trí những người nguy hiểm cho cách mạng...

-9/1945, hai trăm ngàn quân Trung Hoa do tướng Lư Hán (Lu Han) chỉ huy tiến vào miền Bắc nước ta. Chính phủ Trung Hoa và tướng Lư Hán đều thuộc Trung Hoa Quốc Dân Đảng nên họ chẳng ưa gì Việt Minh cộng sản.

-23/9/1945, "Ở Nam Bộ, Pháp mở cuộc tổng phản công, Ủy Ban Hành Chánh(CS) của Trần Văn Giàu đã chạy thụt mạng vô Chợ Đệm. Pháp tiến quân ra Phú Lâm, Ủy Ban chạy tới Tân An. Pháp mở cuộc ruồng bố Tân An, Ủy Ban chạy xuống Mỹ Tho, rồi tiện đường...dông tuốt vô Đồng Tháp Mười mất dạng. Trong khi đó, các lãnh tụ quốc gia như Trần Văn Ân, Nguyễn Văn Sâm, Kha Vạng Cân, Hồ Văn Ngà liều chết ở lại lập Ủy Ban phong toả Saigon, Chợ Lớn... Trước khi bôn tẩu, Ủy Ban Kháng Chiến của Trần Văn Giàu ra lịnh đốt chợ, đốt phố, đốt nhà dân, và cho tự vệ đi lùng bắt các lãnh tụ quốc gia, đảng phái, tôn giáọ ... đem thủ tiêu . Cách chiến đấu của CS thật lạ lùng khó hiểụ. Tỉnh nào cũng hành động y chang "bác Hồ" (" thà giết lầm còn hơn bỏ xót, giành độc quyền thống trị riêng cho cs ")

-8/10/1945, Lợi dụng cuộc hưu chiến ngắn ngủi ngày 8/10/45, công an Việt Minh đã bủa lưới bắt trọn các lãnh tụ Đệ Tứ (Trốt-kít) như các ông TrầnVăn Thạch, Phạm Văn Chánh, Nguyễn Văn Sổ, luật sư Huỳnh Văn Phương, bácsĩ Hồ Vĩnh Ký cùng vợ là bác sĩ Nguyễn Thị Sương, luật sư Dương Văn Giáọ ... tất cả là 64 người, đều bị giết tại cầu Bến Phân (Hạnh Thông Tây, Gò Vấp) hay chôn sống tại sông Lòng Sông (Mường Mán, PhanThiết)...

Hồ Chí Minh gặp ba áp lực cùng một lần: các tướng lãnh Trung Hoa đưa quân vào Việt Nam theo tối hậu thư Potsdam, các lãnh tụ Đồng Minh Hội và Quốc Dân Đảng Việt Nam về Việt Nam theo quân Trung Hoa, quyết liệt chống đối ông Hồ, và người Pháp muốn tái chiếm Đông Dương.

- 11/11/1945, Ông Hồ tuyên bố giải tán đảng Cộng sản Đông Dương (thực chất là rút vào hoạt động bí mật), tổ chức tổng tuyển cử quốc hội, tiến đến thành lập chính phủ liên hiệp để tạo ra một bộ mặt dân chủ hợp pháp trước mặt quốc tế.Riêng tại miền Nam, CS phái cán bộ len lỏi vào các tổ chức, đoàn thể thanh niên, tôn giáo, xã hội . Việt Minh (gọi tắt của Việt Nam Độc LậpĐồng Minh), là 1 sự lừa bịp dư luận. Ông Hồ Chí Minh luôn luôn lo sợ dư luận biết ông ta là 1 thành viên cs , 1 thành viên quốc tế của Đệ Tam QuốcTế CS sẽ phải luôn phục vụ cho quyền lợi Quốc tế CS, nên luôn che dấu bộ mặt thật.
Các đảng phái quốc gia đã chậm chân để cho Việt Minh cướp được chính quyền trước, nay muốn tranh đấu giành lại chính quyền khỏi tay Việt Minh, thì phải chấp nhận ngồi lại tranh đấu chính trị. Từ đó mọi người lo sửa soạn tham gia cuộc bầu cử được tổ chức ngày6-1-1946.

- 1946 : Pháp xây dựng lại kinh tế sau thế chiến II,với sự giúp tài chánh của Mỹ (những nước khác cũng nhận được sự giúp đỡ này của Mỹ, kể cả Nhật, Đức)

- 1946-48 : Viet Minh tàn sát vàchôn sống rất nhiều tín đồ Phật Giáo Hoà Hảo tại xã Long Khánh (Hàng Gòn),quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc; tại Đìa Ô Long Vỹ, tại Kinh Xáng, VịnhTre (Quận Tri Tôn, tỉnh Châu Đốc); giết & thả vùng Vàm Nao, quận Chợ Mới, tỉnh Châu Đốc; giết và chôn sống tại 2 cái đầm lớn tại Cái Gừa, xã Mỹ Ngãi; tại Rạch Ông Cả Điền, xã Mỹ Ngãi, quận Cao Lãnh, Tỉnh Sa Đéc; tại Cây Me, gần nhà Thầy Cai Bích, xã Tân Thành, huyện TânHồng, tỉnh Sa Đéc; tại Rạch Ông Cả Điền, xã Mỹ Ngãi, quận Cao Lãnh,Tỉnh Sa Đéc (nhân chứng sống 10/8/2005: Phan Thanh Nhãn, sinh năm 1915 tại Cao Lãnh, Kiến Phong; đt: 00 1 (714) 703-9193; email: Thuongduc74@yahoo.com ;
Cộng sản chỉ quen vu khống, xuyên tạc sự thật ; sự thật sau 30 năm quá rõ,khi nhìn kỹ những gì Việt cộng nói & làm rất mâu thuẫn; kết quả VN hôm nay là bằng chứng hùng hồn dù vc xuyên tạc lịch sử)
http://www.com/php/modules.php?name=...iewtopic&t=196

-1945/53 : cs lập chiến khu Việt Bắc, rút vô rừng, không có đánh nhau gì lớn với Pháp cả; dân VN & đảng phái khác thì tuyên truyền, vận động, biểu tình, đốt đồn bót Pháp;

- 6/1/1946, ngày tổng tuyển cử do Việt Minh tổ chức, các cuộc xung đột giữa Việt Minh và Việt Nam Quốc Dân Ðảng đã xẩy ra.

-28/2/46, Pháp-Hoa ký hiệp ước, để quân Trung Hoa rút về; HCM gởi thư cho TT Mỹ, Mỹ không trả lời vì biết HCM là cs và cướp chính quyền vua Bảo Đại.
http://uk.geocities.com/vntddanchu/image/hcminhmemo.jpg

-2/3/1946, "chính phủ liên hiệp" kháng chiến được thành lập với Hồ ChíMinh: chủ tịch, Nguyễn Hải Thần: phó chủ tịch, Huỳnh Thúc Kháng: nộ ivụ, Nguyễn Tường Tam: ngoại giao, Phan Anh: quốc phòng, Vũ Ðình Hòe: tư pháp, Ðặng Thai Mai: giáo dục,..

- 6/3/1946: HCM ký hiệp ước sơ bộ Sainteny với Pháp yêu cầu Pháp trở lại VN, nhờ Pháp tống xuất quân đội Trung Hoa để thừa cơ thanh toán các đảng phái quốc gia như Quốc Dân Đảng và Đồng Minh Hội. Sau đó, HCM lại phát động Chiến Tranh Đông Dương Thứ I (1946-1954). Đúng ra, theo Hội nghị Yalta, Pháp không được trở lại VN.
Chiến tranh Việt Pháp chỉ xảy ra khi quân Pháp trở lại Việt Nam sau thế chiến thứ 2, ở miền Nam nhờ quân Anh ngầm giúp cho đổ bộ, nhưng tại miền Bắc do Hồ chính thức mời bằng Hiệp Định 6-3-1946.
Nguyễn Tường Tam, bộ trưởng ngoại giao, phản đối, từ chức ngày 6-3-1946 và trốn chạy sự truy lùng ám sát của VM. Cho đến năm 1954 thì họ Nguyễn Tường tại đất Bắc không còn một ai, nội cũng như ngoại.
Pháp lợi dụng HCM để chính thức vào lại VN và sẽ tiêu diệt những ai chống đối sau này; HCM lợi dụng Pháp để "hợp thức hoá" việc cướp chính quyền,tạm thời bảo toàn lực lượng cs và mượn thêm tay Pháp để tiêu diệt những đảng phái quốc gia, dành toàn quyền thống trị độc tài toàn trị với chủ nghĩa thực dân đỏ cs.
Chỉ với chủ nghĩa cs, HCM mới "lên được ngôi vua" (vì có nhiều người VN khác có đạo đức, yêu nước, học cao, cam đảm và sáng suốt hơn HCM , nhưng họ không lắm thủ đoạn, cả tin cs và họ có lòng nhân bản hơn HCM); Chỉ với chủ nghĩa cs mới giúp csvn tồn tại trên ngôi vị "lãnh chúa" ngày nay, dù phải bán nước buôn dân, tiếp tục làm tay sai cho anh cả Nga / anh hai Tàu cs. Đứng về mặt quyền lợi và tham vọng cá nhân, HCM đã "thành công", nhưng đứng về mặt đạo đức, quyền lợi dân tộc thì HCM đã thất bại vì chọn lựa sai lầm về đường lối làm nô lệ cho chủ nghĩa cộng sản quốc tế .

. Sainteny ký với Hồ Chí Minh hiệp ước sơ bộ ngày 6/3/1946, nội dung đại lược "chính phủ Pháp thừa nhận nước Việt Nam Cộng Hòa là một nước tự do có chính phủ và quốc hội ... trong khối Liên Hiệp Pháp"."Nước Việt Nam Cộng Hòa", trong tinh thần hiệp định sơ bộ là từ Trung trở ra Bắc. Còn đất Nam Bộ thì phải đợi trưng cầu dân ý mới quyết định .
http://www.com/php/modules.php?name=...iewtopic&t=282

- Ngày 16/3/1946, cố vấn Vĩnh Thụy rời Hà Nội, sang Trùng Khánh cùng với một phái đoàn thiện chí.

-26/3/1946, Ngay sau hiệp định sơ bộ 6/3/46, Hội Ðồng Tư Vấn Nam Kỳ cử bác sĩ Nguyễn Văn Thinh (khuynh hướng tự trị miền Nam) ra lập chính phủ nước Cộng Hòa Nam Kỳ. Chính phủ Nguyễn Văn Thinh thành lập ngày7/5/1946 với đại tá Nguyễn Văn Xuân làm Phó Thủ Tướng kiêm Bộ Trưởng Bộ Quân Ðội. Bác sĩ Nguyễn Văn Thinh làm việc được mấy tháng, thấy người Pháp không cho mình quyền tự chủ, lại bị người trong nước thóa mạ, ông treo cổ tự tử bằng dây điện ngày 9/11/1946. Pháp đem y sĩ Lê Văn Hoạch lên thay (ngày 15/11/1946). Ðại tá Nguyễn Văn Xuân bỏ sang Pháp.

- 19/5/1946 ngày HCM ra lệnh cho dân chúng treo cờ mừng sinh nhật của Hồ để luôn thể đón quân Pháp đổ bộ lên Hải Phòng Bắc Việt.Đáng lẽ CSVN bị tiêu diệt nhưng không ngờ Trung Cộng thắng chiếm lụcđịa năm 1949 và cứu CSVN, nhưng tội cõng rắn cắn gà nhà, phản quốc của HCM đã tỏ rõ. Lý do Hồ đón quân Pháp là để đánhh dẹp các chiến khu của quân quốc gia với sự hỗ trợ pháo binh và chiến xa của Pháp ( RichardNixon, No More VietNams).

