Saturday, December 17, 2011

Hoa Kỳ tiết lộ vụ Hoàng Sa

Lữ Giang

Chính phủ Hoa Kỳ đã cho tiết lộ hai tài liệu mật liên quan đến quan điểm của Hoa Kỳ về Hoàng Sa và Trường Sa, đó là biên bản hai cuộc họp về vấn đề Đông Dương ngày 25.1.1974 và ngày 31.1.1974 do Ngoại trưởng Henry Kissinger chủ trì.
Trước khi trình bày về tài liệu này, để độc giả có thể nắm được vấn đề một cách dễ dàng, chúng tôi xin nói qua về tương quan lực lượng giữa Hải Quân VNCH và quân đội Trung Quốc khi biến cố Hoàng Sa xẩy ra và lý do tại sao Hoa Kỳ từ chối không yểm trợ cho Hải Quân và Không Quân VNCH chống lại Trung Quốc.
TƯƠNG QUAN LỰC LƯỢNG
Tính đến năm 1975 Hải Quân VNCH có quân số lên tới 39.000 người, gồm 1611 tàu thuyền đủ loại, được phân thành 5 vùng Duyên Hải, hai vùng Sông Ngòi và một hạm đội Tuần Duyên có 83 chiến hạm đủ loại. Những chiến hạm có thể chiến đấu trên biển gồm các loại sau đây: 2 khu trục hạm, 7 tuần dương hạm, 8 hộ tống hạm, 9 tàu đổ bộ và 4 tàu trợ chiến. Với lực lượng như thế, Quân Lực VNCH không thể huy động để chống lại được quân Trung Quốc trên biển hay sao?
Sở dĩ QL/VNCH không thể chống lại Trung Quốc vì các lý do sau đây:
(1) Quân đội Trung Quốc vượt trội hơn Quân Lực VNCH về cả hải quân lẫn không quân. Trong trận Hoàng Sa, lực lượng hai bên chênh lệch một cách rõ rệt: Trung Quốc đã xử dụng một lực lượng Hải Quân hùng hậu gồm hơn 16 chiếc đủ loại, từ tàu đánh cá ngụy trang Nan Yu cho đến hai 2 chiến hạm loại Hainan 281, 282, 2 chiến hạm loại Jiangnan 271, 274 và 4 Phi Tiển Đỉnh Komar mang số 133, 137, 139, 145. Trong khi đó, lúc đầu HQ/VNCH chỉ có Tuần dương hạm Lý Thường Kiệt HQ 16. Những ngày tiếp theo HQ/VNCH mới tăng cường thêm các chiến hạm HQ 4, HQ 5 và HQ 10.
(2) Trung Quốc đã huy động cả hải lục không quân để áp đảo, trong khi QL/VNCH không thể huy động không quân vì Hoa Kỳ từ chối giúp đỡ (chúng tôi sẽ nói sau)
(3) Vì quyết chiếm Hoàng Sa, Hải Quân Trung Quốc đã hoạch định một kế hoạch hành quân chu đáo: Khi lâm trận, họ đã áp dụng chiến thuật “cài răng lược” khiến HQ/VNCH không thể xoay trở được. HQ/VNCH đã bị trúng kế địch.
Tuy các chiến hạm Trung Quốc chỉ trang bị đại bác 100 ly (3.9 in.) hay đại bác 85 ly (3.5 in), còn chiến hạm HQ 16 của HQ/VNCH có đại bác 127 và HQ 10 có đại bác 76,2, nhưng Trung Quốc áp dụng chiến thuật bám sát các chiến hạm của HQ/VNCH trong khoảng cách gần, nên đại bác của HQ/VNCH không sử dụng được.
Cho dù cuộc chiến xẩy ra ở tầm xa, HQ/VNCH cũng không thể thắng được vì khi thực hiện “Việt Nam hoá” chiến tranh theo đúng lịch trình của kế hoạch “Accelerated Turnover to the Vietnamese” (ACTOV), Hoa Kỳ có giao cho  HQ/VNCH một số chiến hạm nhưng họ đã gỡ đi các giàn phóng phi đạn được trang bị trên đó, trong khi nhiều chiến hạm Trung Quớc có trang bị giàn phóng phi đạn và được không quân yểm trợ.
TÓM LƯỢC CÁC DIỄN BIẾN
Các bài về trận đánh Hoàng Sa được viết quá nhiều với những cách nhìn khác nhau, chúng tôi chỉ xin ghi lại các nét chính.
Trong cuốn hồi ký “Can trường trong chiến bại”, Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại, Tư Lệnh Hải Quân Vùng I Duyên Hải, người chỉ huy trận đánh Hoàng Sa, có kể lại rằng ngày 15.1.1974, Trung Tá Lê Văn Thự, Hạm Trưởng Tuần Dương Hạm Lý Thường Kiệt HQ 16 được lệnh đưa địa phương quân và nhân viên khí tượng ra Hoàng Sa thay toán ngoài đó đã hết nhiệm kỳ. Có hai sĩ quan công binh đi theo để sửa cầu tàu. Ông Jerry Scott thuộc văn phòng Tòa Tổng Lãnh Sự Mỹ ở Đà Nẵng cũng xin cho một viên chức Mỹ là Gerald Kosh đi theo để biết Hoàng Sa. Nhưng khi người nhái của VNCH đổ bộ lên các đảo Duncan và Drummond thì đụng ngay một toán quân Trung Quốc ở trên đó.
Ngày 17 chiến hạm HQ 16 báo cáo hai tàu đánh cá của Trung Quốc không tuân lệnh ra khỏi lãnh hải Việt Nam theo lệnh của chiến hạm Việt Nam. Sau đó, lại có thêm hai tàu Trung Quốc chở quân tới gần đảo và đã có nhiều cờ Trung Quốc trên bờ. Bộ Tư Lệnh Hải Quân ở Sài Gòn đã phái thêm khu trục hạm Trần Khánh Dư HQ 4 do Trung Tá Vũ Hữu San ra tăng cường. Sau đó hai chiến hạm Trần Bình Trọng HQ 5 và Nhật Tảo HQ 10 cũng được gởi ra Hoàng Sa. Chiều 18, các chiến hạm của hai bên chạy kế ngang nhau và chỉa súng vào nhau.
Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại đã liên lạc với Bộ Tư Lệnh Hải Quân tại Sài Gòn xin cho biết có đơn vị nào của Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ ở trong vùng hay không. Tin tức xác nhận các chiến hạm Hoa Kỳ đang ở rất gần các chiến hạm VNCH.
Lúc 10 giờ ngày 19, Đại Tá Hà Văn Ngạc, chỉ huy chiến thuật (OTC) tại mặt trận, đang ở trên soái hạm Trần Bình Trọng HQ 5, báo cáo các chiến hạm hai bên đang ở vị trí quá gần nhau trong thế “cài răng lược”. Toán đổ bộ của chiến hạm HQ 16 được lệnh trở ra chiến hạm. Khi toán đổ bộ đang dùng thuyền cao su chèo ra khơi thì trận chiến bùng nổ.
Bộ Tư Lệnh Hải Quân Vùng I Duyên Hải được Tùy Viên Quân Sự Hoa Kỳ cạnh Hải Quân Vùng I cho biết, theo Tùy Viên Quân Sự ở Sài Gòn, có khoảng 17 chiến hạm Trung Quốc và 4 tàu ngầm đang hướng về Hoàng Sa. Ông ta cũng cho biết các phản lực cơ chiên đấu của Trung Quốc sắp cất cánh từ đảo Hải Nam để tấn công các chiến hạm của VNCH tại Hoàng Sa.
Trận hải chiến chỉ kéo dài trong hơn 30 phút. Các chiến hạm VNCH không đuổi theo các chiến hạm Trung Quốc và các chiến hạm Trung Quốc cũng không đuổi theo các chiến hạm VNCH. Không chiến hạm nào của Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ tiến vào nơi có cuộc giao tranh.
Hộ tống hạm Nhật Tảo HQ 10 bị bắn chìm, Thiếu Tá Ngụy Văn Thà với 24 quân nhân khác bị tử thương, 26 người mất tích, 23 thủy thủ trôi dạt được tàu của hãng Shell vớt.
Hai khu trục hạm Trần Khánh Dư HQ 4 và Trần Bình Trọng HQ 5 bị hư hại, mỗi chiến hạm có hai chiến sĩ bị tử thương.
Tuần dương hạm HQ 16 do Trung Tá Lê Văn Thự chỉ huy, bị trúng đạn nghiêng một bên, được lệnh quay về Đà Nằng, có một chiến sĩ bị thương và 16 chiến sĩ khác trôi dạt trên thuyền cao su về đến Quy Nhơn.
Có 43 người đã bị bắt làm tù binh, trong đó có ông Gerald Kosh, được đưa về Quảng Châu, sau đó được trao trả cho VNCH qua Hội Hồng Thập Tự Quốc Tế.
Về phía Trung Quốc, hộ tống hạm Kronkstad 274 bị chìm, hộ tống hạm Kronkstad 271 và hai trục lôi hạm 389 và 396 bị hư hại nặng, các sĩ quan chỉ huy là Vương Kỳ Uy, Triệu Quát và Diệp Mạnh Hải đều bị tử trận.
MỸ TỪ CHỐI YỂM TRỢ
Có một điều quan trọng mà Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại không biết đến, đó là Hoa Kỳ đã từ chối yểm trợ VNCH trong trận chiến Hoàng Sa.
Ngày 18.1.1974, Bộ Tư Lệnh Hải Quân VNCH biết rõ hàng không mẫu hạm USS Enterprise của Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ đang có mặt trong vùng gần Hoàng Sa. Phó Dề Đốc Diệp Quang Thủy, Tham Mưu Trưởng Bộ Tư Lệnh Hải Quân đã hỏi Đại Tá Kussan, Tuỳ Viên Quân Sự Mỹ tại Bộ Tư Lệnh Hải Quân rằng phi cơ chiến đấu của Việt Nam khi đi tác chiến tại Hoàng Sa có thể hạ cánh xuống hàng không mẫu hạm USS Enterprise để xin tiếp tế nhiên liệu được không? Phó Đề Đốc Thủy cho biết Đà Nẵng cách Hoàng Sa trên 150 hải lý. Do đó, phi cơ chiến đấu sẽ không đủ nhiên liệu để có thể vừa đi vừa về. Nếu phải mang theo hai bình xăng thì không thể tác chiến được.
Sau khi nói chuyện với Toà Đại Sứ Mỹ ở Sài Gòn, Đại Tá Kussan đã trả lời cho Phó Đề Đốc Diệp Quang Thủy như sau: Các chiến hạm Mỹ không thể tiếp tế cho Quân Lực VNCH vì hai lý do sau đây:
Lý do thứ nhất, Hiệp Định Paris cấm Hoa Kỳ không được tiếp tục dính líu quân sự hoặc can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam (điều 4). Lý do thứ hai, Tu  Chính án ngày 5.4.1973 cấm Hoa Kỳ giúp Việt Nam mà không có sự chấp thuận trước tiên và rõ ràng của Quốc Hội, và Luật ngày 21.9.1973 cấm Hoa Kỳ xử dụng Lực Lượng Quân Sự ở Đông Dương. Vì thế, các chiến hạm Hoa Kỳ không thể tiếp tế nhiên liệu cho các chiến đấu cơ VNCH được. Các chiến hạm Hoa Kỳ chỉ có thể cứu giúp quân đội VNCH khi bị các tai nạn mà thôi. Tuy nhiên, đó phải là các tai nạn bình thường, còn các tai nạn do chiến đấu, các chiến hạm Hoa Kỳ cũng không thể cứu giúp được.
Cần lưu ý, trong thời gian còn chiến tranh Việt Nam, Bộ Chỉ Huy Viện Trợ Quân Sự Hoa Kỳ tại Việt Nam (The US Military Assistance Command, Vietnam – MACV) là cơ quan chỉ huy quân sự thống nhất của Mỹ tại miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên, sau Hiệp Định Paris, cơ quan này bị hủy bỏ và được thay thế bắng Văn Phòng Tùy Viên Quân Sự Hoa Kỳ tại Việt Nam (Defense Attaché Office –DAO) kể từ ngày 28.1.1973. Do đó, không còn các cố vấn Mỹ nữa mà chỉ còn các Tùy Viên Quân Sự.
QUAN ĐIỂM CỦA HOA KỲ QUÁ RÕ
Như chúng tôi đã trình bày ở trên, theo tài liệu Hoa Kỳ vừa công bố, trong hai cuộc họp do Ngoại Trưởng Kissinger chủ trì ngày 25.1.1974 và ngày 31.1.1974, tức sau khi Hoàng Sa bị mất, vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa đã được đưa ra bàn cãi. Nội dung tài liệu này đã được đài BBC trình bày ngày 3.10.2011, chúng tôi xin ghi lại những điểm quan trọng sau đây:
1.- Về trận đánh Hoàng Sa
Đô đốc Thomas H. Moorer, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu liên quân: "Chúng ta đã tránh xa vấn đề."
Ngoại trưởng Kissinger: "Chúng ta chưa bao giờ ủng hộ tuyên bố chủ quyền của họ [Nam Việt Nam]?"
Đô đốc Moorer: "Toàn vùng đó là cả vấn đề. Trường Sa và các đảo khác cũng có cùng vấn đề - đó là lãnh thổ đang tranh chấp. Chúng tôi đã ra lệnh tránh khỏi vùng đó."
Ngoại Trưởng Kissinger: "Ai khởi đầu trận chiến ở Hoàng Sa?"
Đô đốc Moorer: "Một đội tuần tra của Nam Việt Nam trong khu vực phát hiện một số tàu Trung Quốc tiến về các đảo; họ tiến đến và đưa khoảng 75 người lên đảo Duncan (Quang Hòa). Đó là một trong các đảo phía nam của nhóm Nguyệt Thiềm.
"Họ phải đối đầu với hai đại đội Trung Quốc. Phía Nam Việt Nam phải rút sang các đảo gần đó.
"Bốn tàu Nam Việt Nam và khoảng 11 tàu Trung Quốc sau đó có trận hải chiến trong khi quân Nam Việt Nam rút lui."
2.- Quan điểm của Hà Nội
Ngoại trưởng Kissinger: "Phản ứng của Bắc Việt trước toàn bộ vụ việc là thế nào?"
William Colby, Giám đốc CIA: "Họ bỏ qua, nói rằng nó nằm dưới Vĩ tuyến 17 và vì thế không có ảnh hưởng đến họ. Nói chung, họ không đưa ra lập trường, không theo bên nào."
William Smyser, thuộc Hội đồng An ninh Quốc gia: "Nó đặt họ vào tình thế tế nhị. Họ không nói gì cho đến khi đã xong chuyện, và rồi chỉ nói họ lên án việc dùng vũ lực."
Ngoại trưởng Kissinger: “Tôi biết họ nói gì rồi, nhưng họ thực sự cảm thấy thế nào?”
Đô đốc Moorer: Tôi nghĩ họ lo lắng.
William Colby: “Bắc Việt có thể muốn có mỏ dầu tại đó.”
Ông Clements, Thứ Trưởng Quốc Phòng: “Đừng quá mơ mộng về khả năng có dầu tại các đảo đó. Đó vẫn là chuyện trên trời. Hiện chẳng có gì ở đấy cả, chỉ là tương lai thôi. Hiện nay dầu hỏa ở đó không khả thi. Chỉ là tiềm năng.”
Đô đốc Moorer: “Người Pháp nắm giữ các đảo trong thập niên 1930 cho đến khi Nhật chiếm trong Thế chiến. Năm 1955, người Pháp từ bỏ chủ quyền các đảo và Nhật đã làm như thế năm 1951. Nam Việt Nam và Trung Cộng kể từ đó cùng nhận chủ quyền. Philippines có tuyên bố yếu ớt, nhưng chỉ là trên giấy."
Sau đó, Đô đốc Moorer xác nhận lại với Henry Kissinger: "Chỉ thị của tôi là tránh xa khỏi toàn bộ khu vực."
3.- Chuyện bảo vệ Phillippines
Trong một cuộc họp ngày 31.1.1974 tại Bộ Ngoại giao, Ngoại trưởng Kissinger được thông báo: "Không có dấu hiệu Trung Quốc định tiến về Trường Sa. Dẫu vậy, có sự lo ngại đáng kể từ phía Nhật, Philippines và đặc biệt là Nam Việt Nam, mà theo tin báo chí thì hôm nay đã gửi đoàn 200 người ra chiếm một số hòn đảo lâu nay không ai ở trong khu vực Trường Sa.
"Đài Loan đã chiếm ít nhất một đảo và Trung Quốc cũng vậy.
“Trong bối cảnh này, Philippines đã hỏi Mỹ liệu Hiệp Ước An ninh Mỹ - Philippines có được dùng nếu quân Philippines kéo ra Trường Sa và bị Trung Quốc tấn công.”
Các quan chức Mỹ có mặt trong cuộc họp đồng ý rằng không có câu trả lời rõ rệt và họ muốn để ngỏ sự mơ hồ trong câu trả lời cho Philippines.
Một người trong cuộc họp, ông Hummel, nói: "Tạp âm xung quanh các tuyên bố của chúng ta về những hòn đảo này hẳn đã đủ cho người Philippines hiểu rằng chúng ta không có ý định hay chúng ta không muốn."
Ngoại trưởng Kissinger kết luận: "Câu trả lời của chúng ta là đúng. Chúng ta không nên nói chúng ta sẽ bảo vệ họ."
MỘT VÀI NHẬN XÉT
Qua các sự kiện vừa được trình bày nói trên, chúng tôi có một số nhận xét như sau:
(1) Hoa Kỳ không muốn can dự vào các tranh chấp về chủ quyền trên Biển Đông vì sợ đụng chạm với Trung Quốc, nơi Hoa Kỳ có rất nhiều quyền lợi.
Mặc dầu trong chuyến viếng thăm Á Châu vừa qua, Tổng Tống Obama đã cho các quốc gia trong vùng hiểu rằng Mỹ sẽ “bao vây” Trung Quốc cả về kinh tế lẫn quân sự, nhưng trong cuộc họp báo hôm 8.12.2011 tại Bắc Kinh, kết thúc cuộc đối thoại quốc phòng thường niên Mỹ-Trung, bà Michele Flournoy, Thứ Trưởng Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, khẳng định việc Washington tăng cường các liên minh quân sự tại Á Châu không nhằm mục đích «ngăn chặn» Trung Quốc.
(2) Giữa Philippines và Mỹ có hiệp ước ngày 30.8.1951 bảo vệ các hòn đảo, tàu thuyền và máy bay của Philippines trên Thái Bình Dương khi bị tấn công, nhưng khi có đụng độ, Philippines có thực sự được bảo vệ hay không thì có thể là vấn đề khác. Ngoại trưởng Kissinger đã nói rất rõ: "Câu trả lời của chúng ta là đúng. Chúng ta không nên nói chúng ta sẽ bảo vệ họ."
Bản tin của đài VOA ngày 24.6.2011 cho biết trong cuộc họp ngày 23.6.2011, Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton nói với Ngoại trưởng Philippines Albert del Rosario rằng Hoa Kỳ cam kết bảo vệ Philippines giữa lúc xảy ra vụ tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc tại Biển Nam Trung Hoa. Nhưng tờ Philippine Daily Inquirer dẫn lời Giáo sư Pacifico Agabin, cựu Khoa Trưởng Luật Khoa của Đại học Philippines, cho biết nội dung của bản hiệp ước ký năm 1951 ghi rõ Mỹ không tự động bảo vệ Philippines một khi có xung đột trên biển Đông. Điều 4 của hiệp ước quy định trong trường hợp xảy ra tấn công trên Thái Bình Dương, Tổng thống Mỹ phải được sự chấp thuận của Quốc hội mới tiến hành điều quân (Căn cứ vào War Powers Resolution ngày 7.11.1973 của lưỡng viện Quốc Hội Hoa Kỳ).
(3) Hoa Kỳ từ chối tiếp tế xăng cho các phi công VNCH để tác chiến ở Hoàng Sa và nói rất rõ lý do tại sao Hoa Kỳ không thể làm như vậy. Điều này chứng tỏ Hoa Kỳ không còn muốn dính líu gì đến miền Nam Việt Nam nữa. Nhưng Tổng Thống Thiệu, người được Mỹ đưa lên cầm quyền ở miền Nam, quá yếu kém về chính trị, không thể hiểu được như vậy. Ông cứ nằng nặc đòi thêm viện trợ và cuối cùng chơi trò “tháu cáy”, rút khỏi Cao Nguyên và miền bắc Trung phần, để Mỹ hoảng sợ miền Nam mất, phải nhảy vào. Nhưng Mỹ đã không can thiệp khiến miền Nam bị sụp đổ một cách nhanh chóng, gây tang thương cho không biết bao người. 
(4) Tất cả các sự kiện được trình bày nói trên cho thấy cả Việt Nam lẫn Philippines phải tự lo lấy thân phận mình, đứng trông chờ ở Mỹ.
Ngày 13.12.2011
Lữ Giang
 
