April 7, 2012
Ngày
Quốc Hận Ba Mươi Tháng Tư năm nay lại đến với dân tộc Việt Nam giữa
lúc toàn dân đang phải đương đầu với 2 vấn nạn cực kỳ quan trọng, đó
là: nạn cướp đất và nạn cướp biển lộng hành.
Nạn cướp đất ở nông thôn đã triệt tiêu nguồn sống của một số nông
dân. Nguồn sống đó đã có từ lâu đời, bây giờ không còn nữa, cho nên nông
dân buộc lòng phải lên thành thị, lang thang kiếm sống qua ngày. Phụ nữ
nông thôn bất đắc dĩ phải lang bạt tứ xứ, sống bằng nghề ‘buôn phấn bán
hương’, lấy chồng Đài Loan, Hàn Quốc, v.v… để có tiền nuôi sống bản
thân, gia đình. Thật thê thảm! Còn nạn cướp
đất ở ngay thành thị thì lại xô đẩy người dân ra khỏi vùng đất mà tổ
tiên của họ đã dày công gầy dựng từ trăm năm nay. Bỗng dưng họ mất nơi
sinh sống, mất nơi thờ cúng tổ tiên. Sự đền bù không thỏa đáng đã gây ra
nhiều vụ xô xát, chết người, rất đáng thương tâm! Người dân khắp nước
bị cướp đất, vì oan ức muốn đi kiện nhưng không biết phải đi kiện ở đâu,
không biết cơ quan nào có trách nhiệm? Khi hỏi thăm thì cơ quan này đổ
vấy trách nhiệm cho cơ quan kia – ‘trái banh’ bị đá qua, đá lại — rốt
cuộc thì dân oan không tìm ra người nào có trách nhiệm thực sự để nhờ
giải quyết! Họ đành phải thúc thủ chờ đợi, đói khát, lang thang, vô
vọng! Trong lúc bạo lực và phương tiện dùng để cướp đất thì luôn luôn
sẵn sàng hành động, bất kể nhân tâm, bất kể công lý!
Thế nhưng thảm nạn cướp đất của tư nhân, mới chỉ xảy ra từ hơn mười
năm nay, tuy là chứng tích tàn tệ gây nên bởi bạo quyền trong nước,
nhưng nếu đem so sánh với nạn cướp đất xảy ra năm 1979 ở phía Bắc, thuộc
lãnh thổ của Tổ Quốc Việt Nam, gây nên bởi giặc Tàu, thì chứng tích ở
phía Bắc còn tàn tệ hơn nhiều. Tàn tệ hơn, là vì giặc Tàu đã gây đổ máu
không chỉ vài người mà hàng ngàn người, đồng thời sát nhập vùng đất nó
vừa cướp được vào lãnh thổ của Tàu. Bạo quyền trong nước bất lực trước
thế trận của giặc đã đành, mà còn cam tâm chịu nhục nhã, phải công nhận
xác giặc là liệt sĩ có công với Cộng đảng Hanoi, và được chôn cất ngay
trên vùng đất chúng vừa cướp được. Giặc Tàu đã nhanh chóng cho xây cất
ngay nghĩa trang liệt sĩ trên những vùng đất vừa cướp được để chứng tỏ
về lâu về dài rằng, vùng đất này là lãnh thổ của nó. Như mọi người đã
biết, mới cuối tháng ba vừa rồi, nỗi nhục chồng chất lên nỗi sợ hãi đến
độ bạo quyền Hanoi không dám tổ chức ngày tưởng nhớ các liệt sĩ của họ
đã hy sinh trong trận hải chiến với giặc Tàu ở Trường Sa năm 1988, vì sợ
quan thày Tàu nổi nóng. Những gia đình, bạn bè của liệt sĩ, vì thương
nhớ chỉ có thể tổ chức “chui” để tránh rầm rộ, sợ quan thầy biết được
thì khốn! Nhưng ngày 30-4, tức là ngày Quốc Hận thì chúng lại tổ chức ăn
mừng rầm rộ, rất “hoành tráng”! Chứng tích làm tay sai cho giặc Tàu,
nét ô nhục và sự sợ hãi đã đi vào lịch sử.
Song hành với nạn cướp đất do bạo quyền trong nước gây ra, nạn cướp
biển do gặc Tàu hoành hành cũng đang gây thảm thương cho đồng bào sống
ven biển. Nghề đánh bắt cá biển là nguồn sống duy nhất của lương dân
nghèo khổ cư ngụ ở ven bờ đại dương, nối tiếp từ đời này sang đời nọ,
bỗng nhiên bị cắt đứt! Bây giờ, cho dù có muốn bỏ nghề đánh cá, quay
sang nghề nông, cũng không bỏ được, vì dân chài lưới không có ruộng vườn
để canh tác. Thật là tiến thoái lưỡng nan! Sống bằng cách nào đây!
