1. TỘC VIỆT và TỘC HOA
1.1 Tộc Việt Thời Khởi nguyên.
Tộc
Việt khởi nguyên nhờ Hai Ông Bà Khởi Tổ ở Hồ Đồng Đình, phía nam trung
lưu sông Dương Tử, khoảng năm 5000 ttl, cách đây 7000 năm. Trong 2000
năm đầu, dân Việt đã tỏa lan khắp vùng. Phía Nam xuống tới vùng Sông
Hồng.*1
Theo
điều kiện địa lý và khí hậu, theo di tích khảo cổ của thời cách đây
5000 năm, vùng Á Đông Xưa có 2 trung tâm phát triển nông nghiệp Lúa Nước
là vùng Đồng Đình và vùng Sông Hồng.
Vùng
nông nghiệp Lúa Nước phát triển ở những đồng bằng nhiều nước, nhiều
mưa, nhiều nắng ấm. Do đó, có nhiều thổ sản, thủy sản, phương tiện… khác
hẳn vùng khô cằn giá lạnh.
Như
nhiều vùng khác trên thế giới, vùng nông nghiệp lúa nước cũng là nguồn
phát xuất những truyền thuyết súc tích, thâm thúy, và xa xưa nhất của
nhân loại hiện nay.*2
1.2 Tộc Hoa khởi nguyên.
Ngày
nay, lịch sử đã xác định Tộc Hoa thành hình do việc bộ lạc Chu tập họp
một số bộ lạc du mục vùng Thiểm Tây, phía tây bắc đường ranh thiên nhiên
Sông Hoài Tần Lĩnh, rồi thành lập Nhà Chu năm 1046 ttl, cách đây 3000
năm.*3
Thiểm
Tây là vùng đồng cỏ khô cằn giá lạnh, chỉ thích hợp với nghề chăn nuôi
du mục, trồng lúa khô, lúa mạch, bo bo, bắp… và phát sinh ra nền văn hóa
gốc du mục.*4
Khi
tụ họp và thành hình Nhà Chu, tộc Hoa chỉ là những bộ lạc du mục lạc
hậu sơ khai. Họ chưa có những tập họp đông đúc, chưa có hình dạng tổ
chức xã hội phức tạp, chưa thể chiếm lĩnh những vùng đất riêng.
Về phương diện văn hóa, họ chưa tới thời kỳ ghi nhận và sáng tạo những truyền thuyết súc tích, mạch lạc, và có hệ thống.
Ghi chú Phần 1 :
*1 – Đọc thêm Lược Sử Tộc Việt, do Nguyễn Thanh Đức, nxb Tinh Hoa Tộc Việt, 2013, tr 60, phần 5. Hoặc bài Tộc Việt thời Khởi Nguyên 5000-2879 ttl, phần 5.
*2 – Như vùng Lưỡng Hà nay thuộc Iraq, và vùng hạ lưu sông Nile ở Ai Cập.
*3 – Đọc thêm nt, tr 141, phần 1. Hoặc bài Tộc Việt và Tộc Hoa thời Tây Chu 1046-771 ttl, phần 1.
*4 – Đọc thêm nt, tr 20, đoạn 4.4; và tr 21, đoạn 4.6.
o O o
2. THỜI HÙNG
2.1 Hai nguồn Truyền thuyết Việt, Hoa.
a. Truyền thuyết Việt Lạc : Thời Hùng 2879-180 ttl.
Theo
truyền thuyết Việt Lạc, Thời Hùng khởi đầu từ năm 2879 ttl. Năm 2879
ttl đánh dấu sự kiện Tộc Việt đã tỏa lan trên khắp vùng đất rộng lớn từ
Đồng Đình, ra tới biển, Bắc giáp ranh thiên nhiên Sông Hoài Tần Lĩnh,
Tây tới Sông Cửu Long, và phía Nam tới vùng đường ranh Hải Vân.*5
Thời Hùng chấm dứt năm 180 ttl, khi đoàn quân của Triệu Đà chiếm đóng Cổ Loa, trị sở của Việt Lạc.*6
b. Sách vở Trung Hoa.
Theo sách vở Trung Hoa, thời Tam Hoàng khởi đầu năm 2852 ttl.
Như
vậy, Thời Hùng của Việt Lạc gồm trọn các thời Tam Hoàng, Ngũ Đế, Hạ,
Thương, Chu, Tần và 26 năm đầu Nhà Hán của sách vở Trung Hoa.
