Thứ Bảy, 14 tháng 5, 2011

Điểm báo : Nhân loại đang làm khánh kiệt tài nguyên thiên nhiên

Nhân loại vắt cạn tài nguyên, thải rác ngày càng nhiều
Nhân loại vắt cạn tài nguyên, thải rác ngày càng nhiều
REUTERS/China Daily
Lê Phước
 
« Cân đối giữa tăng trưởng và bảo tồn hành tinh qua việc biết sử dụng tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững » : đó là cảnh báo của Liên Hiệp Quốc về nguy cơ thiếu năng lượng trong tương lai do sự khai thác quá mức của con người.
Le Figaro phản ánh sự kiện này qua bài viết « Nhân Loại đang vắt kiệt tài nguyên thiên nhiên ».
Theo báo cáo của Chương trình Môi trường Liên Hiệp Quốc (UNEF), trong 40 năm nữa, khoảng 9 tỷ người trên Trái Đất sẽ tiêu thụ 140 tỷ tấn khoáng sản, dầu hỏa, gổ, hoa màu. Tức là, mỗi năm, một người trên hành tinh sẽ tiêu thụ đến 16 tấn tài nguyên thiên nhiên. Báo cáo cũng nhấn mạnh, giới chức chính trị và phần đông dân chúng không nhận thức rõ được sự hữu hạn của tài nguyên thiên nhiên.
Để tránh lâm cảnh thiếu hụt và những căn thẳng xã hội, địa chính trị do tình trạng thiếu tài nguyên gây ra, báo cáo cho rằng, thế giới nên phát triển bền vững. Sự phát triển bền vững này đòi hỏi phải đầu tư qui mô trong lĩnh vực công nghệ, tài chính và xã hội.
Một khó khăn to lớn mà báo cáo đặt chú ý, đó là sự chênh lệch trong tiêu thụ nguyên liệu giữa người dân các nước. Chẳng hạn như, một người ở nước công nghiệp phát triển mỗi năm tiệu thụ trung bình 16 tấn, gấp 4 lần so với người Ấn Độ.
Giữa các nước giàu, sự chênh lệch của rất lớn. Ở Mỹ và Auxtralia, mức tiêu thụ trung bình của mỗi người là 40 tấn/năm, trong khi con số này ở Pháp và Đức chỉ có 15 tấn.
Tuy nhiên những con số này là tương đối. Chẳng hạn như, khi người ta khai thác được một tấn đồng ở Chilê, người ta cứ cho là người dân Chilê tiêu thụ 1 tấn này, dù đôi khi nó được sử dụng để tạo ra sản phẩm bán ở Trung Quốc hay Châu Âu.
Báo cáo vẫn khẳng định, thế giới sẽ đối mặt với nguy cơ bị cạn kiệt tài nguyên. Theo tính toán, từ đây đến năm 2050, dù cho các nước giàu có giảm được phân nữa mức tiêu thụ tài nguyên trên đầu người (tức xuống còn 8 tấn/người/năm), và dù các nước đang phát triển không vượt qua ngưỡng giới hạn này, thì mức tiêu thụ tài nguyên cũng sẽ lên đến 70 tỷ tấn, tức tăng 40% so với hiện tại.
Điều này rất bất lợi, vì nó kéo theo sự gia tăng lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính, gây bất lợi cho quá trình đấu tranh chống hiện tượng nóng lên của khí hậu.
Bên cạnh viễn cảnh mù mịch nêu trên, báo cáo cũng chỉ ra một số vùng sáng cho phép con người được quyền hy vọng. Đầu tiên phải kể đến là hiện tượng đô thị hóa đang diễn ra nhanh chóng trên thế giới. Cùng với hiện tượng đô thị hóa, việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên sẽ tốt hơn : Một vùng tập trung nhiều dân cư sẽ tiết kiệm được nhiều nguyên liệu xây dựng, tiết kiệm được năng lượng và các phương tiện vận tải.
Một lí do lạc quan nữa mà cáo cáo đưa ra là việc các nước mới nổi sẽ đốt cháy một số giai đoạn trong quá trình phát triển để tiếp cận trực tiếp với công nghệ tiên tiến, những mô hình tiết kiệm nguyên liệu hiện đại.
Tiết kiệm năng lượng nhờ công nghệ mới
Chủ đề này cũng được nhật báo Le Monde phản ánh với nhận định tương tự « Tăng trưởng thế giới làm cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên ».
Sau khi tóm lược báo cáo của UNEF, Le Monde chú ý đến giải pháp cho những khó khăn mà báo cáo đặt ra. Tờ báo dẫn lại nhận định của ông Mark Swilling thuộc Đại học Stellenbosh, Nam Phi, một thành viên của bảng báo cáo nói trên.
Theo ông này, chìa khóa của vấn đề chính là con người phải tạo ra được những công nghệ tiết kiệm tài nguyên hơn.
Nạn đói ở Bắc Triều Tiên và những toan tính chính trị
Với nhận định « Bắc Triều Tiên : Nạn thiếu lương thực và ván bài chính trị », Le Monde phân tích những khó khăn mà nước này đang đối mặt cùng với những toan tính của các nước có liên quan.
Chuyến thăm hai miền Triều Tiên vừa qua của cựu tổng thống Hoa Kỳ Jimmy Carter không mang lại kết quả như mong đợi. Phái đoàn hùng hậu của ông Carter chỉ được tiếp kiến ông Kim Yong-nam, chủ tịch Quốc hội Bắc Triều Tiên. Tại Séoul, tổng thống Hàn Quốc cũng không tiếp phái đoàn này, và cho rằng, thông điệp về việc sẳn sàng đàm phán của ông Kim Jong-il do phái đoàn mang đến là « vô nghĩa ».
Thế nhưng, Le Monde cho rằng, ít ra chuyến đi của ông Carter cũng có một thu hoạch, đó là cho thấy chính sách cứng rắn đối với Bắc Triều Tiên mà tổng thống Lee Myung-Bak theo đuổi từ năm 2008 và được tổng thống Obama ủng hộ, đang rơi vào một ngõ cụt về an ninh và nhân đạo.
Việc gián đoạn các đàm phán liên Triều và việc Seoul ngưng cứu trợ miền Bắc đã làm cho quan hệ hai miền rơi vào căng thẳng, và là nguyên nhân của những rắc rối hồi năm 2010 : Vụ tàu Cheonan bị đánh chìm với 46 người chết và vụ pháo kích vào đảo Yongpyong làm 4 người chết.
Dựa vào kết quả cuộc điều tra quốc tế theo đó, thủ phạm đắm chìm tàu Cheonan là Bắc Triều Tiên, Hàn Quốc đặt điều kiện tiên quyết trước khi tiến hành mọi cuộc đàm phán là : Bắc Triều Tiên phải xin lỗi về vụ việc. Trong khi đó, Bình nhưỡng phủ nhận mọi trách nhiệm liên quan.
Căn thẳng trên bán đảo Triều Tiên và sự « sa lầy » của các các cuộc đàm phán về hạt nhân là những vấn đề có tính chất dài hơi. Trong khi đó, một vấn đề đang đặt ra đòi hỏi phải được giải quyết cấp bách, đó là tình trạng thiếu lương thực trầm trọng ở miền Bắc. Thế nhưng, theo Le Monde, sự cứu trợ của thế giới đã bị đình hoãn do những lý do chính trị. Đến nỗi ông Carter phải thốt lên « Việc Mỹ và Hàn Quốc đình hoãn cứu trợ lương thực cho Bắc Triều Tiên vì lý do chính trị là một việc làm vi phạm nhân quyền ».
Le Monde cho biết, vấn đề mà ông Carter nêu ra ở trên không phải là không có. Dù không nghiêm trọng như những năm 1990 (1 triệu người chết đói), nhưng tình trạng thiếu lương thực tại Bắc Triều Tiên là đáng báo động. Thực trạng này cũng đã được ghi nhận trong báo cáo thực địa hồi tháng 3 của Chương trình Lương thực Thế giới (WFP). Nguyên nhân chính của hiện trạng là do nước này phải đối mặt với mùa đông lạnh nhất kể từ 60 năm nay, lũ lụt và dịch bệnh.
Ước tính, có 6 triệu người (tức ¼ dân số Bắc Triều Tiên) đã rơi vào tình trạng suy dinh dưỡng kinh niên.
Toan tính chính trị trước thảm họa nhân đạo đã xãy ra trong nạn đói giai đoạn 1994-1997. Khi đó, người ta cứ tranh luận xung quanh mức độ cụ thể của tình trạng thiếu lương thực tại Bắc Triều Tiên, thêm vào đó là những ý đồ chính trị. Seoul đã chóp lấy cơ hội đó trong ý đồ lật đổ chế độ Bình Nhưỡng. Tất cả những việc trên đã làm cho tình hình nghiêm trọng thêm. Le Monde cho biết, bên cạnh việc quy trách nhiệm cho chính phủ miền Bắc, nhiều chuyên gia danh tiếng cũng đã lên án thái độ chờ thời của một số nước.
Le Monde dẫn lại quan điểm của tờ New York Times cho rằng : « Hàn Quốc đã tăng cường mức độ đối đầu với Bắc Triều Tiên và từ chối giúp đở nước này. Dù vậy, tổng thống Obama cũng không có lý do gì để phạm lại sai lầm của Hàn Quốc. Tự tách mình ra xa không phải là giải pháp ». Nhắc lại nạn đói năm 1990, tờ báo Hoa Kỳ này khẳng định : « Dù chế độ Bình Nhưỡng có làm người ta chán ngán đến đâu đi nữa thì người ta cũng không được phép để cho thảm họa trên tái diễn ».
Nhiều người còn nghi ngại về mức độ nghiêm trọng thật sự của tình trạng thiếu lương lực tại Bắc Triều Tiên và khả năng hàng cứu trợ được đưa đến tận tay người bị nạn. Thế nhưng, nếu mãi chờ đợi bằng chứng xác thực, mọi việc sẽ trở nên quá trễ.
Theo nhiều tổ chức hoạt động tại hiện trường, có thể tiến hành xác minh vụ việc. Dù rằng biện pháp xác minh không cho kết quả tuyệt đối, nhưng nếu không chấp nhận mức tương đối thì sẽ không cứu trợ lương thực được cho người dân Bắc Triều Tiên.
Cái chết của Ben Laden tiếp tục gây sóng gió cho quan hệ Pakistan-Mỹ
Cái chết của Ben Laden khônh chỉ gây tổn hại cho Al Qaida, mà còn đe dọa đến quan hệ giữa Pakistan và Mỹ. Liên quan đến chủ đề này, Liberation đăng bài phỏng vấn ông Ahmed Rashid, chuyên gia về phong trào Taliban và Al-Qaida. Bài viết chạy tựa «Tình trạng khẩn cấp : Pakistan đang trong ngõ cụt » .
Quan hệ giữa Pakistan với CIA đã rất khó khăn. Thế nhưng, vụ quân đội Mỹ tập kích và hạ Ben Laden trên lãnh thổ của Pakistan đã như thêm dầu vào lửa. Chính phủ Islamabad tố cáo Mỹ vi phạm chủ quyền quốc gia. Trong khi đó, tại Washington, cả người Dân Chủ lẫn Cộng Hòa đều rất phản cảm đối với Pakistan, và họ muốn ngừng trợ giúp quân sự cho nước này.
Nên nhớ rằng, mức hổ trợ của Mỹ dành cho Pakistan lên đến khoảng 3 tỷ đô la mỗi năm. Pakistan lại đang trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế. Điện và xăng dầu thiếu hụt nghiêm trọng, nạn thất nghiệp đang hoành hành. Đất nước đang rất cần tiền trợ giúp. Nếu Mỹ ngừng trợ giúp, thì Liên Hiệp Châu Ấu cũng sẽ làm theo. Như thế, Pakistan sẽ lâm nguy.
Tuy vậy, Mỹ cũng sẽ bị thiệt nếu ngừng trợ giúp, do điều đó sẽ làm gia tăng tâm lý chống Mỹ trong dân chúng Pakistan.
Trả lời cho câu hỏi làm cách nào Pakistan thoát khỏi khủng hoảng hiện tại, ông Rashid cho rằng, nên tiến hành một cuộc điều tra dân sự về vụ kiện Abbottabad, vì đến hiện tại chi tiết của vụ tập kích của Mỹ còn khá mù mờ.
Nhiều câu hỏi lớn đặt ra : Làm thế nào trực thăng Mỹ có thế bay gần một tiếng đồng hồ trên không phận của Pakistan mà không hề gặp chướng ngại nào ? Tại sao máy bay Pakistan không cất cánh khẩn cấp ? Nếu quân đội Pakistan trong sạch thật sự, thì họ nên cho điều tra mọi việc rõ ràng.
Tín ngưỡng đã được nối mạng!
Internet không chỉ hữu ích cho cuộc sống thế tục mà còn đắc dụng cho các tôn giáo, đó là phân tích của nhật báo Le Monde trong bài viết « Tại sao tôn giáo đầu tư cho Internet ? ».
Thời đại ngày nay, nhờ vào những tiện ích của công nghệ thông tin, người ta có thể tiếp cận với tôn giáo từ xa : Gửi thông điệp đến bức tường Than Khóc ở Jerusalem, dựng bàn thờ phật khắp nơi trên thế giới, hay xác định vị trí và tìm đường đến đền thờ Hồi giáo gần nhất. Ngoài ra, việc thực hành tín ngưỡng trên mạng cũng đã trở nên phổ biến, chẳng hạn như tín đồ có thể cầu nguyện trong một trò chơi điện tử ở đó các đền thờ được trang trí đầy hoa, mở rộng cửa đón người tìm về cuộc sống tâm linh.
Các giáo phái nhỏ và các tôn giáo lớn đã biết tận dụng sức mạnh Internet để truyền đạo. Kinh thánh đã được đưa lên mạng, và hàng ngàn tín đồ đã tải về điện thoại di dộng của mình.
Một tín đồ Công giáo tâm sự : « Với công nghệ hiện đại, tôi có thể truy cập thông tin về Công giáo ngay trên xe lửa. Như vậy, Internet đã cho phép tín đồ tham gia vào cộng đồng tôn giáo của mình mọi lúc mọi nơi.
Bên cạnh đó, nhờ vào hệ thống mạng, mọi người có thể tìm hiểu về tôn giáo bằng cách đặt những câu hỏi tế nhị nhất. Nhiều thiếu nữ ngại không dám đến đền thờ Hồi Giáo thì cũng có thể hành đạo trước màn hình vi tính. Như vậy, từ lâu, các diễn đàn tôn giáo trên mạng đã trở thành những nơi thu hút tín đồ mới.
Trang nhất báo Pháp ngày 14/5/2011 
Nhật báo Le Monde chạy tít lớn trên trang nhất « Tăng trưởng phục hồi nhanh tại Pháp và Đức ». Tờ báo cho biết, ba tháng đầu năm 2011, GDP của Pháp đã tăng 1%, mức cao nhất kể từ năm 2006, trong khi đó ở Đức là 1,5%.
Le Figaro cũng thông tin về sự việc này với bài viết « Sự phục hồi của nền kinh tế Pháp ». Bài viết nhận định, với mức tăng trưởng 1% hiện tại, dự báo 2% cho cả năm là hoàn toàn khả dĩ.
Trang nhất Liberation dành ưu tiên cho bài « Tại sao họ tìm đến với Đảng Mặt Trận Quốc gia ». Tờ báo cho hay, Đảng cực hữu này đang ngày càng thu hút sự ủng hộ của nhiều người ngoài những cử tri truyền thống.
Lễ Thiên Nhiên diễn ra tại Pháp từ 18 đến 22 tháng 5, từ năm năm nay, lễ này là cơ hội tuyên truyền ý thức bảo vệ thiên nhiên cho mọi người. Đó là thông tin được phản ánh trên trang nhất của nhật báo La Croix.

