Saturday, July 20, 2013

Điếu Cày nhập viện trong tình trạng nguy kịch sau 28 ngày tuyệt thực ? // Trước cổng Trại giam số 6 – Ngày 20.07.2013

Đăng bởi lúc 10:46 Sáng 20/07/13 (chuacuuthe.com)

VRNs (20.07.2013)- Nghệ An -17:30: Bà Dương Thị Tân cho biết, anh Nguyễn Trí Dũng được gặp blogger Điếu Cày – Nguyễn Văn Hải. Anh Dũng cho biết họ chỉ cho gặp khoảng 3 phút. Blogger Điếu Cày người ốm, suy kiệt, không tự đi được, công an trại giam phải dìu ra ghế ngồi. Ngay việc ngồi ghế, blogger Điếu Cày cũng không vững.

Công an một mực nói ông Nguyễn Văn hải không tuyệt thực, nhưng chính ông Hải qua thều thào đã khẳng định đã tuyệt thực và đang tuyệt thực. Blogger Điếu Cày giải thích lý do tuyệt thực là do công an trại giam ép ông phải ký nhận tội, nhưng ông cự tuyệt. Thấy vậy, trại giam ra quyết định biệt giam 3 tháng, vì “tội” không nhận tội. Để phản đối quyết định tùy tiện và vi phạm pháp luật này, blogger Điếu Cày đã tuyệt thực. Đến hôm nay ông đã tuyệt thực đến ngày 28.

15:15: Bà Dương Thị Tân và anh Nguyễn Trí Dũng được mời vào bên trong cổng trại. Tín hiệu vui đầu tiên từ sáng đến giờ, nhưng có được gặp người mong đợi là Điếu Cày – Nguyễn Văn Hải không thì còn phải đợi thêm mới rõ.

15:10: Trời mưa, mọi người vẫn ngồi chờ trước cổng Trại giam số 6 để đợi tin tức về blogger Điếu Cày – Nguyễn Văn Hải.

14:30: Một nguồn tin nội bộ chưa thể kiểm chứng cho biết anh Điếu Cày đã được đưa đến trạm y tế xã Hạnh Lâm. Một số blogger đang lên trạm y tế để tìm hiểu sự việc. Bác sĩ Nguyễn Đình Hòa, trưởng trạm y tế xã Hạnh Lâm (huyện Thanh Chương, Nghệ An) Điện thoại: (038).3936174.

11:15: Nghĩ trưa, không giải quyết gì nữa. Tiếp tục một nhà cầm quyền câu giờ và lạm quyền để hành hạ dân.

10:45: Cuộc cãi nhau to tiếng giữa công an và thân nhân blogger Điếu cày về lý do tại sao không cho dân vào phòng chờ theo quy định, tại sao không cho thăm gặp, mà chỉ bắt ngồi đợingoài nắng?

“Chúng tôi ngồi ngoài nắng này suốt hơn hai tiếng, mà họ cứ bảo đợi. Cách đây hơn 30 phút, họ có cầm giấy CMND của tôi và cháu Dũng vào trong, nhưng đến giờ vẫn không trả lời gì cả”. Đâylà lời bà Dương Thị Tân trực tiếp tường thuật với chúng tôi tại trước cổng Trại giam số 6.

 
Bà Dương Thị Tân và anh Nguyễn Trí Dũng ngồi phơi nắng ngoài cổng trại để đợi Giám thị và các cán bộ ở trong mát họp và xin ý kiến giải quyết.

Ngồi lâu quá, hai mẹ con – vợ và con – blogger Điếu Cày lại đến hỏi cán bộ xem đã giải quyết đến đâu, thì những người này chỉ bảo “không biết!”

Bà Dương Thị Tân cho VRNs biết: “hai mẹ con sẽ ở đây cho đến khi được giải quyết, để biết rõ tình trạng của ông Nguyễn Văn Hải thì mới về”. Như vậy có thể sẽ có một cuộc tuyệt thực tập thể ngay trước cổng Trại giam số 6, nếu như Giám thị ở đây không làm mọi chuyện rõ ràng, minh bạch theo pháp luật.

Tin bên lề, 11:00 trưa nay 2 vợ chồng luật sư Nguyễn Văn Đài đi mua đồ ngoài siêu thị thì đột nhiên có 6-7 công an mặc thường phục ập đến bắt cho lên xe ô tô trở đi đâu không biết.
PV. VRNs
 

SỐ PHẬN THƠ TRONG BÀN TAY ĐỒ TỂ (Thông Biện Tiên Sinh)

Posted on by

(Lê Thy đánh máy trích từ sách
CÕI NGƯỜI TA - phiếm luận của Thông Biện Tiên Sinh)

coinguoita_biaThi ca là một trong vài thứ mà Thông Biện tôi yêu quý nhất trong cõi đời ba trợn này. Vì thế, hầu như những gì có liên hệ, dan díu, mắc mớ tới thi ca thường bị Thông Biện tôi dòm giỏ tới. Tuy nhiên, dù rất yêu quý thi ca và dĩ nhiên yêu tiếng Việt cũng như nước Việt, Thông Biện lại không thể nào chịu nổi cái câu: “Dân tộc việt Nam là một dân tộc của thi ca. Mỗi người Việt Nam là một… thi sĩ ” Vừa thôi ? Đây là một thứ tự ái dân tộc không nhầm chỗ và lố bịch! Có thể, đa số người Việt Nam yêu thi ca; nhưng một điều chắc chấn, không phải bất cứ người Việt Nam nào cũng đương nhiên. . . hô biến thành thi sĩ hết? Thử đọc:
CẢNH RỪNG VIỆT BẮC
Cánh rừng Việt Bắc thật là hay,
Vượn hót chim kêu suốt cả ngày.
Khách đến thì mời ngô nếp nướng
Săn về thường chén thịt rừng quay.
Non xanh, nước biếc tha hồ dạo,
Rượu ngọt, chè tươi mặc sức say.
Kháng chiến thành công ta trở lại,
Trăng xưa, hạc cũ với xuân này.
(1)
Những câu, ý ngô nghê , gượng gạo gò ép, rỗng sáo và vô duyên như thế đó mà cũng được gọi là thơ lại là một trong 50 bài thơ trữ tình tiêu biểu của Việt Nam từ xưa tới nay, đứng chung với những tên tuổi như Mãn Giác Thiền Sư, Lý Thường Kiệt, Dương Không Lộ, Nguyễn Trải, Nguyễn Bĩnh Khiêm, Nguyễn Du v. .v . . . thì quả là sự phỉ báng thơ tới mức tận cùng ! Bài thơ mang tên ‘Cảnh Rừng Việt Bắc”, câu mở đầu bèn được phang liền tù tì “Cảnh rừng Việt Bắc thật là hay”, làm Thông Biện tôi nhớ tới đầu đề bài luận văn lớp ba của thằng em kế hồi còn nhỏ: “Em Hãy Tá Con Mèo Nhà Em” Thằng bé hân hoan… nhập đề trực khởi rằng: ‘Nhà em có nuôi một con mèo….’ Tuy nhiên sau đó thằng em của Thông Biện có tả con Mướp một cách khá tỉ mỉ theo cái nhìn của cậu nhô 7 tuổi về con mèo nhà mình. Thằng bé đã không có nhập đề rằng thì là : ‘Nhà em có nuôi một con mèo thiệt đẹp… “ hay sao hết. Thằng bé khoe là nhà có nuôi một con mèo, rồi thành thực tả con mèo đó để cho… xấu đẹp tùy người thưởng ngoạn! Đại khái, Thông Biện tôi còn nhớ một câu hết sức dễ thương: “… Lông của nó có những vệt nâu đen dài giống như mấy cái lằn xanh đen dài trên trái mướp ngoài vườn sau, nên Mẹ em đặt tên cho nó là con Mướp. “
Con Mướp có thực và không biết chơi ăn gian. Chung quanh và trên mình con Mướp không có những sáo ngữ và đặc biệt con Mướp không đèo tòng teng ở cổ hai chữ ‘ kháng chiến ” lãng nhách ! Từ đó, cái hay của cảnh rừng Việt Bắc nghe ra có gì không ổn. Người ta thường nói ‘chim kêu vượn hú’, chứ chưa từng có sự vụ ‘chim kêu vươn hót’ ! Vượn mà “hót” thì họa chăng có là con Vượn sắp thành Người của Darwin mà mấy anh Cộng Sản vẫn hàng tin tưởng là thủy tổ của họ. Trong ca dao Nam Bộ, tiếng con vượn hú buồn buồn, văng vẳng:
Má ai đừng gả con xa
Chim kêu vượn hú, biết nhà Má đâu!
Vậy thì, một bài… gọi là thơ vừa dở vừa ngu, vừa dỏm, vừa thiếu cảm xúc như trên, hà cớ hà căn lại được xếp vào danh sách những bài thơ trữ tình tiêu biểu của dòng thi ca Việt Nam ta? Chẳng qua, vì bài thơ đó là của Hồ Chí Minh, Chủ Tịch cái Đảng và Nhà Nước Cộng Sản Việt Nam!
Khi đã biết được tên tác giả của cái gọi là bài thơ trên rồi Thông Biện tôi thiết nghĩ sự việc không còn gì để đáng lấy làm ngạc nhiên nữa hết. Bob Perelman, một nhà thơ hiện đại Hoa Kỳ trong một bài thơ tên Politics, đã mở đầu:
“Once there was a straight line which told how ít got bent.
Someone died and the town was named.
Pittsbure, Piedmont, Emeryville…. ”
(2)
Xin dịch. . . vật theo kiểu Thông Biện:
“Khi đường thẳng sự thật được lệnh phải bẽ cong
Tên đô tể ngủm củ tỏi và thành phố bị đặt tên:
Hố Chí Minh, Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh … ”
Khi chính trị khống chế thi ca, hoặc thi ca bị sử dụng như một công cụ của chính trị, thì thi ca tức thì lâm vào tình trạng trơ trẽn hoặc handicapped. tức là tàn tật và không giống ai. Dĩ nhiên, trước hết nó sẽ chẳng thể nào là thi ca thứ thiệt, mà là một cái mắc dịch gì đó được gọi là thi ca!
Có điều, chính bài thơ của tên đồ tể thì lại tố cáo những sự thật mà bè đảng hằng bao lâu nay dấu diếm. bóp méo, vo tròn để suy tôn lãnh tụ, tuyên truyền lường gạt nhân dân: Nào là Hồ Chủ Tịch ta ăn uống rất đạm bạc, chỉ có mắm cà với lại cơm rau! Vì trong cái bài được gọi là thơ trên, Hồ Chủ Tịch đã dại dột làm bản tự khai là thường cho đàn em đi săn để kiếm thêm chất tươi và cũng thời thịt rừng như điên. Lại còn “rượu ngọt chè tươi mặc sức say ” ….một cách hết sức là tận tình hưởng thụ !
Từ trong hang Pắc Bó Cao Bằng giữa núi rừng Việt Bắc, Bác, tức Chủ Tịch nhà ta đã có rồi những ngón đòn giảo quyệt: Khách lên thì Bác chỉ mời xơi ngô nếp nướng ra chiều thanh cảnh…. Những thịt rừng do đàn em săn về thì Bác mặc sức say cùng với rượu ngọt. . . do ngoại quốc sản xuất. Say xong, vì tiền đồ quốc gia dân tộc, Bác đành phải chơi một bình trà xanh để . . . lai tỉnh mà còn làm chuyện nước chuyện dân ! Nghe đâu, trong người Bác thường có hai bao thuốc lá . . . khác hiệu. Một bao là Phillip Morris của đế quốc Mỹ đầu có cán, Bác chỉ dành hút mình ên . . . những 1 khi vắng vẻ không có . . . khách. Bao còn lại là thuốc nội hóa Văn Điển Nhân Dân này nọ, Bác. . . hy sinh dùng để mời khách!
Trong cái nhìn về thẩm mỹ học của nhân loại, thi ca được biểu tượng như một mỹ nhân thiên kiều bá mị. Nhưng trong lịch sử văn học nhân loại, mỹ nhân thiên kiều bá mị đó lại đã từng bị hãm ‘ hiếp, bề hội đồng, dày vò liên hồi kỳ trận. Nỗi thống khổ của thơ đã chất chồng không biết cơ mang nào mà kể. Nhất là nàng thơ của ngôn ngữ Việt Nam, của dân tộc Việt Nam ! Nhiều người Việt Nam đã nhân danh cái câu bá láp “Dân tộc Việt Nam là dân tộc của thi ca. Mỗi người Việt Nam là một… thi sĩ. “. . . để cưỡng bức thi ca vô tội vạ. Lắm ông, lắm bà, lắm anh, lắm chị đã có nghề nghiệp vững chắc để kiếm tiền, đã có cơ ngơi đầy đủ để chẳng là phải bận tâm gì về vấn đề hậu sự, bỗng nhiên, một ngày đẹp trời lại a thần phù vào ôm ấp nàng thơ. Quý vị này hồ hởi nhào vô lột quần, lột áo nàng thơ một cách thô bạo . . . bằng cách đẻ ra một cái thứ gì đó do cóp nhặt những món cliché cũ mèm từ thời tiền chiến thậm chí tiền … sử, như:
……..
Vì ai
Đeo đẳng chữ tình
Nên khung vườn mộng, in hình bóng xa
Vườn hoa
Bí mật… của ta
Muôn hồng nghìn tía, hoàng hoa nở đầy
………………………………………………..(3)
Tại sao đã “muôn hồng nghìn tía”, mà lại “hoàng hoa nở đầy” là cái con khỉ gì cơ chứ? Hoặc có người còn bào chế ra những món quái dị vô duyên và mặc nhiên xem đó là . . . thơ:
Nhà thơ
Thua cả con chó:
Không biết sủa oăng-oẳng
Và vẫy đuôi cụp cụp
………………………………………………..(4)
Trong trường hợp này, thì tác giả đã tự so sánh mình với con. . . bốn chân là chuyện của cá nhân ông. Nhưng ông đã chơi không đàng hoàng, ông trương hai chữ “nhà thơ” lên như một thứ biểu ngữ để nép mình vào thì là một hành động không lấy gì làm liêm sỉ!
Trở lại với loại thơ “chính trị”, mà Thông Biện tôi đặt tên là loại thơ Cắc Bùm, hãy đọc bốn câu thơ mà Chế Lan Viên ngợi ca là : “Anh biết đưa vào thơ chất diễn ca nói ý làm cho thơ thêm rắn chắc “. Thơ mà “rắn chắc”, trời ạ! Xin . . . rán đọc:
Nắng trưa rực rỡ sao vàng
Trung ương, Chính phủ luận bàn việc công
Điều quân chiến dịch thu đông
Nông thôn phát động, giao thông mở đường..
..(5)
Bốn câu trên, nếu gọi là vè cũng đã là . . . phỉ báng vè, chứ nói nâng nó lên thành thơ, mà lại là thơ… hay vì rắn chắc? Điều đáng lưu ý ở đây, tác giả bốn câu thơ vừa tồi. vừa thủm và thua vè vì vè tuy là vè nhưng không thủm. lại là một nhà thơ Lớn Nhất của nền thi ca xã hội chủ nghĩa tức cộng sản Việt Nam: Tố Hữu! Xem thế, đủ biết, dưới chế độ Cộng Sản, số phận thi ca bầm dập tới mức nào?
Than ôi? ước gì “Dân tộc Việt Nam KHÔNG PHẢI là dân lộc của thi ca?!!”
Virginia, June 6/99
thongbien_sign
CHÚ THÍCH:
1- 50 Bài Thơ Trữ Tình Tiêu Biểu. Văn Hóa Việt Nam Tổng Hợp 1989-1995. Tr. 242.
2- Bon Perelman. The Best American Poetry 1988. John Ashbery, Editor. David Lehman, Series Editọr. Collier Books MacMillan Pub. Co. New York 1988 . Tr. 151 .
3- Sương Mai. Vườn Hoa Của Riêng Ta. Tạp chí Thơ số mùa Xuân 1999. Tr. 84.
4- Huỳnh Mạnh Tiên. Khuyết Đề I. Tạp chí Thơ số mùa Xuân 1999. Tr. 47.
5- Trích thơ Tố Hữu. Chế Lan Viên. Suy Nghĩ và Bình Luận. NXB Văn Học Hà Nội 1971 . Tr. 40.
—>Đêm Ngày Lộn Xộn Vũ Thư Hiên