- 17/6/46, Việt Minh về hành động 'hợp tác rồi khủng bố', trở mặt như trở bàn tay của Việt Minh. Việt Minh hợp tác với VNQDĐ để tổ chức lễ kỷ niệm Phạm Hồng Thái (19/6) vàNguyễn Thái Học (17/6). Qua ngày 11/7/ 46, Việt Minh đem quân bao vây tiêu diệt các thành phần mới vừa hợp tác : "vụ án Ôn Như Hầu". Anh, Mỹ biết chuyện này.

-Tháng 7/1946, nhiều lãnh tụ Việt Quốc bị VM bắt tại Hà Nội, Nguyễn Tường Tam sang Nam Kinh, Vũ Hồng Khanh đi Vân Nam. Sau khi biết rõ bộ mặt thực của CS, VNQDÐ rút khỏi chính phủ liên hiệp.

- 14/9/1946, Thỏa hiệp án, HCM cấu kết với Pháp để tiêu diệt các đảng quốc gia .

.Báo l“Humanité, cơ quan ngôn luận của đảng Cộng Sản Pháp, số ra ngày3/8/44, ủy viên trung ương đảng Cộng Sản Pháp tuyên bố: “ Nhân dân Pháp muốn rằng xứ Ðông Dương, cũng như các đại thuộc địa khác, sẽ trở về nước Pháp đầy đủ, không mất một tấc đất nào, để xây dựng một cộng đồng Liên bang Ðại Pháp ” . Tháng 1/45, tờ nhựt báo “Ce Soir”, cơ quan của đảng Cộng Sản nhấn mạnh: “ Là một đại cường quốc, nước Pháp phải được tham gia vào cuộc chiến ở Thái Bình Dương. Là một đại cường quốc có thuộc địa, nó (Pháp) phải giữ lấy thuộc địa ở khắp nơi và tái chiếm Ðông Dương ” (Ðặng Văn Long, Người Việt ở Pháp 1940 - 1954, trang XII).

. Hồi các năm 1945 - 46, Việt kiều tại Pháp có đoàn kết, nhưng không suy tôn,thờ phụng Hồ Chí Minh như thần thánh, không làm lễ sinh nhựt của ông ta như đảng Cộng Sản Việt Nam mong muốn. Họ ủng hộ Việt Minh trong chừng mực nào đó, và phản đối ông Hồ trong “Thỏa hiệp án 14/9/46”, cũng như Hiệp ước sơ bộ ngày 6/3/46)
http://www.com/php/modules.php?name=...iewtopic&t=239

- 28/10/1946, quốc hội nhóm tại nhà hát lớn. Lần nầy chỉ còn 210 dân biểu hiện diện, 70 dân biểu đối lập thì lớp bị thủ tiêu, hoặc đang trốn, nay còn lại không quá 20 người và cũng ngã theo Việt Minh

-31/10/1946, Ba ngày trước 31/10, không có gì quan trọng, Hồ Chí Minh ra trước quốc hội trình bày những hoạt động của chính phủ từ 6 tháng nay,để rồi từ chức, ông viện lẽ “tình hình biến chuyển, cần có một chính phủ mạnh mẽ hơn để đối phó mọi biến cộ“
“Quốc hội hoan nghinh (vì toàn thể đều là Việt Minh của ông Hồ), rồi biểu quyết tặng Hồ Chí Minh danh hiệu “công dân thứ nhứt Việt Nam”, đồng ý giao cho Hồ Chí Minh lậpchính phủ khác.

- 3/11/46, Hồ Chí Minh lại ra trước quốc hội trình thành phần chính phủ mới. HCM được Trung Ương CS bầu làm chủ tịch nước VN.
(Theo chủ trương che giấu sự thật lịch sử, bưng bít các hành động phản bội và phản quốc của mình, ông Hồ và đảng Cộng sản Việt Nam không bao giờ dám cho đăng lại toàn bộ nội dung các bản hiệp ước: hiệp ước sơ bộ6/3/1946, thỏa hiệp án 14/9/1946)

- 4/11/46 Pháp yêu cầu HCM phải khai báo mọi cơ sở cs, vì Pháp thấy VM cs nguy hiểm, xảo trá; Pháp và HCM "đồng sàng mà dị mộng" lợi dụng lẫn nhau trên xương máu và tiền đồ của dân tộc VN, những người yêu nước và cả tin. Một số người theo HCM , "tránh vỏ dưa gặp vỏ chuối", "né thực dân Pháp gặp thực dân đỏ cộng sản mà HCM giấu quá kỹ & khủng bố quá tàn ác.

- 5/11/1946, Ủy Ban (Hành Chánh của Trần Văn Giàu) ra lịnh đốt chợ Sóc Trăng, Tây kéo đến, ta rút lui . Ngày thứ Bảy 6/1/46 lại đốt chợ Bãi Xàu.. Trước đó,ngày 17/12/45, Thanh Niên Tiền Phong đến nhà treo đồ bổi, lá khô, trên trình thượng 2 căn phố của thân phụ, ép mình ký tên cho đốt nhà để "tiêu thổ kháng chiến" khi có giặc Tây đến... Cách chiến đấu như vậy đâu có...chết thằng Tây nào !"

- 11/46 HCM phát động toàn dân kháng chiến chống Pháp, vì thấy khả năng chiếm độc quyền lãnh đạo nước VN về sau bị lung lay, Pháp & HCM, 2 bên biết thâm ý của nhau;Pháp chọn vua Bảo Đại là vua danh chính ngôn thuận, yêu chuộng tự do và không cs .

- 19 /11/ 1946 : Pháp chiến tranh đầu tiên ở DNA.?

-17/12/1946, "Chiều 17/12/1946, "bác Hồ" và đồng dảng rút vào hang sâu trong núi Phượng Hoàng ở Sơn Tây .Nửa đêm 19/12/1946, từ chỗ ẩn náu an toàn, HCM hùng hổ tuyên bố "Toàn quốc kháng chiến", báo hại tụi du kích, tự vệ thành...ngơ ngác mất người chỉ huy, cầm tầm vong vạt nhọn,dao găm, mã tấu, anh dũng...làm bia đỡ đạn Pháp ở Hà Nội !

-19/12/1946, Chính quyền Pháp, trong khi chính thức đánh nhau với Việt Minh từ đêm 19/12/1946, thì đối với Bảo Ðại, áp dụng chính sách điều đình. Theo Pháp, sau khi VM Cộng Sản phát động chiến tranh võ trang tháng 12-1946, VM vi phạm Thoả Ước Sainteny (tháng 3-1946) và Hiệp ƯớcMoutet (tháng 9-1946), chính phủ Pháp quyết định không thương nghị với Hồ Chí Minh nữa. Theo Moutet, Pháp sẽ không ký hiệp ước với những kẻ chỉ coi hiệp ước là phương tiện đấu tranh chính trị, chứ không phải để thi hành hiệp ước.

- Đầu năm 1947, Mặc dầu chiến tranh với Pháp đã xâỷ ra, CSVN tiếp tục giết các cán bộ đảng viên quốc gia, Trương Tử Anh, Lê Khang bị giết; và Hồ rút vào rừng rậm để tiến hành cuộc chiến tranh du kích.

-20/7/1947, Chính phủ Hồ Chí Minh (cải tổ ngày 20/7/1947) vẫn có tên cố vấn Vĩnh Thụy (để lừa mị dân) mặc dù Bảo Ðại đã sang Tàu. Trong khi ấy,khối dân tộc quốc gia vẫn ủng hộ cựu hoàng, yêu cầu ông về nước, đứng ra điều đình với Pháp.

- Ngày 2/6/1947, Tướng Nguyễn Văn Xuân ban hành một thứ "hiến chương lâm thời" gọi là Pháp Qui Tạm Thời(Statut Provisoire) của nước Việt Nam, bao gồm: Quốc kỳ: cờ vàng, ba sọc đỏ (đã có từ thời chính phủ Trần Trọng Kim) và quốc ca là bài Thanh Niên Hành Khúc của Lưu Hữu Phước. Với thành phần chính phủ: Thủ tướng kiêm tổng trưởng quốc phòng: Nguyễn Văn Xuân; Quốc vụ khanh, phó thủ tướng kiêm tổng trấn Nam phần: Trần Văn Hữu; Quốc vụ khanh kiêm tổng trấn Trung phần: Phan Văn Giáo; Quốc vụ khanh kiêm tổng trấn Bắc phần:Nghiêm Xuân Thiện; v.v...

- 15/8/1947, Ấn Độ được trao trả độc lập qua đấu tranh chính trị và ngoại giao.
http://www.com/php/modules.php?name=...iewtopic&t=239

-Khoảng thời gian 1945-1954, .... Việt Minh tăng cường khủng bố và ám sát rất nhiều đảng phái quốc gia không chấp nhận cs; VM làm chỉ điểm giúp Pháp, cũng mượn tay Pháp cùng thanh toán các đảng phái quốc gia chống thực dân.
(ông cựu đại tá cs Bùi Tín,cựu phó tổng biên tập báo Nhân Dân, hiện đang sống tại Pháp, cũng minh xác điều này trong tài liệu và trên diễn đàn paltalk 2005)

- Ngày 1/10/1947, Hội Ðồng Nam Kỳ bầu Thiếu Tướng Nguyễn Văn Xuân làm thủ tướng.

- 12/1947, Sườn chính của Hiệp Ðịnh Hạ Long đã được Bảo Ðại bàn định với Trần Trọng Kim ở Hương Cảng, đầu năm 1947 (với dự định Bảo Ðại sẽ đứng ra điều đình với quân kháng chiến để đem lại hòa bình). Sau đó Bảo Ðại cử Trần Trọng Kim về nước để tìm hiểu tình thế, liên lạc với Hoàng Xuân Hãn, Vũ Văn Hiền... trước khi trở về Hồng Kông tường trình lại với Bảo Ðại, để có một quyết định. Về tới Sàigòn, Trần Trọng Kim bị (Pháp) ngăn cản, không tiếp xúc được với chính giới trong nước, và cũng không liên lạc lại được với Bảo Ðại. Không có cách nào sinh sống, Trần Trọng Kim đành phải lên Nam Vang

-15/5/1948, Bảo Ðại gửi một điện văn cho Nguyễn Văn Xuân, ngỏ ý tán thành sự thành lập một chính phủ trung ương lâm thời Việt Nam, do Nguyễn Văn Xuân điều khiển " để giải quyết vấn đề Việt Nam đối với Pháp và dư luận quốc tế ".

- 1948, bị Mỹ thúc đẩy, để đổi lấy quân viện Mỹ, Pháp phải bỏ ý định tái lập thuộc địa, đồng ý để Việt Nam độc lập trong liên Hiệp Pháp. Nhưng Pháp từ chối ký hiệp ước trao độc lập cho Việt Nam với Hồ Chí Minh, Mỹ cũng không muốn, vì Hồ Chí Minh khi đó đã lộ rõ chỉ là công cụ của Cộng Sản Đệ Tam ở Á Châụ. Vì vậy, Pháp mời cựu hoàng Bảo Đại, khi đó đang ở Hồng Kông, liên kết các lực lượng quốc gia không chấp nhận Cộng Sản, ký với Pháp do Cao Ủy Bollaert đại diện, thành lập nước Việt Nam độc lập nằm trong Liên Hiệp Pháp

- 5/6/1948, Trong bối cảnh đó, thỏa ước Vịnh Hạ Long được công bố giữa Pháp (với ông Cao ủy Emile Bollaert) và Bảo Ðại, nội dung tương tự như hiệp ước sơ bộ đã ký với Hồ Chí Minh, ví Pháp bị sức ép của Mỹ, tránh không để cs bành trướng trong vùng.
Ngày 5/6/1948, Nguyễn Văn Xuân đọc bản tuyên ngôn kêu gọi quốc dân đoàn kết .