Như vậy, tộc Hoa, thành hình năm 1046 ttl, sau thời Tam Hoàng Ngũ Đế hơn 1800 năm.
Như
vậy, tất cả truyền thuyết thời trước 1046 ttl, và những truyền thuyết
thuộc nền văn hóa lúa nước, không phải là của Tộc Hoa du mục.
Ngoài
ra, vì lạm nhận một phần truyền thuyết của Tộc Việt làm Tổ tiên của tộc
Hoa, nên truyền thuyết về các triều đại trong sách vở Trung Hoa, từ
khởi nguyên tới 1046 ttl, chỉ là một phần nhỏ của tiền sử Tộc Việt. Tộc
Việt còn nhiều phần đất rộng lớn khác mà sách vở Trung Hoa không đề cập
tới.
[Việc
phân biệt khá dễ dàng, nhờ dựa vào các yếu tố phân biệt giữa Tộc Việt
với nền văn hóa nông nghiệp lúa nước, và tộc Hoa với nền văn hóa du mục.
- Đọc thêm các bài thuộc thời kỳ nầy].
Ngày
nay, với niên đại gần giống nhau giữa Thời Hùng 2879 ttl và thời Tam
Hoàng 2852 ttl, Thời Hùng có thể được chia theo 4 thời kỳ sẵn có. Mỗi
Thời lại có 2 giai đoạn.*7
2.2 Bốn Thời kỳ Thời Hùng.
1. Thời Hùng 1 : 2879-2070 ttl, gồm cả thời Tam Hoàng Ngũ Đế. Thời nầy chia là 2 giai đoạn :
Thời Hùng 1A : 2879-2700 ttl, gồm cả thời Tam Hoàng.
Thời Hùng 1B : 2700-2070 ttl, gồm cả thời Ngũ Đế.
2. Thời Hùng 2 : 2070-1600 ttl, gồm cả thời Hạ :
Thời Hùng 2A : 2070-1800 ttl, gồm cả Tiền Hạ.
Thời Hùng 2B : 1800-1600 ttl, gồm cả Hậu Hạ.
3. Thời Hùng 3 : 1600-1046 ttl, gồm cả thời Thương, với :
Thời Hùng 3A : 1600-1300 ttl, gồm cả Tiền Thương.
Thời Hùng 3B : 1300-1046 ttl, gồm cả Hậu Thương / Ân.
4. Thời Hùng 4 : 1046-180 ttl, đồng thời với Tây Chu/Sở, và Đông Chu/Tần, gồm :
Thời Hùng 4A : 1046-771 ttl, đồng thời với Tây Chu / Sở.
Thời Hùng 4B : 771-180 ttl, gồm :
771-206 ttl, đồng thời với Đông Chu / Tần.
207-180 ttl Việt Lạc với Triệu Đà.
Ghi chú Phần 2 :
*5- Đọc thêm nt, tr 65, đoạn 5.4.
*6 – Đọc thêm nt, tr 330, đoạn 2.2.
*7 – Niên đại theo Hạ Thương Chu niên biểu, do Hạ Thương Chu Đoạn Đại Công Trình, 2000.
o O o
3. VUA HÙNG
3.1 Lạc và Hùng.
Đã có ý kiến cho rằng có lẫn lộn giữa hai chữ nho Lạc và Hùng, vì vậy mới có ‘Lạc vương’ và ‘Hùng vương’.
Vấn
đề chỉ vì quá câu nệ vào chữ viết. Trên thực tế, liên tục trong suốt
mấy ngàn năm, cho đến hiện nay, đại chúng Việt vẫn tôn xưng và cầu khẩn
‘18 Vua Hùng’. Đang khi đó, dân ta vẫn luôn tự xưng là ‘Lạc’ hoặc ‘Việt
Lạc’. Vì vậy, không thể có lẫn lộn giữa âm ‘Lạc’ và âm ‘Hùng’.
Lạc vương là nói chung ‘vua của dân Lạc’. Ta còn có Lạc hầu, Lạc tướng, Lạc điền, Lạc dân…*8
Vua
Hùng, Hùng Vương, là miếu hiệu đại chúng Việt Lạc tôn xưng 18 Vị Tiêu
Biểu đã góp phần đặc biệt trong việc tăng triển Dân tộc và Văn hóa Việt
Lạc.
Có
thể đã có hàng trăm Lạc vương, nhưng chỉ có ‘18 Vua Hùng’, tức là 18 Vị
được Dân Lạc thờ kính làm Quốc Tổ. Tất cả 18 Vị đều đã sống vào Thời
Hùng, nhưng không nhất thiết đã làm vua.