Trí thức bỗng chốc thành sỏi đá, để lót đường cho Việt cộng dẫm nát miền Nam - Võ Long Ẩn (Nguồn: Hải Ngoại Phiếm Đàm)

Thưa quý vị trí thức được đào tạo dưới mái trường của các nước văn minh tiên tiến Pháp, Âu, Mỹ, Úc cùng các quốc gia phi cộng sản trên thế giới. Quý vị là lớp người mà ông bà ta thường có câu ví là “đẻ bọc điều”; là những người khi sinh ra nằm trong bọc như một lớp màng mỏng bao bọc có màu đỏ (điều) mà còn sống sót, không bị chết ngộp, bởi lớp màng bao phủ từ đầu tới chân, thì đứa bé là có số “ chân mạng đế vương” . Sau này sẽ “công thành danh toại, là bậc trí thức khoa bảng, tầng lớp thượng lưu trong xã hội.

Hôm nay kẻ hèn này mạo muội thưa chuyện cùng quý vị: so về học vấn, kiến thức, tri thức… thì kẻ kèn nay chưa đủ tư cách xách dép, đánh giày cho học trò của học trò quý vị. Nhưng về kinh nghiệm thương đau của dân tộc hai lần “bị giải phóng” lần thứ nhất năm 1945 đến 1954 được lính “cụ Hồ giải phóng” lần thứ nhì là 30-4- 75 được lính “của cụ Nguyễn Hữu Thọ giải phóng” biến thành phỏng d…á…i tuột luốc luôn từ đó tới này biến thành quan hầu cận vua.

Nhận diện những khuôn mặt trí thức làm tay sai cho Việt cộng trong cuộc chiến Quốc Gia Cộng Sản để quý vị trí thức trẻ , suy nghĩ trước khi quyết định “đem chất xám” về phục vụ đảng như lời kêu gọi của nghị quyết 36 cùng Ủy Ban về Người Nước Ngoài của nhà cần quyền CSVN.

Trong bài viết hôm nay, kẻ hèn này nêu lên một số những khuôn mặt từ “trí thức miền Nam” bổng chốc trở thành những nùi giẻ của các em bé đánh giành trên đường phố. Giới trí thức này dốc toàn lực “làm thân khuyển mã” cho tập đoàn lãnh đạo “tư bản đỏ CSVN”nhưng rồi than ôi!

Trong suốt thời gian cuộc chiến tranh, giới trí thức đã tìm mọi cách, mọi phương tiện, mọi danh từ , tổ chức v.v. để tiêu diệt VNCH và kết quả là 30-4-7:.

-Đứng đầu là danh xưng Mặt Trân Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam (MTDTGPMN) Người lãnh đạo là trí thức Nguyễn Hữu Thọ. Quái thai này được sinh ra bởi cuộc hoang dâm của bộ chính trị CSHN với các tên trí thức miền Nam và nó đã bị, cha nó tên sở khanh bô chính trị CSHN bóp mủi chết tháng 7 năm 1976. Sau khi đã hút hết sinh khí “chất xám của trí thức” nay biến thành những nùi giẻ vung vãi trong đống rác.

Những nhân vất “trí thức” du học tại Pháp, “nổi đình đám” gồm: Huỳnh Trung Đồng (đã được Diêm Vương gọi từng là chủ tịch Hội Liên Hiệp Việt Kiều ở Pháp),Nguyễn Ngọc Giao (từng tình nguyện làm thông dịch cho phái đoàn nước VNDCCH, tức CSBV trong suốt những năm hoà đàm Ba Lê) BS Phạm Văn Thủ,TS Lê Văn Hảo,Bs Dương Quỳnh Hoa,Ks Dương Thanh Nghị, Trương Như Tảng… và cò nhiều “trí thức tay sai” Việt cộng không kể hết được.

Trong số nhân vật trí thức , thương đau ôm hận suốt đời là nữ bác sĩ Dương Quỳnh Hoa cựu Bộ Trưởng bộ Y Tế của cái chính phủ ma có tên là Chính Phủ Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam. Bà bị tên phản quốc Phạm Văn Đồng “Khóa mổm” suốt mười năm không cho vén môi. Đành ôm hận để cho tập đoàn CSHN tiếp tục lợi dụng uy tín của bà và gia đình, thân phụ bà là GS Dương Minh Thới.Bà với phu nhân từng du học tại Pháp về nước “nhảy núi” kết hôn với bà tại “mật khu” là ông trí thức Dương Thanh Nghị, người đang nằm trên giường bệnh đã đem 3600 cổ vật của nhạc phụ sưu tập suốt đời , nay cống hiến cho nhà cầm quyền thành phố Saigon, để được lãnh bằng khen trước khi nắm mắt.

Nhân vật thứ hai trong chính phủ ma này là ông Bộ Trưởng Tư Pháp,cũng từng du học tại Pháp, tốt nghiệp bằng cử nhân luật về nước, từng Tổng Giám Đốc công ty đường Việt Nam. Rồi “lên xanh” vào mật khu tận tuỵ làm thân trâu ngựa cho CSHN sai khiến. Sau khi chính phủ của ông (quái thai sinh ra) bị cha nó bóp cổ liệng vào hố rác, những nùi giẻ trí thức có miệng nhai thực phẩm nhưng bị câm. Vì muốn giữ mạng để tiếp tục tiêu thụ thực phẫm nên vắt dò lên cổ chạy sút quần, vượt biên hiện định cư tại Pháp đó là trí thức Trương Như Tảng.

Trong phạm vi bài viết hôm nay xin cống hiến đến quý đọc giả nhà “trí thức” Trương Như Tảng thuộc lớp người “đẻ bọc điều” ông được sinh ra và lớn lên trong một gia đình quyền quý, thuộc giới thượng lưu ở Saigon thời bấy giờ những gia đình ‘danh giá” như gia đình ông thì chỉ đếm trên 10 đầu ngón tay:

Trương Như Tảng (Ảnh Vikipedia)
 Trương Như Tảng : bộ trưởng Bộ Tư Pháp Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam, năm 1976
Nhiệm kỳ : June 8, 1969 – 1978
Sinh 19 tháng 5, 1923(1923-05-19)Chợ Lớn

Trương Như Tảng sinh ra tại Chợ Lớn, trong một trong một gia đình giàu có và thành đạt, gần đúng như sự mong muốn và xếp đặt của cha ông: một bác sĩ, một dược sĩ, một giám đốc ngân hàng và 3 kỹ sư. Sau khi tốt nghiệp trường trung học Chasseloup-Laubat, nơi ông có những người bạn nổi tiếng như Norodom Sihanouk, Dương Quỳnh Hoa, Phạm Ngọc Thảo v.v… ông được gia đình gửi sang Pháp để học ngành dược. Tuy nhiên ông đã bỏ khoa này nửa chừng để chuyển sang học chính trị và luật. Trong thời gian ở Paris, Trương Như Tảng tham gia phong trào chống chiến tranh của Đảng Cộng sản Pháp, vì thế ông bị gia đình cắt viện trợ và phải rửa chén, gọt khoai kiếm tiền sinh sống để có thể tiếp tục con đường vạch ra. Trương Như Tảng cũng từng gặp Hồ Chí Minh vào năm 1946[3]. Năm 1951, ông tốt nghiệp cao học chính trị và cử nhân luật sau đó trở về nước vào năm 1954. (nguồn Vikipedia )

Lược qua một phần nhỏ tiểu sử của nhà “trí thức” TNT ,kẻ hèn này khẩu phục tâm phục sự thành đạt mà thân phụ ông đã dầy công vun trồng được một gia đình “đại phú đại hào” rất hiếm hoi của thời bấy giờ.Nhưng ông đã chọn cho ông một hướng đi đầy chông gai mà cũng quá nhiều gian ác. Thân phụ ông chọn cho ông một hướng đi con đường đầy hoa mộng, thênh thang rộng mở, cho ông lên thiên đàng. Nhưng ông đã chọn con đường xuống địa ngục là làm tay sai cho CSBV để giết hại thân nhân đem tai ương cho dân tộc.