- Ngày 8/3/1949, thỏa ước Việt Pháp được công bố tại điện Elysée bởi thống Pháp Vincent Auriol. Phía Việt Nam có cựu hoàng Bảo Ðại, các ông Trần Văn Hữu, Bửu Lộc và Vĩnh Cẩn . Ðại cương tinh thần thỏa ước này là Pháp thừa nhận chủ quyền Việt Nam và sẽ ủng hộ Việt Nam vào khối Liên Hiệp Pháp. Ngược lại, Việt Nam hứa sẽ tôn trọng quyền lợi người Pháp ở Việt Nam, cho Pháp sử dụng những căn cứ quân sự. Bảo Ðại cho biết chỉ về nước khi Hội Ðồng Nam Kỳ chấp nhận sự tái nhập Nam Kỳ vào lãnh thổ Việt Nam.
Pháp trả độc lập cho VN từ Nam Quan tới Cà Maụ để hủy bãi các Hiệp Ước Thuộc Địa (Hiệp Ước Bonard 1862 và Hiệp Ước Dupré 1874), và Hiệp Ước Bảo Hộ (Patenôtre 1884).

Nhân danh Chủ Tịch Liên Hiệp Pháp, Tổng Thống Vincent Auriol yêu cầu Quốc Gia Việt Nam gia nhập Liên Hiệp Pháp trong tinh thần bình đẳng, hợp tác và hữu nghị (như trong các tổ chức Liên Hiệp Anh và Liên Hiệp Quốc).

- 23-4-1949, với 45 phiếu thuận và 6 phiếu chống, Quốc Hội Nam Kỳ biểu quyết giải tán chế độ Nam Kỳ Tự Trị, để sát nhập Nam Phần vào lãnh thổ Quốc Gia Việt Nam Độc Lập và Thống Nhất

- 1949, Trung Cộng chiếm lục địa 1949 và khi Anh & Hoa Kỳ từ chối hỗ trợ cho nỗ lực chiến tranh của Pháp tại Việt Nam sau chiến tranh Triều Tiên 1952 thì Pháp đương nhiên phải thua

- Tháng 6/1949, Bảo Ðại về nước, tới Sàigòn ngày 13/6.

- Ngày 14/6/49, Bảo Ðại tuyên bố tạm cầm quyền dưới danh hiệu Hoàng Ðế, trong khi chờ đợi quốc dân quyết định về hiến pháp.
- Ngày 16/6/1949, phủ toàn quyền ở Hà Nội được trả về chính phủ Việt Nam và trở thành Biệt Ðiện của Quốc Trưởng

- 1/7/1949, một chính phủ mới được thành lập, với Bảo Ðại làm Quốc Trưởng kiêm Thủ Tướng; Nguyễn Văn Xuân làm Phó Thủ Tướng kiêm Tổng Trưởng Quốc Phòng; Nguyễn Phan Long Tổng Trưởng Ngoại Giao v.v...
- Ngày 3/7/1949, Nguyễn Hữu Trí được bổ nhiệm Thủ Hiến Bắc Việt, Phan Văn Giáo, Thủ Hiến Trung Việt và Trần Văn Hữu, Thủ Hiến Nam Việt

- 20/7/49, Pháp ký hiệp định trao trả độc lập cho vương quốc Lào.

- 28/8/1949, chính quyền Bảo Ðại ra thông cáo: Việt Nam sẽ chống Cộng mạnh mẽ, với sự giúp đỡ của Pháp

- 8/11/49, Pháp ký hiệp định trao trả độc lập cho vương quốc Cao Miên

- 15/12/1949, Về phía Việt Minh, trong lời hiệu triệu quốc dân Hồ Chí Minh đọc ngày 15/12/1949, kỷ niệm 3 năm kháng chiến, có câu: "... còn tôi tớ của chúng -Pháp- là lũ bù nhìn Vĩnh Thụy, Văn Xuân, thì chỉ nấp sau lưỡi lê của giặc, để chờ ngày bị tiêu diệt với chúng, chờ ngày theo số phận Lê Chiêu Thống, Uông Tinh Vệ, Pétain, Laval. "

Từ đây, sự phân cắt và đối đầu giữa hai thành phần quốc-cộng trở nên công khai và gay cấn .

- 19/8/1950, Trong thời gian ở Việt Nam, Quốc Trưởng Bảo Ðại sống tại Ðà Lạt. Trong một buổi họp tại Cannes (Pháp) với Bộ Trưởng Letourneau và Cao Ủy Pignon, Bảo Ðại đưa ra vấn đề thành lập Quân Ðội Quốc Gia Việt Nam với những đề nghị hợp lý .

- Ngày 5/11/1950, khánh thành Trường Võ Bị Liên Quân Ðà Lạt với một hội nghị quân sự họp tại Ðà Lạt giữa Bộ Trưởng Letourneau, tướng Juin, Quốc Trưởng Bảo Ðại, Thủ Tướng Trần Văn Hữu và Thủ Hiến Phan Văn Giáo. Hội nghị quyết định: Thành lập Quân Ðội Việt Nam với 115,000 người với quân bị và võ khí Mỹ. Pháp cho mượn sĩ quan trong giai đoạn đầu. Chi phí do ngân sách Việt Nam và viện trợ Mỹ đài thọ .

- Trong khoảng thời gian từ 1950 đến 1954, Quân Ðội Quốc Gia Việt Nam đứng về hàng ngũ Pháp để chống lại Quân Ðội Cộng Sản Việt Nam .

- 1/1951: HCM tái lập đảng Lao Động

- 3/7/53, Tuyên ngôn của chính phủ Pháp về việc trao quyền độc lập cho 3 nước Đông dương: VN, Lào, Cam Bốt; HCM từ chối vì theo đó rất khó có thể áp đặt chủ nghĩa cộng sản trên toàn cõi VN (xem thêm tuyên ngôn)
http://www.norodomsihanouk.info/prof...chapitre_8.htm

- 1953/1957 : dưới sự chỉ đạo của Tàu, HCM ra lệnh phát động chương trình "cải cách ruộng đất" đấu tố, tàn sát bỏ tù chôn sống khoảng 700,000 "địa chủ" vô tội (chỉ tiêu 5% dân số lúc đó khoảng 16 triệu), nhằm làm chủ "kho lương thực" (nắm dân bằng cái bao tử), nắm vững độc tôn quyền lực quân sự, công an, kinh tế, chính trị, thông tin.

- 7/5/54: CS chiến thắng trận Điện Biên Phủ. Có ít nhất một sư đoàn pháo binh của Hồng quân Tàu cùng chiến đấu với quân đội Hồ ở Ðiện Biên Phủ. Đại tá Piroth chỉ huy pháo binh Pháp tự vận ngay đợt pháo đầu tiên khai hỏa, pháo binh Trung Cộng cho CSVN phần lớn chở đến tận chỗ do quân xa Trung Cộng chuyên chở và do Trung Cộng bắn hộ khi cần; Điều thấy rõ là tương quan tớ chủ giữa phái đoàn CSVN và phái đoàn Trung Cộng tại Hội Nghị Genève.
. Võ Nguyên Giáp được đề cao là người chiến thắng, nhưng Trung Cộng dần dần tiết lộ vai trò then chốt của các tướng Tàu và vai trò của Võ chỉ là trình diễn, nhất là trong lúc lâm trận Võ mỗi đêm đều phá trinh một cô thiểu số (theo Ls Lê Sĩ Giai) để bồi dưỡng tinh thần và sức khoẻ.

. Pháp có kêu Mỹ giúp nhưng Mỹ không giúp vì cũng có ý muốn kêu gọi trả lại độc lập cho những nước thuộc địa không cs, ...
. Kết quả trận Điện Biên Phủ cho đảng CSVN quyền cai trị miền Bắc Việt Nam (miền Nam Việt Nam đã được Pháp trả độc lập cho vua Bảo Đại từ 1948). Nhưng dân Bắc chịu đựng tai ách cộng sản hà khắc và bắt đầu với cải cách ruộng đất, ăn cướp tàn ác mà trong lúc chiến tranh Hồ chưa dám thi hành mạnh tay.

- 18/7/1954 tại Hoa Thịnh Đốn, Tổng Thống Eisenhower minh thị tuyên bố Hoa Kỳ không bị ràng buộc bởi Hiệp Định Geneva (nghĩa là dành quyền tự do hành động).

- 20/7/54: hiệp định Genève , Người ký Hiệp Định Geneva 1954 là Thiếu Tướng Henri Delteil, đại diện Bộ Tổng Tư Lệnh Quân Đội Liên Hiệp Pháp tại Đông Dương (cùng với Thiếu Tướng Tạ Quang Bửu, Thứ Trưởng Quốc Phòng, đại diện Bộ Tổng Tư Lệnh Quân Đội Bắc Việt), VM ký dưới áp lực của Bắc Kinh và Moscow.
. Chiếu quy chế Liên Hiệp Pháp, trong thời chiến tranh, Việt Nam và Pháp cùng chiến đấu dưới danh nghĩa Quân Đội Liên Hiệp Pháp. Do đó chữ ký của vị tư lệnh hành quân Henri Delteil có hiệu lực ràng buộc Quốc Gia Việt Nam về mặt quân sự.
. Với tư cách đại diện cho quốc gia, phái đoàn Việt Nam đã tham dự Hội Nghị Geneva từ tháng 5-1954 với Ngoại Trưởng Nguyễn Quốc Định và từ tháng 6-1954 với Ngoại Trưởng Trần Văn Đỗ (không ký và nói chia đôi đất nước là sẽ không tránh khỏi 1 cuộc chiến tranh mới).
. Tuy nhiên Bắc Kinh và Mạc tư Khoa không bảo đảm chuyện bầu cử sẽ được tiến hành như dự tính, Mỹ không ký vào hiệp định và một thời gian sau hiệp định Genève không lâu, Ngoại trưởng Mỹ John Foster tuyên bố Mỹ sẽ bắt đầu bảo trợ một quốc gia không Cộng sản ở miền Nam
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/regi...caoduong.shtml
http://www.congdongvietnam.com/cdvn/...ID=13&cateID=4 geneve
http://www.congdongvietnam.com/cdvn/...ID=13&cateID=3

- 1954, bộ đội cán chính cộng sản họ đã nhất loạt dụng tâm chôn vũ khí, lấy vợ, để lại toàn bộ vợ con và điều nhắn nhủ sẽ trở lại đường mòn Hồ Chí Minh để xâm lăng miền Nam 1956, nhưng được chuẩn bị dự trù cả năm trước. Dù sớm hay muộn con đường chiến tranh đánh thuê của Hồ, giống như của Fidel Castro và ngày nay do Kim Chính Nhật Hàn Quốc làm, chỉ vì họ không có tài năng kinh bang tế và “tầm văn hoá thấp” (Hà Sĩ Phu) của trào lưu cộng sản đánh thuê là con đường tất nhiên của Hồ và được Hồ gọi mỹ miều “Nghĩa Vụ Quốc Tế vô sản”
http://www.vnn-news.com/article.php3?id_article=474
http://vnradionet.com/rubrique.php3?id_rubrique=15

- Năm 1955, ông Ngô Đình Diệm được Quốc Trưởng Bảo Đại, lúc đó ở Cannes, mời thành lập chính phủ quốc gia Việt Nam thu hẹp từ vĩ tuyến 17 trở xuống. Dưới áp lực Mỹ, Pháp trao toàn thể chủ quyền cho Việt Nam, quân đội viễn chinh Pháp lên tầu hồi hương.