3.2 Việc Thờ Kính các Vua Hùng.
a. Truyền thống.
Từ
nhiều ngàn năm trước, Tộc Việt đã có truyền thống thờ kính Tổ Tiên.
Việc thờ kính Tổ Tiên của từng người cũng đưa tới việc thờ kính các Vị
Tổ của Tộc Dân và của Nước.
Truyền
thuyết xưa nhất của dân ta, luôn nhắc đến Vua Hùng như là biểu tượng
cao quý và quyền uy nhất của xã hội Việt. Vua Hùng có mặt trong mọi
Truyền Kỳ liên quan tới đời sống xã hội, gia đình, làng nước. [Như ở các
Truyền Kỳ Chữ Đồng, Trầu Cau, Tiết Liêu, An Tiêm, Mỵ Châu, Phù
Đổng...].*9
Cách
đây hơn 3000 năm, trên tất cả Thạp và Trống Đông Sơn thời tuyệt kỹ, đều
có đàn Chim cách điệu hóa thành Chữ Hùng linh thiêng.*10
Hình Chim cách điệu nầy trở thành đường nét của chữ Hùng 熊.
Đầu Chim mỏ dài thành nét
. Thân và đuôi dài thành
. Cánh và chân thành
. Phần dưới có thêm bộ hỏa
để nhấn mạnh tính cách Linh thiêng.*11
b. Thời Bắc thuộc.
Hiện
nay, không còn nhiều chứng tích về các Vua Hùng. Chỉ vì trong suốt thời
Bắc thuộc, Trung Hoa đã hủy hoại mọi tài liệu, và cấm đoán mọi thờ kính
công khai các Vị Tổ của Dân Ta.
Trong
thời kỳ nầy, việc Thờ Kính Tổ đã phải tổ chức riêng lẻ và thầm lén,
hoặc ngụy trang dưới những hình thức và danh xưng khác. [Có thể tìm gặp
dấu vết nơi cốt lõi của niềm tin, và của đối tượng thờ kính của đại
chúng Việt... ở các đạo giáo, như đạo Lão, đạo Thờ Mẫu, thờ Ngọc Hoàng
Thượng Đế].
c. Thời Phục Hưng.
Từ
khi dân Lạc Hồng giành lại phần đất phương Nam của Việt Lạc, khai sáng
Thời Phục Hưng, từ năm 906 dl, việc công khai thờ kính Các Vị Tổ đã được
tái lập.*12
Năm
1010 dl, Đức Lý Thái Tổ long trọng khôi phục nghi lễ và Đền Thờ Tổ trên
núi Hy Cương và tái lập việc công khai Thờ Kính Tổ trong cả Nước. Đức
Lý Thái Tổ cũng đã dâng kính 18 Miếu Hiệu ‘Vua Hùng’ cho 18 Vị được thờ
kính, như đang có hiện nay. [Miếu hiệu là danh tước được dâng để thờ
kính, để tuyên xưng trong Lễ Tế, không phải là tên riêng của các Vị].
3.3 Mười Tám Vua Hùng.
a. Con số 18.
Chưa
có tài liệu ghi nhận tại sao cách đây 1000 năm Đức Lý Thái Tổ chỉ thờ
kính ‘18 Vua Hùng’ cho suốt thời kỳ từ Khởi Nguyên tới hết Thời Hùng,
dài hơn 5000 năm.
Tuy
nhiên, cách đây hơn 3000 năm, không những tất cả mọi Nắp Thạp và Mặt
Trống Đông Sơn đều có hình Chim cách điệu chữ Hùng 熊, mà trống Ngọc Lũ
và trống Sông Đà, 2 trong 4 trống tinh xảo nhất hiện có, đã có hình 18
Chim Hùng linh thiêng.*13

Như vậy, trước Đức Lý Thái Tổ, đã có truyền thống thờ kính 18 Vị ‘Vua Hùng’.
b. Con số 2699.
Gần 500 năm sau khi Đức Lý Thái Tổ dâng Miếu Hiệu cho 18 Vua Hùng, mới có Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, [do Ngô Sĩ Liên, viết xong năm 1479 dl], ghi lại Thời Hùng kéo dài từ năm Nhâm Tuất 2879 ttl tới năm 258 ttl, gồm 2621 năm.