e-mail

Lần đầu tiên một Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ thăm Libya

Thứ bảy 17 Tháng Mười Hai 2011

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ  (giữa) tại sân bay Tripoli. Ảnh chụp ngày 17/12/11
Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ (giữa) tại sân bay Tripoli. Ảnh chụp ngày 17/12/11
Reuters

Thanh Phương
Ngày 18/12/11 ông Leon Panetta đến Tripoli để « tôn vinh » người dân Libya can đảm vùng dậy lật đổ chế độ Kadafhi. Bộ trường Quốc phòng Mỹ thẩm định những nhu cầu của chính phủ mới. Đây là lần đầu tiên một Bộ trường Quốc phòng của Mỹ viếng thăm Libya. Trước ông Panetta, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton cũng đã đến Libya ngày 18/10 /2011.

Trong chuyến đi chỉ vài tiếng đồng hồ, ông Panetta đã hội đàm với đồng nhiệm Libya Ussama Juili, nguyên là một chỉ huy của lực lượng nổi dậy lật đổ Kadhafi.
Chuyến viếng thăm của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ diễn ra sau khi hôm qua Nhà trắng vừa loan báo là Hoa Kỳ bãi bỏ phần lớn các biện pháp trừng phạt kinh tế, được ban hành chống Libya dưới thời Kadhafi.
Cũng hôm qua, Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc đã bãi bỏ biện pháp phong tỏa tài sản ở nước ngoài của ngân hàng trung ương Libya và của một ngân hàng đầu tư Libya, để tránh cho nước này gặp tình trạng thiếu thanh khoản. Lệnh phong tỏa này đã được áp dụng trong khuôn khổ các biện pháp trừng phạt chế độ Kadhafi, được Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc ban hành vào tháng 2/2011.

tags: Hoa Kỳ (Mỹ) - Libya - Quốc tế - Theo dòng thời sự

Trung Quốc Đối Mặt Với Khủng Hoảng Quyền Cai Trị

Posted on by SaoMai

Tác Giả: Duy Ái – VOA
Lãnh đạo Trung Quốc đã phải đối mặt với sự bùng nổ của sự bất mãn của dân chúng về nhiều vấn đề từ ô nhiễm môi trường, tranh chấp lao động, cho tới nạn chiếm đoạt đất đai bừa bãi. Nhiều nhà phân tích cho rằng quốc gia có nền kinh tế lớn hàng thứ nhì thế giới này đang đứng ở bờ vực của một cuộc khủng hoảng về quyền cai trị.

Một người đại đại diện dân làng Ô Khảm đứng trên thang

nói chuyện với dân làng trong khi một cuộc biểu tình đang diễn ra


Ở Trung Quốc trong những năm gần đây, mỗi năm có gần 200.000 vụ rối loạn xã hội xảy ra trên cả nước, trong đó có chừng 2/3 là phát sinh từ nạn tịch thu đất đai bừa bãi. Những vụ gây rối tập thể –Trung Quốc gọi là “sự kiện quần chúng”, đã trở thành một việc mà nói theo cách nói ở Việt Nam hiện nay là “chuyện thường ngày ở huyện”.
Tuy nhiên, những người dân ở làng Ô Khảm trong tỉnh Quảng Đông mới đây đã làm được một việc mà nhiều người trước đó đã không làm được: đó là buộc Đảng Cộng Sản Trung Quốc phải rời khỏi ngôi làng của mình – ít nhất là trong một khoảng thời gian ngắn.
Dân chúng ở ngôi làng đánh cá có số dân ước chừng 20.000 người này đã bày tỏ sự căm phẫn hồi tháng 9 năm ngoái trước điều mà họ cho là sự cấu kết của các quan chức địa phương với những công ty phát triển địa ốc để chiếm đoạt đất đai của họ. Họ đã xông vào trụ sở chính quyền thôn, xung đột với cảnh sát và đòi điều đình với chính quyền cấp cao hơn. Viên bí thư Đảng ở đây đã phải bỏ trốn.
Tuần trước nhà chức trách đã câu lưu 5 dân làng trong toán điều đình và tìm cách giành lại quyền kiểm soát ngôi làng, nhưng không thành công.
Hồi đầu tuần này, tình hình trở nên căng thẳng hơn sau cái chết của ông Tiết Cẩm Ba, một người trong số 5 người bị bắt. Nhà chức trách nói rằng ông này qua đời vì bệnh tim nhưng dân làng nói rằng nạn nhân bị cảnh sát đánh chết.
Trong cuộc phỏng vấn qua điện thoại với báo chí ở Hồng Kông, người con gái lớn của ông Tiết cho biết cô đã trông thấy xác của cha cô hôm chủ nhật và trên người ông đầy những vết roi.
Trong vài ngày nay, giữa lúc ngôi làng này bị cảnh sát bao vây, ngày nào dân chúng ở đây cũng tụ họp để phản đối và hô to những khẩu hiệu như “nợ máu phải trả bằng máu”.
Ông Malcolm Moore, một nhà báo của tờ Telegraph ở Anh, là một trong các ký giả Tây phương đầu tiên tới làng Ô Khảm để tường thuật vụ nổi loạn này trong lúc truyền thông Trung Quốc hoàn toàn im tiếng. Ông Moore cho đài VOA biết rằng dân làng chỉ muốn đòi hỏi công lý chứ không đòi cải cách chính trị. Ông nhận định:
“Tôi nghĩ rằng những vụ việc như thế này luôn luôn là vì tiền bạc, luôn luôn là vì đất đai. Đây không phải là một phần của một phong trào dân chủ rộng lớn hơn. Đây không phải là một mưu toan để lật đổ bất kỳ một ai. Dân làng ở đây bày tỏ sự tin tưởng vào chính quyền trung ương và họ chỉ muốn nói lên một điều là chính quyền địa phương đã không giải quyết những mối bất bình của họ một cách thỏa đáng.”
Tuy nhiên, theo nhận định của Tiến sĩ La Tiểu Bằng, giáo sư kinh tế của Đại học Triết Giang, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đã không làm gì nhiều trong 10 năm qua để kiểm soát các chính quyền địa phương, khiến cho Trung Quốc giờ đây phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng về quyền cai trị.
Ông cho biết thêm rằng vấn đề này sẽ đứng đầu nghị trình làm việc của Phó Chủ tịch Tập Cận Bình khi ông lên thay ông Hồ Cẩm Đào làm Tổng bí thư Đảng Cộng Sản Trung Quốc vào năm tới. Ông La Tiểu Bằng nói:
“Tất cả những vấn đề như vấn đề môi trường, vấn đề giáo dục, và vấn đề dịch vụ công ích đã tích lũy trong hơn một thập niên qua, chứ không phải bây giờ mới xuất hiện. Tôi nghĩ rằng mọi người ai nấy đều nhận thức được là khủng hoảng sắp xảy ra và giới lãnh đạo mới sẽ phải đứng ra giải quyết.”
Giáo sư Hồ Tinh Đẩu của Đại học Kỹ thuật ở Bắc Kinh cũng có một nhận xét tương tự. Ông nói với đài VOA như sau:
“Trung Quốc đang tiến vào một thời kỳ có nhiều mối rủi ro đặc biệt to lớn. Không phải chỉ là một thời kỳ của những mối rủi ro thông thường. Tôi e rằng nếu chính phủ trung ương không áp dụng các biện pháp để giải quyết vấn đề một cách thỏa đáng thì chỉ trong vòng 4 hoặc 5 năm tới đây tình hình trên cả nước sẽ vượt khỏi tầm kiểm soát.”
Những vụ gây rối tập thể ở Trung Quốc trong năm nay có những vụ qui mô lớn và được nhiều người chú ý như vụ kháng thuế ở thành phố Chức Lý ở tỉnh Triết Giang hồi tháng 10, vụ xuống đường chống đối nạn ô nhiễm của một nhà máy hóa chất ở thành phố Đại Liên hồi tháng 8.
Những “sự kiện quần chúng” này đã xảy ra trong lúc có nhiều dấu hiệu cho thấy kinh tế Trung Quốc đang bắt đầu xuống dốc và đời sống của người dân bình thường đã trở nên khổ sở hơn trước.
Bà Bonnie Glaser, một chuyên gia về Trung Quốc của Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế ở Washington, cho biết rằng một mối lo ngại lớn của giới lãnh đạo ở Trung Nam Hải hiện nay là kinh tế sẽ bị trì trệ trong năm 2012. Bà nói:
“Tôi nghĩ rằng giới lãnh đạo Trung Quốc đang cảm thấy bất an, cảm thấy lo lắng rất nhiều về tình hình trong nước, về sự tăng trưởng chậm lại của nền kinh tế, trong lúc những vụ rối loạn xã hội xảy ra mỗi ngày một nhiều, bất mãn của người dân ngày càng tăng và có thể trở nên tệ hại hơn nữa vì tình hình kinh tế bị xuống cấp.”
Từ khi những cuộc nổi dậy đòi dân chủ bắt đầu bùng ra ở nhiều quốc gia Trung Đông và Bắc Phi hồi đầu năm nay, nhà cầm quyền Cộng Sản ở Bắc Kinh đã tìm đủ mọi cách để ngăn chận những hoạt động mà họ cho là có thể dẫn tới một cuộc “Cách mạng Hoa nhài” ở Trung Quốc.
Hàng loạt các nhân vật tranh đấu cho dân quyền và những văn nghệ sĩ, trí thức không tán đồng đường lối cai trị của đảng đương quyền đã bị kết án tù hoặc bị giam lỏng thông qua biện pháp được gọi là “cưỡng chế thất tung”.
Bà Sophie Richardson, một chuyên gia về Trung Quốc của tổ chức theo dõi nhân quyền Human Rights Watch ở Washington, nói rằng chính phủ ở Bắc Kinh hiện nay vẫn còn có thể dập tắt những vụ rối loạn xã hội một cách có hiệu quả, thông qua việc đàn áp và đe dọa.
Tuy nhiên bà nói rằng đây chỉ là một cách giải quyết tạm bợ. Bà cho rằng về lâu về dài Trung Quốc cần phải xây dựng một hệ thống tư pháp độc lập và công bằng để người dân có thể dựa vào đó mà giải quyết những vụ tranh chấp trong xã hội và những vụ tranh chấp giữa người dân với chính quyền, thay vì phải thực hiện những hành động quá khích như ở làng Ô Khảm.