Khi ông bị bắt giam ở nha cảnh sát thân phụ vào thăm và có lời:

"Con à, ba không thể hiểu được con. Con đã bỏ tất cả. Một gia đình êm ấm, hạnh phúc, giầu có - để đi theo bọn cộng sản. Chúng sẽ không cho lại con được mảy may những gì con đã bỏ đi Rồi sẽ thấy. Chúng sẽ phản bội con và con sẽ khổ suốt đời." (5) (nguồn hồi ký TNT do Minh Võ điểm sách, người viết tô đậm và đánh nghiêng)

Sau khi tốt nghiệp từ Pháp về ông đã được chính phủ VNCH trọng dụng ông như trọng dụng những nhân tài khác nhằm mục đích đem kiến thức, tài năng để phục vụ quốc gia, dân tộc nhưng nhà trí thức đã phản bội sự ưu ái của chính phủ Miền Nam:

“Sau khi tổng thống Ngô Đình Diệm bị lật đổ, ông được cử làm tổng giám đốc Công Ty Đường Việt Nam, một công ty quốc gia lớn với trên 5000 nhân viên. Trong thời gian này theo ông cho biết (2) ông đã hoạt động ngầm qua hai tổ chức thân cộng là "Phong trào Tự Quyết" và "Ủy ban bảo vệ Hoà Bình" do bác sĩ Phạm Văn Huyến, cha của nữ luật sư Ngô Bá Thành, điều khiển. Năm 1967, do sự "phản bội" của Ba Trà, một cán bộ cộng sản khác, hành tung của ông bị bại lộ và ông bị cảnh sát quốc gia bắt giam. Nhờ có Trần Bạch Đằng (3) thu xếp với người Mỹ về trao đổi tù binh, ông được phóng thích cùng với vợ của Trần Bặch Đằng để ra bưng hoạt động hẳn cho cộng sản cho đến năm 1976. (nguồn tài liệu nêu trên)

Nhà trí thức TNT “nhảy núi” ra bưng biền hoạt động cho Mặt Trận Dân Tọc Giải Phóng Miền Nam(quái thai của CSBV đẻ ra) và ông ta đã trở thành bộ trưởng bộ Tư Pháp của cái chính phủ Công Hoà Miền Nam Việt Nam, nhưng trong hồi ký “Thằng Việt Cộng “ do ông viết đã không thấy ông nhắc tới ông làm gì trong chức vụ bộ trưởng của ông. Ông đã vô tình hay cố ý bỏ sót điểm quan trọng trong hoạt động “kháng chiến” của chính phủ của ông mà mục tiêu chính là lật đổ chính phủ VNCH mà ông cùng phe đảng, đồng bọn của ông đã làm theo lời dạy của bộ chính trị CSHN và Trung Ương Cục Miền Nam:

Ngày 8 tháng 6 năm 1969 Trương Như Tảng được chỉ định vào chức vụ bộ trưởng bộ Tư Pháp của "chính phủ lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam", do Huỳnh Tấn Phát, một đảng viên cộng sản kỳ cựu, làm thủ tướng. Gần 6 năm trời, từ 8-6-1969 đến 30 tháng 4 năm 1975, trong cuốn hồi ký không hề thấy tác giả nói ông làm gì trong cái bộ đó và nó hoạt động ra sao (4) Đó chính là một điểm khôi hài nhất của cái gọi là chính phủ kia, đồng thời cũng là một lỗ hổng to tướng của cuốn hồi ký. (nguồn như đã nêu trên)

Chắc có lẽ chức bộ trưởng Tư Pháp “hữu danh vô thực” trong cái chính phủ bù nhìn của Huỳnh Tấn Phát tất cả điều hành đều nằm trong tay của Trung Ương Cục Miền Nam dưới sự “chỉ đạo” từ bộ Chính Trị CSHN. Cho nên ông ta cảm thấy xấu hổ không dám viết ra trong hồi ký của ông, đó là điều dể hiểu. Sau ngày đại tang của dân tộc đa số tướng tá chính khách… viết hồi ký không ngoại mục đích : chạy tội và cái ta qua lớn hơn trách niệm đối với quốc gia, dân tộc. Cũng có những vị thì nguyện ôm xuống tuyền đài, không hề để lại một bút tích nào cho hậu thế, làm sử liệu để rút kinh nghiệm tìm một hướng đi cho tương lai.

Đó là điều thiếu sót rất lớn và là trọng trách của những nhân vật có gắn liền đời mình với thời cuộc, với lịch sử thời gian dù ngắn hay dài !!! Trường hợp nhà trí thức Trương Như Tảng không không ngoại lệ. Nhà trí thức Trương Như Tảng tình giấc “Nam Kha” nên đã :

“Vì đã tỉnh mộng, hết tin tưởng ở đảng nên khi được mời làm thứ trưởng bộ Thực Phẩm và Tiếp Tế, ông đã từ chối khéo. Cảm nhận được sự bất mãn của ông, chính Võ Văn Kiệt, lúc ấy là bí thư thành ủy Saigon, đã tìm cách giải thích và khuyến dụ ông nhận một chức nhỏ hơn tại miền Nam. Nhưng ông đã lợi dụng sự tin cẩn của Kiệt để tính chuyện chuẩn bị vượt biên. Ngày 25 tháng 8 năm 1979 ông xuống thuyền làm "thuyền nhân' và hơn một tuần sau thì được một tầu hàng Singapore chở tới đảo Galang, thuộc Indonesia, bắt đầu cuộc sống tha hương” (nguồn nêu trên)

Thưa với trí thức Trương Như Tảng cùng với những trí thức từng làm thân “trâu ngựa” cho CSHN, theo định luật cũng như đức công bằng khi một tòng phạm cùng thủ phạm, can tội giết người cướp của thì cả hai cùng đồng tôi như nhau:

Ngày 30-4-75 , khi đoàn quân của Mặt Trận Giải Phòng Miền Nam với lá cờ nửa xanh nửa đỏ sao vàng, tiến vào thủ đô Saigon. Sư kinh hoàng lo sơ của dân chúng khi nghe đoàn quân “giải phóng”cũng giống như đoàn quân xâm lược của Đức Quốc Xã tiến vào Do Thái, hay đoàn quân của Tần Thủy Hoàng “tốm thâu Lục Quốc”.

Sự lo sợ của quần chúng từ Nam vĩ tuyến là điều có thật lính “Giải Phóng” của các ông tiến tới đâu thì dân chúng bồng bế nhau bỏ chạy về một phương trời vô định, Không biết đi đâu điểm đích là chổ nào miểm là vùng Quốc Gia , nơi đó không có quân giải phóng, nơi đó không có cán bộ cộng sản là dân chúng tìm đến…!!! Nhưng đoàn quân của ông bộ trưởng Trương Như Tảng, nó tàn ác quá, tàn sát nhân dân Việt không thua gì quân của Hitler tàn sát dân Do Thái.

Những trại tập trung “cải tạo” của quân “Giải Phóng CSVN” còn tàn ác hơn lò hơi ngạt của Hitler vì nó giết người ngay tức khắc, không đau đớn, không quằn quại. Tại “cải tạo” vói hình thức hành hạ, con người hơn súc vật, bọn cán bộ”quản giáo” hành hạ quân cán chính VNCH, đau đớn chết dần chết mòn, chết không cò máu để chảy, không còn nước mắt để rơi, và nếu còn sống sót sau khi thả về con người như chết chưa chôn, có xác nhưng không còn hồn…

Hơn cả vài trăm ngàn sinh linh đã chết trên đường trốn chạy sự tàn ác của đoàn đoàn quân xâm lược CSVN, hoặc chết trong rừng sâu,hoặc chết dưới lòng đại dương làm mồi cho cá. Đàn bà, con gái bị hải tạc hãm hiếp, cướp bóc. Người dân bất hạnh không chạy thoát được, họ đã bị tước đoạt tất cả những gì họ có, tài sản, ruộng vườn nhà cửa , kể cả tánh mạng bị đe doạ… Họ đã cam tâm cuối đầu chịu đựng cách thống trị tàn bạo nhất trong lịch sử dân tộc trên 38 năm qua và còn tiếp tục…

Điều nguy hại cho dân tộc, cho tổ quốc là mãnh gian san mà tiền nhân hy sinh xương máu, gầy dựng, gìn giữ nay lần lược mất dần mất mòn vào tay Tàu Cộng do sự hiến dâng của tập đoàn thái thú CS Việt Nam mà ông Trương Như Tảng cùng đồng bọn của cái chính phủ Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam cùng mặt trận Giải Phóng dày khuyển mã ra công đóng góp cho đoàn quân xâm lược tàn sát nhân dân miền Nam. Thưa ông với trách nhiệm to lớn dối với một ông bộ trưởng trong “CÁI” chính phủ ma của các ông bà, mà theo quan điểm của ông thì nó sẽ “công bằng hơn tố đẹp hơn, tự do hơn nhân ái hơn chính quyền của Nguỵ Saigon” nhưng ông đã vở mộng và đã nhìn nhận thân phụ ông khi vào thăm ông đã nói đúng:

“Ông cho rằng trước kia ông cùng với một số trí thức miền Nam khác vốn tin mình tranh đấu cho một miền Nam có một chế độ riêng, và thi hành chính sách hòa hợp hoà giải với phe quốc gia. Nhưng sau 30 tháng tư ông thấy những lời hứa hẹn, cam kết của những Tôn Đức Thắng, Phạm Văn Đồng và Lê Đức Thọ (trang 283-284) chỉ là giả dối. Chỉ một năm sau chiến thắng đảng đã hoàn tất việc thống nhất đất nước, nghĩa là giải tán chính phủ lâm thời cộng hòa miền Nam của nhóm các ông. Không có hòa hợp hòa giải Không có chính phủ ba thành phần. Mà chỉ có đảng, một đảng duy nhất, từ danh xưng đảng Lao động đã đổi ngay sang "đảng Cộng sản Việt Nam". Hơn 300.000 người (con số tối thiểu của ông đưa ra) bị bắt giữ, không có xét xử và không biết ngày về, trong đó có anh em ruột thịt, bà con thân thích, bạn bè của ông, hay của những người tai to mặt lớn trong Mặt trận, kể cả con rể của luật sư Trịnh Đình Thảo, người bạn vong niên của ông.

Sau khi Saigon thất thủ, Trương Như Tảng có dịp liên lạc với gia đình thì được biết cha ông mới qua đời, con gái ông đã được phu nhân tổng thống Thiệu bảo trợ cho đi du học ở bên Mỹ, con trai ông cũng đã sang Pháp, còn mấy người anh em ông thì bị đi "học tập cải tạo", trong đó có một người cho đến khi ông viết xong cuốn hồi ký (1985) vẫn còn ở trong tù. Ông buồn rầu nhớ lại lời cha ông nói lúc vào thăm ông trong nhà tù của tổng nha cảnh sát quốc gia năm 1967 (nguồn như nêu trên)

Thưa trí thức Trương Như Tảng người xưa thường khuyên rằng “đánh kẻ chạy đi, không nên đánh kẻ chạy lại” ...Nhưng cũng tùy trường hợp để áp dụng; Trường hợp của ông và đồng bọn của ông đã tình nguyện trở thành tội đồ của dân tộc: Tội bất hiếu với chính tứ thân phụ mẫu và anh em trong gia đình ông chính ông đã thành lập chính phủ để chính phủ đó đã đem quân chiếm đoạt tài sản và mạng sống của chính người thân của ông, cũng như tội bất trung với toàn dân mà chứng tích còn rành trước mặt, nhưng các ông đã thể hiện tình thần phục thiện mà tội ác đã gây ra cho chính đồng bào ruột thịt như thế nào??? Không lẽ chỉ viết hồi ký thôi sao??? Tội ác gây ra thì trách nhiệm phải gánh lấy mới là anh hùng trong trời đất mới không hổ danh hai chử TRÍ THỨC.

Bài viết với mục đích không phải khơi lại đống tro tàn để tìm đóm lửa hắt hiu sắp tắc, nhưng để nêu lên một, những ...trí thức đã mê muội “ăn phải phân Việt Cộng” ra thân khuyển mã tiếp tay cho CSHN chiếm đoạt miền Nam gây tan thương cho dân tộc. Để làm tấm gương cho “bọn” trí thức đã cam tâm nhục mạ người quân nhân của QLVNCH cũng chính phủ Miền Nam và đã, đang ,tiếp tục đánh giày cho lãnh đạo CSVN bằng lưỡi. Hãy thức tỉnh đi những trí thức hải ngoại, hiện đang trong cơn mê loạn vô minh.