Trong khi hải phận của mình thì bị giặc Tàu ngăn cấm không được lai vãng
đến. Các phương tiện đánh bắt cá là tài sản, tuy nhỏ nhoi nhưng phải
tích lũy tiền từ lâu mới sắm được, và cũng là tài sản duy nhất của gia
đình các nạn nhân, đã bị giặc Tàu cướp mất. Thuỷ sản mỗi lần ra khơi
kiếm được, đều bị tịch thu, người thì bị bắt, bị hành hạ, bị giam cầm,
bị đòi tiền chuộc! Gia đình nạn nhân đều là những người nghèo túng không
tiền chuộc, họ sẽ phải xử trí ra sao, sinh sống bằng cách nào đây! Cậy
nhờ ai đây! Họ không có cách giải quyết, họ sẽ phải làm gì?!
Những ai đã từng theo dõi tin tức, hình ảnh trên các hệ thống truyền
thanh, truyền hình, trên báo chí, trên các web-site, các logger, các
diễn đàn internet, đều thấy rõ những sự kiện đáng thương nêu trên.
Cứ mỗi lần giặc Tàu gây tội ác trên lãnh hải của ta thì bạo quyền
Hanoi chỉ phản ứng lấy lệ, khác hẳn với phản ứng tích cực của các nuớc
như Philippine và Indonesia đã dùng quân lực để xua đưổi giặc Tàu mỗi
khi chúng vi phạm lãnh hải của họ. Thực ra thì quân lực của 2 nước này
quá yếu không thể đương đầu với quân lực hùng mạnh của giặc Tàu, nhưng
vì tình yêu quê hương, yêu đồng bào của họ đã khiến họ hành động như
vậy. VC không có được những thứ tình yêu đó. Trong cùng một sự kiện
tương tự, nhưng hành động cuả VC lại khác hẳn, nhu nhược thấy rõ: thay
vì triệu hồi đại sứ của giặc Tàu đến bộ ngoại giao của mình để phản đối
hành động phi pháp, Hanoi chỉ dám gửi công hàm, hoặc đích thân đến tận
nơi tòa đại sứ của nó để ‘dãi bày tâm sự’. Nó không thèm đếm xỉa đến mà
nó còn ‘tố’ ngược lại một cách hỗn xược. Hành động đê hèn này của Hanoi
trước thái độ ngang ngược của giặc Tàu càng chứng tỏ rõ hơn là chủ quyền
đã mất, hay nói cách khác là bạo quyền Hanoi đã bán nước cho giặc Tàu
từ lâu rồi, không còn nghi ngờ gì nữa! Mặc dầu Hanoi đã nhiều lần đưa ra
lời giải thích về cách “xử lý bình tĩnh”, “hướng về tương lai”, nhưng
những lời giải thích này không thuyết phục được ai. Bản chất lừa bịp và
ươn hèn của Hanoi không thể che giấu thêm được nữa. Đã 37 năm rồi, ‘mặt
trơ trán bóng’, ‘đầu trộm đuôi cướp’, ‘chủ nghĩa bán nước’, ‘chủ nghĩa
lòn trôn giặc Tàu’ của Cộng đảng Hanoi đã có từ thời Hồ Chí Minh, đến
nay, càng ngày càng lộ rõ. Bản chất đó, lúc nào cũng vậy, không thể thay
đổi, mà chỉ có thay thế.
Nhưng thay thế bằng cách nào? Rất khó! Nhìn về vùng Á Châu hiện nay,
mọi người đều nhắm vào nước Miến Điện đang từng bước thay thế. Thay thế
tư tưởng xấu bằng tư tưởng tốt, thay thế hành động xấu bằng hành động
tốt. Tất cả đều hướng về quyền lợi quốc gia, không chỉ trên lý thuyết mà
bằng thực tế qua cuộc bầu cử quốc hội vừa qua, không lừa bịp, không thủ
đoạn gian manh, không phản bội, không hận thù, không đổ máu. Bởi đâu mà
có được sự kiện tốt như vậy? Trước hết phải nói là bởi tình yêu tổ
quốc, yêu đồng bào của phe quân phiệt cầm quyền ở Miến Điện. Thứ tình
yêu này không tìm thấy trong Cộng đảng Hanoi hiện nay.