Theo cách tính hiện nay, Thời Hùng gồm 2699 năm, từ 2879 ttl tới 180 ttl.*14
Như
vậy, thời gian 2699 năm của Thời Hùng càng chứng tỏ ‘18 Vua Hùng được
thờ kính’ không phải là những Vị Vua liên tục nối tiếp nhau trị vì. Thời
Hùng cũng không phải là một triều đại. [Khi tính ra số 2621 năm cho
Thời Hùng, sử gia Ngô Sĩ Liên cũng biết không thể ngây ngô đem chia con
số 2621 năm cho 18 Vị].
c. Vua An Dương.
Ngoài ra, theo thần phả của Đền Vua An Dương ở Cổ Loa, Vua An Dương cũng là ‘Hùng Gia Chi Phái’, tức là thuộc dòng dõi Họ Hùng.*15
Dầu
vậy, dầu thuộc dòng dõi Họ Hùng, dầu cũng làm vua, dầu cũng sống Thời
Hùng, nhưng Vua An Dương đã làm mất nước, nên không được kể là ‘Vua
Hùng’, không được thờ ở Đền Hùng. Ông chỉ là Lạc Vương ở cuối Thời Hùng.
Không phải hễ là Vua ở Thời Hùng thì được thờ kính.*16
Ghi chú Phần 3 :
*8 – Giao Châu Ngoại Vực Ký (thế kỷ 4 dl) có nhắc tới.
*9 – Đọc thêm Con Người và Xã Hội Việt, do Nguyễn Thanh Đức, nxb Tinh Hoa Tộc Việt, 2013.
*10 – Đọc thêm Lược Sử Tộc Việt, tr 208, đoạn 4.9; và tr 225, đoạn 2.5.
*11 – Tự nó, bộ Hỏa cũng có nghĩa linh thiêng. Hình tứ linh, long lân quy phụng, đều có lửa.
*12 – Về năm 906 dl, đọc thêm nt, tr 365, gc*7.
*13
– Trống Sông Đà được phát hiện ở vùng Sông Đà, cuối thế kỷ 19. Tang
trống 78 cm, cao 61 cm. Mặt trời 14 tia. Còn có tên Trống Moulié, hiện ở
viện bào tàng Guimet, Paris.
*14 – Đọc nt, tr 336, đoạn 2.6. Đọc thêm nt, tr 330, phần 2. – Hoặc bài Đức Trưng Vương đã chiếm lại Hồ Đồng Đình, đoạn 2.6; phần 2.
*15 – Thục An Dương Vương Tiên Đế Ngọc Phả Cổ Lục, dẫn ở Thời Đại Hùng Vương, nhiều tác giả, nxb Khoa Học Xã Hội, Hà Nội 1976, tr 243.
*16
– Theo sách vở Trung Hoa, vùng Bắc Dương Tử có Nước Sở, người Tộc Việt,
do Hùng Dịch sáng lập, 1030-223 ttl, có 42 vua cũng mang họ Hùng. – Tuy
nhiên, Thời Hùng có trước Nước Sở hơn 1800 năm, Vua Hùng thắng Ân Cao
Tôn trước Hùng Dịch 178 năm, đồng thời với Hùng Dịch đã có nhiều Thạp và
Trống Đông Sơn ghi khắc việc thờ kính các Vua Hùng…
o O o
4. VUA HÙNG QUỐC TỔ
4.1 Vua Hùng.
Như vậy, Vua Hùng
là Biểu Tượng của Những Vị đã Đóng Góp Đặc Biệt vào tiến trình hình
thành của Tộc Dân và Văn Hóa Việt từ Thời Khởi Nguyên. Các Ngài là những
Vị trổi vượt thuộc mọi lãnh vực, đặc biệt về Xã hội và Văn hóa, chứ
không nhất thiết là người có quyền cai trị.*17
Vì
tính cách biểu tượng, tên riêng và tiểu sử của từng Vị đã không còn cần
thiết. Tất cả đều được tôn xưng bằng miếu hiệu ‘Vua Hùng’.
4.2 Mười Tám Vua Hùng.
Các Ngài còn được biểu tượng hóa với con số cao quý là ‘Mười Tám Vị’. Số 18 là 2 lần 9. Số 9 là số đặc thù, trọn vẹn và cao quý nhất của Tộc Việt.