Võ Long Ẩn
16-7-2013

Nguồn: Hải Ngoại Phiếm Đàm
http://motgocpho.com/forums/image.php?u=168&type=sigpic&dateline=1327504562

Gánh nặng lịch sử của Nguyễn Tường Tam - Nhà văn và nhà chính trị- Ai là người có thể gánh nổi? - Nguyễn Văn Lục + Tiểu sử Nhất Linh - Thụy Khuê

<= Nhất Linh - Nguyễn Tường Tam

Tôi đã có dịp được nghe đọc một số bài phát biểu về Hội Thảo Tự Lực Văn Đoàn đã được diễn ra tại hội trường báo Người Việt do ông Phạm Phú Minh tổ chức.

Cái cảm tưởng đầu tiên đến với tôi- về hinh thức- là nó như thể đang diễn ra tại một hội trường ở một nơi nào khác- không phải ở Cali-! Bởi vì nó có bài bản, lớp lang và tổ chức chặt chẽ. Nó không để một khe hở cho cơ hội được nói khác. Dù buổi hội thảo được đại diện bởi con cháu nhiều nhà văn trong TLVĐ từ hai phía, nhưng nó lại nói chung một tiếng nói. Điều đó nên mừng hay nên lo.

Nó đã không dám đả động xa gần gì đến cộng sản cả. Khen cũng như chê. Nó thiếu hẳn thẩm quyền góp ý và phê phán (Autoritativeness). Nó có thể đã không cho phép người nghe phiêu lưu vào những vấn đề được coi là tồn đọng hay nhạy cảm đụng chạm đến uy tín của nhóm TLVĐ.
Đối với người được mời phát biểu thì nó loại trừ ngay từ đầu một cách khéo léo như trường hợp nhà văn Nhật Tiến.

Bài nói chuyện của Nguyễn Tường Triệu về Khái Hưng tiêu biểu cho những thiếu xót vừa nêu trên. Ông chỉ nhắc lại những kỷ niệm tản mạn mà không đề cập hay đánh giá về văn tài của nhà văn này. Nhưng khi đề cập đến cái chết của cha nuôi, ông thật sự xúc động. Nhưng để tránh né công việc phải lên án cộng sản, ông nói vội vàng và chấm dứt rất đột ngột về cái chết bi thảm của người cha nuôi và đột ngột đứng dậy như bị ma đuổi. Tôi đã xem đi xem lại đoạn chót này và cảm thấy bất nhẫn cho ông.

Thật là tội nghiệp cho một người con nuôi có hiếu như ông.

Vì thế, nói chung, các bài phát biểu đều tròn quá, tròn đến độ không thể tròn hơn được nữa. Nó thiếu những nhận thức sắc bén của một tinh thần phê bình, tinh thần tri thức luận (Épistémologie) đòi hỏi nơi một người trí thức trong một buổi hội thảo. Những người mà người ta tin tưởng có thể có tiếng nói khác như Nguyễn Hưng Quốc với tựa đề: Đánh giá lại Tư Lực Văn Đoàn thì không biết ông đã đánh giá như thế nào. Nhưng theo như lời kết luận, ông đã tổng quát hóa một cách vô bằng có tính cách áp đặt khi cho rằng:

"Tất cả chúng ta những người cầm bút, dù thích hay không thích Tự Lực Văn Đoàn thì cũng đã được nuôi dưỡng bằng dòng sữa của Tự Lực Văn Đoàn”. Đi xa hơn nữa ông khẳng định: Tất cả những ai cầm bút thời nay đều phải mang nợ".

Nếu ông muốn chỉ định những người cầm bút lứa tuổi từ 60 trở lên thì còn hiểu được. Nhưng những nhà văn ở lớp tuổi trên dưới 50 còn ở miền Nam hoặc ra hải ngoại- và nhất là các nhà văn miền Bắc- thì họ nợ gì TLVĐ ? Một cô giáo dạy văn ở miền Bắc bây giờ khi được hỏi về Nhất Linh là ai? Cô đã không thể trả lời được. Mong là ông Nguyễn Hưng Quốc thận trọng hơn trong những phát biểu của mình.

Bài thuyết trình của giáo sư Kawaguchi Kenichi về: Tự Lực Văn Đoàn và Văn Học cận đại là một bài viết tệ hại hơn nữa khi cho rằng: Tự Lực Văn Đòan, nền tảng của văn học hiện đại Việt Nam thì chỉ là những nhận xét võ đoán.

Ông đã không đủ tư cách để hiểu được toàn diện văn học miền Nam trước 1975. Sự mời ông làm diễn giả thật không đem lại một soi sáng mới nào về TLVĐ và Nhất Linh.

Tôi cũng tin tưởng vào bà Phạm Thảo Nguyên về những công trình thu góp và số hóa hơn 400 số Phong Hóa và Ngày Nay với đề tài: Câu chuyện Tự Lực Văn Đoàn và những điều chưa nói. Nhưng tôi đã không thu thập được gì vì bà che giấu nhiều quá.

Chẳng hạn, tôi muốn được nghe từ miệng bà Phạm Thảo Nguyên nhiều điều hơn thế nữa về người bố chồng là nhà thơ Thế Lữ. Như về con cái Thế Lữ, các em trai của Thế Lữ. Thế Lữ theo đạo gì? Có phải Thiên Chúa giáo không?

Trường hợp anh Nguyễn Thế Học là con trai của Thế Lữ-nay đã quá vãng - là phu quân của bà Phạm Thảo Nguyên vì lý do nào mà nhà thơ Thế Lữ vào năm 1950 đã gửi con trai út là anh Nguyễn Thế Học vào “đi tu”, tại trường dòng Chúa Cứu Thế, tại Thái Hà Ấp!! Một người đi theo cách mạng, là người cộng sản vô thần, tại sao Thế Lữ lại có thể gửi gấm con mình vào một trường đạo - một nơi chuyên đào tạo giới tu sĩ, linh mục!

Điều ấy phải được cắt nghĩa thế nào, phải được hiểu thế nào?

Sau 1954, một lần nữa, anh Nguyễn Thế Học và gia đình được di cư vào Nam, được nuôi ăn học ở miền Nam và sau trở thành một giáo sư Toán ở Đại Học Khoa Học Sài Gòn? Miền Nam đã đối xử với gia đình Thế Lữ như thế nào?

Thứ nữa, khi gia nhập vào TLVĐ, nhà thơ Thế Lữ trở thành cây bút chủ lực nhằm chế diễu và đả phá một cách ác độc nhất các nhà văn, nhà thơ ở ngoài nhóm!! Bà cũng nên nhắc tới điều này cho phải lẽ.

Bà cũng không cho người nghe được biết chút xíu về cuộc đời hoạt động kháng chiến trong suốt giai đoạn 1946-1954 của Thế Lữ?

Tôi có trong tay cuốn: 100 năm Thế Lữ, do nhà xuất bản Sân Khấu vào năm 2007, độc giả có thể tưởng tượng là trừ lời giới thiệu của nhà xuất bản và tiểu sử có nhắc đến Tự Lực Văn Đoàn một lần, còn trong toàn bộ cuốn sách thì không.

Tôi tự hỏi, không lẽ chỉ vì cái đảng của người bố chồng mà bà phải hy sinh nhiều thứ như vậy?
Nếu chỉ cần những tiếng vỗ tay tán thưởng và những giọt nước mặt chia sẻ thì quả thực buổi hội thảo đã hoàn toàn thành công.

Vì không được tham dự, nó chỉ cho tôi một cảm tưởng thất vọng và sự nghi ngờ về dụng ý của người tổ chức các buổi hội thảo này.

Nói tóm lại, nó chỉ là một hình thức trình diễn văn học một cách vụng về và trống rỗng về nội dung.
Tôi cũng nhận thấy không có mặt những nhà văn như Võ Phiến, Nhật Tiến, gia đình bà Nguyễn Thị Vinh và nhất là Duy Lam. Tôi không thể biết lý do tại sao họ vắng mặt. Có thể là do tuổi già, sức yếu như trường hợp Võ Phiến chăng? Trường hợp Nhật Tiến thì đã có thư xin rút lui ra khỏi buổi hội thảo với lý do như sau:

“Các diễn giả trong suốt hai ngày đều tập trung vào chủ đề “Tự Lực Văn Đoàn” với những công trình tốt đẹp mà Nhất Linh cùng các văn hữu của ông đã thực hiện được. Đây là một nỗ lực hết sức công phu của Ban tổ chức và nội dung các phát biểu đã nêu ra được một bức tranh toàn cảnh rất đẹp đẽ về Văn Đoàn này. Như thế, bài nói của tôi về các sinh hoạt văn hóa của nhả văn Nhất Linh lúc cuối đời (buồn nhiều hơn vui, có những sự thực về tờ Văn Hóa Ngày Nay không thể không nói ra), có thể làm mờ nhạt hào quang của người đứng đầu Tự Lực Văn Đoàn mà Ban Tổ Chức muốn phô bầy”.

Qua đến tháng 6-2013, tôi đã gửi Email tới nhà văn Phạm Phú Minh nêu rõ ý nghĩ của mình và xin ban tổ chức cho tôi được rút tên ra khỏi cuộc hội thảo”.

Sự rút lui của nhà văn Nhật Tiến cho thấy cuộc Hội thảo về TLVĐ thiếu nghiêm chỉnh, thiếu những phản biện..

Cho nên, người tổ chức cũng như các vị được mời phát biểu đã không làm tròn được trách nhiệm của mình.

Còn trường hợp Duy Lam thì sao? Thiếu vắng họ là một thiếu sót lớn.

Một trong khuyết điểm lớn nhất và tai hại nhất của buổi Hội thảo này là ngăn chặn một cách kín đáo và khéo léo những tiếng nói phản biện. Vì thế tư cách những người được phát biểu trở thành một vấn đề ngay cả những vị có uy tín hàng đầu như nhà văn Doãn Quốc Sỹ. Tại sao ông không thể phát biểu với tư cách một nhà văn thành danh- một kẻ sĩ tiêu biểu- trong văn học miền Nam ở giai đoạn 1954-1975 và với tư cách một thành viên trụ cột của nhóm Sáng Tạo. Cuộc đời ông hai lần bị tù đầy từ phía bên kia- phía bố vợ ông-. Ông có thể nói gì về Tú Mỡ với tư cách một người con rể mà từ quan điểm lập trường chính trị đến thẩm định văn học đều rất khác xa nhau… Chê dĩ nhiên là không dám mà khen cũng không dễ. Tôi chưa được đọc bài phát biểu của ông nên chỉ đặt vấn đề tư cách một nhà văn của ông khi đề cập đến những nhà văn ở phía bên kia- dù là bố vợ.

Khuyết điiểm thứ hai không kém quan trọng là họ- ban tổ chức cũng như các vị phát biểu- đã không cắm mốc văn học cho nhóm TLVĐ. Lịch sử văn học trong mỗi thời kỳ bao giờ cũng gắn liền vào một thời điểm nhất định và thường giai đoạn văn học sau đánh dấu bằng sự phủ định giai đoạn trước đó.

TLVĐ đã đánh dấu một thời kỳ vẻ vang và đổi mới về nhiều mặt bằng sự phủ nhận Nam Phong - Phạm Quỳnh.

Nó có giá trị không chối cãi được trong một giai đoạn nhất định.

Nhưng không có điều gì chứng tỏ nó có 80 năm ảnh hưởng không ngừng. Đó là một nhận xét võ đoán và bất công và đó cũng là nhận xét sai lầm tai hại của Nguyễn Hưng Quốc và vị giáo sư người Nhật. Chỉ xét ngay trong thời kỳ sáng chói của TLVĐ thì cũng là một nhận xét gượng ép rồi vì nó đã loại ra nhiều nhà văn, nhà thơ mà tên tuổi của họ không thua gì bất cứ nhà văn nào trong nhóm TLVĐ. Đó là những Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Trần Tiêu, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao.

Lấy gì để có thể so sánh giữa tùy bút của Nguyễn Tuân và truyện ngắn của Thạch Lam? Tách riêng ra thì vị tất ai đã bằng ai, nhưng cộng lại thành một nhóm thì TLVĐ chẳng có ai có thể sánh bằng. Nhưng ca tụng hết mình những nhà văn trong nhóm TLVĐ thì không phải vì thế mà các nhà văn ngoài nhóm nhỏ đi. Nhỏ hay lớn còn do người đọc là người thẩm định chung thẩm.