 http://www.hennhausaigon2015.com

Dân Chủ là một thứ bảo hiểm

Sau bài bình luận tuần trước một vị độc giả đã viết thư tỏ ý ông thích một lời kết luận: “Dân chủ tự do không hứa hẹn thiên đường. Nhưng sẽ giúp xã hội loài người tránh rơi xuống địa ngục.”
Ý tưởng đó chắc không mới. Nhiều người chắc đã nghĩ, đã nói từ hàng trăm năm nay rồi, vì đó cũng là một bản chất của chế độ dân chủ tự do. Tự do dân chủ không phải là một bảng lộ trình hứa hẹn ở cuối đường sẽ tới những bồng lai tiên cảnh. Ngược lại, những phong trào chống lại thể chế dân chủ tự do thì lại hay vẽ ra viễn tượng một xã hội hoàn hảo; khi biết là chúng chỉ là những lý thuyết viển vông thì đã muộn.
Trên thế giới đã nhiều lần có những người nổi lên chống thể chế dân chủ, như các đảng cộng sản, các đảng phát xít, hay các đảng tự gọi là theo chủ nghĩa “xã hội quốc gia” từng nắm quyền ở Ðức “quốc xã,” ở Ai Cập thời 1950-60, cho tới Miến Ðiện của Tướng Newin từ đầu thập niên 1960. Những phong trào đó đều đưa ra các chủ nghĩa, các khẩu hiệu nức lòng người; có lúc đã lôi cuốn hàng triệu người tin theo, nhiều người sẵn sàng chết để xây dựng một thiên đường hạ giới. Khi đề cao Tự do, người ta không vẽ ra những hình ảnh viển vông mà chỉ hứa hẹn mọi người sẽ không bị thúc ép.
Quyền tự do của mỗi con người và quyền tự do của một dân tộc, cùng một chữ mà trong hai trường hợp có ý nghĩa khác nhau. Những dân tộc bị lệ thuộc người nước khác đều khao khát tự do; nghĩa là muốn thoát khỏi cảnh bị người nước khác cai quản. Họ có thể hy sinh mạng sống cho đồng bào mình được tự do. Nhưng khi được tự do rồi, người ta sẽ sử dụng quyền tự do đó như thế nào? Trong xã hội mới đó, mỗi người được tự do hay không? Chưa biết, vì khi đang tranh đấu đòi độc lập, người ta chưa bàn, sợ mất tình đoàn kết. Người ta chấp nhận hai chữ Tự Do một cách chung chung. Ít thấy ai khi tranh đấu lại hô hào: “Tự do hay là chết, với điều kiện chúng ta sẽ tổ chức xã hội như thế này, như thế này, vân vân!” Hô một khẩu hiệu như thế thì dài quá, khó lôi cuốn người ta hô theo!
Bởi vậy, mới có những cảnh “hoán nô dịch chủ;” đổi kiếp từ nô lệ người chủ này sang làm đầy tớ cho chủ khác. Chúng ta đã chứng kiến cảnh nhiều lãnh tụ anh minh kêu gọi người khác hãy theo mình tranh đấu cho tự do, thà chết cũng không sợ; nhưng sau đó chính họ lại cai quản mọi người mà chẳng thấy ai được tự do cả. Nhiều dân tộc đã trải qua kinh nghiệm này, sau khi tranh đấu đòi được độc lập, thường phải bắt đầu tranh đấu đòi tự do trở lại!
Chủ nghĩa Cộng sản là một thứ tín ngưỡng trần tục, hứa hẹn một xã hội lý tưởng không khác gì thiên đàng; cho nên đã mị hoặc nhiều người hàng thế kỷ. Ngoài ra, còn những đảng chủ trương dân tộc cực đoan kiểu quân phiệt Nhật Bản cũng hấp dẫn nhiều người vì họ đề cao một nước, một sắc dân. Họ hứa hẹn đưa cả dân tộc lên đỉnh vinh quang, cho mọi người thấy họ cũng tham dự trong đó, chia sẻ một cõi huy hoàng. Lời hứa hẹn của các nhóm tín ngưỡng cực đoan như al Qeada còn lôi cuốn mạnh mẽ hơn nữa vì người ta được hứa hẹn sẽ sống vĩnh viễn trên một cõi thiên đường.
Trong khi đó, người ta chỉ tha thiết đòi tự do, khi các quyền tự do bị chà đạp; ít thấy ai không dưng đề nghị một “chủ nghĩa dân chủ,” vẽ ra một cảnh thiên đường hạ giới, lôi cuốn người khác. Thường chỉ có ai đã phải sống trong nô lệ đến mức không chịu nổi, mới thiết tha đòi được tự do với khẩu hiệu “Tự do hay là chết.” Ðối với những người chỉ mới nghe về hai chữ tự do, nó chỉ là một khái niệm trừu tượng. Vì thể chế tự do dân chủ không hứa chắc sẽ đưa mọi người đến một cõi tốt đẹp hoàn hảo!
Thể chế Dân chủ Tự do chỉ tạo ra một khung cảnh để mọi người sống chung với nhau. Nó cống hiến một hình thức xã hội để sống chung chứ không hứa hẹn một nội dung cụ thể. Nội dung, tức là con người sẽ sống với nhau như thế nào trong xã hội dân chủ, nội dung này tùy theo đặc tính mỗi dân tộc mà thể hiện. Có xã hội thích tranh luận, dùng lý lẽ chiếm phần thắng như ở Pháp; có nơi muốn giữ trật tự, hòa hợp, nhường nhịn như ở Nhật. Có những xã hội muốn nhấn mạnh đến đức công bằng như ở Ðức, ở Na Uy; do đó giảm bớt nhiều quyền tự do lựa chọn của cá nhân, trao cho guồng máy nhà nước nhiều quyền hành. Có xã hội lại đề cao tự do cá nhân nhiều hơn, như ở Mỹ. Ở nước Mỹ sau cuộc khủng hoảng kinh tế 1930 đa số ngả về đức công bằng, chịu hy sinh một số quyền tự do lựa chọn. Ðến thời kinh tế trì trệ trong thập niên 1970, người Mỹ lại thấy cần khuyến khích sáng kiến tư nhân, bèn giảm bớt quyền hạn của nhà nước. Nếu trong cùng một thời gian mà nhiều nhóm người ý kiến khác nhau thì sao? Chỉ có một cách quyết định chung, là bỏ phiếu, một “luật chơi dân chủ”. Luật chơi ở đây là đa số thắng thiểu số. Nhưng nếu một khối đa số cứ thắng hoài, rồi lạm dụng quyền hành bắt nạt những người thiểu số thì sao? Phải thêm vào “luật chơi” một điều nữa để đặt thêm giới hạn trên quyền hành. Ðó là bảng liệt kê những “quyền làm người,” nhân quyền. Dù các anh có liên tiếp thắng cử nhờ chiếm đa số, các anh không được xâm phạm đến những quyền căn bản của người thiểu số; như quyền tự do phát biểu, tự do hội họp, tự do tín ngưỡng, vân vân. Chính vì vậy, các phong trào dân chủ bao giờ cũng nhấn mạnh đến nhân quyền.
Với cái khung tự do dân chủ, có dân tộc thiết lập chế độ nghị viện để Quốc Hội nắm nhiều quyền; có nước lại chọn một chế độ trao nhiều quyền hành cho một vị tổng thống. Trong mỗi loại đó, vẫn còn có thể vẽ ra nhiều kiểu tổ chức xã hội khác nhau. Nước Na Uy khi mới độc lập, vào đầu thế kỷ 20, đã chọn chế độ quân chủ lập hiến thay vì chế độ cộng hòa. Nghị viện nước này mời một ông hoàng Ðan Mạch sang làm vua, ông hoàng đã yêu cầu phải trưng cầu dân ý, dân chấp thuận ông mới nhận chức. Một ông vua được mời như vậy có lợi hay không? Hơn một thế kỷ sau cuộc lựa chọn đó, dân Na Uy bây giờ vẫn có vẻ rất hài lòng! Bởi vì hiến pháp đã tạo một cái khung cho cuộc sống cả xã hội, có một ông vua cũng không ngại gì, được một ông vua tốt càng may. Nhiều người nói rằng chế độ dân chủ tự do ở nước Mỹ cho phép một người rất tầm thường cũng có thể làm tổng thống. Vì người đó không nắm mọi quyền quyết định; mà nếu ông hay bà ta tệ quá thì cùng lắm cũng chỉ làm khổ dân trong bốn năm thôi!
Kết luận là cùng một cái khung dân chủ tự do, người dân mỗi nước có thể chọn những nội dung khác nhau. Tất nhiên, trình độ dân trí, nhất là trình độ của những người làm chính trị cao hay thấp, sang hay ngu, sẽ quyết định nội dung của cuộc sống xã hội. Nhưng dù nội dung như thế nào, thể chế dân chủ có thể giúp chúng ta tránh nhiều cái xấu, cái ác thường do chính quyền gây ra; nhờ có những giới hạn trên quyền bính. Nếu quyền hành không được giới hạn, thì không phải là một chế độ dân chủ.
Nhiều người không để ý đến tính chất “phòng ngừa” này, vì họ mơ mộng và không đủ tự tin hoặc không tin vào người dân. Họ không tin trong chế độ dân chủ người dân có khả năng đóng vai ngăn ngừa cái ác, cái xấu; cho nên họ đi tìm những thể chế chính trị ba xạo hão huyền. Chúng ta phải thận trọng khi nghe các nhà chính trị hứa hẹn những giấc mơ lớn, đưa ra những viễn ảnh lý tưởng. Cuối cùng, khi biết không thể thực hiện được những điều mơ mộng, lý tưởng đó, người ta sẽ phải nói dối. Họ nói dối làm cho mọi người bắt chước, ai cũng học nói dối cho giỏi. Ðạo đức cả xã hội sẽ suy đồi.
Phải lo việc ngăn ngừa tình trạng lạm quyền, vì đó là một mối rủi ro bất trắc trong cuộc sống chính trị. Ở nước nào cũng vậy, kể cả các nước dân chủ lâu đời rồi, người nắm quyền, dù cấp cao hay cấp thấp, cũng hay lạm quyền, mối rủi ro đó lúc nào cũng có thật. Thường khi muốn đề phòng rủi ro bất trắc, người ta đi mua bảo hiểm. Thiết lập một thể chế dân chủ chính là “mua bảo hiểm” cho xã hội. Tức là đề phòng khuynh hướng lạm quyền của nhà nước bằng cách đặt ra trước các giới hạn bắt họ phải theo. Ai đã sống trong một xã hội mà nhà nước nắm hết mọi thứ quyền, mới thấy khi cả xã hội “không được bảo hiểm” thì rất nguy hiểm! Nếu trình độ của những người nắm quyền lại quá thấp thì mối nguy hiểm đó càng lớn!

Kazakhstan giới nghiêm ở Zhanaozen

Cập nhật: 16:27 GMT - thứ bảy, 17 tháng 12, 2011

Cảnh sát triển khai chống biểu tình ở Zhanaozen, Kazakhstan
Cảnh sát được triển khai nhằm đối phó với người phản đối ở Zhanaozen hôm 17/12/2011.
Tình trạng khẩn cấp đã được tuyên bố tại thị trấn nằm miền Tây Kazakhstan, Zhanaozen, một ngày sau khi các cuộc đụng độ giữa những người bãi công, phản đối và cảnh sát làm ít nhất 10 người chết.
Lệnh cấm đình công và biểu tình đi kèm một lệnh giới nghiêm và hạn chế đi lại vào ban đêm sẽ được áp dụng trong vòng 20 ngày.
Xung đột nổ ra khi cảnh sát giải tán cuộc chiếm đóng quảng trường thành phố của các công nhân dầu mỏ vốn diễn ra trong hơn sáu tháng liền, xoay quanh một cuộc tranh chấp đòi trả tiền lương tốt hơn.
Đây được cho là sự kiện bạo lực tồi tệ nhất trong lịch sử gần đây của Kazakhstan.
Hiện thành phố được tường thuật là yên tĩnh, nhưng vẫn còn đóng cửa với thế giới bên ngoài sau khi các chuyến bay đến một sân bay kề cận đã bị hủy bỏ.
'Khôi phục luật pháp'
Tình trạng khẩn cấp sẽ kéo dài đến ngày 5 tháng Giêng để "đảm bảo an toàn công cộng, khôi phục luật pháp và trật tự và bảo vệ các quyền và tự do của công dân", một sắc lệnh đưa ra trên trang mạng chính thức của Tổng thống Nursultan Nazarbayev cho hay.
Đến nay, 70 người bị tình nghi tham gia các hoạt động "gây rối loạn" đã bị giam giữ, theo Văn phòng Trưởng công tố tại một cuộc họp báo.
Các cuộc đụng độ xảy ra khi Kazakhstan đánh dấu kỷ niệm 20 năm độc lập khỏi Liên Xô, với các hoạt động ăn mừng diễn ra trong cả nước.
Các phóng viên nói rằng tình trạng bất ổn sẽ là một cú sốc đối với Tổng thống Nazarbayev, người lên nắm quyền ngay trước khi nước này độc lập khỏi Liên Xô.
Ông Nazarbayev được cho là luôn kiểm soát chặt chẽ việc biểu tình, phản đối của dân chúng từ trước tới nay.