tags: Các vấn đề xã hội - Tài nguyên - Điểm báo

Đói ăn trong những tuần giáp hạt tại tỉnh Thanh Hóa

Trong bếp của một gia đình nông dân thuộc huyện Lang Chánh (Ảnh báo Người Việt)
Trong bếp của một gia đình nông dân thuộc huyện Lang Chánh (Ảnh báo Người Việt)
Trọng Thành
 
Theo các phương tiện truyền thông, tình trạng đói ăn đang rất nghiêm trọng tại tỉnh Thanh Hóa. Khoảng 250.000 người bị đói, chiếm gần 10% dân số toàn tỉnh. Ngày 5/5/11, Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã chính thức kiến nghị lên chính quyền trung ương, xin cấp hơn 2.000 tấn gạo cho các hộ bị đói.

Đại biểu Lê Văn Cuông (Thanh Hóa)
 
14/05/2011
by Trọng Thành
 
 

Từ Thanh Hóa, ông Lê Văn Cuông, phó trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Thanh Hóa, kiêm ủy viên Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, trả lời phỏng vấn RFI.
RFI : Xin chào ông Lê Văn Cương, từ hơn một tháng nay, như ông biết, tại tỉnh Thanh Hóa nạn thiếu đói đang hoành hành. Theo một con số được báo chí đưa ra, có khoảng 10% dân số toàn tỉnh bị lâm vào cảnh này. Xin ông cho biết, nhận định của ông về chuyện này ?
Lê Văn Cương : Trong điều kiện đất nước hiện nay, trượt giá hay cuộc sống của người dân do lạm phát tăng cao, thu nhập thực tế giảm sút, các hộ trước đây là cận nghèo rơi vào tình trạng nghèo. Do đó [chính quyền] cần phải quan tâm, nhất là trong lúc giáp hạt và trong dịp bầu cử đại biểu Quốc hội khóa 13 và đại biểu Hội đồng Nhân dân các cấp. [Chính quyền Trung ương] yêu cầu các địa phương, các cấp chính quyền địa phương phải chăm lo đến đời sống của người dân, không để người dân bị thiếu đói hoặc mất bữa. Về cái này, có chủ trương như thế thì các địa phương, các cấp chính quyền thống kê các gia đình ở « diện » thiếu đói, hay thuộc hộ nghèo. Rồi [đối với] các xã, các bà con ở vùng biên giới, có chủ trương là nhà nước sẽ cấp gạo hàng tháng. Các chính sách của Nhà nước như thế, thì chính quyền địa phương tổng hợp, thống kê danh sách lên tỉnh, và tỉnh tổng hợp diện thiếu đói đó và báo cáo với Trung ương để đề nghị Trung ương hỗ trợ.
Tôi nghĩ rằng, việc này là việc làm bình thường của Việt Nam lâu nay. Tôi nghĩ rằng báo cáo của Ủy ban tỉnh lên Trung ương và các thông tin báo chí đưa về diện thiếu đói và đề nghị cấp gạo của tỉnh Thanh Hóa cũng phù hợp với chủ trương chung. Thế còn, thực tế như thế nào, chúng tôi chưa nắm được, nên cũng chưa thế đánh giá được thực tế là các hộ thiếu đói có đúng như vậy không. Cái này cần phải có thời gian đi tìm hiểu nắm bắt tình hình thì mới biết được.
RFI : Tình hình chung là như vậy. Thưa ông, ông là người thuộc tỉnh Thanh Hóa, không biết cái nạn đói này có phải diễn ra thường xuyên không, hay năm nay mới đột xuất diễn ra nặng như vậy ?
Lê Văn Cuông : Hiện nay, các hộ nghèo ở Thanh Hóa còn chiếm tỷ lệ cao, đặc biệt là các huyện trên vùng núi, vùng sâu vùng xa. Có những nơi đến 50-60% các hộ là nghèo, thiếu đói. Không phải chỉ năm nay, hàng năm vào các dịp giáp hạt, hay là dịp Tết, thì tỉnh cũng đều có kế hoạch cấp gạo cho các gia đình nghèo hay thiếu đói theo chủ trương chung. Chuyện này diễn ra hàng năm.
RFI : Về nguyên nhân của nạn đói này, có liên quan đến vấn đề tài nguyên và nguồn lực của tỉnh Thanh Hóa. Có hai ý kiến khác hẳn nhau. Một ý kiến cho rằng, Thanh Hóa vì đất đai khô cằn quá, nên sản xuất lương thực không đủ. Theo một ý kiến khác thì không hẳn như thế, Thanh Hóa là một tỉnh được đầu tư nhiều, do vấn đề quản lý mà bị rơi vào trạng thái này. Vậy ý kiến ông về vấn đề này như thế nào ?
Lê Văn Cuông : Hàng năm hiện nay, Thanh Hóa thu được khoảng 1,5 triệu tấn lương thực, cũng là một sản lượng cao, chứ không phải đất đai Thanh Hóa là kém, mà là trung bình. Nếu không bị ảnh hưởng thiên tai, sâu bệnh, dịch bệnh, thì thu nhập của bà con vẫn đảm bảo được cuộc sống, thậm chí có nơi có lượng lúa để bán ra ngoài thị trường, hoặc tham gia xuất khẩu. Nhưng sản lượng đó được phân phối không đều. Một số gia đình dư thừa lương thực, nhưng có những gia đình khó khăn, do ở vùng sâu, vùng xa, hoặc do một số hoàn cảnh. Vấn đề nghèo đói vẫn diễn ra trên phạm vi rộng tại Thanh Hóa. Mặc dù những năm gần đây so với trước, số hộ nghèo đói giảm đi rất nhiều, nhưng chưa hết được, và hiện nay vẫn đang tập trung vào những vùng đặc biệt khó khăn, như vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng biển. Cụ thể vùng biển là ở vùng Bãi Ngang, bà con không có việc làm.
Thực ra, [về mức độ đói như hiện nay] tôi không hiểu cụ thể có đúng như thế không, hay là người dân cũng có thể người ta lợi dụng chính sách của Nhà nước, rồi người ta khai báo, không phải thiếu đói, nhưng được Nhà nước cho, thì người ta cũng khai lên để được. Nhưng thực tế người ta có nghèo không ? Thì [đánh giá] cái đó rất khó ! Rồi chính quyền lại là người nhà, họ hàng, trưởng thôn, cũng là trong dòng tộc, họ né tránh. Người ta cứ kê khai như vậy, nhưng không [ai] đấu tranh. Không xác định đúng đối tượng, rồi cũng vào hùa với « quần chúng », rồi đưa danh sách đó lên. [Làm như thế] cũng không mất gì cả, có khi lợi dụng vào chính sách này, khai khống lên, báo cáo không trung thực để xin trung ương, thì cái này, tôi cũng không tin là cái số liệu thiếu đói nó thực chất như thế, mà qua quá trình kinh nghiệm theo dõi, thì thấy cũng nhiều gian dối, nhiều tiêu cực trong các kê khai lợi dụng chính sách Nhà nước cho không, để rồi đề xuất lên « trên », để trên hỗ trợ được bao nhiêu là quý bấy nhiều.
RFI : Cái ý phân tích này của ông làm sáng tỏ thêm vấn đề. Nhưng riêng ở vùng biển, có ý kiến cho rằng ngư trường ở ngoài biển khơi bị tàu lớn lấn át, có những đụng độ, và vì thế, nghề cá không được như trước nữa. Việc này cũng ảnh hưởng đến việc tự túc lương thực thực phấm. Thưa ông, ý kiến của ông về chuyện này như thế nào ?
Lê Văn Cuông : Số dân ở vùng biển rất lớn, và hiện nay không có việc làm khá đông. Người ta chủ yếu dựa vào đánh bắt hải sản. Nhưng có những vùng, như Bãi Ngang không đánh bắt được. Không phải tất cả cư dân ở ven biển đều đi đánh bắt được đâu. Bởi vì phải có các điều kiện : phụ thuộc vào ngư trường, rồi phương tiện, rồi lao động.
RFI : Nhưng về ngư trường, không biết ông có nghe thấy rằng nó bị giảm sút trong những năm gần đây, có đúng không ông ?
Lê Văn Cuông : Nói tóm lại, càng ngày vấn đề đánh bắt của bà con càng khó khăn hơn. Ở trong bờ, lượng hải sản ít và không có giá trị cao. Đánh bắt ở ngoài khơi xa, thì phải có các phương tiện đánh bắt, rồi phụ thuộc vào nguồn vốn, vào thời tiết, vào ngư dân nước ngoài. Chủ yếu là với Trung Quốc hay có những va chạm trên biển, [chuyện này] cũng gây cho ngư dân các khó khăn hay tâm lý lo ngại, sợ có các đụng chạm « trên kia » thì bị bắt, hoặc bị gây khó khăn, nên kết quả đánh bắt của ngư dân cũng rất bị ảnh hưởng.
RFI : Ở vùng ven biển, hiện nay có nhiều than phiền là đất bị ngập mặn, không thể trồng cây lương thực được. Theo ông, có phải vấn đề này cứ tiếp tục tồn tại dai dẳng như vậy phải chăng tại vì Thanh Hóa không huy động được các biện pháp khoa học kỹ thuật để có thể canh tác được tại các vùng đất gặp khó khăn này ?
Lê Văn Cuông : Riêng ở Thanh Hóa, có những huyện như Nga Sơn chúng tôi là chịu ảnh hưởng trực tiếp. Bà con cũng kiến nghị nhiều. Về lâu dài hiện nay có những phương án được đề nghị, như làm đập Lèn để lấy nước ngọt đưa xuống vùng biển để giải quyết vấn đề thiếu nước ngọt, hoặc cũng đang có kế hoạch quai đê lấn biển, hoặc chuyển đối sang cây cói, hoặc sang nuôi hải sản.