Như vậy, ‘Mười Tám Vua Hùng’ là những Vị cao quý tột bực, và được kính trọng tột bực, được thờ kính, của Truyền Thống Việt.*18
4.3 Vua Hùng Bà.
Từ
khởi nguyên, cách đây 7000 năm, cho đến cách đây 1700 năm, thế kỷ 3 dl,
dân Việt thiên về mẫu hệ, phụ nữ giữ vai trò quan trọng trong đời sống
xã hội. Vì vậy, nhiều Vị thuộc Nữ Giới cũng đã đóng góp đặc biệt, trong
việc thành hình xã hội và văn hóa Việt.*19
Trên thạp Đông Sơn, cách đây 3000 năm, có hình vị Thủ Lãnh là một Bà. [Ngực cao, mông lớn]. [Hình].*20
Mãi
tới 220 năm sau Thời Hùng, năm 40 dl, trong số các anh hùng tái chiếm
toàn thể vùng đất Việt Lạc, vẫn có nhiều đội nữ binh, và số nữ tướng
nhiều hơn nam tướng. Lại nữa, người nhận trách nhiệm lãnh đạo toàn dân,
cũng lại là một nữ nhân, Đức Đại Đế Đồng Đình Lĩnh Nam Trưng Trắc.*21
Sau
Đức Đại Đế Đồng Đình Lĩnh Nam hơn 200 năm, năm 248 dl, khi sử Trung Hoa
phải ghi nhận thêm một cuộc khởi nghĩa khác của dân Nam, thì cuộc khởi
nghĩa nầy cũng lại do một nữ nhân lãnh đạo. Vị lãnh tụ đó là Cô thanh nữ
23 tuổi, Bà Vua Triệu.
Mãi
đến năm 541 dl, gần 300 năm sau Bà Vua Triệu, và cách đây chưa được
1500 năm, sử Trung Hoa mới để lại cho chúng ta tên một nam nhân làm thủ
lãnh dân Việt Lạc, Đức Lý Nam Đế.
Như
vậy, trong suốt thời gian 2000 năm trước Thời Hùng, 3000 năm trong Thời
Hùng, và 500 năm sau Thời Hùng, Dân Việt sống trong chế độ mẫu hệ, nữ
giới chủ động và lãnh đạo đời sống xã hội. Trong suốt thời kỳ, số Vị Vua
Hùng Bà có thể nhiều hơn Vua Hùng Ông.
Tuy
nhiên, với ‘Vua Hùng’ đã trở thành biểu tượng, với số 9 là con số tuyệt
hảo của Dân Việt, và theo đúng truyền thống Mẹ Tiên Cha Rồng 50/50 siêu
việt, ta thờ kính 9 Vua Hùng Bà và 9 Vua Hùng Ông. [Các Ngài không nhất
thiết là vợ chồng].
Với số 9 là số cao quý tròn đầy của Tộc Việt, đây có thể là lý do tại sao có con số 18 Vị.
Ghi chú Phần 4 :
*17 – Chữ ‘Vua, Vương’ không chỉ có nghĩa là người cai trị một nước, mà còn là một tước vị.
Bà
Triệu, khởi nghĩa năm 248 dl, cũng được đại chúng xưng tụng là ‘Bà
Vua’, dầu Bà chỉ tự xưng là Tướng. [Ca dao : Muốn coi lên núi mà coi,
Coi Bà Vua Triệu cỡi voi đánh cồng].
Tước Vương cũng không có nghĩa là vị vua cai trị, như Đức Hưng Đạo Đại Vương, Đức Hưng Nhượng Vương…
*18
– Cũng như với Phụng Long, sau khi nhận thấy tính cách cao quý của văn
hóa và của biểu hiệu Tộc Việt, vua chúa Trung Hoa lại dành số 9 cho
hoàng tộc.
*19 – Theo Hậu Hán Thư, q 116 : ‘Người Giao Chỉ không phân biệt trưởng ấu… không biết tình cha con… không tổ chức gia tộc theo chế độ phụ hệ…’ – Theo Tam Quốc Chí, q 9 : Người Giao Chỉ còn nhiều phong tục theo mẫu hệ. – Đọc thêm Việt Sử Toàn Thư, tr 34.
*20
– Trong suốt mấy ngàn năm, trống đồng luôn là hiệu lịnh, là biểu hiệu
của uy quyền. Cho tới ngày nay, dân ta vẫn còn tập tục để một Bà đánh
tiếng trống khai trương trống đồng mới đúc.
*21
– Hiện nay làng Thượng Thanh, huyện Thanh Oai, Hà Tây, còn miếu thờ vị
Tướng đã giả gái để được đem quân của mình gia nhập cuộc quật khởi của
Đức Đại Đế Đồng Đình Lĩnh Nam.
*22 – Về Bà Vua Triệu, đọc thêm Lược Sử Tộc Việt, tr 368, gc*11.
Nguyễn Thanh Đức 2013.