- 23-10-1955 trong cuộc Trưng Cầu Dân Ý, vua Bảo Đại bị truất phế, Việt Nam cải ra Việt Nam Cộng Hòa, thân Mỹ. Thủ Tướng Ngô Đình Diệm trở thành Tổng Thống do 1 cuộc đầu phiếu có tính cách hợp thức hóa. Quốc kỳ vẫn là Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ

- 1955-10/1956, Tại miền Nam, Ngô Ðình Diệm đã bình định được các đảng phái Bình Xuyên, Cao Ðài, Hòa Hảo, với sự trợ giúp của các tướng Trình Minh Thế và Dương Văn Minh, tổ chức trưng cầu dân ý, truất phế Bảo Ðại và trở thành Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa ngày 23/10/1955.

- Từ 1955 đến 1959, Ngô Ðình Diệm đã ổn định tình hình chính trị và xã hội, ổn định đời sống của cả triệu đồng bào di cư từ miền bắc. Văn học Việt Nam được phát triển rộng rãi trong một không khí tương đối có tự do.
Chính phủ Mỹ cho rằng tình hình Việt Nam Cộng Hòa rất tốt đẹp và các cố vấn Hoa Kỳ có thể rút về vào năm 1961.

- Về phía miền Bắc, sau 1954, những biến cố Cải Cách Ruộng Ðất và Nhân Văn Giai Phẩm làm xao động dư luận hai miền Nam Bắc.

- Đầu năm 1955, TTQH mang xe đón cô Xuân về Hà Nội, " nói là để phục vụ Bác Hồ. " Mấy tháng sau, cô Xuân cũng xin cho cô Vàng và cô Nguyệt (con gái của ông Hoàng Văn Ðệ, cậu ruột của cô Xuân) về Hà Nội ở trên gác nhà 66 Hàng Bông Nhuộm. " Vì các vị lãnh đạo không cho chị Xuân ở cùng với Bác trên nhà Chủ tịch phủ, giao cho ông Trần Quốc Hoàn, bộ trưởng Bộ công an, trực tiếp quản lý chị Xuân, cho nên chị Xuân mới được đem về 66 Hàng Bông Nhuộm, nhà của công an.
Cuối năm 1956, chị Xuân sinh được một cậu con trai. Cụ Hồ đặt tên là Nguyễn Tất Trung. (đọc Đêm giữa ban ngày của Vũ Thư hiên, và bài của Nguyễn Minh Cần)

- Từ 1956 trở đi, miền Bắc bắt đầu cho các cán bộ đặc trách ở lại miền Nam hoạt động

- 11 tháng 2 năm 1957, vào bảy giờ tối, một chiếc xe com măng ca thường đón cô Xuân lên gặp ông Hồ đỗ trước nhà. Tên Ninh, biệt danh là Ninh Xồm, bảo vệ viên của ông Hồ, vào gặp cô Xuân nói "lên gặp Bác." Cô Xuân mặc quần áo, xoa nước hoa rồi ra xe. Xe do Tạ Quang Chiến (tên này trong đội bảo vệ ông Hồ, về sau làm tổng cục phó Tổng cục Thể dục thể thao) lái đi. Sáng hôm sau, 12 tháng 2, một nhân viên công an Hà Nội đến báo tin cô Xuân bị chết vì tai nạn ô tô, hiện còn để ở nhà xác bệnh viện Phú Doãn.
Duy chỉ có xương đỉnh đầu bị rạn nứt, nước nhờn chảy ra. Bác sĩ nói: đây có thể là nạn nhân bị trùm chăn lên đầu, rồi dùng búa đánh vào giữa đỉnh đầu. Vàng nghe xong chạy về kể lại cho Nguyệt. Hai chị em cùng khóc.
http://www.congdongvietnam.com/cdvn/...ID=36&cateID=5

- 2 tháng 11 năm 1957, cô Vàng về thăm ông cậu Hoàng Văn Ðệ, hung thủ đi theo, giết chết để bịt miệng, rồi quẳng xác xuống sông Bằng Giang, đến ngày mồng 5 tháng 11 mới nổi lên ở Hoàng Bồ.
http://hungviet.org/hcm/hochiminh.asp (bức thư liên quan đến hcm; đêm giữa ban ngày - Vũ thư Hiên; Vài mẫu chuyện về hcm - Ng M Cần http://dactrung.net/truyen/noidung.a...6WVhyEHA%3d%3d )

- 1955-75 : miền Nam VN sống tự do, thoải mái hơn miền Bắc rất nhiều; thời vnch2, xã hội có tự do dân chủ (dù sơ khởi, có tự do báo chí, tôn giáo, thông tin, báo tư nhân, bầu cử dân chủ, ...., giáo dục miễn phí, có bịnh viện miễn phí). Miền Nam là Hòn Ngọc Viễn Đông; kinh tế không thua gì Đài Loan, Nam Hàn, Thái Lan, nếu không nói là hơn.

- 14/9/1958, theo lệnh Chu Ân Lai, HCM yêu cầu Phạm Văn Đồng ký Công Hàm dâng cho Tàu 2 quần đảo VN (Hoàng Sa, Trường Sa) http://conghambannuoc./
Nhớ rằng Tàu vẫn nuôi tham vọng ngàn đời là bành trướng và thôn tính VN.

- Tháng 11-1959, bằng trận tấn công đầu tiên tại Tây Ninh, Cộng Sản Bắc Việt lại mở rộng chiến tranh xuống miền Nam.

- 1960 : Lê Duẫn lên làm Tổng bí thư Đảng lao Động csVN ở miền Bắc.

- 19/12/1960, HCM lập ra "mặt trận giải phóng miền Nam" (công cụ tay sai, bù nhìn của cs bắc Việt)

- 1961, TT John Fitzgerald Kennedy gởi một số cố vấn quân sự đến VN.

- 7/7/1963 , Nhất Linh Nguyễn Tường Tam coi nước Việt “mất nước” (di chúc 7/7/1963 Nhất Linh Nguyễn Tường Tam), dân Việt thành nô lệ thấp kém cho chính người nước mình, một chế độ cs bóc lột hơn thực dân Pháp, mức chênh lệch giữa thống trị và bị trị lớn hơn, nhân quyền bị vi phạm nhiều hơn và ngay cả tự do tôn giáo, tự do báo chí như thời Pháp thuộc cũng không còn.

- 4/8/64 Mỹ dội bom vào vị trí VC ở miền Nam VN.

- 7/8/64, quốc hội Mỹ cho phép dùng quân sự chống lại miền Bắc VN CS.

- 1965, Mỹ gởi quân đội sang đóng và tham chiến ở Nam VN, ngăn chặn CNCS tràn xuống phía Nam, Đông Nam Á, bảo vệ tự do (giống như ở Nam Hàn, Tây Đức).

- 7/2/65, Mỹ và lính Nam VN dội bom ở miền Bắc VN

- 29/6/66, kể từ ngày này Mỹ dội bom ồ ạt vào những thành phố miền Bắc

- 1968 : VC lợi dụng thoả thuận ngưng chiến 3 ngày Tết, tổng tấn công vào Huế, bỏ tù, chôn sống và giết khoảng 7000 đến 11000 dân, cán chính, sinh viên học sinh vô tội
http://hqvnch.net/default.asp?id=19&lstid=4

- 2/9/1969 : HCM chết và mong muốn gặp Mác-Le.

- 1970, Nixon bắt đầu rút quân (do sức ép của dân Mỹ & phong trào phản chiến)

- 1972: TT Mỹ (Nixon) ký kết với Tàu (Mao); Mỹ ủng hộ Tàu để tách đôi khối cs; Tàu lợi dụng Mỹ để thực hiện "4 hiện đại hoá"; csbv đi dây giữa Liên Xô/Tàu; Nga/Tàu lợi dụng chủ nghĩa cs và csvn để bành trướng xuống Đông Nam Á, Á Châu; có sự tranh giành ảnh hưởng giữa Nga/Tàu về VN, ...

- Hè 1972, những nạn nhân bị Cộng Sản sát hại trong trận chiến Mùa Hè Đỏ Lửa; ngay ở Saigon VC cũng thường hay pháo kích vào khu dân cư, trường học, ...
http://hqvnch.net/default.asp?id=234&lstid=7
http://ngothelinh/DaiLoKinhHoang.html

- 1972 : Mỹ dội bom miền Bắc, ép VC vào bàn Hội nghị Paris

- 27-1-1973 : Hiệp Định Paris cũng là một hiệp ước ngoại giao có tác dụng chính trị ("thống nhất" Việt Nam) và có chữ ký của các ngoại trưởng Trần Văn Lắm (Việt Nam Cộng Hòa), William Rogers (Hoa Kỳ), Nguyễn Duy Trinh (Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa) và Nguyễn Thị Bình (Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam).
http://www.toquocth.com/inhalt/tailieu/
Khoảng thời gian này, cs VN tung ra rất nhiều chiêu bài dối trá để lừa gạt, chia rẻ, lũng đoạn chính quyền và xã hội miền Nam : "ba thành phần", "miền Nam sẽ có thể chế tự do đặc biệt", "tự do báo chí", "gài người và kích động tôn giáo, sinh viên học sinh, thanh niên", ...

- 30/4/75: tháng tư đen cho người miền Nam nói riêng, cho cả nước nói chung; csvn "thống nhất" VN bằng bạo lực (sau khi ký chia đôi đất nước năm 1954), vi phạm hiệp định Paris (xem HD Paris); thực chất là cưỡng chiếm miền Nam, áp đặt chủ nghĩa cs độc tài toàn trị, hoang tưởng trên toàn cõi VN.

. Cs Việt Nam không thống nhất, không thu phục được lòng dân (dù sau 30 năm, 2005 độc quyền cai trị). Miền Nam VN bị bức tử trước tình hình thế giới Quốc/Cộng, phong trào phản chiến, Mỹ bỏ rơi miền Nam sau khi bắt tay đươc với Trung cộng (1972) nhằm tập trung đối phó với Liên Xô. Thời gian gần trước 1975, csVN được khối cs Liên Xô/Tàu viện trợ ồ ạt vũ khí,...
http://www.congdongvietnam.com/cdvn/...ID=13&cateID=3

- 1975, Lê Duẫn tuyên bố : "ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, Tàu"

- 1975/1986... : csVN đưa đất nước VN " tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc, tiến thẳng lên CNXH " (Lê Duẫn) :
bế quan toả cảng, vơ vét chở của cải ra bắc (2 năm), hợp tác xã, tù cải tạo "nguỵ quân", đánh tư sản mại bản, đổi tiền, chính sách hộ khẩu kiểm soát khắc nghiệt, phân biệt giai cấp (cs/"nguỵ"), cướp nhà dân, bán bãi vượt biên, gây nên phong trào vượt biên ồ ạt (qua đây csVN thâu tóm biết bao nhiêu vàng bạc của cải của dân và triệt hạ mọi sức đề kháng có thể của dân).
Đó là tinh thần "đoàn kết, xây dựng, giải phóng" của csVN !

. Đảng Lao Động VN lộ nguyên hình là Đảng cs VN;
. Nước "VN dân chủ cộng hoà" lộ nguyên hình là "Cộng hoà xã hội chủ nghĩa VNCS"

. Toàn dân VN sống dưới ách cai trị độc tài toàn trị của csvn ! Toàn dân mất mọi tự do : báo chí, tư tưởng, ngôn luận, ... Quốc hội cs là "đảng cử dân bầu" (mị dân"); tất cả mọi cơ quan, tổ chức là công cụ của csvn, phục vụ cho quyền lợi của đcsvn là trên hết.

. Kinh tế miền Nam & toàn VN suy sụp nghiêm trọng, nhân dân đói khổ ai oán cs. Bất công xã hội đầy dẫy do "cơ chế độc tài toàn trị, và chuyên chính vô sản". 2005, kinh tế miền VN thua xa Thái Lan ít lắm là 20 năm.