RFI : Thưa ông, xin được hỏi ông một câu cuối cùng. Cái ý này nếu có gì không phải xin ông bỏ quá cho. Trong truyền thống của Thanh Hóa, có một số địa phương vác bị gậy đi ra các vùng khác để ăn xin. Vậy thì, phải chăng cái truyền thống đó có ảnh hưởng phần nào đến ý thức tự túc đời sống tại chỗ của người dân ở một số vùng tại Thanh Hóa ?
Lê Văn Cuông : Vấn đề này, thực tế trước đây là có. Có những xã, như xã Quảng Thái (huyện Quảng Xương), người ta gọi là « ăn mày ». Có rất nhiều người đi lang thang khắp cả nước để ăn xin, nhưng gần đây tình trạng này đã giảm rất nhiều. Và có thể nói, hiện tượng đi ăn xin bây giờ không phải do thiếu đói, do này khác, mà có thể là người ta lợi dụng vào tình hình để người ta đóng giả những người khó khăn, lợi dụng đi ăn xin để tăng thêm thu nhập cho gia đình. Thậm chí có trường hợp, làm một cái nhà, thiếu mấy bộ cửa hay cái này cái khác, thì người ta lợi dụng. Trước đây có cái nghề [ăn mày], vì thiếu thốn, phải đi ăn xin thật. Sau này, cuộc sống khấm khá lên, nhưng mà bản năng, kinh nghiệm đi ăn xin đã nằm trong dòng máu của họ vẫn còn, nên họ [vẫn tiếp tục] lợi dụng để nâng cao cuộc sống, chứ không phải do thiếu. Bây giờ nó phức tạp là thế. Những người đi ăn xin bây giờ có người thực chất, nhưng cũng có người không thực chất.
Nói tóm lại, ở những xã như Quảng Thái chúng tôi đã thay đổi rất nhiều, và cuộc sống của bà con khấm khá rất nhiều và hiện tượng hành khất, ăn xin khắp nơi không còn phổ biến như trước nữa.
RFI : Xin trân trọng cảm ơn ông Lê Văn Cuông đã trả lời phỏng vấn.

tags: Các vấn đề xã hội - Kinh tế - Nông nghiệp - Ngư nghiệp - Phỏng vấn - Việt Nam

NATO không có "phương án B" cho Libya

Nato giúp cho phe nổi dậy không bị thua nhưng họ không giành được chiến thắng.

"Bế tắc" không phải là từ quý vị có thể nghe thấy ở nơi công cộng từ miệng của các vị lãnh đạo hay các quan chức phụ trách truyền thông trong Bộ Quốc phòng tại London, theo Jonathan Marcus, phóng viên quốc phòng của BBC.
Tất nhiên là Anh và Pháp đang đứng ở tuyến đầu trong việc thúc đẩy hành động quân sự tại Libya.
Hồi đầu tuần, sau các cuộc đàm phán với Bộ trưởng Quốc phòng Pháp, Bộ trưởng Quốc phòng Anh Liam Fox đã bác bỏ các ý tưởng về tình thế bế tắc quân sự và nói rằng sứ mệnh bảo vệ người dân ở Libya sẽ vẫn được tiếp tục thực hiện.
Ông Fox nói: "Điều quan trọng là chúng ta không đưa ra bất kỳ dấu hiệu từ bỏ nào."
Tuy nhiên, London, Paris và cả các nơi khác nữa sẽ thở phào nhẹ nhõm trước các báo cáo ban đầu nói phe phiến quân đã tiến vào và có mặt quanh thị trấn bị bao vây Misrata.
Phía sau hậu trường, hiện người ta vẫn đang ngày càng quan ngại về độ dài thời gian của chiến dịch, và thực tế là sự hùng biện chính trị dường như đã vượt quá những gì các biện pháp quân sự có thể đem lại.
Giáo sư Tony Cordesman thuộc Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế từ Washington, nhìn nhận: "Sứ mệnh chỉ có thể thành công nếu ông Gaddafi và chế độ của ông ta trở thành mục tiêu chính và bị tước quyền lực."
Kể từ khi ông Gaddafi tỏ ra không thể mua chuộc được, ông ta sẽ bị giết chết.
Giáo sư Andrew Bacevich, Đại học Boston
Một trong những nhà bình luận quốc phòng hàng đầu của Mỹ này nói, việc vờ áp dụng vùng cấm bay hoặc tấn công các đơn vị nhỏ lẻ của Libya thì chỉ "là trò hề và là việc sử dụng sức mạnh một cách không hiệu quả."
Một chuyên gia khác, Andrew Bacevich, giáo sư về quan hệ quốc tế tại Đại học Boston, thậm chí còn nói thẳng thắn hơn. "NATO đã tự đẩy mình vào tình trạng rối ren thực sự," ông nói với tôi.
"Lối thoát thì có vẻ khá rõ ràng. Có lẽ là việc muốn đẩy Đại tá Gaddafi ra khỏi cuộc chơi sẽ có nghĩa là phải đối chọi với các lực lượng của Libya," giáo sư Bacevich nói.
"Kể từ khi ông Gaddafi tỏ ra không thể mua chuộc được, ông ta sẽ bị giết chết."
"Tôi cho rằng các nhà lãnh đạo liên minh hiểu điều đó, kể cả khi họ không nói ra lời."
Không lực của Nato cho đến nay đã giúp cho phe phiến quân thoát khỏi cảnh thất bại, nhưng không đủ để đảm bảo giúp họ chiến thắng.
Không lực thậm chí còn gặp khó khăn trong việc phá vỡ cuộc bao vây thị trấn Misrata.
Vũ lực hay ngoại giao?
Nhưng gần như ngay từ đầu, mục tiêu của chiến dịch này đã gây bối rối.
Ông Gaddafi vẫn tồn tại, bất chấp sự yểm trợ của Nato giành cho phe phiến quân.
Nghị quyết của Liên Hợp Quốc, theo đó cho phép sử dụng vũ lực, thì có phạm vi rộng, nhưng chỉ dành cho việc bảo vệ dân thường.
Nó không thể dùng để biện minh cho việc thay đổi chế độ.
Tuy nhiên, một số các chính phủ chủ chốt tham gia vào chiến dịch - không chỉ Mỹ, Anh và Pháp - đã chẳng hề giấu giếm mong muốn việc Đại tá Gaddafi phải ra đi.
Nhà phân tích kỳ cựu về chính sách đối ngoại Hoa Kỳ, Leslie Gelb lo rằng mục tiêu loại bỏ nhà lãnh đạo Libya có nghĩa là các nỗ lực ngoại giao đã không được mấy quan tâm trong việc chấm dứt cuộc khủng hoảng.
Sự can thiệp của các lãnh tụ trong Liên minh châu Phi hồi giữa tháng Tư là một trong những nỗ lực đó.
"Tôi nghĩ họ (NATO) đã bỏ lỡ cơ hội về đề nghị ngừng bắn mà các vị tổng thống châu Phi đưa ra," ông Gelb nói.
"Các lãnh tụ châu Phi đã đề xuất thỏa thuận lệnh ngừng bắn với nội dung quy định quá cụ thể. Lẽ ra NATO cần phản ứng bằng cách đưa ra nội dung bao quát hơn, đặc biệt là sau khi Đại tá Gaddafi đã chấp nhận."
Trong những ngày gần đây, đã có thêm các cuộc không kích của NATO vào các trung tâm chỉ huy tại Libya - là các mục tiêu có thể có mặt nhà lãnh đạo Libya.
Người ta đã không nhìn thyấ ông Gaddafi trong những ngày qua.
Nhiều nhà phân tích tự hỏi liệu nay ông có phải đã trở thành một mục tiêu rõ ràng hay không.
Mong muốn
Đừng bắt đầu một lựa chọn quân sự nếu chưa có một kế hoạch tấn công khả thi và tinh thần sẵn sàng sử dụng vũ lực.
Giáo sư Tony Cordesman, Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế, Washington
Nay, tình hình đã ở mức không thể quay ngược trở lại như trước được nữa.
Tất cả mọi người vào lúc này đều đặt câu hỏi: Đại tá Gaddafi có thể bị đẩy khỏi quyền lực hay không, dù bằng cách này hay cách khác?
Lybia thời hậu Gaddafi sẽ ra sao? Liệu rồi một nghị quyết ngoại giao sẽ được thương thuyết ra sao? Liệu một cuộc chạm súng hỗn loạn, trong lúc Đại tá Gaddafi vẫn nắm giữ được Tripoli, sẽ có nhiều khả năng xảy ra hay không?
Tony Cordesman đã đưa ra một số bài học mà ông nghĩ cần được rút ra từ cuộc khủng hoảng này.
"Đừng bắt đầu một lựa chọn quân sự nếu chưa có một kế hoạch tấn công khả thi và tinh thần sẵn sàng sử dụng vũ lực," ông nói.
Ông tin rằng mục tiêu nên là "tổng chi phí nhân đạo của hành động quân sự, chứ không chỉ đơn giản như khi hạn chế những thiệt hại xảy ra do cuộc đình công đơn lẻ. Cần cần nhắc phí tổn với thời gian tính bằng ngày, bằng tuần và bằng tháng đối với các cuộc giao tranh, tính trên tổng dân số."
Nhìn lại thời điểm hồi giữa tháng Ba, khi các chiến dịch trên không bắt đầu, có lẽ không chính phủ nào tham gia chiến dịch lại nghĩ Đại tá Gaddafi sẽ vẫn nắm quyền sau đó hai tháng. Có lẽ người ta đều tin rằng cả ông và chế độ của ông đã tới số.
Nay, điều đó dường như vẫn đang chỉ là chuyện mong muốn.
Dùng vũ lực chưa đủ, như Tony Cordesman khẳng định? Hay bởi đã bỏ lỡ các cơ hội ngoại giao, như lập luận của Leslie Gelb?
Dù bởi lý do gì đi chăng nữa, thì sự việc cũng đã diễn ra không theo như mong đợi của Anh, Pháp và Mỹ.
Khởi đầu bằng chiến dịch trên không, các nước dường như không có cách nào khác ngoài việc phải tiếp tục cách đó.