Sang đến 1954 thì thật sự có đến hai xu hướng văn học trổi bật ở miền Nam.

Một là một mảng văn học miệt vườn với cá tính miền Nam trổi bật với các cây viết như Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Lê Xuyên và kế tiếp với nhiều người khác như Hồ Trường An, Kiệt Tấn. Đọc Bình Nguyên Lộc để thấy cái độc đáo, cái chất Nam bộ từ con người đến cây cỏ đến cái ngôn ngữ, cái phong vị, cái bình dân chất phác trong từng câu chữ của những nhà văn vùng đất mới. Qua văn chương, ta bắt được cái hồn tính của miền Nam. Làm sao Nhất Linh có thể làm được công việc này?
Nó lạ hơn người ta tưởng, nó hay hơn người ta nghĩ, nó mở ra những chân trời mới nó không lui cui trong những phân tích tâm lý ái tình đến nhạt nhẽo của một cô Mùi. Lấy gì của Nhất Linh để so sánh với Rừng Mắm, với Hương Rừng Cà Mâu của hai nhà văn miền Nam tiêu biểu nhất.

Hai là xu hướng tân học, trào lưu tư tưởng mới tiếp thu từ Âu Châu với các nhà văn trong nhóm Sáng Tạo. Hãy khoan nói đến vấn đề hơn kém. Nhưng rõ ràng có một ngã rẽ phủ nhận TLVĐ để từ đó họ có mặt. Nó thể hiện đúng cái luật chơi của lịch sử văn học… Mặc dù được cái ưu thế vì TLVĐ được giảng dạy trong chương trình Việt Văn các lớp Trung Học, vậy mà Nhất Linh cũng đã chấp nhận thua cuộc và xếp lại việc làm báo.

Và chúng ta cùng đọc lại một đoạn văn như một thứ tuyên ngôn văn học, một thứ vỡ bờ quá đà của một Mai Thảo:

“.. Không khí cũ không thở cùng được nữa. Những khuôn vàng thước ngọc xưa không còn ảo tưởng được những kích thước bây giờ. Và đời sống là đi tới. Không lùi, không giậm chân một chỗ.

Trong một thực trạng dầy đặc những chất liệu của những sáng tạo và phá vỡ như vậy, văn học nghệ thuật mặc nhiên không chỉ còn là tả chân Nguyễn Công Hoan, lãng mạn lối Thanh Châu, những khái niệm Xuân Thu, những luận đề Tự Lực. Mà vươn phóng từ một thoát ly để đưa tới một hình thành, hóa thân từ một chặt đứt, bằng những thí nghiệm và những khám phá, chứng minh rằng cái bây giờ ta đang sống tuyệt đối không còn một đồng tình với cái hôm qua đã tách thoát, đã lìa xa. Chất nổ ném vào. Cờ phất, xuống đường, xuống núi. Ra biển ra khơi. Và cuộc cách mạng tất yếu và biện chứng cho văn chương đã bắt đầu, và thơ bây giờ là thơ tự do”


Trích lại Nguyễn Mạnh Trinh, tạp chí văn nghệ, trang 230

Đọc đoạn văn trên thì chỗ nào còn là đất cho TLVĐ, chỗ nào cho Nhất Linh.

Quả thực diện mạo văn học sau 1954 tại miền Nam đã khác trước.

Phải trơ trẽn lắm, người ta mới có can đảm phớt lờ hai dòng văn học này. Cũng phải trơ trẽn lắm mới không thấy chẳng bao lâu sau, số phận Mai Thảo và những nhà văn trong nhóm Sáng Tạo nhường chỗ cho một thứ văn học đặt vấn đề. Với rất nhiều ưu tư và trăn trở, với nhiều cô đơn và tìm tòi, với rất nhiều nhẽ ránh từ dấn thân nhập cuộc đến chán nản buông xuôi.

Đó là dòng văn học thời thế, văn học chiến tranh của thập niên 1970.

Và nói làm chi đến sau 1975 thì trong nước cũng như ngoài nước, TLVĐ chỉ còn hiện diện như một cái tên không hơn không kém.

Ấy là người ta chưa kịp nhắc tới ở phía bên kia với các nhà văn, nhà thơ, sau 1954 trong nhóm Nhân Văn Giai phẩm.

Nhìn lại hai buổi triển lãm và hội thảo này, tôi rất nghi ngờ về mục đich và thiện chí của người tổ chức. Hình như họ đang bị cuốn đi bởi một triều cường nào đó, đi ngược trào lưu lịch sử văn học. Hình như họ tự bịt mắt, đưa ra những đáp số văn học- mà phê bình chẳng phải phê bình-khảo cứu không ra khảo cứu- mà tính cách chèo tuồng như chiếm ưu thế của một thứ văn học phải đạo. Họ nói như những con vẹt mà không cần vận dụng chút suy tư, tính khách quan trong phê bình văn học.

80 năm sau vẽ lên một chân dung văn học như những thần tượng đã rã mục như một hoài niệm văn học. Họ rõ ràng không làm đầy đủ nhiệm vụ của người cầm bút.

Họ đã không gánh nổi cái gánh nặng lịch sử về mặt văn học và chính trị của Nhất Linh để lại.

Những người đã chấp nhận tham dự vào bữa tiệc văn học này một ngày nào đó phải nghĩ lại là mình đã nhầm để một tay cai thầu văn nghệ thao túng và mua chuộc một cách ngây thơ vô số tội.

Và đối với tôi, không gì thô bỉ bằng thứ chính trị hóa văn học.

Trường hợp người con út của nhà văn Nhất Linh- ông Nguyễn Tường Thiết.

Buổi triển lãm và hội thảo về TLVĐ đã kết thúc một cách không đẹp. Tờ Người Việt đã đăng lại bài viết của ông Nguyễn Tường Thiết phê bình kẻ viết bài này.

Trong dòng họ Nguyễn Tường đã có nhiều người thành đạt. Đến ba anh em trở thành nhà văn trong một văn đàn thì kể là hiếm có.

Thời kỳ vàng son của TLVĐ ấy đã được trân trọng và được nhìn nhận… Chỗ của văn đoàn ấy đã được định vị ở một thời kỳ nhất định.

Chân trời văn học miền Nam sau đó đã mở ra nhiều ngã rẽ như một biển văn chương mà những nhà văn đủ loại như những con thuyền vượt sóng ra khơi- đầy lãng mạn-đầy tính phiêu lưu-đầy tham vọng- và đầy chất nghệ sĩ.

Tên tuổi họ mỗi ngày mỗi nhiều. Họ đã đến, họ đã đi, họ đã có mặt và ở một lúc nào đó họ sẽ rời khỏi để lại bao nhiêu tâm tình trong đó có sự trìu mến, sự trân trọng, sự thích hay không thích tùy trường hợp.

Nhưng có một điều chắc chắn chiếu văn học không ai ngồi lâu được. Vừa ngồi nóng đít thì đã có kẻ đến thay thế như thể bị phản bội. Độc giả thích đấy rồi một lúc nào đó ngoảnh mặt quay đi. Và từ Nguyễn Du đến nay, những người cầm bút đều cảm nhận được cái vinh quang bèo bọt đó. Và phải biết chấp nhận nó như thân phận người - thân phận nhà văn - .

Riêng trường hợp Nhất Linh - Ông vừa là nhà văn, vừa là nhà chính trị, đôi khi cả hai như nhập vào nhau đến độ người ta có cảm tưởng Nhất Linh nhà văn đi tìm một Nhất Linh nhà chính trị.

Và có thể cho đến lúc quyên sinh, ông vẫn ở trong trạng thái đi tìm chính mình như một ảo vọng. Và theo tôi, chỉ có Vũ Khắc Khoan mới hiểu rõ về điều này.

Con ông, Nguyễn Tường Thiết quả thực đã không hiểu được người cha của mình và tự đặt cho mình trách nhiệm đi tìm lại một Nhất Linh chỉ có trong tâm tưởng. Ông không thể dựng lại Nhất Linh một mình nên phần lớn, ông muốn dựng lại một hình tượng vóc dáng Nhất Linh qua trung gian những quen biết, những liên hệ văn chương- những nhà văn, những người làm văn học, những người đồng chí của Nhất Linh không thiếu trong một tình tự lịch sự tối thiểu đối với một khuôn mặt văn học lớn. Đó là những người như Võ Phiến, Thụy Khuê, Nguyễn Liệu, Trương Bảo Sơn, Nguyễn Tường Bách, Phạm Phú Minh, Linh Bảo, Nguyễn Thị Vinh, Bùi Bích Hà, Huy Cận. Và gần đây,- mặc dầu ông là một người quốc gia chân chính- với sự cẩn trọng và e dè, thăm dò thiện chí của bên kia, ông dấn thêm một bước nữa, đi đồng thuận với những người mà trước đây cha ông coi là kẻ thù. Từ thù đến bạn chỉ vì cha của ông được họ tôn vinh trở lại. Lẽ dĩ nhiên, ông tự nhủ chỉ bắt tay họ trong phạm vi văn học và những gì liên hệ đến cha mình.

Nhưng đây quả thực là con dao hai lưỡi.

Trong số những người vừa kể trên, bà Thụy Khuê đã có lần nhìn rõ được chân tướng Nguyễn Tường Thiết đã mạnh dạn khuyên Nguyễn Tường Thiết như sau:

“Hôm nọ trong đêm giao thừa: tôi có mạo muội “khuyên” anh: Nên rút ông Nhất Linh ra ngoài, để đi con đường riêng của mình. Và trong thư mới viết cho tôi, anh có ý ngại, anh băn khoăn: Nếu “ bỏ Nhất Linh đi” thì liệu có còn cảm hứng để viết nữa hay không? Bây giờ đọc xong hồi ký của anh thì tôi chắc chắn hai điều: về cảm hứng, tôi nhớ Nhất Linh có khuyên Bình Nguyên Lộc: “Không có chuyện cảm hứng gì cả, mỗi ngày bắt buộc mình phải ngồi viêt một hai trang thì cảm hứng sẽ đến”. Điều này trước đây tôi cũng học được của Nguyễn Hiến Lê. Còn câu “rút Nhất Linh ra” thì nay tôi xin “rút lại”, kể như không nói, anh muốn viết gì thì viết, miễn là anh thành thực với chính mình như anh vẫn làm từ trước tới nay, như trong cuốn sách này”.

Nguyễn Tường Thiết, Nhất Linh, cha tôi, trang 320-321

Điều này cũng cho thấy rõ hơn thân phận tầm gửi, ông sống nhờ cái bóng của cha mình.

Trước khi tóm tắt tắt tất cả những gì tôi đã viết về Nhất Linh- điều mà từ đó đã gây một sự thịnh nộ quá tải nơi ông Nguyễn Tường Thiết-… Tôi hiểu và chia sẻ được với ông với tư cách một người con. Ở trường hợp tôi, có thể tôi cũng hành xử tương tự.

Tôi cũng nhân tiện xin lỗi ông về lá thư của ông gửi cho tôi trong bài viết đầu tiên của tôi. Sau đó, tôi đã vô tình giữ lại lá thư trong một bài viết khác đã có nhiều sửa đổi.

Còn ngoài ra, tất cả những lời tố cáo khác về tôi, tôi không nhìn nhận.

· Thứ nhất, theo thói quen viết biên khảo, tôi không viết điều gì nếu không có dẫn chứng, hoặc nhân chứng (Oral History).

· Thứ hai, những nhà văn như Thế Uyên và nhất là Duy Lam thuộc dòng ngoại của nhà văn- dù có khác biệt chính kiến với một số người thuộc dòng họ Nguyễn Tường-, các anh ấy trước sau đều có sự kính trọng Nhất Linh với tư cách người bác ruột, tư cách một nhà văn và tư cách một người đồng chí. Tôi phải viết về điều này, vì trong những bản Tự Thuật lúc cuối đời, Thế Uyên bầy tỏ sự bực bội vì có một vài anh em trong dòng họ Nguyễn Tường từ chối ngay cả tư cách họ hàng ruột thịt với người Bác-nhà văn- với một lý do thiển cận là anh thuộc dòng họ ngoại. Đôi khi anh phải viện dẫn cả mẹ ruột mình- bà Nguyễn Thị Thế- cho những luận cứ của anh… Mong là những người trong dòng họ Nguyễn Tường điều chỉnh lại cái nhìn về Thế Uyên, mặc dầu ai cũng biết Thế Uyên có vẻ ngang tàng, khác người. Trước sau các anh ấy cũng vẫn hãnh diện về người bác của mình và dòng họ.]