Thêm về tin này

Chủ đề liên quan

Thế giới & VN trong tuần 16-12-2011 + Chương Trình Phát Thanh Sáng Thứ Bảy 17.12.2011

Bầu cử hạ viện Đuma lần thứ 6 ở Nga: sự kiện và những vấn đề tranh cãi - Tác giả: Bùi Lan Hương

 - Hôm 9-12 Ủy ban bầu cử Trung Ương của Nga đã chính thức công bố kết quả cuộc bầu cử vào hạ Viện Đuma hôm 4-12 vừa qua. Như vậy kết quả của 7 đảng phái tham gia cuôc bầu cử Đuma như sau:
Đảng Nước Nga thống nhất của chính quyền thu được 49,4% số phiếu, đảng cộng sản được 19,2%, đảng nước Nga công bằng 13,2%, đảng dân chủ tự do 11,7%, đảng Quả táo của Yavlinsky 3,4%, đảng Người yêu nước gần 1%, đảng Công việc chính nghĩa 0,6%. Như vậy có 4 đảng vượt qua được rào cản 7% minimum để lọt vào Đuma lần thứ 6 này là đảng Nước Nga thống nhất, đảng cộng sản, đảng Nước Nga công bằng và đảng dân chủ tự do. Thành phần của Đuma mới không có gì thay đổi so với Đuma trước đây. Chỉ có số lượng ghế của các đảng phái là thay đổi mà thôi. Đảng Nước Nga thống nhất vẫn chiếm đa số ghế. Cộng số ghế của các đảng không vượt qua 7% tối thiếu để lọt vào Đuma, đảng này vẫn có số đại biểu vượt quá 50%, đủ để thông qua các đạo luật thông thường. Nhưng khác với Đuma lần trước, họ không vượt qua đa số tuyệt đối 300 ghế để được quyền thay đổi hiến pháp như trước đây nữa.
Chính quyền tuyên bố cuộc bầu cử là hợp lệ và kết quả của nó là hợp pháp. Tuy nhiên các đảng phái tham gia bầu cử, cả các đảng được lọt vào Đuma như đảng cộng sản và đảng Nước Nga công bằng, cả các đảng không được lọt vào Đuma như đảng Quả táo vá các đảng phái khác không tham gia bầu cử đều lên tiếng tỏ thái độ không hài lòng với kết quả mà Ủy ban bầu cử đưa ra và cho rằng có quá nhiều sự gian lận trong kỳ bầu cử lần này và đòi Trưởng ban bầu cử trung ương phải từ chức.
Những hình thức gian lận
Các báo mạng bình bầu chuyện tiếu lâm hay nhất kỳ bầu cử này là “Các con gái của Putin không phải đi bầu cử, vì con cái thì không được lựa chọn bố mẹ”.
Điều bất hợp lý lớn nhất của hệ thống bầu cử Nga hiện nay là các nhà lãnh đạo ở Nga không coi bầu cử là một phương tiện thay đổi chính quyền hòa bình mà họ coi nó như một cuộc trưng cầu dân ý về lòng tín nhiệm của dân chúng đối với chính quyền, nên họ không muốn và không chấp nhận có thể bị thua trong cuộc bầu cử này. Vấn đề chỉ là họ thắng với con số tín nhiệm là bao nhiêu mà thôi. Bắt nguồn từ cái logic đặc biệt này mà chính quyền đã phải nghĩ ra nhiều cách để đảm bảo cho mình phần thắng chắc chắn, thắng tuyệt đối trong kỳ bầu cử.
Cách thứ nhất là bắt buộc người dân phải bỏ phiếu cho mình bằng những đòn bẩy về kinh tế. Trong thời kỳ vận động  tranh cử, trên internet đã xuất hiện nhiều băng video hay ghi âm những cuộc nói chuyện của cán bộ lãnh đạo các cấp đề nghị các nhà máy, xí nghiệp phải bỏ phiếu “cho người mình”, tỷ lệ phiếu bầu “đúng” sẽ tỷ lệ thuận với số tiền trợ cấp hay ngân sách họ được nhận. Nếu lúc trước các nhân vật nói bóng nói gió để cử tri hiểu phải làm như thế nào là “đúng luật” là những người bình thường không tên, không tuổi, thì lần này các nhân vật đứng ra mặc cả như vậy toàn là các quan chức có tên tuổi cả.
Cách thứ hai để tăng số phiếu đơn giản hơn cách thứ nhất. Chẳng cần hứa hẹn gì cả. Cứ việc đứng tên người khác và… viết vào đó ý kiến của mình. Ví dụ thị trưởng một thành phố đề nghị giám đốc các xí nghiệp phải lập danh sách các nhân viên của họ…chắc chắn không đi bỏ phiếu được trong ngày bầu cử, và gửi danh sách đó cho tòa thị chính để sử dụng hợp lý…Như vậy có nghĩa là chính quyền kết hợp với Ủy ban bầu cử tự bỏ phiếu cho các đảng phái của mình.
Phát minh mới nhất trong kỳ bầu cử này là sáng kiến đi bầu cử “vòng quanh”. Bầu cử “vòng quanh” là một cử tri sẽ đi bỏ phiếu ở nhiều địa điểm khác nhau trong thành phố và kết quả là một người được tính thành 10 hay 20 phiếu. Ngay trước ngày bầu cử, tờ “Tân báo” đã tìm được một bản hướng dẫn đi “tham quan” của một đoàn dân chúng từ thành phố Kirov đi vào thành phố Saint Peterburg. Trong ngày 4-12 họ sẽ phải đi từ 8 đến 13 điểm “văn hóa” và quan trọng nhất là họ được dặn dò kỹ lưỡng không được phép tiếp xúc với các phóng viên hay đại diện của các tổ chức thăm dò dư luận. Thế là đã rõ, các đoàn du khách này chỉ đi tham quan các điểm bỏ phiếu mà thôi. Ví dụ về các cuộc “tham quan” đặc biệt này được ghi nhận ở khắp nơi. Đặc biệt là có đến 30 ngàn thanh niên thuộc tổ chức đoàn viên của chính quyền từ các tỉnh sẽ về Moscow tăng cường an ninh cho những ngày bầu cử. Tất cà số thanh niên này không chỉ có nhiệm vụ tuần tra giữ gìn an ninh mà còn có nhiệm vụ quan trọng là đi bỏ phiếu “vòng quanh” nữa.
Tổ chức các kiểu gian lận khác nhau cũng không làm cho chính quyền yên tâm. Trước ngày bỏ phiếu, tổ chức giám sát bầu cử độc lập “Golos” cũng bị làm khó dễ. Website của tổ chức bị đánh phá không làm việc được. Máy tính của giám đốc tổ chức này bị hải quan thu giữ đến tháng 2 năm 2012 để “nghiên cứu”. Trang web để dân chúng lên đưa tin về các vụ vi phạm trong quá trình bầu cử cũng bị đánh phá không làm việc. Trang web của đài radio “tiếng vọng Moskva” cũng bị tấn công từ 6h 40 sáng. Như vậy có nghĩa là mọi ngọn đèn nhằm chiếu sáng quá trình bầu cử đều bị phá hỏng hay che mờ đi.
Chính quyền rõ ràng là cần che mờ bớt tiến trình bỏ phiếu, vì họ vẫn chưa yên tâm lắm với những biện pháp tăng số phiếu của mình. Tại nhiều điểm bỏ phiếu các nhà quan sát của các đảng phái khác còn bắt được nhiều vụ mà các nhân viên của Ủy ban bầu cử tự mình bỏ cả  trăm tờ phiếu ủng hộ cho đảng Nước Nga thống nhất vào thùng phiếu, hay đơn giản là đưa biên bản kiểm phiếu với số liệu kiểm phiếu hoàn toàn sai với sự thật. Chỉ trong 2 giờ cuối cùng trước khi đóng cửa, đột nhiên số lượng người đi bầu cử tăng vọt từ 50,4 lên 60,2% là một bằng chứng cho thấy số phiếu đã bị vứt vào thùng hàng loạt vào thời điểm này.
Làn sóng phản đối những gian lận trong bầu cử lan rộng
Những hành động gian lận quá trắng trợn trong quá trình bỏ phiếu đã làm dân chúng và các đảng phái giận dữ. Ngay ngày hôm sau, dân chúng đã tụ tập tại các quảng trường trung tâm các thành phố lớn như Moscow, Saint Peterburg để bẩy tỏ thái độ giận dữ của mình. Chính quyền vẫn như mọi khi, thẳng tay đàn áp họ. Chỉ trong một ngày 5-12 ở Moscow đã có tới 569 người bị bắt giữ,ở Saint Peterburg có gần 300 người bị giữ, trong đó có hàng chục phóng viên các báo chí, cơ quan truyền thông khác nhau. Tất cả các buồng tạm giam của cảnh sát chật kín chỗ. Người ta ghi nhận hàng chục trường hợp bị đánh, bị giữ trong những điều kiện không …thể ở được: 20 người trong một buồng giam 15 mét vuông . Có những người chỉ bị lập biên bản rồi được thả ra, có những người bị tạm giữ tới 15 ngày. Nhưng dường như dân chúng không sợ những hình phạt đó nữa, ngày nào ở các quảng trường trung  tâm người ta cũng đến tụ tập phản đối. Hôm 7-12 ở Moscow đã tụ tập được 7 ngàn người- một con số kỷ lục người tham gia biểu tình trong nhiều năm qua.
Trên các mạng xã hội, số người bầy tỏ ý muốn tham gia biểu tình có ở tất cả các thành phố. Trên toàn nước Nga có hơn 100 ngàn người cho biết sẵn sàng tham gia các cuộc biểu tình. Đông nhất là ở Moscow với hơn 40,5 ngàn người, ở Saint Peterburg với hơn 9 ngàn người, Cheliabinsk với hơn 5,5 ngàn người, tính ra có đến 67 thành phố của Nga lên tiếng ủng hộ các cuộc mitting phản đối sự gian lận trong quá trình bầu cử vừa qua.
Có lẽ đảng nước Nga thống nhất và chính quyền không ngờ được thái độ giận dữ của dân chúng mạnh mẽ như vậy. Lúc đầu họ chỉ nghĩ là các đảng phái đối lập sẽ tổ chức phản đối như mọi khi với vài trăm người quen thuộc trên các quảng trường trung tâm. Và như vậy chỉ cần thẳng tay đàn áp một hai lần là đủ. Nhưng lần này họ đã nhận định sai. Sự gian lận quá trắng trợn trong quá trình bầu cử đã làm nhiều tằng lớp dân chúng bất bình, nhiều đảng phái bất bình, kể cả các đảng được lọt vào Đuma lần này. Vô tình chính quyền đã tạo ra một  cái cớ rất chính đáng để liên kết các tầng lớp dân chúng, liên kết cả các đảng phái đối lập nhau, cùng xuống đường phản đối chính quyền.
Và một cuộc mít tinh lớn chưa từng có trong lịch sử cận đại của Nước Nga dân chủ đã diễn ra hôm 10-12 với gần 80 ngàn người tham dự. Chính quyền đã tìm mọi cách để hạn chế bớt số người tham gia: từ việc trì hoãn quyết định cho tổ chức biểu tình đến phút chót, đến việc đổi địa điểm tổ chức quen thuộc từ quảng trường Cách mạng sang quảng trường Đầm lầy, nhưng số người tham gia vẫn rất đông đảo. Điều đặc biệt ở đây không chỉ là số lượng người tham gia, mà còn ở thành phần tham gia nữa. Người ta thấy có mặt trong cuộc biểu tình này những đảng phái hoàn toàn trái lập nhau: từ đảng cộng sản đến các đảng phái dân chủ. Từ các đảng được lọt vào Đuma như đảng cộng sản và đảng Nước Nga công bằng đến các đảng không được vào Đuma hay thậm chí không được tham gia bầu cử như đảng Quả táo, đảng Một nước Nga khác, từ các đảng phái bảo hoàng đến các tổ chức dân tộc cực đoan. Lần đầu tiên người ta thấy một cuộc biểu tình có nhiều giới trẻ trên 30 tuổi, lứa tuổi chín nhất, đại diện của tầng lớp  trung lưu hiện nay chứ không phải các ông bà cụ trên 50 tuổi cố gắng bảo vệ những quyền lợi và hoài niệm về chế độ cũ hay lớp thanh niên dễ bị lôi kéo, mua chuộc.
Đoàn biểu tình đưa ra 5 điểm yêu sách cho chính quyền.
Thứ nhất là phải thả ngay các tù chính trị đang bị giam giữ.
Thứ hai là phải hủy bỏ kết quả cuộc bỏ phiếu gian lận vừa qua.
Thứ ba là phải cách chức ông Churov- Chủ tịch Ủy ban bầu cử trung ương. Điều tra các vụ gian lận và xử lý những người vi phạm.
Thứ tư là cho phép các đảng phái đối lập đăng ký tham gia bầu cử. Thông qua một bộ luật dân chủ về các đảng phái và bầu cử.
Cuối cùng là phải tiến hành một cuộc bầu cử mới công khai và công bằng.
Ngày 24-12 tới đây các đảng phái lại tổ chức một cuộc biểu tình tiếp theo để xem chính quyền có thực thi các yêu sách của họ không.
Phản ứng của chính quyền
Hôm 8-12 lần đầu tiên Tổng thống Medvedev đã phải lên tiếng bình luận về những sự kiện hậu bầu cử. Mặc dù ông không đồng tình với ý kiến của những người biểu tình đòi hủy bỏ kết quả bầu cử vừa qua, nhưng ông cũng hết sức mềm mỏng thuyết phục dân chúng trở về trong khuôn khổ pháp luật. Trong chuyến thăm Cộng hòa Tiệp, ông cho biết dân chúng có quyền bầu tỏ thái độ của mình bằng các cuộc mitting. Nhưng các cuộc biểu tình đều phải được tổ chức theo đúng luật pháp. Ông là quan chức duy nhất cho biết sẽ tổ chức để điều tra các vụ gian lận.
Thủ tướng Puitn thì vẫn giữ nguyên đường lối thẳng tay của mình. Ông cho biết làn sóng phản đối này là do những lời chỉ trích của bà ngoại trưởng Mỹ Hilary Clinton châm ngòi. Ông đề nghị phải thắt chặt hơn nữa luật pháp, cho phép xử lý khắt khe hơn với những người thực hiện nhiệm vụ của ngoại bang, quấy rầy đời sống chính trị ở trong nước. Các nhà bình luận cho rằng ông Putin trên thực tế đã kêu gọi sửa đổi lại luật pháp nhằm hạn chế các tổ chức nhận tiền của nước ngoài không được theo dõi tiến trình bầu cử ở Nga nữa. Trong thời gian cuối, đây không phải là lần đầu tiên Ông Putin chỉ trích các tổ chức nhận tiền tài trợ của nước ngoài tham gia theo dõi  tiến trình bầu cử ở Nga làm ảnh hưởng đến công việc nội bộ của Nga. Hôm 27 tháng 11 vừa qua ông đã nói trên  kỳ đại hội của đảng Nước Nga thống nhất, và ngay sau đó tổ chức “tiếng nói” chuyên theo dõi các cuộc bầu cử ở Nga đã bị tấn công và làm khó dễ.
Mặc dù chính quyền chưa có dấu hiệu gì sẽ thực hiện các yêu sách của cuộc biểu tình 10-12, nhưng rõ ràng sự kiện mấy chục ngàn người xuống đường đã có một tác dụng nào đó. Tổng thống Medvedev đã tuyên bố các Ủy ban của hạ viện Đuma sẽ giao cho các đảng phái đối lập cùng tham gia.
Dân chúng sẽ còn tiếp tục xuống đường để biểu lộ thái độ giận dữ của mình. Đuma mới đã bắt đầu nhóm họp và chuẩn bị bầu các chức vụ quan trọng nhất. Nhưng sự phản đối của dân chúng là cần thiết và chắc chắn sẽ làm chính quyền phải thay đổi. Bởi vì mỗi đám cháy lớn cũng đều bắt đầu từ nhưng tia lửa rất nhỏ.
© Bùi Lan Hương
© Đàn Chim Việt