BBC 
 ***
Hoa Kỳ không công nhận Hội đồng Quốc gia Lâm Thời Libya
Mahmoud Djibril (giữa) với thượng nghị sĩ Mỹ John Kerry tại Washington
Mahmoud Djibril (giữa) với thượng nghị sĩ Mỹ John Kerry tại Washington
Chip Somodevilla/Getty Images/AFP
Minh Anh
 
Cố vấn an ninh quốc gia Mỹ, ông Tom Donilon tuyên bố rằng Hoa Kỳ xem Hội đồng Quốc gia Lâm thời Libya như « một người đối thoại hợp pháp và đáng tin cậy đại diện cho nhân dân Libya”.
Hôm qua, 13/05/2011, một phái đoàn quân nổi dậy Libya do ông Mahmoud Djibril dẫn đầu đã có buổi hội kiến tại Nhà Trắng với một cố vấn của Tổng thống Barack Obama. Không như những gì họ trông đợi, chính phủ Hoa Kỳ không công nhận Hội đồng Quốc gia Lâm thời của quân nổi dậy Libya. Cố vấn an ninh quốc gia, ông Tom Donilon tuyên bố rằng Hoa Kỳ xem Hội đồng Quốc gia Lâm thời như « một người đối thoại hợp pháp và đáng tin cậy đại diện cho nhân dân Libya”.
Từ Washington, thông tín viên Jean-Louis Pourtet gởi về bài tường trình :
"Ngoài việc được cố vấn an ninh quốc gia của Tổng thống, Tom Donilon, đón tiếp long trọng tại Nhà Trắng, Mahmoud Djibril ra đi gần như với đôi bàn tay trắng. Ông đến Mỹ nhằm tìm kiếm sự hậu thuẫn về tài chính và sự công nhận về mặt ngoại giao. Ông đã không đạt được một điều nào hết.
Một điều chắc chắn, về giao tế, chuyến đi Washington của ông Djibril lần này là một thành công : hội kiến với chủ tịch Ủy ban đối ngoại John Kerry tại Thượng viện, đọc diễn văn tại cơ quan tham vấn có uy tín Brooking Institution, thảo luận với Bộ Ngoại giao và cao trào là cuộc tiếp kiến tại Nhà Trắng, nhưng không có mặt tổng thống Barack Obama.
Tuy nhiên, phái đoàn đã không thu được kết quả lớn lao gì, ngoài trừ việc phát ngôn viên Tổng thống, ông Jay Carney đã bày tỏ thiện cảm với cuộc đấu tranh của phe nổi dậy và cho rằng « Hội đồng Quốc gia Lâm thời là một người đối thoại chính đáng và có thể tin tưởng được của nhân dân Libya ». 
Nhưng để Hoa Kỳ công nhận Hội đồng Quốc gia Lâm thời theo mong muốn của phái đoàn Libya, thì không thể làm ngay được : hồ sơ đang được xem xét. Hiện tại, phe nổi dậy Libya đang cần gấp 3 tỷ đô-la để tồn tại. Lúc này, chính phủ Mỹ đồng ý nâng số tiền viện trợ không vũ khí lên 25 triệu đô-la và 53 triệu cho viện trợ nhân đạo.
Cũng liên quan đến Libya, hôm qua, trong một băng ghi âm được phát trên đài truyền hình Nhà nước Libya, đại tá Kadhafi khẳng định rằng các cuộc oanh kích của Nato sẽ không chạm được đến ông.
Mẩu tin nhắn ngắn ngủi này được phát đi nhằm trả lời những nghi ngờ của chính quyền Ý cho rằng có khả năng ông Kadhafi đã bị thương và đang trên đường đào tẩu. Trước đó, Ý đã dựa trên những tuyên bố của giám mục Tripoli về sự việc này. Ngay sau đó, trả lời phỏng vấn đài phát thanh quốc tế Pháp RFI, vị giám mục này đã phủ nhận về những lời nói trên.
AFP cho biết, vào đêm thứ năm vừa qua? 12/05/11 các cuộc không kích của Nato đã đánh trúng khu dinh thự của nhà lãnh đạo Libya, làm thiệt mạng 3 người, bao gồm 2 nhà báo và 27 bị thương, theo một nguồn tin xác nhận từ chính phủ Tripoli.
tags: Hoa Kỳ (Mỹ) - Libya - Quốc tế

Pakistan lên án vụ Mỹ giết Bin Laden

Quốc hội Pakistan đề nghị xem xét lại quan hệ với Hoa Kỳ trong chuyện biệt kích Mỹ sát hại Osama Bin Laden.
Trong một buổi họp kéo dài của lưỡng viện các dân biểu yêu cầu mở một cuộc điều tra độc lập.
Tuyệt đại đa số các dân biểu thông qua một nghị quyết thục giục chính phủ cấm cho Nato quá cảnh trừ phi Hoa Kỳ ngưng các cuộc công kích bằng máy bay không người lái.
Buổi họp kéo dài trong 10 tiếng của quốc hội diễn ra sau khi Taliban nói họ thực hiện hai vụ đánh bom cảm tử làm cho 80 người thiệt mạng.
Hôm thứ Sáu có ít nhất 120 người bị thương, đa số là tân binh của trường huấn luyện bán quân sự Shabqadar, trong quận Charsadda.
Tăng cường an ninh
Taliban ở Pakistan nói họ đánh bom để trả thù cho Bin Landen.
Vụ đột kích ngày 2 tháng Năm của lực lượng đặc nhiệm Mỹ vào nơi trú ẩn của lãnh đạo al-Qaeda đã làm cho quan hệ Washington-Islamabad cực kỳ căng thẳng.
Các dân biểu Mỹ yêu cầu Washington cắt hàng tỉ đôla viện trợ, nói rằng một số quan chức Pakistan ắt phải biết Bin Laden trốn trên đất của họ - một cáo buộc phía Pakistan luôn bác bỏ.
Quốc hội Pakistan nói cuộc đột kích của Mỹ là một sự xâm phạm chủ quyền của Pakistan.
"Nhân dân Pakistan không còn dung dưỡng được những hành động như vậy và sự lập lại của các giải pháp đơn phương có thể dẫn tới hậu quả xấu cho hòa bình và an ninh trong khu vực và trên thế giới,'' hãng tin AFP trích thuật nội dung của nghị quyết.
Taliban đánh bom trả thù hôm thứ Sáu
'Không thể chấp nhận'
Nghị quyết đề nghị có một cuộc điều tra để ''qui trách nhiệm và khuyến nghị các giải pháp cần thiết để những chuyện như vậy không tái diễn''.
Nghị quyết cũng nói việc Hoa Kỳ dùng máy bay không người lái để tấn công các dân quân trên miền núi dọc biên giới với Afghanistan là ''không thể chấp nhận".
Nghị quyết nói nếu các vụ tấn công đó không chấm dứt, chính phủ nên xem xét khả năng cấm không cho Nato quá cảnh đồ tiếp tế cho các lực lượng của họ ở Afghanistan.
Năm ngoái ước đoán Hoa Kỳ đã thực hiện hơn 100 vụ tấn công bằng máy bay không người lái.
Trong những tháng qua giới chức Pakistan đã yêu cầu Mỹ giảm thiểu các phi vụ này vì công chúng phẫn nộ và vì thương vong trong dân thường.