· Phần tôi, tôi đã không phải chỉ viết phê phán Nhất Linh mà thôi. Đã có những bài khác viết công bình và trân trọng về vai trò và chỗ đứng của TLVĐ và Nhất Linh trong Văn Học thời Phạm Quỳnh và thời Sáng Tạo. Trong thứ ngôn ngữ phê bình, tôi đã đi xa và đào sâu vào những điều được coi là cấm kỵ và từ đó nhiều người đọc đã gán ghép vô bằng như: âm mưu đưa Nhất Linh vào nhà thương điên. Thú thực, chưa bao giờ tôi dùng ngôn ngữ xúc phạm như thế đối với một người như Nhất Linh.

· Tuy nhiên, tôi quyết bảo vệ những luận điểm mà tôi coi là những điểm yếu của Nhất Linh về mặt văn chương cũng như chính trị.


Về mặt văn chương:

· Tôi chỉ công nhận một Nhất Linh tiền chiến, thành công và rực rỡ về nhiều mặt- chủ yếu là mặt văn chương, còn về mặt xã hội có hạn chế-, và đặt một ranh giới về Nhất Linh sau 1954 đã đi tới chỗ thoái trào. Đó cũng là quan điểm của nhiều người như Phạm Thế Ngũ, Võ Phiến, Duy Lam và Thế Uyên.

· Mặt khác, tôi công nhận bên cạnh nhóm TLVĐ, còn có nhiều nhà văn, nhà thơ cũng sáng chói chả thua gì các nhà văn trong nhóm TLVĐ, nhưng đã bị bỏ quên, bỏ qua, một cách oan nghiệt lúc sinh thời, sống nghèo túng như các nhà văn Vũ Trọng Phụng và Nam Cao.

· Mặt yếu kém của TLVĐ là kéo bè, kéo nhóm bôi xấu, chế diễu, dìm dập các nhà văn ngoài nhóm mà hầu hết cách này cách khác trở thành nạn nhân của TLVĐ. Tôi không biết, trong buổi hội thảo đã có ai đủ can đảm đề cập đến vấn đề này hay không.

[I]· Một chuyện nhỏ, để bào chữa sự cho thất bại của Văn Hóa Ngày Nay, ông Nguyễn Tường Thiết đã cứ cố tình đổ trách nhiệm cho ông TT Ngô Đình Diệm dìm dập Nhất Linh qua nhà phát hành Thống Nhất, không chuyển báo đi. Ông Diệm thì giờ đâu mà toan tính những chuyện nhỏ nhoi thù vặt như thế. Tôi đã hỏi anh Duy Lam, anh nói báo VHNN đóng cửa vì lỗ lã. Tôi cũng chờ đợi nhà văn Nhật Tiến sẽ nói rõ về điều này một lần nữa trong nay mai..Tôi cũng yêu cầu ông Nguyễn Tường Thiết đọc cuốn Hồi ký Đời tôi của ông Nguyễn Liệu- một đồng chí của Nhất Linh- trong đó ông Nguyễn Liệu sau 1963, ra báo Xuân, rồi không lo lót nhà phát hành- rất tiếc ông không nêu rõ nhà phát hành nào- và họ đã dìm không phát hành tờ báo Xuân đưa đến cảnh lỗ lã. Qua chuyện này, tôi rửa oan cho Ông TT Ngô Đình Diệm.

Nguyễn Liệu, Hồi ký đòi tôi, trang 306

· Cuối cùng, tôi xin đưa ra một tư liệu trong một cuốn sách xuất bản năm 2006, trong sự dè dặt thường lệ, mà các tác giả cuốn sách hiện còn sống. Đó là cuốn: 100 khuôn mặt Văn Nghệ sĩ của Hồ Nam và Vũ Uyên Giang, trong đó có đề cập đến trường hợp nhà văn Nhất Linh nhận tiền của CIA Mỹ.

Với một lối viết trào phúng có kể lại một lần nhà báo Lý Thắng Lê Văn Tiến- quen biết với Nhất Linh như tư cách đàn em, nhưng cũng là người quen biết bác sĩ Trần Kim Tuyến- đã rủ tác giả lên Đà Lạt cùng với nhà văn Đỗ Đức Thu và nhà văn Tchya Đái Đức Tuấn, tức Mai Nguyệt- người phụ trách Mục Nói hay Đừng trên tờ báo Tự Do cùng với họa sĩ Nguyễn Gia Trí.

Xin trích lại lời tiết lộ của nhà báo Lý Thắng Lê Văn Tiến:

Theo sự tiết lộ của Lý Thắng Lê Văn Tiến thì sau khi nhận làm cố vấn sáng lập Trung Tâm Văn Bút Việt Nam Cộng Hòa, nhà văn Nhất Linh đã chịu nhận sự yểm trợ ngầm của một tổ chức Văn Hóa Mỹ ra tờ Nguyệt san Văn Hóa Ngày nên ông sắp giã từ vùng suối Đa Mê xuống Sài Gỏn làm báo với Duy Lam Nguyễn Kim Tuấn, Nguyễn Thị Vinh, Trương Bảo Sơn và mời họa sĩ Duy Thanh giúp phần minh họa cho Văn Hóa Ngày Nay.

Xin đọc một đoạn kế tiếp để chứng tỏ sự thật như thế nào:

Lý Thắng lấy gà quay, thịt quay, thịt nguội, rau sống bầy ra với hai chai Martelle Cordon Bleu. Nhà văn Nhất Linh cầm một chai Martelle mở nút đưa lên mũi hít hít rồi nói:
- Mình ghét Tây, nhưng mê rượu Tây, Martelle là thứ Cognac không chê vào đâu được, phải không Tchya?
- Anh nói chí phải nếu uống rượu Pháp thì phải uống Martelle Cordon Bleu.
- Cậu còn nhớ cái bận mình lưu vong ở Hồng Kông?
- Quên sao được anh? Tchya nhớ nhất là bữa nhậu lẩu cá trên núi với anh và Nguyễn Gia Trí. Bữa đó mình chơi hết mấy chai Mao Đài, cái anh Mao Đài phủ Thiệu Hưng cũng tuyệt đấy chứ anh .(…)
- Tại sao anh không cản giáo gian(Vũ Hồng Khanh) ký hiệp định mồng 6 tháng ba?
- Cái tay giáo gian này lôi thôi lắm, hắn là một tay quân phiệt hoạt đầu, ký xong Hiệp định mùng 6 tháng ba bị vụ Ôn Như Hầu sợ quá, cũng ba chân bốn cẳng chạy sang Tàu, sau đó về làm Bộ Trưởng Thanh niên cho Nguyễn Văn Tâm, cách mạng với chính trị gì hắn. Thôi ta thưởng thức Martelle Cordon Bleu đi đừng nói chuyện vớ vẩn nữa.(..)
- Cậu( ám chỉ Lê Văn Tiến) là người gần cả Tuyến lẫn Nhu, cậu thấy hai nhân vật này thế nào?
- Ông Nhu có lần nói với em rằng nhà họ Nguyễn Tường chỉ có anh Long ( nhà văn Hoàng Đạo) là đáng kể, Việt Minh đã xơi tái Hoàng Đạo ở Quảng Châu rồi thì họ Nguyễn Tường coi như đoàn xe lửa không còn đầu nữa nằm ì một chỗ. Nếu ngày 19 tháng 8 Hoàng Đạo không bị bệnh thương hàn khiến Nguyễn Xuân Chữ bất đắc dĩ phải làm quyền Khâm Sai Bắc Kỳ thì làm sao Việt Minh cướp được chính quyền ở Hà Nội . Giải pháp Bảo Đại hư cũng vì Việt Minh xơi tái được Hoàng Đạo ở Quảng Châu. Tuyến chỉ là người của hành động làm sao sánh được với Nhu, Tuyến là người biết người biết ta thể nào cũng có một ngày chống lại Nhu, em giúp Tuyến là để chờ ngày đó.

Trích 100 khuôn mặt Văn Nghệ sĩ, Hồ Nam- Vũ Uyên Giang, trang 296

Phải chăng vì những nhận xét như trên đụng chạm đến tự ái đưa đến sự thù oán chế độ cũng như việc chào cờ và phải suy tôn Ngô Tổng Thống đã làm Nhất Linh tức giận bỏ ra khỏi rạp ciné như lời Nguyễn Tường Thiết kể lại?