- 1976, csbv giải thể "Mặt trận giải phóng miền Nam" bù nhìn của csbv; Trịnh Đình Thảo MTGPMN rất phẩn uất, có kêu gọi lính VNCH thành lập "mặt trận dân chủ" nhưng bị từ chối vì biết trước sau cũng vẫn là cs mà thôi; Ng Thị Bình cũng định đào tẩu nhân chuyến ra ngoại quốc.

- 12/6/1975 : Mỹ đề nghị bang giao vô điều kiện với csvn; csvn "say mê chiến thắng" từ chối, đòi Mỹ "bồi thường chiến tranh", nhưng đối với Mỹ thì csvn vi phạm Hiệp định Paris nên không được Mỹ chấp nhận.
(xem tài liệu cán bộ cao cấp ngoại giao cs, Trần Quang Cơ http://www.vnpaltalk.com/TQC.pdf )

- 26/3/76: H Kisinger gởi công hàm cho Bộ ngoại giao vc : Mỹ sãn sàng thảo luận với VN để phát triển quan hệ.

- 12/1976 : Đại hội VI cs với luận điểm "3 dòng thác cách mạng ở thế tiến công" (!) Lấy tên nước vn là CHXHCNVN (!) Ra mặt đổi tên đảng Lao Động là đcsvn, "say mê men chiến thắng" (!) Viết lại Hiến Pháp và đcsvn độc tài toàn trị, sao chép điều 6 HP Liên Xô.

- 6/1/1977: Mỹ thông qua Liên Xô đưa ra 3 bước bình thường quan hệ với VN (ngoại giao, kinh tế, buôn bán)

- 12/1977: Liên Xô đưa quân sang Aghanistan, bước đầu bành trướng

- 31/12/1977, Pol Pot đơn phương cắt quan hệ ngoại giao với VN

- 18/4/1978, CSVN thảm sát 3000 đồng bào tại làng Ba Chúc (tạo dư luận để xâm lăng Cam Bốt; luôn tiện tiêu diệt những người theo đạo này; đổ lỗi cho lính Pol Pot thân Tàu).
http://lichsuviet.cjb.net/view_artic...?id=687&cat=19

- 3/11/78, Việt Nam ký một hiệp ước thân hữu và cộng tác với Liên xô vào ngày 3 tháng 11 năm 1978, để đổi lại viện trợ kinh tế và quân sự chuẫn bị cho cuộc xâm lăng Cam Bốt.

- 7/1/1979 : csvn nghe lời Liên Xô tiến công xâm lăng Cam Bốt (giải phóng lại, vì Pol Pot theo Tàu) và ở lại khoảng 10 năm để dàn dựng 1 chính quyền thân VC. csvn đã nướng khoảng 50 ngàn tuổi trẻ miền Nam (gia đình "nguỵ"), một cách để "trừ hậu hoạn" thế hệ trẻ "nguỵ" luôn một thể. Đúng ra đây là việc làm của Liên Hiệp Quốc, nhất là khi đuổi PolPot rồi.
Luận điệu cố hữu của Bộ chính trị csvn là : bưng bít, chối bỏ sự xâm lăng này trước quốc tế; mọi công cụ tuyên truyền phải tuân theo. Csvn đã dám qua mặt Mỹ và anh hai Tàu cộng !
Các đại sứ csVN ở hải ngoại có nhiệm vụ phải CHỐI và CHỐI hành động xâm lăng này ! Họ trả lời ra sao trước truyền hình quốc tế, Âu châu chẳng hạn : " VNcs giúp nhân dân Cam Bốt chống nạn diệt chủng, VN chỉ hổ trợ chính trị và quân nhu, vũ khí, dứt khoát là không có bộ đội csvn qua Cam Bốt". (đài truyền hình còn giữ bản sao băng phát hình)
Hậu quả : csvn bị thế giới tự do CẤM VẬN và yêu cầu csvn phải rút quân vô điều kiện !!! Sự thật đã chứng minh csVN ngông, nói dối, tay sai cs Liên Xô (vì Tàu cộng và LX có xung khắc gay gắt thời này) !


- 29/1-4/2/1979: Đặng Tiểu Bình thăm chính thức Mỹ

- 17/2/79: TQ cho csVN 1 bài học, tấn công toàn tuyến biên giới phía Bắc VN; nhân đây Tàu cũng dời thêm một số cột mốc biên giới.

- Cuối tháng 12/79, Đặng Tiểu Bình nói với báo chí ở Bắc Kinh :"Chúng tôi dung thứ Liên Xô có ở VN 70% ảnh hưởng, miễn là 30% còn lại dành cho TQ"


- 1989 : với "diễn biến hoà bình" từ nhiều năm trước, tất cả những nước cs Đông âu sụp đổ trước sự đứng dậy giành quyền tự quyết, xoá bỏ chế độ cs độc tài tàn bạo, phi nhân, phi dân tộc; bức tường "ô nhục" ở Bá Linh Đông Đức bị phá sập.

- 1991 : cs Liên Xô sụp đổ; bức tượng Lenine, Stalin bị giựt sập, cờ búa liềm bị xoá bỏ; chủ nghĩa cs bị nhân dân Liên Xô quăng vào sọt rác lịch sử; ...

- 1999-2000 : csVN tiếp tục dâng hiến lãnh hải vịnh Bắc Việt , Hoàng sa - Trường Sa , ải Nam Quan , hàng ngàn km vuông lãnh thổ dọc theo biên giới Việt-Trung , núi Đất (Lão sơn) và tài nguyên VN cho Tàu trong thời bình, mong được Tàu bảo hộ vị trí cầm quyền cho đcsvn.


(Sưu tầm)

Friday, March 13, 2009

Tiếng gọi của thanh niên, sinh viên, học sinh trong nước.

Các bạn thanh niên, sinh viên, hoc sinh thân mến !

Thế là chúng ta đã bước qua năm mới, năm 2009. Nhìn lại những năm vừa qua, chúng ta không khỏi không suy nghĩ cho tình hình đất nước hiện nay như tham nhũng, lạm phát, tai tiếng...Nhưng cái đáng sợ nhất cho chúng ta, dân tộc ta là đất nước đang bị xâm hại dần dần. Bọn Bành trướng Trung Quốc đã bao đời có dã tâm lấn xuống phương Nam. Chúng đã từng sáp nhập nước ta thành châu huyện của chúng và đồng hóa dân ta theo Tầu. Nhưng với tinh thần bất khuất, lòng yêu nước nồng nàn, lòng tự hào dân tộc, tổ tiên ta bao đời đã đánh cho chúng những đòn chí mạng .

Có lần thời nhà Lý, danh tướng Lý Thường Kiệt đã từng đem quân đánh tận sang Tàu chiếm cả vùng thuộc Quảng Đông bây giờ. Chúng ta không tự hào sao được khi vó ngựa quân Mông Cổ cày nát cả mặt đất từ Á sang Âu lập nên một Đế Quôc hùng mạnh. Mông Cổ đã chiếm trọn Trung Hoa và cai tri, song chúng gặp một đối thủ rất nhỏ bé nhưng khó nuốt là nước Đai Việt (tức Viêt Nam ta ngày nay). Còn gì nhục nhã hơn cho bọn xâm lăng Nguyên Mông khi chính Thái Tử Thoát Hoan phai chui vào ống đồng để trốn. Một đội quân bách chiến bách thắng nhưng lại bị đai bại đên ba lần tại đât Viêt để rôi sau đó từ bỏ cuộc xâm lăng.


Lich sử ta cũng có những kẻ chỉ vì ngôi vị mà rước voi về dày mã tổ. Những Kiều Công Tiển (thời tiền Ngô Quyền), Trần Ích Tắc, Trần Thiêm Bình (nhà Trần), ta chắc không quên một ông vua cuối đời Mạc tự trói mình quỳ ở Ải Nam Quan cầu Phương Bắc tiếp viện. Bọn xâm lăng chỉ chờ có thế để lấy cớ xâm lăng. Do chúa Nguyễn Ánh cầu viện nên quân Xiêm và sau đó là quân Pháp mới có cơ đặt chân lên đất nước ta.


Cũng vì vua Lê Chiêu Thống mà bọn Thanh Triều mới có cơ xua quân sang chiếm nước ta, nhưng vì lòng yêu nước nên quân dân ta giáng cho chúng không còn manh giáp. Sầm Nghi Đống thắt cổ tự tử ở Gò Đống Đa, Tôn Sĩ Nghi quăng giáp chạy trốn...
Sau khi ta dành lại chủ quyền từ tay ngươi Pháp thì một lần nữa Trung Hoa lại muốn thôn tính nước ta.


Đầu tiên lấy cớ Trịnh Hòa thời nhà Minh đã từng đến quần đảo Hoàng Sa nên bọn chóp bu Trung Nam Hải đã đòi vùng biển phương Nam vào ngày 4 tháng 9 năm 1958. Sau khi được Thủ Tướng nước Viêt Nam Dân Chủ Công Hòa là ông Phạm Văn Đồng ký công hàm ngày 14 tháng 9 năm 1958 công nhận vùng biển 12 hải lý là thuộc quyền kiểm soát của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (Trung Cộng) bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa va Trường Sa nằm dưới vĩ tuyến 17 mà lúc đó đang thuôc lảnh thổ của Viêt Nam Cộng Hòa. Vì cớ công hàm đó mà Trung Quôc đã ôm mộng lấy 2 quần đảo và vùng biển phía Nam. Chúng đã đánh úp chiếm quân đảo Hoàng Sa của Việt Nam Cộng Hòa vào năm 1974 và gặp sự chống trả mãnh liệt của Hải Quân Viêt Nam Cộng Hòa nhưng vì thế yếu nên phần lớn binh lính VNCH bị hy sinh và bắt làm
tù binh. Tướng Ngụy Văn Thà đã hy sinh anh dũng và được ghi vào Quân sử VNCH. Sau đó chúng tạo cuộc chiến tranh biên giới sau khi Việt Nam thống nhất hai miền được vài năm với Quốc hiệu là nươc Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Viêt Nam, đánh Trường Sa năm 1988, một lần nữa máu của những ngươi lính Hải Quân Nhân Dân Viêt Nam đã nhuộm đỏ Trường Sa.


Sau khi bình thường hóa vơi Viêt Nam năm 1991 Trung Quôc đã nhiều lần khiêu khích với Hải Quân Nhân Dân Việt Nam tại hai quần đảo này, đa số các đảo bị Trung Quốc chiếm. Vào khoảng năm 2006 bọn hải quân Trung Cộng đã giết hại các ngư phủ Viêt Nam ngay tai biển nhà. Năm 2007 chúng tuyên bố lấp huyện Tam Sa bao gồm Hoàng Sa và Trường Sa để sáp nhập vào tỉnh Hải Nam Trung Quốc. Chúng cản trở không cho công ty BP đã ký với Viêt Nam khai thác dầu mỏ tại biển nhà. Trắng trợn hơn nữa, Trung Quốc mới đây còn đòi bãi Tục Lãm Quảng Ninh của Viêt Nam.

Hỡi các anh chị em thanh niên, sinh viên, hoc sinh !

Là người Viêt Nam ai mà không lo trước nổi đau mất nước. Gương chiến đấu hy sinh của các bậc tiền nhân còn đó. Dã tâm của Hán Tộc đối với Nước ta cứ âm ỷ, dai dẳng hằng thế kỷ, hàng năm, hàng ngày thâm chí hàng giờ. Trươc sự an nguy của đất nước, nhiều tổ chức hội đoàn, đảng phái...đã bày tỏ ý kiến phản đối. Thanh niên, sinh viên học sinh, nhà báo xuống đường biểu tình ở cả hai miền Nam Bắc (Hà Nội, Sài Gon...) bị chính quyền của nước mình cấm cản. Những người yêu nước dấn thân chỉ vì bày tỏ quan điểm chống Tàu mà bị cầm tù như nhà giáo Vũ Hùng, anh Phạm Văn Trội, cô Phạm Thanh Nghiên, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, sinh viên Ngô Quỳnh, nhà thơ Trần Đức Thạch, nhà viết blog Điếu Cày ... Vì sao vậy? Điều này chúng ta ai cũng đều biết. Thanh niên chúng ta ngày nay không đứng lên để bảo vệ Tổ Quốc thì còn ai nữa.