Mới chỉ trước đây một năm, phe quân phiệt Miến Điện đã nhìn thấy dã
tâm bành trướng của giặc Tàu nguy hại cho dân tộc họ. Họ không muốn làm
nô lệ cho giặc Tàu, cho nên họ đã tự động trao quyền quyết định vận mệnh
quốc gia lại cho nhân dân của họ. Họ là người có liêm sỉ, biết phân
biệt phải/trái, lợi/hại. Họ nhận thức được rằng, chỉ có sức mạnh tổng
hợp của toàn dân mới là sức mạnh hữu hiệu nhất và duy nhất để chống
giặc. Nhìn kỹ lại mới thấy, cách ứng xử khi quốc gia lâm nguy, của những
anh hùng Miến Điện tương tự như cách ứng xử của vua nhà Trần ở nước ta
trước khí thế quân xâm lược Nguyên-Mông ở vào thế kỷ thứ 12. Hành động
của những anh hùng Miến Điện rất đáng khâm phục, rất đáng noi theo.
Nhưng chắc chắn VC sẽ không dám noi gương theo Miến Điện. Căn cứ vào
lịch sử, chính trị và cách hành sử quyền bính của Cộng đảng Hanoi hiện
nay thì thấy, noi gương theo Miến Điện trong lúc này là một điều quá khó
khăn, không thể thực hiện được. Khó khăn là vì Cộng đảng Hanoi đã ngửi
phân giặc Tàu quá lâu rồi, đã quen hơi nên khó bỏ, cộng với điểm chính
yếu là món ‘nợ máu’ kếch xù mà Mao Xếnh Xáng đã cho Hồ Chí Minh vay mượn
từ hơn 70 năm qua, đặc biệt là món nợ máu dùng để “giải phóng” miền Nam
Việt Nam, mà theo giặc Tàu thì đến nay vẫn chưa trả hết. Đây là điểm
bất lợi chính yếu mà VC mắc phải, trong khi Miến Điện không hề vướng
mắc. Chắc chắn giặc Tàu không cho phép Hanoi tự ý hành động một mình, nó
cũng không cho phép Hanoi quỵt nợ, nó đã từng dạy cho Hanoi bài học
biên giới vào năm 1979 về món ‘nợ máu’ này. Tiếp theo là món ‘nợ máu’
Trường Sa năm 1988, cho nên bây giờ Hanoi còn lạnh cẳng. Nói tóm lại,
hiện tại VC vướng mắc vào 3 món ‘nợ máu’ lịch sử, trong đó món nợ máu
dành cho việc “giải phóng miền Nam Việt Nam” là món nợ lớn nhất.
Nhưng VC cần phải hiểu rằng: ‘được đằng chân lân đằng đầu’, túi tham
của giặc Tàu không có đáy, Hanoi sẽ không bao giờ trả hết nợ. Vì thế,
những vấn đề sau đây được đặt ra: Vấn đề thứ nhất, VC có đủ can đảm tự
dứt nợ hay không? Có dám trao quyền cho toàn dân quyết định về món nợ
này hay không, hay là sợ giặc Tàu thanh toán? Chắc là VC đang lo nghĩ về
trường hợp Trần Xuân Bách, uỷ viên bộ chính trị trung ương Cộng đảng,
tuy chưa hành động, ông Bách mới chỉ mớm lời có ý ‘muốn trao quyền cho
toàn dân’, thì lập tức bị tiêu ma sự nghiệp. Thử hỏi, có tên nào trong
Cộng đảng dám bắt chước Trần Xuân Bách không? Vì thế, nói chuyện noi
theo gương Miến Điện trong lúc này đối với Cộng đảng Hanoi , chỉ là nói
chuyện cho vui. Khó lắm! Giặc Tàu sẽ không cho phép VC làm như thế.
Dân tộc ta không có cái may như dân tộc Miến Điện, căn bản chỉ vì
“bác Hồ vô vàn kính yêu” đã mang “ánh sáng” Mac-Lênin-Mao vào quê hương
ta quá sớm, hậu quả là món ‘nợ máu’ đối với giặc Tàu cũng bắt đầu quá
sớm và đến nay thì đã quá lớn! Trong lúc, sự may mắn của người dân Miến
là không có ai giống “bác Hồ” quốc tặc. Nhóm quân phiệt Miến không vướng
mắc món ‘nợ máu’ với giặc Tàu như Cộng đảng Hanoi đã vướng mắc. Đây là
những điểm khác biệt chính yếu giữa nhóm quân phiệt Miến Điện trước đây
và Cộng đảng Hanoi bây giờ.