THEO DÒNG SỰ KIỆN:
  1. Bức tranh vân cẩu
  2. Vì sao Trung Quốc kêu gào chiến tranh
  3. Báo TQ: “Bốn điều hiểu lầm về tranh chấp ở Nam Hải”
  4. Chiến tranh mạng
  5. TQ tranh thủ ASEAN để chống lại Mỹ
  6. Đẩy tình thế tới bờ vực chiến tranh mới tìm ra đáp án

1 Phản hồi cho “Bầu cử hạ viện Đuma lần thứ 6 ở Nga: sự kiện và những vấn đề tranh cãi”

Minh Đức says:
Đây là một bài viết rất rõ về các thủ đoạn gian lận bầu cử. Các bài báo của các nước Tây phương không nói rõ cụ thể là gian lận như thế nào. Một số bản tin thì nói là nạn nhét phiếu và các hành vi ăn gian, nhưng không mô tả kỹ như bài này.
Nước Nga không thiếu các điều kỳ diệu. Thời Liên Xô thì báo cáo sản phẩm vòng quanh. Hợp tác đi mua hàng ở các cửa tiệm để nộp cho chính phủ rồi gộp các món hàng đó trong báo cáo để sản lượng của mình được cao. Một sản phẩm như thế không biết đi bao nhiêu vòng để hiện diện trong các bản báo cáo của nhiều hợp tác xã khác nhau. Ngày nay thì lại có trò bầu cử vòng quanh. Một người đi bỏ phiếu nhiều lần làm cho con số người đi bầu tăng lên một cách giả tạo, số phiếu bầu cho một đảng không còn chính xác nữa. Xem ra nhiều người Nga không xem trọng sự chính xác và trung thực. Dù không còn chế độ cộng sản nữa nhưng cái nạn báo cáo láo, dối trá, bề ngoài, hình thức vẫn còn tồn tại. Thiếu tính tôn trọng sự chính xác thì việc quản lý xã hội và kinh tế sẽ luộm thuộm .