(Còn tiếp một kỳ)
© Nguyễn Văn Lục


NGUỒN
http://img.photobucket.com/albums/v727/ttl/avatar/TTL3c.jpg

***

Tiểu sử Nhất Linh



 Nhất Linh, tên thật là Nguyễn Tường Tam(1), sinh ngày 25 tháng 7 năm 1906, tại huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương, trong một gia đình sáu trai, một gái. Trừ người anh cả Nguyễn Tường Thụy, là công chức không dính líu đến văn nghệ và chính trị, từ người anh thứ hai Nguyễn Tường Cẩm, mất tích ở gần Hà Nội, đến Nhất Linh - Nguyễn Tường Tam, Tứ Ly Hoàng Ðạo - Nguyễn Tường Long, Nguyễn Thị Thế, Thạch Lam - Nguyễn Tường Lân và bác sĩ Nguyễn Tường Bách, đều là những người tham dự vào văn chương. Nguyễn Thị Thế và Nguyễn Tường Bách viết hồi ký về gia đình Nguyễn Tường; và năm anh em Nhất Linh có những đóng góp tích cực trong việc quản trị các cơ sở báo chí và nhà in của Tự Lực Văn Ðoàn.
 Thích văn chương từ nhỏ, năm 16 tuổi Nhất Linh làm thơ đăng báo Trung Bắc Tân Văn, và năm 18 tuổi, có bài Bình Luận Văn Chương Về Truyện Kiều trong Nam Phong Tạp Chí.
 Cuối năm 1923 đậu bằng Cao Tiểu. Nhưng vì chưa đến tuổi vào trường cao đẳng, nên làm thư ký sở tài chính Hà Nội, kết duyên văn nghệ với Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu, viết Nho Phong. Lấy vợ và theo ban cao đẳng. Lúc đầu, năm 1924 học thuốc được một năm thì bỏ, chuyển sang học Mỹ Thuật, được một năm cũng bỏ.
 1926, Nguyễn Tường Tam vào Nam, gặp Trần Huy Liệu, Vũ Ðình Di định cùng làm báo. Nhưng vì tham dự đám tang Phan Chu Trinh, hai người này bị bắt, Nguyễn Tường Tam phải trốn sang Cao Miên, sống bằng  nghề vẽ và tìm đường đi du học.
 1927 du học Pháp. Ðậu cử nhân khoa học. Ở Pháp ông nghiên cứu về nghề báo và nghề xuất bản.
 1930 trở về nước. Nhất Linh cùng hai em là Hoàng Ðạo và Thạch Lam xin ra tờ báo trào phúng Tiếng Cười, nhưng thiếu tiền, chưa ra được báo thì giấy phép quá hạn, bị rút.
 Từ 30 đến 32, Nguyễn Tường Tam dạy tư ở các trường Thăng Long và Gia Long. Ở đây ông quen với Trần Khánh Giư - Khái Hưng. Sẵn có tờ Phong Hóa của giáo sư Phạm Hữu Ninh vừa đình bản, Nhất Linh mua lại và tục bản tờ Phong Hóa.
 Kể từ ngày 22 tháng 9 năm 1932, báo Phong Hóa ra 8 trang lớn, chú trọng về văn chương và trào phúng, tạo ra ba nhân vật điển hình: Xã Xệ, Lý Toét và Bang Bạnh.
 Tự Lực Văn Ðoàn được thành lập năm 1933 với 7 người: Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, Hoàng Ðạo, Tú Mỡ, Nguyễn Gia Trí và Thế Lữ. Về vai trò lãnh đạo của Nhất Linh, Tú Mỡ kể lại:
 "Anh Tam thuê một cái nhà nhỏ ở ấp Thái Hà để mấy anh em làm việc. Tôi đi làm thì chớ, về đến đấy bàn bạc về cái tôn chỉ của nhà báo và soạn bài vở dự bị cho đủ in trong sáu tháng. Anh Tam vừa viết, vừa vẽ. Anh đặt ra mục này, mục nọ, giao cho mọi người. Anh có lối làm việc rất khoa học. Anh đã giao cho ai việc gì thì chỉ có chuyên việc ấy. Nhiều lúc tôi muốn viết những bài thuộc về loại khác, anh khuyên chỉ nên chuyên về một lối. Có lẽ là một điều rất hay cho chúng ta. Tôi có thể nói, anh Tam là người đã tạo ra Tú Mỡ vậy.2"
 Năm 1936, Phong Hóa bị đóng cửa vì Hoàng Ðạo viết bài châm biếm Hoàng Trọng Phu.
 Tờ Ngày Nay -trước đã ra kèm với Phong Hóa- tiếp tục và kế tiếp Phong Hóa. Tháng 12 năm 1936, trên báo Ngày Nay, Nhất Linh phát động phong trào Ánh Sáng cùng nhóm Tự Lực, chống lại các nhà ổ chuột ở các khu lao động.
 Năm 1939 Nguyễn Tường Tam lập đảng Hưng Việt, sau đổi thành Ðại Việt Dân Chính. Hoạt động chống Pháp của nhóm Tự Lực trở thành công khai.
 Năm 1940, Hoàng Ðạo, Khái Hưng, Nguyễn Gia Trí bị Pháp bắt, bị đầy lên Sơn La, đến 1943 mới được thả. Trong thời gian này, Thạch Lam và Nguyễn Tường Bách tiếp tục quản trị tờ Ngày Nay.
 Cuối năm 1941, Ngày Nay bị đóng cửa.
 1942 Nhất Linh chạy sang Quảng Châu, Thạch Lam mất tại Hà Nội vì bệnh lao.
 Tại Quảng Châu, Liễu Châu, gặp Nguyễn Hải Thần và Hồ Chí Minh mới ở tù ra, Nguyễn Tường Tam cũng bị giam 4 tháng. Trong thời gian từ 42 đến 44, ông học Anh văn và Hán văn, hoạt động trong Cách Mạng Ðồng Minh Hội, rồi về Côn Minh hoạt động trong hàng ngũ Việt Nam Quốc Dân Ðảng. Sự tranh chấp, bắt bớ và thủ tiêu giữa hai đảng Việt Minh và Việt Quốc càng ngày càng gia tăng. Giữa năm 1945, Nguyễn Tường Tam trở về Hà Giang với quân đội, nhưng rồi lại quay lại Côn Minh và đi Trùng Khánh. Giai đoạn này đã được phản ánh trong Giòng Sông Thanh Thủy.
 Theo lệnh của Nhất Linh từ Trung Quốc gửi về, báo Ngày Nay lại tục bản, khổ nhỏ, ngày 5 tháng 3 năm 1945 và trở thành cơ quan ngôn luận của Việt Nam Quốc Dân Ðảng, với Hoàng Ðạo, Khái Hưng, Nguyễn Gia Trí và Nguyễn Tường Bách.
 Biến cố 19 tháng 8 năm 1945 bùng nổ. Việt Minh lên nắm chính quyền. Ngày Nay bị đóng cửa và phân tán.
 Sau chiến tranh Việt Pháp ngày 19 tháng 12 năm 1946, Khái Hưng rời Hà Nội, tản cư về quê vợ ở Nam Ðịnh. Tại đây, bị công an Việt Minh bắt, ông bị thủ tiêu năm 1947.
 Hoàng Ðạo và Nguyễn Tường Bách sang Trung Quốc. Hoàng Ðạo mất ở Quảng Châu tháng 8 năm 1948.
 Thời điểm năm 1946, Việt Minh và Quốc Gia chủ trương hòa hoãn và hợp tác. Ðầu tháng 6 năm 1946, Nguyễn Tường Tam trở về Hà Nội. Hợp tác với chính phủ liên hiệp kháng chiến, giữ ghế bộ trưởng ngoại giao, cầm đầu phái đoàn Việt Nam dự hội nghị trù bị Ðà Lạt. Ðược cử làm trưởng phái đoàn đi dự hội nghị Fontainebleau, nhưng ông từ chối và bỏ sang Tầu, gặp cựu hoàng Bảo Ðại, và ở lại Trung Hoa 4 năm.
 Năm 1951, ông trở về Hà Nội và tuyên bố không thuộc đảng phái nào, không hoạt động chính trị.
 Vài tháng sau, vào Nam, mở nhà xuất bản Phượng Giang, tái bản những sách Tự Lực Văn Ðoàn.
 Năm 1953 lên Ðà Lạt ở ẩn, sống với hoa lan ven suối Ða Mê.
 1958 rời Ðà Lạt về Sài Gòn, chủ trương tờ Văn Hóa Ngày Nay, phát hành được 11 số thì bị đình bản.
 Dính líu đến vụ đảo chính ngày 11 tháng 11 năm 1960, ông bị chính quyền Ngô Ðình Diệm gọi ra xử ngày mùng 8 tháng 7 năm 1963. Nhất Linh uống thuốc độc tự tử ngày mùng 7 tháng 7 năm 1963.
 Trong 40 năm hoạt động văn học và chính trị, Nhất Linh đã hoàn thành trên 20 tác phẩm, và những sách sau đây đã được xuất bản:
 Nho phong, viết năm 1924
 Người quay tơ, 1926
 Anh phải sống, viết chung với Khái Hưng  1932-1933
 Gánh hàng hoa, viết chung với Khái Hưng  1934
 Ðời mưa gió, viết chung với Khái Hưng  1934
 Nắng thu, 1934
 Ðoạn tuyệt, 1934-1935
 Ði Tây, 1935
 Lạnh lùng, 1935-1936
 Hai buổi chiều vàng, 1934-1937
 Thế rồi một buổi chiều, 1934-1937
 Ðôi bạn, 1936-1937
 Bướm trắng, 1938-1939
 Xóm Cầu Mới, 1949-1957
 Viết và đọc tiểu thuyết, 1952-1961
 Giòng sông Thanh Thủy, 1960-1961
Thụy Khuê
Paris 1996
Chú thích:
1 Theo tiểu sử Nhất Linh, Nguyễn Ngu Í, Sống Và Viết Với ..., Sàigòn 1966, Xuân Thư in lại, không đề rõ xuất xứ và năm tái bản. Trong phần chú thích, Nguyễn Ngu Í viết: "Tiểu sử này, do chính Nhất Linh đọc cho tôi viết và đã xem lại trước khi in, tôi xin giữ trọn vẹn và không thêm đoạn đời từ thu 1954 đến thu 1963, để giữ chút kỉ niệm về anh. Khi tái bản sẽ in bổ túc." Và Nguyễn Ngu Í mất tháng 8 năm 1977 tại Sài Gòn. Hình như sách chưa tái bản khi còn sinh thời Nguyễn Ngu Í, cho nên chúng ta không có được phần tiểu sử Nhất Linh từ 54 đến 63, do chính Nhất Linh biên soạn.
2 Trích Chân Dung Nhất Linh của Nhật Thịnh, trang 128-129, Ðại Nam tái bản, không đề rõ xuất xứ và năm tái bản, Tú Mỡ trả lời Lê Thanh trong bài "Phỏng vấn các nhà văn".

© Copyright Thuy Khue 1996, 2002
http://thuykhue.free.fr/tk02/NHLINH01.html 

ĐIỂM BÁO RFI: NGA : Độc tài kiểu Putin + Phản ứng của Phương Tây + Tổng thống Hàn Quốc dưới sức ép của xì-căng-đan gián điệp + Nhật Bản : Chủ nghĩa dân tộc cực đoan sẽ dâng cao ? + Các tập đoàn tin học khổ vì kinh tế Châu Á mất đà

Thứ sáu 19 Tháng Bẩy 2013

Cảnh sát chống bạo động bắt giữ một người biểu tình ở Matxcơva chống lại bản án dành cho nhà đối lập Navalny, ngày 18/07/2013.
Cảnh sát chống bạo động bắt giữ một người biểu tình ở Matxcơva chống lại bản án dành cho nhà đối lập Navalny, ngày 18/07/2013.
REUTERS/Tatyana Makeyeva

Lê Phước
Hôm qua, tại Nga, nhà đối lập Alexei Navalny bị tòa án xử 5 năm tù vì tội biển thủ công quỹ. Navalny bị cáo buộc biển thủ 16 triệu rúp (380.000 euro) khi ông là cố vấn của Thủ hiến vùng Kirovles. Là một blogger chống tham nhũng nổi tiếng tại Nga, Navalny bắt đầu thu hút dư luận kể từ năm 2011 khi đứng ra kêu gọi người dân xuống đường chống Putin. Việc ông bị kết án đã dành sự chú ý đặc biệt của báo chí Pháp hôm nay. Tất cả các tờ báo đều cho rằng, bản án mang động cơ chính trị.

Theo các tờ báo, động cơ chính trị ở đây tức là bản án dành cho nhà đối lập Navalny được tiến hành theo chỉ thị của điện Kremli, chứ không phải dựa vào luật pháp và chứng cứ. Quan điểm đó được các tờ báo thể hiện ngay trong các dòng tít. Nhật báo cánh tả Libération chạy tựa lớn trên trang nhất : « Độc tài theo kiểu Putin ». Nhật báo cánh hữu Le Figaro đăng bài : «Năm năm tù cho đối thủ của Putin ». Tờ báo kinh tế Les Echos cũng chạy tít tương tự : « Án tù dành cho một người chống đối Putin », nhật báo Công Giáo La Croix cũng có bài : «Nhà đối lập chính của Putin ở tù ».
Các tờ báo đều đồng loạt nhắc lại rằng, ông Navalny là gương mặt đối lập trọng yếu của Tổng thống Putin và Đảng Nước Nga Thống Nhất. Navalny là ứng viên chức Đô trưởng Maxtcơva trong cuộc bầu cử vào tháng Chín tới. Ông cũng được xem là ứng viên có trọng lượng trong cuộc bầu cử Tổng thống năm 2018. Navalny cũng chính là người đã làm lan rộng quan điểm cho rằng Đảng Nước Nga Thống Nhất là « Đảng của những kẻ lừa đảo và trộm cắp ». Từ đó, các tờ báo cho rằng, ông Navalny là đối tượng cần loại trừ của chính quyền Putin và không ngại cho rằng, bản án nói trên được thừa hành theo lệnh của Điện Kremli.
Trong bài xã luận mang tên « Theo lệnh », Libération cho rằng: « Navalny là nạn nhân cuối cùng của cựu đại tá KGB Putin. Vị cựu đại tá này không chấp nhận bất kỳ sự chống đối nào đối với quyền lực tuyệt đối của ông ». Bài xã luận cũng nhắc lại một số bản án bị cho là có động cơ chính trị theo lệnh của điện Kremlin. Bài xã luận nhấn mạnh, tại Nga, nhiều nhà báo, nhiều nhà đấu tranh bảo vệ nhân quyền, đã bị giết hoặc bị loại trừ bởi «bọn tay sai » của nhà cầm quyền.
Để làm sáng tỏ hơn cái gọi là « sự độc tài theo kiểu Putin », Libération cho biết thêm, tại Nga, các tổ chức phi chính phủ bị coi là gián điệp ngoại bang. Tòa án, cảnh sát cũng như các phương tiện truyền thông, tất cả đều làm theo lệnh của tổng thống Putin.

Phản ứng của Phương Tây

Lập tức phương Tây đã lên tiếng chỉ trích bản án nói trên. Chính phủ Đức cho rằng bản án là « quá nặng » so với tội mà ông Navalny bị cáo buộc. Đại sứ Mỹ tại Nga nhận định đó là một bản án « có động cơ chính trị ». Lãnh đạo ngoại giao Liên Hiệp Châu Âu nhấn mạnh : « Bản án này đặt ra nhiều câu hỏi nghiêm túc về tình trạng pháp quyền tại Nga ». Bộ Ngoại giao Anh và Pháp cũng đều có phản ứng và đều cho rằng « lấy làm quan ngại ».
La Croix bàn thêm về quan hệ Nga-Mỹ. Tờ báo cho rằng, gần đây, quan hệ song phương đã gặp sóng gió về hồ sơ cựu nhân viên CIA Snowden. Và giờ đây, La Croix cảnh báo, coi chừng bản án Navalny sẽ làm cho cơn sóng gió ngoại giao giữa hai nước tăng thêm.