Vấn đề thứ đến là: có tên nào trong Cộng đảng Hanoi còn sót lại một
chút liêm sỉ nữa hay không, hay là tất cả đã ngửi phân giặc Tàu quá quen
rồi, không còn biết liêm sỉ là gì nữa? Đáng kể hơn, túi tham của Cộng
đảng Hanoi cũng tương tự như túi tham của giặc Tàu, không có đáy. Vì
nuối tiếc tiền tài, danh lợi, VC sẽ không thể tự ý từ bỏ quyền lực và
tài lực như những anh hùng nước Miến Điện. Nguyễn M. Triết đã từng cảnh
báo: “bỏ điều 4 hiến pháp là tự sát”. Do đó, dân tộc ta chưa thể nhìn
thấy ánh sáng cuối đường hầm trong tương lai gần! Nhưng, VC cũng phải
hiểu rằng: tự ý trao quyền lực về tay toàn dân thì sẽ không có đổ máu,
còn nếu bị bắt buộc phải trao quyền thì chắc chắn sẽ đổ máu. Đó là quy
luật tự nhiên, được áp dụng cho bất kỳ cuộc cách mạng nào.
Nói riêng về cộng đồng Việt Nam hải ngoại, đã 37 năm qua, kể từ ngày
Quốc Hận đầu tiên (năm 1975) đến nay, đã có khá nhiều vấn nạn. Những vấn
nạn liên hệ đến quê hương thường được nhắc đến là: du lịch, du hí, du
dâm, giao thương, hòa hợp, hòa giải, v.v…rất bất lợi cho việc Dân Chủ
hóa đất nước, nhưng lại rất thuận lợi cho việc củng cố địa vị của bạo
quyền Hanoi và rót đô-la vào hầu bao của các cán bộ Cộng đảng. Phải nhìn
nhận, đó là hậu quả tốt dành cho VC sau khi chính sách mà tên mất dạy
Phạm-Văn-Đồng-Vổ ban hành bằng mồm khi hắn đến Paris năm 1976: biến “bọn
ma cô đĩ điếm, chây lười lao động…” bỏ chạy ra nước ngoài ngày
30-4-1975 thành “khúc ruột ngàn dặm”; sau này chính sách nói bằng mồm đó
có tên gọi trịnh trọng là nghị quyết 36. Nghị quyết này đã được nhiều
người Việt đần độn hưởng ứng, họ phát biểu rằng: ngay như Mỹ là kẻ thù
chính mà còn hòa hợp được huống chi là người Việt Nam, hoặc: phải về VN
để đưa tự do dân chủ về cho người dân họ thấy, hoặc gần đây: đã ba mươi
mấy năm rồi, chống đối cái gì nữa. Vì những nhận thức quá yếu kém dẫn
đến nhiều tệ hại. Trong khi đó thì VC lại rất ma mãnh, nó nắm rất vững
tâm lý rất ‘người’ của con người để thủ lợi. Tâm lý đó được thể hiện qua
các cạm bẫy như: kích thích sự nhớ quê hương, danh lợi, tiền tài, gái
đẹp, điếm đực, mánh mung, v.v…, để tấn công rất mãnh liệt vào cộng đồng
Việt Nam hải ngoại. Và nó đã thành công.
Cũng vì nhận thức kém cỏi, đưa đến quan điểm sai lệch, và là nguyên
nhân chính gây chia rẽ trầm trọng trong cộng đồng, trong tổ chức, trong
gia đình, bà con, anh chị em, và thậm chí ngay cả tình cha con, mẹ con.
VC đã không ngừng khai thác tối đa những mâu thuẫn này, tạo phân hóa
càng nhiều càng tốt, làm suy yếu đáng kể sức mạnh của cộng đồng Việt
Nam hải ngoại là lực lượng gây trở ngại lớn nhất cho VC từ trước đến nay
trong mưu đồ treo ‘cờ máu’ ở mọi nơi có người Việt cư ngụ.
Người Việt trong nước đang đòi Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền, người Việt
hải ngoại đang hỗ trợ cho những đòi hỏi đó. Để hộ trợ hữu hiệu, những
việc rất dễ mà người Việt hải ngoại có thể tự làm được là: phải giải tỏa
ngay những vấn nạn ‘cắm đầu về VN’ như vừa nêu trên. Biết được vấn nạn
của quê hương (trong nước), nhưng không thể giải quyết, đó là nỗi bất
hạnh thứ nhất, là mối ưu tư hàng đầu. Biết đưọc vấn nạn (ngoài nước) của
cộng đồng hải ngoại, có cách giải quyết nhưng không thể giải quyết, là
nỗi bất hạnh thứ hai, đó là mối ưu tư lớn hơn nữa.
Quốc Hận Ba Mươi Tháng Tư cũng là Mối Hận Vong Quốc đã đi vào lịch sử dân tộc.
Tháng Tư Đen 2012
Võ Phương









Hy vọng cái thời sâu bọ lên làm người này mau chóng qua....