Xin mượn bài hát SÁNG DANH LẠC HỒNG để kết thúc bài viết này.

Một người ngã gục là mười người đứng lên.
Mười người ngã gục là ngàn người đứng lên.
Ngàn người ngã gục là vạn người đứng lên.
Mình mà ngã gục là dòng Lạc Hồng đứng lên.
Đứng lên đứng lên cùng một lòng, cứu nguy, cứu nguy từ địa ngục. Dù xương rơi trắng đồng. Đồng hoang loang máu hồng cho quê hương, cho quê hương muôn năm vẫn còn, muôn năm vẫn còn.
Còn quê hương thì còn cơm ngon.
Còn quê hương thì con danh thơm.
Còn quê hương thi còn yêu thương và còn tất cả, tất cả, tất cả những gì thiết tha.

Việt Nam, ngày 1/2/2009
Hoàng Kim
Báo Sinh Viên Yêu Nước

Tuesday, March 10, 2009

“Đố Vui Việt Sử” (bài hay nên đọc học)

“Đố Vui Việt Sử” là một tập thơ lục bát gồm có một trăm câu đố về lịch sử và văn học sử Việt Nam đề ra bởi luật sư Đào Hữu Dương và hai trăm câu thơ trả lời của giáo sư Nguyễn Xuân Vinh.

Dụng ý của hai tác giả là dùng một thể thơ thật nhẹ nhàng và hấp dẫn để nhắc nhở các thanh thiếu niên ôn lại những trang sử Việt Nam và nuôi dưỡng tinh thần nhớ nước, thương nòi ở nơi đất khách. Tập thơ in ra lần đầu ở San Diego, vào năm 1985, đã được gửi tặng các trường dậy Việt ngữ. Cuốn sách này cũng được Trung Tâm Việt Ngữ Văn Lang ở San Jose, CA in lại để làm tài liệu dậy tiếng Việt.

Chúng tôi in lại ở đây như là một tài liệu giáo dục quý giá cho thế hệ trẻ

Câu hỏi của Đào Hữu Dương

1. Vua nào mặt sắt đen sì?
2. Vua nào trong buổi hàn vi ở chùa?
3. Tướng nào bẻ gậy phò vua?
4. Tướng nào dùng bút đánh lừa Vương Thông?
5. Ngựa ai phun lửa đầy đồng?
6. Voi ai nhỏ lệ ở giòng Hóa Giang?
7. Kiếm ai trả lại rùa vàng?
8. Súng ai rền ở Vũ Quang thủa nào?
9. Còn ai đổi mặc hoàng bào?
10. Nữ lưu sánh với anh hào những ai?
11. Nhà thơ lên đoạn đầu đài?
12. Tướng Tàu chui ống chạy dài Bắc phương?
13. Tướng Nam chẳng thiết phong vương?
14. Rắc lông ngỗng, thiếp nghe chàng hại cha?
15. Anh hùng đại thắng Đống Đa?
16. Đông du khởi xướng bôn ba những ngày?
17. Lũy Thầy ai đắp, ai xây?
18. Hồng-Sơn Liệp-Hộ, triều Tây ẩn mình?
19. Vua Bà lừng lẫy uy danh?
20. Ấu nhi tập trận, cỏ tranh làm cờ?
21. Vua nào nguyên-súy hội thơ?
22. Hùng-Vương quốc-tổ đền thờ ở đâu?
23. Đại vương bẻ gẫy sừng trâu?
24. Rừng Lam khởi nghĩa áo nâu anh hùng?
25. Hại dân bán nước tên Cung?
26. Đục chìm thuyền địch dưới sông Bạch-Đằng?
27. Lý triều nổi tiếng cao tăng?
28. Bình-Ngô ai soạn bản văn lưu truyền?
29. Mười ba liệt sĩ thành Yên?
30. Bỏ quan treo ấn tu tiên thủa nào?
31. Ai sinh trăm trứng đồng bào?
32. Bình-Khôi chức hiệu được trao cho người?
33. Tây-Sơn có nữ tướng tài?
34. Cần-vương chống Pháp bị đầy xứ xa?
35. Tổ ngành hát bội nước ta?
36. Khúc ngâm Chinh-Phụ ai là tác nhân?
37. Vua nào sát hại công thần?
38. Nhà văn viết truyện Tố-Tâm trữ tình?
39. Thái-Nguyên chống Pháp dấy binh?
40. Hà-Ninh tổng đốc vị thành vong thân?
41. Vua nào mở nghiệp nhà Trần?
42. Nêu gương hiếu tử diễn âm lưu truyền?
43. Công lao văn học Nguyễn-Thuyên?
44. Lừng danh duyên hải Dinh-Điền là ai?
45. Nhà thơ sông Vị, biệt tài?
46. Vua nào chống Pháp bị đầy đảo xa?
47. Ngày nào kỷ niệm Đống Đa?
48. Biên thùy tiễn biệt lời cha dặn dò?
49. Mê-Linh xây dựng cơ đồ?
50. Bến Hàm-Tử bắt quân thù xâm lăng?
51. Húy danh Hoàng-Đế Gia-Long?
52. Tướng nào hương khói Lăng-Ông thủa giờ?
53. Rồng thiêng kết nghĩa Âu-Cơ?
54. Thánh Trần nay có bàn thờ ở đâu?
55. Đời nào có chức Lạc-Hầu?
56. Tướng Châu-Văn-Tiếp, ở đâu bỏ mình?
57. Danh nho thường gọi Trạng Trình?
58. Cha con cùng quyết hy sinh với thành?
59. Đầm Dạ-Trạch nức uy danh?
60. Sớ dâng chém nịnh không thành, từ quan?
61. Công thần vì rắn thác oan?
62. Ai mời bô lão dự bàn chiến chinh?
63. Vua nào dòng dõi Đế-Minh?
64. Vĩnh-Long thất thủ, liều mình tiết trung?
65. Ngày nào trẩy hội Đền Hùng?
66. Ngày nào sông Hát, nhị Trưng trẫm mình?
67. Núi nào ngự trị Sơn-Tinh?
68. Sông nào ghép lại bút danh thi hào?
69. Gốc nguồn hai chữ đồng bào?
70. Bôn ba tổ chức phong trào Đông du?
71. Hùm Thiêng trấn đóng chiến khu?
72. Vua nào thành lập Hội Thơ Tao-Đàn?
73. Dẹp Thanh giữ vững giang san?
74. Thiết triều nằm lả khiến tàn nghiệp Lê?
75. Hóa-Giang giữ trọn lời thề?
76. Mười năm kháng chiến chẳng nề gian lao?
77. Móng rùa thần tặng vua nào?
78. Bình Chiêm, Dẹp Tống, Lý trào nổi danh?
79. Dâng vua sách lược “Trị-Bình”?
80. Trạng nguyên tướng xấu ví mình hoa sen?
81. Người Tàu dựng đất Hà-Tiên?
82. Họ Lương chống Pháp, Thái-Nguyên bỏ mình?
83. Quy-Nhơn thất thủ, quyên sinh?
84. Lê Triều sử ký soạn thành họ Ngô?
85. Công thần mà bị quật mồ?
86. “Vân-Tiên” tác giả lòa mù là ai?
87. Đại-Từ nổi tiếng tú tài?
88. Đem nghề in sách miệt mài dạy dân?
89. Dâng vua cải cách điều trần?
90. Sánh duyên công chúa Ngọc-Hân, vua nào?
91. Thi nhân nổi loạn họ Cao?
92. Xây thành đắp lũy, họ Đào là ai?
93. Họ Phan lãnh ấn khâm sai?
94. Phòng khuya vọng tiếng thuyền chài tương tư?
95. Đông y lừng tiếng danh sư?
96. Lời thề diệt địch trên bờ Hóa-Giang?
97. Vân-Đồn ai thắng danh vang?
98. Am mây ẩn dật chẳng màng lợi danh?
99. Mùa xuân nào phá quân Thanh?
100. Bao giờ trở lại thanh bình Việt Nam?


Giải đáp của Nguyễn Xuân Vinh


Trước đèn đọc sách Đào quân:
“Đố Vui Việt Sử”, gieo vần họa thơ.
Duyên văn tao ngộ từ xưa,
Nặng lòng đất nước, bây giờ luyện thi.