BBC
***
Pakistan đòi Mỹ ngừng tấn công bằng máy bay không người lái
Pakistan đòi Mỹ ngưng tấn công bằng máy bay không người lái.
Pakistan đòi Mỹ ngưng tấn công bằng máy bay không người lái.
REUTERS/K. Pervez
Trọng Thành
 
Ngày 14/05/11, Quốc hội Pakistan, sau 10 giờ thảo luận, đã thông qua một nghị quyết lên án việc tình báo Hoa Kỳ dùng máy bay không người lái để tấn công Al-Qaida và quân Taliban. Islamabad yêu cầu tiến hành một cuộc điều tra độc lập về cuộc tấn công tiêu diệt thủ lĩnh Al-Qaida.
Trong nghị quyết được Quốc hội Pakistan thông qua hôm nay, có một khuyến cáo cụ thể là chính quyền nước này cần ra điều kiện với Hoa Kỳ theo đó, đường viện trợ cho các lực lượng của liên quân tại Afghanistan sẽ bị cắt, nếu Washington không ngừng các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái tại khu vực các bộ tộc.
Các cuộc tấn công do những chiếc máy bay không người lái của CIA tại Pakistan được thực hiện từ năm 2004, và đặc biệt được tăng cường kể từ mùa hè năm 2008. Trong mấy tháng gần đây, các vụ tấn công bằng phương tiện này đã xảy ra gần như hàng ngày.
Năm 2010, các máy bay không người lái Mỹ đã thực hiện khoảng 100 đợt oanh tạc, khiến 670 người thiệt mạng. Theo nguồn tin quân sự Pakistan, có nhiều dân thường trong số những người chết. Hôm nay, một cuộc tấn công kiểu này tại Pakistan đã khiến 5 người thiệt mạng.
Ngày thứ năm 12/5, thủ tướng Pakistan Yousuf Raza Gilani nhận định, để có hiệu quả hơn, các máy bay Mỹ cần phải được đặt dưới sự điều hành của Islamabad.
Tiếp theo vụ khủng bố ngày hôm qua khiến 89 người thiệt mạng tại Pakistan, trong đó chủ yếu là các thanh niên trong lực lượng bán quân sự, Quốc hội nước này đã lên án cuộc tấn công của Mỹ vào nơi trú ẩn của thủ lĩnh Al-Qaida đêm ngày 1, rạng sáng ngày 2 tháng 5, coi đó như một hành động vi phạm chủ quyền lãnh thổ quốc gia. Quốc hội Pakistan cũng yêu cầu xem xét lại quan hệ giữa hai nước.
Theo thông tín viên RFI Nadia Blétry, tất cả các báo chí Pakistan hôm nay, đưa tin về vụ khủng bố tự sát để trả thù cho cái chết của Ben Laden, đều nhấn mạnh rằng, những nạn nhân đầu tiên của việc trả thù đều là các thanh niên rất ít được bảo vệ.
Nhật báo Anh ngữ The News, trong bài xã luận, đã cay đắng nhận xét : « Trong khi người Mỹ ăn mừng với cái chết của Ben Laden, thì người Pakistan đã phải trả một cái giá rất đau đớn », và nói thêm : những thanh niên thiệt mạng vừa rồi không hề có trách nhiệm gì trong cuộc tấn công của Mỹ vào nơi ở của thủ lĩnh Al-Qaida.
Ngược lại, nhật báo Express Tribune đã kêu gọi chính giới và quân đội hãy cảnh giác và bảo vệ đất nước bằng cách chiến đấu thực sự chống lại các phong trào cực đoan.
Cũng trong buổi họp Quốc hội hôm qua, theo một nghị sĩ, giám đốc cơ quan tình báo Pakistan, tướng Ahmad Shuja Pasha đã tuyên bố sẵn sàng từ chức. Washington cho rằng sở dĩ Ben Laden có thể cư trú lâu dài ngay trong một khu vực trung tâm ở Pakistan là vì có một sự che chở nào đó trong chính quyền Pakistan, cụ thể là các bộ phận trong cơ quan tình báo Pakistan ISI. Chính phủ Hoa Kỳ tuyên bố kiên quyết làm sáng tỏ bằng được chuyện này.
Hoa Kỳ đã tiếp xúc với ba vợ góa của Oussama Ben Laden
Ngày 13/05/2011, người phát ngôn Nhà trắng cho biết, Mỹ đã tiếp xúc được với ba người vợ góa của Oussama Ben Laden, hiện nằm dưới sự kiểm soát của Pakistan.
Theo kênh truyền hình CNN, ba người này được thẩm vấn cùng một lúc, vì họ không chấp nhận tiếp xúc từng người một với các nhân viên Mỹ. Họ có thái độ « đối kháng một cách công khai » với các nhân viên điều tra. Chỉ có người cao tuổi nhất trong số họ là chấp nhận phát biểu. Hiện không có tin tức cụ thể gì về nội dung của cuộc đối thoại.
Sau cuộc tấn công vào Abbottabad, Hoa Kỳ đang nỗ lực tìm cách chắp nối các thông tin có được để dựng lại bản đồ di chuyển của thủ lĩnh Al-Qaida và đưa ra ánh sáng các cơ sở hậu thuẫn mà Ben Laden đã từng dựa vào để hoạt động trong những năm gần đây.

Máy bay năng lượng mặt trời thành công chuyến bay quốc tế đầu tiên



Solar Impulse, máy bay chạy bằng năng lượng mặt trời - ảnh Reuters

Trọng Thành - RFI - Thứ bảy 14 Tháng Năm 2011

Ngày 13/05/11chiếc máy bay Solar Impulse, hoàn toàn sử dụng năng lượng mặt trời, đã hạ cánh an toàn tại Bỉ sau 13 giờ bay. Cất cánh từ sân bay quân sự Thụy Sĩ Payerne lúc 6 giờ 40 phút, Solar Impluse đã hạ cánh tại Bruxelles vào lúc 19 giờ 40 phút, vượt qua chặng đường 500 km.

Sải cánh của máy bay Solar Impulse là 64 mét, tương đương với chiếc Airbus 340, nhưng toàn bộ máy bay chỉ nặng có 1,6 tấn. Chiếc máy bay chạy bằng năng lượng mặt trời này đã đi vào lịch sử ngành hàng không, khi thực hiện một chuyến bay liên tục trong 24 giờ chỉ với năng lượng mặt trời vào tháng 7/2010.

Chiếc Solar Impulse mang tới 12.000 pin quang điện (photovoltaique). Solar Impulse lần này bay cao hơn lần trước, độ cao nhất đạt tới là 3.600 mét, và có lúc tốc độ đạt 70km/giờ.

Trả lời phỏng vấn AFP, ngay sau khi hạ cánh, nhà chế tạo Solar Impulse ông Bertrand Picard nói : Với chuyến bay này, ông muốn cổ vũ các nhà lãnh đạo chính trị theo đuổi các chính sách sử dụng năng lượng tái tạo một cách táo bạo hơn. Ông cho biết, vào lúc tất cả máy bay thắp sáng tối đa, lượng điện tiêu thụ của máy bay chỉ bằng một chiếc bóng đèn 100 watts, và Solar Impluse hạ cánh êm ru không một tiếng động.

Mục tiêu của nhóm chế tạo máy bay trong thời gian tới là làm ra một chiếc Solar Impulse mới, hoàn hảo hơn, có khả năng vượt Đại Tây Dương. Nhóm này chủ trương tiến hành thử nghiệm một chuyến bay vòng quanh thế giới, được chia làm năm chặng, vào khoảng năm 2013 hay 2014.

Nhà chế tạo máy bay nhấn mạnh, bây giờ thật là điên rồ, nếu cho rằng có thể đưa máy bay dùng năng lượng mặt trời vào sử dụng để kinh doanh, nhưng cũng thật là ngớ ngẩn nếu như cho rằng đây chỉ là một điều hoang tưởng.

Bertrand Picard nổi tiếng vì đã từng đi vòng quanh thế giới bằng khinh khí cầu. Ông xuất thân từ một gia đình đã sinh ra nhiều nhà du hành nổi tiếng.

Hoàng tử Philippe, người có triển vọng trở thành quốc vương Bỉ tương lai vốn rất hâm mộ ngành hàng không và bản thân cũng là phi công, đã theo sát chuyến bay của Solar Impulse trên một chiếc trực thăng. 
 
TGNV

Đêm thắp nến nguyện cầu và tưởng niệm Ngày Quốc Hận (1975 - 2011)


(Melbourne 29/04/2011)

“Đêm nay Cộng Đồng của chúng ta cùng ôn lại những gì đã và đang xảy ra cho đất nước và đồng bào VN của chúng ta sau 36 năm kể từ ngày 30/4/1975 định mệnh.” - đó là lời mở đầu buổi lễ của ông Nguyễn Thế Phong, và ông nói tiếp:

“Đêm nay, trong đền thờ Quốc Tổ thiêng liêng này, chúng ta hãy cùng nhau:

•    Lắng đọng tâm hồn và đốt nén hương lòng để tưởng nhớ đến toàn thể các chiến sĩ và dân quân cán chính của VNCH đã hy sinh, đặc biệt những vị đã tuẩn tiết không đầu hàng giặc vào những giờ phút lâm chung của tự do, dân chủ và độc lập của miền Nam VN và hàng triệu đồng bào quân dân các chính miền Nam đã vùi thây trong các trại tù tập trung cải tạo, trong các vùng kinh tế mới, chết cô quạnh trong rừng sâu hay mất xác dưới lòng đại dương trên đường vượt thoát chế độ phi nhân tàn bạo CSVN.

•    Ôn lại những gì đã và đang xãy ra trên quê hương yêu dấu, trên những đồng bào ruột thịt, trên những sông núi và lãnh hải mà ông cha và tổ tiên ta đã hy sinh biết bao xương máu để xây đắp và giử gìn, trên những người dân vô tội, trên những nhà trí thức yêu nước, trên những bậc tu hành và lãnh đạo các tôn giáo, trên thân xác của những phụ nữ và trẻ em và trên những hình hài của những cụ già bệnh hoạn, đói rách và trên tương lai vô định, tối tăm của Dân Tộc sau ngày định mệnh Quốc Hận 30-4 ấy.

•    Nhìn lại và tự vấn xem mình đã và sẽ làm gì được để đóng góp phần mình cho hiện tình nguy ngập và thê lương của Đất Nước hầu không hổ thẹn với các bậc tiền nhân và trả ân cho những người đã nằm xuống hy sinh tương lai của họ cho ngày hôm nay của chúng ta.”

Sau cái ngày gọi là “Giải Phóng” và Đất Nước hoàn toàn không còn chiến tranh và thống nhất ấy. Sau cái ngày mà những kẻ chiến thắng loan tin và hứa hẹn sẽ “không trả thù” sẽ “ không phân biệt giai cấp” sẽ “gây dựng đất nước giàu mạnh gấp mười gấp trăm lần hơn xưa” ấy. Chúng ta đã thấy gì? Chúng ta chỉ thấy “bo bo”, chúng ta chỉ thấy “nhà tù”, chúng ta chỉ thấy “vượt biên” và chúng ta chỉ thấy những “em bé tát dầu”…….

Tiếp theo, ông Nguyễn văn Bon (Chủ Tịch CĐNVTD-VIC) đã nhắc lại những sự hy sinh lớn lao, tinh thần chiến đấu dũng cảm của QLNVCH để bảo vệ sự Tự Do của Miền Nam Việt Nam cho đến ngày tàn cuộc chiến. Và lòng đồng hương chùng xuống khi ngậm ngùi nghĩ đến những sự đau thương, nghiệt ngã, uất hận của người dân Miền Nam và nhất là các chiến sĩ QLVNCH.

Ông Nguyễn Thế Phong đã nói thêm -

“36 năm sau. Chúng ta đã và đang chứng kiến những gì? Cả nước quằn quại trong đói rét, nghèo túng áp bức và bất công. Áp bức và bất công len lõi vào từng nhà, từng con hẽm, từng đường phố, từng làng quê, từng miếng đất, không chừa một ai ngoại trừ cán bộ, đảng viên và gia đình dòng họ của họ sống như những ông hoàng, bà chúa. 36 năm sau tiếng rên la, quằn quại đau thương của hơn 85 triệu người dân đã đi đến đâu trong tâm khảm của những con người may mắn vượt thoát chế độ man rợ và tàn ác ấy?.....