Tổng thống Hàn Quốc dưới sức ép của xì-căng-đan gián điệp 

Nhìn sang Châu Á, Le Monde quan tâm đến xì-căng-đan cơ quan tình báo Hàn Quốc (NIS) bị cáo buộc đã ngầm giúp bà Park Geun Hye giành chiến thắng trong cuộc bầu cử Tổng thống hồi năm ngoái. Le Monde cho biết : « Cải cách cơ quan tình báo bị bế tắc ».
Tờ báo cho biết, phe đối lập đã tranh thủ cơ hội này gây sức ép đối với Tổng thống Park Geun Hye và đặt vấn đề đối với chiến thắng của bà hồi tháng 12 năm ngoái. Hàng ngàn người cũng đã bất chấp trời mưa tập hợp trước trụ sở của tòa thị chính Seoul kêu gọi Tổng thống Park Geun Hye « chịu trách nhiệm » xì-căng-đan bầu cử nói trên.
Trong bối cảnh đó, bà Park Geun Hye vẫn luôn phủ nhận đã được sử hỗ trợ của phe tình báo. Le Monde cho hay, bà đang ra sức «dập tắt » xì-căng-đan với sự hỗ trợ của một bộ phận lớn giới truyền thông trong nước. Tờ báo cũng cho biết, Quốc hội đã quyết định mở điều tra về vụ việc và trên nguyên tắc là đã bắt đầu từ ngày 2/7, nhưng đến hiện tại công việc điều tra vẫn chưa bắt đầu. Còn về đề nghị của phe đối lập trong việc cải tổ NIS để cơ quan này không nhúng chân vào công việc chính trị nữa, thì Le Monde cho hay, Tổng thống Park Geun Hye chỉ yêu cầu cơ quan này « tự đổi mới ».

Nhật Bản : Chủ nghĩa dân tộc cực đoan sẽ dâng cao ?

Nhìn sang Nhật Bản, nhật báo kinh tế Les Echos có bài : « Thủ tướng Nhật sắp thắng cử», dự đoán rằng Đảng của ông Abe sẽ chiến thắng trong cuộc bầu cử Thượng viện dự kiến diễn ra vào Chủ nhật tuần này.
Tờ báo cho biết, nếu giành chiến thắng lần này, đảng LDP sẽ kiếm soát cả lưỡng viện Quốc hội, và như thế sẽ giúp cho những đề xuất cải tổ của ông Thủ tướng Abe được thông qua dễ dàng. Thế lực của ông Abe, nếu chiến thắng, sẽ phủ sóng ảnh hưởng trong thời gian ba năm tới, bởi trong giai đoạn ba năm này tại Nhật sẽ không có cuộc bầu cử cấp độ quốc gia nào cả.
Tờ báo dự đoán đảng của Thủ tướng Shinzo Abe sẽ giành thắng lợi trong cuộc bầu Thượng viện, và lý giải chiến thắng này là do chính sách phục hồi kinh tế của Thủ tướng Abe đã mang đến nhiều kết quả khả quan. Tuy nhiên, viễn cảnh không phải hoàn toàn tươi đẹp. Nhiều nhà quan sát tỏ ra nghi ngờ chính phủ Abe có thể thực hiện được những cải cách thật sự. Có người con lo ngại rằng, nếu phe ông Abe nắm cả lưỡng viện Quốc hội, thì ông sẽ thuận lợi trong việc sửa đổi bản Hiến pháp mang tính hiếu hòa, và có thể sẽ tăng cường vai trò của quân đội Nhật Bản, đẩy chủ nghĩa dân tộc nước này lên cao, và làm phức tạp thêm mối quan hệ giữa Nhật Bản với hai anh bạn láng giềng Trung Quốc và Hàn Quốc.
Chính phủ Nhật Bản cứng rắn với Trung Quốc
Bàn về quan hệ Trung-Nhật, Les Echos đăng bài : «Hỏa hoạn lại nổi lên giữa Nhật Bản và Trung Quốc ».
Tờ báo nhắc đến việc mới đây, Thủ tướng Nhật Bản Abe đã đích thân đến thăm một hòn đảo gần với khu vực đảo Senkaku/Điếu Ngư đang tranh chấp. Đây là lần đầu tiên kể từ 48 năm qua, một Thủ tướng Nhật đương nhiệm đến tận nơi này. Trung Quốc đã có phản ứng gay gắt và cũng đã cử tàu tuần duyên đến gần khu vực tranh chấp. Les Echos đánh giá, sự việc đã làm cho quan hệ song phương tiếp tục xấu đi.
Mối quan hệ này có xấu hơn hay không, theo tờ báo, là tùy thuộc vào ngày 15 tháng Tám tới. Đó là ngày mà Nhật Bản ký đầu hàng trong thế chiến thứ hai. Trong ngày đó, thường thì các nhà chính trị Nhật Bản đến thăm đền Yasukuni, nơi thờ phượng các quân nhân tử trận của chế độ quân phiệt Nhật Bản. Một vài Thủ tướng Nhật đã từng đến thăm đền này và làm dấy lên phản ứng dữ dội từ các nước láng giềng. Vấn đề là không biết lần này Thủ tướng Abe có dám đến thăm đền Yasukuni để khẳng định lập trường dân tộc chủ nghĩa của ông hay không.
Bắc Triều Tiên sửa vũ khí cho Cuba với giá 10.000 tấn đường?
Vụ một tàu hàng Bắc Triều Tiên chở vũ khí bị bắt ở Panama tiếp tục thu hút báo chí Pháp. Nhật báo Le Monde đăng bài nhấn mạnh đến những rắc rối sau vụ con tàu này bị bắt giữ.
Tàu hàng Chong Chon Gang đang trên đường trở về Bắc Triều Tiên thì bị Panama bắt giữ. Phía Cuba và Bắc Triều Tiên đã lên tiếng cho biết, cùng với 10 ngàn tấn đường, trên tàu có 240 tấn vũ khí « cũ kỹ » được Cuba đặt cho Bắc Triều Tiên sửa chữa. Phía Bắc Triều Tiên đã yêu cầu Panama trả tự do ngay lập tức cho chiếc tàu và thủy thủ đoàn. Mỹ thì tuyên bố ủng hộ việc bắt giữ và khám xét chiếc tàu nói trên của chính quyền Panama, và thông báo sẽ trao đổi trực tiếp với phía Cuba về vụ việc. Le Monde cho rằng, mật vụ Mỹ là nguồn gốc của việc bắt giữ tàu Chong Chon Gang.
Hiện tại, công tác khám xét các bao đường rất vất vả và sẽ mất nhiều thời gian, bởi các bao đường đã được cố ý để một cách lộn xộn để đề phòng bị kiểm tra. Le Monde cho hay, theo nhiều chuyên gia, số 10.000 tấn đường trên tàu có thể là thù lao mà Cuba trả cho Bắc Triều Tiên trong việc sửa chữa vũ khí. Các nghi vấn vẫn chưa có câu trả lời. Tuy nhiên, hậu quả thì đã nhãn tiền, đó là quan hệ giữa các nước liên quan sẽ gặp sóng gió, nhất là giữa Mỹ và Cuba trong khi mà gần đây mối quan hệ này chỉ vừa mới được phần nào sưởi ấm.

Các tập đoàn tin học khổ vì kinh tế Châu Á mất đà

Trong lĩnh vực kinh tế, nhật báo kinh tế Les Echos đăng bài đáng chú ý : «Kinh tế Châu Á mất đà gây ảnh hướng đến lĩnh vực tin học ».
Các nền kinh tế khu vực Châu Á-Thái Bình Dương vốn được coi là năng động nhất thế giới. Gần đây, khu vực này đã bị mất đà. Các tập đoàn tin học từ Á sang Âu vì thế phải gặp nhiều khó khăn. Les Echos dẫn ra số liệu một số tập đoàn tin học hàng đầu thế giới để minh chứng. Như tập đoàn IBM, trong quý 2 rồi, doanh số đã giảm 3,3%, doanh số bán ra ở khu vực Châu Á đã giảm 8%. Hay như tập đoàn SAP, doanh số tại khu vực Châu Á -Thái Bình Dương cũng giảm đến 7% trong sáu tháng đầu năm 2013. Tập đoàn Intel trong qúy 2, tiền lãi đã giảm đến 29%, doanh số giảm 5%.
Cũng bàn về chủ đề này, nhật báo Le Monde đăng bài xã luận cho biết, khu vực mà IBM làm ăn tốt nhất trong quý 2 vừa qua là Châu Âu, Châu Phi và khu vực Trung Đông, trong khi Châu Mỹ và khu vực Châu Á Thái Bình Dương thì doanh số lại bị giảm sút.
G20 đau đầu với hồ sơ việc làm và trốn thuế
Hôm nay và ngày mai, hội nghị Bộ trưởng Tài chính các nước thuộc khối G20 nhóm họp ở Maxcơva để chuẩn bị cho thượng đỉnh G20 vào tháng 9 tới tại Saint-Petersbourg. Phản ánh sự kiện này, Les Echos đăng bài : «Tăng trưởng, việc làm và chống trốn thuế là trọng tâm của hội nghị G20 ở Maxtcơva ».
Tờ báo nhận định, hội nghị lần này diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới vô cùng ảm đạm. Châu Âu thì không có tăng trưởng, các nước mới nổi thì mất đà, tình trạng trốn thuế tại Châu Âu đã lên mức báo động, nạn thất nghiệp liên tiếp lập kỷ lục mới. Theo các báo cáo chính thức, hiện ở khối G20 có đến 93 triệu người thất nghiệp. Trong hội nghị lần này, các nước tiếp tục bàn bạc tìm giải pháp đối phó thất nghiệp. Các nước cũng xem xét một kế hoạch của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế Thế giới (OECD) về 15 giải pháp chống trốn thuế. Bên cạnh đó, các bên cũng sẽ tiếp tục bàn thảo về chính sách chống thâm hụt công ở các nước.
Pháp : Tổng thống Pháp được kêu gọi gia nhập Hồi Giáo !
Liên quan đến nước Pháp, Le Figaro có bài đáng chú ý : «Một người Hồi Giáo cực đoan tại Pháp chất vấn Tổng thống Hollande ».
Tờ báo cho hay, từ một tuần nay, xuất hiện trên YouTube một đoạn video dài khoảng 12 phút. Trong đoạn video, một thanh niên 25 tuổi mặc trang phục Hồi giáo, kêu gọi những người đạo Hồi tại Pháp lên đường đến Syria để tiến hành cuộc Thánh chiến chống chính phủ Assad. Người thanh niên này còn kêu gọi Tổng thống Hollande cải đạo theo Hồi giáo và rút quân khỏi Mali.
Theo Le Figaro, từ hai năm nay, có khoảng 170 người Hồi giáo tại Pháp lên đường sang Syria để tham gia Thánh chiến, trong đó có khoảng 50 người đã trở về Pháp, số còn lại có người chết có người bị thương trên chiến trường Syria. Chính phủ Damas đã kêu gọi Paris nối lại hợp tác an ninh để đưa thi thể những người này về Pháp, nhưng chính phủ Pháp đã từ chối.
Anh : Chất lượng bệnh viện công bị đặt vấn đề
Cuối cùng, trong lĩnh vực y tế, Le Monde cho hay : «Một báo cáo lên án tình trạng thất trách ở nhiều bệnh viên công tại Anh ».
Vừa rồi, Cơ quan sức khỏe công cộng của Anh đã công bố kết quả một cuộc điều tra về các bệnh viện công, trong đó 14 bệnh viện bị cho là thất trách. Nhiều vấn đề yếu kém đã được phát hiện, như việc nhiều bệnh nhân bị bỏ trên băng-ca hàng tiếng đồng hồ mà không được bác sĩ chăm sóc, hay như các phòng phẫu thuật có điều kiện hết sức tệ hại, hoặc như nhân viên bệnh viện có nhiều người phải làm việc suốt 12 giờ liền…Báo cáo nêu rõ, nếu không có những yếu kém này, thì các bệnh viện trên đã có thể tránh đến 13.000 ca tử vong.
tags: Chính trị - Nga - Quốc tế - Điểm báo