1. Vua nào mặt sắt đen sì ?
Tướng Mai-Hắc-Đế, sử ghi chống Đường.
2. Quét chùa mà tướng đế-vương,
Lý-Công, tên Uẩn, xuất đường lên ngôi.
3. Phò vua, chống giặc cõi ngoài,
Đức Trần-Hưng-Đạo dẹp suôi hận lòng.
4. Bút thần đâu sợ Vương-Thông,
Thù cha, Nguyễn-Trãi có công dựng triều.
5. Gậy thần, ngựa sắt cao siêu,
Thiên-Vương Phù-Đổng một chiều thét vang.
6. Voi lầy, nhỏ lệ Hóa-Giang,
Đại-Vương Hưng-Đạo quyết đường dẹp Nguyên.
7. Kiếm thần, lập quốc, báo đền,
Vua Lê trả lại rùa thiêng trên hồ.
8. Vũ-Quang, chống Pháp lập đô,
Súng do Cao-Thắng, phất cờ cụ Phan.
9. Lê-Lai đổi mặc áo vàng,
Để vua Lê-Lợi thoát vòng gian lao.
10. Triệu, Trưng kể lại biết bao
Nữ nhi sánh với anh hào kém chi
11. Ngang tàng cung, kiếm, cầm, thi,
Ông Cao-Bá-Quát sá gì phân thây!
12. Thoát-Hoan, Vạn-Kiếp sa lầy,
Ống đồng chui rúc, từ đây kéo về.
13. Nước Nam, làm quỷ ai thề ?
Tướng Trần-Bình-Trọng chẳng nề Bắc-Vương.
14. Lông ngan làm chước dẫn đường,
Mỵ-Châu, Trọng-Thủy còn vương hận lòng.
15. Đống-Đa thây giặc điệp-trùng,
Quang-Trung Nguyễn-Huệ anh hùng phương Nam.
16. Họ Phan có cụ Sào-Nam,
Bôn ba khởi xướng, luận bàn Đông-Du.
17. Nguyễn-Vương giữ vững cơ đồ,
Lũy xây Trường-Dục, Duy-Từ có công.
18. Nguyễn-Du tạm lánh sơn trung,
Truyện Kiều thi phẩm, anh hùng nổi danh.
19. Triệu-Bà Lệ-Hải Tài-Trinh,
Ngàn năm dân Việt tôn vinh, phụng thờ.
20. Mục đồng tập trận ấu thơ,
Tiên-Hoàng Bộ-Lĩnh phất cờ bông lau.
21. Thánh-Tôn, nguyên súy, công hầu,
Tao-Đàn lập hội, lựa câu họa vần.
22. Đền Hùng, hương khói phong vân,
Lâm-Thao là chốn nhân dân hướng chầu.
23. Phùng-Hưng bẻ gẫy sừng trâu,
Tôn thờ Bố-Cái, sức đâu hơn người.
24. Lam-Sơn áo vải, lòng trời,
Vua Lê khởi nghĩa, muôn đời ghi công.
25. Họ Hồ chính Nguyễn-Sinh-Cung,
Liên-Sô dâng nước, khốn cùng nhân dân.
26. Yết-Kiêu, Dã-Tượng sả thân,
Đục chìm thuyền địch, mấy lần Đằng-Giang.
27. Lý-Triều Vạn-Hạnh cao tăng,
Cùng Từ-Đạo-Hạnh tiếng vang pháp thiền.
28. Bình-Ngô Đại-Cáo sách tuyên,
Văn tài Nguyễn-Trãi lưu truyền mai sau.
29. Thành Yên, liệt sĩ rơi đầu,
Vang danh Thái-Học, lưu sầu Quốc-Dân.
30. Tiên-Du, treo ấn từ quan,
Giáng-Hương, Từ-Thức theo nàng lên tiên.
31. Âu cơ, trăm trứng nở truyền,
Ngàn năm Hồng Lạc, con Tiên, cháu Rồng.
32. Bình-Khôi, chức hiệu Nguyên-Nhung,
Lệnh Bà Trưng Nhị được phong tướng tài.
33. Tây-Sơn lẫm liệt thần oai,
Quần thoa ai sánh tướng Bùi-Thị-Xuân.
34. Cần-Vương vì nước gian truân,
Vua Hàm-Nghi trải tấm thân lưu đầy.
35. Lập ngành Hát Bộ từ đây,
Tổ-sư Đào-Tấn, bậc thầy xướng ca.
36. Đoàn thư, Chinh-Phụ dịch ra,
Trần-Côn trước tác khúc ca ngậm ngùi.
37. Gia-Long từ độ lên ngôi,
Công thần giết hại, nhiều người thác oan.
38. Tố-Tâm, tác giả Song-An,
Chữ Hoàng-Ngọc-Phách, lời than tự tình.
39. Thái-Nguyên chống Pháp, dấy binh,
Lưu danh Đội Cấn, gây tình quốc gia.
40. Pháp quân tiến đánh thành Hà.
Tuẫn trung, Hoàng-Diệu, Chính-Ca một thời.
41. Chiêu-Hoàng nhà Lý truyền ngôi
Cho chồng Trần-Cảnh nối đời làm vua.
42. Diễn âm gương hiếu ngày xưa,
Ghi công Văn-Phức, vốn thừa Lý gia.
43. Hán văn chuyển tiếng nước nhà.
Thơ Nôm, Đường luật chính là Nguyễn-Thuyên.
44. Kim-Sơn, Tiền-Hải, dinh điền,
Uy danh Công-Trứ, tiếng truyền đời sau.
45. Tú Xương, sông Vị, không giầu,
Tiếng thơ cao ngạo, ai rầu mặc ai.
46. Duy-Tân vì nước rời ngai,
Thực dân uy hiếp đưa ngài đảo xa.
47. Mồng Năm kỷ niệm Đống-Đa,
Tháng Giêng chiến thắng, hùng ca Ngọc-Hồi.
48. Tiễn cha, Nguyễn-Trãi nhớ lời
Phi-Khanh còn vẳng núi đồi Nam-Quan.
49. Bà Trưng khôi phục giang san,
Mê-Linh khởi nghĩa, dẹp tan quân thù.
50. Danh Trần-Quang-Khải ngàn thu,
Chương-Dương cướp giáo, bắt tù Hàm-Quan.
51. Nguyễn-Triều, khởi sự gian nan,
Bôn ba Phúc-Ánh, Bắc Nam hợp lòng.
52. Tả-Quân, thờ phụng Lăng-Ông,
Tướng Lê-Văn-Duyệt có công phá thành.
53. Âu-Cơ, tiên nữ giáng trần,
Hợp duyên cùng Lạc-Long-Quân giống Rồng.
54. Đức Trần-Hưng-Đạo phá Mông,
Đền thờ Kiếp-Bạc, tôn sùng khói hương.
55. Ngàn năm thời đại Hùng-Vương,
Lạc-Hầu, Lạc-Tướng, chức thường gọi quan.
56. Tướng Châu-Văn-Tiếp thân tàn,
Vĩnh-Long, Mang-Thít đầu hàng Tây-Sơn !
57. Trạng Trình phong tước Quốc-Công,
Bỉnh-Khiêm họ Nguyễn, vốn dòng Cổ-Am.
58. Hùm thiêng sớm đã về âm,
Tri-Phương cùng với Nguyễn-Lâm giữ thành.
59. Chống Lương, Dạ-Trạch uy danh,
Triệu-Vương, Quang-Phục hiển vinh một thời.
60. Chu hiền xin chém bẩy người,
Vua nghe kẻ nịnh, ông rời chức quan.
61. Vì tay Thị Lộ thác oan,
Công thần Nguyễn-Trãi gia toàn chu di.
62. Diên-Hồng quyết chiến còn ghi,
Đời Trần bô lão kém gì tráng sinh.
63. Tổ Hùng tên hiệu Đế Minh,
Dương-Vương Lộc-Tục, con mình phong vua.
64. Vĩnh-Long chống Pháp đành thua,
Ông Phan-Thanh-Giản, ơn vua tuẫn người.
65. Dù ai buôn bán ngược xuôi,
Đền Hùng trẩy hội mồng Mười tháng Ba,
66. Hàng năm kỷ niệm Hai Bà,
Tháng Hai, mồng Sáu trầm hà Hát-Giang.
67. Tản-Viên che phủ mây vàng,
Sơn-Tinh chuyện cũ đưa nàng lên cao.
68. Tản-Đà, bút hiệu thi hào,
Núi sông hai chữ ghép vào thành tên.
69. Cùng trong một bọc Rồng Tiên,
Trứng trăm con nở, nối truyền đời ta.
70. Đông-Du cách mạng sơn hà,
Bội Châu lừng lẫy tiếng nhà họ Phan.
71. Hùm thiêng Yên-Thế họ Hoàng,
Nổi danh Hoa-Thám giữ vùng chiến khu.
72. Đời Lê bình trị thiên thu,
Thánh-Tôn mới lập hội thơ Tao-Đàn.
73. Thăng-Long giữ vững giang san,
Quang-Trung Nguyễn-Huệ đánh tàn quân Thanh.
74. Ngọa triều, tửu sắc liệt mình,
Uổng cho Long-Đĩnh tan tành nghiệp ê.
75. Hóa-Giang giữ trọn lời thề,
Thánh Trần không thắng không về tới sông.
76. Mười năm kháng chiến thành công,
Ơn vua Lê-Lợi, non sông phục hồi.
77. Kim-Quy chuyện móng ngàn đời,
An-Dương-Vương được Rùa trời ban giao.
78. Bình Chiêm, dẹp Tống, Lý hào,
Câu thơ Thường-Kiệt: Nam trào, Nam cư.
79. Đời Lê, Lương đống tâm tư,
Đắc Bằng, quốc sách dâng thư trị bình.
80. Trạng nguyên họ Mạc thấp mình,
Đĩnh Chi thảo phú ví tình hoa sen.
81. Hà-Tiên Nam Việt cuối miền,
Nhờ tay Mạc-Cửu dựng nên mật trù.
82. Thái-Nguyên chống Pháp, giặc thù,
Ông Lương-Ngọc-Quyến thiên thu tuyệt mình.
83. Quy-Nhơn, Võ-Tánh quyên sinh,
Đài cao đốt lửa, chiếm thành Tây-Sơn.
84. Sĩ-Liên, Sử-Ký Đại-Toàn,
Triều Lê soạn thảo, danh thần họ Ngô.
85. Nguyễn phò, gây dựng cơ đồ,
Tướng Lê-Văn-Duyệt, quật mồ thảm thay.
86. Vân-Tiên, tác giả ai hay ?
Cụ đồ Đình-Chiểu, xưa nay mù lòa.
87. Đại-Từ, cách mạng sơn hà,
Hải-Thần, cụ Nguyễn bôn ba nước ngoài.
88. Thám-Hoa Nhữ-Học, thiên tài,
Học nghề in sách miệt mài dạy dân.
89. Tâu vua, Trường-Tộ điều trần,
Tiếc thay Tự-Đức canh tân không màng.
90. Ngọc-Hân tài sắc vẹn toàn,
Quang-Trung Nguyễn-Huệ điện vàng sánh duyên.
91. Văn tài Bá-Quát vô tiền,
Quốc-Oai treo ấn, cự thiên, kháng đình.
92. Lũy-Thầy, Đồng-Hới, Quảng-Bình,
Duy-Từ nổi tiếng xây thành, khai sơn.
93. Khâm sai Bắc Việt chiêu dân,
Cụ Phan-Kế-Toại, văn thần vua phong.
94. Trương-Chi hát vọng khuê phòng,
Mỵ-Nương nghe tiếng, đem lòng tương tư.
95. Đông-Y Hải-Thượng danh sư,
Dương-An Toàn-Trạch, đề thư dụng truyền.
96. Trận này không phá giặc Nguyên,
Không về sông Hóa, lời nguyền Đạo-Vương.
97. Vân-Đồn thắng địch tuyệt lương,
Quân Nguyên nản chí, công dường Khánh-Dư.
98. Bạch-Vân về ngụ, tâm tư,
Thi văn, lý đoán, ẩn cư Trạng Trình.
99. Quang-Trung thần tốc phát binh,
Mùa xuân Kỷ-Dậu chiếm thành Thăng-Long.
100. Lời ca con cháu Tiên Rồng :
Cộng nô tiêu diệt, non sông thanh bình.




.

Sunday, March 1, 2009

Sau 30 năm tội ác xâm lược, lòng yêu nước đâu rồi ???

Sáng sớm ngày 17-02-1979, tiếng súng đã vang trên bầu trời Lào Cai, Cao Bằng, Lạng Sơn, Móng Cái… 80 ngàn quân Trung Quốc tràn qua biên giới, bắt đầu "dạy cho Việt Nam một bài học" như lời lãnh tụ Trung Cộng Đặng Tiểu Bình. Một trong những bài học đắt giá nhất lịch sử cho cả đôi bên. 16 ngày sau đó (05-03-1979), dưới áp lực của cộng đồng quốc tế, Bắc Kinh tuyên bố rút quân!

Cuộc chiến ngắn ngủi đã gây thiệt hại khôn lường cho cả 2 nước. Các nhà quan sát nhận định rằng Trung Hoa thất bại về mặt chính trị và chiến thuật cũng như tổn hại nặng về binh lính (26 ngàn chết, 37 ngàn bị thương và 265 bị bắt làm tù binh), còn Việt Nam bị thiệt hại lớn về sinh mạng, đặc biệt của dân thường (gần 2000 bộ đội và hơn 28 ngàn thường dân chết, 32 ngàn bị thương, 1.638 bị bắt làm tù binh), về kinh tế (quân Trung Cộng đã phá tan nhà cửa tại Lào Cai, Đồng Đăng, Lạng Sơn, nhất là đã san bằng bình địa thị xã Cao Bằng trước khi rút) và đặc biệt về lãnh thổ mà Hiệp ước biên giới Việt Trung ngày 30-12-1999 và lễ cắm mốc cuối năm rồi sẽ phơi bày bộc lộ. Về mặt nhân đạo, thê thảm nhất là ở Bát Xát, Lào Cai, hàng trăm phụ nữ trẻ em bị hãm hiếp, bị giết chết một cách dã man ngay trong ngày đầu tiên quân Trung Cộng tiến sang; còn tại thôn Tổng Chúp, xã Hưng Ðạo, huyện Hòa An, Cao Bằng, trong ngày 9-3, trước khi rút lui, quân Trung Cộng đã giết 43 người, gồm 21 phụ nữ và 20 trẻ nhỏ, trong đó có 7 bà đang mang thai. Tất cả đều bị kết liễu sinh mạng bằng dao như Pol Pốt: đa phần bị ném xuống giếng, số còn lại xác bị chặt ra nhiều khúc, vứt hai bên bờ suối. (Sau đó đồng bào dựng bia kỷ niệm). Rồi tuy rút về phía biên giới, Trung Quốc vẫn tiếp tục pháo kích vào làng xóm Việt Nam cũng như tiếp tục chiếm đóng những cao điểm chiến lược trong vùng biên giới, dẫn đến nhiều cuộc xung đột đẫm máu (mà cả quân lẫn dân đều vong mạng) kéo dài tới năm 1988, đôi bên mới chuyển sang đàm phán về ngoại giao.