 http://www.danchimviet.info/archives/48135

Hoàng Sa – Trường Sa là của Việt Nam

Trong thời gian gần đây tình hình biển Đông dậy sóng, nóng lên với cái tình “hữu nghị” mà không “hữu hảo” của anh “Người Tàu xấu xí” luôn tìm cách lấn áp và thôn tính người đồng chí bé nhỏ phương Nam. Với mưu đồ thâm độc ngoài thì gậm nhấm từ biển, đảo, đất liền, rừng, núi…trong thì tung tình báo gián điệp đặc công thâm nhập quấy phá nội tình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội làm cho băng hoại và tê liệt để không còn ý chí chiến đấu của một dân tộc tự xưng là anh hùng.
               1- Trung cộng.
Từ xa xưa Trung cộng đã có âm mưu chiếm lấy Hoàng Sa và Trường Sa của ta  nên họ từng bước phát triển cái ý đồ bành trướng của họ. Theo phóng viên Lê Dân, đài RFA đưa tin “Quan điểm của Bắc kinh về chủ quyền tại Hoàng sa và Trường Sa” như sau:
“Theo tư liệu của bộ Ngoại giao Trung quốc thì văn kiện mang tên “Chủ quyền không thể tranh cải của trung quốc trên các đảo Tây Sa và Nam Sa” được tạp chí Beijing Review in lại trong số ấn hành ngày 18-2-1980, thì Hà Nội đã thỏa hiệp được với Bắc kinh trong quá khứ về việc này. Chúng tôi xin trích thuật:
              “Đến ngày 4- 9-58, Bắc kinh ra tuyên bố chính thức về hải phận của họ, bao gồm 12 hải lý từ bất kỳ mốc lãnh thổ nào của Trung quốc,“trong đó tính gồm cả các đảo Đông Sa, Tây Sa, Trung Sa và Nam Sa…” (RFA online ngày 16-12-2007)
              Tiến sĩ Trần Công Trục, nguyên trưởng ban Biên giới chính phủ trả lời phỏng vấn của nhà báo Nguyên Phong, Trung cộng thông qua “Cương yếu quy hoạch xây dựng và phát triển đảo du lịch quốc tế Hải Nam 2010-2020”. Một kế hoạch tinh vi được tính toán kỹ lưỡng.
“Vừa qua phía Trung quốc (TQ) đã có hành động vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt nam với việc đưa Hoàng Sa va Trường Sa vào quy hoạch xây dựng và phát triển đảo du lịch quốc tế Hải Nam (TQ)…
“Việc Trung quốc thông qua quy hoạch này tiếp tục là một trong chuỗi hoạt động của TQ nhằm thực hiện mục tiêu “hợp thức hóa chủ quyền” trên thực tế mà TQ muốn thực hiện với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam mà họ đã sử dụng vũ lực để chiếm đóng. Nhìn rộng hơn, đây cũng là hoạt động nằm trong ý đồ chiến lược của TQ được họ kiên trì thực hiện từ nhiều năm qua…
             “Trên thực tế, từ trước tới nay, sự có mặt của TQ tại Hoàng Sa và Trường Sa có được là do họ đã dùng vũ lực để chiếm đóng. Năm 1956, lợi dụng thời cơ chuyễn giao của VN sau Hiệp định Geneve có khoảng trống, TQ đã chiếm đóng phía Đông quần đảo Hoàng Sa. Năm 1958, họ lại tiếp tục đưa lực lượng chiếm phía Tây Hoàng Sa nhưng đã bị quân đội Sài Gòn bắt giữ toàn bộ lực lượng này và đưa về giam giữ ở Đà Nẵng. Năm 1974, lợi dụng thời điểm cuộc kháng chiến chống Mỹ đi vào giai đoạn cuối, TQ lại đưa quân chiếm nốt phần còn lại  của quần đảo Hoàng Sa từ chính quyền Sài Gòn. Năm 1988, TQ lại tiếp tục đưa quân tấn công, chiếm đóng một số bãi cạn ở Trường Sa. Tất cả các đảo mà TQ chiếm giữ hiện nay đều do họ giành được bằng vũ lực quân sự”. (Thanh Niên online ngày 12-7-2010)
Trung cộng với tham vọng bá chủ biển Đông nên ngày 19-1-1974 ngang nhiên đưa quân tiến chiếm trọn quần đảo Hoàng Sa trong tay của quân đội VNCH trong khi người anh em miền Bắc vổ tay reo mừng, nhưng rồi tham vọng kia không dừng lại ở Hoàng Sa mà năm 1988 chúng lại đưa quân tới quần đảo Trường Sa trong tay người đồng chí anh em:
               -    Ngày 19-1-1974, Trung quốc đưa quân đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa, lúc bấy giờ thuộc chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa làm cho 58 chiến sĩ Hải quân đã anh dũng hy sinh..
-        Ngày 14-3-1988, Trung quốc lại một lần nữa đưa tàu chiến đến đánh chiếm mấy đảo trên quần đảo Trường Sa, lúc này thuộc chủ quyền của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt nam làm 64 chiến sĩ Hải quân bị hy sinh.
               Nhận thấy được việc làm sai trái của chính quyền Trung cộng, một chuyên gia hàng đầu về luật kêu gọi nước này đàm phán với Việt Nam về Hoàng Sa trong khi có quan ngại về an ninh biển giữa hai nước.
“Giáo sư Jerome Cohen, giám đốc trường luật Mỹ-Á thuộc Đại học Luật New York, người được cho là thông hiểu hệ thống tư pháp TQ và có quan hệ thân cận với nhiều lãnh đạo nước này, nói giải quyết được tranh chấp Hoàng Sa với Việt Nam sẽ giảm thiểu đáng kể căng thẳng ở biển Đông và khai thông tiến trình thương lượng với các quốc gia khác.
“Cho tới nay, Bắc kinh vẫn chỉ thừa nhận có mâu thuẫn chủ quyền ở Trường Sa, và khước từ đề cập tới quần đảo Hoàng Sa với lý do tại đây “không có tranh chấp”…
“Theo ông, TQ đã phạm phải sai lầm lớn trong vấn đề biển Đông và phải tìm cách tỏ ra là biết điều hơn trước”. (BBC online ngày 9-12-2011)
               2- Việt Nam.
Về phương diện lịch sử thì Việt Nam đã có biết bao nhiêu là tài liệu chứng minh chủ quyền của mình trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, ấy thế mà một nhân vật quan trọng của CSVN dám tuyên bố rằng:
“Vào tháng sáu năm 1956, hai năm sau khi chính phủ của ông Hồ chí Minh đã thành lập tại Hà Nội, thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam Ung văn Khiêm đã nói với ông Li Zhimin, tham tán sứ quán Trung quốc tại Việt Nam, rằng theo dữ liệu của Việt Nam thì đảo Tây Sa (tức Paracel, Hoàng Sa) và đảo Nansha (tức Spatkeys, Trường Sa) là một phần Trung quốc theo lịch sử…” (RFA online ngày 16-12-2007)
                Thủ tướng VNDCCH đã gửi công hàm xác nhận tuyên bố về hải phận của thủ tướng TC Chu Ân Lai ngày 4-9-1958 trong đó gồm cả hai quần đào Hoàng Sa và Trường Sa đang nằm trong sự quản lý của Việt Nam Cộng Hòa, ấy thế mà ông Phạm văn Đồng dám ngang nhiên công nhận:
“Mười ngày sau, thủ tướng Việt nam Phạm văn Đồng gửi công hàm chính thức cho thủ tướng Trung quốc Chu ân Lai, chúng tôi xin đọc lại như sau, từ bản chụp lại của văn khố Trung quốc và một số quốc gia khác:
“Chính phủ nước VNDCCH ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của chính phủ nước CHNDTH quyết định về hải phận của Trung quốc.
“Chính phủ nước VNDCCH tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung quốc, trong mọi quan hệ với nước CHNDTH trên mặt bể.
“Chúng tôi xin kính gửi Đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng
Hà Nội, ngày 14 tháng 9 năm 1958…”  (RFA online ngày 16-12-2007)
               Bức công hàm sau này bị nhiều người chỉ trích là văn kiện bán nước của chính phủ VNDCCH mà khi đó ông Hồ Chí Minh là người chịu trách nhiệm chính về mặt tinh thần, còn thủ tướng Phạm Văn Đồng đứng về mặt pháp lý nên sau nầy có sự giải thích:
“Nguyên bộ trưởng Ngoại giao VN Nguyễn mạnh Cầm giải thích trong một cuộc họp báo tại Hà Nội ngày 2-12-1992 và được Thông tấn xã VN loan ngày 2-12-1992. Ông nói:
“Các nhà lãnh đạo của ta lúc trước xác nhận về Hoàng Sa và Trường Sa như vậy là do theo hiệp định Genève năm 1954 về vấn đề Đông Dương thì tất cả lãnh thổ từ vĩ tuyến thứ 17 trở vào Nam là thuộc chính quyền miền Nam, kể cả hai quần đảo này. Thêm vào đó, lúc ấy VN phải tập trung hết mọi lực lượng vào cuộc chiến chống Mỹ nên cần bạn bè khắp nơi. Tình hữu nghị Việt Trung thắm thiết và hai nước hoàn toàn tin cậy lẫn nhau. Việt Nam xem Trung quốc là một nguồn hổ trợ to lớn và giá trị.
“Trong tinh thần đấy thì do tình thế cấp bách, quan điểm của lãnh đạo ta (tức ủng hộ Trung quốc công bố chủ quyền của họ trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường sa) là cần thiết vì nó phục vụ cho cuộc chiến bảo vệ tổ quốc”.
(RFA online ngày 12-12-2007)
Lời giải thích của ông Cầm cho ta thấy rõ là “lãnh đạo ta (ủng hộ TQ công bố chủ quyền của họ trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa” thì còn chối cải gì? Cái sai lầm to lớn của đảng CSVN là không nhận được ai là thù ai là bạn, họ đã hy sinh hai quần đảo để đổi lấy sự viện trợ “chống Mỹ”, rốt cuộc đảo mất rồi mà Mỹ vẫn còn đây. Đây là một bài học xương máu cho trò tráo trở của kẻ “khôn nhà dạy chợ”chuyên môn lừa dối; vì thế cho nên “vỏ quýt dày gặp móng tay nhọn”.
Trong khi chính quyền CNDCCH ủng hộ chủ quyền của TC ở Hoàng Sa-Trường Sa thì chính quyền VNCH lại tuyên bố trên nhật báo Tiền Tuyến ngày 16-7-1971 “Bộ Ngoại giao VNCH ra thông cáo cho biết: Chính phủ VNCH xác nhận chủ quyền trên các đảo: Trường Sa và Hoàng Sa”:
              “Tại Hội nghị Hòa bình San Francisco năm 1951, Nhật phải trả lại tất cả các lãnh thổ mà họ đã chiếm cứ bằng vũ lực trong Đệ nhị Thế chiến kể cả hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Cũng trong Hội nghị này trưởng phái đoàn Việt Nam tuyên bố xác nhận chủ quyền trên hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa là thành phần lãnh thổ của Việt Nam từ lâu. Trong số 51 cường quốc tham dự Hội nghị không có ai phản đối
Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa tuyên bố VNCH có chủ quyền hoàn toàn trên hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa và bác bỏ tất cả các đòi hỏi của bất cứ một quốc gia nào về vấn đề này”. (Người Việt ngày 16-7-2009)
Để chứng minh về lịch sử, nhà nước CSVN tiếp nhận tờ lệnh quý về Hoàng sa. Được biết đây là sắc chỉ của vua Minh Mạng phái một đội thuyền với 24 lính thuỷ ra đảo Hoàng Sa năm Ất Mùi (1835) để làm nhiệm vụ bảo vệ Hoàng Sa của Việt Nam:
“Sáng 9-4, tộc họ Đặng ở thôn Đông Hộ, xã An Hải, huyện Lý Sơn (Quảng Ngãi) tổ chức cúng giỗ báo cáo tổ tiên về việc hiến tặng và bàn giao tờ lệnh quý liên quan đến Hoàng Sa cho Nhà nước. TS Nguyễn đăng Vũ, phó giám đốc sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch Quảng Ngãi, cùng đại diện lãnh đạo các sở ngành đã tiếp nhận tờ lệnh”. (Tuổi Trẻ online ngày 10-4-2009)
Hai bản đồ quý khẳng định chủ quyền Việt Nam ở Trường Sa và Hoàng sa. Mới đây từ các bức ảnh do PGS TS Đinh khắc Thuận cung cấp, PGS TS Ngô đức Thọ phát hiện ra rằng, đây là bằng chứng chủ quyền của nước ta trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa:
“Đó là cuốn An Nam đồ chí của soạn giả Đặng Chung. Cuốn sách này được biên soạn “căn cứ theo bản sao ở Thuật Cổ Đường của họ Tin”. Thuật Cổ Đường là tên thư viện của Tiền Đại Hán – nhà khảo chứng học nổi tiếng đời Thanh. Họ tên soạn gỉa An Nam đồ chí được ghi cuối bài tựa: Phân thủ Quảng Đông Quỳnh Nhai Phó Tổng binh Ôn Lăng Đặng Chung (Phó Tổng binh trấn thủ châu Quỳnh Nhai, tỉnh Quảng Đông là Đặng Chung, người huyện Ôn Lăng)”.
(Tuổi Trẻ online ngày 19-3-2009)
Còn nhiều tài liệu lịch sử chứng minh nữa, nhưng bây giờ với sức mạnh của TC đang lên thì mộng bành trướng của chúng càng cao, và dù chúng ta có đưa ra bao nhiêu tài liệu chứng minh chủ quyền của mình đi nữa thì TC cũng vẫn phớt lờ với “lý lẻ của kẻ mạnh”. Nhà cầm quyền VN nên nhớ tài liệu lịch sử không mạnh bằng đại bác, hoả tiển, máy bay, tàu chiến…