36 năm không chiến tranh tại sao chúng ta mất Ải Nam Quan, chúng ta mất Thác Bản Giốc, chúng ta mất Tây Nguyên, chúng ta mất Trường Sa, chúng ta mất Hoàng Sa, chúng ta mất nhân phẩm, chúng ta mất nhân quyền, chúng ta mất chủ quyền và chúng ta đang có cơ nguy mất nước mà mất Nước là mất tất cả. Ai?  Việc gì đã xãy ra? Tại sao? “

Buổi lễ Thắp Nến Tưởng Niệm Ngày 30 Tháng Tư không phải chỉ được tổ chức như là một buổi lễ tưởng niệm thuần tuý mà là một buổi lễ để hướng tấm lòng về quê hương đất nước nơi có bao nhiêu triệu người đang sống lầm than với bao nổi oan khiên, đau thương, khổ ải.

Đây là dịp để cho các thế hệ bày tỏ tấm lòng đối với quê cha đấ tổ. Ông Nguyễn Việt Long (Chủ Tịch Hội Cựu Quân Nhân VIC) đã nói về những sự khó khăn mà những người thuộc thế hệ thứ nhất phải trãi qua lúc ban đầu khi nhìn lại chặng đường 36 năm qua. Và ông cũng đã nhắc lại những năm tháng cùng đồng đội đặt chân trên mọi miền của đất nước để chiến đấu bảo vệ sự tự do cho Miền Nam, đi theo những bước thăng trầm cùng với vận nước nổi trôi. Để rồi ông và đồng đội đã bàng hoàng, đau đớn buông súng vào ngày 30 Tháng Tư 1975. Tiếp đến là những năm tháng tù đày tủi nhục trong những trại "học tập cải tạo". Khi ra khỏi ngục tù thì con đường sống duy nhất là vượt biên, vượt biển đi tìm tự do.

Thế hệ thứ hai, cô Nguyễn Lê Thanh Trúc đã run run xúc động khi phát biểu những ý tưởng của mình -

"Ngày 30 tháng 4 năm 1975 đi vào lịch sử của Dân Tộc Việt Nam, những trang sử đen tối nhất của một Dân Tộc, trong những trang sử đó không thiếu những chiến công và sự hy sinh của vô số  quân nhân Quân Lực VNCH, và những trang sử đó cũng chứa đầy dẫy những vết dơ tội ác của đảng cộng sản Việt Nam đã gây ra trong suốt 36 năm nay trãi dài 3 miền đất Nước Việt nam.

30 tháng 4 năm 1975 còn là một ngày chôn sống cả một tương lai của toàn dân Nước Việt. Một Ngày Quốc nhục Quốc Hận, Nhục cho một Dân Tộc hào hùng trở thành nô lệ cho ngoại bang Tàu Cộng , Hận vì cả một chính nghĩa Quốc Gia phải rơi vào một thế cờ chính trị để bị bức tử, một quân đội hào khí ngất trời phải bị bức tử buông súng, trong khi đáng lẽ chúng ta phải thắng Việt cộng.

Lịch sử đã không cho phép tuổi trẻ lùi bước, chính lịch sử cho tuổi trẻ chúng ta thêm sức mạnh, chính chiến trường Miền Nam với sự bức tử mà quân đội VNCH phải chịu năm xưa, thế hệ thứ 1, một thế hệ Cha Ông phải gánh chịu sự uất ức, đau đớn khi nhìn Miền Nam và cả Nước rơi vào tay Cộng Sản loài qủy đỏ vong nô, với những điều đó cũng đủ cho hôm nay tuổi trẻ chúng ta phải rút ra được một bài học rất quan trọng có thể làm hành trang cho một Dân Tộc, đó là Tinh Thần Dân Tộc Tự Quyết!"

(xin vui lòng xem đính kèm để đọc trọn bài phát biểu của cô Nguyễn Lê Thanh Trúc).

Kế tiếp, cháu Khánh Vân đã mạnh dạn nói lên những ưu tư và ước mơ của một con em thuộc thế hệ thứ 3 -

"Con sinh ra và lớn lên tại Úc, con chỉ biết quê hương Việt Nam qua bài giảng  của thầy cô, lời dạy của Ba Mẹ. Ba Mẹ con vì không thể sống dưới chế độ Cộng sản mà phải bỏ nước ra đi.

Ba Mẹ thường dạy cho con biết từ khi quê hương Việt Nam lọt vào tay bạo quyền Hà Nội, chúng đã xem đất nước là của riêng, chúng tự ý cắt đất, dâng biển cho Tàu, cho Tàu khai thác Bauxite, đe dọa môi trường sống của người dân Việt, di hại đến cả trăm năm. Người dân thì bị coi như cỏ rác, muốn bắt bớ, đánh đập, giết chết lúc nào cũng được. Vì cuộc sống khó khăn đã xãy ra biết bao đau buồn cho dân tộc, như người lừa lọc người, sống theo bản năng, không có tình nhân bản. Giá trị đạo đức của xã hội Việt Nam bị băng hoại.

Sống trong xã hội Úc Công bình, nhân ái, tự do, con rất muốn chia sẽ điều đó với đồng bào trong nước, mong muốn xã hội Việt Nam cũng được như thế.

Qua cuộc Cách mạng hoa Lài tại Bắc Phi và Trung Đông, con mơ ước một cuộc cách mạng như thế sẽ xãy ra tại Việt Nam.

Với những mong ước đó, con cảm thấy con cũng phải có bổn phận tham gia cùng quí ông bà, các cô chú trong cộng đồng  đấu tranh cho một Viêt Nam thật sự tự do và con nguyện với lòng sẽ làm với tất cả khả năng của chúng con."

Thế hệ thứ nhất và một rưỡi là những người luôn nặng lòng với đất nước là điều dễ hiểu, nhưng những con em thuộc thế hệ thứ hai, thứ ba mà vẫn có những ưu tư đối với Việt Nam thì đó là một điều thật đáng quý.

Trong một không khí thật trang nghiêm, đồng hương đã lần lượt cùng nhau dâng lên trước bàn thờ Quốc Tổ một ngọn nến, một nén nhang và nguyện cầu cho một Việt Nam tươi sáng, an bình.

Sau khi buổi lễ bế mạc, đồng hương đã háo hức kéo nhau lên xe buýt lên đường với những chuyến xe về sáng đến Canberra để biểu tình tưởng niệm ngày Quốc Hận.

---

Thế Hệ Thứ hai Làm Được Gì Cho Tổ Quốc Và Dân Tộc

Dân Tộc Việt nam có hơn 4000 năm Văn Hiến, các bậc Hiền Nhân Anh Hùng Có Công lao dựng Nước và giữ Nước nhiều vô số chúng ta không kể hết.

Ngày 30 tháng 4 năm 1975 đi vào lịch sử của Dân Tộc Việt Nam, những trang sử đen tối nhất của một Dân Tộc, trong những trang sử đó không thiếu những chiến công và sự hy sinh của vô số  quân nhân Quân Lực VNCH, và những trang sử đó cũng chứa đầy dãy những vết dơ tội ác của đảng cộng sản Việt Nam đã gây ra trong suốt 36 năm nay trãi dài 3 miền đất Nước Việt nam.

30 tháng 4 năm 1975 còn là một ngày chôn sống cả một tương lai của toàn dân Nước Việt. Một Ngày Quốc nhục Quốc Hận, Nhục cho một Dân Tộc hào hùng trở thành nô lệ cho ngoại bang Tàu Cộng , Hận vì cả một chính nghĩa Quốc Gia phải rơi vào một thế cờ chính trị để bị bức tử, một quân đội hào khí ngất trời phải bị bức tử buông súng, trong khi đáng lẽ chúng ta phải thắng Việt cộng.

Lịch sử đã không cho phép tuổi trẻ lùi bước, chính lịch sử cho tuổi trẻ chúng ta thêm sức mạnh, chính chiến trường Miền Nam với sự bức tử mà quân đội VNCH phải chịu năm xưa, thế hệ thứ 1, một thế hệ Cha Ông phải gánh chịu sự uất ức, đau đớn khi nhìn Miền Nam và cả Nước rơi vào tay Cộng Sản loài qủy đỏ vong nô, với những điều đó cũng đủ cho hôm nay tuổi trẻ chúng ta phải rút ra được một bài học rất quan trọng có thể làm hành trang cho một Dân Tộc,  đó là Tinh Thần Dân Tộc Tự Quyết !

Chúng ta sẽ  Không dựa vào thế lực ngoại bang để lệ thuộc đủ thứ như trong Lịch sử, mà tuổi trẻ sẽ không trông cậy một thế lực ngoại bang nào thương xót chúng ta, cũng không van xin hay qùy lụy một sự thương xót nào của bất cứ ai để xin họ ban nhân quyền hay Dân Chủ cho Dân Tộc Việt Nam, mà chính chúng ta những người con của Tổ Quốc Việt nam, những người con của thế hệ thứ 2 thứ 3, chúng ta phải mạnh dạn nói lên tiếng nói của một Dân Tộc, không phải chịu áp lực mà chính mình sẽ tạo áp lực cho chính giới tại nơi chúng ta cư ngụ, lá phiếu cử tri của qúy vị là áp lực chính trị đối với sự bang giao giữa một Nước này với Nước kia. Một thế giới yêu chuộng Hòa Bình hiển nhiên sẽ có những Đồng Minh hổ trợ chúng ta, mà mình không cần lệ thuộc như một tên nô lệ chỉ biết cúi đầu vâng dạ như Việt cộng đang hành xử với Trung cộng.

Thế hệ thứ 2 không đi xin xỏ Nhân Quyền hay Dân Chủ cho Việt nam, mà thế hệ trẻ này sẽ yêu cầu các chính giới lên tiếng theo yêu cầu của chúng ta là những cử tri, các vị chính giới này phải áp lực Đảng Cộng Sản Việt nam thực Thi Nhân Quyền Dân Chủ cho Viêt nam, Chúng tôi bảo vệ Nhân Quyền Dân Chủ Cho Nước Úc cũng như Nhân quyền và Dân Chủ cho Việt Nam, một chính phủ tồn tại nhờ nhiều mặt trong đó có tiền thuế của dân chúng, tức là tiền thuế của chính chúng ta, một người tỵ nạn cộng sản khi có quyền công dân chúng ta có quyền đòi hỏi những quyền lợi của mình được hưởng trong đó chuyện thực thi nhân quyền và dân chủ cho Việt Nam là quyền lợi tối cao của những con người còn mang dòng máu Việt nam bất khuất, dòng máu hào hùng của một Dân Tộc không bao giờ khuất phục ngoại bang.

Cho dù bao năm, cho dù khó khăn tới đâu chúng con những người con của thế hệ thứ 2 sẽ không bao giờ chùng bước, sẽ không bao giờ khuất phục kẻ thù Cộng phỉ. Chế độ Việt Cộng phải ra đi, chế độ Việt Cộng phải tan rã biến mất khỏi Nước Việt Nam. Toàn Dân Tộc Việt Nam phải đứng lên dành lại Tự Do Nhân Bản Nhân Quyền và Dân Chủ, bị tước đoạt thì phải đòi lại, đòi cho được mới thôi, nhớ là không xin mà phải đòi, vì đó là Nhân Bản của một Dân Tộc trong một Đất Nước có Nhân Bản, mà Nước ta bị Việt Cộng tước đoạt Nhân Bản thì Dân Tộc Việt nam ta phải đòi lại quyền Nhân bản đó.