Sau cuộc chiến 16 ngày nói trên, cả hai phía Hoa và Việt đều tuyên bố chiến thắng, nhưng không ai cho thấy rõ chiến thắng như thế nào. Phía Trung Quốc đã không áp lực được Việt Nam rút ra khỏi Campuchia, cũng chẳng giải quyết được vấn đề Hoa Kiều bị đàn áp như Đặng Tiểu Bình rêu rao vào cùng thời điểm. Ngược lại phía Việt Nam tuy huy động toàn bộ lực lượng quân sự để phản công nhưng đã không giành lại được các khu vực chiến lược (như núi Lão Sơn) mà Trung Quốc đã chiếm đóng để rồi phải bị mất hẳn chúng trong những cuộc đàm phán ngoại giao sau này.

Nhưng điều đáng nói ở đây là lối tưởng niệm những binh sĩ và thường dân đã bỏ mình trong cuộc chiến đẫm máu đó. Như tại nghĩa trang xã Hoàng Đồng, Lạng Sơn, nơi từ lâu chôn hàng ngàn bộ đội Việt Nam, những tấm bia trong nhà tưởng niệm có dòng thì ghi “hy sinh chống Pháp”, có dòng thì ghi “hy sinh chống Mỹ”, nhưng rất nhiều dòng lại chỉ ghi “hy sinh bảo vệ Tổ quốc”. Đấy là những binh sĩ đã tử trận từ năm 1979 đến năm 1988, suốt cuộc chiến 10 năm với Trung Cộng. Còn ở Tổng Chúp, tấm bia tưởng niệm bên cạnh cái giếng mà hôm 9-3-1979, quân Trung Quốc đã giết 43 phụ nữ và trẻ thơ Việt Nam bằng búa, bằng dao rồi vứt xuống đó, thì cái giếng ấy bây giờ nằm sâu trong vườn riêng của một gia đình, chẳng có lối đi vào, còn tấm bia ghi lại sự kiện thê thảm thì nay đã chìm trong gai tre và lau lách !?!

Ngày 17-02-2009 vừa qua là thời điểm tròn 30 năm Trung Quốc tấn công Việt Nam. Tuy đã có hàng chục ngàn người ngã xuống trong cuộc chiến chống ngoại xâm, bảo vệ lãnh thổ đó, song nhà cầm quyền CSVN đã không có bất kỳ hành động nào tưởng nhớ họ. Thậm chí, ngày 10 tháng 2, tại cuộc họp định kỳ với tổng biên tập các cơ quan truyền thông, đại diện Ban Văn hóa Tư tưởng thuộc Trung ương đảng CSVN đã ra lệnh cấm báo đài đề cập đến cuộc chiến tranh xâm lược mà Trung Cộng đã thực hiện. Sài Gòn Tiếp Thị, tờ báo duy nhất có bài viết về sự kiện kể trên (Biên giới tháng Hai của Huy Đức), đã bị “phê bình nghiêm khắc” và đành phải nhanh chóng lột bài này khỏi trang mạng của họ. Trên một blog có tên Osin, tác giả “Biên giới tháng Hai” cũng tường thuật thêm về không khí ở khu vực biên giới thuộc lãnh thổ Việt Nam vào thời điểm kỷ niệm 30 năm cuộc xâm lược: “Chỉ có vài bó hoa và những nén hương của lữ khách, còn thì các nghĩa trang biên giới quạnh hiu suốt ngày 17 tháng 2. Tôi đã đợi đến chiều, trao đổi với các đồng nghiệp và điện thoại cho một vài quan chức địa phương, vẫn không có một cuộc viếng thăm, không một vòng hoa và chẳng có khói nhang nào. Tôi không có các tài liệu chính thức để biết Trung Quốc và Việt Nam đã thỏa thuận với nhau những gì về cách ứng xử đối với cuộc chiến năm 1979, nhưng tôi không nghĩ rằng tưởng nhớ những người đã khuất lại có thể phương hại đến bang giao giữa hai nước hôm nay”. Thật ra thì phía Trung Quốc vẫn có tưởng niệm, dù không quá ồn ào. Hàng loạt bức ảnh tung lên mạng trong những tuần này cho thấy nhiều đoàn người Hoa đã đến các nghĩa trang liệt sĩ của họ ở vùng biên giới để dâng hương tưởng niệm.

Thái độ ấy của nhà cầm quyền CSVN đã tạo ra sự phẫn uất ngày càng sâu rộng trong dân chúng. Nhiều người gọi việc “khép lại quá khứ” theo hướng phủ nhận sạch trơn, kể cả chuyện thảm sát hàng chục ngàn thường dân Việt Nam ấy là “đốn mạt, hèn hạ”, kẻ khác lại cho động thái này là “vong bản, phản bội”! Vì lý do gì đảng CS cho cả một giai đoạn lịch sử của dân tộc vào sọt rác như thế? Vì lý do gì toàn dân phải im lặng trước một sự kiện lịch sử lớn lao như thế? Không lẽ vong linh của cả trăm ngàn binh lính và dân thường Việt Nam chẳng đáng được thắp một nén nhang?

Phải chăng đảng lo ngại vì mối quan hệ Việt-Trung đang thời kì mặn nồng? Không hẳn vậy! Bao nước trên thế giới vẫn nhắc lại lịch sử dù bang giao đang tốt đẹp cỡ nào đi nữa. Đức, Nga, Ba Lan, Pháp, Mỹ… vẫn kỉ niệm chiến thắng Phát xít Đức. Nhật - Mỹ vẫn “ôn cố” về những xung đột cũ mà có ai phật lòng đâu! Tại vùng Normandie nước Pháp vẫn tồn tại những nghĩa trang của quân Đồng minh lẫn của quân Đức quốc xã tử trận đệ nhị thế chiến mà cả hai luôn đầy hoa tưởng niệm. Ngay cả khi Việt Nam và Hoa Kỳ quan hệ tốt đẹp rồi, CSVN vẫn kỷ niệm rầm rộ chiến thắng 30-4-75, vẫn chiếu lại các phim tư liệu lịch sử, vẫn tổ chức các triển lãm ảnh… kia mà! Việc Việt Nam tự hào vì “đánh bại thực dân Pháp, đế quốc Mỹ” đâu có ảnh hưởng gì tới quan hệ bang giao với các nước đó đâu!

Vậy tại sao kỳ này đảng lại im re? Chỉ có một lý do: đảng không muốn khơi dậy lòng căm thù, không muốn đánh thức lòng yêu nước chống Trung Quốc vốn chảy trong máu dân tộc Việt qua suốt 4000 năm lịch sử với 1000 năm Bắc thuộc. Ngọn lửa này chỉ chực bùng cháy nhất là từ khi có những tranh chấp mấy thập niên gần đây về biên giới và hải đảo với Trung Cộng mà đang khi đó Việt Cộng luôn tỏ ra khiếp nhược. Trước kia, việc Trung Cộng chiếm giữ ải Nam Quan, thác Bản Giốc, quần đảo Hoàng Sa và phần lớn quần đảo Trường Sa còn là chuyện bí mật (của riêng đảng), thì mấy năm nay đã là đề tài mọi nơi từ công sở tới vỉa hè trong nước, chưa kể luôn sôi động ở hải ngoại và trên mạng. Nhân dân đã và đang xì xào hoặc công khai bàn tán về những chuyện đó từ già tới trẻ, từ trí thức tới nông dân, từ các đảng viên tới các nhà đối kháng dân chủ.
Đang khi cấm đoán toàn dân Việt tưởng niệm như thế, thì ngược lại nhà xuất bản Văn Học của đảng CSVN năm rồi lại cho phiên dịch và ấn hành cuốn sách Ma Chiến Hữu của Mạc Ngôn, tác giả người Trung Quốc, trong đó đề cập đến một binh sĩ Trung Cộng đã hy sinh trong chiến tranh phía Nam Trung Hoa tháng hai năm 1979. Nhà xuất bản còn giới thiệu tác phẩm như là “Một cách ca tụng riêng về chủ nghĩa anh hùng” (một lời giới thiệu thực ra rất ngu xuẩn, không đúng hẳn với nội dung cuốn sách). Chưa hết, báo Hà Nội Mới online (vẫn là tên bồi bút khốn nạn thuộc thành ủy Thủ đô!) ngay từ 19-09-2008 đã đưa lên mạng và còn giữ tới hôm 17-02-2009 một bài phỏng dịch mang tên “Thu thục tướng tài” ca ngợi Hứa Thế Hữu là viên tướng từng chỉ huy trận “Tự vệ Tây Sa” tức trận chiếm Hoàng Sa năm 1974 rồi chỉ huy đội quân Trung Cộng đánh chiếm và tàn sát người dân ở Lạng Sơn và Cao Bằng hồi 17-2-1979. Thế nhưng bài báo chỉ một mực đăng lời ca tụng mà chẳng lưu ý cho độc giả biết đó cũng là kẻ thù của dân tộc Việt Nam. Thái độ nịnh bợ kẻ thù đất nước cách vô liêm sỉ này mới đây còn được chứng tỏ qua việc Bộ chính trị, bất chấp ý kiến ngăn cản của giới khoa học, văn nhân, tướng lãnh…, vẫn để cho Trung Cộng đem nhân lực (binh lính trá hình) và vật lực (kỹ thuật lạc hậu) vào khai thác bauxite ở Tây nguyên, gây hiểm họa khôn lường về môi sinh, văn hóa, xã hội và an ninh cho toàn thể dân tộc!

Và càng tỏ ra thái độ thần phục cách đê hèn và khiếp hãi đến tê liệt trước lân bang Đại Hán bao nhiêu thì đảng CSVN càng cướp bóc cách táo tợn và đối xử vô liêm sỉ bấy nhiêu đối với nhân dân trong nước, nhất là những ai đang đòi hỏi lẽ phải và sự thật, đang cố giành lại công bình cho bản thân, cho đồng bào và cho đất nước, đang cố báo động về những hiểm họa đến từ bên trong lẫn bên ngoài, từ nội xâm đến ngoại xâm. Cụ thể gần đây nhất là màn ném phân nhơ (đến 3 lần) vào tư gia nhà văn Trần Khải Thanh Thủy, người đã can đảm vạch trần tội ác của đảng cướp đất đai, diệt cuộc sống của dân oan huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Mới đây hơn là việc trắng trợn cướp bóc văn phòng cũng như mạ lỵ thanh danh luật sư pháp quyền Lê Trần Luật, người chiến sĩ đang bảo vệ giáo dân bị oan ức ở Thái Hà và các nhà dân chủ bị bách hại khắp cả nước.

Quả thật, đối với một cái đảng vốn mang giòng máu vô tổ quốc, vô dân tộc, sẵn sàng bán đứng đất nước, chà đạp xương máu chiến sĩ, bóc lột tài sản đồng bào, triệt tiêu tinh thần ái quốc, thì toàn dân chỉ còn có một cách là hất cẳng nó ra khỏi ghế quyền lực mà thôi!

Xã luận bán nguyệt san Tự do Ngôn luận số 70 (01-03-2009)
BAN BIÊN TẬP