            Lần đầu tiên đài phát thanh của TP HCM dám lên tiếng tố cáo Trung cộng:
“…đài Tiếng nói Nhân dân Thành phố so sánh hành động của “một bộ phận quan chức Trung quốc khi bắt giữ tàu và đòi tiền chuộc” với“ hải tặc Somali”.
“Cụ thể là từ năm 2009 đến đầu năm nay, TQ đã bắt giữ 36 tàu đánh cá và 473 ngư dân Việt Nam. Chẳng những TQ tịch thu hết tàu bè, ngư cụ, hải sản, mà còn bắt ngư dân trả tiền chuộc. Tác gỉa thẳng thừng lên án TQ “không từ thủ đoạn hèn mạt nào” như đem chất nổ xuống tàu đánh cá VN, rồi quay phim, chụp ảnh, buộc ngư dân VN phải ký tên vào biên bản”.  (RFI online ngày 10-5-2010)
               Qua bao nhiêu năm nhà cầm quyền CSVN không đá động gì đến chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nhưng mới đấy thủ tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng trong lần trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội, ông Dũng tuyên bố:
“Năm 1974 TQ dùng vũ lực đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa (lúc đó trong sự quản lý của chính quyền Sài Gòn). Chính quyền Việt nam Cộng hòa lúc đó phản đối, lên án việc làm này và đề nghị Liên Hiệp quốc can thiệp. Chính phủ Lâm thời Cách mạng miền Nam Việt Nam lúc đó cũng ra tuyên bố phản đối hành vi chiếm đóng nầy.
“Lập trường nhất quán của chúng ta là quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Chúng ta có đủ căn cứ và lịch sử pháp lý để khẳng định điều này. Nhưng chúng ta chủ trương đàm phán giải quyết, đòi hỏi chủ quyền với quần đảo Hoàng Sa bằng biện pháp hòa bình”. VietNamExpress online ngày 25-11-2011)
Sau lời tuyên bố “quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam” thủ tướng Dũng sẽ đối xử như thế nào với những người đang ngồi tù vì trước đây họ cũng đã nói như thủ tướng nói, điển hình là trường hợp của Điếu Cầy Nguyễn Văn Hải? Từ nay về sau những người nói như thế có sẽ bị vào tù nữa không?
                3- Phản ứng của Nhân dân Việt Nam.
               Tiến sĩ Hà sĩ Phu phản đối cái công hàm bán nước của ông thủ tướng CSVN đã thừa nhận hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Trung cộng như sau:
“Được biết tình hình này, một số cựu chiến binh lão thành phẫn nộ: Họ dựa vào công hàm của thủ tướng Phạm văn Đồng năm 1958 chứ gì, nếu cần dân Việt Nam sẽ xé toạc công hàm đó, gạch chéo lên công hàm đó: quyết định về lãnh thổ mà không có chuẩn y của quốc hội, không trưng cầu dân ý thì chẳng có gía trị gì, dân xé lúc nào cũng được. Dân chúng tôi không bị ràng buộc bởi công hàm đó”. (Đối thoại online ngày 11-12-2007)
Thay mặt Hội đồng Lưỡng Viện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất, hòa thượng Thích Quảng Độ ra tuyên cáo về cái công hàm của thủ tướng CSVN xin trích:
“Công hàm ngày 14-9-1958 của ông Phạm văn Đồng chỉ đại diện cho thiểu số đảng viên đảng CS mà không đại biểu cho toàn dân miền Bắc VN, vì nội dung bán nước của công hàm không được trưng cầu dân ý, cũng không được thông qua trước quốc hội VNDCCH, dù nhân dân không CS chẳng có đại biểu tại quốc hội này y hệt như tại quốc hội hiện nay…
“Xem như thế công hàm ngày 14-9-1958 của ông Phạm văn Đồng vô gía trị trên mặt pháp lý quốc tế, pháp lý quốc gia và ý chí dân tộc. Công hàm chỉ là dự tính chia chác phi pháp giữa hai đảng CS Việt-Trung”.  (Thời Luận ngày 17-9-2008)
               - Hơn hai ngàn luật sư thuộc Luật sư đoàn TP. Sài Gòn đã đồng thanh tuyên bố về chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa và khẳng định rằng:
“Hoàng Sa và Trường Sa đã, đang và sẽ mãi mãi là lãnh thổ không thể tách rời và bất khả xâm phạm của Việt Nam cả về phương diện pháp lý (de jure) lẫn phương diện thực tế (de facto)”. (Thời Luận ngày 20-1-2008)
               Luật sư Trần Lâm cảnh báo về luật biển của Liên Hiệp Quốc có điều khoản: Có chủ quyền theo thời hiệu:
Nước nào ở trên Biển Đảo quá 50 năm mà không có kiện cáo, tranh chấp thì được công nhận chủ quyền. Trung quốc đã chiếm Trường Sa (* Hoàng Sa?), đã đóng quân, đã ở, đã xây dựng gần 50 năm rồi, nếu ta im lặng thì mặc nhiên ta đã giao Trường Sa (* Hoàng Sa?) cho Trung quốc. Việc phản đối, việc gửi công hàm này nọ, việc ra tuyên bố…chỉ là gây dư luận mà thôi, chưa phải là khởi kiện, một hành vi pháp lý. Đó là điều rất cần được quan tâm”. (Đàn chim Việt online ngày 30-10-2010)
  Một phong trào biểu tình phản đối Trung cộng chiếm cứ Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam trước các tòa đại sứ của chúng từ trong nước đến các nước có người Việt định cư trên thế giới. Trước tiên thanh niên, sinh viên, học sinh, văn nghệ sĩ ở thủ đô Hà Nội, thành phố Sài gòn, thủ đô Paris, Pháp; thủ đô London, Anh; thủ đô Praha, Tiệp Khắc; thủ đô Canberra, Úc; thủ đô Washington, Mỹ…Những cuộc biểu tình ở nước ngoài có cả những Du học sinh đang du học.
               Nhà báo độc lập Nguyễn Văn Hải tức blogger Điếu Cày tổ chức biểu tình chống Trung cộng bảo vệ chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bị nhà cầm quyền bắt đưa đi tù 3 năm mản hạn rồi tìm cách giam thêm nữa. (Tôi xin có lời tri ơn và ngưỡng mộ).
“Theo tổ chức Phóng viên Không biên giới và Thông tấn xã Đức DPA được Earth Times loan tải, nhà báo này là tác giả của một trang blog trên internet đã bị kết tội vì những bài viết của ông trên internet tố cáo chính sách bá quyền của Trung quốc tại vùng biển Đông qua vụ lên tiếng phản kháng vụ rước đuốc Thế vận qua Việt Nam hồi tháng Tư. Ông Hải và các bạn tổ chức cuộc biểu tình trước Nhà hát TP Sài Gòn, mang theo biểu ngữ 5 chiếc còng và các câu HoàngSa- Trường Sa là của Việt Nam”. (Thời Luận ngày 12-9-2008)
Một phong trào in chữ HS-TS-VN vào áo được các Dân Oan mặc biểu tình ở vườn hoa Mai Xuân Thưởng hồi tháng 6-2-2010 rồi từ đó sinh viên học sinh làm lan rộng sang nhiều thành phố Buôn ma Thuột, Tây Ninh, Hải Phòng, hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội, Vũng Tàu… Và nhiều báo đài trong nước vừa đưa tin cho hay:
Đà Nẵng chính thức dựng bảng tên đườngHoàng Sa-Trường Sacho toàn bộ tuyến đường ven biển, từ bán đảo Sơn Trà đến Điện Ngọc, giáp tỉnh Quảng Nam…
“Đài phát thanh Hà Nội cũng nói, quyết định gắn các bảng tên đường Hoàng Sa, Trường Sa trong khu vực thành phố Đà Nẵng khẳng định rằng, hai quần đảo này thuộc chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc Việt Nam”. (RFA online ngày 14-8-2010)
               Việc Trung cộng chiếm đảo và đòi bá quyền trên biển cho đến nay chính quyền CSVN chưa có một thái độ dứt khoát, không biết họ đã có thỏa thuận ngầm gì với Trung cộng mà họ lại có thái độ lấp lửng thật là khó hiểu. Trên thực tế ai cũng biết rằng muốn đòi lại quần đảo Hoàng Sa từ tay quân bành trướng Bắc kinh không phải là dể, không phải chỉ dùng chứng cớ lịch sử trong đàm phán song phương mà chúng chịu nghe, còn biện pháp quân sự thì ta hoàn toàn không có khả năng. Theo nhà báo Giáp Văn Dương của Tuổi Trẻ online thì:
“Đòi lại Hoàng Sa bằng biện pháp hòa bình là một việc lớn và lâu dài. Có rất nhiều việc phải làm và điều chắc chắn là phải huy động lực lượng và cần có thời gian. Đây chắc chắn phải là sự nghiệp toàn dân.
“Bước đầu tiên trong việc đòi lại Hoàng Sa là để cho toàn dân thấy được sự thật và tạo điều kiện cho người dân tham gia sự nghiệp này. Muốn vậy, trước hết cần công khai hiện trạng Hoàng Sa đang bị Trung quốc cưỡng chiếm cho cho toàn dân biết…
“Đòi lại Hoàng Sa và bảo vệ chủ quyền biển đảo là sự nghiệp của toàn dân”.
(Tuổi Trẻ online ngày 13-12-2011)
Đòi lại Hoàng Sa và Trường Sa thì phải là “sự nghiệp của toàn dân” thế mà từ bao lâu nay nhà cầm quyền CSVN cứ mỗi lần thấy ai mặc áo có mấy chữ HS-TS-VN “tụ tập đông người” nói động tới Trung cộng là công an nhân dân đem toàn lực kể cả chó và xe buýt lại xúc về bót. Nhân dân quyết tâm chống quân xâm lược thì bị bắt, trong đó phải kể đến hai vị nữ lưu con cháu bà Trưng bà Triệu là Phạm Thanh Nghiên chỉ tọa kháng tại nhà với biểu ngữ “Hoàng Sa-Trường Sa là của Việt Nam, phản đối công hàm bán nước 14/9/1958” thế mà công an cũng xông vào nhà bắt đưa ra cái “tòa rừng” xử 4 năm tù giam và 3 năm quản thúc tại gia. Và mới đây bà Bùi Thị Minh Hằng người thường có mặt trong mỗi lần “tụ tập đông người” đòi chủ quyền HS-TS-VN đã bị “cưỡng ép cải tạo 24 tháng” tại Cơ sở giáo dục Thanh Hà (Vĩnh Phúc). Người dân Việt Nam còn đang thắc mắc không biết tại sao nhà cầm quyền lại không cho ông André Menras Hồ Cương Quyết chiếu bộ phim “Hoàng Sa Việt Nam-Nỗi đau mất mát” nói về cuộc sống
cơ cực của ngư dân Huyện đảo Lý Sơn và Bình Châu có phải sợ mất lòng đồng chí thiên triều vĩ đại hay không?
                Một bài học từ nước bạn thiết nghĩ nhà cầm quyền CSVN cũng cần phải học,  tiến sĩ Trần Công Trục nói về sự chiến đấu của không quân và Hải quân  Malaysia bảo vệ vùng biển của họ như thế nào.
              “Một ví dụ mà chính báo chí TQ đưa ra cũng đáng để VN suy nghĩ. Cuối tháng 4 vừa qua khi TQ cử các tàu ngư chính đi “bảo vệ ngư trường” đã bị tàu hải quân và máy bay chiến đấu của Malaysia áp sát, xua đuổi suốt 17 tiếng liền khi các tàu này xâm phạm lãnh hải của Malaysia. Rõ ràng trong phạm vi, điều kiện cụ thể, chúng ta phải có đối sách cần thiết chứ không thể ngồi yên để họ dễ dàng muốn làm gì cũng được”. (Thanh Niên online ngày 12-7-2010)
 Sự nhu nhược và bất lực của chính quyền cũng như nhân dân Việt Nam trước hiểm họa xâm lăng của Trung cộng khiến cho một thanh niên trẻ email cho Bauxite VN, em tâm sự:
“Cháu là Vũ Mạnh Tiến…  Gần đây khi đọc về phong trào 6 chữ vàng HS-TS-VN cháu rất vui vì nhờ có các chú các bác trong BBT Bauxite VN và những bài viết của những người tâm huyết với đất nước nên thế hệ trẻ chúng cháu cũng đã dần thức tỉnh và có hành động cụ thể dù chỉ là lén lút…
“Đại đa số người dân chỉ biết lo cho cuộc sống của mình dù bao điều ngang tai trái mắt xảy ra nhưng vì lo cho cuộc sống của mình mà ngoảnh mặt làm ngơ không biết. Sự xuống cấp về đạo đức xã hội và nạn tham nhũng bóc lột thì ngày càng tăng mà cháu không nói thì ai cũng biết vì nó diễn ra xung quanh mọi người Đặc biệt hơn là tình hình xâm chiếm biển đảo của Trung quốc và sự im lặng đến khó hiểu của các nhà lãnh đạo Việt Nam. Cháu viết email này mong mỗi người Việt Nam ai vẫn còn mang trong mình dòng máu Lạc Hồng hảy thức tỉnh và dũng cảm tự quyết định lấy tương lai và vận mệnh của mình, đừng để đến khi những bất công trong xã hội rơi vào mình và trở thành nô lệ mất tự do mới đấu tranh thì đã muộm”. (Bauxite Việt Nam online ngày 3-8-2010)
                       Đại Nghĩa- Sưu tầm