Hỡi những bạn trẻ của thế hệ thứ 2 thứ 3 hãy đứng lên chung sức chung lòng với toàn Dân trong và ngoài Nước bằng mọi hình thức , mọi cách chúng ta sẽ dành lại một Nước Việt Nam toàn vẹn lãnh Thổ và một Chính Quyền Dân Chủ Tự Do Công Bình Bác Ái, không phải bạo quyền Viêt Cộng, vì bạo quyền Việt Cộng là loài thú đội lớp người không Nhân Bản vô luân và vô Tổ Quốc.

Đả đảo Việt Cộng , bạo quyền Việt Cộng phải ra đi !! Tự Do Nhân bản Nhân Quyền Dân Chủ Muôn Năm Muôn Năm !!

Nguyễn Lê Thanh Trúc
Melbourne 29/04/2011

http://www.lyhuong.net/uc/index.php/96-bieutinh/quoc-han/971-971

Cải Cách Ruộng Đất Dưới Cái Nhìn Của Một Linh Mục Phaolô Lê Đắc Trọng (1917- 2009)

Linh Mục Phaolô Lê Đắc Trọng (1917- 2009)

Lời bàn:  Nhân bài viết về vấn đề "Luật đất đai" dưới chế độ cộng sản luôn được đông đảo bạn đọc  chiếu cố cho thấy người dân trong nước có quá nhiều lo lắng khi phải đối phó với những luật lệ đầy gian manh, lừa dối của nhà nước.  Để các bạn trẻ thấy rõ thêm bản chất của đảng, những người cộng sản Việt từ  xưa đến nay. Blog Mười Sáu xin được trích đăng phần "Cải Cách Ruộng Đất" trong sách Hồi Ký của cố Giám Mục Phao Lô Lê Đắc Trọng, phụ tá Tổng Giáo Phận Hà Nội: " Chứng Từ Của Một Giám Mục". Hình ảnh từ  các nguồn trên Net chỉ có tính cách minh họa.

Vài hàng về đức Giám Mục Phao Lồ: Tác Giả Trần Phong Vũ.
Sau 92 năm tại thế, ngày 07-9-2009 Đức Cha Phaolô Lê Đắc Trọng, nguyên giám mục phụ tá tổng giáo phận Hà Nội đã được Thiên Chúa gọi về. Trong hơn 60 năm linh mục và 15 năm giám mục, ít ai biết rõ về thân thế, gia cảnh nhất là tác phong, nhân cách của ngài. Cho đến những năm cuối đời khi hai tập Hồi Ký 1 (2006) và 2 (2007) được phổ biến giới hạn trong nước, một số người mới bắt đầu lờ mờ nhận ra nơi Đức Cha Phaolô một nhân cách lớn.
Nhưng vẫn chưa đủ rõ nét.
Phải chờ tới sau Thánh Lễ an táng tại Nhà Thờ Chính Tòa Nam Định ngày 09-9-2009, khi Hồi Ký tập 3 được công bố*, người ta mới cảm nhận được trọn vẹn chân dung của người môn đệ Chúa Kitô đã âm thầm nhưng can đảm sống và thể nghiệm niềm tin son sắt của mình giữa những tháng năm đầy biến động trong lòng Giáo hội và Quê hương.
Đấy là hình ảnh của đoá hoa sen tinh khiết lừng lững vươn lên giữa bùn lầy nhơ bẩn.
Hé mở đôi chút về mình, tác giả hồi ký cho hay: "Tính tôi nhút nhát, không thích ra mắt. Sợ gặp người giầu có quyền sang, thích giao thiệp với những người dân nghèo khó". (HK toàn tập Phần Một � Thời Thơ Ấu & Bước Đường Mục Vụ, trang 25-26).Trong bài giảng thuyết nhân Thánh Lễ an táng Đức Cha Phaolô ở Nhà Thờ Nam Định hôm 09-9-2009, Đức Cha Lôrenxô Chu Văn Minh, đương kim giám mục phụ tá Hà Nội, làm chứng: "Trong cuộc sống riêng tư, ngài luôn sống khó nghèo, không ham hố hưởng thụ giàu sang, ngài ăn uống đạm bạc, mặc áo vải thô, đi guốc mộc" Về điểm này, người ngoại cuộc chỉ cần nhìn tấm hình chụp chiếc giường ngủ đơn sơ, thanh đạm của vị giám mục quá cố là đủ rõ. 

Bài Đọc Suy Gẫm: Cải Cách Ruộng Đất Dưới Cái Nhìn Của cố GM. Phaolồ Lê Đắc Trọng.

Cải cách ruộng đất: Đây là biến cố được tác giả Hồi Ký coi là "long trời lở đất" do đảng và nhà nước phát động ở miền Bắc giữa thập niên 50. Dù là một linh mục, nhưng với tâm tình yêu nước thiết tha, luôn gắn bó với nhịp sống nổi trôi, bất hạnh của người dân trong thời nhiễu nhương, tao loạn, đức cha đã quan sát từng đường đi nước bước của guồng máy cầm quyền trong tiến trình cải cách ruộng đất, từ giai đoàn các Đội Cải Cách được gửi về để "bắt rễ" tại các địa phương tới lúc phong trào lên cao với hàng trăm, hàng ngàn người dân vô tội bị đem ra đấu tố, bị xỉ nhục, bị giam cầm hay bị giết chóc thảm khốc.
Một cách khái quát, tác giả Hồi Ký nhận định:
"Cuộc cải cách ruộng đất nó dữ dội quá, giết nhiều người quá, đã làm hoen ố bộ mặt cộng sản luôn tuyên bố vì nước, vì dân, vì độc lập, với bao là chính nghĩa xuông." (HK toàn tập Phần Ba � Cái Nhìn Đối Với Việt Minh & Chủ Nghĩa CS. Trang 375)
Đức Cha Phaolô khẳng định, cũng như mọi đường lối, chính sách khác, khi phát động cuộc cải cách ruộng đất, đảng và nhà nước cộng sản hoàn toàn rập khuôn những gì quan thày của họ đã thực hiện tại Liên Xô và Trung Cộng.
"… Người Cộng sản Việt Nam học được kinh nghiệm của các anh Liên Xô, Trung Quốc, nên công cuộc được tổ chức rất chu đáo cặn kẽ, từ lúc phát động đến hoàn thành"
Kinh nghiệm đó như thế nào? Theo trình thuật của tác giả Hồi ký thì:
"Đầu hết là cái khẩu hiệu: 'Người cầy có ruộng' quá hợp tình hợp lý đi thôi. Cho được thế, đem ruộng đất ở tay những người có nhiều quá mà san sẻ cho những người không có tí nào! Đó cũng là lẽ công bằng. Nhưng làm sao để vui lòng san sẻ. Giáo Hội có luật công bằng, xã hội dựa trên bác ái. Cộng sản có phương châm đấu tranh dựa trên căm thù. Làm thế nào để khơi dậy căm thù, hay nói chung, để thành cán bộ cải cách, là đội cải cách?" (Trang 378)
Theo nhận định bằng những thực chứng của Đức Cha Phaolô thì đây là một chính sách được chuẩn bị kỹ lưỡng với những nhân sự gọi là "đội cải cách" được đào tạo có bài bản trong những trường huấn luyện được xây dựng ở nhiều nơi.
Đức cha viết:
"…Những trường được xây dựng để đào tạo đội cải cách. Tôi biết một trường như thế ở Phủ Lý….. Người ta dạy gì trong trường? Tôi không rõ, tất cả là bí mật. Nhưng khi thấy công việc đội cải cách làm, thì biết họ học gì, được huấn luyện thế nào?
Vậy đội cải cách đã làm gì? Xin hãy đọc những giòng HK sau đây:
"… Vào phòng họp, đội dõng dạc tuyên bố: 'Bà con nông dân đề cao cảnh giác, vì địch nó ngồi ở đằng sau ta…'.  Người ngồi sau run sợ…! Một lúc nữa, đội lại nói: 'Bà con cảnh giác, địch nó ngồi ngay trước mặt ta'. Ngồi trước ngồi sau đều là địch cả. Không còn biết chọn chỗ nào nên ngồi?  Sợ sệt và sợ sệt…!
Ai nấy ngồi yên chỗ, bắt đầu cuộc 'đấu tố'. Tố cáo tội ác giai cấp bóc lột, đấu tranh đánh đổ giai cấp bóc lột đó. Mọi người bắt đầu cuộc kể khổ, để tố cáo tội ác của bọn địa chủ cường hào ác bá. Những tội ác được bịa đặt ra nhiều hơn và nặng nề hơn sự thật.
'…Tôi vay hắn ta mấy bát gạo, hắn ta bắt tôi viết văn tự thế bằng một sào ruộng. Tôi không có gì trả, thế là hắn ăn không sào ruộng của tôi. Và cứ mấy lần vay như vậy, rồi không có gì trả, thế là không còn một mẩu đất để cắm dùi'.
'Tôi cấy tô cho nó, chẳng may trời để mất mùa, vì bão lụt, nó cứ thu tô như chẳng có tai hoạ gì xẩy ra. Chẳng có gì mà nộp, nó cho người đến tháo bộ cửa, dỡ mấy gian nhà tôi….'
'Tôi nghèo khổ, đi làm thuê cho nhà nó, ăn đói, ăn khát, nó còn đánh đập, tiền công không trả, nhà nó tìm cách đuổi tôi đi để quỵt công….'
Và nhiều thứ tội khác, chung quy chỉ là tội tàn bạo, bóc lột, đổ trên những người bị quy là địa chủ, hay ác ôn, cường hào ác bá. Có thể là tội cá biệt nhưng nay là tội chung. Ai là đối tượng thì được khoác cho những tội đó. Người nông dân thật thà chất phác, mấy ai nghĩ ra được cách tố cáo, tất cả đã được dậy bảo, được Đội 'mớm' cho trước.
Thế rồi đấu, đấu tranh với địa chủ, thì phải có khí thế, chưa quen thì phải tập. Chưa có ai xuất hiện để mà đấu, thì có thể dùng cái cột nhà thay thế. Bà con và nhất là các phụ nữ. Giơ tay xỉa xói vào cái cột nhà: 'Mày đã cướp của tao, mày đã đốt nhà tao, mày đã đánh đập tao thật tàn bạo, tao khó nhọc làm giầu cho mày, mà mày cho tao ăn đói ăn khát…'. Tất cả phải được nhuần nhuyễn, từ cử chỉ đến lời nói, để khi gặp 'người thật' không ngượng ngùng ái ngại.
Đến nỗi mà một người phụ nữ đứng tuổi, rất thương người cha già chị săn sóc hằng ngày. Chị nói với bố: 'Ông có biết tôi là ai không?'. Người cha ngậm ngùi nhìn đứa con dứt ruột của mình và nói:: 'Thưa bà, con là người đẻ ra bà ạ'. Lời thưa não nùng thảm thương, nhưng phải hỏi cái sức ma quỉ nào đó đã thúc đẩy người con chất vấn người bố như thế? Cứ đó mà luận ra những người khởi xướng!" (Trang 381-382-382)
Theo nhận định của Đức Cha Phaolô thì không ai khác, chính ông Hồ là người chịu trách nhiệm về kết quả kinh hoàng của cuộc cải cách ruộng đất ở miền Bắc mà Trường Chinh Đăng Xuân Khu chỉ là một thứ "con dê tế thần". Ngài viết trong Hồi Ký như sau:
"Tuy là Tổng bí thư Đảng, là lý thuyết gia của Đảng, nhưng ít người biết đến tên tuổi ông, đến mặt mũi ông. Ông được trao cho là người thừa hành kế hoạch cải cách ruộng đất, còn ông Hồ Chí Minh 'giả cách đứng ngoài'.
Kế hoạch đó cũng đạt mục đích phần nào, vì sau này tai tiếng đều trút trên đầu ông Trường Chinh, mà 'Bác Hồ' là 'nhân từ' chỉ bị liên hệ chút ít. Nhưng làm sao mà che mắt được dư luận nhân dân. Ông Hồ là lãnh tụ tối cao, mà ông Trường Chinh chỉ là tay chân, làm sao công việc long trời lở đất đó lại qua mắt được lãnh tụ tối cao?…" (Trang 375-376)
Giữa lúc cuộc cải cách ruộng đất đang tiến vào giai đoạn kinh hoàng nhất thì nhà cầm quyền lên tiếng là có sai lầm và ra lệnh sửa sai. Sửa sai như thế nào? Vì nhận ra là sai lầm nên sửa sai hay chỉ là một thứ đòn phép quen thuộc của những người cộng sản? Sự thật ra sao, chúng ta hãy đọc tiếp những chứng từ của cố Giám Mục Phaolô Lê Đắc Trọng:

"Lại bàn về sai lầm. Thiết nghĩ làm gì có thể sai lầm được? Giả sử chỉ có mình Việt Nam làm cải cách ruộng đất, chưa có đâu làm, thì còn có thể nói đến sai lầm. Đàng này các bậc thày, các bậc đàn anh đã làm, đã rút kinh nghiệm. Việt Nam chỉ việc lặp lại. Người ta đã tính từ trước sẽ có những sai sót. Có thể nói, những sai sót cố ý! Thà có giết nhầm mười người còn hơn để sót một thằng. Hoặc kinh nghiệm cho thấy là việc cải cách gây đau khổ nhức nhối chừng nào! Nên giả cách, có vài sửa sai chẳng vào đâu cả, để phần nào làm nguôi lòng dân." (Trang 408)
Rập khuôn đấu tố bên Tàu.

Ở một đoạn khác, tác giả Hồi Ký viết tiếp:
"Trong cuốn Biên Niên Sử có nói: 'Cuộc cải cách ruộng đất đã hoàn thành, mười triệu nông dân có ruộng cầy'. Một cuộc cách mạng long trời lở đất, mà kết quả có thế thì cũng khiêm tốn. Đó chỉ là cái khiêm tốn giả tạo, sự thực kết quả to lớn hơn vô cùng. Lấy được ruộng ở tay người địa chủ ra, không phải là việc dễ dàng. Phải có những bàn tay mạnh mẽ, đi tới tàn bạo của một chính thể độc tài chuyên chính… Lấy lại ruộng đất để chia cho những người cầy, không phải là mục tiêu chính của việc cải cách và chính việc cải cách cũng không phải là mục tiêu của cách mạng. Lấy lại ruộng đất chỉ là phương tiện để cải cách, chính việc cải cách cũng chỉ là phương tiện cho sự thống trị của giai cấp vô sản. Nói đúng ra cho sự thống trị của Đảng chuyên chính được thiết lập vững chắc.
… Cải cách ruộng đất là một cách quét sạch những địa chủ, những cường hào ác ôn, ác bá, những người có uy tín, những người có mầm mống để vươn lên. Tất cả những gì mà cách mạng cho là đối nghịch, là nguy hiểm trong hiện tại và trong tương lai. Quét sạch, để cho xã hội trở nên một tờ giấy trơn, để Đảng muốn vẽ gì thì vẽ, theo ý mình." (409-410-411)
Hóa ra tất cả chỉ là một tấn tuồng, một trò lường gạt, đối trá không tiền khoáng hậu, chưa từng thấy trong lịch sự mấy ngàn năm của dân tộc Việt. Rút cuộc, người nông dân Việt Nam chỉ là một đám nạn nhân ngây thơ, khốn khổ bị lợi dụng, bị xúi bẩy lao đầu vào những trò bất nhân man rợ của những cuộc đấu tố dẫn tới những cuộc tàn sát đẫm máu với cái mồi do đảng và nhà nước treo trước mắt là được chia chác tài sản, ruộng nương để cuối cùng vẫn trở về với cảnh khố rách áo ôm vì phải thực hiện khẩu hiệu "đoàn kết dân tộc, tiến lên xã hội chủ nghĩa" bằng cách phải trao nộp trở lại những mảnh đất nhỏ vừa được chia chác để tham gia "hợp tác xã"! Trong HK toàn tập Phần III, đức cha Phaolô viết:
"Nông dân vô sản làm gì mà biết suy luận như thế? Người ta bảo đánh thì đánh, đập phá thì đập phá. Rồi họ mãn nguyện với mảnh bằng chứng thực. Họ được làm chủ mấy sào ruộng, để rồi ít lâu nữa sẽ rời những cái ghế chủ nhân. Bây giờ họ chưa biết thế đâu! Tấm bằng được trình bầy một cách rất lộng lẫy khổ 60 x 40 có ghi những chữ lớn với nét đỏ thắm: Giấy chứng nhận quyền sở hữu ruộng đất.
…Sau cuộc đấu tranh mệt mỏi, được thưởng bằng một tờ giấy có ghi: 'Giấy chứng nhận quyền sở hữu ruộng đất' là hể hả. Nhưng còn phải giữ cái thành quả đó bằng 'tăng cường đoàn kết', rồi 'nâng cao cảnh giác'. Nâng cao cho đến lúc ruộng đất được đem đi dâng, còn lại mảnh bằng…
Nông dân hí hửng được chia ruộng cày, nhưng gặt xong thì nhà nước đến thu mua sạch thậm chí không đủ gạo ăn cho gia đình.

…Mấy sào ruộng rồi sẽ đưa vào hợp tác xã để ông chủ lại đi cầy thuê…
…Cái bầu trời phát quang, cái mặt đất phẳng lì lì. Muốn dựng lên cái gì thì dựng, với cái tính tàn khốc, tính quá khích, đã tạo nên bầu trời quang, và cái mặt bằng cái tính tình man rợ đó đã in sâu trong lòng, không biết phải bao nhiêu thế hệ mới xoá nổi chăng?" (Trang 413-414-419-420)

Thay lời kết:
Lòng trung thành với đức tin Công giáo của đức cha còn được biểu hiện qua những lần ngài được mời đi "làm việc". Trong Hồi Ký, ngài kể lại chi tiết cuộc đối thoại sau đây:
"Một tháng sau, tôi bị gọi ra Viện Kiểm Sát Nhân Dân làm việc. Viện Kiểm Sát có chức năng điều tra xác minh dữ kiện để đưa ra Toà án. Lần đầu tiên và cả đời tôi chỉ có lần này mới biết Viện Kiểm Sát…. Chung quanh tôi độ ba chục giáo gian, tôi quen mặt một số vẫn đến nhà xứ đấu tranh. Ông Viện Trưởng cất tiếng hỏi:
- Ông có làm phép đạo cho anh này không (tôi không nhớ tên)?
- Tôi thưa: Có.
- Khi làm phép thì ông đã nói thế nào?
- Điều này luật đạo chúng tôi không được phép nói.
- Ông phải nói, vì đây là pháp luật đòi hỏi.
- Tôi không được phép nói, vì luật chúng tôi dạy rằng: khi giải tội thì không bao giờ được nói điều người ta nói với tôi, dù có phải chết cũng không được nói: đó là bí mật toà giải tội, chúng tôi phải giữ với giá mạng sống chúng tôi.
Họ cứ hỏi đi hỏi lại mãi, tôi vẫn chỉ thưa có một câu:
- Tôi không được phép nói.
Rồi họ hỏi hàng mấy chục câu hỏi vu vơ, trong đó có một câu quan trọng:
- Ông có tôn trọng chính quyền không?
- Có - luật đạo chúng tôi dạy điều ấy.
Cả một ngày thẩm vấn, chỉ có lời hỏi đáp đó là đàng hoàng.
Ông Viện Trưởng đọc lại biên bản để tôi ký. Khi đọc đến câu: ông có tôn trọng "chính quyền" không? thì ông ta lại hỏi: ông có tôn trọng luật pháp nhà nước không? Tôi ngắt lời ông ngay và nói: Ông không hỏi tôi thế. Nếu ông hỏi tôi 'có tôn trọng luật pháp không', thì tôi thưa khác".
- Ông thưa khác thế nào?
- Nếu ông hỏi có tôn trọng chính quyền thì tôi thưa có và không điều kiện. Vì luật đạo dạy dù chính quyền là thế nào đi nữa, cũng phải tôn trọng. Còn nếu hỏi: Có tôn trọng luật pháp nhà nước không, thì tôi thưa khác.
- Thưa thế nào? Rồi ông ta giơ cao cuốn Hiến pháp lên:
- Đây luật pháp nhà nước, dù là Tổng thống, dù là Chủ tịch nước cũng phải tuân theo. Và ông ta trịnh trọng hơn nữa, hỏi khi dằn từng tiếng:
- Ông có tuân theo pháp luật nhà nước không?
Tôi cũng trịnh trọng và dằn từng tiếng:
- Tôi tôn trọng luật pháp nhà nước, khi luật pháp đó không ngược đạo lý chúng tôi.
Ông ta lại nói to hơn và dằn từng tiếng:
- Đây! Pháp luật nhà nước! Ông có tôn trọng không?
Tôi cũng dằn từng tiếng:
- Tôi tôn trọng khi luật pháp đó không có gì đi ngược với đạo lý chúng tôi. Còn nếu có điều gì ngược với đạo lý chúng tôi, lương tâm tôi không buộc phải theo.
- Thế nào là không hợp với lương tâm?
Tôi ví dụ:
- Ngày xưa vua chúa ra luật cấm đạo, thì dù có chết cũng không tuân luật vua chúa. Đó là cái chết của các Thánh Tử Đạo chúng tôi đó.
Ông Viện trưởng không còn gì mà nói. Tôi cũng thế…" (HK toàn tập Phần Ba � Cái Nhìn Đối Với Việt Minh & Chủ Nghĩa CS, trang 365-366-367).
Cố Giám Mục Phaolồ Lê Đắc Trọng

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

The

Links:

http://muoisau.wordpress.com/2011/05/13/